Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 06:34:28 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Năm tháng cuộc đời  (Đọc 3930 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #20 vào lúc: 26 Tháng Chín, 2026, 09:16:00 pm »

Qua thực tế công tác, tôi nhận thức được rằng: "Không kiểm tra việc làm, coi như việc đó không làm". Từ thực tiễn đó, chúng tôi đã áp dụng ba biện pháp kiểm tra để nắm tình hình bộ đội. Cục Quân lực cử cán bộ đi đơn vị nắm tình hình. Cục Quân lực xuống kiểm tra cơ quan quân lực cấp dưới về nghiệp vụ và Cục Quân lực đi cùng Thủ trưởng Bộ kiểm tra tình hình đơn vị (thường làm trước hoặc sau chiến dịch).


Kết quả của việc củng cố chế độ báo cáo và tăng cường công tác kiểm tra đã giúp cho Cục Quân lực chúng tôi nắm tình hình bộ đội được kịp thời, đầy đủ, chính xác hơn, giúp cho công tác chỉ đạo, chỉ huy bộ đội được đúng đắn, góp phần nâng cao sức chiến đấu của bộ đội.


Thời gian này, việc nắm tình hình quân số và vũ khí trang bị của những đơn vị làm nhiệm vụ ở phía sau và những đơn vị ở chiến trường miền Trung và miền Nam gặp nhiều khó khăn lại thường chậm. Chúng tôi phải cử cán bộ thay nhau đến các bệnh viện, đoàn an dưỡng để nắm tình hình quân số cán bộ, chiến sĩ các loại để làm kế hoạch bổ sung. Nhưng số quân này có nhiều đối tượng, nhiều nội dung nên thường khó theo dõi. Nếu là thương binh, bệnh binh thì phân loại nhẹ, vừa, nặng, nắm thời gian cần điều trị an dưỡng để trở về đơn vị là bao nhiêu và số mất sức chiến đấu là bao nhiêu. Đối tượng thứ hai cần nắm là số chiến sĩ mới và cán bộ dự trữ, nhân viên chuyên môn kỹ thuật cũng phải phân loại để có kế hoạch phân bổ. Việc nắm tình hình vũ khí trang bị cũng rất phức tạp. Hàng được, viện trợ thường khó nắm về chủng loại, thời gian, về sự đồng bộ của một khẩu súng, một khẩu pháo, một bộ khí tài thông tin, quan trắc...


Để tăng cường hiệu quả công tác tuyển nhận, huấn luyện tân binh, đáp ứng yêu cầu về lực lượng toàn quân trong giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến, tháng 5 năm 1953, căn cứ vào tình hình thực tế, Cục Quân lực đề nghị Tổng tham mưu trưởng và Bộ Tổng tư lệnh chia Đoàn 99 thu dung an dưỡng ở Việt Bắc thành Đoàn 99 thu dung an dưỡng và Trung đoàn 77. Trung đoàn 77 đứng chân ở Phú Thọ làm nhiệm vụ tuyển nhận và huấn luyện tân binh, do anh Văn Giáo làm Trung đoàn trưởng và anh Hùng Phong làm Chính ủy. Đồng thời, Cục Quân lực cũng đề nghị Tổng tham mưu trưởng và Bộ Tổng tư lệnh thành lập Trung đoàn 55 đứng chân ở Thanh Hóa cũng làm nhiệm vụ tuyển nhận và huấn luyện tân binh do anh Chu Văn Yên làm Trung đoàn trưởng và anh Nguyễn Lập làm Chính ủy. Lúc này Khu 4 đã có Trung đoàn 44 làm nhiệm vụ tuyển nhận và huấn luyện tân binh phụ trách hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh.


Về trang bị, trong giai đoạn này ngoài nguồn chiến lợi phẩm thu được trong các trận đánh, trong các chiến dịch với phương châm lấy súng giặc diệt giặc còn có nguồn cung cấp quan trọng là viện trợ của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa khác. Đây là nguồn mà Bác tạo ra trong chuyến đi bí mật của Người sang thăm Trung Quốc, Liên Xô, mở ra cho ngành Quân lực một hướng tạo nguồn cơ bản và lâu dài, thắm tình quốc tế của những người vô sản.


Từ nguồn viện trợ này, tập trung trang bị súng bộ binh một số đại đoàn, trung đoàn, tăng cường thêm pháo 75 và tổ chức huấn luyện hiệp đồng trên đất bạn Trung Quốc cho một số đơn vị.

Sau chiến dịch Biên Giới, phòng Trang bị (Cục Quân lực) kết hợp với phòng Quân khí - Tổng cục Cung cấp (Tổng cục Hậu cần), đặc trách phần tạo nguồn trang bị. Cục Quân lực chủ trì nắm thực lực cùng phòng Quân khí theo dõi diễn biến tăng giảm, điều chỉnh bổ sung cũng như kế hoạch tạo nguồn và kế hoạch phân phối trang bị có được (trong đó có việc chỉ đạo tự sản xuất vũ khí).


Tôi cũng phải nói thêm, mối quan hệ công tác chặt chẽ giữa hai Cục Quân lực - Bộ Tổng tham mưu và Cục Quân khí - Tổng cục Hậu cần giai đoạn này là vừa làm vừa học, tất cả là để đáp ứng tốt nhất cho nhu cầu trang bị của các đơn vị trong toàn quân kể cả việc hoán vị cán bộ cho nhau. Anh Lê Đình Tạo, Trưởng phòng Quân khí được điều về làm Trưởng phòng Trang bị cấp dưỡng Cục Quân lực một thời gian, triển khai việc tiếp nhận vũ khí do Trung Quốc viện trợ, sau đó lại trở về làm Trưởng phòng Quân khí. Anh Phạm Văn Túc, Trưởng ban Trang bị được điều sang Tổng cục Hậu cần làm Trưởng ban Kế hoạch phòng Quân khí. Sau đó phòng Trang bị cấp dưỡng chuyển hẳn sang Tổng cục Hậu cần.


Ngày 7 tháng 5 năm 1953, với sự thoả thuận của Mỹ, Chính phủ Pháp cử tướng Na-va làm Tổng chỉ huy quân viễn chinh ở Đông Dương. Kế hoạch Pháp - Mỹ trong các năm 1953, 1954, 1955 hòng chuyển bại thành thắng trong chiến tranh xâm lược được vạch ra, gọi là "Kế hoạch Na-va".


Trung tâm của "Kế hoạch Na-va" là tổ chức khối chủ lực tác chiến. Muốn vậy, Na-va chủ trương rút lực lượng chiếm đóng về tập trung, thúc ép chính quyền bù nhìn nâng khối chủ lực tác chiến lên 7 sư đoàn (vào năm 1954), trong đó có 1 sư đoàn dù. Kế hoạch tác chiến của Na-va chia làm hai bước: Bước một, trong Thu - Đông 1953 và mùa xuân năm 1954 giữ thế phòng ngự chiến lược, tránh quyết chiến ở miền Bắc, thực hiện tiến công chiến lược ở miền Nam, nhất là vùng tự do Liên khu 5 và đồng bằng Nam Bộ. Bước thứ hai, vào Đông - Xuân 1954 -1955, với khối chủ lực cơ động vừa xây dựng xong, tập trung toàn bộ lực lượng quyết chiến với chủ lực ta trên chiến trường miền Bắc, giành thắng lợi quyết định.


Thực hiện kế hoạch Na-va, thực dân Pháp tăng viện sang Đông Dương 12 tiểu đoàn quân viễn chinh rút từ Pháp, Bắc Phi, Triều Tiên...

Đế quốc Mỹ viện trợ 400 triệu đô la để tổ chức quân ngụy Việt Nam và quyết định tăng gấp rưỡi viện trợ cho Pháp, cung cấp thêm trang bị cho 6 tiểu đoàn pháo binh, 2 trung đoàn cơ giới, 6 tiểu đoàn vận tải, 123 máy bay, 212 tàu chiến...

Theo số liệu tôi được biết, Mỹ viện trợ cho Pháp năm 1953 là 650 triệu đô la, đến năm 1954 lên hơn một tỷ hai trăm triệu đô la chiếm 73% chi phí chiến tranh Đông Dương.

Tháng 9 năm 1953, Bộ Chính trị Đảng ta họp bàn về chủ trương tác chiến Đông - Xuân 1953- 1954. Có hai phương án tác chiến được đưa ra thảo luận. Phương án thứ nhất, tập trung toàn bộ hoặc phần lớn bộ đội chủ lực ở đồng bằng hoạt động tương đối phân tán, tranh thủ tiêu diệt một bộ phận quân địch, phối hợp đẩy mạnh chiến tranh du kích ở vùng sau lưng địch, bảo vệ vùng tự do. Sau khi địch bị tổn thất đến một mức nhất định, vùng tự do được củng cố, ta sẽ tùy tình hình mà tiếp tục để bộ đội chủ lực ở đồng bằng hay điều động đi hướng khác.


Phương án thứ hai. Chiến trường đồng bằng chỉ có thể thu được những thắng lợi có hạn, không thay đổi được cục diện chiến tranh mà chủ lực ta có thể bị tiêu hao, trong khi đó Tây Bắc Việt Nam và Lào là nơi địch yếu nhưng chúng không thể bỏ. Đưa bộ đội chủ lực lên đó, mặc dù khó khăn rất lớn về tiếp tế, nhưng ta buộc địch phải phân tán lực lượng, từ đó tranh thủ tiêu diệt sinh lực địch, đẩy mạnh hoạt động ở khắp các chiến trường sau lưng địch, tạo điều kiện để tiến tới giải phóng đồng bằng Bắc Bộ.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #21 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2026, 08:32:13 pm »

Qua cân nhắc tính toán một cách khoa học, Bộ Chính trị quyết định chọn phương án thứ hai. Bộ Chính trị thông qua kế hoạch tác chiến Đông - Xuân 1953 - 1954, cụ thể là, trên mặt trận chính diện, sử dụng bộ đội chủ lực mở ba cuộc tiến công lớn nhằm tiêu diệt dịch chiếm đóng Lai Châu, giải phóng hoàn toàn Tây Bắc, phối hợp cùng Quân giải phóng Pa-thét Lào giải phóng tỉnh Phong Xa Lỳ. Phối hợp cùng Quân giải phóng Pa-thét Lào và Quân giải phóng Ít-xa-rắc Cam-pu-chia tiêu diệt một bộ phận sinh lực của địch ở Trung Lào, Hạ Lào và Đông Bắc Cam-pu-chia, mở rộng vùng giải phóng tới sau lưng Sài Gòn, đánh thông đường chiến lược Bắc - Nam Đông Dương. Đoạt lấy địa bàn chiến lược Tây Nguyên, phá âm mưu củng cố và bình định miền Nam của địch.


Trên mặt trận sau lưng địch, trước mắt đẩy mạnh chiến tranh du kích, củng cố và phát triển các căn cứ du kích và khu du kích, đẩy mạnh công tác vận động binh lính địch, phá kế hoạch xây dựng ngụy quân và dồn làng của địch. Tùy theo sự diễn biến của tình hình mà sử dụng một bộ phận chủ lực tiến sâu vào vùng sau lưng địch, phối hợp với bộ đội địa phương và dân quân du kích tiêu hao và tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, đẩy mạnh mọi mặt đấu tranh, phá tan kế hoạch bình định của địch, thu hẹp vùng tạm bị chiếm, mở rộng vùng tự do, phối hợp đắc lực với các cuộc tiến công trên mặt trận chính diện... Hội nghị Bộ Chính trị đặc biệt nhấn mạnh phương châm: Tích cực, chủ động, cơ động, linh hoạt.


Thực hiện chủ trương chiến lược của Bộ Chính trị và chỉ đạo trực tiếp của Bộ Tổng tư lệnh, tháng 9 năm 1953, Cục Quân lực đã cùng các cơ quan liên quan trong Bộ Tổng tham mưu xây dựng lại mẫu biên chế mới từ đại đội đến đại đoàn theo phương hướng gọn, nhẹ, tăng cường hỏa lực và sức đột kích. Cơ quan Quân lực các cấp, nhất là quân lực cấp chiến lược khẩn trương triển khai chuẩn bị về lực lượng, trọng tâm là chấn chỉnh, kiện toàn biên chế tổ chức các đại đoàn bộ binh chủ lực. Hỏa lực cần thiết cho Đông - Xuân 1953 - 1954 là các đơn vị hỏa lực mạnh gồm: Trung đoàn 45 lựu pháo 105mm do Trung Quốc viện trợ, gồm 20 khẩu với 3.500 viên đạn. Trung đoàn này đưa sang Trung Quốc huấn luyện cơ bản rồi đưa về nước. Trung đoàn 367 pháo phòng không 37mm được Liên Xô trang bị, huấn luyện ở Trung Quốc chuẩn bị đưa về nước. Ngoài ra còn một tiểu đoàn súng không giật ĐKZ75mm; tiểu đoàn hỏa tiễn H16 Ca-chiu-sa...


Quân lực Liên khu 3, Liên khu 4 và Liên khu Việt Bắc không những có kế hoạch mọi mặt về tổ chức lực lượng, nhằm thực hiện chủ trương đẩy mạnh chiến tranh du kích ở vùng đồng bằng Bắc Bộ để phối hợp với hoạt động của bộ đội chủ lực trên các hướng chính, mà còn chuẩn bị tổ chức và bảo đảm vũ khí đạn dược cho lực lượng vũ trang và nhân dân trong khu sẵn sàng đánh địch khi chúng tiến công vào địa bàn.


Cục Quân lực còn chỉ đạo quân lực các liên khu trên tiến hành nhiệm vụ tuyển quân ở địa phương và đưa quân lên Tây Bắc làm lực lượng dự trữ để bổ sung cho các đại đoàn trong quá trình hoạt động chiến dịch. Đồng thời tiếp nhận trang thiết bị kỹ thuật được Bộ cấp và tổ chức chuyển về địa phương phân phối theo kế hoạch.


Ở Khu 5, quân lực một mặt tập trung chuẩn bị và bảo đảm cho một phần bộ đội chủ lực trong khu mở chiến dịch tiến công lên Tây Nguyên, đồng thời có kế hoạch về vũ khí, đạn dược và quân số cho cả ba thứ quân để đánh địch bảo vệ vùng tự do trong khu.


Ở chiến trường Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ, Cục Quân lực chỉ đạo cơ quan quân lực cấp dưới chủ yếu bảo đảm vũ khí, đạn dược cho lực lượng vũ trang trong hoạt động đẩy mạnh chiến tranh du kích.

Riêng quân lực các dại đoàn, Cục Quân lực chỉ đạo: chấn chỉnh kiện toàn biên chế tổ chức từng đơn vị trong đại đoàn đến cấp đại đội, kể cả lực lượng làm nhiệm vụ trực tiếp chiến đấu, bảo đảm chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Phương châm chỉ đạo quân lực các đại đoàn tổ chức biên chế phải: gọn, mạnh, cơ động nhanh đủ sức đánh thắng mọi đối tượng địch trên các chiến trường, trọng điểm là vùng rừng Tây Bắc và vùng rừng núi Bắc Lào (trừ Đại đoàn 320 hoạt động ở đồng bằng Bắc Bộ), phải bảo đảm lực lượng cụ thể để duy trì sức mạnh chiến đấu cho đại đoàn được liên tục trong đánh tiêu diệt lớn.


Căn cứ vào kế hoạch và chỉ thị của Bộ Tổng tư lệnh và chỉ đạo của Bộ Tổng tham mưu về công tác quân lực trong chiến cuộc Đông - Xuân 1953 - 1954, một mặt Cục Quân lực hướng dẫn quân lực các liên khu và đại đoàn triển khai thực hiện, mặt khác tập trung vào việc chuẩn bị lực lượng cho toàn quân với yêu cầu đủ lực lượng để đánh được dài ngày, trong phạm vi rộng, tình huống khẩn trương, ác liệt. Chăm lo bảo đảm cho 4 đại đoàn bộ binh và 1 đại đoàn pháo binh - công binh để Bộ Tổng tư lệnh sử dụng vào chiến dịch ở hướng đã lựa chọn, nhằm giáng đòn quyết định làm chuyển biến cục diện chiến tranh.


Về quân số, trên cơ sở kế hoạch đã thống nhất giữa Bộ Tổng tham mưu với các địa phương đến cuối mùa hè năm 1953, các Liên khu đã tuyển nhận, huấn luyện đủ chỉ tiêu tân binh để bổ sung cho các đơn vị... Liên khu Việt Bắc là 4.000 tân binh. Khu Hữu Ngạn là 3.000 tân binh; Khu Tả Ngạn là 4.500 tân binh; Liên khu 4 là 7.000 tân binh, về số lượng quân tăng không nhiều, nhưng chất lượng được nâng lên.


Đến tháng 12 năm 1953, tổng quân số của ta lên đến 252.031 người, về bộ binh gồm 6 đại đoàn, một trung đoàn và 2 tiểu đoàn trực thuộc, về pháo mặt đất, 1 đại đoàn công pháo 351 (gồm 1 trung đoàn lựu pháo 105mm, 1 trung đoàn sơn pháo 75mm và 1 tiểu đoàn ĐKZ, 1 trung đoàn công binh nằm trong đội hình Đại đoàn công pháo 351). Pháo phòng không có Trung đoàn 367 pháo 37mm. Thông tin: 1 tiểu đoàn. Trinh sát: 1 tiểu đoàn.


Trong biên chế, khối chủ lực trực thuộc Bộ gồm 6 đại đoàn, 1 trung đoàn, 2 tiểu đoàn và toàn bộ khối binh chủng. Khối chủ lực trực thuộc liên khu gồm 11 trung đoàn và 15 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn pháo, ở Lào, bộ binh ta có 7 tiểu đoàn, 9 đại đội và 9 trung đội. Ở Cam-pu-chia, bộ binh có 8 đại đội và 47 trung đội. Bộ đội địa phương, mỗi tỉnh có 1 tiểu đoàn, mỗi huyện có 1 đại đội.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #22 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2026, 08:40:59 pm »

Thực hiện kế hoạch tác chiến Đông - Xuân 1953- 1954, giữa tháng 11 năm 1953, bộ đội chủ lực của ta được lệnh tiến công lên Tây Bắc và tiến sang Trung Lào. Bị uy hiếp mạnh ở chỗ sơ hở và yếu nhất, địch tập trung lực lượng tăng cường cho tuyến phòng thủ rộng Nậm Hu nối Thượng Lào với Điện Biên Phủ. Địch vội vàng đổ quân xây dựng Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm "bất khả xâm phạm". Thực dân Pháp coi Điện Biên Phủ là vị trí then chốt, có tầm chiến lược phục vụ cho mục đích xâm lược không những với các nước Đông Dương mà còn cả khu vực Đông Nam Á.


Sáng ngày 22 tháng 11 năm 1953, tôi đang làm việc trong một căn nhà lợp lá cọ thuộc xã Điềm Mạc, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên thì bất ngờ Bác đến. Hôm đó trời mưa, Bác đội chiếc nón lá, quần xắn cao trên đầu gối, tay chống cây gậy trúc. Thấy vẻ lúng túng của tôi, Bác cất tiếng hỏi:

- Chú tên là Sâm phải không?

- Thưa Bác! Cháu là Trần Sâm, Cục trưởng Cục Quân lực ạ. - Tôi cảm động thưa với Bác.

- Kế hoạch bảo đảm quân lực cho Đông - Xuân năm 53 - 54 đến đâu rồi?

- Thưa Bác, kế hoạch đã xong. Tất cả đều sẵn sàng lên đường đi chiến dịch.

- Bác biết các chú sắp đến ngày lên đường, Bác đến thăm và chúc các chú. Các chú động viên quân và dân Tây Bắc phải quyết đánh thắng chiến dịch này.

- Thưa Bác, chúng cháu sẽ cố gắng vừa bảo đảm quân số vừa bảo đảm vũ khí trang bị, đáp ứng yêu cầu của chiến dịch.

Rồi Bác ân cần căn dặn:

- Chiến dịch này là một chiến dịch rất quan trọng không những về quân sự mà cả chính trị, không những đối với trong nước mà đối với cả quốc tế. Vì vậy, ta phải tập trung hoàn thành cho kỳ được.

Nói xong, Bác bảo tôi dẫn Bác đến thăm Cục Tác chiến. Bác nhanh nhẹn chống gậy đi trước, tôi theo Bác, ngắm nhìn Bác mà trong lòng tràn ngập niềm vui xen lẫn nỗi xúc động...

Theo quyết định của Bộ Chính trị, Đại tướng Võ Nguyên Giáp được cử làm Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy Bộ Tư lệnh chiến dịch Điện Biên Phủ. Cơ quan tham mưu do Thiếu tướng Hoàng Văn Thái - Tổng tham mưu phó làm Tham mưu trưởng chiến dịch. Ban Quân lực chiến dịch có tôi, Cục trưởng và sáu người đại diện cho 3 phòng Thực lực, Cán bộ, Quy chế là các anh Đỗ Đức, Trần Quang Đẩu, Cao Khắc Giáp, Nguyễn Thục Phán, Vũ Lương và Lê Thế Tục.


Ngày 26 tháng 11 năm 1953, Ban Quân lực chiến dịch trong đội hình cơ quan tiền phương Bộ Tư lệnh lên đường đi chiến dịch. Từ Tổng hành dinh ở Định Hóa, Thái Nguyên, đội hình hành quân vượt sông Hồng, sông Đà, qua biết bao đèo dốc, lên đến Tuân Giáo, Lai Châu mất ròng rã 22 ngày.


Để làm tốt công tác quân lực đáp ứng yêu cầu của cơ quan tham mưu chiến dịch, tôi đề xuất và được Tham mưu trưởng chiến dịch Hoàng Văn Thái nhất trí thành lập đoàn tiếp nhận tân binh rút từ các Đoàn 99, 77, 44, 33 ở hậu phương đưa lên, tổ chức huấn luyện và bổ sung cho các đơn vị theo yêu cầu của tác chiến. Đoàn này lấy tên là Đoàn Bà Rịa do anh Văn Giáo làm Đoàn trưởng. Đoàn Bà Rịa còn có nhiệm vụ tham gia một số công tác ở hỏa tuyến như làm đường, ngụy trang sở chỉ huy, trận địa...


Cùng thời gian này, tôi còn đề xuất với anh Hoàng Văn Thái thành lập đại đội thuộc Cục Quân lực do anh Lê Thế Tục làm Đại đội trưởng. Đại đội có nhiệm vụ thu dung số giảm biên chế của cơ quan mặt trận (khoảng 200 người), phối hợp với Trung đoàn công binh 151 tổ chức làm con đường vào khe Hồng Lĩnh. Đại đội này được mang tên Hồng Lĩnh.


Trong khi tôi và một số cán bộ ba phòng tiếp tục làm công tác quân lực trong cơ quan tham mưu chiến dịch thì Cục phó Phan Phúc Tường cùng một số cán bộ, nhân viên lên biên giới Việt - Trung tổ chức tiếp nhận và vận chuyển nhanh pháo cao xạ 37mm, hỏa tiễn Ca-chiu-sa 6 nòng H6, súng ca nông Bô-pho... kịp thời đáp ứng yêu cầu chiến dịch.


Tôi cũng giao nhiệm vụ cho số cán bộ, nhân viên của Cục Quân lực ở lại hậu phương phải căng lực lượng ra làm nhiều công việc cùng lúc. Thủ trưởng, nhân viên các phòng, ban được tung đi các hướng: Việt Bắc, Liên khu 3, Liên khu 4... nắm tình hình quân số, huy động dân công phục vụ chiến dịch.


Cùng với nhiều biện pháp tiến hành trong quân đội thời gian này Cục Quân lực chúng tôi đã liên hệ trao đổi với các tổ chức chính quyền và nhân dân nhằm phát huy tích cực nhân tố hậu phương đối với công tác quân số. Vận động nhân dân hăng hái tham gia kháng chiến, động viên con em tòng quân giết giặc.


Ở đây phải kể đến vai trò của cấp ủy Đảng, chính quyền đoàn thể và sự tự giác của nhân dân các địa phương đã tạo điều kiện thuận lợi cho công tác động viên thanh niên nhập ngũ. Số thanh niên nhập ngũ có khi lên đến hàng vạn nên công tác bảo đảm cung cấp cho bộ đội gặp nhiều khó khăn, nhất là số tân binh ở đồng bằng Bắc Bộ, Thanh Hóa, Nghệ An. Sau khi nhập ngũ, anh em phải hành quân gấp, dài ngày qua vùng địch tạm chiếm lên Tây Bắc. Những khó khăn về ăn mặc của tân binh phải nhờ nhân dân giúp đỡ giải quyết, bảo đảm cho anh em nhu cầu tối thiểu trên đường hành quân từ địa phương đến nơi tiếp nhận của quân đội. Các địa phương đều tổ chức chu đáo tiễn đưa, động viên con em mình hăng hái giết giặc lập công. Chính quyền và nhân dân cũng tổ chức đón nhận thương, bệnh binh về địa phương nuôi dưỡng và sắp xếp lao động. Chính quyền và nhân dân còn tổ chức giúp đỡ gia đình quân nhân neo đơn, chăm sóc nuôi dạy con liệt sĩ, trông nom bố mẹ già của những liệt sĩ không nơi nương tựa... Những việc làm đó đã động viên, cổ vũ và làm yên lòng những người ra trận.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #23 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2026, 08:45:47 pm »

Tới 14 tháng 1 năm 1954, anh Hoàng Văn Thái cho gọi tôi đến nơi làm việc của anh. Anh nói luôn:

- Anh báo cáo tình hình quân số và việc bảo đảm trang bị kỹ thuật cho chiến dịch.

Tôi mở sổ công tác, chậm rãi nói:

- Đầu năm 1954, quân số đã bảo đảm được hơn 8 vạn, đáp ứng nhiệm vụ tác chiến và phát triển lực lượng quân đội. Riêng chiến dịch Điện Biên Phủ đã dành gần một vạn quân để bổ sung, duy trì sức chiến đấu liên tục của các đại đoàn.

Việc bảo đảm trang bị kỹ thuật đến giai đoạn tập trung đánh lớn. Kết quả ba nguồn bảo đảm chủ yếu tuy đã tích cực khai thác nhưng vẫn không đủ trang bị đáp ứng yêu cầu xây dựng và chiến đấu của quân đội.

Về nguồn sản xuất trong nước, tuy đã hết sức cố gắng nhưng cơ sở vật chất kỹ thuật và nguyên vật liệu rất khó khăn nên chỉ bảo đảm được một số loại thông thường và số lượng cũng chưa đủ cung cấp thường xuyên cho bộ đội. Việc tận thu chiến lợi phẩm đã giải quyết được khá nhiều khó khăn, nhưng cũng chỉ đủ đáp ứng mức thấp nhu cầu xây dựng và chiến đấu của bộ đội địa phương và một phần bộ đội chủ lực. Còn phần lớn trang bị kỹ thuật, nhất là những loại súng pháo có uy lực lớn phương tiện bảo đảm chiến đấu có tính năng tác dụng cao của bộ đội chủ lực đều nhờ vào nguồn viện trợ.

- Thế nguồn viện trợ thì sao? - Anh Hoàng Văn Thái ngắt lời.

Tôi nói tiếp:

- Viện trợ trở thành nguồn bảo đảm chính về trang bị kỹ thuật cho bộ đội chủ lực ta trong giai đoạn này. Tuy nhiên, do những nguyên nhân chủ quan, khách quan khác nhau, cho đến chiến dịch Điện Biên Phủ, số súng, pháo được viện trợ so với nhu cầu chiến đấu thì còn thấp cả về số lượng, chủng loại và chậm về thời gian. Hiện nay toàn quân ta mới có 2 trung đoàn pháo mặt đất, 2 tiểu đoàn súng cối. Tất cả đều được sử dụng trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Trung đoàn sơn pháo 75mm co 24 khẩu là chiến lợi phẩm thu được của Nhật và Pháp từ năm 1945. Trung đoàn lựu pháo xe kéo 105mm 24 khẩu do Trung Quốc viện trợ. Hai tiểu đoàn súng cối 120mm và 82mm được tổ chức bằng cả ba nguồn.


Hiện nay, nhờ viện trợ, ta đã tổ chức được 1 trung đoàn phòng không, gồm pháo cao xạ, xe kéo 37mm và súng máy 12,7mm vừa thành lập xong tháng 12 năm 1953 đang trên đường lên Điện Biên Phủ.

Nghe xong, anh Hoàng Văn Thái nói:

- Như vậy, hỏa lực mặt đất và pháo phòng không, khí tài... ta đều nhờ vào viện trợ của nước bạn. Khâu quyết định thắng lợi của công tác tiếp nhận và cấp phát trang bị kỹ thuật là kế hoạch và việc tổ chức thực hiện kế hoạch, nhất là kế hoạch vận chuyển, kể từ khi nhận được trang bị kỹ thuật đến khi giao xong trang bị kỹ thuật cho đơn vị. Các anh phải có kiến nghị ưu tiên viện trợ trước những loại súng, pháo và đạn có uy lực lớn. Những phương tiện đảm bảo chiến đấu có tính năng tác dụng cao.


Ngừng một lát, anh Hoàng Văn Thái còn dặn tôi tỉ mỉ:

- Khi nhận hàng phải tổ chức sắp xếp phân chia, quy định nơi để và chuyển tiếp từng loại dọc theo trục đường vận chuyển và ưu tiên chuyển nhanh những thứ cần về trước. Để khắc phục khó khăn trong khâu vận chuyển (phương tiện ít, số lượng nhiều, đường xa, thời gian gấp) nên những thứ nặng cần có xe cơ giới vận chuyển thì làm kế hoạch và hợp đồng thống nhất với hậu cần để bảo đảm vận chuyển đến nơi quy định. Những thứ nhẹ, bộ đội có thể mang vác theo trong hành quân thì làm kế hoạch động viên bộ đội tự vận chuyển.


Hai anh em trao đổi quên cả thời gian, lúc xong việc tôi nhìn đồng hồ đã 12 giờ 20 phút đêm.

Qua sự chỉ đạo của anh Hoàng Văn Thái, Cục Quân lực cùng các đơn vị và cơ quan bạn đã bảo đảm được nhu cầu rất lớn về trang bị kỹ thuật đáp ứng yêu cầu chiến đấu của bộ đội. Chỉ tính riêng số đạn các loại bảo đảm cho chiến dịch Điện Biên Phủ đã lên tới 1.400 tấn (gấp 8 lần chiến dịch Biên Giới). Riêng số đạn pháo, Cục Quân lực cùng với Cục Quân khí đã khai thác từ nhiều nguồn, điều động bảo đảm cho pháo binh chiến dịch một khối lượng 20.000 quả đạn. Trong đó có trên 11.700 quả đạn từ chiến lợi phẩm thu được sau chiến dịch Biên Giới (Thu - Đông 1950); 360 viên từ nguồn viện trợ của nước bạn; 400 viên từ chiến lợi phẩm thu được trong chiến dịch Trung - Hạ Lào và khoảng 5.000 quả đạn lấy từ nguồn tiếp tế của địch cho tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.


Khó khăn lớn nhất lúc này là đưa pháo vào trận địa theo kế hoạch. Khi tất cả các khẩu pháo đã ở yên trong vị trí và sẵn sàng nhả đạn, trận đánh mới có thể bắt đầu. Bằng sự nỗ lực rất lớn của bộ đội, thanh niên xung phong và dân công, trong một tháng chúng ta đã hoàn thành con đường Tuần Giáo - Điện Biên Phủ dài 82km. Trước đó, con đường này chỉ rộng 1m nay mở rộng cho xe kéo pháo đi lại dễ dàng vào cách Điện Biên Phủ 15km. Từ đây, các khẩu pháo sẽ được kéo bằng sức người vào những trận địa. Đường kéo pháo rộng 3m, chạy từ cửa rừng Nà Kham - qua đỉnh Pha Sông cao 1.150m - xuống Bản Tấu. Đường Điện Biên Phủ - Lai Châu tới Bản Nghìn mở đường mới hoàn toàn. Để bảo đảm bí mật con đường phải được ngụy trang không cho máy bay trinh sát phát hiện. Thời gian làm đường dự kiến trong một ngày một đêm. Ta đã rải bộ đội suốt dọc đường và làm xong trong 20 giờ. Việc tiếp theo là đưa lựu pháo 105mm và pháo cao xạ 37mm vào vị trí tập kết. Nhiệm vụ này được giao cho Đại đoàn 351 và Đại đoàn 312, dự kiến hoàn thành trong ba đêm.


Trên đường thủy, các chiến sĩ công binh qua nhiều ngày ngâm mình dưới nước lạnh buốt phá thác, phá ghềnh đã khai thông dòng Nậm Na để chở gạo của đồng bào Tây Bắc chi viện cho bộ đội ở Điện Biên Phủ.

Bộ Chỉ huy chiến dịch quyết định thành lập Bộ Chỉ huy kéo pháo do đồng chí Lê Trọng Tấn - Tư lệnh Đại đoàn 312 làm Chỉ huy trưởng, đồng chí Phạm Ngọc Mậu, Chính ủy Đại đoàn 351 làm Chính ủy.

Khi Đại tướng Võ Nguyên Giáp dẫn chúng tôi đi kiểm tra đường kéo pháo, chúng tôi thấy con đường kéo pháo khá dài, vực sâu, rất khó đưa pháo vào trận địa đúng thời gian dự kiến và việc tiếp đạn khi chiến đấu sẽ rất khó khăn.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #24 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2026, 08:46:46 pm »

Sau bảy đêm, pháo vẫn chưa tới vị trí quy định. Thời gian nổ súng dự định ngày 20 tháng 1 năm 1954 phải lui lại năm ngày. Chúng ta chưa lường hết trở ngại khi dùng sức người kéo những khối thép nặng hai tấn qua những dốc cao 30, 40 độ, có chỗ lên tới 60 độ lại bị máy bay, pháo binh địch bắn cản đường.


Sáng ngày 26 tháng 1 năm 1954, Đảng ủy chiến dịch họp. Đảng ủy phân tích tình hình, có nhiều ý kiến trái ngược nhau. Tình hình thực tế lúc này địch đã tăng cường lực lượng cho Điện Biên Phủ, nhiều tiểu đoàn tinh nhuệ được điều ra chốt giữ các vị trí tiền tiêu. Đặc biệt, địch xây dựng xong trận địa phòng ngự vững chắc, thành một tập đoàn cứ điểm rất mạnh. Nếu ta vẫn theo phương châm "đánh nhanh giải quyết nhanh" sẽ gặp khó khăn tổn thất.


Trước khi kết luận, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói đại ý: Tình hình khẩn trương, cần sớm có quyết định. Vô luận tình hình nào, chúng ta vẫn phải nắm nguyên tắc cao nhất là: Đánh chắc thắng. Trước khi tôi lên đường, Bác đã trao nhiệm vụ: "Trận này rất quan trọng, phải đánh cho thắng. Chắc thắng mới đánh, không chắc thắng không đánh". Với tinh thần trách nhiệm trước Bác và Bộ Chính trị, đề nghị các đồng chí trả lời câu hỏi: Nếu đánh, có chắc thắng trăm phần trăm không?


Cuối cùng, Đảng ủy cũng đi tới nhất trí là đánh có thể gặp nhiều khó khăn mà khó có biện pháp cụ thể để khắc phục.

Đại tướng kết luận: Để bảo đảm nguyên tắc cao nhất là "đánh chắc thắng", cần chuyển phương châm tiêu diệt địch từ "đánh nhanh thắng nhanh" sang "đánh chắc tiến chắc". Nay quyết định hoãn cuộc tấn công. Ra lệnh cho bộ đội trên toàn tuyến lui về địa điểm tập kết và kéo pháo ra. Công tác chính trị phải bảo đảm triệt để chấp hành mệnh lệnh lui quân như mệnh lệnh chiến đấu. Hậu cần chuyển sang chuẩn bị theo phương châm mới.


17 giờ ngày 26 tháng 1 năm 1954, các trận địa pháo bắt đầu kéo pháo ra khỏi trận địa. Sau này Đại tướng tâm sự: Đây là quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời chỉ huy của tôi.

Ngày 31 tháng 1 năm 1954, sở chỉ huy chiến dịch chuyển từ Nà Tấu vào Mưòng Phăng nơi có rặng núi cao nằm ở phía đông cánh đồng Mường Thanh. Sở chỉ huy đóng tại Mường Phăng cho đến kết thúc chiến dịch. Những cuộc họp, những chủ trương lớn có tính quyết định trong quá trình tiến công tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ đều diễn ra tại đây.


Trước tình hình thay đổi phương châm tác chiến, Cục Quân lực chúng tôi phân công cán bộ nắm chắc tình hình biên chế, tổ chức lực lượng của các đơn vị tham gia chiến dịch, phối hợp cùng các cơ quan có kế hoạch quân số cả kế hoạch ban đầu và kế hoạch bổ sung, bảo đảm sức chiến đấu liên tục dài ngày. Đồng thời căn cứ vào yêu cầu chiến dịch, Cục Quân lực đã chủ động phối hợp với Cục Quân khí, Cục Quân giới lập kế hoạch bảo đảm vũ khí trang bị cho phương châm "đánh chắc tiến chắc".


Cuối tháng 2 năm 1954, hậu phương đã gửi 2.200 quân bổ sung và 20 cán bộ cấp tiểu đoàn, trung đoàn tăng cường cho cơ quan tiền phương để giải quyết vấn đề cung cấp. Ngoài ra ở hậu phương còn chuẩn bị 3.000 thanh niên xung phong phục vụ chiến đấu. Hầu hết ô tô vận tải được đưa ra mặt trận. 628 xe vận chuyển ngày đêm trong suốt thời gian chiến dịch. Các đoàn thuyền buồm, thuyền độc mộc, bè mảng ngược dòng sông Mã chở gạo từ Thanh Hoá lên Điện Biên Phủ, vượt thác sông Đà mang gạo từ Liên khu 3, Hòa Bình, Phú Thọ đến mặt trận. Nhân dân đã huy động 11.800 chiếc thuyền để tiếp tế cho Mặt trận Điện Biên Phủ. Hơn 2 vạn xe đạp thồ phục vụ chiến dịch. Kỷ lục thồ tăng từ 160 lên 250kg, cao nhất là 325kg. Đông đảo dân công nam nữ ngày đêm trèo đèo lội suối, mặc gió mưa rét mướt, mặc máy bay địch oanh tạc quyết chở lương thực, đạn dược cho bộ đội đánh giặc. Trên 26 vạn dân công miền ngược, miền xuôi cả vùng tự do và vùng tạm bị chiếm đã phục vụ tiền tuyến trên ba triệu ngày công. Việc cung cấp tiếp tế cho một lực lượng lớn tác chiến trên một mặt trận rất xa hậu phương trong suốt thời gian dài đã được khắc phục. Nhân dân ta đã lập nên một kỳ tích ngoài sự tính toán của địch.


Ngày mồng 5 Tết, Bộ Chỉ huy chiến dịch triệu tập hội nghị cán bộ ở Mường Phăng, quán triệt phương châm tác chiến mới và tiến hành công tác chuẩn bị chiến đấu. Cuộc họp này thiếu đại biểu vì Đại đoàn 308 đang trên đường truy kích địch. Mở đầu cuộc họp, Đại tướng Võ Nguyên Giáp thay mặt Quân ủy Trung ương chúc Tết toàn quân sang năm mới thu nhiều thắng lợi mới và biểu dương những đơn vị đã kéo pháo ra an toàn. Đại tướng thông báo Hội nghị Trung ương và việc Bác đã phê chuẩn chủ trương tác chiến mới của Đảng ủy chiến dịch, thông báo quyết tâm của hậu phương sẽ dốc sức chi viện cho tiền tuyến tới khi giành toàn thắng. Tin chiến thắng trên các chiến trường Thượng Lào, Trung Lào, Hạ Lào, Tây Nguyên, trung du, đồng bằng Bắc Bộ và Nam Bộ đã mang lại sự phấn khởi cho hội nghị.


Câu hỏi lớn đặt ra là ta sẽ làm gì để giành thắng lợi trên mặt trận Điện Biên Phủ. Quân địch ở đây hiện có 12 tiểu đoàn và 7 đại đội bộ binh, phần lớn là quân tinh nhuệ bậc nhất của nước Pháp. Ngoài ra, chúng có 2 tiểu đoàn pháo 105mm (24 khẩu), 2 tiểu đoàn súng cối 120mm (20 khẩu), 1 đại đội pháo 155mm (4 khẩu), 1 đại đội xe tăng 18 tấn (10 chiếc). Lực lượng không quân thường trực tại sân bay Mường Thanh có 7 khu trục, 5 trinh sát, 4 máy bay vận tải và 1 trực thăng. Quân Pháp sẽ dành hai phần ba lực lượng máy bay ném bom toàn Đông Dương, 100% máy bay vận tải để yểm trợ trực tiếp cho Điện Biên Phủ trong trường hợp bị tiến công. Tổng số quân địch ở Điện Biên Phủ tính đến thời điểm đó là 16.200 tên. Với quân đông, hỏa lực mạnh, cộng với công sự vững chắc, bố phòng chặt chẽ, Điện Biên Phủ là một tập đoàn cứ điểm mạnh chưa từng có ở Đông Dương. Ngay trong chiến tranh thế giới lần thứ hai, quân Pháp cũng chưa hề xây dựng được một hệ thống phòng ngự dã chiến mạnh như ở Điện Biên Phủ.


Lực lượng của ta có 9 trung đoàn bộ binh, gồm 27 tiểu đoàn, 1 trung đoàn sơn pháo 75mm (24 khẩu), 2 tiểu đoàn lựu pháo 105mm (24 khẩu), 4 đại đội súng cối 120mm (16 khẩu), 1 trung đoàn cao xạ 37mm (24 khẩu) và 2 tiểu đoàn công binh.

So sánh lực lượng bộ binh ta hơn địch về số tiểu đoàn (27/12), nhưng quân số mỗi tiểu đoàn của ta chỉ bằng hai phần ba quân số tiểu đoàn địch và trang bị yếu hơn nhiều, về lực lượng pháo yểm trợ trực tiếp cho bộ binh ta hơn địch về số lượng (64/48), nhưng lượng dự trữ của ta về đạn pháo lại rất hạn chế. Ta không có xe tăng và chỉ có 1 trung đoàn cao xạ 37mm để đối phó với toàn bộ không quân địch. Tuy nhiên lợi thế của ta ở Điện Biên Phủ khá rõ. Ta chủ động tiến công, địch bị động phòng ngự, ta là lực lượng bao vây, địch là lực lượng bị bao vây. Lợi thế này cho phép ta tự quyết định đánh hoặc không đánh, lựa chọn địa điểm, thời gian mở cuộc tiến công.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #25 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2026, 08:48:45 pm »

Phương châm chiến dịch thay đổi, kế hoạch bố trí và sử dụng pháo binh phải sửa đổi lại. Sau 9 ngày đêm dùng sức người kéo pháo vào trận địa, các chiến sĩ bộ binh và pháo binh ta lại kéo pháo ra và cùng công binh mở đường kéo pháo vào trận địa mới. Bộ đội ta đã bí mật mở 5 tuyến đường để kéo 24 khẩu lựu pháo 105mm và 24 khẩu pháo cao xạ 37mm cùng chuyển hàng trăm tấn đạn vào trận địa mới.


Đầu tháng 3 năm 1954, công tác chuẩn bị mọi măt cho cuộc tấn công vào tập đoàn cứ điểm đã hoàn thành.

Ngày 11 tháng 3 năm 1954, sở chỉ huy nhộn nhịp hẳn lên, khi được Đại tướng - Tổng Tư lệnh thông báo có thư của Bác gửi cán bộ, chiến sĩ toàn mặt trận. Trong thư Bác có đoạn: "Các chú sắp ra mặt trân. Nhiệm vụ các chú lần này rất to lớn, khó khăn, nhưng rất vinh quang... Bác chờ các chú báo cáo thành tích để thưởng những đơn vị và cá nhân xuất sắc nhất. Chúc các chú thắng to. Bác hôn các chú".


17 giờ ngày 13 tháng 3 năm 1954, quân ta nổ súng. Chiến dịch Điện Biên Phủ bắt đầu. Pháo binh ta bắn vào Him Lam, phân khu Trung tâm, sân bay Mường Thanh. Nhiều hầm hào công sự của địch bị phá hủy. Tiểu đoàn trưởng, tiểu đoàn phó chỉ huy Him Lam, chỉ huy trưởng phân khu Trung tâm và toàn bộ ban tham mưu phân khu bị tiêu diệt. Trận địa pháo binh địch ở Mường Thanh bị tê liệt, kho xăng bốc cháy, 5 máy bay bị phá hủy.


Trung đoàn 141 và Trung đoàn 209 Đại đoàn 312 được pháo binh chiến dịch chi viện tiến đánh cứ điểm Him Lam. Quân địch bám công sự chống trả quyết liệt, Phan Đình Giót lấy thân mình lấp lỗ châu mai tạo điều kiện cho đồng đội tiến vào tung thâm... Đến 23 giờ 30 phút, ta tiêu diệt hoàn toàn cứ điểm Him Lam.


Đêm 14 rạng ngày 15 tháng 3 năm 1954, ta mở cuộc tiến công cụm cứ điểm đồi Độc Lập. Chỉ sau ba giờ chiến đấu ta đã tiêu diệt hoàn toàn cứ điểm. Đợt tiến công thứ nhất kết thúc, ta đã tiêu diệt nhanh gọn hai cụm cứ điểm kiên cố vào bậc nhất của địch là Him Lam và đồi Độc Lập, sau đó làm tan rã thêm 1 tiểu đoàn địch, chiếm luôn cứ điểm thứ ba là Bản Kéo. Ta đã tiêu diệt và bắt sống 2.000 tên địch, bắn rơi 12 máy bay, mở thông cửa vào trung tâm tập đoàn cứ điểm, uy hiếp nghiêm trọng sân bay Mường Thanh.


Ngày 16 tháng 3 năm 1954, địch tăng viện 3 tiểu đoàn nhảy dù cho tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

Đợt tiến công thứ hai của ta đánh đồng loạt các cứ điểm phía đông, phát triển trận địa tiến công chia cắt địch, thắt chặt vòng vây, không chế đi đến triệt hẳn tiếp tế của địch.

17 giờ ngày 30 tháng 3 năm 1954, cuộc tiến công vào các ngọn đồi phía đồng tập đoàn cứ điểm bắt đầu. Sau 45 phút, Trung đoàn 98 (Đại đoàn 316) tiêu diệt gọn 1 đại đội thuộc tiểu đoàn 1, trung đoàn 4 RTM, đánh chiếm đồi C1. Trung đoàn 141 (Đại đoàn 312) sau 1 giờ 30 phút chiến đấu cũng tiêu diệt gọn một bộ phận tiểu đoàn lính dù ngụy, chiếm đồi E. Trung đoàn 204 (Đại đoàn 312) sau 2 giờ chiến đấu, tiêu diệt tiểu đoàn 3, trung đoàn 3 RTA, đánh chiếm đồi D. Ngay đêm đó và cả ngày hôm sau quân địch tổ chức nhiều đợt phản kích nhưng đều bị ta đánh bại.


Cuộc chiến đấu trên đồi A1, điểm cao quan trọng nhất trong tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ diễn ra hết sức gay go. Trong đêm đầu, quân ta chiếm được hai phần ba cứ điểm. Đến tảng sáng và suốt ngày hôm sau, địch cho nhiều lực lượng có pháo binh, xe tăng yểm trợ chiếm lại một phần cứ điểm. Ta và địch giành đi giật lại quyết liệt từng tấc đất. Quân địch dựa vào hầm ngầm và trận địa kiên cố liên tiếp phản kích. Đến ngày 4 tháng 4 mỗi bên giữ một nửa điểm cao. Ở đồi A1, giữa trận địa ta và địch hoàn toàn không có vật cản nên tính quyết liệt càng lớn.


Bộ Chỉ huy mặt trận chủ trương đẩy mạnh việc xây dựng trận địa tiến công và bao vây quân địch khắp các mặt trận Đông, Tây, Nam, Bắc, chia phân khu Nam và phân khu Trung tâm, bảo đảm cho bộ đội từ núi cao tiến xuống cánh đồng Mường Thanh chiến đấu với địch trên địa hình trống trải và bằng phẳng cả ban ngày lẫn ban đêm. Cơ quan tham mưu chiến dịch hướng dẫn các đơn vị xây dựng trận địa. Đại đoàn 308 xây dựng trận địa trên cánh đồng phía tây. Đại đoàn 312 phụ trách trận địa phía đông. Đại đoàn 316 phụ trách trận địa cánh cung cắt rời phân khu Hồng Cúm với phân khu Trung tâm.


Lúc này, việc tiến công cứ điểm A1 đã thu hút tâm trí các đồng chí cơ quan tham mưu chiến dịch. Qua nghiên cứu địa hình tôi nói với anh Trần Văn Quang, Cục trưởng Cục Tác chiến:

- Anh Quang ạ, cứ điểm A1 là điểm cao quan trọng nhất khống chế toàn bộ Mường Thanh. Hiện nay ta chiếm một nửa, địch chiếm một nửa. Hay ta đào một đường hầm từ trận địa của ta đến chân hầm ngầm của địch, rồi đưa một lượng bộc phá lớn vào đó đánh sập hầm địch, anh thấy thế nào?

Suy nghĩ một lát, anh Trần Văn Quang đập mạnh vào vai tôi:

- Hay, hay lắm! Tôi sẽ báo ngay với anh Văn.

Thế rồi kế hoạch đào một đường hầm để đưa một lượng thuổc nổ 1.000kg được giao cho Đại đoàn 316. Tôi ngày 20 tháng 4 năm 1954, anh Lê Quảng Ba - Tư lệnh Đại đoàn trực tiếp chỉ đạo đào đường hầm dưới lòng đất vào cứ điểm A1.

Suốt trong quá trình diễn biến của chiến dịch, ngoài việc tham gia vào kế hoạch tác chiến, chúng tôi còn phải trực tiếp nắm chắc tình hình quân số của từng đơn vị, mức độ tổn thất của ta qua từng trận đánh, từng đợt chiến đấu, kịp thời có kế hoạch điều chuyển, bổ sung, bảo đảm lực lượng để chiến đấu liên tục dài ngày. Bộ đội chiến đấu trong điều kiện vô cùng ác liệt, nên ngoài số hy sinh, tỷ lệ bị thương tương đối lớn, chúng tôi đã cùng quân y mặt trận tổ chức phân loại thương tật, phân tuyến điều trị hợp lý, giảm tỷ lệ tử vong, đồng thời có thể huy động những trường hợp bị thương nhẹ sau khi bình phục trở lại đơn vị chiến đấu.


Bước sang đợt hai chiến dịch, theo chỉ thị của Đại tướng Tổng Tư lệnh, Cục Quân lực chúng tôi gấp rút tiến hành chuẩn bị cho việc thành lập Đại đoàn pháo phòng không 367. Chúng tôi đã phối hợp với cơ quan cán bộ điều động một số cán bộ, chiến sĩ đang tham gia chiến dịch. Điều Trung đoàn 55 bộ binh Quân khu 4 ra thành lập Đoàn 305 tiến hành xây dựng trận địa, kho tàng, cử người đi học pháo binh ở Trung Quốc.


Trung tuần tháng 4 năm 1954, chiến hào của ta từ hai hướng đông và tây khép vào cắt đứt phân khu Nam và phân khu Trung tâm, cắt đôi tập đoàn cứ điểm. Từ ngày 15 tháng 4, bộ đội ta lại từ giữa sân bay Mường Thanh đào ra, từ ngoài đào vào cắt đôi sân bay. Tập đoàn cứ điểm địch bị cắt ra từng khúc. Phạm vi đóng quân của địch thu hẹp mỗi chiều chỉ còn 1.200 đến 1.300m. Tất cả nguồn tiếp tế của địch chỉ còn trông vào việc thả dù. Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ thực sự trở thành địa ngục đối với quân địch.


Ngày 22 tháng 4 năm 1954, Tiểu đoàn hỏa tiễn 224 được thành lập. Chúng tôi điều ngay một đại đội của tiểu đoàn này lên Điện Biên Phủ để tham gia đợt tiến công thứ ba.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #26 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2026, 08:54:59 pm »

Đợt tiến công thứ ba bắt đầu vào đêm 1 tháng 5 năm 1954. Quân ta đánh chiếm các điểm cao còn lại ở phía đông, thu hẹp phạm vi chiếm đóng của địch ở phía tây, tổng công kích, tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Điện Biên Phủ.

Trung đoàn 98 (Đại đoàn 316) nhanh chóng tiêu diệt quân địch còn kiểm soát một nửa đồi C1. Trung đoàn 209 (Đại đoàn 312) tiêu diệt hai vị trí 505 và 505A, dưới chân các ngọn đồi phía đông ở tả ngạn sông Nậm Rốm. Trung đoàn 88 (Đại đoàn 308) tiêu diệt vị trí 311A ở phía tây. Trung đoàn 57 (Đại đoàn 304) đánh lấn vào khu C, phía đông bắc phân khu Nam.


Đêm 3 tháng 5, Trung đoàn 36 (Đại đoàn 308) tiêu diệt vị trí 311B. Bộ đội ta chỉ còn cách sở chỉ huy địch 300m.

Ngày 4 tháng 5, địch thả tiểu đoàn dù dự bị cuối cùng xuống Điện Biên Phủ.

18 giờ ngày 6 tháng 5 năm 1954, pháo binh ta và đại đội hỏa tiễn sáu nòng bắn dồn dập vào tung thâm quân địch. Đến 21 giờ ngày 6 tháng 5 bộ đội công binh cho nổ khối thuốc 1.000kg TNT đặt giữa đồi A1. Trung đoàn 174 (Đại đoàn 316) chia làm nhiều mũi đánh vào tiêu diệt đơn vị quân dù lê dương ở điểm cao cuối cùng đồi A1. Trung đoàn 9 (Đại đoàn 304) tiêu diệt đồi C2. Trung đoàn 209 (Đại đoàn 312) đánh chiếm vị trí 310 ở phía tây.


Sáng ngày 7 tháng 5 năm 1954, địch vẫn còn phản kích. 14 giờ ngày 7 tháng 5, Tiểu đoàn 130 Trung đoàn 209 Đại đoàn 312 tiến công vị trí 507 ở gần cầu Mường Thanh. Binh lính địch kéo cờ trắng ra hàng. Hai vị trí địch trên tả ngạn sông Nậm Rốm cũng bị tiêu diệt. Từ các hướng quân ta tiến vào khu trung tâm tập đoàn cứ điểm Điện Biẽn Phủ.


17 giờ 30 phút ngày 7 tháng 5 năm 1954, tướng Đờ Cát-tớ-ri và bộ tham mưu tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ ra hàng. Lá cờ "Quyết chiến, quyết thắng" được Bác trao cho quân đội ta phất cao trên nóc hầm chỉ huy tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

Ngay trong đêm, Đại đoàn 304 tiến công vào phân khu Nam. Quân địch ở đây còn trên 2.000 tên tháo chạy. Quân ta đuổi đánh, đến nửa đêm toàn bộ quân địch bị bắt.

Ngày 8 tháng 5 năm 1954, Bộ Chỉ huy chiến dịch nhận được thư Bác. Bác viết: "Quân ta đã giải phóng Điện Biên Phủ, Bác và Chính phủ thân ái gửi lời ngợi khen cán bộ, chiến sĩ, dân công, thanh niên xung phong và đồng bào địa phương đã làm tròn nhiệm vụ một cách vẻ vang.


Thắng lợi tuy lớn nhưng mới là bắt đầu. Chúng ta không nên vì thắng mà kiêu, không nên chủ quan khinh địch. Chúng ta kiên quyết kháng chiến để tranh lại độc lập, thống nhất, dân chủ, hòa bình. Bất kỳ đấu tranh về quân sự hay ngoại giao cũng đều phải đấu tranh trường kỳ gian khổ mới đi đến thắng lợi hoàn toàn...".


Hai ngày sau khi cuộc chiến đấu kết thúc, Đại tướng Võ Nguyên Giáp dẫn đầu một đoàn cán bộ từ Mường Phăng tới thăm chiến trường Điện Biên Phủ. Trạm tù binh ở rải rác hai bên đường. Một số tên tắm giặt ở suối dưới sự canh gác của những chiến sĩ trẻ, bé nhỏ, vẻ mặt hiền lành. Dọc đường đoàn dừng lại vào thăm một đơn vị pháo binh. Điều kiện chiến đấu ăn ở của các đồng chí pháo binh khá tươm tất.


Ta đã thông báo cho địch biết thương binh của tập đoàn cứ điểm tập trung ở Mường Thanh, nên mấy ngày này máy bay quân Pháp không hoạt động tại khu vực này.

Xe chúng tôi dừng lại trước cụm cứ điểm Him Lam với ba quả đồi đứng chụm vào nhau bên phải đường 41. Chúng tôi trèo lên đồi xem xét vị trí địch chúng đã chọn một địa thế rất có lợi cho việc phòng ngự. Đồng chí cán bộ chỉ huy chiến đấu ở đây đưa chúng tồi vào xem một ụ súng, trong đó địch đặt một khẩu trung liên có kính ngắm tia hồng ngoại để phát hiện ta ban đêm. Chúng tôi nhìn qua lỗ châu mai thấy ở đây kiểm soát một khu vực rất rộng. Đi khỏi Him Lam, trước mặt chúng tôi hiện ra cánh đồng Mường Thanh. Bên trái, dãy đồi phía đông của tập đoàn cứ điểm không còn một ngọn cỏ. Bên phải đường 41, từ chân những quả đồi ra đến bờ sông Nậm Rốm là những căn cứ địch dày đặc, chỗ nào cũng chỉ thấy chiến hào, ụ súng và dây thép gai. Chúng tôi đi qua chiếc cầu sắt bắc ngang sông Nậm Rốm nối liền khu đông với trung tâm Mường Thanh. Đứng giữa Mường Thanh, trên là trời, dưới là hầm hố, dây thép gai và súng đạn, xe cộ ngổn ngang. Tôi nhìn thấy một chiếc máy bay cắm đầu xuống đất, không xa sở chỉ huy Đờ Cát là mấy.


Chúng tôi lên xem đồi A1. Từ đỉnh đồi ta có thể nhìn rõ toàn bộ hình thái của tập đoàn cứ điểm và trận địa chiến hào của ta. Nhìn toàn bộ tập đoàn cứ điểm địch, chúng tôi thấy rõ điểm mạnh của nó và cũng rõ vì sao địch đã chống giữ được ở đây 55 ngày đêm.    Sau đó chúng tôi đi thăm sân bay, thăm đồi Độc Lập. Từ đồi Độc lập trở về, chúng tôi đi Hồng Cúm, ghé qua bản Noong Nhai, nơi địch đã ném bom tàn sát mấy trăm đồng bào ta bị chúng tập trung ở đây. Xe không thể đi tiếp đến Hồng Cúm vì đường hào trục vẫn còn cắt ngang.


Ngày 13 tháng 5 năm 1954, ta tổ chức lễ duyệt binh mừng chiến thắng Điện Biên Phủ tại khu đồi phía đông sở chỉ huy Mường Phăng. Đại diện các đơn vị tham chiến và Bộ Chỉ huy chiến dịch đều có mặt đông đủ. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đọc nhật lệnh tuyên dương công trạng các đơn vị trong toàn quân đã dũng cảm gan dạ, bền bỉ, chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn, góp phần giành đại thắng cho chiến dịch Điện Biên Phủ. Cám ơn anh chị em dân công, đồng bào Tây Bắc và đồng bào hậu phương đã ra sức chi viện cho tiền tuyến. Đại tướng hoan nghênh tinh thần đoàn kết, phối hợp chiến đấu của hai nước bạn Lào và Cam-pu-chia. Cuối cùng Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói:

- Nhân danh Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam, tôi hạ lệnh cho toàn thể cán bộ, chiến sĩ trên khắp các chiến trường toàn quốc phải tích cực chiến đấu để củng cố và khuếch trương thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ, củng cố và khuếch trương kết quả của chiến thắng Đông - Xuân tiến tới những thắng lợi rực rỡ hơn nữa.

Đại đoàn 312 được vinh dự nhận cờ Quyết chiến quyết thắng của Bác trao.

Mọi người có mặt vỗ tay như sấm, nét mặt ai nấy đều rạng rỡ niềm vui chiến thắng.

Ngày hôm sau, các đại đoàn tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ được lệnh chuyển gấp về xuôi để phát triển thắng lợi. Đại đoàn 308 về Thái Nguyên và Bắc Giang. Đại đoàn 312 về Vĩnh Yên và Phúc Yên. Đại đoàn 304 đưa Trung đoàn 4 về Nam Định và Ninh Bình. Riêng Đại đoàn 316 nhận nhiệm vụ thu dọn chiến trường, đưa tù binh về trại giam, sau đó để lại Điện Biên Phủ một trung đoàn còn toàn bộ sư đoàn chuyển về Thanh Hóa.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #27 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2026, 08:57:16 pm »

Trước khi sở chỉ huy chiến dịch dời về đồng bằng, tôi phân công anh Nguyễn Thục Phán phối hợp với anh em bên Cục Quân khí cùng đơn vị Đại đoàn 316 thu dọn chiến trường.

Sau đó anh em báo cáo, chiến lợi phẩm thu được ở Điện Biên Phủ rất lớn, gồm: 1.288 tấn vũ khí đạn dược (gần bằng tổng số 1.456 tấn vũ khí đạn dược mà ta đảm bảo cho toàn chiến dịch). Trong đó đáng kể có 30 khẩu pháo 105mm và 155mm và 6 xe tăng, về quân trang cấp dưỡng, đáng kể là 30.000 chiếc dù.


Năm 2004, nhân kỷ niệm 50 năm Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, Nguyễn Mạnh Đẩu, con rể tôi, lúc đó là Thiếu tướng - Phó hiệu trưởng chính trị Trường Sĩ quan Lục quân 1 mời tôi và con trai tôi (Trần Hùng, đại tá, Giám đốc Trung tâm 2 thuộc Cục Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng - Tổng cục Kỹ thuật) đang ở Thành phố Hồ Chí Minh trở lại Điện Biên. Tôi nhận lời...


Từ sân bay Nội Bài, sau 50 phút bay, máy bay đã hạ cánh xuống sân bay Mường Thanh. Đại diện Bộ Tư lệnh Quân khu 2 và Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Điện Biên ra tận cầu thang máy bay đón chúng tôi. Những cô gái Thái ôm những bó hoa tươi thắm tặng từng người trong đoàn. Ấn tượng đầu tiên đối với tôi, Điện Biên đã thay da đổi thịt. Sân bay Mường Thanh được nâng cấp để đón khách về dự kỷ niệm 50 năm ngày chiến thắng.


Từ sân bay về nhà khách, tôi được anh em cho biết, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đang nghỉ ở nhà khách Tỉnh ủy. Thế là tôi bảo lái xe rẽ vào. Nguyễn Mạnh Đẩu lên phòng, một lát sau, anh Trần Văn Quang cùng đi xuống. Anh Quang sinh ra trong một gia đình cách mạng ở xã Nghi Hoa, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Anh ruột anh là Trần Văn Cung, một trong bảy đảng viên của chi bộ ở Hàm Long - Chi bộ đầu tiên của Đảng ta. Anh Quang là bạn tù với tôi ở nhà lao Buôn Ma Thuột, bạn chiến đấu ở chiến trường Trị - Thiên. Chúng tôi chạy lại ôm nhau nghẹn ngào.


Anh Trần Văn Quang cùng tôi đến chào Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Tôi đi về phía Đại tướng ở tiền sảnh nhà khách Tỉnh ủy Điện Biên. Vừa nhìn thấy tôi, Đại tướng ôm choàng lấy tôi vỗ vỗ vào lưng: "Ơi anh Sâm! Ơi anh Sâm! Bao năm ta gặp lại nhau đây!".

Cuộc gặp gỡ đầy bất ngờ và thú vị. Một Tổng Tư lệnh - Chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ, một Trần Văn Quang - Cục trưởng Cục Tác chiến và tôi - Cục trưởng Cục Quân lực. Nửa thế kỷ đã trôi qua, hôm nay gặp nhau giữa lòng Điện Biên Phủ trong ngày hội lớn còn gì vui hơn.


Những ngày ở Điện Biên, việc đầu tiên là chúng tôi thắp hương cho đồng đội ở nghĩa trang đồi A1, rồi đi thăm lại chỉ huy sở ở Mường Phăng, thăm nhà Tác chiến nơi giao ban hàng ngày của Bộ Chỉ huy chiến dịch, thăm Him Lam, Hồng Cúm, thăm nhà trưng bày chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ.


Hôm đứng trên ngọn đồi A1, Nguyễn Mạnh Đẩu đọc cho chúng tôi nghe bài thơ Đẩu vừa làm. Tôi xin ghi lại bài thơ về Điện Biên của con rể tôi:
   Con về Điện Biên tròn phần hai thế kỷ
   Từ thuở cha đánh Pháp trận cuối cùng
   Ôi Điện Biên chiến thắng lẫy lừng
   Tỏa sáng ngàn năm bất hủ
   Những chiến binh băng mình trong máu lửa
   Đã tạc vào lịch sử đoá hoa cương
   Con đã vào Chỉ huy sở Mường Phăng
   Nơi Đại tướng cùng Bộ tham mưu chiến dịch
   Ôi trí tuệ tuyệt vời, quyết tâm bằng thép
   Vạch trúng con đường xuyên thẳng tới trung tăm.
   Con về thăm A1, Hồng Cúm, Him Lam
   Những chiến tích vô cùng oanh liệt
   Giành giật đem ngày máu thấm từng tấc đất
   Có chiến công nào chẳng đổi những hy sinh
   Con đã vào đây từ dốc ấy, Pha Đin
   Nhớ thuở ông cha bàn chân trần khứa máu
   Từ muôn ngả non sông về đây hội tụ
   Vực thẳm đèo cao in dấu những đoàn quân...
   Chúng con về đây xin dâng nén hương thơm
   Kính cẩn tâm linh, những hàng bia thẳng lối
   Di tích trầm hùng - chất chứa điều nhắn gửi
   Hãy từ Điện Biên rọi sáng tới tương lai.



Tôi nghĩ, phải bằng cách nào đó để có thể nói lại với mai sau về những sự tích anh hùng của cuộc kháng chiến chống Pháp. Phải làm sao để các thế hệ mai sau không lãng quên quá khứ anh hùng ấy của dân tộc. Nhưng phải chăng, thật buồn, có lúc có nơi, chúng ta đã quên đi ít nhiều.


Không! Chúng ta phải tựa vững vào quá khứ, tựa vào lịch sử như tựa vào một bức tường thành bền vững để từ đó mà tiến lên.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #28 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2026, 09:02:23 pm »

Chương bốn
THAM GIA XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI NHỮNG NĂM ĐẦU HÒA BÌNH


Ngày 20 tháng 7 năm 1954, Hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia được ký kết tại Giơ-ne-vơ. Với hiệp định này các nước tham gia hội nghị công nhận độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam ta. Quân đội Pháp rút khỏi Đông Dương. Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam quy định lấy vĩ tuyến 17 làm giới tuyến quân sự tạm thời để lực lượng hai bên tập kết. Quân đội nhân dân Việt Nam ở phía Bắc giới tuyến. Quân đội liên hiệp Pháp ở phía Nam giới tuyến. Giới tuyến quân sự chỉ có tính chất tạm thời, hoàn toàn không thể coi như một biên giới lãnh thổ. Thời gian tổng tuyển cử thống nhất nước Việt Nam được ấn định vào tháng 7 năm 1956.


Đến 0 giờ ngày 2 tháng 7 năm 1954, Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam, Đại tướng Võ Nguyên Giáp ra lệnh ngừng bắn trên toàn chiến trường Việt Nam. Đây là thời điểm đánh dấu quân đội ta cùng toàn dân kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ. Lịch sử quân đội ta và nhân dân ta chuyển sang giai đoạn mới.


Đầu tháng 8 năm 1954, Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam rời Điềm Mạc và khu vực chân núi Hồng chuyển về đóng quân tại Vai Cầy, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, gần chân núi Tam Đảo, thuận tiện cho việc chỉ đạo triển khai công tác chuẩn bị lực lượng vào tiếp quản Thủ đô Hà Nội, sẵn sàng đón các cơ quan Trung ương Đảng, Chính phủ trở về Thủ đô!


Tháng 9 năm 1954, ngày tạm biệt căn cứ địa ATK (an toàn khu) diễn ra hết sức cảm động, lưu luyến giữa kẻ ở người đi. Đội hình hành quân của Bộ Quốc phòng - Tổng Tư lệnh chia thành hai bộ phận. Bộ phận lớn hành quân cơ giới đi ngược trở lại con đường năm xưa ta hành quân lên ATK tiến hành kháng chiến, tức là từ Đại Từ đi Đèo Khế - Sơn Dương - Bình Ca - Phú Thọ - Trung Hà - thị xã Sơn Tây. Đến Sơn Tây thì dừng chân trong Thành cổ Sơn Tây. Thời gian ở đây khoảng 1 tháng, tiếp tục công tác chỉ đạo toàn quân thực hiện Hiệp định Giơ-ne-vơ, chuẩn bị cho việc tiếp quản các thành phố, thị xã và tiếp quản khu vực 300 ngày. Còn bộ phận nhỏ gồm số anh em đi công tác về chậm, số sức khoẻ yếu và các chị em có con mọn (Cục Quân lực lúc đó có chị Phương Minh Hiền mới sinh) cũng hành quân bằng cơ giới, đến Phú Thọ rẽ theo đường số 2 qua Đông Anh theo đường số 3, qua cầu Long Biên về Hà Nội sau.


Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc, thực hiện chủ trương chuẩn bị cơ sở vật chất, kỹ thuật bảo đảm yêu cầu xây dựng quân đội trước mắt và lâu dài, Tổng Quân ủy và Bộ Quốc phòng tổ chức tiếp nhận khẩn cấp hàng viện trợ quốc tế, với mật danh "Kế hoạch Z".


Với "Kế hoạch Z", trong vòng tháng 7 và tháng 8 năm 1954, Tổng cục Hậu cần và Cục Quân lực tổ chức tiếp nhận lượng hàng viện trợ còn lại của kế hoạch năm 1954 và hàng viện trợ khẩn cấp qua hai cửa khẩu: Thủy Khẩu (Cao Bằng) và Đồng Đăng (Lạng Sơn). Cục Quân lực cử anh Phan Phúc Tường - Cục phó tham gia Ban chỉ đạo. Ban chỉ đạo tổ chức tiếp nhận khối lượng lớn hàng hóa trong điều kiện thời gian ngắn, phương tiện vận chuyển, kho tàng thiếu, lại phải bảo đảm tuyệt đối bí mật là một khó khăn lớn. Nhưng bằng kinh nghiệm tích lũy qua những lần tiếp nhận viện trợ quốc tế trước, anh Phan Phúc Tường và các anh trong ban chỉ đạo đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Đầu tháng 9 năm 1954, "Kế hoạch Z" đã kết thúc thắng lợi. Ta đã tiếp nhận 11.546 tấn vũ khí trang bị và 1.116 ô tô các loại bảo đảm bí mật, an toàn.


Thực hiện Hiệp định Giơ-ne-vơ và thỏa thuận giữa hai phái đoàn quân sự Việt Nam và Pháp tại Hội nghị quân sự Trung Giã (từ ngày 4 đến 27 tháng 7 năm 1954), hai bên phải trao trả tù binh và thường dân bị bắt. Theo sự phân công của Tổng Quân ủy và Bộ Quốc phòng, anh Lê Quang Đạo - Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị trực tiếp phụ trách trao trả tù hàng binh. Cục Quân lực và Cục Địch vận chịu trách nhiệm chủ yếu tổ chức thực hiện. Cục Tác chiến có nhiệm vụ tham gia một số phần việc trong quá trình trao trả.


Việc trao trả tù binh giữa hai bên được tiến hành ở hai nơi là Việt Trì (Phú Thọ) và Hải Thôn, thị trấn Sầm Sơn (Thanh Hóa).

Là cơ quan chủ trì công tác trao trả tù binh, sau khi nắm chắc số lượng quân nhân, cán bộ, thường dân của ta bị địch bắt và tù hàng binh của Pháp, lên kế hoạch tiến hành trao trả cụ thể, tôi và anh Phan Phúc Tường cùng nhiều cán bộ, nhân viên Cục Quân lực đã trực tiếp lên Việt Trì và vào Sầm Sơn để chỉ đạo công tác trao trả. Do nắm chắc số người của ta bị địch bắt, tôi đã trực tiếp đấu tranh với phía bên kia về những thủ đoạn gian trá của họ.


Bằng sự nỗ lực rất cao của cơ quan và đơn vị, đến ngày 4 tháng 9 năm 1954, việc trao trả tù hàng binh đã cơ bản hoàn thành. Ta đã trao trả cho Pháp 13.414 tù hàng binh (kể cả số bị bắt ở Lào là 695 người và 546 người bị thương, bị ốm ta đã trao trả trước). Trong số ta trao trả có 9.247 tù binh Âu - Phi, gồm 1 cấp tướng, 3 đại tá, 12 trung tá, 38 thiếu tá, 530 sĩ quan cấp úy. Phía Pháp trả cho ta 68.359 cán bộ, chiến sĩ và thường dân bị bắt. Trong đó 11.014 quân nhân. Số cán bộ bị bắt gồm 5 cấp khu, 16 cấp tỉnh, 652 cấp huyện, 7.387 cấp xã, 3 cán bộ trung đoàn, 2 cán bộ tiểu đoàn và 925 cán bộ đại đội.


Việc trao trả tù hàng binh và dân thường bị bắt mặc dù chưa đạt được ý muốn nhưng cũng đã đạt kết quả tốt. Thắng lợi này đã làm thất bại âm mưu trì hoãn, kéo dài việc trao trả của địch, buộc chúng phải thực hiện nghiêm chỉnh các điều khoản của Hiệp định Giơ-ne-vơ. Đó là thắng lợi của ý chí và tình cảm thân thương đối với đồng chí, đồng bào ta bị địch bắt giam trong nhà tù của chúng. Đối với tù hàng binh địch, ta đã thể hiện chính sách nhân đạo, bảo đảm chế độ cung cấp đầy đủ. Cùng với thực hiện trao trả tù hàng binh, Bộ Tổng tham mưu còn chỉ thị các cơ quan tổ chức đón tiếp các đơn vị cán bộ và thân nhân ở miền Nam, Lào và Cam-pu-chia tập kết ra miền Bắc. Tổng tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng gọi tôi lên giao nhiệm vụ: "Anh khẩn trương liên hệ với các chiến trường, mặt trận nắm lực lượng bộ đội tập kết ra Bắc và lực lượng ở lại miền Nam chuẩn bị cho chủ trương chiến lược lâu dài khi địch phản bội hiệp định. Từ đó lập kế hoạch xây dựng cơ sở đón tiếp, bảo đảm cung cấp và có kế hoạch chấn chỉnh biên chế tổ chức các đơn vị tập kết phù hợp với tình hình nhiệm vụ mới!".
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #29 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2026, 09:03:57 pm »

Bắt đầu từ tháng 9 năm 1954 đến trung tuần tháng 5 năm 1955, việc tổ chức chuyển quân tập kết và đón tiếp đồng bào, chiến sĩ miền Nam tập kết, bộ đội ở Lào trở về đã kết thúc thắng lợi. Hơn 12 vạn người đã được đón tiếp, sắp xếp nơi ăn nghỉ chu đáo. Việc làm đó đã góp phần động viên cán bộ, chiến sĩ và đồng bào miền Nam những ngày đầu ra miền Bắc. Cục Quân lực chúng tôi đã chủ động cung cấp quân số tập kết cho Ban chỉ đạo, chủ động phối hợp với các cơ quan có liên quan chuẩn bị kế hoạch đón tiếp, huy động phương tiện vận chuyển, bố trí ăn nghỉ, đã góp phần quan trọng vào thắng lợi của việc chuyển quân tập kết. Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng từ ngày 15 đến 18 tháng 7 năm 1954, nêu rõ: "Tăng cường Quân đội nhân dân Việt Nam là nhiệm vụ rất quan trọng của Đảng, Chính phủ và toàn thể nhân dân ta, cần phải xây dựng quân đội nhân dân thành một quân đội cách mạng, chính quy, tương đối hiện đại".


Chấp hành Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng tham mưu đã từng bước nghiên cứu kế hoạch xây dựng quân đội thích ứng yêu cầu nhiệm vụ mới. Tháng 8 năm 1954, anh Văn Tiến Dũng - Tổng tham mưu trưởng giao cho tôi làm Trưởng ban nghiên cứu xây dựng lực lượng vũ trang. Ban này còn có Cục trưởng Cục Tổ chức làm phó ban cùng một số cán bộ chuyên viên Cục Quân lực. Ngày 21 tháng 8 năm 1954, Ban nghiên cứu đã hoàn thành đề án kế hoạch xây dựng quân đội từ tháng 8 năm 1954 đến tháng 6 năm 1955.   Đề án đề cập một số vấn đề cấp thiết về xây dựng quân đội từ chiến tranh chuyển sang hòa bình.


Ngày 17 tháng 9 năm 1954, Tổng Quân ủy phê chuẩn đề án kế hoạch xây dựng quân đội do Ban nghiên cứu soạn thảo. Để triển khai thực hiện kế hoạch xây dựng quân đội 1 năm (8.1954 - 6.1955), Cục Quân lực cùng với các cơ quan có liên quan trong Bộ Tổng tham mưu đã đề xuất ý kiến sơ bộ về việc thực hiện chỉnh biên bộ đội chủ lực, nhằm thống nhất về biên chế, huấn luyện và chỉ huy.


Phương án chỉnh biên tập trung vào xây dựng 6 đại đoàn bộ binh hiện có, 3 đại đoàn lựu pháo, 1 đại đoàn cao xạ và tập trung bộ đội địa phương thành 4 đại đoàn mới, thiết lập tổng đội phòng ngự bờ biển.

Trung tuần tháng 9 năm 1954, Tổng Tư lệnh ra mệnh lệnh chỉnh biên bước thứ nhất, tập trung ở 6 đại đoàn bộ binh và các đơn vị pháo binh. Tổng Tư lệnh quy định các đại đoàn thực hiện biên chế tạm thời và phải hoàn thành chậm nhất trước ngày 20 tháng 11 năm 1954.


Trong quá trình thực hiện, Cục Quân lực đã thực hiện tốt vai trò cơ quan tham mưu giúp Bộ Tổng tham mưu phối hợp cùng Tổng cục Chính trị, Tổng cục Hậu cần theo dõi chỉ đạo và giúp đơn vị chấn chỉnh biên chế tổ chức. Đến tháng 11 năm 1954, toàn quân đã hoàn thành việc chỉnh biên 6 đại đoàn (308, 304, 312, 316, 320, 325). Biên chế mới thực hiện theo chủ trương gọn, nhẹ, giảm bớt quân số, tăng thêm trang bị ở mỗi cấp, nhất là vũ khí hỏa lực mạnh như: Bazôka ở đại đội, ĐKZ 57 ở tiểu đoàn, ĐKZ 75 và pháo 70mm ở trung đoàn, cao xạ 37mm ở cấp đại đoàn và tăng cường phương tiện thông tin liên lạc.


Tháng 12 năm 1954, Cục Quân lực chúng tôi và các cơ quan liên quan giúp Bộ Tổng tham mưu hoàn chỉnh đề án xây dựng lực lượng biên phòng, trình lên Bộ Quốc phòng. Theo đề án này, bộ đội tình nguyện ở Lào sau khi tập kết về nước được xây dựng thành Bộ đội Biên phòng lúc đầu có tên là Tổng đội Biên phòng, do Bộ Tổng tư lệnh trực tiếp chỉ đạo. Tổng đội Biên phòng gồm 4 trung đoàn, có nhiệm vụ: Bảo vệ biên giới, chống xâm lược, giúp địa phương phát triển dân quân du kích, củng cố cơ sở dọc theo biên giới Việt - Lào. Phạm vi đóng quân và hoạt động chia làm bốn khu vực. Khu vực thứ nhất từ biên giới Việt - Trung đến Mường Hung; khu vực thứ hai từ biên giới Mường Hung đến sông Chu (Thanh Hóa); khu vực thứ ba từ Quỳ Châu đến đường số 7 (Nghệ An); khu vực thứ tư từ nam đường số 7 đến vĩ tuyến 17. Bộ Tư lệnh Biên phòng được thành lập trên cơ sở Bộ Tư lệnh Thượng Lào.


Trong tháng 12 năm 1954, Cục Quân lực báo cáo Bộ Tổng tham mưu cụ thể kế hoạch xây dựng các đơn vị bộ đội miền Nam, bộ đội tình nguyện ở Lào và bộ đội địa phương trong 6 tháng đầu năm 1955.

Về xây dựng bộ đội miền Nam, thực hiện chỉ thị của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy - Bộ Tổng tư lệnh, để chủ động đối phó với tình huống đối phương phản bội Hiệp định Giơ-ne-vơ, Bộ Tổng tham mưu chỉ đạo các liên khu miền Nam ngoài việc chuẩn bị chấn chỉnh lực lượng ra Bắc tập kết theo kế hoạch cần phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương bí mật cất giấu vũ khí, trang bị quân sự và bố trí những cán bộ, đảng viên trung kiên chưa bị lộ ở lại hoạt động.


Việc xây dựng lực lượng bộ đội miền Nam sau khi tập kết ra Bắc, đáp ứng yêu cầu tình hình mới là vấn đề được Tổng Quân ủy, Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng tham mưu đặc biệt quan tâm. Vì vậy, đầu tháng 11 năm 1954, Tổng Quân ủy quyết định thành lập tổ phụ trách xây dựng lực lượng bộ đội miền Nam tập kết do các đồng chí Hoàng Văn Thái, Trần Văn Trà và Nguyễn Chánh chủ trì, giúp Tổng Quân ủy làm kế hoạch và tổ chức thực hiện.


Trung tuần tháng 11 năm 1954, tổ phụ trách xây dựng lực lượng miền Nam họp đề nghị Tổng Quân ủy một số vấn đề về tổ chức lực lượng bộ đội miền Nam tập kết. Hội nghị này anh Hoàng Văn Thái mời tôi cùng dự. Anh Hoàng Văn Thái giao cho tôi giúp Bộ Tổng tham mưu thảo đề án xây dựng bộ đội Nam Bộ và bộ đội Liên khu 5. Theo đề án do tôi chuẩn bị trình Tổ phụ trách xây dựng lực lượng bộ đội miền Nam thì Nam Bộ tổ chức một đại đoàn chung - Đại đoàn 330, gồm hai trung đoàn miền Đông, một trung đoàn miền Tây và Lữ đoàn 338, được tổ chức huấn luyện, trang bị theo hướng chính quy hóa.


Ngày 10 tháng 10 năm 1954, một ngày lịch sử. Đúng 5 giờ sáng, hết giờ giới nghiêm, cả Hà Nội tưng bừng náo nhiệt ngày hội lớn, ngày hội chiến thắng. Thủ đô hoàn toàn giải phóng. Nhân dân quần áo chỉnh tề, cờ hoa rực rỡ, đứng đông nghịt trên các hè phố được thông báo là có bộ đội đi qua. Trong Sở chỉ huy Bộ Tổng tham mưu ở Sơn Tây trực ban tác chiến theo dõi chặt chẽ tình hình từ Sở chỉ huy Đại đoàn 308 ở sân bay Bạch Mai báo về.


8 giờ sáng ngày 10 tháng 10, dưới quyền chỉ huy của anh Vương Thừa Vũ, Đại đoàn 308 và các đơn vị phối thuộc qua các cửa ô tiến vào Hà Nội trong niềm hân hoan vô bờ của nhân dân Thủ đỏ Hà Nội.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM