thongdiepthoigian
Thành viên

Bài viết: 618
|
 |
« Trả lời #10 vào lúc: 14 Tháng Chín, 2026, 08:29:32 pm » |
|
Tối ngày 16 tháng 1 năm 1947, tôi bàn với anh Hùng Việt cho Tiểu đoàn 13 rút về Đầu Mầu, chỉ để lại một số tổ giật bom, bố trí đánh địch trên đường 9 đoạn Rào Quán - Đầu Mầu, đồng thời điều Tiểu đoàn 14 trước đóng ở thị xã Quảng Trị phụ trách hướng Cửa Việt, Mỹ Chánh, nay điều lên bố trí ở Cùa, phía nam đường 9. Tiểu đoàn 15 trước đóng ở Đông Hà, phụ trách hướng Cửa Tùng, bắc Quảng Trị nay điều ra đứng chân ở khu vực Gio Linh, phía bắc đường 9.
Ngày 25 tháng 1 năm 1947, địch đánh chiếm đèo Vân Thúy rồi tràn vào chiếm vùng Cùa. Trước sự tiến công ào ạt của địch, cán bộ Tiểu đoàn 14 cho bộ đội rút về phía huyện Cam Lộ.
Trước tình hình Tiểu đoàn 14 để mất Cùa, anh Hùng Việt nổi giận, lệnh cho cán bộ từ trung đội đến tiểu đoàn xếp hàng trước sân vận động và rút súng định bắn. Thấy vậy, tôi chạy ra nói như ra lệnh:
- Đồng chí Hùng Việt không được làm thế. Khuyết điểm của cán bộ, tổ chức sẽ tùy mức độ mà kỷ luật. Đồng chí cho anh em về tổ chức lại bộ đội, tôi và đồng chí cùng anh em vào Cùa đánh địch.
Nghe tôi nói tổ chức sẽ kỷ luật, anh Hùng Việt hạ cơn nóng, cho súng vào bao, rồi bảo:
- Hôm nay các anh may vì có Chính ủy Trần Sâm, không thì các anh đã ăn đạn của tôi rồi. Tất cả về tổ chức bộ đội chuẩn bị đánh chiếm lại Cùa.
Khi chúng tôi vào Cùa thấy địch để lại những dãy lán trại làm nghi binh còn đại bộ phận quân địch đã kéo lên Mai Lãnh tập trung lực lượng tiến công Đầu Mầu.
Cuộc chiến đấu ở Đầu Mầu kéo dài suốt cả ngày 28 tháng 1 năm 1947. Ta và địch quần nhau rất quyết liệt. Cán bộ chiến sĩ trung đoàn đã diệt 30 tên, làm bị thương gần 100 tên khác. Trung đoàn còn tập kích quân Pháp ở Tân Lâm, diệt và làm bị thương nhiều tên.
Ngày 3 tháng 2 năm 1947, chúng tôi dùng hai đại đội đi tắt đường núi đánh vào sau lưng đội hình quân địch ở Mai Lãnh, gây cho chúng nhiều thiệt hại rồi nhanh chóng cho anh em rút lui.
Chiếm xong Đầu Mầu, địch dừng lại ở đó nửa tháng để sửa chữa đường sá, cầu cống, chỉnh đốn đội ngũ và chờ quân tiếp viện. Chúng tôi cho trung đoàn lui về tổ chức phòng tuyến Đèo Đá và Cam Lộ. Tiểu đoàn 13 mặc dầu đã nhiều lần được bổ sung quân song cũng chỉ còn lại hai đại đội. Do hoạt động lâu ngày, chiến đấu liên tục nên sức khỏe của anh em giảm xuống rất nhanh. Tuy vậy mọi người đều cố gắng chiến đấu. Sau đó, Tiểu đoàn 13 được lệnh lui về Cam Lộ giữ Đèo Đá.
Nhờ có kinh nghiệm đối phó với địch trên trục đường số 9 nên nhiều nơi trong tỉnh công tác chuẩn bị đánh địch cũng được triển khai chu đáo hơn, thôn xóm nào cũng có "chiến khu" riêng trong núi. Mỗi gia đình cũng chuẩn bị hai, ba "căn cứ" kín đáo đề phòng khi địch đến là rút vào "căn cứ" ngay. Trong căn cứ đều có hầm giấu lương thực, của cải. Mỗi thôn đều tổ chức một đến hai tổ tự vệ canh gác, còn du kích thì tập trung tập luyện, khi có tin địch đến mới ra vị trí chiến đấu.
Được chi viện thêm quân và vũ khí, phương tiện, ngày 13 tháng 2 năm 1947, cánh quân Pháp ở Đầu Mầu - Đường 9 bắt đầu tiến công Đèo Đá và đánh chiếm huyện lỵ Cam Lộ. Tiểu đoàn 13 ngoan cường đánh trả quân địch, nhưng trước sức tiến công áp đảo của địch, tiểu đoàn phải rút qua phía bắc sông Cam Lộ. Quân Pháp tiến theo đường số 9 đánh thẳng về Đông Hà. Một bộ phận quân địch chiếm được chợ Phiên, rồi vượt sang phía bắc sông Cam Lộ. Các chiến sĩ Tiểu đoàn 13 phối hợp với biệt động đội của tỉnh chặn đánh quân địch ở Cầu Đuồi suốt buổi chiều, diệt và làm bị thương nhiều tên địch.
Đại bộ phận quân Pháp theo đường số 9 tiến về Đông Hà, nhưng đến cây số 9 thì chúng sa vào trận địa có bố trí bom, mìn điểu khiển bằng điện và dây giật suốt 2km của ta, quân ta đã diệt một xe thiết giáp và nhiều tên địch. Đoạn đường ta bố trí bom, mìn đã làm cho địch phải mất 3 ngày để dò và tháo gỡ.
Ngày 17 tháng v2 năm 1947, địch vào Đông Hà chỉ còn "Vườn không nhà trống".
Như vậy, trên đoạn đương từ biên giới Việt - Lào đến Đông Hà dài 80km, mặc dù quân Pháp có lực lượng mạnh cả bộ binh, cơ giới, pháo binh và máy bay yểm trợ nhưng trước sự đánh trả quyết liệt của Trung đoàn Thiện Thuật và dân quân, du kích, tự vệ... chúng phải mất 38 ngày mới đẽn được Đông Hà (Theo kế hoạch của chúng, cuộc tiến công từ Lao Bảo đến Đông Hà dự kiến chỉ 4 đến 5 ngày). Không những thế, chúng còn phải bỏ xác trên dọc đường tiến công 300 binh lính và sĩ quan.
Trên hướng nam, sau khi chiếm được Thừa Thiên, ngày 12 tháng 2 năm 1947, quân Pháp sử dụng 1.500 quân có xe tăng đi cùng dưới sự yểm trợ của pháo binh và máy bay tiến công Mỹ Chánh. Để bảo toàn lực lượng, ngăn chặn đà tiến công của địch, quân ta đã phá cầu Mỹ Chánh.
Sau khi bắc lại cầu, ngày 13 tháng 2, địch tiếp tục hành quân đánh chiếm Diên Sanh (huyện lỵ Hải Lăng). Quân ta lui về tổ chức phòng thủ thị xã Quảng Trị.
Ngày 15 tháng 2 năm 1947, quân Pháp tập trung lực lượng chia làm ba mũi vượt sông Nhùng, đánh vào tuyến phòng ngự của ta ở nam thị xã Quảng Trị. Chúng tôi lệnh cho Tiểu đoàn 14 phối hợp với dân quân du kích xã Hải Long phục sẵn ở làng Thượng Xá. Khi quân Pháp vừa đến làng Thượng Xá bị các tay súng Tiểu đoàn 14 đánh trả quyết liệt.
Cuộc chiến đấu của Tiểu đoàn 14 với quân địch kéo dài suốt ngày 15 tháng 2, ta đã đẩy quân địch ra khu rừng thông gần ga La Vang, diệt hơn 20 tên, làm bị thương nhiều tên khác.
Trước lực lượng mạnh của địch (gồm hai tiểu đoàn bộ binh và một tiểu đoàn pháo binh) quân và dân ta vừa chặn đánh ngăn cản bước tiến của địch vừa rút lui lên các khu căn cứ đã chuẩn bị sẵn.
Trước khi địch từ Huế đánh ra Quảng Trị, ban chỉ huy trung đoàn chúng tôi đã tính phương án phòng ngự thị xã Quảng Trị. Chúng tôi quyết định điều Tiểu đoàn 14 từ Cùa về tổ chức phòng ngự ở thị xã. Trên tăng cường cho thị xã Quảng Trị một đại đội vệ binh. Nhìn chung, khắp nơi trong thị xã đều có lực lượng bộ đội và tự vệ bố trí. Ngoài ra chúng tôi còn tổ chức cho bộ đội bố trí những trận địa đặt bom giật, bom treo, phá các nhà kiên cố, cả Trung đoàn Thiện Thuật sẵn sàng cuộc chiến đấu với quân Pháp.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
thongdiepthoigian
Thành viên

Bài viết: 618
|
 |
« Trả lời #11 vào lúc: 26 Tháng Chín, 2026, 08:59:38 pm » |
|
5 giờ 30 phút ngày 16 tháng 2 năm 1947, pháo binh địch bắn phá thị xã, sau đó chúng cho bộ binh chia thành hai hướng tiến đánh thị xã. Hướng thứ nhất từ Đông Hà đánh vào, hướng thứ hai từ Mỹ Chánh đánh ra. Chúng tôi động viên bộ đội đánh trả những đợt tiến công của địch. Cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 14 gan góc lợi dụng giao thông hào bám trụ chiến đấu, đánh lui nhiều đợt tiến công của địch. Những trận chiến đấu diễn ra quyết liệt, nhất là ở sân vận động, làng Trí Bửu, ngã tư Xuân Tịnh, trường Quảng Đức, đặc biệt là trận chiến đấu ở Thành cổ Quảng Trị. Trong trận này, đợi cho quân Pháp kông kênh nhau vượt tường, các loại súng của ta đồng loạt nhả đạn. Gần 100 tên địch đã bỏ mạng ở đây.
Sau gần một ngày chiến đấu, Trung đoàn Thiện Thuật đã loại khỏi vòng chiến đấu 200 tên địch trên chiến trường thị xã Quảng Trị. Số địch bị thương chở đầy 15 xe ô tô.
Cuộc chiến đấu càng về chiều càng diễn ra quyết liệt. Địch tiếp tục tăng quân, quyết chiếm bằng được thị xã. Pháo binh địch bắn phá dữ dội vào trận địa phòng ngự của ta, sau đó chúng cho bộ binh tiến công- Trước tình hình đó, tôi và anh Hùng Việt thống nhất: Dùng hai khẩu đại liên và 20 chiến sĩ cố thủ ở chùa Phật Học để thu hút địch, còn đại bộ phận trung đoàn rút ra khỏi thị xã. Riêng đại đội ở làng Trí Bửu thì chiến đấu với địch đến chiều tối mới vượt sông Vĩnh Đình rút về An Tiêm. Ngoài ra, một số tổ cảm tử quân tiếp tục ở lại thị xã giật bom đánh địch ở ty công an, vườn hoa, ngã tư chợ Tỉnh.
Một hình ảnh tôi không bao giờ quên, đó là hình ảnh của 20 cán bộ, chiến sĩ trụ lại ở chùa Phật Học, họ đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng và anh dũng hy sinh.
Trong giai đoạn này, Trung đoàn Thiện Thuật cùng với lực lượng vũ trang tỉnh Quảng Trị đã làm tròn nhiệm vụ không cho địch thực hiện kế hoạch giải vây Huế như đã định. Lực lượng của chúng bị sa lầy và tổn thất nặng từ Lao Bảo, Đông Hà,thị xã Quảng Trị... nên chúng không đủ sức vào giải vây Huế. Chúng phải dùng máy bay đổ bộ quân vào nam Thừa Thiên rồi đánh ra Huế giải vây cho quân Pháp đang bị vây hãm ở đây.
Ngày 17 tháng 2 năm 1947, Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Trị họp mở rộng. Tham gia hội nghị có anh Đặng Thí - Bí thư và các anh Nguyễn Xuân Luyện, Nguyễn Hữu Khiếu, Lê Chưởng và tôi cùng một số người nữa. Hội nghị họp tại làng Lại An huyện Gio Linh nhận định: Sau khi đánh chiếm thị xã Quảng Trị, địch bị tiêu hao nặng nên chúng phải dừng lại một thời gian để củng cố lực lượng, tiến hành bình định vùng chúng mới chiếm đóng. Sau đó chúng sẽ mở đợt tiến công đánh chiếm Gio Linh, Vĩnh Linh... Thường vụ chủ trương: Địch có thể chiếm được đất nhưng ta không thể để mất dân. Địch cố chiếm đồng bằng, ta không những giữ vững địa bàn rừng núi mà phải giành giật với địch ở đồng bằng đông dân. Có thể chúng sẽ càn quét, tiêu diệt cơ sở kháng chiến, đánh bật cán bộ, đảng viên, bộ đội lên núi để lập hội tề. Nhưng cán bộ, đảng viên, lực lượng vũ trang quyết không rời quần chúng, giữ vững các cơ sở ở đồng bằng để phá tề trừ gian. Cấp ủy các cấp một mặt phải nhanh chóng chuyển sang chỉ đạo đấu tranh vũ trang, bám đất, bám dân giữ vững cơ sở, khôi phục lực lượng kháng chiến, lãnh đạo chiến tranh du kích ở địa phương, mặt khác phải kiên quyết đập tan kế hoạch lập ngụy quyền, ngụy quân của địch.
Hội nghị còn đề ra các biện pháp cụ thể như: Bảo toàn lực lượng bộ đội chủ lực, tăng cường lực lượng tự vệ chiến đấu, củng cố các huyện đội, lập các đội tự vệ chiến đấu của huyện, lập đội du kích đường 9 (sau gọi là đội biệt động đường 9), lập các đội trừ gian, phát động toàn dân bao vây kinh tế địch, tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng, củng cố xây dựng lại các chi bộ đảng ở các huyện phía nam của Tỉnh ủy, có mạng lưới giao thông liên lạc bảo đảm thông suốt từ trên xuống cơ sở và ngược lại.
Về quân sự, tôi đề xuất: Điều Tiểu đoàn 14 vòng lại vùng đồng bằng Triệu - Hải cùng với lực lượng dân quân tự vệ của hai huyện Triệu Phong, Hải Lăng và các đơn vị chủ lực đã trở lại từ trước bảo vệ dân, bảo vệ mùa màng và phải đánh mạnh vào các lực lượng chiếm đóng của địch. Tiểu đoàn 15 vừa là lực lượng dự bị vừa cùng với lực lượng vũ trang hai huyện Gio Linh và Vĩnh Linh bảo vệ cơ quan Tỉnh ủy, Ủy ban kháng chiến đóng trên địa bàn. Tiểu đoàn 13 bám địa bàn bắc Cam Lộ, giữ đường 76.
Ý kiến đề xuất của tôi được Hội nghị Thường vụ Tỉnh ủy hoàn toàn nhất trí.
Sáng ngày 8 tháng 3 năm 1947, anh Hùng Việt dẫn ba chiến sĩ của Tiểu đoàn 14 ra hướng dẫn sử dụng quả đạn pháo 75mm, biến quả đạn này thành quả mìn để diệt dịch. Tôi đang ngồi làm việc trong nhà thì bỗng nghe thấy tiếng nổ lớn. Tôi nhìn ra chỗ anh Hùng Việt và ba chiến sĩ thấy khói bụi mịt mù...
Anh Hùng Việt đã anh dũng hy sinh. Anh ra đi là một tổn thất to lớn đôi với cán bộ, chiến sĩ trung đoàn. Anh là một trung đoàn trưởng dũng cảm và mưu trí. Tôi đau đớn tập trung toàn bộ cán bộ, chiến sĩ trung đoàn có mặt ở đó, nghẹn ngào nói:
- Đồng chí Hùng Việt là một cán bộ quân sự ưu tú của Đảng, một chỉ huy trung đoàn dũng cảm và mưu trí. Đồng chí mất đi là một tổn thất vô cùng lớn lao đối với cán bộ, chiến sĩ chúng ta. Tôi đề nghị các đồng chí giữ bí mật về sự hy sinh của đồng chí Hùng Việt. Hãy coi như đồng chí đang cùng chiến đấu với chúng ta. Giữ bí mật này là mệnh lệnh, ai để lộ coi như vi phạm kỷ luật chiến trường. Các đồng chí nghe rõ chưa?
Với niềm thương tiếc và xúc động, tất cả đều nghẹn ngào: "Rõ!" - Lời hô, lời hứa nhỏ nhẹ, đau buồn, suốt đời tôi không thể quên.
Sau khi tổ chức an táng cho anh Hùng Việt và ba chiến sĩ, việc đầu tiên là tôi tập chữ ký của anh Hùng Việt. Cũng may chữ tôi và chữ anh Hùng Việt na ná giống nhau. Chữ ký của anh chân phương nên tôi không khó khăn lắm để bắt chước ký vào các mệnh lệnh của trung đoàn trưởng.
Mấy tháng trời, cả trung đoàn đều tin là Trung đoàn trưởng Hùng Việt vẫn đang chỉ huy. Trên thực tế, lúc này tôi là Chính ủy kiêm Trung đoàn trưởng.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
thongdiepthoigian
Thành viên

Bài viết: 618
|
 |
« Trả lời #12 vào lúc: 26 Tháng Chín, 2026, 09:00:56 pm » |
|
Tối ngày 8 tháng 3 năm 1947, thực hiện chủ trương của Thường vụ Tỉnh ủy và kế hoạch tác chiến của trung đoàn, Tiểu đoàn 14 do Tiểu đoàn trưởng Lê Bá Khoan chỉ huy được lệnh hành quân vòng lại ở vùng đồng bằng Triệu - Hải. Tôi thống nhất với huyện ủy Triệu Phong và Hải Lăng là phân tán Tiểu đoàn 14, phối hợp với dân quân tự vệ và các đội trừ gian ở địa phương tổ chức quấy rối địch, không cho chúng ăn ngon ngủ yên, phá âm mưu bình định của chúng.
Nắm vững phương châm chỉ đạo kháng chiến của Đảng, chúng tôi động viên cán bộ chiến sĩ Tiểu đoàn 14 sử dụng nhiều phương thức chiến đấu như phục kích, tập kích chớp nhoáng... Cách đánh này vừa tránh thương vong cho chiến sĩ vừa đạt hiệu quả cao, quân địch rất hoang mang, lúc nào cũng nơm nớp sợ bị tiến công.
Đêm 20 tháng 3 năm 1947, bộ đội và dân quân đột nhập Trường Phủ, ném lựu đạn vào nơi quân Pháp tập trung, diệt một số tên. Cùng đêm, quân ta tấn công nhà Thương Chánh ở chợ Sãi (Triệu Phong) diệt 6 lính Pháp, phá một xe gíp.
Ở Hải Châu (Hải Lăng), được sự giúp đỡ nuôi dưỡng che chở của nhân dân, chúng tôi chỉ đạo Đại đội 5 Tiểu đoàn 14 phối hợp với dân quân tổ chức một trận địa lôi chiến rộng lớn, chôn bom rải rác khắp các thôn Bích La, Thương Trạch, An Trạch, Long Quang và chặn đánh địch khắp các ngả, diệt 80 tên, làm bị thương 20 tên khác.
Được sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, Đảng bộ và nhân dân hai huyện Triệu - Hải, đã thực hiện phương châm bám địch để đánh, bám dân giữ vững cơ sở. Dần dần ta đã hình thành khu căn cứ đồng bằng Triệu Phong, trung tâm là chợ Cạn. Sau đó, khu căn cứ được mở rộng ra cả vùng đồng bằng Triệu Phong và Hải Lăng. Dựa vào căn cứ chợ Cạn, chúng ta đã kiểm soát được phần lớn vùng đồng bằng Triệu Phong, Hải Lăng - nơi cung cấp nhân lực, vật lực cho cuộc kháng chiến của tỉnh Quảng Trị.
Sau khi chiếm được thị xã Quảng Trị và Đông Hà, quân Pháp một mặt tiến hành củng cố các vị trí vừa chiếm được, mặt khác cho quân lấn dần ra phía bắc, chiếm vùng tả ngạn sông Cam Lộ từ Tân Đình, Cam Vũ đến Cam Lộ Hạ, kiểm soát tỉnh lộ 74 tạo thế che chắn cho quân lính của chúng ở dọc đường số 9. Đồng thời chúng chuẩn bị bàn đạp tấn công hai huyện Gio Linh và Vĩnh Linh.
Ngày 27 tháng 3 năm 1947, quân Pháp chia hai cánh quân đánh chiếm Gio Linh. Cánh quân thứ nhất từ Đông Hà theo quốc lộ 1 đánh chiếm dập huyện. Cánh quân thứ hai theo đường 76 có thiết giáp yểm trợ và bọn việt gian dẫn đường. Chúng tôi ra lệnh cho Tiểu đoàn 13 dưới sự chỉ huy của Tiểu đoàn trưởng Lê Bá Vận và Chính trị viên Vũ Hồng Thanh, tổ chức những trận đánh trên đường 76, tập kích chợ Phiên (Cam Lộ), diệt và làm bị thương hàng chục tên, trong đó có một tên quan tư Pháp bị thương nặng, khi về đến Đông Hà thì hắn chết; bắn cháy một chiếc xc tăng. Ta còn bố trí một trung đội chủ lực lên vùng Đầu Mầu hoạt động quấy rối phía sau lưng địch. Đặc biệt trong thời gian này Tiểu đoàn 13 có trận đánh tại nhà Cửu Cầu (Cam Lộ Hạ), diệt gọn một trung đội địch, làm cho chúng hoang mang, khiếp sợ.
Ngày 30 tháng 3 năm 1947, quân Pháp đánh chiếm Vĩnh Linh cũng bằng hai cánh quân, dưới sự yểm trợ của 4 máy bay, 2 tàu chiến ở ngoài biển và hàng chục xe thiết giáp, xe cơ giới. Cánh quân thứ nhất theo đường sắt tràn qua sông Hiền Lương, cầu Tiên An và từ Tiên An chúng tiến đánh bến đò Phúc Lâm để chiếm huyện lỵ Vĩnh Linh. Cánh quân thứ hai, vượt qua cánh đồng và những cồn cát bờ biển vòng xuống Võ Xá, Hải Chữ tiến xuống chiếm Cửa Tùng, sau đó đánh lên hợp điểm với cánh quân thứ nhất ở huyện lỵ Vĩnh Linh. Hai cánh quân này gặp nhau ở vùng Hồ Xá (huyện lỵ Vĩnh Linh).
Trên đường tiến quân, quân Pháp vấp phải sự đánh trả quyết liệt của Tiểu đoàn 15 và các đội tự vệ thường trực, ta tiêu diệt hơn 30 tên Pháp, làm bị thương nhiều tên khác. Để bảo toàn lực lượng, chúng tôi lệnh Tiểu đoàn 15 sau trận chiến đấu ở cầu Tiên An, bến đò Hiền Lương, phải vừa đánh địch vừa lui theo đường Sa Lung - Bến Quang lên vùng căn cứ Ba Buôi - Keng Tăm (tây Vĩnh Linh), tranh thủ củng cố lực lượng.
Sau hơn một tháng hoạt động, tôi và một số cán bộ của Trung đoàn Thiện Thuật theo đường đồng bằng Gio Linh - Triệu Phong lên vùng Hải Đảo (Hải Lăng) liên lạc với Tỉnh ủy để chuẩn bị lương thực cho trung đoàn.
Đầu tháng 5 năm 1947, chúng tôi ra lệnh cho Tiểu đoàn 15 và lực lượng trợ chiến hành quân về căn cứ Hải Đạo.
Như vậy, đến ngày 31 tháng 3 năm 1947, địch đã chiếm hầu hết Quảng Trị. Kể từ đây nhân dân và lực lượng vũ trang Quảng Trị bước vào cuộc chiến đấu mới cam go, quyết liệt và lâu dài.
Nói thêm về Trung đoàn Thiện Thuật. Do trung đoàn mới xây dựng nên chưa có kinh nghiệm chiến đấu, vũ khí thô sơ, thiếu thốn, về mặt chiến thuật, bộ đội chỉ biết bố trí trận địa đánh địch trước mặt, hoặc phục kích, tập kích nhỏ. Chưa qua vận động đánh địch sau lưng, nặng về phòng ngự, nhẹ tiến công. Cán bộ có quyết tâm cao, có lòng yêu nước, căm thù giặc nhưng chưa được học tập chiến kỹ thuật, chưa có kinh nghiệm tổ chức, chỉ huy bộ đội tác chiến, chưa biết làm công tác vận động chính trị trong chiến đấu...
Những ngày đầu kháng chiến, nhân dân Quảng Trị đã cùng lực lượng vũ trang nêu cao tinh thần yêu nước đâ kiên cường chiến đấu, bám đất, bám dân. Cuộc kháng chiến ở Quảng Trị đã dần dần phát triển rộng khắp và kết hợp nhiều mặt. Công tác chuẩn bị lâu dài được tiến hành khẩn trương.
Kế hoạch bố phòng, kế hoạch xây dựng và tác chiến của bộ đội chủ lực, dân quân, tự vệ được chuẩn bị tương đối đầy đủ. Công tác giáo dục tuyên truyền trong cán bộ, đảng viên, lực lượng vũ trang và nhân dân về đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện được chú trọng... nên khi chiến sự xảy ra quân dân Quảng Trị luôn bình tĩnh, vững vàng.
Sau khi chiếm Quảng Trị, quân Pháp đã thực hiện ý đồ: nối thông con đường chiến lược Đà Nẵng - Đông Hà - Sa-va-na-khẹt. Bộ chỉ huy quân Pháp ở Huế xúc tiến kế hoạch mở rộng vùng chiếm đóng. Đến mùa hè năm 1947, tổng số quân Pháp và tay sai ở đây là 2.800 tên.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
thongdiepthoigian
Thành viên

Bài viết: 618
|
 |
« Trả lời #13 vào lúc: 26 Tháng Chín, 2026, 09:04:05 pm » |
|
Bộ chỉ huy quân Pháp chia Bình - Trị - Thiên làm ba chiến khu: Chiến khu Quảng Bình, chiến khu Quảng Trị, chiến khu Thừa Thiên.
Chiến khu Quảng Trị do một đại tá Pháp chỉ huy gồm bốn phân khu: Đông Hà, Quảng Trị, Gio Linh và Khe Sanh. Trong từng phân khu, chúng xây dựng hệ thống đồn bốt, căn cứ khá dày đặc. Quân Pháp liên tục mở các trận càn quét, khủng bố, chúng thực hiện ba sạch (giết sạch, phá sạch, đốt sạch). ở huyện Hải Lăng, chỉ trong một buổi chiều ngày 10 tháng 4 năm 1947, giặc Pháp đi càn đã cho lính xả súng bắn chết 115 người ở xóm Đò làng Quy Thiện, trong đó có hai em của tôi là Trần Phán và Trần Thống. Trần Phán năm đó 18 tuổi. (Phán sinh năm 1929). Chú đi bộ đội, ở Tiểu đoàn 14, Trung đoàn Thiện Thuật của tôi. Trong trận chiến đấu ở Đầu Mầu, chú Phán bị thương, quân y đơn vị đã chữa trị cho Phán tạm ổn, nhưng sức khoẻ vẫn chưa hồi phục nên cho chú về nhà tạm nghỉ để dưỡng thương. Khi địch càn vào làng, chú Phán dẫn em là Trần Thống năm đó 13 tuổi (Thống sinh năm 1934) chạy trốn nấp trong bụi cây. Quân Pháp phát hiện được đã xả súng bắn chết cả hai em.
Khi tôi nhận được tin hai em Phán và Thống bị giặc Pháp bắn chết, tôi không tin là thực. Đến khi về quê nghe bố tôi kể lại diễn biến như trên và chiều tối hôm đó ông cùng mấy người bà con đưa xác hai em về quê chôn, tôi nén xúc động, nói với bố mẹ:
- Bố mẹ đừng quá đau buồn mà đổ bệnh. Con hứa với bố mẹ là sẽ trả thù cho hai em.
Cùng thời gian này quân Pháp còn lùng sục đốt cháy nhà cửa của dân. Có nơi nhân dân phải làm đi làm lại năm, bảy lần. Âm mưu độc ác của quân Pháp không chỉ bắn, giết, đốt phá bằng bom đạn mà chúng còn làm cho nhân dân ta chết dần chết mòn vì đói rét, bệnh tật. Thực hiện âm mưu đó, chúng đã ra sức phá hoại mùa màng làm cho nhân dân đói khổ, buộc phải theo chúng. Địch coi đây là "chiến tranh thóc gạo". Chúng lấy việc kiểm soát lúa gạo, kiểm soát việc làm ăn để kiểm soát tình hình chính trị của nhân dân. Ngoài các biện pháp trắng trợn huy động tay sai đi cướp lúa của dân, chúng còn cho xe thiết giáp chạy giữa đồng lúa đang chín để phá. Tàn ác hơn, chúng còn cho lính xả súng bắn vào nông dân giữa đồng, bắn trâu bò, phá nông cụ, bắt nông dân phải tập trung lúa vào đồn...
Tình hình kinh tế - tài chính, hậu cần lúc này của tỉnh Quảng Trị nói chung và Trung đoàn Thiện Thuật nói riêng gặp nhiều khó khăn. Bộ đội bị sốt rét nhiều, thuốc ký ninh hiếm, anh em phải hòa thuốc vào nước cho nhiều người cùng uống.
Trong tình hình địch càn quét đánh phá hết đợt này đến đợt khác, bọn việt gian, tề điệp đua nhau mọc lên, lực lượng của ta ở đồng bằng phải hoạt động trong điều kiện khó khăn gay gắt. Nhiều đồng chí phải ngủ bờ, ngủ bụi, ban ngày ẩn nấp giữa các bãi cát nóng, ban đêm mới len lỏi vào thôn xóm tuyên truyền giác ngộ nhân dân, tìm bắt liên lạc, gây dựng cơ sở củng cố tổ chức dân quân, du kích, tự vệ.
Chiến khu của tỉnh nằm ở phía tây hai huyện Triệu - Hải từ Hòn Linh, Bạc Lở qua Khe Sụ, Khe Cau. Phía Ba Lòng kéo dài xuống Bơơng, phía Hòn Linh kéo dài xuống Hải Đạo. Chiến khu Ba Lòng là một địa thế rất lợi hại của quân dân ta. Ở đây có thể tiến đánh địch, lúc khó khăn tạm thời ta vẫn có thể giữ Vùng Trấm. Bơơng là căn cứ của Trung đoàn Thiện Thuật.
Về tổ chức, thực hiện chủ trương của Trung ương, Quảng Trị đã thống nhất Ủy ban kháng chiến và Ủy ban hành chính thành Ủy ban kháng chiến hành chính.
Từ tháng 5 năm 1947, cuộc chiến đấu ở Quảng Trị đã có bước phát triển mới. Cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn Thiện Thuật đã cùng dân quân, du kích bám đất, bám dân, đẩy mạnh việc phục hồi, củng cố lực lượng kháng chiến. Các hoạt động của Trung đoàn Thiện Thuật và dân quân, du kích diễn ra khắp nơi, đẩy quân địch vào tình thế đối phó hết sức lúng túng. Chúng tôi ra lệnh cho các tiểu đoàn đẩy mạnh tiến công quân địch. Nhiều trận tập kích căn cứ địch ở Gio Linh, Cam Lộ, Triệu Phong, đường số 9 liên tiếp diễn ra. Quân ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 400 tên địch, góp phần thúc đẩy phong trào chiến tranh du kích ở Quảng Trị phát triển đều khắp.
Thời gian này, ở Quảng Trị xuất hiện nhiều làng xã chiến đấu kiểu mẫu như: Huỳnh Công Đông, Huỳnh Công Tây. Vùng đồng bằng tuy đất hẹp nhưng cũng hình thành những căn cứ như chợ Cạn (Triệu Phong), Phương Lang (Hải Lăng). Bọn tề ngụy cũng phải co vào các đồn bốt. Mỗi lần càn quét vào các khu căn cứ, địch phải tập trung quân lớn. Vậy mà nhiều cuộc càn chưa vào được căn cứ, chúng đã phải vội vàng rút quân.
Thu - Đông năm 1947, quân Pháp mỏ cuộc tiến công chiến lược vào Việt Bắc. Âm mưu của chúng là: Tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến, loại trừ bộ đội chủ lực của ta và phá hủy mọi tiềm năng chiến tranh. Để đánh bại cuộc tiến công của địch, quân và dân ta đã mở chiến dịch phản công giáng cho quân địch phải chịu tổn thất nặng nề, buộc địch phải chuyển sang thế thủ.
Chiến dịch Việt Bắc là chiến dịch phản công quy mô lớn đầu tiên của quân và dân ta tại căn cứ địa rừng núi. Trong chiến dịch này, bằng cách đánh du kích, vận động, mặc dù lực lượng trang bị của ta thua kém địch, nhưng quân và dân ta đã đánh bại cuộc tiến công chiến lược của một vạn hai quân viễn chinh Pháp.
Phối hợp với chiến trường Việt Bắc, trước tình hình địch thay đổi chiến lược chiến tranh và thủ đoạn hoạt động, Trung đoàn Thiện Thuật chúng tôi đã thay đổi phương thức hoạt động, thực hiện phương châm "du kích vận động chiến", vừa tiến hành các trận đánh nhỏ lẻ, vừa tuyên truyền vận động quần chúng, thành lập các đội vũ trang, biệt động luồn sâu hoạt động trong lòng địch, xây dựng phong trào chiến tranh du kích sau lưng địch.
Thời gian này, địch tiến hành các trận càn quét đánh vào các căn cứ của ta hòng tiêu diệt các cơ quan lãnh đạo kháng chiến. Trong trận chống càn ở Hòn Linh, Ba Lòng, Trung đoàn Thiện Thuật chiến đấu dũng cảm mưu trí, diệt và bắt gần 400 tên địch.
Mấy chục tên địch bị bắt, tôi bàn với lãnh đạo Tỉnh ủy phóng thích chúng. Tôi trực tiếp viết thư cho viên trung tá Pháp chỉ huy phân khu Quảng Trị thông báo việc ta thả tù binh. Trong thư tôi hẹn với viên chỉ huy phân khu Quảng Trị là ta sẽ phóng thích tù binh tại cầu Lai Phước trên đường số 1. Phía Pháp phải bảo đảm an toàn cho người áp giải tù binh của ta. Viết xong thư tôi cử chiến sĩ Nam, có thể hình cao lớn và tác phong hoại bát mang thư vào thị xã Quảng Trị đưa cho trung tá chỉ huy phân khu Quảng Trị.
Chiến sĩ Nam, bình tĩnh, hiên ngang đi vào thị xã. Binh lính địch ngăn lại, thấy thư gửi cho chỉ huy phân khu, hơn nữa Nam không mang theo vũ khí, thế là chúng cho anh đi.
Viên trung tá Pháp sau khi nhận lá thư bằng chữ Pháp do tôi viết từ tay chiến sĩ Nam đã tỏ ra lịch sự và chu đáo. Viên chỉ huy quân Pháp tỏ lòng biết ơn sự nhân đạo của quân đội ta và hứa sẽ thực hiện đúng theo yêu cầu của ta.
Sau này, Nam nói lại với tôi là viên trung tá Pháp định tặng cho Trung đoàn trưởng một món quà, nhưng Nam đã từ chối một cách lịch sự. Tôi khen ngợi việc làm của cậu ta và biểu dương Nam đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
thongdiepthoigian
Thành viên

Bài viết: 618
|
 |
« Trả lời #14 vào lúc: 26 Tháng Chín, 2026, 09:05:20 pm » |
|
Tháng 11 năm 1947, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Trị lần thứ hai khai mạc tại Khe Sụ (xã Triệu Nguyên). Đại hội có 90 đại biểu chính thức và dự khuyết. Phần đánh giá tình hình một năm lãnh đạo kháng chiến của Đảng bộ, Đại hội chỉ rõ: Thắng lợi của quân dân Quảng Trị trên các mặt quân sự, chính trị, kinh tế trong năm đầu kháng chiến chống Pháp đã góp phần cùng quân và dân hai tỉnh Thừa Thiên, Quảng Bình giữ chân giặc Pháp, không cho chúng tấn công ra vùng tự do Thanh - Nghệ - Tĩnh, cùng cả nước buộc thực dân Pháp phải chuyển hướng chiến lược chiến tranh từ "đánh nhanh thắng nhanh" sang "đánh lâu dài", thực hiện chính sách "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh", "dùng người Việt đánh người Việt".
Về phương hướng, Đại hội đề ra các biện pháp cốt yếu để chống lại âm mưu thủ đoạn mới của địch, là củng cố khối đoàn kết toàn dân, coi trọng công tác mặt trận và các đoàn thể, xây dựng cơ sở quần chúng, củng cố, xây dựng lực lượng dân quân du kích, kiên quyết trừng trị bọn việt gian, giải tán các ban hội tề do địch lập ra, vận động ngụy quân, tổ chức phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng, vận động quần chúng trực tiếp tham gia đánh giặc giữ làng. Đẩy mạnh sản xuất, chú trọng công tác văn hóa, giáo dục, y tế, mở các trường tiểu học ở những nơi có điều kiện như chiến khu Ba Lòng Cùa... Đẩy mạnh phong trào bình dân học vụ, xuất bản và phát hành tờ báo Tiếng Vang.
Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ hai đã bầu Ban Chấp hành Đảng bộ gồm 13 ủy viên chính thức: Đặng Thí, Trần Văn Ngoan, Lê Chưởng, Nguyễn Xuân Luyện, tôi (Trần Sâm), Nguyễn Quang Xá, Nguvễn Cao, Hoàng Xuân, Văn Việt Tùy, Hồ Ngọc Tích, Trần Hồng Chương, Vĩnh Mai, Nguyễn Đàm và 2 ủy viên dự khuyết: Trần Trọng Hoãn (tức Trần Trọng Tân), Phạm Ngọc Cấn. Anh Đặng Thí được Đại hội bầu làm Bí thư Tỉnh ủy.
Cuối năm 1947, Phân khu Bình - Trị - Thiên được thành lập, trực thuộc Liên khu 4, Trung đoàn Thiện Thuật đổi thành Trung đoàn 95. (Tôi cũng không rõ tại sao lại đặt tên là Trung đoàn 95). Anh Lê Nam Thắng thay tôi làm Trung đoàn trưởng, anh Lê Chưởng làm Chính ủy, tôi được điều về làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn Cao Vân1 (Trần Cao Vân là một trong những người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Duy Tân ở Huế đầu thế kỷ XX, nên khi mới thành lập Chi đội lấy tên là Cao Vân) (Trung đoàn 101) thay anh Hà Văn Lâu.
Chi đội Cao Vân thành lập tháng 9 năm 1945 ở Huế. Quân số ban đầu có khoảng 2.000 người. Năm 1946, đơn vị đổi tên thành Trung đoàn Cao Vân và cuối năm 1947 đổi thành Trung đoàn 101. (Tôi cũng không rõ tại sao trung đoàn lại lấy tên 101). Thời gian này, Trung đoàn Cao Vân có 3 tiểu đoàn: Tiểu đoàn 16 đổi phiên hiệu thành Tiểu đoàn 319, Tiểu đoàn 17 đổi phiên hiệu thành Tiểu đoàn 328, Tiểu đoàn 18 đổi phiên hiệu thành Tiểu đoàn 227.
Tôi về Trung đoàn 101 giữa lúc giặc Pháp mở cuộc càn lởn. Chúng đốt trên 5.000 ngôi nhà, giết hại trên 2.000 người dân vô tội. Quân địch dùng các đội ứng chiến nhỏ kết hợp với quân chiếm đóng, càn quét khu du kích và vùng tự do ở đồng bằng Thừa Thiên hòng khủng bố, tìm bắt cán bộ.
Trước thế mạnh và những thủ đoạn càn quét ác liệt của địch trước những tổn thất lớn của ta, một số cán bộ, đảng viên hoang mang dao động. Nhiều tổ chức cơ sở đảng, cơ sở quần chúng bị tê liệt. Trước tình hình nghiêm trọng ấy, lãnh đạo các cấp chưa kịp thời đề ra những chủ trương thích hợp để ổn định tư tưởng, tổ chức, giữ vững phong trào kháng chiến thậm chí có nơi bị tan rã.
Đảng ủy Liên khu 4 đã họp phê phán nhận thức sai lầm và những biểu hiện hữu khuynh, tiêu cực trong cán bộ các cấp, nhất là trong một số cán bộ lãnh đạo chỉ huy chủ chốt, đồng thời đề ra những nhiệm vụ và biện pháp cốt yếu để chống lại hành động càn quét của địch: Phải xây dựng cơ sở quần chúng, tổ chức lãnh đạo nhân dân đấu tranh, vận động toàn dân trực tiếp tham gia đánh giặc, giữ làng. Kiên quyết trừng trị bọn việt gian, giải tán hội tề, vận động binh sĩ ngụy quân quay về với cách mạng. Duy trì phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng cũng như hoạt động quân sự, phối hợp chặt chẽ giữa các vùng trong một khu vực, các chiến trường trong Liên khu với chiến trường toàn quốc, không để địch dồn lực lượng đánh phá từng khu vực một.
Tôi cho rằng chủ trương toàn dân tham gia đánh giặc là một chủ trương đúng đắn, xuất phát từ đường lối kháng chiến của Đảng và được quân và dân Bình - Trị - Thiên vận dụng để khôi phục và phát triển chiến tranh du kích trong Liên khu 4, cuộc chiến tranh đó thực sự trở thành một cuộc chiến đấu toàn dân, toàn diện, bền bỉ, kiên cường.
Ngày 1 tháng 2 năm 1948, Trần Thừa (em trai thứ bảy của tôi) là cán bộ đại đội quân báo thuộc hai huyện Hải Lăng và Triệu Phong đã hy sinh trong một cuộc chống càn không cân sức. Quân địch dồn tổ quân báo của Thừa vào một góc vườn rồi kêu gọi đầu hàng. Tôi được một vài người kể lại, Thừa vừa hô: Đầu hàng này! Đầu hàng này! vừa rút súng bắn chết 3 tên địch. Bọn địch điên cuồng bắn vào Thừa. Thừa bị thương nặng nhưng vẫn kịp bới cát vùi súng và tài liệu rồi lấp cát lên.
Quá sốc trước cái chết của ba người con trai, ngay 20 tháng 4 năm 1948, mẹ tôi đổ bệnh rồi qua đời.
Ngày 16 tháng 6 năm 1948, tôi sử dụng một phân đội (chọn những người khoẻ, tháo vát, trang bị gọn nhẹ) đột nhập vào thành phố Huế giữa ban ngày tiến công kho xăng, nhà ga, bắn cháy nhà chứa quân dụng, gây cho địch nhiều thiệt hại.
Đêm 27 tháng 6 năm 1948, tôi bàn với anh Trần Quý Hai - Chính ủy Trung đoàn dùng Tiểu đoàn 227 do Chính trị viên Quách Sĩ Kha và Tiểu đoàn trưởng Trần Sơn Nham chỉ huy, bí mật hành quân vượt phá Tam Giang rồi chia thành nhiều mũi tiến công đồn Mỹ Lợi. Bị đánh bất ngờ, địch rối loạn, chống cự yếu ớt. Anh em ta vừa chiến đấu vừa gọi hàng, sau hơn 1 giờ đã diệt gọn đồn và lôi kéo 6 hàng binh người Đức. Quân ta rút trước lúc trời sáng.
Ngày 9 tháng 7 năm 1948, chúng tôi sử dụng Tiểu đoàn 319 tập kích đồn Hà Thanh (Phú Vang). Tôi dùng Kê Men - một hàng binh người Đức giả làm sĩ quan Pháp cùng 30 chiến sĩ cải trang thành ngụy binh ngang nhiên vào đồn. Lính gác mở cổng đồn, anh em ta xông vào nổ súng tiến công. Do bị bất ngờ quân địch không dám chống cự. Ta diệt 44 tên, thu 1 súng trung liên và 34 súng trường cùng nhiều đạn dược. Ta còn giải thoát được 7 cán bộ do địch bắt giam.
Tiếp theo trận tiêu diệt đồn Hà Thanh, Trung đoàn 101 chúng tôi còn phục kích địch ở cửa Tư Hiền, đánh chìm 14 thuyền chở 150 tấn lương thực của địch. Chúng tôi còn tổ chức trận vận động chiến đánh địch càn ở Dưỡng Mông ( Phú Vang).
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
thongdiepthoigian
Thành viên

Bài viết: 618
|
 |
« Trả lời #15 vào lúc: 26 Tháng Chín, 2026, 09:06:38 pm » |
|
Tháng 8 năm 1948, Liên khu ra lệnh tổng phá tề lần thứ nhất. Ta chủ trương phá tề thành từng đợt đều khắp ở cả ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên để không cho địch tập trung khủng bố từng nơi.
Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Tỉnh ủy Thừa Thiên, nhân dân vùng tạm bị chiếm đồng loạt nổi dậy phá kìm diệt ác, quét tề trên nhiều vùng rộng lớn. Do sự phối hợp chặt chẽ giữa bộ đội và công an, dựa vào cơ sở quần chúng, một mặt kiên quyết trừng trị những tên ngụy quyền phản động, mặt khác tuyên truyền giáo dục lôi kéo những người lầm đường trở về với cách mạng, chỉ một thời gian ngắn, hơn 80% hội tề ở Thừa Thiên bị giải tán. Chính quyền nhân dân thôn, xã lần lượt ra đời. Trung đoàn 101 đánh địch ở Võ Xá, Mỹ Chánh, Phò Trạch, Ưu Điềm, Cầu Nhi, Xóm Xoài, Cầu Vực... hỗ trợ cho nhân dân đứng lên phá tề trừ gian, bảo vệ mùa màng, bảo vệ nhân dân.
Cuối năm 1948, thực dân Pháp tổ chức những đợt vận chuyển vũ khí, lương thực lớn tiếp tế cho Quảng Trị, Quảng Bình và Trung Lào. Bộ chỉ huy Phân khu chủ trương tổ chức những trận đánh giao thông, nhằm vào các đoàn tàu chở vũ khí quan trọng của địch, đoạt nhiều vũ khí, đạn dược để trang bị cho các đơn vị. Cho tới lúc này, tình hình trang bị của các trung đoàn vẫn còn yếu, mới đảm bảo quá nửa số chiến sĩ có súng. Số còn lại vẫn phải dùng đại đao, mã tấu.
Sau một thời gian nghiên cứu, chuẩn bị, tôi quyết định chọn Hội Mít nằm trên tuyến đường sắt Đà Nẵng - Huế cách ga Lăng Cô 2km về phía bắc, kẹp giữa đầm An Cư, đường số 1 và dải núi trùng điệp ở tây tây nam để đánh địch. Địa hình ở đây có nhiều thuận lợi cho ta, song địch cũng có thể cơ động lực lượng đến phản kích khi bị ta tiến công.
Ngày 1 tháng 1 năm 1949, tôi dẫn Tiểu đoàn 319 từ căn cứ Đình Môn hành quân xuống khu vực Khe Chanh - Hội Mít qua phá Tam Giang bằng thuyền, làm công tác chuẩn bị chiến đấu. Lực lượng tham gia gồm 1 tiểu đoàn tăng cường, vũ khí 2 đại liên, 2 súng cối 81mm. Tôi cho chôn 2 quả bom loại 50kg do máy bay quân Pháp ném không nổ, quân giới của ta đem về cải tiến thành bom giật, trên đường xe lửa và ngụy trang cẩn thận, sử dụng 2 đại đội bộ binh và Đại đội hỏa lực 124 vào nhiệm vụ đánh chiếm tàu. Một đại đội chia thành hai cánh làm nhiệm vụ chặn viện ở Lăng Cô, Phú Gia tới. Đại đội độc lập 117 và du kích nam Thừa Thiên làm nhiệm vụ tổ chức nghi binh lừa địch.
13 giờ 45 phút ngày 12 tháng 1 năm 1949, như thường lệ, chiếc xe tuần đường chở một tiểu đội lính chạy qua, không phát hiện được gì, ít phút sau đoàn tàu quân sự kéo đến. Đợi cho đoàn tàu lọt vào nơi đã định, tôi ra lệnh cho chiến sĩ công binh Trần Tư giật bom phá đường. Sau 2 tiếng nổ dậy đất, khói bụi mịt mù, đoàn tàu địch trật bánh. Chớp thời cơ địch đang hoang mang tôi động viên cán bộ chiến sĩ trung đoàn lập tức nhảy lên đánh chiếm tàu.
Sau hơn 1 giờ chiến đấu, cán bộ chiến sĩ Trung đoàn 101 đã tiêu diệt và bắt sống toàn bộ đại đội bảo vệ tàu gồm 300 tên, thu 10 trung liên, 30 tiểu liên, 180 súng trường và hàng vạn viên đạn. Lực lượng đánh chiếm tàu lập tức chuyển sang thu dọn chiến lợi phẩm, vận chuyển vũ khí đạn dược lên rừng cất giấu.
14 giờ 30 phút địch ở đồn Thừa Lưu và đồn Lăng Cô cho quân ra phản kích chiếm lại, nhưng đều bị bộ phận chặn viện đẩy lui.
Đến 17 giờ, đơn vị đã chuyển lên rừng hàng tấn vũ khí, nhưng tôi kiểm tra trên tàu vẫn còn 4 toa đầy ắp vũ khí và một khẩu pháo 75kg còn mới vẫn chưa mang đi được. Nhìn số vũ khí còn chất đầy trên tàu, tiếc lắm nhưng trời tối, rừng núi hiểm trở không tài nào mang nổi, tôi đành ra lệnh phá hủy khẩu pháo và nổi lửa đốt đoàn tàu, không cho địch cướp lại. Ta đã phá hủy hàng ngàn súng, trên 80 tấn đạn các loại, toàn bộ đầu máy và 17 toa xe trong đó có 4 toa chở đầy vũ khí.
Bị mất đoàn tàu quân sự chứa đầy vũ khí ngay trong tầm kiểm soát của địch, bọn chỉ huy quân Pháp ở Bình - Trị - Thiên rất bàng hoàng. Chúng hiếu rằng một khối lương lớn vũ khí, đạn dược lọt vào tay quân ta là một thảm họa không thể lường trước.
Sau đó địch cấm dân 7 ngày không được lên núi và mở cuộc càn tìm diệt chủ lực ta, mong cướp lại số vũ khí bị mất. Nhưng cuộc truy lùng của địch đã bị các chiến sĩ Đại đội độc lập 117 và du kích nam Thừa Thiên lừa cho lạc hướng. Trung đoàn 101 chúng tôi vận chuyển chiến lợi phẩm về căn cứ Đình Môn an toàn.
Chiến thắng Hội Mít - trận phục kích tiêu diệt gọn cả một đoàn tàu địch của Trung đoàn 101, có sức cổ vũ mạnh mẽ quân dân toàn Liên khu. Đối với địch, đây là tổn thất lớn nhất về lực lượng, vũ khí và phương tiện chiến tranh trong một trận đánh trên chiến trường Bình - Trị - Thiên từ trước đến thời điểm đó.
Để ghi nhận chiến công của Trung đoàn 101 trong trận Hội Mít, Bộ Tổng tư lệnh quyết định tặng thưởng cho Trung đoàn Huân chương Chiến công hạng ba.
Sau thất bại Hội Mít, tên phó tư lệnh Trung phần Việt Nam Đờ La-rốc cấp tốc chỉ thị cho binh sĩ phải tiết kiệm đạn dược và vũ khí. Thời kỳ này mật độ sử dụng hỏa lực của địch ở Bình - Trị - Thiên giảm đi rõ rệt.
Cay cú trước thất bại trong những ngày đầu năm từ 17 tháng 1 đến 24 tháng 2 năm 1949, địch đã huy động quân có máy bay yểm trợ mở cuộc càn lớn vào vùng đồng bằng các huyện Phong Điền, Quảng Điền, Phú Vang. Sau đợt tổng lùng sục ở đồng bằng, địch tập trung lực lượng càn quét lên chiến khu.
Từ ngày 25 tháng 2 đến ngày 14 tháng 3 năm 1949, địch huy động 2.000 quân, có không quân yểm trợ mở cuộc tiến công vào chiến khu Thừa Thiên, nhằm tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến của ta. Chúng chia làm ba cánh quân, cánh quân thứ nhất từ Động Truồi lên Khe Sụ, Ly Hy theo đường 14 Khe Tro. Cánh quân thứ hai, từ Tuần theo sông Hữu Trạch tiến vào Bình Điền. Cánh quân thứ ba, từ Gia Lễ tiến lên Dương Hòa, Lương Miêu án ngữ phía trước chiến khu.
Thấy trước âm mưu của địch, ta kịp thời chỉ đạo cho cơ quan và nhân dân sơ tán, hạn chế tổn thất do địch gây ra. Nhằm phá cuộc càn của địch, chúng tôi chỉ thị cho các đại đội độc lập phối hợp chặt chẽ cùng quân và dân trong tỉnh đánh địch đều khắp. Ngày 11 tháng 3 năm 1949, chúng tôi dùng Tiểu đoàn 319 bí mật luồn về sau lưng địch đánh trận vận động chiến ở Đôn Trì diệt và làm bị thương nhiều tên, thu 41 súng các loại.
Sau 20 ngày chiến đấu, Trung đoàn 101 phối hợp với dân quân, du kích tỉnh Thừa Thiên loại khỏi vòng chiến đấu 350 tôn địch (có một quan tư, một quan ba, một quan hai Pháp), cuộc tiến công của địch lên chiến khu thất bại, chúng không, thực hiện được mục tiêu đề ra.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
thongdiepthoigian
Thành viên

Bài viết: 618
|
 |
« Trả lời #16 vào lúc: 26 Tháng Chín, 2026, 09:07:24 pm » |
|
Tháng 10 năm 1949, Bộ Tổng tư lệnh ra quyết định thành lập Mặt trận Bình - Trị - Thiên, Trung Lào do anh Hà Văn Lâu làm Tư lệnh, anh Trần Quý Hai làm Chính ủy, tôi (Trần Sâm) giữ chức Phó tư lệnh. Ba cơ quan của phân khu được chuyển thành ba cơ quan Mặt trận do các anh Lê Tùng, Phạm Như Quỳnh, Trần Chí Cường phụ trách. Ba trung đoàn 95, 101, 18 chủ lực của phân khu được chuyển thành lực lượng của Mặt trận. Mặt trận Bình - Trị - Thiên có nhiệm vụ đẩy mạnh tác chiến tập trung ở hướng chiến lược đường số 9 - miền Trung Đông Dương, dùng chủ lực tác chiến để phối hợp với chiến trường Bắc Bộ và khi có điều kiện sẽ tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, tiến tới giải quyết chiến trường Bình - Trị - Thiên đồng thời với chiến trường Bắc Bộ.
Mặt trận Bình - Trị - Thiên, Trung Lào được thành lập là một mốc quan trọng đánh dấu sự phát triển mới của phong trào kháng chiến Bình - Trị - Thiên và sự phát triển lực lượng trên chiến trường. Nó phản ánh sâu sắc mối quan hệ mật thiết giữa địa bàn chiến lược Bình - Trị - Thiên với chiến trường chính Bắc Bộ.
Tháng 11 năm 1949, Bộ Tổng tư lệnh mở chiến dịch Lê Lợi nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, phá thế kìm kẹp của địch ở các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, khai thông liên lạc giữa Việt Bắc với Liên khu 10, Liên khu 3 và Liên khu 4.
Phối hợp với chiến dịch Lê Lợi, Liên khu 4 mở chiến dịch Đồng - Xuân 1949 - 1950 tại ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên, nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực quan trọng của địch, xây dựng và mở rộng căn cứ đồng bằng. Đây là một kế hoạch hoạt động phối hợp lớn giữa các lực lượng vũ trang và nhân dân ba tỉnh Bình - Trị - Thiên. Chiến dịch Bình - Trị - Thiên mang tên "Chiến dịch Lê Lai", hướng chiến dịch chủ yếu mở ra ở nam tỉnh Quảng Bình. Lực lượng tham gia gồm các trung đoàn: 18, 95, 101 và một số tiểu đoàn của các địa phương. Ngay từ những ngày đầu chiến dịch, Bộ Tư lệnh Phân khu chúng tôi đã ra vùng đồng bằng Quảng Ninh, Lệ Thủy (nam Quảng Bình) để trực tiếp chỉ đạo hai trung đoàn 95 và 18 tác chiến ở đây.
Ngày 22 tháng 12 năm 1949, chiến dịch Lê Lai bắt đầu.
Mở màn chiến dịch, Tiểu đoàn 436 (Trung đoàn 18) được tăng cường một đại đội phóng bom tiến công đồn Vạn Xuân, nhưng thật tiếc không diệt được đồn này. Bộ chỉ huy chiến dịch lệnh cho Trung đoàn 18 chuyển sang bao vây đánh quân tiếp viện. Đúng như dự kiến của ta, ngày 23 tháng 12 địch tám lần điều quân đến đánh giải vây, bị quân ta đánh chìm ba thuyền, diệt hàng chục tên địch.
Phối hợp với Trung đoàn 18, ngày 25 tháng 12, Trung đoàn 95 sử dụng Tiểu đoàn 227 chặn đánh một cánh quân từ Đồng Hới vào tiếp viện cho đồn Vạn Xuân. Ta đã diệt và làm bị thương hơn 30 tên, bắt 51 tên (trong đó có tên thiếu tá Pháp chỉ huy phân khu Quảng Bình và 22 lính Âu - Phi), thu 62 súng các loại, 2 máy vỏ tuyến điện, phá hỏng 7 xe.
Ngày 30 tháng 12, địch rút khỏi Vạn Xuân. Từ đây, phía tây khu vực sông Kiên Giang (huyện Lệ Thủy) được giải phóng, vùng tự do của ta được mở rộng.
Trung đoàn 18 tràn qua dốc U Bò, vận động xuống Lệ Kỳ đánh địch. Trung đoàn 101 vừa tới Quảng Điền, Hương Trà đã tổ chức trận phục kích diệt gọn 2 trung đội địch ở Bôn Trì, Bôn Phổ và tập kích đồn Thủy Cầu. Tại bắc Quảng Bình, Trung đoàn 57 vừa bổ sung cho chiến dịch đã tổ chức tập kích quân, địch ở Đơn Sa, phục kích địch ở Ba Đồn và Thanh Lê, diệt 100 tên.
Chúng tôi chỉ đạo lực lượng vũ trang địa phương phối hợp với bộ đội chủ lực ở hướng chính. Bộ đội địa phương, dân quân du kích tổ chức đánh mìn các đoàn tàu địch ở Đá Bạc (Phá Lộc), Hải Đạo (Hải Lăng), gài bom phá kho của địch ở nhà ga Huế, liên tục đánh giao thông trên đường số 1 và đường số 9. Ngoài ra ta còn dùng địch vận hạ đồn Lao An, Mỹ Chánh, Phù Ốc...
Bước sang đợt hai chiến dịch Lê Lai, trung tuần tháng 1 năm 1950, Trung đoàn 95 cơ động vào nam Thừa Thiên cùng Trung đoàn 101 mở đợt hoạt động mới ở đây.
Sáng ngày 27 tháng 1 năm 1950, Trung đoàn 95 và Trung đoàn 101 hành quân vào đến Hương Trà thì địch đã mở cuộc càn lớn vào Phò Trạch, Lương Mai, Phong Chương, Phong Cai... ở Hải Lăng và Phong Điền ở Thừa Thiên. Trước tình hình trên, Bộ Tư lệnh Mặt trận chúng tôi trao đổi và quyết định hai Trung đoàn 95 và 101 quay trở lại Hải Lăng và Phong Điền chặn đánh quân địch. Tôi còn nhớ anh Lê Tự Đồng, Trung đoàn trưởng kiêm Chính ủy Trung đoàn 101 và anh Lê Bá Vận, Trung đoàn phó Trung đoàn 95 đã động viên bộ đội vừa đi vừa chạy gần 15km dọc theo bãi cát ven biển trở về nơi địch đang càn.
Vừa tới nơi, cán bộ chiến sĩ ta triển khai chiến đấu ngay. Suốt 9 giờ đồng hồ chiến đấu quyết liệt, đến tối ngày 27 tháng 1, không chịu được đòn tiến công của quân ta, quân Pháp lợi dụng đêm tối chạy về Huế. Sau một ngày chiến đấu, Trung đoàn 101 và Trung đoàn 95 đã diệt và bắt sống 400 tên, thu hơn 50 súng các loại. Trận đánh này kết thúc chiến dịch Lê Lai.
Phò Trạch và Lương Mai là trận vận động chiến lớn, chủ lực ta đã đọ sức quyết liệt với đội quân ứng chiến Âu - Phi của địch, là trận năng lực tổ chức chỉ huy của cán bộ và trình độ kỹ, chiến thuật của bộ đội ta được nâng lên một trình độ mới cao hơn, trận đánh đã khẳng định trình độ tác chiến vận động ở địa bàn đồng bằng của bộ đội chủ lực Bình - Trị - Thiên có bước trưởng thành rõ rệt.
Tháng 3 năm 1950, Ban Chấp hành Trung ương Đảng nhận xét: Trận Phò Trạch - Lương Mai có thể coi là một trận vận động chiến kiểu mẫu trong toàn quốc suốt quá trình phát triển vận động chiến của quân ta ở đồng bằng.
Ba năm (1948 - 1950), quân dân Bình - Trị - Thiên đã vượt qua muôn vàn khó khăn gian khổ, kiên trì và khẩn trương phát triển lực lượng ba thứ quân, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân vững chắc trên các địa bàn, làm thay đổi so sánh lực lượng trên chiến trường, góp phần đánh bại âm mưu "dùng người Việt đánh người Việt", "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh" của thực dân Pháp.
Ba năm, hơn 1.000 ngày, một phần ba cuộc kháng chiến chống Pháp của quân và dân cả nước nói chung, của quân dân Bình - Trị - Thiên nói riêng. Vượt qua thử thách gay go, quyết liệt của những năm đầu kháng chiến, trên mảnh đất hẹp của Bình - Trị - Thiên khói lửa. Lực lượng của ta đã có bước phát triển rất quan trọng, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giải phóng dân tộc và cả nhiệm vụ quốc tế.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
thongdiepthoigian
Thành viên

Bài viết: 618
|
 |
« Trả lời #17 vào lúc: 26 Tháng Chín, 2026, 09:10:19 pm » |
|
Chương ba ĐI CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ Ngày 9 tháng 2 năm 1950, tôi được Bộ Tổng tư lệnh bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh kiêm Chính ủy Khu 4. Bộ Tư lệnh Khu 4 thời gian này đóng ở Nghệ An. Thấy hoàn cảnh gia đình tôi khó khăn, bố già, vợ yếu, con gái mới được hai tuổi, các anh lãnh đạo Khu gợi ý tôi nên chuyển gia đình từ chiến khu Ba Lòng ra Nghệ An để có điều kiện tranh thủ lo việc nhà. Gia đình tôi có ba người nhưng chuyển ra cũng phải chia làm hai đợt. Đợt một, các anh đưa vợ tôi và con gái tôi (vợ tôi lại đang có mang sắp đến ngày sinh). Mấy tháng sau, các anh mới bố trí đưa bố tôi ra Nghệ An. Đến Nghệ An, gia đình tôi ở nhờ nhà anh Lê Nam Thắng, ở xã Đồng Xuân, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. (Bố tôi mất ở nhà anh Nam Thắng năm 1953 - lúc tôi đã ra Việt Bắc. Tháng 4 năm 1991, tôi và con trai, con rể đã chuyển hài cốt cụ về quê). Anh Thắng tên thật là Nguyễn Đình Khiếng, hậu duệ của danh tướng Nguyễn Xí thời hậu Lê. Anh hoạt động cách mạng từ rất sớm, là bạn tù với tôi trong nhà đày Buôn Ma Thuột. Sau này chúng tôi cùng chiến đấu trên mảnh đất Quảng Trị - Thừa Thiên. Khi tôi từ Trung đoàn 95 sang Trung đoàn 101, anh Lê Nam Thắng thay tôi làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 95. Gia đình anh Thắng đã thu xếp nơi ăn chốn ở cho gia đình tôi rất chu đáo. Đang ở trong vùng ngày đêm bom đạn khói lửa, nay được ra sống ở hậu phương tương đối thanh bình, cả nhà tôi rất phấn khởi. Nhân chuyện chuyển nơi ở từ Quảng Trị ra Nghệ An, tôi muốn dành ít dòng để nói về gia đình của mình. Tôi xây dựng gia đình sau Cách mạng tháng Tám. Vợ tôi là Lê Thị Lý, con ông Lê Văn Việt và bà Trần Thị Chút, ông Lê Văn Việt là bạn thân với bố tôi, cùng làm nghề thợ nề vào loại giỏi trong vùng. Cô Lý là thanh niên hăng hái tham gia cướp chính quyền ở huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Vợ chồng tôi sinh được năm người con. Con gái đầu là Trần Thanh Liễu, tốt nghiệp Đại học Quân y khoá 1. Chồng Liễu là Nguyễn Mạnh Đẩu, hiện nay là Trung tướng - Chính ủy Tổng cục Kỹ thuật. Vợ chồng Liễu được hai cháu. Cháu trai Nguyễn Trần Quang, tốt nghiệp Học viện Kỹ thuật Quân sự. Cháu gái Nguyễn Trần Thùy Vinh, tốt nghiệp Học viện Báo chí Tuyên truyền. Các cháu đều đã có gia đình. Con thứ hai là Trần Hùng, tốt nghiệp Học viện Kỹ thuật Quân sự, sau này là đại tá, Giám đốc Trung tâm 2 Cục Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng - Tổng cục Kỹ thuật. Trần Hùng có hai đời vợ: Mai Huấn, Lê Thị Bích Thoa. Hùng được một con gái là Trần Mai Anh, tốt nghiệp Đại học Bách khoa Hà Nội. Con gái thứ ba là Trần Thanh Lan, tốt nghiệp Đại học Hóa tinh vi - Lômônôxốp (Liên Xô cũ), đại tá quân đội. Chồng Lan là Hà Lương Nhã. Vợ chồng Nhã - Lan được hai cháu trai là Hà Tuấn Linh và Hà Tuấn Anh. Hai cháu còn đang đi học. Con gái thứ tư là Trần Thanh Hòa, tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Hum-bon, Cộng hòa dân chủ Đức (cũ). Chồng Hòa là Diệp Thế Vận. Vợ chồng Vận - Hoà được hai cháu gái là Diệp Thanh Hằng và Diệp Thanh Huyền, hiện đang đi học. Con gái thứ năm là Trần Thanh Hà, tốt nghiệp Đại học Bách khoa Hà Nội. Các con trai gái, dâu rể của tôi đều được học hành đến nơi, đến chốn và thành đạt. Các cháu nội, ngoại của tôi đều chăm ngoan, học giỏi, biết nghe lời ông bà, cha mẹ và là niềm vui của chúng tôi lúc về già. Trở lại những ngày kháng chiến chống Pháp. Đầu tháng 2 năm 1950, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp và ra nghị quyết: Chuyển mạnh sang tổng tấn công. Nghị quyết nêu rõ: Tổng động viên nhân lực, vật lực, tài lực và tinh thần của toàn dân thực hiện khẩu hiệu: "Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng". Chấp hành Nghị quyết của Đảng, Đảng ủy Khu 4 chúng tôi họp ra nghị quyết: "Bảo vệ Thanh - Nghệ - Tĩnh là nhiệm vụ tối quan trọng cho chiến trường toàn quốc, là nhiệm vụ trung tâm lãnh đạo để sửa soạn chuyển sang tổng phản công có hiệu quả. Phải xây dựng Thanh - Nghệ - Tĩnh thành một hậu phương vững chắc, một kho dự trữ nhân tài, vật lực, sẵn sàng tiếp tế kịp thời cho các chiến trường". Trong sổ công tác của tôi đã ghi nhân dân ba tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh tích cực hưởng ứng chủ trương của Khu ủy. Tính đến cuối tháng 10 năm 1950, ba tỉnh có gần 200.000 người ghi tên tòng quân. Nghệ An và Hà Tĩnh có 120.000 người. Riêng xã Hồng Yên huyện Cam Lộc có 1.112 người. Bộ Tư lệnh Khu 4 đã động viên bốn khóa tân binh, huấn luyện cho 36.120 người, bổ sung 5.000 người cho Đại đoàn 304, gần 500 người cho chiến khu Việt Bắc. Trong năm 1950, Khu 4 còn huy động năm đợt dân công với hơn 470.000 lượt người phục vụ tiền tuyến, vận tải, tiếp tế, rào làng chiến đấu, sửa chữa đường sá, xây dựng kho tàng. Ngoài ra, trong năm 1950 Khu 4 còn cung cấp 8.500 tấn thóc, đóng góp quỹ khao quân 11.000 tấn thóc, nuôi 36.000 tân binh, 3.000 thương binh của chiến trường Bình - Trị - Thiên trong 8 tháng. Tiếp nhận 300.000 dân ba tỉnh Hà - Nam - Ninh sơ tán và một số cán bộ và nhân dân nước bạn Lào. Nhân dân ba tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh có bước phát triển toàn diện trong xây dựng, củng cố hậu phương cả về quân sự, chính trị, kinh tế, xã hội, góp phần rất quan trọng ngăn chặn, đẩy lùi âm mưu của quân Pháp tiến công lấn chiếm vùng tự do của Khu 4. Đầu tháng 3 năm 1951, quân Pháp huy động 2.200 quân có pháo binh, cơ giới và máy bay chi viện, chia làm hai cánh mở cuộc càn lớn. Cánh thứ nhất, chúng sử dụng hơn 1.000 quân đánh vào Vĩnh An - Ưu Điềm. Cánh thứ hai, chúng sử dụng gần 1.200 quân đánh vào Thanh Hương - Mỹ Xuyên. Đây là lần đầu tiên trên chiến trường Bình - Trị - Thiên địch tổ chức cuộc càn lớn, lực lượng mạnh và chuẩn bị chu đáo. Các trung đoàn 95 và 101 được lệnh nhanh chóng hành quân trong đêm chiếm lĩnh trận địa. 5 giờ sáng ngày 12 tháng 3 năm 1951, ta bắt đầu nổ súng khép chặt vòng vây, vừa dùng hỏa lực khống chế vừa dùng loa kêu gọi địch đầu hàng. Quân địch hoang mang tháo chạy về phía thị xã Quảng Trị. Đạn cối của ta bắn dữ dội và bộ đội xung phong áp sát. Bộ đội và dân quân du kích hai huyện Triệu Phong và Hải Lăng chặn đánh hất toàn bộ quân địch xuống đầm lầy Thanh Hương. Trận giáp chiến giữa ta và địch diễn ra ác liệt trên cánh đồng Thanh Hương. Đến 9 giờ ngày 12 tháng 3, trận chống càn Thanh - Mỹ Xuyên kết thúc thắng lợi. Ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 1.200 tên, 52 tên bị bắt, thu hơn 100 súng các loại.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
thongdiepthoigian
Thành viên

Bài viết: 618
|
 |
« Trả lời #18 vào lúc: 26 Tháng Chín, 2026, 09:12:29 pm » |
|
Trận chống càn Thanh Hương - Ưu Điềm là trận vận động chiến lớn nhất từ trước đến lúc bấy giờ ở Bình - Trị - Thiên, với quy mô toàn bộ lực lượng chủ lực có mặt trên chiến trường. Chiến thắng Thanh Hương - Ưu Điềm đánh dấu bước trưởng thành của chủ lực ta trong việc vận dụng linh hoạt các hình thức chiến thuật, nhất là chiến thuật vận động chiến trong chống càn.
Nhờ sự chi viện kịp thời của hậu phương Thanh - Nghệ - Tĩnh, lực lượng vũ trang kháng chiến ở Bình - Trị - Thiên còn tiếp tục chủ động đánh mạnh vào hệ thống đồn bốt của địch, Ủy ban kháng chiến hành chính các tỉnh và huyện đã chỉ đạo lực lượng du kích, dân quân xã thôn bám địa bàn, đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích vùng địch tạm chiếm phá hoại kho tàng, nhà máy, cầu cống gây cho chung nhiều thiệt hại nặng về kinh tế và quân sự. Dọc theo tuyến quốc lộ 1 từ Quảng Bình vào Huế, nhiều đoàn xe vận chuyển tiếp tế của địch thường xuyên bị chặn đánh.
Giữa năm 1951, thực hiện chủ trương của Chính phủ về tinh giảm trong các cơ quan Khu và các tỉnh ủy, bố trí hợp lý hơn đội ngũ cán bộ lãnh đạo các cấp để đáp ứng yêu cầu phát triển toàn diện của kháng chiến, đến tháng 9 năm 1951, toàn bộ các cơ quan Khu 4 chúng tôi đã giảm 5.731 người. Song do thiếu điều tra, nghiên cứu đầy đủ nên các cơ quan của Khu tuy gọn nhẹ hơn trước nhưng hiệu quả công việc chưa cao.
Ba tỉnh Thanh - Nghệ - Tình vừa tích cực xây dựng hậu phương vừa đẩy mạnh xây dựng lực lượng vũ trang cả về số lượng và chất lượng, trang bị vũ khí. Hình thức tổ chức lực lượng vũ trang của các tỉnh có đủ "ba quân, sáu cấp". Công tác vận động tuyển quân đã thu hút hàng vạn thanh niên gia nhập lực lượng vũ trang chiến đấu.
Để chống thủ đoạn đánh phá mới của quân Pháp và tích cực chủ động tiến công tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, chúng tôi đã chỉ đạo quân dân Bình - Trị - Thiên thực hiện phương châm tác chiến là đánh nhỏ ăn chắc, nhằm vào nơi sơ hở nhất của địch, đánh quân ứng chiến là chính. Khi đánh xong là phân tán về từng tỉnh cùng bộ đội địa phương hoạt động, tích cực đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích.
Qua chiến đấu với địch trong chống càn, phá cầu, bảo vệ căn cứ du kích, nhiều địa phương đã chú trọng tới việc tổng kết phong trào chiến tranh du kích, tự rút ra những kinh nghiệm về tác chiến để nâng cao hiệu quả đánh địch, bảo vệ mùa màng, phổ biến kinh nghiệm xây dựng làng chiến đấu, tổ chức công tác dân công tiếp vận, tăng cường công tác phòng không, bảo vệ, tránh địch đánh phá.
Bị thất bại ở Mặt trận Hòa Bình, quân Pháp càng hoang mang, dao động. Bộ chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương chủ trương tập trung lực lượng cơ động chiến lược để đối phó với phong trào chiến tranh du kích của ta. Ngoài ra, thực dân Pháp còn ra sức củng cố chiếm giữ vùng rừng núi Tây Bắc còn lại để mở rộng chiến tranh ở Lào, Cam-pu-chia, phát triển đội quân người Việt nhằm ổn định tình hình trên các chiến trường Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ.
Đế quốc Mỹ cũng tăng cường viện trợ khẩn cấp cho quân Pháp và chính quyền tay sai ở Đông Dương để chống lại phong trào kháng chiến của nhân dân ba nước Việt Nam - Lào - Cam-pu-chia. Mặc dù trong thế bị động và buộc phải đối phó ở khắp nơi, song được Mỹ làm hậu thuẫn, thực dân Pháp vẫn ngoan cố chưa chịu từ bỏ ý đồ xâm lược. Trên chiến trường Bình - Trị - Thiên, quân Pháp thay đổi thế bố trí lực lượng và phương thức hoạt động: nhằm quay về củng cố vùng chiếm đóng, đồng thời tăng cường càn quct, lấn chiếm vùng giáp ranh, vùng căn cứ du kích. Chúng tập trung lực lượng phá hoại tiềm lực của phong trào kháng chiến để giành lại các vùng đông dân, nhiều của thuộc các huyện đồng bằng của Thừa Thiên - Quảng Trị - Quảng Bình.
Quân Pháp đã tăng cường đánh phá hậu phương Thanh - Nghệ - Tĩnh, nhất là phá hoại đê điều, kho tàng và các cơ sở kinh tế quốc phòng để làm cho tiềm lực kinh tế kháng chiến của ta bị suy yếu.
Đầu năm 1952, máy bay Pháp nhiều lần ném bom, bắn phá làm sập các công trình thủy lợi lớn ở ba tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh như đập Bái Thượng, đập Đô Lương, đập Nam Đàn, cống Trung Lương...
Để chống lại hành động bình định và đánh phá của địch, Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị chỉ rõ: "Hiện nay, giặc Pháp đang tìm mọi cách điều động quân thực hiện kế hoạch càn quét vùng du kích và vùng căn cứ du kích của ta. Cho nên không được chủ quan khinh địch, lúc này hơn bao giờ hết, chúng ta càng phải ra sức thi hành Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ hai để kịp thời củng cố các vùng du kích, căn cứ du kích và tích cực chống giặc càn quét".
Từ tình hình thực tế chiến trường và nhiệm vụ của phong trào kháng chiến Khu 4, Khu ủy chúng tôi nhận định: Quân Pháp còn chiếm Hòa Bình thì còn là mối đe dọa lớn đối với ba tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh. Do đó, bộ đội phải bám sát địch, tiêu diệt chúng để bảo vệ hậu phương.
Lúc đó, địch cũng thay đổi phương thức đánh phá trên chiến trường Bình - Trị - Thiên. Chúng rút bớt các vị trí đóng quân nhỏ lẻ dễ bị cô lập ở vòng ngoài để tập trung xây dựng các vị trí kiên cố có thể chốt giữ lâu dài. Mặt khác, chúng điều các đơn vị quân ứng chiến cơ động phối hợp với lực lượng ngụy binh mở các cuộc càn quét liên tiếp, dài ngày vào các vùng căn cứ du kích nhằm tiêu diệt bộ đội chủ lực của ta.
Trong các cuộc hành quân càn quét, quân Pháp đã thi hành chính sách tàn bạo như phá sạch, đốt sạch, cướp sạch để khủng bố tinh thần nhân dân. Cuộc đấu tranh ở mặt trận Bình - Trị - Thiên diễn ra giằng co, quyết liệt.
Mùa hè năm 1952, Khu ủy chúng tôi chỉ đạo xây dựng phương án tác chiến nhằm tiếp tục tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, phát huy phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng, giải phóng huyện Quảng Trạch (Quảng Bình), mở rộng vùng giải phóng xuống phía Nam...
Nhờ những biện pháp chủ động và tích cực trong đấu tranh chống địch, quân và dân Thanh - Nghệ - Tĩnh đã đánh tan các cuộc đổ bộ của địch vào Tĩnh Gia, Sầm Sơn, Nga Sơn (Thanh Hóa), Kỳ Anh, Cẩm Xuyên (Hà Tĩnh), Quỳnh Lưu, Nghi Xuân (Nghệ An). Thắng lợi của quân và dân Khu 4 đã làm thất bại ý đồ chiến lược của địch là làm suy yếu hậu phương Thanh - Nghệ - Tĩnh của ta. Hậu phương Thanh - Nghệ - Tĩnh tiếp tục được bảo vệ vững chắc và ngày càng phát huy sức mạnh, cung cấp sức người, sức của phục vụ mặt trận Bình - Trị - Thiên và các mặt trận khác trong cả nước.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
thongdiepthoigian
Thành viên

Bài viết: 618
|
 |
« Trả lời #19 vào lúc: 26 Tháng Chín, 2026, 09:14:44 pm » |
|
Tháng 9 năm 1952, Khu ủy đã triệu tập hội nghị nhằm triển khai nhiệm vụ phối hợp với chiến dịch Tây Bắc, đồng thời có biện pháp đẩy mạnh hoạt động quân sự trên chiến trường Bình - Trị - Thiên cho phù hợp với tình hình mới.
Để bảo đảm hậu cần cho chiến dịch Tây Bắc, ngoài khả năng huy động tại chỗ của chiến trường, theo sự phân công của Bộ Chỉ huy chiến dịch, Khu 4, mà cụ thể là ba tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh có kế hoạch cụ thể huy động nhân lực, vật lực cho chiến dịch, đồng thời tổ chức chi viện cho mặt trận Bình - Trị - Thiên, Thượng Lào. Chỉ trong một thời gian ngắn, ba tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh đã huy động sức người sức của và tổ chức nhiều đoàn dân công tiếp tế theo đúng yêu cầu được giao.
Tôi còn nhớ, trong chiến dịch Tây Bắc, tỉnh Nghệ An và Thanh Hóa đã huy động tới 180.000 lượt dân công với trên 3 triệu ngày công. Dân công Khu 4 đã phá đá, mở đường và vận chuyển trên 20.000 tấn lương thực, thực phẩm lên Tây Bắc. Hai tỉnh Thanh Hóa và Nghệ An đã huy động gần 9.500 tấn gạo, 164 tấn muối, 195 tấn thịt và nhiều thực phẩm các loại. Trong điều kiện đường sá xa xôi, địa hình hiểm trở và khí hậu khắc nghiệt, hàng vạn dân công đã cùng bộ đội bí mật mở đường, gùi thồ, gồng gánh vận chuyển hàng hóa, lương thực cùng vũ khí ra mặt trận.
Sau chiến thắng Tây Bắc và Thượng Lào, hầu hết các đơn vị chủ lực của ta hành quân về vùng tự do ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ tiến hành chỉnh huấn, củng cố tổ chức biên chế, trang bị, học tập chính sách giảm tô, đồng thời tranh thủ thời gian huấn luyện quân sự nhằm đáp ứng nhiệm vụ tác chiến trong tình hình mới.
Tháng 12 năm 1952, tôi được Tổng Quân ủy điều về làm Cục trưởng Cục Quân lực - Bộ Tổng tham mưu đóng ở xã Điềm Mạc, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên. Trước đó Cục Quân lực do anh Phan Phúc Tường làm Cục trưởng, tôi về thì anh Tường làm Cục phó. Trong năm 1953, nhiều cán bộ được điều từ các đơn vị về Cục Quân lực công tác, đồng thời một số cán bộ nhân viên của Cục chuyển sang công tác khác.
Hè - Thu năm 1953, thực hiện Nghị quyết của Tổng Quân ủy, Bộ Tổng tham mưu tiến hành chỉnh huấn chính trị, chấn chỉnh tổ chức biên chế, huấn luyện quân sự, chuyên môn chuẩn bị cho kế hoạch 1953 - 1954. Thực hiện chủ trương trên, qua nghiên cứu tình hình thực tế của Cục Quân lực, tôi đề xuất và được Tổng tham mưu trưởng nhất trí biên chế Cục Quân lực có ba phòng, hai ban, một trạm thu dung và Tổng đội chiêu sinh.
Phòng Thực lực do anh Văn Giang, Chính ủy Trung đoàn 48 Đại đoàn 320 được điều về làm Trưởng phòng. Phòng Cán bộ đo anh Hồng Long, Phó chính ủy Đại đoàn 308 cũng vừa được điều về làm Trưởng phòng. Phòng Quy chế do anh Nguyễn Hữu Hiển làm Trưởng phòng. Ban Hành chính do anh Đỗ Thái Lai làm Trưởng ban. Ban Chính trị do anh Hữu Chỉnh làm Trưởng ban. Trạm Thu dung do anh Lê Thế Tục làm Trạm trưởng và Tổng đội chiêu sinh do anh Đỗ Thi làm Tổng đội trưởng.
Thời gian này, Cục Quân lực vẫn đóng quân ở xã Điềm Mạc. Riêng trạm thu dung đặt ở Bản Chúc, xã Bộc Nhiêu, huyện Định Hóa. Tổng đội chiêu sinh đứng chân ở Vĩnh Tuy, Hà Giang. Các trạm của Tổng đội rải từ Vĩnh Tuy lên tới Thanh Thủy, Hà Giang giáp biên giới Trung Quốc. Nhiệm vụ của Tổng đội chiêu sinh chủ yếu là tiếp nhận số cán bộ, chiến sĩ được chiêu sinh đi học sĩ quan lục quân và các trường quân sự khác, đưa anh em qua cầu Thanh Thủy sang Vân Nam, Trung Quốc và tổ chức đón học viên đã tốt nghiệp về phân phối cho các đơn vị theo kế hoạch của Cục.
Đi đôi với chỉnh huấn chính trị, Cục Quân lực đặc biệt chú trọng công tác xây dựng cơ quan về mọi mặt, đặc biệt là sơ kết hoạt động thực tiễn để từng bước đổi mới tác phong công tác, chuyên môn nghiệp vụ.
Trong quá trình tham mưu giúp Tổng tham mưu trưởng và Bộ Tổng tư lệnh xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam về biên chế tổ chức, tiến hành các chiến dịch lớn, tôi và anh em trong Cục Quân lực đã tập trung cải tiến những khâu chủ yếu nhất là xác định tổ chức biên chế của đơn vị. Căn cứ vào tổ chức biên chế đã quy định, đối chiếu với thực tế để thấy hiện trạng, nhu cầu lực lượng (quân số, vũ khí, trang bị), thấy được chỗ cần giải quyết và tính toán khả năng cũng như dự kiến, để đạt kế hoạch giải quyết cho phù hợp.
Về nắm tình hình, chúng tôi xác định đi sâu vào hai chế độ: Báo cáo và kiểm tra, đây là khâu yếu nhất trong việc nắm tình hình bộ đội lúc đó và cũng là khâu then chốt nhất của công tác tham mưu trong việc nắm tình hình. Để giải quyết việc đó, phải đi sâu phân loại tình hình, phân công nhiệm vụ từng phòng, nghiên cứu, kiểm tra, xác minh, đề xuất giải quyết, đồng thời bổ sung vào đề án kế hoạch để báo cáo Tổng tham mưu trưởng và Bộ Tổng tư lệnh.
Về chế độ báo cáo, báo cáo bằng vô tuyến điện, bằng điện thoại phải ngắn, rõ, đủ nội dung cần. Trong báo cáo bằng giấy, chúng tôi cũng quy định lúc thường và khi có việc bất trắc, khi chiến đấu. Lúc bình thường quy định từng tháng, từng quý, cả năm dưới báo cáo lên trên. Khi có sự việc bất trắc xảy ra phải báo cáo ngay. Khi chiến đấu căn cứ vào tình hình thực tế của từng chiến dịch để quy định cụ thể báo cáo vào trước, trong và sau chiến dịch.
Một vấn đề không kém phần quan trọng đó là lập sổ cái danh sách quân nhân, sổ này do Cục Quân lực in và cấp cho các đơn vị trong toàn quân. Trung đoàn và các tiểu đoàn độc lập, đại đội độc lập phải lập sổ cái danh sách quân nhân hiện có của đơn vị mình, thứ tự theo vần A. B. C để khi tra cứu được dễ dàng. Mỗi đơn vị lập thành hai quyển gửi lên trên một quyển, đơn vị giữ một quyển. Trong số, những thông tin cơ bản một quân nhân chiếm khoảng 5 dòng chạy dài qua 13 cột thứ tự: Họ và tên, năm sinh, chức vụ, ngày tham gia cách mạng, ngày nhập ngũ, đơn vị hiện nay (ghi từ tiểu đội, trung đội, đại đội, tiểu đoàn...), trình độ văn hóa, thành phần giai cấp, dân tộc, nơi sinh, quê quán, trú quán, họ tên cha (năm sinh, nghề nghiệp), họ tên mẹ (năm sinh, nghề nghiệp), họ tên các con, sở trường (giỏi về gì), khen thưởng, kỷ luật, khi cần báo tin cho ai. Có thể nói, đây là lý lịch quân nhân thu nhỏ (cả chiến sĩ và cán bộ).
Hàng tháng hoặc sau một chiến dịch, đơn vị báo cáo về Cục Quân lực những thay đổi, kèm theo danh sách. Căn cứ vào đó Cục Quân lực bổ sung vào sổ lưu ở Cục. Như vậy bất kỳ lúc nào, Cục Quân lực chúng tôi cũng có thể nắm được chất lượng của từng đơn vị cũng như toàn quân. Từ đó Cục Quân lực có căn cứ giải quyết một số vấn đề về chính sách, khen thưởng hoặc trả lời tin tức quân nhân.
Ngoài ra, Cục còn in các loại giấy báo tử, sơ đồ nơi chôn cất, giấy bị thương, đi viện, đào ngũ, mất tích, thuyên chuyển, xuất giải ngũ...
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|