Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:08:27 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Năm tháng cuộc đời  (Đọc 3944 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« vào lúc: 28 Tháng Tám, 2026, 08:57:44 pm »

- Tên sách: Năm tháng cuộc đời
- Tác giả:
- Nhà xuất bản: Quân đội nhân dân
- Năm xuất bản: 2007
- Người số hóa: macbupda, thongdiepthoigian


LỜI NHÀ XUẤT BẢN


Là một thanh niên sớm giác ngộ cách mạng, năm 20 tuổi đồng chí Trần Sâm được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Tháng 11 năm 1939, đồng chí bị địch bắt rồi lưu đày ở nhà lao Buôn Ma Thuột. Năm 1943, đồng chí ra tù tiếp tục hoạt động cách mạng ở tỉnh Quảng Trị.


Đồng chí Trần Sâm tham gia lãnh đạo nhân dân nổi dậy cướp chính quyền ở huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Sau khi giành chính quyền đồng chí được cử làm Ủy viên Ủy ban kháng chiến tỉnh Quảng Trị. Sau đó, đồng chí được bầu vào Tỉnh ủy Quảng Trị. Năm 1946, đồng chí Trần Sâm được giao nhiệm vụ làm Chính trị Ủy viên Trung đoàn 95 rồi kiêm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 95, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 101, được cử làm Phân khu phó Bình Trị Thiên. Tháng 12 năm 1950, đồng chí Trần Sâm được cử giữ chức Tư lệnh kiêm Chính ủy Khu 4. Từ năm 1953 đến năm 1957, đồng chí được điều về Bộ Tổng tham mưu giữ chức Cục trưởng Cục Quân lực. Sau đó được cử làm Phó chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần. Năm 1960, được bổ nhiệm là Phó tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam. Từ năm 1963 đến năm 1965, đồng chí là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần kiêm Phó tổng tham mưu trưởng. Từ năm 1965 đến năm 1975, đồng chí trở lại cương vị Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Phó tổng tham mưu trưởng, phụ trách công tác tổ chức biên chế trang bị của các quân binh chủng, các chiến trường miền Bắc, miền Nam và Lào, công tác động viên lực lượng và viện trợ quân sự quốc tế... Đồng chí là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IV, đại biểu Quốc hội các khóa III, IV, V, VI, được phong quân hàm Thiếu tướng năm 1959, Trung tướng năm 1974, Thượng tướng năm 1986.


Cuốn hồi ức "Năm tháng cuộc đời" của Thượng tướng Trần Sâm do Đại tá Lê Hải Triều thể hiện, thông qua cuốn sách, bạn đọc sẽ hiểu thêm cuộc đời cách mạng của đồng chí Trần Sâm cuộc đời đó luôn gắn với tiến trình lịch sử của đất nước và quân đội trước, trong và sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, về cuộc chiến đấu vô cùng anh dũng của quân và dân ta qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Qua đó càng thêm tự hào về dân tộc và quân đội anh hùng, tin tưởng vào thắng lợi của sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo.


Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.


NHÀ XUẤT BẢN
QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #1 vào lúc: 14 Tháng Chín, 2026, 07:42:16 pm »

Chương một
BƯỚC NGOẶT CUỘC ĐỜI


Trước khi nói về những ngày tham gia cách mạng, tôi muốn dành ít dòng nói về Quảng Trị quê tôi thời niên thiếu.

Tôi sinh ra ở xã Hải Xuân, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Quảng Trị quê tôi, nhìn trên bản đồ Việt Nam nằm ở đoạn thắt lại trên chiều dài Bắc - Nam, với một diện tích tự nhiên 459.200 hécta. Phía đông giáp biển Đông, với chiểu dài bờ biển hơn 100km; phía tây giáp nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào với đường biên giới 208km; phía nam giáp tỉnh Thừa Thiên - Huế và phía bắc giáp tỉnh Quảng Bình, với địa hình như vậy, Quảng Tri tựa vào dãy Trường Sơn hùng vĩ và nhìn ra biển Đông bao la.


Dân số Quảng Trị trên 700.000 người, gồm nhiều dân tộc. Dân tộc Kinh chiếm 90%, còn lại là dân tộc Vân Kiều, Tà ôi (Pa Kô) và Cà Tu.

Nhân dân Quảng Trị có truyền thống đấu tranh cách mạng kiên cường, không hề chịu khuất phục trước bất kỳ kẻ thù xâm lược nào. Năm 1413, dưới cờ khởi nghĩa của Lê Lợi, nhân dân Quảng Trị đã nhất tề đứng lên đánh đuổi quân Minh giải phóng hai châu Tân Bình và Thuận Hóa. Nhân dân ta còn động viên hơn hai vạn thanh niên từ đèo Ngang đến đèo Hải Vân gia nhập nghĩa quân Lê Lợi tiến ra Bắc đánh đuổi quân Minh giành quyền độc lập cho dân tộc. Vào thế kỷ XVIII trong cuộc nội chiến giữa hai tập đoàn phong kiến Trịnh - Nguyễn, nhiều cuộc khởi nghĩa của nông dân nổ ra. Nhân dân Quảng Trị đã tham gia phong trào Tây Sơn diệt Nguyễn phá Xiêm, giải phóng Đàng Trong, đông đảo nhân dân Tân Bình, Thuận Hóa tập hợp dưới ngọn cờ đại nghĩa của Nguyễn Huệ tiến quân ra Bắc, đánh đổ vua Lê - chúa Trịnh, đại phá Mãn Thanh thống nhất non sông, bảo vệ nền độc lập dân tộc.


Năm 1858, thực dân Pháp xâm lược đất nước ta. Đầu năm 1874, cùng với nhân dân cả nước nhân dân Quảng Trị đã hưởng ứng "Hịch Bình Tây" của các sĩ phu Nghệ An đứng lên đấu tranh chống thái độ thỏa hiệp đầu hàng của triều đình nhà Nguyễn.

Ngày 6 tháng 6 năm 1884, triều đình nhà Nguyễn phản bội, ký Hiệp ước Pa-tơ-nốt dâng nước ta cho đế quốc Pháp. Nhân dân Quảng Trị đã giúp Tôn Thất Thuyết và phái chủ chiến của ông xây dựng căn cứ Tân Sở (Cùa, Cam Lộ). Đông đảo thanh niên trong tỉnh lên Tân Sở luyện tập quân sự chuẩn bị chiến đấu.


Sau cuộc tập kích quân Pháp đóng ở Huế ngày 4 tháng 7 năm 1885 bị thất bại, Tôn Thất Thuyết đưa vua Hàm Nghi lánh ra Quảng Trị và chọn Tân Sở làm căn cứ kháng chiến chống Pháp. Vùng đất hiểm trở này đã trở thành kinh đô dã chiến, là đầu não kháng chiến của phong trào Cần Vương. Tại đây, ngày 13 tháng 7 năm 1885, vua Hàm Nghi hạ "Chiếu Cần Vương", vạch tội ác thực dân Pháp, kêu gọi văn thân yêu nước và nhân dân nổi dậy chống quân xâm lược Pháp. Hưởng ứng "Hịch Cần Vương" của vua Hàm Nghi, các cuộc khởi nghĩa liên tiếp nổ ra trong tỉnh Quảng Trị, làm thức tỉnh tinh thần độc lập dân tộc và nêu cao ý chí kiên cường bất khuất chống ngoại xâm của nhân dân ta.


Ngót 100 năm bền bỉ đấu tranh chống ách đô hộ của thực dân Pháp rồi đến các cuộc đấu tranh vệ quốc vĩ đại trong thế kỷ XX, đặc biệt là trong 21 năm kiên cường kháng chiến chống Mỹ cứu nước nhân dân Quảng Trị đã góp phần xứng đáng vào thắng lợi chung của dân tộc. Những năm tháng chiến tranh ác liệt đó cũng là những năm tháng hào hùng rực rỡ chiến công của quân dân Quang Trị.


Quảng Trị đã trở thành niềm thương nỗi nhớ của bao thế hệ con em quê nhà vào những năm đất nước còn bị chia cắt. Trong lịch sử dân tộc ta, việc chia cắt đất nước đều trùng hợp với việc chia cắt Quảng Trị, mà diễn ra không phải một lần. Gần nhất là cuối năm 1954, thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ, đối với Quảng Trị: tỉnh bị chia cắt, huyện bị chia cắt (huyện Vĩnh Linh), xã cũng bị chia cắt (xã Vĩnh Sơn). Con sông Bến Hải cũng bị chia đôi. Nỗi đau, sự thật phũ phàng đến vô lý. Mượn lời tâm sự của con sông bị chia cắt, nhà thơ Tế Hanh đã viết:

Tôi chảy ngày đêm không nghỉ
Đôi bờ Nam Bắc nhìn đau
Trời vẫn xanh, một màu xanh Quảng Trị
Tận chân trời mây núi có chia đâu.



Quảng Trị đã một thời làm cho thực dân Pháp và đế quốc Mỹ kinh hoàng trên các mặt trận: Đường 9, Khe Sanh, Cồn Tiên, Dốc Miếu, Cửa Việt, Thành cổ...

Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Quảng Trị đã có hơn 20 năm là tuyến lửa. Ở đây đã có hàng loạt những sự tích anh hùng, đã xuất hiện nhiều địa danh lẫy lừng chiến công, biểu tượng cho chí khí quật cường, quả cảm và niềm tự hào lớn lao của cả dân tộc ta. Chính điều đó đã tạo nên sự giàu có, sự phong phú và đồ sộ mang tính đặc thù, độc đáo trong toàn bộ hệ thống di sản văn hóa của tỉnh Quảng Trị.


Nhà tù Lao Bảo, Lao Xá là những chứng nhân tội ác của thực dân Pháp đối với những người yêu nước và các chiến sĩ cộng sản.

Đôi bờ Hiển Lương trên vĩ tuyến 17 là vùng phi quân sự nhưng không một ngày ngừng tiếng súng, mang trên mình nỗi đau chia cắt đất nước hơn 20 năm (1954-1975).

Địa đạo Vịnh Mốc - pháo đài ngầm trong lòng đất. Với một tổng thể cấu trúc độc đáo, Vịnh Mốc vừa là nơi trú ẩn an toàn cho người dân vừa là nơi cố thủ chiến đấu của bộ đội, là kho hậu cần phục vụ chiến đấu tại chỗ và chi viện cho đảo Cồn Cỏ.

Hệ thống đường mòn Hồ Chí Minh với mạng lưới dày đặc len lỏi giữa núi rừng Trường Sơn đi qua địa phận Quảng Trị, được đất và người Quảng Trị chở che đã trở thành huyền thoại. Một Khe Hó - điểm xuất phát đầu tiên của đường dây 559, một Khe Xon, Xom Rò, Cu Tiền - điểm bí mật vượt Đường 9 trong tuyến gùi thồ; một nghĩa trang Trường Sơn nơi yên nghỉ của mười nghìn không trăm ba mươi sáu cán bộ chiến sĩ, bộ đội và thanh niên xung phong Trường Sơn trong số hơn mười bảy nghìn người hy sinh... Đường Hồ Chí Minh không còn đơn thuần là con đường chuyển tải sức người sức của từ hậu phương miền Bắc cho chiến trường miền Nam, mà còn chuyển tải cả ý chí "xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước", quyết tâm giành lấy độc lập, tự do và thống nhất đất nước của cả một dân tộc.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #2 vào lúc: 14 Tháng Chín, 2026, 07:43:57 pm »

Cồn Tiên - Dốc Miếu với tuyến hàng rào điện tủ Mác Na-ma-ra - hệ thống phòng thủ chiến lược có một không hai trên thế giới của Mỹ được thiết lập ở phía nam vĩ tuyến 17, nhằm ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc đối với miền Nam, là sản phẩm khoa học được mệnh danh là "con mắt thần bất khả xâm phạm"... đã bị bão lửa quân ta cuốn phăng vào tháng 3 năm 1972.


Đường 9 - Khe Sanh, con đường chiến lược huyết mạch được người Pháp làm ra và được quân đội Mỹ nâng cấp để phục vụ cho mục đích quân sự. Những địa danh trên Đường 9 sau những cuộc đụng đầu giữa quân Mỹ, quân ngụy Sài Gòn với quân dân ta các năm 1968, 1971, 1972 đã trở thành nỗi kinh hoàng của địch và thành "Hội chứng Việt Nam" của nước Mỹ sau chiến tranh. Khe Sanh biến thành "Khe Tử", đồi Động Tri biến thành "Đồi thịt băm" và Đường 9 biến thành "Đường chết" đối với Mỹ - ngụy.


Thành cổ Quảng Trị với cuộc chiến đấu giành giật 81 ngày đêm từ ngày 26 tháng 6 năm 1972 đến ngày 16 tháng 9 năm 1972 giữa các chiến sĩ quân giải phóng với lực lượng lớn quân ngụy Sài Gòn mãi mãi không thể nào quên. Nơi đây, trên một diện tích chưa đầy 2km2 đã phải hứng chịu một khối lượng khổng lồ bom đạn mà sức công phá của nó bằng bảy quả bom nguyên tử (loại Mỹ đã ném xuống Hi-rô-si-ma năm 1945...).

Lịch sử đã để lại trên đất Quảng Trị những chiến công vang dội của quân dân ta cùng hàng nghìn địa danh ghi dấu nhiều sự kiện oanh liệt trong sự nghiệp giải phóng dân tộc...

Bố tôi tên là Trần Tước, mẹ tôi tên là Lê Thị Cung. Thuở nhỏ bố tôi được học chữ Hán, lớn lên ông theo nghề thợ nề. Ông rất khéo tay, có thể đắp những con rồng, con phượng trên mái đình, mái chùa, rồi lấy những mảnh sành gắn vào trông rất sinh động. Ông đã từng vào kinh đô Huế làm nghề, xây dựng các lăng tẩm ở đây. Cha mẹ tôi sinh được tất cả mười người con. Đầu là hai chị, tôi là thứ ba. Tên tôi lúc mới sinh là Trần Hầu. Tiếp sau tôi là bốn em trai: Trần Khanh (sinh năm 1926), Trần Phán (sinh năm 1929), Trần Thừa (sinh năm 1931), Trần Thống (sinh năm 1934) và ba em gái nữa. Không hiểu vì lý do gì mà các chị và em gái tôi đều mất ở tuổi còn rất trẻ. Không ai sống được đến 20 tuổi.


Xuất thân từ tầng lớp nghèo khổ, do muốn vượt qua cảnh bị áp bức nô lệ, cũng như những người Việt Nam khác, ông nội tôi và bố tôi đều gửi vào tên con nhiều ý nghĩa. Hầu như việc đặt tên các con là ký thác vào đó một kỳ vọng. Ông nội tôi đặt tên các con trai là: Phát, Dương, Kiều, Chức, Tước, Bố tôi đặt tên các con là: Hầu, Khanh, Phán, Thừa, Thông.


Là con thứ ba, nhưng lại là con trai đầu nên bố mẹ rất quan tâm đến chuyện học hành của tôi. Học xong trường làng, tôi phải lên trường phủ ở Triệu Phong cách nhà 10km. Trong họ có bà cô nhà gần trường, bố tôi gửi tôi ở nhờ nhà bà. Nhà cô tôi cũng nghèo lắm. Tuy ở nhà cô nhưng gia đình cũng thường xuyên phải chu cấp.


Thế rồi, vào một buổi trưa giữa mùa mưa lũ, nước sông Vĩnh Định dâng cao, mấy bố con đang cơi nới nền nhà chống lũ thì bố nhìn ra cổng thấy tôi đầu trần, vai khoác tay nải đang lội nước vào nhà. Ông chạy vội ra ôm lấy tôi và nói:

- Tại sao con về lúc này? Con không sợ chết trôi à?

- Con biết trời mưa, nước lũ về là nguy hiểm. Nhưng nhà cô không còn gạo bố ạ...

Bố tôi là người ham học, nhiều lần ông nói với anh em chúng tôi:

- Bay cứ học đi đừng lo, học trường phủ tao dỡ nhà lên phủ, học trường tỉnh tao dỡ nhà lên tỉnh. Tao làm nghề thợ nề chỉ có bay với bê, đi đâu tao cũng làm nghề được.

Ông dỡ nhà lên phủ Triệu Phong đem theo cả vợ con. Bố tôi làm thợ nề có tiếng nên đi đến đâu cũng nhiều người biết. Vì vậy, ông được người đốc học, các giáo viên trường phủ, cả những quan chức nữa giúp. Thế là họ cho miếng đất sau trường để ông dựng nhà nuôi tôi và các em tôi ăn học, tiếp tục làm nghề thợ nề. Mẹ tôi thì gánh nước tHuế lấy tiền. Sau đó, mẹ tôi mở quán cơm bán cho học sinh ăn trưa.


Tôi học trường phủ 6 năm rồi thi vào trường Quốc học Huế. Cùng lớp với tôi có anh Trần Quỳnh1 (Đồng chí Trần Quỳnh nguyên là Phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng). Trần Quỳnh thi đỗ cả viết và vấn đáp. Còn tôi thi viết thì được nhưng thi vấn đáp thì trượt.

Buồn chán, tôi đành phải về dạy học cho con địa chủ kiếm cơm. Năm sau tôi hết tuổi thi vào trường Quốc học. Thời gian này tôi 15 tuổi nhưng cao lớn. Tôi vào Huế, tự tìm trường để học. Tìm mãi thấy trường Kỹ nghệ, thế là tôi nộp đơn xin thi vào trường đó. Tôi đỗ điểm cao nên được học bổng toàn phần. Tôi về nói với bố:

- Bố ơi! Con thi đỗ trường Kỹ nghệ rồi.

Chưa để tôi nói hết câu, ông gắt:

- Tưởng mày làm gì chứ thi vào trường đó ra lại làm thợ. Mà làm thợ giỏi như tao nổi tiếng cả tỉnh cũng không nuôi nổi con ăn học. Mày đi học nghề thì làm được gì?

Tôi nhẹ nhàng thưa với bố:

- Thi vào trường Quốc học thì con đã hết tuổi, mà đi học tư thì nhà không đủ tiền. Bố cho con học nghề đi bố.

Suy nghĩ một lát ông lẳng lặng đi ra. Biết bố rất hy vọng vào tôi, ông muốn tôi học lên bậc thành chung, tú tài ra làm ông thông, ông phán cơ. Nghe tôi nói ông mới nhớ ra là tôi đã hết tuổi vào trường Quốc học mà học tư thì làm gì có tiền...

Tôi học trường Kỹ nghệ ba năm, từ 1935 đến 1938. Trường này dạy nhiều nghề lắm: Thợ nguội, thợ hàn, thợ gò, thợ đúc... Tôi học nghề thợ nguội.

Khi tôi không thi được vào trường Quốc học Huế, bố tôi nói với em Khanh:

- Anh con không vào được Quốc học thì con phải cố gắng vào cho được trường Quốc học.

Chữ Khanh đẹp lắm. Khanh đỗ vào Quốc học Huế là niềm tự hào của gia đình.

Hồi đó, trường Quốc học Huế và trường Kỹ nghệ đều do người Pháp dạy. Học sinh vào học ở trường đều phải nói tiếng Pháp. Riêng môn Văn thì có người dạy tiếng Việt là nhà giáo, nhà văn Nguyễn Lân1 (Ông Nguyễn Lân sau này được Nhà nước phong hàm Giáo sư, Nhà giáo nhân dân) (bút danh Từ Ngọc), ông dạy chính ở Quốc học đồng thời cũng dạy ở trường Kỹ nghệ.


Thời gian này, ở miền Trung chỉ có trường Quốc học Huế và trường Kỹ nghệ là hai lò tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản. Cùng học với tôi hồi đó ở trường Kỹ nghệ có anh Nguyễn Côn, Trần Văn Trà, Hồ Trung Nam, Nguyễn Thanh Quảng, Lê Văn Tri...
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #3 vào lúc: 14 Tháng Chín, 2026, 07:45:00 pm »

Ở trường, tôi cũng có một thiên hướng học thêm một nghề mang tính trí thức. Bố tôi không muốn tôi đi làm lao động chân tay. Thế là tôi học thêm ngành họa đồ.

Như vậy, ở trường thì học nghề nguội nhưng khi ra làm việc thì tôi lại làm nghề đo đạc họa đồ. Nhưng làm việc này không lâu, tôi quyết định vào các tỉnh phía Nam kiếm việc. Cái bằng tốt nghiệp trường Kỹ nghệ tôi cho vào ống tre ôm vào Huế rồi vào Đà Nẵng định bụng kiếm con tàu nào đó xuống làm phụ tàu để đi chỗ này chỗ khác. Tôi ở Đà Nẵng một thời gian, đi làm phụ bếp cho nhà quan chức Việt Nam. Thức ăn của tôi là những thứ người ta ăn thừa. Tôi nghĩ làm như vậy cũng chẳng được gì, thế là tôi bỏ, đi tiếp vào Nha Trang xin việc làm ở toa xe lửa. Hồi đó giấy tờ họ cũng làm chặt lắm. Tôi phải quay về quê để lấy một số giấy còn thiếu. Làm ở xe lửa đi lại thì có giấy của hãng xe nên không phải mất tiền, nhưng ăn uống mình phải tự lo. Tôi còn nhớ lúc đó đi vào đúng mùa mưa lũ, đường xe lửa bị lũ cuốn trôi, đoạn cách Đà Nẵng 10km, tiền ăn không có, áo quần bán hết cả, có một người lớn hơn tôi mấy tuổi rủ tôi đi bộ. Đi được mấy tiếng, anh rủ vào một quán ven đường, tôi chỉ ngồi ngoài cửa, anh hỏi: '‘Sao không vào ăn?". Anh ấy hỏi mãi, tôi mới thú thực là không còn đồng trinh nào. Thế là anh ấy đưa cho tôi 2 đồng trinh, được ăn hai bát cháo trắng, đủ sức lên đến Đà Nẵng. Tại đây, tôi gặp một số các anh ra trường trước cho tắm rửa, ăn uống và giúp đỡ tiền, quần áo trở về quê. Về quê được mấy ngày vừa lấy giấy tờ vừa thăm bố mẹ và các em, sau đó tôi trở vào Nha Trang.


Lúc đầu, tôi làm nghề thợ nguội lương tiền chả bao nhiêu nên một thời gian sau tôi xin chuyển lên tàu phụ xúc than.

Cuối năm 1938, tôi chuyển vào ga Tháp Chàm. Thời gian này, cao trào cách mạng những năm 1936 - 1939 đang nổ ra, thực dân Pháp ra tay đàn áp. Một số cán bộ ở Quảng Trị, ở Huế chạy dạt vào các tỉnh phía Nam. Trong đó có một số đồng chí vào ga Tháp Chàm. Trong số này tôi còn nhớ có anh Trần Công Xứng quê ở làng Thượng Trạch, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Anh là phái viên của Xứ ủy Trung Kỳ được cử vào xây dựng phong trào, giác ngộ công nhân ở ga Tháp Chàm.


Tôi thấy các anh là người tốt, nói năng cử chỉ đúng mực, tôi rất quý, tôi lo chỗ ăn, chỗ ở cho các anh, ngược lại các anh cũng tin tôi, giao cho tôi làm liên lạc. Từ việc nhỏ thấy tôi làm tốt, các anh giao việc lớn hơn: vận chuyển thư từ, tài liệu và đưa cán bộ từ ga Tháp Chàm vào Sài Gòn. Tôi nhớ có lần tôi mang một bao tải tài liệu từ Tháp Chàm vào Sài Gòn. Đến ga Sài Gòn có người của ta ra nhận. Mỗi lần trên thông báo một tín hiệu để nhận nhau. Cứ thế chúng tôi chuyển gần một trăm chuyến tài liệu trót lọt. Giai đoạn này tôi đã được trên tin tưởng giao cho nhiệm vụ tổ chức đưa cán bộ từ Trung Kỳ vào Sài Gòn. Trong số nhiều cán bộ tôi đưa từ miền Trung vào Sài Gòn rồi từ Sài Gòn ra miền Trung, tôi nhớ có anh Phan Đăng Lưu, anh Bùi San.


Chuẩn bị cho một chuyến đi từ Trung Kỳ vào Sài Gòn của mấy anh cán bộ thì công phu lắm. Mật thám kiểm soát rất gắt gao. Trước khi đi một hai ngày tôi bố trí các anh lên tàu, hướng dẫn các anh những công việc xúc than, đập than, lau chùi máy móc. Đến những ga có mật thám lên kiểm tra các anh phải làm việc cật lực. Người xúc than, đập than, người thì lau chùi toa xe để che mắt chúng. Các anh phải mặc quần áo công nhân để chúng tin là người nhà tàu thật. Các chuyến đi do tôi phụ trách đều an toàn.


Mấy anh em còn trẻ, chưa vợ con gì được bố trí ở một nhà. Nguyễn Hữu Khiếu vừa làm bàn giấy vừa làm những việc lặt vặt. Anh Xứng cùng ở với chúng tôi. Thấy tôi làm việc tốt, cẩn thận và chu đáo anh gợi ý đến việc kết nạp tôi vào Đảng. Lúc này, tôi được biết vào Đảng là một vinh dự nhưng cũng là việc rất nguy hiểm đến tính mạng. Nhưng tôi cũng nghĩ rằng những việc mình lấm mấy năm qua đã là công việc của Đảng rồi. Vào Đảng trách nhiệm sẽ nặng nề hơn, nhưng là thanh niên thì quản gì gian nguy, quản gì vất vả. Thế là tôi tự nguyện làm đơn để được đứng trong hàng ngũ của Đảng.


Buổi lễ kết nạp tôi vào Đảng là một ngày tháng 6 năm 1939 giản dị và trang nghiêm. Đứng dưới cờ búa liềm tôi nắm chặt tay giơ cao xin thề trước Đảng: "Dù gian lao khổ hạnh đến đâu tôi cũng nguyện trung thành với Đảng. Dù có bị tù đày, tra khảo thế nào tôi cũng quyết không xưng khai. Dù có phải hy sinh đến tính mạng tôi cũng quyết một lòng với Đảng. Nguyện chiến đấu dưới cờ của Đảng cho đến thắng lợi cuối cùng". Lời thề đó luôn luôn nhắc nhở tôi phải thực hiện. Lúc khó khăn tôi lại đem lời thề trước Đảng để răn mình. Và đến nay đã gần 70 năm tuổi Đảng, nhìn lại, tôi không cảm thấy xấu hổ với Đảng, với nhân dân, với quân đội.


Từ ngày tôi vào làm ở nhà máy, tôi đổi tên Trần Hầu thành Trần Sam.

Chi bộ đảng ở ga Tháp Chàm có ba người: Nguyễn Hữu Khiếu (Bí thư), tôi và Văn Tôn (Tôn sau này phản đảng, làm tay sai cho giặc).

Tháng 11 năm 1939, một hôm Nguyễn Hữu Khiếu và Tô Thị Xương (quê ở Huế) vào cơ sở trong làng để in tài liệu cho cách mạng, Nguyễn Hữu Khiếu hỏi tôi:

- Hôm nay ông có bận gì không?

- Tôi được nghỉ cả ngày.

- Thế thì ông đi với chúng tôi.

- Đi làm gì?

- Ông viết cho tôi bản tài liệu để in.

Đã nhiều lần tôi viết tài liệu, truyền đơn để cho Nguvễn Hữu Khiếu in rồi. Chữ tôi đẹp so với mấy người trong tổ.

Ba chúng tôi vào làng, Nguyễn Hữu Khiếu và Tô Thị Xương đi trước, tôi đi sau. Nhưng chúng tôi không ngờ có một thằng cũng hoạt động ở Huế, hắn rất yêu chị Xương nên theo chị vào Tháp Chàm. Thấy chị đi với Nguyễn Hữu Khiếu, máu ghen nổi lên. Đợi chúng tôi in tài liệu xong nó liền báo cho mật thám. Mật thám ập vào bắt Nguyễn Hữu Khiếu, Tô Thị Xương và thu toàn bộ máy móc in ấn và tài liệu vừa in. Tôi, khi viết xong bản tài liệu để in ra về ngay nên không bị bắt.


Khi tôi đang làm ở xưởng thì có một người cháu của Tô Thị Xương lên báo:

- Anh Khiếu, anh Xứng và cô Xương bị bắt rồi. Anh xem thế nào trốn đi, mật thám sẽ tìm ra anh đấy.

- Cảm ơn cô đã báo tin cho tôi, nhưng tôi sẽ không việc gì đâu.

Tôi lo cất giấu tài liệu, một số khác đem hủy. Tôi yên tâm là không có việc gì liên quan đến mình cả. Tôi đâu ngờ trong hòm tài liệu của Nguyễn Hữu Khiêu có thẻ căn cước của một người trước làm việc ở Tháp Chàm sau chuyển lên Cầu Đất không có dấu của cảnh sát ở Tháp Chàm. Người này gửi thẻ căn cước về Tháp Chàm xin xác nhận của cảnh sát Phan Rang, mật thám Phan Rang lên chỗ ở của người này lục soát tìm thấy một số tài liệu do tôi viết. Bị chúng tra hỏi đánh đập dã man, anh ta khai ở Tháp Chàm gửi lên. Tôi vẫn đinh ninh là mình vô can, mặc dù lúc nào cũng chuẩn bị sẵn một vali nhỏ, nếu có động là bỏ trốn.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #4 vào lúc: 14 Tháng Chín, 2026, 07:53:21 pm »

Một hôm, tôi đang làm trên tàu, tàu cách ga Tháp Chàm khoảng 4 hay 5km tự nhiên có tín hiệu dừng lại. Tôi thoáng thấy có điều gì không ổn, chuẩn bị tinh thần đối phó.

Một toán mật thám nhảy lên tàu, chúng lao thẳng đến chỗ tôi. Chúng còng tay tôi giải đi trong sự ngỡ ngàng của mấy anh công nhân cùng làm trên toa xe. Chúng đưa tỏi về nhà lao Phan Rang. Tới nhà lao, bọn mật thám đánh phủ đầu tôi túi bụi. Vừa đánh chúng vừa nói:

- Làm cộng sản này! Làm cộng sản này!

Chúng bắt tôi khai báo cơ sở. Mặc dù mới 21 tuổi nhưng lúc đó tôi không hề sợ, thậm chí còn kiêu hãnh vì mình là cộng sản. Chúng đánh đập, tra khảo tôi mấy ngày liền, thậm chí còn treo tôi lên xà nhà tiếp tục đánh. Cuối cùng chúng đưa ra những bản tài liệu do tôi viết rồi đưa tới một thằng phản bội. Thằng này ở xã Long Hưng, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị cùng học trường Kỹ nghệ với tôi. Vì có tang chứng, vật chứng lại có cả người làm nhân chứng, không cãi lại được, tôi nghĩ: Đã đến nước này thì mình nhận là người yêu nước, muốn dân mình độc lập tự do, không muốn ngoại bang đô hộ. Đang được bay nhảy ngoài đời, bỗng nhiên bị nhốt vào một cái buồng chật chội, tối tăm, chỉ le lói một chút ánh sáng từ một lỗ nhỏ trên cao, tôi cảm thấy bức bối, cô đơn quá. Nhiều đêm tôi thao thức chuẩn bị lý lẽ để cãi khi chúng đưa ra tòa. Sau đó chúng đưa tôi ra Khánh Hòa để chuẩn bị mở phiên tòa.


Hôm mở phiên tòa, chúng đưa ra xét xử bốn người mà chúng cho là tù chính trị. Tên chánh án hỏi tôi trước:

- Tại sao anh làm cộng sản?

Tôi trả lời dõng dạc:

- Tôi đấu tranh cho dân tộc, dân chủ dân sinh là có tội à? Tôi chưa hiểu chủ nghĩa cộng sản thì làm cộng sản sao được. Nhưng nếu cộng sản thương nước thương dân thì có gì là xấu.

Mọi người dự phiên tòa rất ngạc nhiên. Có lẽ họ chưa bao giờ được nghe một bị cáo nào nói năng cứng cỏi như thế.

Tên chánh án lên giọng xách mé:

- Cộng sản gì các anh. Cộng sản cơm!

Tôi đáp lại ngay:
   
- Dân đói thì đòi cơm có gì xấu. Các ông có nhiều rượu nhiều thịt thì cần gì cơm nữa.

Tên chánh án xua tay:

- Ở đây không được nói láo.
   
Tôi nói ngay:

- Thế các ông bắt tôi vì lẽ gì?

- Vì làm tay sai cho cộng sản.

- Tôi viết tài liệu kêu gọi mọi ngươi đòi chủ Pháp tăng lương, giảm giờ làm, công nhân được đối xử như nhau, làm việc ngoài giờ phải được hưởng lương, đến hạn phải được tăng lương...

Tên chánh án đỏ mặt, đập búa xuống bàn quát:

- Im ngay, tòa kết án anh 5 năm tù giam, cả những anh kia cũng thế!
Phiên toà kết thúc. Luật pháp của bọn thực dân phong kiến là vậy.

Tôi bị đày lên Buôn Ma Thuột. Lần đầu tiên tôi biết thế nào là đi đày. Nhà lao Buôn Ma Thuột thoạt nhìn từ ngoài chỉ thấy những ngôi nhà hai tầng quét vôi trắng, cây cối xanh tươi, những tưởng không khí ở đây trong lành. Vào trại rồi tôi mới hiểu không phải vậy. Chúng dẫn chúng tôi vào nhà giam riêng. Đó là căn nhà dài vài chục mét, chỉ có mấy cửa sổ nhỏ để nhìn ra ngoài. Căn nhà chật hẹp vậy mà chúng nhồi rất nhiều người, ẩm ướt ngột ngạt vô cùng. Tù nhân phải ăn cơm lạnh, cá ôi, phải đi làm khổ sai, chân luôn bị xiềng, kể cả khi đi làm, tối về thì bị cùm, sáng sáng chúng lấy gậy gõ lên đầu từng ngựời, điểm danh... ức lắm.


Một thời gian sau, tôi gặp các anh Hồ Tùng Mậu, Trương Văn Lĩnh, Chu Văn Biên, Ngô Đức Đệ, Trần Văn Quang và nhiều anh lớp trươcs. Lúc này tôi mới biết Nam Kỳ khởi nghĩa. Được nghe kể lại những tấm gương hy sinh của các đồng chí: Nguyễn Văn Cừ, Hà Huy Tập, Phan Đăng Lưu, Võ Văn Tần, Nguyễn Thị Minh Khai... cùng nhiều đảng viên cộng sản và quần chúng, tôi vô cùng khâm phục. Đến lúc này tôi mới biết anh Phan Đăng Lưu là lãnh đạo của Đảng, tôi càng thương tiếc anh, một người mà tôi rất quý trọng ngay từ những chuyến đưa anh từ Trung Kỳ vào Nam Bộ.


Cuối năm 1940, nhà lao Buôn Ma Thuột tiếp nhận những tù chính trị ở Quảng Trị - Thừa Thiên trong đó có anh Nguyễn Vịnh (Nguyễn Chí Thanh), Tố Hữu, Hoàng Anh. Thế là trong chi bộ nhà lao có thêm những hạt nhân lãnh đạo.

Trong nhà tù của đế quốc những đảng viên trung kiên vẫn giữ chế độ sinh hoạt chặt chẽ. Ai có nghề gì thì dạy cho nhau nghề đó. Chúng tôi còn tổ chức học chủ nghĩa Mác - Lênin do ông Hồ Tùng Mậu (quê Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu, Nghệ An) đảm nhiệm; học quân sự do ông Trương Văn Lĩnh (quê Nghi Phương, Nghi Lộc, Nghệ An) đảm nhiệm. Ông Lĩnh tham gia Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội từ năm 1927, là đảng viên Đảng Cộng sản Trung Quốc, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, được "cài" vào làm đảng viên Quốc dân đảng, ông đã từng tốt nghiệp trường quân sự Hoàng Phố, ra trường với quân hàm trung tá, giám đốc cảnh sát Quảng Châu1 (Sau này, về Việt Nam ông giữ chức hiệu trưởng trường Võ bị Trần Quốc Tuấn (Trường Sĩ quan Lục quân 1 hiện nay)).


Trong nhà lao Buôn Ma Thuột lúc này có hai khuynh hướng. Một, cho là đã bắt rồi cố ở cho mãn hạn xong về địa phương tiếp tục hoạt động. Số này phần đông là tù lâu năm, có người bị tù từ 1930, 1931. Khuynh hướng thứ hai, kiên quyết đấu tranh đòi cải thiện chế độ giam cầm, cải thiện chế độ ăn uống. Tôi ủng hộ khuynh hướng thứ hai. Khi nhà thầu đưa vào gạo xấu, thịt ôi... chúng tôi đã đấu tranh nhiều lần nhưng tên quản ngục vẫn làm ngơ. Chúng tôi quyết định tuyệt thực. Chủ trương đưa ra được toàn chi bộ nhất trí. Tù thường cũng hưởng ứng bằng cách hò la. Ngay từ ngày đầu, địch đàn áp quyết liệt. Chúng đánh đập tù nhân bằng roi và bằng báng súng rất dữ, nhưng anh em vẫn kiên trì chịu đựng quyết không lùi. Đến ngày thứ 7, tên cai ngục vào. Tôi biết tiếng Pháp nên thay mặt anh em phản đối, lên án chúng tra tấn đánh đập tù nhân, đòi chúng phải hủy bỏ ngay chế độ gạo hẩm, thịt cá ôi thiu. Tên cai ngục đã phải xuống thang. Cuộc đấu tranh thắng lợi.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #5 vào lúc: 14 Tháng Chín, 2026, 07:54:22 pm »

Chế độ nhà tù được nới lỏng, tù nhân được chơi thể thao. Tôi còn nhớ chúng tôi tổ chức đá bóng. Tôi cao to nên được anh em giao cho giữ gôn. Anh Nguyễn Vịnh đá tiền đạo. Anh nhanh nhẹn, đá rất mạnh, là người ghi được nhiều bàn thắng nhất.

Tháng 4 năm 1941, anh Tố Hữu mãn hạn tù. Chúng đưa anh ra Huế được mấy ngày rồi lại đưa anh vào Quy Nhơn cuối cùng dùng xe tải chở anh lên Đắc Lây ở bắc Kon Tum.

Anh Nguyễn Chí Thanh vẫn bị giam cùng với chúng tôi.

Tháng 4 năm 1943, tôi mãn hạn tù. Tên quản ngục Mốt-xin gọi tôi lên bảo:

- Mày được tha rồi đấy. Đừng có dại làm cộng sản nữa mà mất đầu. Thiếu gì việc để làm, đi dạy học hay làm thợ chẳng hạn.

Chẳng cãi với nó làm gì, tôi chỉ hỏi lại:

- Thế tôi được tự do rồi chứ?

Nó không nói gì, gật đầu. Thật lòng, tôi cũng yên trí là lần này ra khỏi tù tôi tha hồ hoạt động. Nhưng tôi vẫn bị quản thúc ở quê.

Về Quảng Trị, việc đầu tiên là tôi tìm cách bắt liên lạc với tổ chức Đảng. Sau một thời gian tìm hiểu móc nối được với các đồng chí, chúng tôi bí mật đi vận động quần chúng, xây dựng cơ sở ở địa phương. Qua hoạt động bí mật một thời gian dài, lại trải qua tù đày, tôi thấy mình đã trưởng thành, chững chạc, nói năng hoạt bát, nhiều người tin và nghe theo lời tôi.


Ngày 9 tháng 3 năm 1945, viện có Pháp bác bỏ tối hậu thư, quân Nhật tiến công vào các vị trí đóng quân của Pháp ở Hà Nội. Chúng chiếm Phủ toàn quyền Đông Dương và bắt giữ các quan chức của Pháp, trong đó có tướng A-mê - Tổng tư lệnh quân đội Pháp toàn Đông Dương. Quân Nhật nhanh chóng đè bẹp sức kháng cự của quân Pháp ở mọi nơi. Đến chiều ngày 10 tháng 3 năm 1945, quân Pháp đầu hàng, quân Nhật làm chủ các đô thị lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn và nhiều tỉnh lỵ khác. Lúc này, lực lượng quân sự Pháp hoàn toàn tan rã, bộ máy thống trị của Pháp đã đầu hàng. Toàn bộ Đông Dương trở thành thuộc địa của phát xít Nhật.


Ngày 12 tháng 3 năm 1945, Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thi: "Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta"... Chỉ thị nêu rõ: Cuộc đảo chính sẽ tạo ra một tình hình khủng hoảng chính trị sâu sắc làm cho những điều kiện của một cuộc khởi nghĩa vũ trang mau chóng đi tới chỗ chín muồi. Đồng thời với chỉ thị của Trung ương Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ từ ngày 15 đến ngày 20 tháng 4 năm 1945, xác định: "Tình thế đã đặt nhiệm vụ quân sự lên trên tất cả các nhiệm vụ quan trọng và cần kíp lúc này. Chúng ta phải tích cực phát triển chiến tranh du kích, gây dựng căn cứ địa kháng Nhật, đổ chuẩn bị cuộc Tổng khởi nghĩa cho kịp thời cơ".


Trong bản chỉ thị lịch sử đó, Thường vụ Trung ương Đảng chỉ rõ kẻ thù cụ thể trước mắt của nhân dân Đông Dương lúc này là phát xít Nhật. Phải thay đổi khẩu hiệu, hình thức tuyên truyền, tổ chức đấu tranh cho phù hợp với thời kỳ mới. Phát động một cao trào chống Nhật cứu nước mạnh mẽ làm tiền đề cho cuộc Tổng khởi nghĩa khi đã đủ điều kiện.


Tháng 6 năm 1945, Tỉnh ủy lâm thời Quảng Trị họp hội nghị đề ra chủ trương: Phát triển các đội tự vệ, đẩy mạnh công tác tuyên truyền xung phong, xây dựng các chiến khu, vũ trang toàn dân tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền, tiếp tục vạch mặt bọn phát xít Nhật và bọn tay sai Nhật, tổ chức và mở rộng ảnh hưởng của Việt Minh, thành lập Ủy ban giải phóng tỉnh và huyện. Hội nghị quyết định đổi Tỉnh ủy lâm thời thành Ban vận động thống nhất Đảng bộ Quảng Trị.


Cùng thời gian này, nhiều cán bộ, đảng viên của tỉnh bị địch bắt, giam tại nhà tù Buôn Ma Thuột trước đây đã lần lượt trở về địa phương hoạt động, tham gia phát triển và củng cố Mặt trận Việt Minh tỉnh, huyện, xây dựng và phát triển rộng rãi các đoàn thể quần chúng, củng cố và phát triển các đội tự vệ vũ trang, phát huy vai trò lực lượng các chiến khu để chuẩn bị giành chính quyền.


Đến giữa tháng 7 năm 1945, anh Tố Hữu được Trung ương phái vào Trung Bộ để thực hiện thống nhất Đảng bộ Trung Kỳ, chuẩn bị thành lập Xứ ủy. Đến Quảng Trị anh Tố Hữu cùng các anh Nguyễn Vịnh (Nguyễn Chí Thanh), Trần Quý Hai, sau khi bàn bạc với anh Trần Hữu Dực việc chuẩn bị Hội nghị thành lập Xứ ủy Trung Kỳ đã gặp anh Đặng Thí, Đoàn Bá Thừa, Nguyễn Hữu Khiếu, truyền đạt các nghị quyết và chỉ thị của Trung ương, trao đổi việc thống nhất sự lãnh đạo ở Quảng Trị, góp ý kiến về các công tác cấp bách và chính thức đặt liên lạc giữa Xứ ủy, Trung ương và Quảng Trị. Từ đó Quảng Trị chính thức có quan hệ với cấp trên.


Ngày 8 tháng 8 năm 1945, Liên Xô tuyên chiến với phát xít Nhật, sau đó mở cuộc tiến công vào đạo quân Quan Đông của Nhật ở Mãn Châu (Trung Quốc). Phát xít Nhật đứng trước tình thế sụp đổ và tình thế đó chỉ còn tính từng ngày. Trước thời cơ đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị: Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh đến đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập.


Lời của Người biểu thị ý chí, quyết tâm của toàn dân tộc.

Ngày 13 tháng 8 năm 1945, Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc ra Quân lệnh Số 1 và Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi gửi đồng bào, chiến sĩ cả nước: "Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta".


Ngày 18 tháng 8 năm 1945, Hội nghị đại biểu Ban thống nhất Đảng bộ Quảng Trị họp ở làng Phước Lễ, phủ Triệu Phong nhận định: "Chính quyền Phan Văn Hy tỉnh trưởng là con đẻ của phát xít Nhật, đang bất lực về chính trị, bại hoại về tinh thần, tê liệt về tổ chức. Chúng đang sẵn sàng đầu hàng cách mạng, chúng ta tiến hành thuyết phục, cảm hoá và lôi kéo họ". Hội nghị bàn thảo sôi nổi và khẩn trương đã quyết định tiến hành tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong toàn tỉnh từ ngày 21 đến ngày 28 tháng 8 năm 1945.


Về kế hoạch khởi nghĩa, lực lượng cách mạng của phủ, huyện nào phụ trách thì phủ, huyện đó tự chịu trách nhiệm trước kế hoạch của mình, còn việc khởi nghĩa ở tỉnh, chủ yếu giao cho lực lượng cách mạng của phủ Triệu Phong và một số xã của phủ Hải Lăng phối hợp với nhân dân nội thị.


Hội nghị cử ra Ủy ban khởi nghĩa gồm các anh: Trần Hữu Dực - Chủ tịch, Đặng Thí - Phó chủ tịch và các chị, các anh Hoàng Thị Ái, Lê Vụ, Nguyễn Hữu Khiếu làm ủy viên. Lúc này, tôi được phân công phụ trách huy động nhân dân trong xã Hải Xuân huyện Hải Lăng sẵn sàng kéo vào thị xã Quảng Trị thị uy, cướp dinh tỉnh trưởng.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #6 vào lúc: 14 Tháng Chín, 2026, 07:55:22 pm »

Chiều ngày 22 tháng 8, tôi nhận được lệnh chính thức của Ủy ban khởi nghĩa tỉnh phát ra. Tôi thông báo cho lực lượng toàn xã.

1 giờ sáng ngày 23 tháng 8, hàng nghìn quần chúng xã Hải Xuân đốt đuốc, gióng trống, chiêng, gõ tiếng mõ, thổi tù và mang theo nào cờ, biểu ngữ, gậy gộc, cuốc thuổng kéo vào thị xã.

Lúc này các đơn vị tự vệ chiến đấu đã đột nhập vào nội thị, chiếm lĩnh được tất cả cơ quan đầu não trong tỉnh.

Xã Hải Xuân cách thị xã Quảng Trị chỉ hơn 4km. Sau hơn 1 giờ lực lượng khởi nghĩa đã có mặt tại vị trí tập kết áp sát thị xã. Từ bốn hướng lực lượng quần chúng rầm rập kéo vào nội thị hô vang khâu hiệu: "Đánh đổ chính quyền bù nhìn Bảo Đại - Trần Trọng Kim; Thành lập chính quyền cách mạng; ủng hộ Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh".


Ủy ban khởi nghĩa đã cử một tiểu đội tự vệ chiến đấu tinh nhuệ do anh Trần Đình Phú chỉ huy đột nhập vào dinh khống chế tỉnh trưởng Phan Văn Hy và những nhân viên dưới quyền.

Tỉnh trưởng Phan Văn Hy nguyên là một bác sĩ có tiếng ở Quảng Trị, ông được bọn thân Nhật đưa ra làm tỉnh trưởng của chính phủ Trần Trọng Kim. Sau khi Nhật đầu hàng, Phan Văn Hy nhiều lần muốn tiếp xúc với Việt Minh để mời Việt Minh tham gia chính quyền.

5 giờ sáng ngày 23 tháng 8 năm 1945, Chủ tịch Ủy ban khởi nghĩa Trần Hữu Dực được lực lượng tự vệ bảo vệ đứng trên tầng cao dinh tỉnh trưởng (Tòa công sứ Pháp cũ) trực tiếp hạ lá cờ quẻ ly xuống và kéo lá cờ đỏ sao vàng lên nóc dinh tỉnh trưởng trong tiếng hò reo của hàng chục nghìn đồng bào. Cùng lúc đó, trong thành Quảng Trị, anh Dương Đậu cũng cho hạ lá cờ vàng ở cột cờ trước "Hoàng cung" và kéo lá cờ đỏ sao vàng lên.


Cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở thị xã Quảng Trị đã kết thúc thắng lợi.

9 giờ sáng ngày 23 tháng 8 năm 1945, một cuộc mít tinh ra mắt chính quyền cách mạng được tổ chức. Hàng chục nghìn quần chúng, đội ngũ chỉnh tề trước dinh tỉnh trưởng. Với cương vị là Chủ tịch Ủy ban khởi nghĩa, anh Trần Hữu Dực tuyên bố:

- Từ giờ phút này, ỦY ban nhân dân cách mạng tỉnh được thành lập, xóa bỏ hoàn toàn chính quyền bù nhìn.

Sau đó anh đọc mười chính sách của chính quyền cách mạng, kêu gọi toàn thể nhân dân trong tỉnh đoàn kết, nhất tề thực hiện mọi công việc theo sự hướng dẫn của Ủy ban nhân dân cách mạng các cấp.

10 giờ sáng ngày 23 tháng 8 năm 1945, tại phòng khách của Ủy ban nhân dân cách mạng, Chủ tịch Trần Hữu Dực, Phó chủ tịch Đặng Thí đã có mặt. Anh Trần Phú Hướng dẫn Phan Văn Hy ngồi vào chiếc ghế dành cho ông ta. Phan Văn Hy vừa ngồi xuống ghế, anh Trần Hữu Dực nói ngay:

- Từ nay chính quyền đã về tay nhân dân, Ủy ban nhân dân cách mạng chúng tôi thay mặt nhân dân cai quản mọi công việc của tỉnh nhà. Ông là người có chức cao nhất trong chính quyền cũ của tỉnh, nhưng xét thấy việc làm của ông trong thời gian làm tỉnh trưởng đã không gây nhiều thiệt hại cho cách mạng, nên cách mạng có chính sách khoan hồng đối với ông. Từ nay, ông là một công dân của nước Việt Nam độc lập. Hôm nay ông có trách nhiệm trình bày mọi công việc của chính quyền cũ với chúng tôi, sau đấy ông tiếp tục làm việc với ông Đặng Thí, Phó chủ tịch, tôi bận việc khác. Xin chào.


Nói xong, anh Trần Hữu Dực đi nhanh ra cửa. Anh Đặng Thí, một lần nữa khẳng định chính sách khoan hồng của cách mạng đối với Phan Văn Hy và nêu cụ thể mấy việc, anh nói:

- Thứ nhất, ông phải nói cho quân Nhật đóng ở Quảng Trị biết là từ nay mọi công việc phải quan hệ với Ủy ban nhân dân cách mạng chúng tôi, còn chính quyền của ông không còn nữa. Thứ hai, ông phải thông báo cho các cấp thuộc hạ của ông bàn giao đầy đủ công việc, giấy tờ, tài sản cho Ủy ban nhân dân cách mạng chúng tôi. Thứ ba, ông phải viết giấy báo cáo cho Ủy ban nhân dân cách mạng danh sách những người đứng đầu các công sở, kho tàng, tài sản... của chính quyền cũ.


Cuối cùng, anh Đặng Thí giới thiệu bác Hồ Ngọc Thâm1 (Thân sinh của Giáo sư - Tiến sĩ Hồ Ngọc Đại) mới đến và nói:

- Từ nay đến khi nào ông rời khỏi dinh, mọi việc làm sẽ được bác Thâm đây - Người được Ủy ban nhân dân cách mạng chúng tôi ủy quyền hướng dẫn ông.

Cũng trong thời gian đó, Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh ra Quân lệnh Số 1: "Tất cả lực lượng vũ trang chiếm đóng hoặc dự bị, kể cả lực lượng hỗn hợp giữ nguyên tại chỗ. Người và vũ khí không được thay đổi, di chuyển cho đến khi có lệnh mới".

12 giờ ngày 23 tháng 8 năm 1945, Ủy ban nhân dân cách mạng tỉnh ra Quân lệnh Số 2: "Mở cuộc đăng ký tuyển quân cấp tốc, thành lập chi đội giải phóng quân với tổng số 1.500 chiến sĩ kể cả một số đơn vị trực thuộc như thông tin, quân y, quân nhu...".

Đến 15 giờ ngày 23 tháng 8 năm 1945, Ủy ban nhân dân cách mạng tỉnh ra Quân lệnh Số 3: "Tất cả lực lượng vũ trang chiếm đóng hỗn hợp đều bàn giao ngay nhiệm vụ, kể cả người và vũ khí, kho tàng, doanh trại... cho chi đội giải phóng quân. Những cá nhân bảo an binh nào muốn tham gia lực lượng vũ trang cách mạng, hãy làm đơn đăng ký và sẽ tuyển sau. Lệnh này phát ra phải được thi hành nghiêm chỉnh và nhanh gọn".


Ngày hôm sau, Ủy ban khởi nghĩa họp quyết định đổi tên thành Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời Quảng Trị do anh Trần Hữu Dực làm Chủ tịch, anh Đặng Thí làm Phó chủ tịch, anh Nguyễn Hữu Khiếu làm Ủy viên thường trực, tôi là Ủy viên Ủy ban kiêm Ủy viên thư ký Ủy ban tỉnh. Ủy ban nhân dân cách mạng cử cán bộ đến họp với công nhân, nhân viên nhà máy điện, nước, bưu điện, xe lửa, bệnh viện... để động viên mọi người duy trì các công việc bình thường. Lãnh đạo tỉnh rất quan tâm đến các hoạt động này nhằm chăm lo đời sống sinh hoạt bình thường cho nhân dân.


Ủy ban nhân dân cách mạng tỉnh đã ra lệnh phóng thích, trả tự do cho một số tù nhân trong nhà tù của chính quyền cũ và cũng ra lệnh bắt giữ ngay một số tên việt gian phản động, chống phá cách mạng. Việc làm này đã tiến hành hết sức khẩn trương và thận trọng.


Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chính phủ lâm thời ra mắt đồng bào cả nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập lịch sử, khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

Nhân dân ta sau hơn 80 năm nô lệ dưới ách thống trị của thực dân phong kiến nay đã trở thành người làm chủ đất nước, một lòng tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, ra sức bảo vệ thành quả cách mạng, quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #7 vào lúc: 14 Tháng Chín, 2026, 07:58:10 pm »

Ngày 3 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ra sáu nhiệm vụ đối nội cấp bách là: Phát động phong trào tăng gia sản xuất để chống nạn đói; mở ngay cuộc lạc quyên, góp gạo để giúp đỡ người nghèo; mở chiến dịch chống mù chữ; tổ chức càng sớm càng hay cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu, soạn thảo Hiến pháp dân chủ; mở chiến dịch giáo dục cần, kiệm, liêm, chính để bài trừ thói hư, tật xấu của chế độ thực dân để lại; bãi bỏ thuế thân, thuế chợ, thuế đò, tuyệt đối cấm hút thuốc phiện; tuyên bố tự do tín ngưỡng và đoàn kết lương giáo.


Trong hai ngày 10 và 11 tháng 9 năm 1945, Tỉnh ủy và Ủy ban tỉnh Quảng Trị mở hội nghị cán bộ chủ chốt tại xóm Rào làng An Tiêm phía đông vùng ven thị xã Quảng Trị. Hội nghị có trên 30 đại biểu. Hội nghị có ý nghĩa quan trọng vừa để thống nhất sự lãnh đạo của Đảng bộ vừa quyết định các vấn đề về xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền và các đoàn thể nhân dân, xây dựng lực lượng vũ trang đồng thời bàn các biện pháp thực hiện sáu nhiệm vụ mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra.


Hội nghị đã cử Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh và cử anh Đặng Thí làm Bí thư Tỉnh ủy.

Dưới sự lãnh đạo của tỉnh ủy, chỉ sau một thời gian ngắn thực hiện Nghị quyết Hội nghị cán bộ tỉnh, hệ thống chính quyền từ tỉnh đến các huyện và cơ sở nhanh chóng được thiết lập, kiện toàn đi vào hoạt động. Tôi còn nhớ vào dịp này đơn vị hành chính cấp tổng bị bãi bỏ để thành lập đơn vị hành chính mới cấp xã; hai hoặc ba làng nhỏ được hợp nhất thành một xã.


Đầu tháng 9, anh Trần Hữu Dực được điều lên làm Chủ tịch Ủy ban hành chính Trung Bộ. Cụ Lê Thế Hiến được cử làm Chủ tịch Ủy ban tỉnh thay anh Trần Hữu Dực, anh Đặng Thí tiếp tục giữ chức Phó chủ tịch, tôi vẫn làm Ủy viên thư ký.

Tháng 10 năm 1945, Ủy ban nhân dân chuyển thành Ủy ban kháng chiến do anh Nguyễn Xuân Luyện làm Chủ tịch thay cụ Lê Thế Hiến, anh Đặng Thí vẫn làm Phó chủ tịch. Tôi làm Ủy viên Ủy ban kiêm Ủy viên thư ký. Thời gian này, trong Ủy ban có ông Nguyễn Bá Sam là cán bộ năm 1930 - 1931, thế là mọi người thêm âm "â" cho tôi. Tôi mang tên Trần Sâm từ đó.


Nhiệm vụ của Ủy viên thư ký (với chức năng như thường trực Ủy ban kiêm Chánh văn phòng), luôn có mặt cùng Chủ tịch và Phó chủ tịch Ủy ban để ghi chép những nội dung công việc của tỉnh, ghi biên bản các hội nghị của tỉnh, giữ các tài liệu sổ sách của Ủy ban.

Sau hội nghị, các ban chấp hành thanh niên, phụ nữ, nông dân, công đoàn lần lượt được thành lập, có hệ thống từ trên xuống dưới.

Thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy, một số cán bộ của Đảng, chính quyền và các đoàn thể được cử lên huyện miền núi Hướng Hóa cùng với cán bộ tại chỗ vận động tổ chức nhân dân các dân tộc Vân Kiều, Pa Kô khắc phục khó khăn xây dựng chế độ mới, bảo vệ bản làng biên giới.


Về lực lượng vũ trang, chi đội giải phóng quân được thành lập từ trưa ngày 23 tháng 8 năm 1945, do Trương Linh, người quê Triệu Phong, trước là lính khố đỏ phụ trách. Ngày 19 tháng 9 năm 1945, Chi đội Giải phóng quân chuyển thành Chi đội Thiện Thuật do ông Quản Xuyên làm Chi đội trưởng. Ít ngày sau, anh Nguyễn Đăng Trình (Tùng Lâm), người huyện Gio Linh được Tỉnh ủy chỉ định làm Chi đội trưởng thay ông Quản Xuyên. Trương Linh làm Chi đội phó. Đây là đơn vị chủ lực đầu tiên của tỉnh.


Chi đội Thiện Thuật gồm 1.500 cán bộ, chiến sĩ, hầu hết được chọn từ các đội tự vệ chiến đấu.

Tuy chính quyền đã thuộc về nhân dân, nhưng cách mạng nước ta lúc này đang đứng trước một tình thế hiểm nghèo. Nhân dân Quảng Trị cũng như nhân dân cả nước phải đương đầu với muôn vàn thử thách, khó khăn. Nạn đói đang tiếp diễn, hậu quả chính sách vơ vét của thực dân Pháp và phát xít Nhật để lại chưa khắc phục được. Các ngành sản xuất bị đình đốn, hàng hóa khan hiếm, tài chính trống rỗng, hơn 95% nhân dân mù chữ. Giữa lúc ấy, núp dưới danh "Đồng minh" vào tước vũ khí quân đội Nhật ở Đông Dương, quân Anh, Pháp, Mỹ và quân Tưởng Giới Thạch kéo vào Việt Nam hòng bóp chết nhà nước non trẻ của ta.


Ở miền Bắc, lấy danh nghĩa quân Đồng minh vào giải giáp quân Nhật, hơn 20 vạn quân Tưởng kéo vào nước ta. Lợi dụng thời cơ đó, bọn phản động "Việt quốc", "Việt cách" ráo riết hoạt động chống phá cách mạng. Ở miền Nam, cũng dưới danh nghĩa quân Đồng minh, quân Anh kéo vào giải giáp quân Nhật. Núp bóng quân Anh, thực dân Pháp đã trở lại gây chiến ở Nam Bộ.


Tháng 3 năm 1946, tại trụ sở tự vệ chiến đấu thị xã Quảng Trị, Tỉnh ủy, Ủy ban kháng chiến hành chính tổ chức hội nghị cán bộ chủ chốt toàn tỉnh để quán triệt chỉ thị "Hòa để tiến" của Trung ương, nhằm loại bớt kẻ thù, tranh thủ thời gian chuẩn bị lực lượng kháng chiến lâu dài và kiểm điểm việc thực hiện chỉ thị "Kháng chiến kiến quốc" của Trung ương.


Trong phần kiểm điểm tình hình, hội nghị nhất trí đánh giá những cuộc vận động thực hiện ba nhiệm vụ trọng tâm là: "diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm" bước đầu đã đem lại cho Quảng Trị một sắc thái mới. Qua các cuộc vận động lớn đó, Đảng bộ Quảng Trị đã huy động được lực lượng toàn dân tham gia xây dựng, củng cố chính quyền, tạo nên nền móng của chế độ mới, phát huy vai trò làm chủ của nhân dân, tổ chức được phong trào quần chúng rộng rãi với khí thế cách mạng sôi nổi. Quảng Trị đã góp phần cùng cả nước vượt qua những khó khăn, thử thách ban đầu tưởng như không thể vượt qua nổi.


Hội nghị quyết định phải tiếp tục củng cố, phát triển lực lượng vũ trang, lực lượng công an, đẩy mạnh sản xuất, không ngừng cải thiện đời sống nhân dân, tăng cường vận động quần chúng củng cố mặt trận Việt Minh, chú trọng công tác phát triển đảng. Hội nghị nhất trí bổ sung tôi, các anh Nguyễn Xuân Luyện, Trần Văn Ngoạn và Trần Mạnh Quỳ vào Tỉnh ủy.


Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang, sau Hội nghị tháng 3 năm 1946, Tỉnh ủy cử anh Trần Quỳ sang làm Chính trị ủy viên (Chính ủy) Chi đội Thiện Thuật; nhưng anh Quỳ nêu nhiều lý do không nhận. Cuối cùng Tinh ủy cử tôi thay anh Trần Quỳ làm Chính trị ủy viên Chi đội Thiện Thuật.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #8 vào lúc: 14 Tháng Chín, 2026, 08:02:53 pm »

Đầu năm 1946, Trần Khanh được thầy Nguyễn Lân giới thiệu đi dạy học ở Plây Cu. Trần Phán và Trần Thừa tôi vận động hai chú vào bộ đội ở Chi đội Thiện Thuật.

Thời gian này Chi đội trưởng Chi đội Thiện Thuật là anh Nguyễn Đăng Trình thường gọi là Tùng Lâm. Tôi và anh Tùng Lâm đã quen biết nhau từ trước. Sau cuộc khởi nghĩa giành chính quyền, tôi làm Ủy viên Ủy ban kiêm Ủy viên thư ký của tỉnh Quảng Trị, chúng tôi càng gần và hiểu nhau hơn.


Việc đầu tiên của tôi trên cương vị Chính trị ủy viên là lo củng cố tổ chức. Tôi bàn với anh Tùng Lâm lựa chọn những cán bộ tốt, tuỳ theo năng lực mà bố trí làm chính trị viên từ trung đội trở lên đến tiểu đoàn. Với cán bộ quân sự thì lựa chọn những người đã từng là cai, đội lính khố đỏ, khố xanh có tinh thần yêu nước tự nguyện đứng trong lực lượng vũ trang cách mạng, có khả năng và trình độ chỉ huy. Hầu hết họ được cử giữ các chức vụ đại đội trưởng, tiểu đoàn trưởng.


Thi hành Hiệp định Sơ bộ ngày 6 tháng 3 năm 1946, Quảng Trị thành lập Ban liên kiểm Việt - Pháp và tổ chức lực lượng tiếp phòng quân. Lực lượng tiếp phòng quân do anh Đoàn La chỉ huy, làm nhiệm vụ bảo vệ trật tự trị an, bảo vệ đường sắt và giám sát quân Tưởng rút lui. Thực hiện chủ trương của Trung ương, Quảng Trị cử một phái đoàn do anh Đặng Thí làm trưởng đoàn, cùng với phái đoàn Chính phủ Lào tiến hành đàm phán với quân Pháp. Trong cuộc hội đàm này, phái đoàn ta đã đồng ý để cho quân Pháp mượn đoạn đường 9 từ Lao Bảo đến Đông Hà và đoạn đường 1 từ Đông Hà đến Huế để quân Pháp từ Lào về Huế thay quân Tưởng rút về nước. Lợi dụng sự kiện này, thực dân Pháp một mặt chuyển một bộ phận quân đội về đóng ở Huế, mặt khác, chúng đưa quân từ Lào áp sát biên giới Thừa Thiên - Huế, Quảng Trị và các trục đường số 9, số 8, số 7.


Ngày 22 tháng 5 năm 1946, Chính phủ ra sắc lệnh tổ chức Quân đội quốc gia Việt Nam. Chi đội Thiện Thuật chuyển thành Trung đoàn Thiện Thuật. Sau khi thành Trung đoàn Thiện Thuật, trung đoàn được bổ sung quân số và tăng cường trang bị. Ngoài ba tiểu đoàn 13, 14, 15 đã có từ trước, trung đoàn được, biên chế thêm các đại đội công binh, thông tin, trinh sát và một tiểu đoàn nữ. Sau một thời gian ngắn chúng tôi đề nghị Tỉnh ủy giải thể tiểu đoàn nữ, chỉ để một số tiểu đội làm nhiệm vụ bảo vệ.


Các chị em của trung đoàn đều cắt tóc ngăn như nam, quân phục là quần soóc, quấn xà cạp, mặc áo của lính khố đỏ Pháp. Các chị em làm nhiệm vụ canh gác rất nghiêm, ai vào doanh trại đều phải dừng lại, quay đằng sau, đợi đốc gác kiểm tra mới được vào. Bộ đội nam không ai dám trêu ghẹo các chị. Cũng cần phải nói thêm là số chị em này đa số không biết chữ.


Trang bị vũ khí của trung đoàn có gần 200 khẩu súng thu được của lính khố xanh, khố đỏ trước đây, còn lại phần lớn là giáo mác, mã tấu. Quân phục không có, quần áo do anh em tự túc, ai có gì mặc nấy.

Trung đoàn đã tiến hành huấn luyện quân sự và giáo dục chính trị cho cán bộ chiến sĩ, nâng cao giác ngộ chính trị, tư tưởng và chiến kỹ thuật. Tỉnh ủy và Ủy ban đã phát động nhân dân thu gom súng đạn, đóng góp tiền bạc mua sắm vũ khí cho bộ đội. Nhờ vậy chỉ sau một thời gian, Trung đoàn Thiện Thuật chúng tôi đã ổn định tổ chức, trang bị vũ khí được tăng cường, trình độ chính trị và kỹ chiến thuật đã được nâng lên, sức chiến đấu đã mạnh hơn rõ rệt.


Ngày 28 tháng 6 năm 1946, Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ nhất tỉnh Quảng Trị khai mạc ở Thành cổ Quảng Trị. Đến dự đại hội có 120 đại biểu. Anh Tố Hữu - Ủy viên Thường vụ Xứ ủy Trung Bộ về dự và chỉ đạo đại hội. Đại hội đã thảo luận các báo cáo của Tỉnh ủy, tập trung đánh giá toàn diện tình hình từ sau Cách mạng tháng Tám đồng thời tập trung bàn kỹ các nhiệm vụ sắp tới, trong đó có nhiệm vụ tăng cường và củng cố sự thống nhất trong đảng bộ, phát triển các đoàn thể, thành lập Hội liên Việt tỉnh...


Đại hội bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh gồm 13 đồng chí: Đặng Thí, Nguyễn Xuân Luyện, Trần Văn Ngoạn, tôi (Trần Sâm), Phan Trọng Tỉnh, Lê Khoang, Hồ Ngọc Tích, Nguyễn Cao, Nguyễn Hoạch, Nguyễn Hữu Khiếu, Hoàng Xuân, Nguyễn Bá Sam, Nguyễn Đàm.

Anh Đặng Thí được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy. Anh Hồ Chiêu, Phó bí thư.

Tháng 8 năm 1946, Trung đoàn Thiện Thuật được trên tăng cường một số cán bộ có kinh nghiệm chỉ huy chiến đấu. Trong đó có anh Đinh Huy Phan thường gọi là Hùng Việt đã từng tham gia Giải phóng quân ở chiến khu Việt Bắc. Sau Cách mạng tháng Tám, anh tham gia đội quân Nam tiến, trực tiếp chỉ huy một đơn vị chiến đấu ở Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Anh được điều về làm Trung đoàn trưởng thay anh Nguyễn Đăng Trình. Tôi lúc này vẫn giữ cương vị Chính ủy Trung đoàn.
   Tháng 12 năm 1946, Ủy ban kháng chiến tỉnh Quảng Trị được thành lập, gồm: Anh Đặng Thí, Bí thư Tỉnh ủy; anh Nguyễn Xuân

uyện, Chủ tịch Ủy ban tỉnh; tôi (Trần Sâm), Chính ủy Trung đoàn Thiện Thuật; anh Nguyễn Hữu Khiếu, Trưởng ty Công an và anh Hùng Việt, Trung đoàn trưởng Trung đoàn Thiện Thuật.

Những ngày cuối năm 1946, Pháp đã bội ước Hiệp đình Sơ bộ ngày 6 tháng 3 năm 1946. Hiệp ước có một số nội dung: Nước Pháp công nhận nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trong khối liên hiệp Pháp là một nước tự do, có Chính phủ, có nghị viện, có quân đội, tài chính riêng. Chính phủ Pháp cam kết sẽ thừa nhận những quyết định của cuộc trưng cầu dân ý về vấn đề thống nhất ba kỳ. Nước Việt Nam chấp thuận để 15.000 quân Pháp vào Bắc Việt Nam làm nhiệm vụ thay thế quân đội Trung Hoa dân quốc, số quân này sẽ phải rút hết sau một thời gian được quy định. Hai bên đình chiến để mở một cuộc đàm phán chính thức. Trong khi đàm phán quân hai bên ở đâu vẫn đóng ở đấy...


Sau khi vào miền Bắc, quân Pháp liên tiếp vi phạm hiệp định. Chúng tăng quân, gây nhiều vụ xung đột, mở rộng phạm vi đóng quân ngoài những khu vực hiệp định quy định. Tình hình chiến sự mỗi ngày một nóng lên. Ngày 19 tháng 10 năm 1946, Hội nghị quân sự toàn quốc nhận định: "Nhất định không sớm thì muộn, Pháp sẽ đánh mình và mình cũng nhất định phải đánh Pháp".


Càng về cuối năm 1946, khả năng hòa hoãn càng giảm, nguy cơ nổ ra chiến tranh toàn cục càng gia tăng. Để giành chủ động, trước tình thế chiến tranh không thể tránh khỏi, đêm 19 tháng 12 năm 1946, lực lượng vũ trang cả nước được lệnh nổ súng tiến công địch.

Cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ.

Sáng ngày 20 tháng 12 năm 1946, Bác Hồ ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến:

"Hỡi đồng bào toàn quốc!

Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa.

Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ".

Lơi kêu gọi của Bác là tiếng gọi của non sông, là mệnh lệnh tiến công thôi thúc, giục giã mọi người dân Việt Nam đứng dậy cứu nước.

Hưởng ứng lời kêu gọi của Bác Hồ, Đảng bộ, quân, dân tỉnh Quảng Trị cùng với cả nước nhất tề đứng lên sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #9 vào lúc: 14 Tháng Chín, 2026, 08:15:38 pm »

Chương hai
CUỘC CHIẾN ĐẤU TRÊN MẢNH ĐẤT HẸP MIỄN TRUNG


Dưới sự chỉ đạo của Ủy ban kháng chiến tỉnh, các cơ quan, kho tàng công binh xưởng đóng ở thị xã Quảng Trị đều chuyển lên phía tây của tỉnh, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài. Cũng trong thời gian này, nhân dân trong tỉnh đóng góp hàng vạn ngày công cùng du kích, bộ đội khẩn trương đào hào đắp ụ, dựng chướng ngại vật, phá cầu cống, gấp rút hoàn thành các tuyến phòng ngự quanh thị xã Quảng Trị và các thị trấn dọc quốc lộ 1 và đường số 9. Đồng thời huy động nhân dân cắm cọc ngăn sông Hiếu đoạn cửa Việt - Gia Độ, Xuân - Phiên - Hà - chợ Chùa, phá hoại những nơi mà địch có thể lợi dụng để đóng bốt và trú quân. Toàn bộ lương thực, thực phẩm, phương tiện sinh hoạt được nhân dân cất giấu hoặc phá bỏ. Thực hiện triệt để "Vườn không nhà trống" sẵn sàng từ bỏ cuộc sống thành thị, ra đi kháng chiến.


Tỉnh ủy chủ trương phải hết sức chăm lo việc đưa dân đi tản cư. Mỗi huyện và mỗi xã đều lập ban tản cư chịu trách nhiệm sơ tán dân.

Lúc này, bên kia biên giới Việt - Lào ở khu vực gần Lao Bảo, quân Pháp tăng cường lực lượng rất đông. Triệu chứng đó cho thấy quân Pháp sắp mở cuộc tiến công sang đất ta. Để sẵn sàng đánh trả cuộc tiến công của địch, các đơn vị chủ lực của ta rời khỏi doanh trại ra đóng quân trong rừng và phối hợp với nhân dân tổ chức kháng chiến chống quân Pháp xâm lược.


Với Trung đoàn Thiện Thuật, tôi bàn với anh Hùng Việt triển khai đội hình như sau: Tiểu đoàn 14 đóng ở thị xã Quảng Trị, sẵn sàng đánh địch tiến công từ Huế ra. Tiểu đoàn 15 đóng ở Đông Hà, làm nhiệm vụ tiếp phòng quân, thay cho một đơn vị của quân Tưởng Giới Thạch rút về nước. Tiểu đoàn 13 đóng ở Khe Sanh.


Khi được phân công từng vị trí, các đơn vị nhanh chóng triển khai, ngày đêm đào công sự, xây dựng làng chiến đấu, phá cầu cống, đường sá để ngăn chặn địch tiến công, thực hiện chủ trương của trên là "Tiêu thổ kháng chiến".

Ngày 10 tháng 1 năm 1947, quân Pháp mở cuộc tiến công vào Quảng Trị, chúng chia thành hai cánh quân: Cánh thứ nhất khoảng 1.500 tên từ Huế theo đường số 1 tiến công từ hướng nam; cánh thứ hai khoảng 500 tên từ Trung Lào theo đường 9 hòng đánh chiếm tuyến hành lang Thái Phiên - Thuận Hóa thực hiện âm mưu chia cắt Việt Nam ra làm đôi. Để ngăn chặn và đánh trả các mũi tiến công của địch, tôi và anh Hùng Việt thống nhất điều Tiểu đoàn 14 được tăng cường và Đại đội Lê Hồng Phong lên phối hợp với Tiểu đoàn 13 đang ở Khe Sanh tập trung trên hướng tây đường 9, hình thành thế trận phòng ngự sẵn sàng đón đánh quân Pháp từ Lào tiến sang.


Ngày 11 tháng 1 năm 1947, quân Pháp sử dụng hơn 500 quân có trọng pháo và máy bay yểm trợ vượt sông Xê-băng-phai mở mũi vu hồi sau Lao Bảo đánh vào làng Tổng Thuật. Trung đội 3, Đại đội 2, Tiểu đoàn 13 (tôi còn nhớ trung đội này dưới sự chỉ huy của Đại đội phó Nguyễn Tháp) đã chiến đấu kiên cường, chặn địch quyết liệt ở khu vực Ma Ca đoạn giữa Tổng Thuật và Khe Sanh. Đến trưa, Đại đội phó Nguyễn Tháp bị thương nặng phải về tuyến sau, nhưng cán bộ chiến sĩ Trung đội 3 vẫn chiến đấu gan góc đánh lại nhiều đợt tiến công của quân Pháp, buộc chúng phải dừng ở Ma Ca chờ quân cơ giới từ Lao Bảo đến tiếp viện. Có lực lượng tiếp viện chỉ huy quân Pháp lại xua quân tràn sang sông. Bộ đội ta tuy lực lượng ít, vũ khí thô sơ, nhưng đã chiến đấu rất quả cảm. Cán bộ, chiến sĩ ta lợi dụng từng tảng đá, ụ đất chống trả địch gây cho chúng nhiều thiệt hại, diệt tại chỗ 30 tên, làm bị thương nhiều tên khác. Nhưng, do lực lượng giữa ta và địch quá chênh lệch nên chúng tôi lệnh cho anh em rút lui để bảo toàn lực lượng.


Sau khi vượt sông Xê-băng-phai, quân địch vòng ra phía sau bất ngờ đánh chiếm Khe Sanh hòng chặn đường rút của bộ đội ta. Chúng tôi lệnh cho bộ đội vừa chiến đấu chặn địch vừa rút lui về Rào Quán. Trước tình hình đó, sau khi tôi trao đổi với anh Hùng Việt, anh đã cùng một số cán bộ tham mưu đến Rào Quán chỉ huy bộ đội tổ chức phòng thủ. Dưới sự chỉ huy của Trung đoàn trưởng Hùng Việt, cán bộ chiến sĩ Tiểu đoàn 14 đã tổ chức một hệ thống phòng thủ khá vững chắc, ngăn chặn quân Pháp nhiều ngày.


Ngày 12 tháng 1, một cánh quân Pháp có xe bọc thép đi cùng do thiếu tướng Tuốc-canh chỉ huy từ Lào vượt biên giới theo đường số 9 đánh chiếm Lao Bảo. Tiểu đoàn 13 và dân quân, tự vệ đã đánh trả quyết liệt quân Pháp trong các đồn điền cà phê nằm hai bên đường số 9, diệt hơn 60 tên, ngăn chặn bước tiến công của chúng. Do đường từ Lao Bảo về Khe Sanh bị quân và dân ta phá hoại, địch vừa đi vừa khắc phục nên tốc độ tiến quân của chúng rất chậm.


Ngày 15 tháng 1, các cánh quân của địch hình thành thế gọng kìm tiến đánh Khe Sanh. Sau khi chiếm được Khe Sanh, quân Pháp từ Ma Ca phối hợp với cánh quân cơ giới ở Khe Sanh về Rào Quán (Rào Quán nằm trên đường số 9, cách thị xã Đông Hà 55km). Cầu Rào Quán bị quân ta phá sập nên địch phải tập trung lực lượng sửa chữa trước khi tiến đánh.


Dưới sự chỉ huy trực tiếp của tôi và anh Hùng Việt, Tiểu đoàn 13, Tiểu đoàn 14, Đại đội Lê Hồng Phong và lực lượng dân quân du kích sẵn sàng đánh trả cuộc tiến công của địch. Lúc này anh Trần Hữu Dực - Chủ tịch Ủy ban hành chính Trung Bộ đến Quảng Trị, tôi đã đưa anh lên trận địa phòng ngự động viên cán bộ, chiến sĩ phát huy tinh thần chiến đấu dũng cảm tiêu diệt địch bảo vệ nhân dân. Bộ đội Trung đoàn Thiện Thuật rất phấn khởi, hứa với đồng chí Chủ tịch Ủy ban hành chính Trung Bộ: quyết chiến đấu với quân Pháp.


Lợi dụng địa thế hiểm trở, bộ đội ta đã triển khai thế trận, bí mật phục kích hai bên đường. Khi quân Pháp lọt vào trận địa các loại súng của ta nhả đạn vào đội hình quân địch. Bị đánh bất ngờ nên quân Pháp rối loạn. Nhân lúc địch rối loạn đội hình, các chiến sĩ Tiểu đoàn 13 xông lên đánh giáp lá cà với quân Pháp. Đại đội 2, Tiểu đoàn 13 đã phục kích diệt hai trung đội địch. Trung đoàn trưởng Hùng Việt ra lệnh cho Tiểu đoàn 13 phá cầu Rào Quán, buộc địch phải dừng lại mấy ngày để sửa chữa.


Trong những trận chiến đấu trên đường số 9, Tiểu đoàn 13 đã xuất hiện nhiều tấm gương chiến đấu tiêu biểu. Tôi còn nhớ chiến sĩ giữ trung liên Nguyễn Kế đã chiến đấu anh dũng, đợi địch đến gần mới nổ súng diệt gần chục tên địch. Tiểu đội đánh bom có đồng chí Phan Văn Trắc, đồng chí Trắc quê ở thôn Thượng Trạch, huyện Triệu Phong chiến đấu rất dũng cảm, được anh em đặt cho tên "Vua giật bom đường 9". Đồng chí Phan Văn Trắc được tặng Huân chương Chiến công hạng nhất. Đây là huân chương đầu tiên mà Trung đoàn Thiện Thuật được nhận. Chiến sĩ ta còn phát huy các loại vũ khí thô sơ như chông, mìn tự tạo, bẫy đá diệt hơn 100 tên, làm bị thương nhiều tên khác.
Logged
Trang: 1 2 3 4 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM