Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:11:53 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Nhớ một thời quân ngũ  (Đọc 5302 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« vào lúc: 16 Tháng Chín, 2026, 07:02:55 pm »

- Tên sách: Nhớ một thời quân ngũ
- Tác giả:
- Nhà xuất bản: Quân đội nhân dân
- Năm xuất bản: 2007
- Người số hóa: macbupda, thongdiepthoigian


Lời thưa cùng bạn đọc


Hà Nội nay đã vào Thu, mùa Thu Đinh Hợi (2007) này, tôi vừa tròn 65 tuổi đời và gần 50 tuổi quân.

Trong dòng đời mải miết trôi, đã bao lần tôi dừng lại - dù chỉ một thoáng thôi; ngoái nhìn tháng ngày qua của đời mình, góp nhặt lấy điều gì đó mà suy ngẫm, chiêm nghiệm, để rồi vững bước trên chặng đường mới.

Giờ đây, chọn 65 tuổi đời làm điểm dừng, đề nhìn lại cả một thời quân ngũ, bỗng chốc quá khứ ùa về như một bộ phim nhiều chương hồi, trường đoạn... Ở đó, tôi gặp lại mình từ tuổi ấu thơ, rồi nhập ngũ làm anh pháo thủ binh nhì, trưởng thành qua năm tháng, đảm nhận nhiều trọng trách mà Đảng, nhân dân, quân đội giao phó: cán bộ trung đoàn, sư đoàn, quân đoàn; Phó Tổng tham mưu trưởng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Khi đất nước có giặc, "chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh", tôi đã tham gia chiến đấu hàng trăm trận, nhiều chiến dịch lớn nhỏ, trên khắp các chiến trường; từ cán bộ tham mưu tác chiến, tới chuyển sang phụ trách hậu cần - tài chính, kinh tế quốc phòng; là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa VIII, Khóa IX; đại biểu Quốc hội Khóa X, Khóa XI.


Lịch sử là dòng chảy vĩnh hằng, liên tục nối quá khứ với hiện tại và tương lai; cái qua đi chưa phải đã kết thúc. Tôn trọng nâng niu quá khứ, giúp ta vững tin hơn vào hiện tại và tương lai.

Với ý nghĩ đó, trong những tháng ngày còn công tác, tôi đã tranh thủ hệ thống lại những sự kiện lớn trong ngót nửa thế kỷ tham gia quân đội của mình và nhờ Đại tá Nguyễn Duy Tường - một cây viết rất có duyên với nhiều tập hồi ký của các Tướng lĩnh quân đội, giúp thể hiện thành tập hồi ký "Nhớ một thời quân ngũ".


Cảm ơn Đại tá Nguyễn Duy Tường, cảm ơn Nhà xuất bản Quân đội nhân dân đã tạo điều kiện để Duy Tường giúp tôi thể hiện tập hồi ký đậm chất lính, chất đời và cho xuất bản để những dòng hồi ức của tôi đến được với bạn dọc.

Ngót nửa thế kỷ với bao sự kiện sôi động, lớp lớp đan cài, mà trí nhớ thì có hạn; nên sai sót là điều khó tránh khỏi. Vì vậy rất mong bạn đọc, đồng chí, đồng đội thông cảm và lượng thứ.


Hà Nội Một ngày Thu, Đinh Hợi

NGUYỄN VĂN RINH
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #1 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2026, 08:14:23 pm »

Chương I
QUÊ HƯƠNG - GIA ĐÌNH VÀ NHỮNG NGÀY THƠ ẤU


Tết Tân Sửu - năm 1961 với tôi đầy ắp ấn tượng. Phần vì đã mấy tết rồi kể từ ngày hòa bình trở lại, quê tôi mới có được một cái tết tươm tất, đủ đầy như thế. Nhà nào nhà nấy thịt thà, gạo nếp, bánh chưng, gà qué... đầy đủ cả. Rồi hội hè, đình đám, văn nghệ hát hò rôm rả đầu năm. Nhưng điều đặc biệt đây là cái tết tôi từ giã tuổi thơ, bởi ra Giêng tôi đi bộ đội.


Hạ nêu được mấy ngày, theo giấy triệu tập cùng với mấy thanh niên trong xã, tôi lên đường. Sáng đầu xuân, trời rét ngọt mà sao thấy ấm áp, rộn rực lạ thường.

Đánh đường mấy cây số từ nhà lên phố huyện tiễn chân cháu, con nhập ngũ, bà nội và mẹ không muốn rời tôi. Nhưng, một hồi còi của anh chỉ huy rúc lên, lệnh hô tập hợp; tôi bùi ngùi chào bà và mẹ lần cuối rồi nhanh nhẹn, lóng nga lóng ngóng đứng vào hàng quân. Vậy là từ giờ phút đó, tôi đã đứng trong quân ngũ, trở thành anh bộ đội, thỏa nguyện ước bấy lâu. Vậy là đã lùi lại phía sau tôi một quãng đời ấu thơ đầy ắp kỷ niệm vui buồn, côi cút; lùi lại sau tôi - gia đình, quê hương thân thương yêu dấu, nơi tôi sinh ra và khôn lớn thành người.


Quê tôi - thôn Đồng Kênh, xã Văn Tố, huyện Tứ Kỳ - Hải Dương. Lần theo bi ký, thần tích trong vùng và người xưa truyền lại, thì đã từ lâu, trên vùng đất hoang sơ, sình lầy được bồi tụ bởi phù sa sông Thái Bình đã có trên một chục dòng họ quần cư lập nghiệp. Để tồn tại, phát triển trước những thách đố nghiệt ngã dữ dằn của thiên nhiên, giặc giã, nhiều làng nhỏ đã hợp thành xã, thành tổng, bện kết lại trong một cộng đồng ngày càng vững chắc hơn. Dần dần ba làng nhỏ: Đồng Mỹ, Đồng Lộc, Đồng Kênh hợp thành xã Mỹ Ân. Ba làng lớn: La Giang, Đồng Lâm, Nho Lâm là ba xã độc lập.


Sau Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, rồi tổng tuyển cử bầu Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp khóa I, tháng 4 năm 1946, bốn xã: Mỹ Ân, La Giang, Đồng Lâm, Nho Lâm hợp nhất thành xã Đỉnh Tân. Gần hai năm sau, tháng 2 năm 1948, Đỉnh Tân được đổi thành Văn Tố - tên cụ Nguyễn Văn Tố - Bộ trưởng Bộ Văn hóa khi đó. Sau này, trong hành trình của người lính, có dịp đến nhiều vùng, nhiều miền của đất nước, tôi mới thấy Hải Dương quê tôi là một trong số ít địa phương có nhiều xã mang tên các danh nhân, các lãnh tụ của Đảng, Nhà nước; ví như: Tống Trân, Hưng Đạo, Ái Quốc, Nguyễn Lương Bằng, Hoàng Hoa Thám, Phùng Chí Kiên...


Văn Tố thuộc khu Trung huyện Tứ Kỳ, cách trung tâm huyện lỵ chừng ba cây số về phía tây nam. Trục giao thông chính chạy dọc Tứ Kỳ là đường 191, nối từ ngã ba Phúc Duyên (thành phố Hải Dương) đến Quý Cao. Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp của Tứ Kỳ đã có không biết bao sự kiện gắn liền với trục giao thông quan trọng này.


Bao bọc ba phía của Văn Tố là ba con sông: sông Yên ở phía bắc, sông Mép (còn gọi là sông Tứ Kỳ) ở phía tây và sông Bầu ở phía đông.

Cùng với những dòng sông quê là cơ man ao chuôm, hồ đầm... Để rồi, vào mùa mưa, tôi như thấy làng quê bị băm chặt, cắt xẻ thành từng mảng, từng mảnh nhỏ...

Ngoài cái lấm láp bùn đất, dãi nắng dầm mưa kiểu con nhà nông, tôi còn có một tuổi thơ từng đắm mình trên những dòng sông quê; tập bơi lội ì ùm trong những ao, chuôm đó.

Được bồi lắng bởi một phức hệ sông lớn, giàu phù sa; lại được chăm bẵm bởi những bàn tay cần cù, chịu thương chịu khó của người nông dân từ đời này sang đời khác, nên đất đai, ruộng vườn quê tôi không phụ người; không thật sự mỡ màu nhưng cũng thuận cho cấy lúa, trồng màu, trồng cây ăn quả. Nông sản chủ yếu trong vùng là thứ lúa Ri, lúa Cút, Chăm đỏ... ở ngoài đồng. Trong vườn thường sẵn cam, chanh, chuối...


Quê tôi không sẵn các thứ "cao lương mỹ vị" như nhiều vùng quê khác, bởi đất vùng trũng, thuần nông; nhưng trong sách "Lịch triều Hiến chương loại chí" được soạn vào thời Nguyễn, nhà sử học Phan Huy Chú cũng đã tìm chọn được "ở xã Nho Lâm, Mỹ Ân có cam Tươi", ở đây, ông muốn nói tới giống cam chua ở Tứ Kỳ, ngày xưa khá nổi tiếng. Dĩ nhiên, hương vị cam Tươi của Tứ Kỳ không thể đặt kề cam Bố Hạ (Bắc Giang) hay cam Xã Đoài - xứ Nghệ...


Hạt thóc, bắp ngô, đàn gà, mớ cá... là những thứ mà nhà nông xưa tự sản tự tiêu. Nhưng, cùng với thời gian, những nông phẩm đó được đem trao đổi. Theo đó, chợ búa hình thành. Văn Tố có chợ Măng và chợ Đông, chợ Yên. Chợ Yên thuộc vào loại chợ lớn trong huyện, nên vào những ngày chợ phiên (tháng có sáu phiên chính) chợ rất đông người. Từ buổi tóc còn để chỏm, những lần theo bà nội, theo mẹ lên chợ, tôi đã được tắm mình trong cảnh bán mua, đổi chác; nhất là cảnh chợ Tết. Sau này, đã trưởng thành, khi đi xa, mỗi lần được về quê ăn Tết cùng gia đình, dù bận bịu đến đâu, tôi cũng tranh thủ ghé qua chợ quê để hiểu thêm một nét văn hóa quê mình, vừa để tìm lại một chút cảm giác xưa.


Thiên nhiên - đúng hơn là thế đất đai đã hình thành thế quần cư của người dân theo từng thôn xóm riêng, mặc dù không hoàn toàn biệt lập. Quanh thôn được bao bọc bởi những lũy tre. Nhiều thôn lập được những "chiến lũy" bằng tre khá dày dặn, chắc chắn. Chưa hết, ngoài tre còn cả một hệ thống ao hồ như những tuyến hào. Tất cả tạo cho từng thôn xóm thế kín đáo, vững chắc. Từng thôn xóm lại được nối với nhau bởi các trục giao thông liên thôn, liên xã, theo kiểu "đường ngang ngõ tắt", tạo nên thế vừa "kín" vừa "mở", rất cơ động. Đây cũng là kết tinh trí tuệ, những kinh nghiệm mà người dân đồng bằng Bắc Bộ gạn lọc được qua bao đời phải chống chọi với trộm cướp, giặc giã. Để đến thời cha anh chúng tôi lập nên những "làng kháng chiến", "làng du kích", lập thế tổ chức được những trận chống càn mẫu mực trong thời kỳ kháng chiến chín năm.


Cộng đồng dân cư ở Tứ Kỳ chủ yếu là người Kinh, có số ít bà con theo đạo Phật, đạo Thiên Chúa. Với đạo Thiên Chúa, ở Văn Tố có xứ đạo Đồng Lâm và Tứ Kỳ nổi tiếng với nhà thờ xứ Quý Cao (xã Nguyên Giáp).

Cũng như bao làng quê người Việt, gắn với tín ngưỡng, lễ giáo là đình chùa, miếu mạo, nhà thờ.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #2 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2026, 08:16:33 pm »

Quê tôi có nhiều đình thờ Thành Hoàng hoặc những danh nhân, danh tướng có công lập làng, đánh giặc ngoại xâm. Ví như, đình La Giang thờ thần Hoàng Đều (Hanh Thông đại vương và Hiển Rượu đại vương có công đánh giặc Chiêm Thành); đình Nho Lâm thờ Nhân thần là Y Pháp cư sĩ và Thiên thần là Hằng Nga Nguyệt Thái (Thánh Bà và hai em có công giúp nhà Lý đánh giặc, lập quốc)... 


Tuổi thơ của tôi lớn lên cùng bến nước, dòng sông dưới bóng đa sân đình và đã từng đắm mình trong một vài lễ hội được tổ chức ở đình làng. Việc tổ chức lễ hội do làng quy định. Lễ lớn nhất hằng năm mà tôi biết là lễ "Nhập tịch", tổ chức từ ngày 10 đến 20 tháng Giêng.


Ngày mở cửa đình là ngày mở đầu cho một năm mới của làng. Dân cư trong làng, dù ở gần hay đi xa đều nhớ ngày "Nhập tịch" để về dự lễ. Ngày đó, người nghèo cũng cố "bóp miệng" may sắm thêm tấm áo manh quần tươm tất một chút, bởi người đời vẫn bảo: "Đói đi qua, rách đi không qua". Người đăng cai tế lễ lo chuẩn bị cỗ bàn. Chức sắc của làng chuẩn bị văn tế và đồ tế tự...


Khi trống vang lên từng hồi giục giã, quan viên và dân làng tề tựu đông đủ ở sân đình để dự lễ; nghe lý trưởng đọc văn tế nói lên công đức Thành Hoàng làng, những người có công với làng xã; những việc dân làng làm được trong năm cũ và những việc phải lo trong năm mới. Tiếp đó, nam phụ lão ấu cùng vui chơi, nghe hát xướng, thi vật, đánh cờ, chọi gà, đánh đu...


Hội tàn, khép lại những ngày vui của làng cũng là bắt đầu những ngày cày cấy lam lũ, tảo tần, "hai sương một nắng" của các nông phu.

Ngoài đình, ở Văn Tố cũng như các địa phương khắp huyện, làng nào cũng có chùa. Ngôi chùa to, đẹp, có khuôn viên gần năm mẫu là chùa Rứa. Ngôi chùa này không chỉ là nơi các phật tử tụng kinh, thờ Phật mà còn là "Chốn Tổ" - nơi đào tạo từ sư Tiểu đến sư Thầy, sư Tổ.


Cạnh nhà tôi có chùa Đồng Kênh, tuy nhỏ, nhưng cảnh khá đẹp, có cây đa cổ thụ. Theo thư tịch cổ, nơi đây có vị sư trụ trì là Pháp sư Huyền Thông - một bậc Nho học uyên thâm. Vừa tu hành, vị Pháp sư này vừa bốc thuốc, chữa bệnh và dạy học cho dân. Có hai anh em nhà họ Đỗ được ông rèn dạy, sau này học lên, đỗ Tiến sĩ. Bởi vậy, chùa Đồng Kênh còn có tên là chùa Thầy. Vì có công với dân trong vùng, nên sau khi viên tịch, Pháp sư Huyền Thông được dân tôn làm Thành Hoàng.


Từ bao đời, người Văn Tố, Tứ Kỳ - Hải Dương quê tôi không chỉ siêng năng, giàu sáng tạo trong lao động, mà còn nổi tiếng là hiếu học; nhiều người đỗ đạt thành danh, như Bảng nhãn Nguyễn Mẫn Đốc, Thám hoa Khương Thế Hiền, Thám hoa Chu Thiêm Uy. Gương hiếu học sáng láng không chỉ ở Tứ Kỳ mà còn nổi danh Xứ Đông, sánh cả với Mộ Trạch là xã Kỳ Sơn, có tám người đỗ Tiến sĩ; trong đó có ba anh em ruột một gia đình là Nguyễn Thiện, Nguyễn Tài và Nguyễn Thận.


Những người đỗ đạt ở Tứ Kỳ trong thời kỳ phong kiến đều đã có những đóng góp nhất định cho đất nước. Các ông Nguyễn Thiệp, Tăng Văn San (xã Ký Sơn), Phạm Thọ Chất (xã Dán Chủ), đã từng giữ chức Thượng thư (quan tứ trụ triều đình); hay như các ông Khương Thế Hiền, Nguyễn Minh Biện, Nguyễn Ư Kỷ... đã được lưu ghi ở sử sách nước nhà là những danh thần, danh nho nổi tiếng đương thời.


Ai cũng có một miền quê để mà thương mà nhớ, để mà hoài niệm. Chấm phá đôi nét về đất và người quê tôi, cũng là để biết ơn đất mẹ đã sinh thành, dung dưỡng chúng tôi nên người.

Trên miền quê ấy, vào một ngày cuối tháng 7 năm 1942 tôi sinh ra trong một gia đình nhiều đời là nông dân nghèo.

Theo ông, bà, cha, mẹ tôi kể lại, ngày tôi sinh nắng nỏ đở đồng. Là lao động chính, đang kỳ cấy hái bận rộn - "mùa hơn đêm", nên dù bụng mang dạ chửa vượt mặt, mẹ tôi vẫn không bỏ buổi cấy nào. Chiều đó, vứt nắm mạ cấy dở, khi biết mình trở dạ, mẹ lần bờ ruộng, đi nhanh về nhà, và sinh tôi cũng rất nhanh. Mẹ tôi nói đùa là, nếu không đi nhanh thì sẽ đẻ rơi tôi dưới ruộng.


Ông nội tôi lại nhìn thời thế theo suy nghĩ, tâm trạng riêng. Ông bảo, ngày tôi chào đời, quê tôi ngột ngạt lắm, cảnh người nông dân một cổ mấy tròng; thực dân, phong kiến đè nén, áp bức; quan xa, sai nha gần đều tham lam, ác độc cả... Là đất thuần nông, nhưng người dân không có ruộng đất để cấy cày. Phần lớn đất đai đã tập trung vào tay địa chủ. Nông dân trở thành người làm thuê trên chính mảnh ruộng của mình. Rồi cày thuê, cấy mướn vẫn không đủ sống. "Đói đầu gối phải bò", không ít người dân quê tôi đã bỏ làng ra đi "tha phương cầu thực"; nhiều người vào làm phu đồn điền cao su ở trong Nam. Nhưng "cao su đi dễ khó về", không ít người trong số họ đã gửi xác ở đất khách quê người.


Tuy nhiên, trong đêm trường nô lệ, trong cảnh đời ngột ngạt ấy, người dân quê tôi đã ý thức và hướng tới một sự đổi mới, một ngày mai tươi sáng.

Trong cao trào vận động giải phóng dân tộc 1939 - 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng, từ cuối năm 1944, tổ chức Việt Minh từ thị xã Hải Dương đã lan đến Tứ Kỳ. Hoạt động của Việt Minh tác động đến từng thôn xóm, từng gia đình.

Cũng như nhiều gia đình trong vùng, gốc gác gia đình tôi đã qua nhiều đời làm ruộng, ông nội, rồi đến bố tôi, đậm trong ký ức của tôi là khuôn mẫu của người nông dân vùng châu thổ sông Hồng: chân chất, cần cù, thô ráp mà vững chãi; nhưng cũng rất khéo léo, quảng giao.


Sinh ra và lớn lên trên một vùng quê giàu truyền thống cách mạng, người nông dân "chân chỉ hạt bột" là ông nội tôi đã sớm giác ngộ cách mạng và là một trong những đảng viên thuộc thế hệ đầu tiên của chi bộ Đảng ở Văn Tố.

Trưởng thành trong cao trào Cách mạng Tháng Tám, lại được ông tôi thường xuyên gần gũi rèn cặp, động viên, nên mặc dù sống trong vùng tề, bị o ép đủ bề, nhưng bố tôi - Nguyễn Văn Đang đã tích cực tham gia dân quân du kích từ những ngày đầu kháng chiến chống Pháp. Thử thách nghiệt ngã của chiến tranh cũng sớm đưa bố tôi đứng trong hàng ngũ của Đảng; được phân công làm thôn đội phó du kích Đồng Kênh ngay từ khi tổ chức du kích hình thành.


Mẹ tôi là Trần Thị Trinh, người cùng thôn.

Bố mẹ tôi sinh được hai anh em; tôi là lớn và em gái Nguyễn Thị Dung. Năm tôi lên tám và em lên hai, thì bố tôi hy sinh trong một trận chống càn. Bởi vậy, thay cho những cánh diều, cánh cò dệt nắng trong mơ; những buổi chiều đến trường học hành, ca hát..., tuổi thơ anh em chúng tôi đã chìm đi bởi đạn bom, mất mát, thương đau; bởi những trận càn máu lửa của kẻ thù.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #3 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2026, 08:18:53 pm »

Tôi chào đời tròn 3 năm thì Cách mạng Tháng Tám thành công. Nhưng ngày vui ngắn chẳng tày gang. Qua tìm hiểu sử sách và được ông bà, bố mẹ kể lại, trong khi người dân quê tôi đang chung sức xây dựng chính quyền, tạo lập cuộc sống mới, khắc phục hậu quả nạn đói kinh khủng năm Ất Dậu, thì thực dân Pháp đã quay lại xâm lược nước ta một lần nữa. Sau khi gây hấn ở Nam Bộ, Pháp đánh ra Trung Bộ và đổ bộ lên Hải Phòng - mở đường về Hà Nội. Nằm kề đường số 5 - tuyến giao thông huyết mạch nối Hà Nội - Hải Phòng nên Tứ Kỳ và nhiều huyện của Hải Dương sớm chứng kiến hoạt động quân sự của Pháp, từ đó sớm chủ động cho một cuộc kháng chiến khó tránh khỏi.


Qua ông nội tôi - một đảng viên "tiền khởi nghĩa", tôi biết: cách mạng thành công rồi, nhưng nạn đói kinh khủng, dịch bệnh năm Ất Dậu để lại hậu quả hết sức nặng nề và diễn ra phức tạp ở nhiều nơi. Một thời gian sau đó, mưa to, lũ lớn đe dọa những quãng đê xung yếu lâu ngày không được trông coi, tu bổ đang oải ra như đê sông Hồng, sông Luộc. Những phần tử đầu sỏ trong chính quyền cũ đang rắp tâm chờ cơ "đục nước béo cò" ngóc đầu dậy chống phá chính quyền non trẻ; nạn trộm cướp vẫn hoành hành ở khu Trung và Hạ Tứ Kỳ... Cùng với cái khó về kinh tế, phức tạp, bất ổn về chính trị - xã hội là nạn thất học, mù chữ trong đại đa số nhân dân - có tới 90 phần trăm dân thất học, mù chữ... Bởi vậy, khẩu hiệu "Diệt giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm" mà Bác Hồ khởi xướng nhanh chóng trở thành lẽ sống, niềm vui của người dân quê tôi. Và khi Bác kêu gọi Toàn quốc kháng chiến (ngày 19 tháng 12 năm 1946) dân quê tôi nhất tề đứng lên hưởng ứng lời hiệu triệu của Người.


Do điều kiện thông tin hạn chế, nên mãi đến ngày 22 tháng 12 năm 1946, Huyện ủy Tứ Kỳ mới nhận được toàn văn lời kêu gọi của Bác. Lúc này tình hình đã hết sức khẩn cấp. Nhân dân thị xã Hải Dương theo lệnh của Tỉnh ủy và Ủy ban Hành chính tỉnh đã tản cư ra vùng ven; nhiều người sơ tán về Tứ Kỳ.


Những ngày đầu kháng chiến, Văn Tố (khi đó thuộc xã Đỉnh Tân), quân Pháp chưa chiếm đóng, còn tương đối an toàn. Vì vậy, dân Hải Dương, có khi cả Kiến An, Hải Phòng tản cư về đây ở rải rác dọc theo đường 191, tạo nên cảnh tượng khá đông đúc và hình thành một dãy phố, có tên là phố Măng. Vào tầm lên sáu, lên bảy, tôi đã được bà dắt lên chơi ở phố "chợ kháng chiến".


Để lãnh đạo nhân dân xây dựng chính quyền, sản xuất ổn định cuộc sống và kháng chiến; đầu năm 1947, chi bộ Đảng của Văn Tố được thành lập.

Hướng về Hà Nội, hưởng ứng lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến và chỉ thị "Kháng chiến, kiến quốc" của Bác Hồ, dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Hải Dương - trực tiếp là Huyện ủy Tứ Kỳ, chi bộ Văn Tố đã nhanh chóng tổ chức, động viên các tầng lớp nhân dân đẩy mạnh sản xuất, duy trì và phát triển phong trào bình dân học vụ; đặc biệt tập trung xây dựng làng chiến đấu; luyện tập du kích, tăng cường tuần tra canh gác, truy bắt kẻ gian, bảo đảm an ninh trật tự thôn xóm.


Trong trí nhớ non nớt của tôi ngày đó còn lưu giữ hình ảnh dân trong xã, ngoài làng, bất kể gái trai, già trẻ đều tham gia đắp ụ, rào làng, xây dựng làng chiến đấu. Trong làng đào giao thông hào nối thôn này sang thôn khác; ngoài làng đắp lũy cao liên hoàn nối thôn La Giang với Đồng Kênh; nối Mỹ Ân với Nho Lâm; ước tính hào, lũy trong xã phải dài hơn năm cây số. Xung quanh làng trồng tre gai, có cổng tiền, cổng hậu và nhiều vọng gác do du kích có giáo búp đa, mã tấu đứng gác suốt ngày đêm. Đề phòng địch hành quân càn quét theo trục lộ giao thông, hàng trăm du kích, dân công được huy động đào hào chữ chi, hố để chống xe tăng thiết giáp dọc đường 191 từ cầu Yên đến bến đò Đống...


Lúc này dân quân du kích trở thành chủ lực quân trong mọi hoạt động. Mỗi thôn thành lập một trung đội du kích từ 25 đến 30 người, gồm những thanh niên khỏe mạnh, dũng cảm, tháo vát. Bố tôi được chỉ định làm thôn đội phó du kích Đồng Kênh. Những hôm lân la xem bố tôi chỉ huy du kích tập lăn lê, bò toài, đi đều, đứng lại... tôi lấy làm hãnh diện với bạn bè cùng tuổi để chỏm trái đào.


Chiến tranh ngày càng lan rộng, dữ dằn hơn. Những ngày tạm thời yên ả đối với Tứ Kỳ rồi cũng qua đi. Vào cuối năm 1947, quân Pháp đã liên tiếp mở nhiều cuộc càn lớn vào khu Bắc Tứ Kỳ. Nhiều hôm, đang yên đang lành, bỗng từng tràng súng nổ từ xa vọng lại, là mẹ tôi đang buổi chợ hoặc buổi làm đồng đều tất tưởi về nhà, chuẩn bị gạo thóc, nồi niêu... để chạy giặc; và cũng nhiều đêm đang ngủ yên, tôi giật mình choàng dậy, khóc ré lên, bởi tiếng súng nổ đâu đó...


Lúc này, việc lập làng chiến đấu và công việc chuẩn bị chống địch ruồng càn ngày càng cấp bách. Đường 191 giờ đây không thể gọi là đường. Hào chữ chi, hầm hố to, sâu, ụ cao thấp được đắp đầy... để cản cơ giới của địch. Dân quân, du kích chặt hàng nghìn cây tre đóng xuống các tuyến sông Mép, sông cầu Dừa... để cản tàu chiến nhỏ, ca nô của địch. Các thôn La Giang, Đồng Kênh, Mỹ Ân, Nho Lâm, Đồng Lộc, Gia Xuyên đều rào tre, đắp lũy xung quanh làng. Đặc biệt, La Giang với Đồng Kênh, Mỹ Ân với Nho Lâm thực hiện đào hào, đắp lũy liên hoàn. Văn Tố cùng với các địa phương trong vùng trở thành những pháo đài vững chắc, sẵn sàng chờ giặc đến.


Không chỉ xây dựng làng chiến đấu, thực hiện lệnh "tiêu thổ kháng chiến" của Bác Hồ và Trung ương, hầu hết các đình chùa, nhà thờ họ... trong vùng đều được phá bỏ, không để cho quân Pháp làm nơi đồn trú; thậm chí, nhiều gia đình trong làng có nếp nhà to, đẹp cũng nén lòng dỡ bỏ.


Về phía địch, sau thất bại của chiến dịch tiến công lên Việt Bắc thu đông 1947, hòng "cất vó" cơ quan đầu não kháng chiến của ta, mưu đồ "đánh nhanh thắng nhanh" của Pháp gần như bị phá sản. Tình hình đó buộc Pháp phải quay về bình định vùng đồng bằng.


Với đồng bằng Bắc Bộ, địch thực hiện kế hoạch Rơve, tăng cường bình định, lấn chiếm theo kiểu "vết dầu loang"; tăng cường lập tề, phát triển ngụy quân...

Từ cuối năm 1948 sang năm 1949, tôi đã chứng kiến nhiều lần địch ruồng càn vào xã nhà và các xã xung quanh. Đầu tháng 9 năm 1948, Pháp cho ca nô chở quân lên bến đò Đông, đò Nhĩ, đánh phá phố Măng; đốt phá một số nhà dân rồi rút lui.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #4 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2026, 08:20:17 pm »

Trận giặc càn đầu tiên vào Văn Tố và các xã trong vùng mà tôi chứng kiến là cuối tháng 12 năm 1949 trong chiến dịch Điabôlô, hòng đánh chiếm các huyện thuộc vùng tự do nam phần Hải Dương.

Sáng sớm một ngày cuối tháng 12, một cánh quân rất đông của địch từ Ninh Giang tràn qua Minh Đức, Văn Tố. Từng đám lính Pháp mắt xanh mũi lõ, hoặc lính Phi cao lớn, đen kịt, răng trắng hớn... hùng hùng hổ hổ kéo vào làng, tay lăm lăm súng. Lũ trẻ chúng tôi mặt cắt không một giọt máu, ba chân bốn cẳng chạy trốn. Nhưng do chuẩn bị từ trước, nên giặc đến, tôi đã ngồi gọn trong một đầu quang - đầu kia là gạo, khoai..., được mẹ gánh sơ tán sang xã Minh Đức.


Khi kéo vào Làng La Giang, gặp lũy cao, hào sâu, địch phải vòng xuống Gia Xuyên, sau mới vòng về Đồng Lâm. Địch đã thẳng tay tàn sát nhiều người dân quê tôi và chốt lại Đồng Lâm, biến nơi đây thành vùng tề và công giáo. Tiếp đó, địch cho quân ruồng càn rồi đóng tại các vị trí An Thổ, Quý Cao, An Nhân, Bỉnh Di. Ngoại vi Tứ Kỳ, địch đóng bốt ở Ninh Giang, cầu Ràm, Phương Điếm (Gia Lộc) và lập quận hành chính An Phòng. Khi quân Pháp càn quét và chốt lại nhiều nơi ở Tứ Kỳ, các phần tử phản động, thù oán cách mạng sau một thời gian im ắng, chò thời, nay ngóc đầu dậy như sên gặp mưa. Các phần tử này là lực lượng chủ chốt của tề - dõng vũ trang, lợi dụng làng chiến đấu của ta để chống phá cách mạng. Sau lũy tre làng xanh mướt, hiền hòa đã mọc lên những đồn bốt, tháp canh đen đúa, gớm ghiếc, nhức mắt. Cũng vì thế, từ cuối 1949 sang đầu năm 1950, thường xuyên chúng tôi phải chứng kiến cảnh lính Pháp và đám tề dõng sát hại dân thường, lùng bắt du kích, đảng viên.


Để chặn đứng bàn tay tàn bạo của kẻ thù, trong khi bộ đội chủ lực chưa có điều kiện về hoạt động trong vùng, thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy, chỉ hơn một tuần sau khi địch mở cuộc càn Điabôlô, Huyện ủy Tử Kỳ đã thành lập đại đội bộ đội địa phương, lấy tên là Nguyễn Huệ do ông Lê Hiền Hữu - Huyện đội trưởng kiêm chức Đại đội trưởng. Đại đội Nguyễn Huệ tuy mới thành lập nhưng thật sự là nòng cốt cho phong trào đấu tranh vũ trang của địa phương.


Mặc dù kẻ địch đã lập tề được chừng 70 phần trăm thôn xóm; nhưng do hoạt động kiên trì, bền bỉ của tổ chức Đảng, của bộ đội huyện phối hợp với lực lượng du kích rộng khắp, nên ở Tứ Kỳ vẫn giữ được nhiều thôn xóm do ta làm chủ, hình thành những khu du kích, như Dân Chủ, Duy Tân, Minh Đức, Quảng Nghiệp, Tiên Động, Cộng Lạc, Phượng Kỳ... và Văn Tố quê tôi. Dù mới chỉ được trang bị giáo mác, mã tấu là chủ yếu, nhưng với sự mưu trí và tinh thần gan dạ, bộ đội và du kích đã tổ chức nhiều trận phá càn thắng lợi. Điển hình là các trận chống càn ở Lộng Khê (23-3-1950); trận phục kích trên đường số 9 đoạn qua chợ Dậu (ngày 7-4-1950); đánh địch trên đường 191 đoạn qua xã Ngọc Sơn... Mặc dù kết quả tiêu diệt địch chưa cao, nhưng những trận đánh "vỡ lòng" của bộ đội và du kích Tứ Kỳ gây tiếng vang khắp vùng, làm cho cả lính Pháp, lê dương lẫn tề ngụy không dám nghênh ngang hù dọa dân như trước; đặc biệt ta đã thu được một số súng đạn, bước đầu thực hiện được chủ trương "lấy vũ khí địch đánh địch".


Tuy nhiên, nghe người lớn bàn tán, chúng tôi cũng biết được có những trận vì quá manh động, du kích đã dùng mưu giết hai tên lính Pháp ở bốt An Nhân. Việc làm đó đã làm cho quân Pháp phản ứng điên cuồng, sát hại 70 người dân của hai làng La Tỉnh, An Nhân (ngày 29-5-1950). Tiếp đó, địch đóng ở An Nhân, Ngọc Lý đã tiến hành cuộc càn khắp ba xã: Tây Kỳ, Quang Khải, Dân Chủ; sát hại hàng trăm dân thường; đốt phá nhiều nhà cửa, cướp bóc hàng chục trâu bò, nhiều của cải. Cảnh giặc tàn sát dân mình, triệt phá xóm làng luôn ám ảnh tâm hồn non nớt của tôi.


Đối phó với hành động càn quét của địch, du kích ở những địa bàn do ta làm chủ đã tích cực đào hầm bí mật để bảo vệ cán bộ, bảo vệ dân. Huyện ủy, Ủy ban kháng chiến, hành chính huyện ráo riết chỉ đạo các địa phương đào hầm bí mật, đào địa đạo liên gia, liên xóm, như ở Văn Sự, Đoàn Xá (Minh Đức), La Giang (Văn Tố), Đồng Bình (Dân Chủ). Có địa đạo dài tới 100 mét; có hầm cho chỉ huy họp; có hầm chứa lương thực, nước uống... Đây là điều kiện thuận lợi để bộ đội, du kích bám đất, bám dân, bảo toàn lực lượng để chiến đấu dài ngày. Lũ trẻ chúng tôi hồi đó, sau những ngày được người lớn dắt tản cư sang Minh Đức trở về, được tung tăng chui rúc dưới địa đạo thật là thú vị; lúc đó quên hết cả đạn bom, hay Tây mũi lõ, lính Marôc đen ngòm...


Rồi những ngày sau đó, quê tôi rạo rực, sôi nổi hẳn lên bởi nhiều đơn vị bộ đội chủ lực khu và tỉnh về hoạt động. Đầu tiên là một đại đội của Trung đoàn 42 - chủ lực Liên khu 3; tiếp đó là ba - bốn đại đội của tỉnh Hải Dương và bộ đội tỉnh Kiến An.

Vui nhất là những ngày bộ đội về làng. Ban ngày các chú bộ đội hướng dẫn du kích tập tành, làm công sự chiến đấu. Đêm đêm bộ đội cùng du kích, thanh niên sinh hoạt ca hát... Không khí không kém vẻ thanh bình. Đám nhóc chúng tôi nhìn những đơn vị chủ lực khu, bận quân phục khá tươm tất, có nhiều súng đạn... với con mắt đầy ngưỡng mộ, thán phục. Đứa nào cũng chỉ ước ao bỗng chốc vươn vai như Phù Đổng, trở thành thanh niên trong chớp mắt để được đi bộ đội, được mang súng...


Thấy bộ đội chính quy, súng ống oai phong, tôi càng thương bố mình và mấy cô, chú du kích chỉ rặt có mã tấu, mác, giáo búp đa... Và khi đó, mặc dù không ai bày vẽ cho, nhưng tôi đã nghĩ đến cách lấy súng của các chú bộ đội cho bố và du kích. Nhân một tối, bộ đội và du kích sinh hoạt văn nghệ, tôi đã bí mật "chôm" một khẩu súng trường của một chú bộ đội. Nhưng sự việc bất thành. Các chú bộ đội cảnh giác lắm. Tôi đang loay hoay với khẩu súng cao hơn đầu người, thì chú phát hiện được. Bằng giọng vừa đùa, vừa dọa, chú bảo đưa tôi về gặp chỉ huy. Nhưng thấy tôi mếu máo, chú bèn ôn tồn bảo: Cố gắng ăn thêm mấy bồ thóc nữa thì tha hồ bắn súng; đến lúc đó, chẳng phải lấy trộm đâu. Biết chuyện tôi "trộm" súng, ông nội và bố tôi vừa nghiêm khắc bảo ban, nhưng rồi cũng hài hước nói rằng: Có khi thằng này sẽ phát tướng; mai sau lớn lên, cho đi bộ đội!


Cùng với bước tiến chung của cuộc kháng chiến toàn quốc, bước vào thu đông 1950, phong trào kháng chiến ở Tứ Kỳ - Hải Dương phát triển mạnh. Cơ sở Đảng, chính quyền được củng cố; du kích và bộ đội Nguyễn Huệ trưởng thành về nhiều mặt; đặc biệt có bộ đội Liên khu và tỉnh làm nòng cốt, phong trào tổng phá tề "mở đất" ở Tứ Kỳ ngày càng mạnh mẽ. Đến cuối năm 1950 ta đã phá rã một hệ thống tổ chức tề ngụy, giải phóng được một số địa bàn, nối khu căn cứ du kích đông Thanh Hà sang nam Gia Lộc, bắc Ninh Giang, qua An Thanh tới Minh Đức, Quang Khải, Tây Kỳ của Tứ Kỳ.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #5 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2026, 08:21:58 pm »

Trước tình hình đó, địch phản ứng điên cuồng. Chúng tổ chức liên tiếp nhiều trận càn, quyết san phẳng các làng kháng chiến - khu du kích. Vào đầu tháng 10 năm 1950, địch tăng cường quân cho các bốt An Nhân, Thái An... hòng khống chế đường 191; ngăn chặn chủ lực ta về hoạt động ở Tứ Kỳ, Gia Lộc; đồng thời triệt phá các làng kháng chiến ở Minh Đức, Văn Tố.


Cũng như mọi lần, những ngày này, chúng tôi thấy đêm đêm bộ đội tỉnh, khu về khá đông. Cái khác là bộ đội, du kích không sinh hoạt văn nghệ mà tập trung bài binh bố trận, tăng cường củng cố hệ thống hầm hào, địa đạo trong làng, ngoài xóm; luân phiên canh gác cẩn mật và bố trí phục binh hai bên đường 191. Trong tư duy non nớt, ngô nghê của lũ trẻ chúng tôi khi đó vẫn thấy bao trùm xóm làng không khí căng thẳng, bí bức như sắp có dông bão. Và rồi bão dông ập đến thật!


Chiều ngày 7 tháng 10 năm 1950, quân địch cả Tây trắng, Tây đen và ngụy - dõng ốp một đám đông phu phen tràn lên đường 191 phá ụ, lấp hào... chuẩn bị cho một cuộc hành binh lớn vào vùng du kích. Đoán biết âm mưu của địch, Đại đội 59 Trung đoàn 42 cùng du kích Văn Tố bí mật phục kích; chờ cho địch vào trận địa, đồng loạt nổi hiệu lệnh xung phong đánh đuổi địch chạy dài đến sát thôn La Tỉnh. Trong làng, ngoài xóm, người ta kháo nhau du kích Đồng Kênh do bố tôi chỉ huy, chỉ có mã tấu, giáo mác mà rượt đuổi Tây, thật dũng mãnh, chẳng khác gì bộ đội tỉnh, bộ đội khu. Trận ngày 7 tháng 10, ta bắt được sếp bốt Thái An, một tên cai, hai lính ngụy, bắn chết một Tây trắng; thu một tiểu liên, bốn súng trường; giải thoát nhiều phu bị địch bắt đi san đường.


Qua khai thác sếp bốt Thái An và mấy tên tù binh khác, ta biết địch tiếp tục càn vào Văn Tố và khu Hạ Tứ Kỳ, phô trương lực lượng, tạo hậu thuẫn cho bọn tề, dõng ở Đồng Lâm nống ra càn quét, quấy phá khu du kích của Tứ Kỳ.

Ngay từ tối ngày 7 tháng 10 năm 1950, mấy chiếc cam nhông đã chở quân địch từ Hải Dương xuống tăng cường cho các bốt An Nhân, La Tỉnh. Tổng lực lượng của chúng ở đây gồm một tiểu đoàn cơ động và quân đóng tại bốt An Nhân, do tên quan ba Pháp là Quýtsắc chỉ huy. Địch đang dồn sức cho một cuộc càn mới.


Về ta, không khí hân hoan sau thắng lợi của trận phục kích chiều ngày 7 tháng 10 đang bao trùm thôn xóm. Tuy vậy, tối hôm đó, chúng tôi vẫn thấy bộ đội du kích đi lại rầm rập, hội ý bàn bạc chuẩn bị cho trận phục kích sáng hôm sau. Để khỏi vướng chân người lớn; ông, bà và mẹ tôi cấm tôi ra cửa, cũng vì một nỗi sợ khác là không biết địch ập đến khi nào. Rồi bom rơi, đạn lạc có chừa ai! Là thôn đội phó du kích, nên đêm đó, bố tôi chỉ về nhà chốc lát rồi ra trận địa cùng anh em. Trận địa phục kích bố trí ở La Giang, cách nhà tôi chừng một cây số.


Đêm 7 tháng 10, cả gia đình tôi không ngủ, cả làng tôi không ngủ. Sáng hôm sau - ngày 8 tháng 10, khi mặt trời lên khỏi rặng tre đầu làng, sương tan, cánh đồng dọc theo đường 191 nhuộm một màu ngọc bích. Lúa bắt đầu nặng hạt, vít cong cần câu. Thường ngày, khi mẹ ra đồng, lũ trẻ chúng tôi cũng đã khối việc để làm. Nhưng hôm đó, trong xóm, ngoài làng im phăng phắc - một sự im lặng đến rợn người.


Sau này, theo ông bà tôi kể lại, thì sáng hôm đó, rất đông bộ đội vừa của Trung đoàn 42 chủ lực khu, vừa của Đại đội 61 (Vĩnh Bảo), Đại đội Nguyễn Huệ - của Tứ Kỳ và du kích Văn Tố bố trí trận địa phục kích khá quy mô. Một trung đội của Đại đội 59 do ông Đàm Minh Điện chỉ huy, phục kích ở thôn La Giang; một trung đội khác cùng du kích phục kích ở đình Gia Xuyên và trại Đáy thuộc thôn Đồng Kênh, cạnh bờ sông Măng, gần nhà tôi. Hỏa lực của bộ đội bố trí ở thôn La Giang và đình Gia Xuyên, sẵn sàng bắn chéo cánh sẻ khi địch theo đường 191 lọt vào trận địa phục kích của ta. Một mũi khác, gồm Đại đội 61 - bộ đội Kiến An, Đại đội Nguyễn Huệ của Tứ Kỳ và du kích phục ở đường chùa, đường bờ giếng, chợ Măng... Chỉ huy toàn bộ trận đánh là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 664 Mạc Đình Vịnh.


Chừng 7 giờ sáng ngày 8 tháng 10, đội hình địch gồm một tiểu đoàn, do tên quan ba Quýtsắc chỉ huy hành quân từ La Tỉnh xuống bắt đầu cuộc càn vào Văn Tố. Chúng nham hiểm lùa đám đông dân phu đi trước làm bia đỡ đạn. Đúng hơn là địch làm như vậy để ta gặp khó khăn tiến công - vì sợ bắn vào đồng bào mình.


Vào gần địa phận Văn Tố, địch phải hành quân bộ, vì đường đã bị ta đào bới, đắp ụ ngổn ngang. Sau gần một giờ dò dẫm, địch tiến đến chợ Măng. Đợi đội hình địch lọt vào trận địa, các mũi phục kích của ta ở La Giang, Gia Xuyên phát lệnh nổ súng. Sau mấy loạt đạn, lựu đạn quật tạt sườn đội hình dịch, diệt một số tên, bộ đội và du kích ào ạt xông ra mặt đường 191 giáp chiến với địch, buộc chúng tháo chạy toán loạn. Tên quan ba Quýtsắc hò hét binh lính chống trả, mở đường máu băng qua sân vận động rút vào xóm trại La Giang để rồi chuồn theo đường 191. Nhưng tới đây, địch chạm trán với trung đội du kích do bố tôi chỉ huy đang chặn đánh quyết liệt. Như con thú trúng thương, tên quan ba Quýtsắc bất ngờ lia một loạt đạn về phía bố tôi. Ông dính đạn, gục xuống. Lập tức, Đại đội trưởng Đàm Minh Điện chỉ huy một trung đội của Đại đội 59 từ trong làng La Giang nhanh chóng cơ động ra chi viện. Quýtsắc cố sống cố chết tháo chạy, liền bị Đại đội trưởng Đàm Minh Điện quật một loạt tiểu liên, băm nát cánh tay và bị bắt.


Trong lúc tôi và bà đang náu trong hầm tăngxê, đếm từng loạt đạn rộ lên từ phía làng La Giang, Gia Xuyên, bỗng nghe tiếng chân chạy gấp của nhiều người hướng về sân nhà mình. Mọi người từ hầm tăngxê nhào lên, tôi cũng chạy theo. Người quây chặt gian nhà giữa. Rồi bà nội và mẹ tôi, khóc ngất đi. Len qua đám đông người lớn, tôi thật sự sợ hãi, khi nhìn thấy khắp người bố tôi đầm đìa máu. Ông được mọi người đặt nằm trên cánh phản giữa nhà, hai mắt nhắm nghiền, nhưng tay chân vật vã, chới với, như người tập bơi trên cạn.


Tôi biết các cô chú cứu thương của bộ đội đã sơ cứu, băng bó cho bố tôi ngay từ khi ông dính đạn. Nhưng, vết thương quá nặng; thuốc men, phương tiện cấp cứu chẳng có gì, nên mọi người đành bất lực, cắn răng, nuốt nước mắt, nhìn bố tôi vật vã với tử thần. Sau gần một tiếng đồng hồ vật vã như vậy, bố tôi mất.


Sau này, mỗi khi nghĩ nhớ lại cái chết của bố mình, tôi cứ ám ảnh mãi một điều: Giá như ngày đó bộ đội, du kích có nhiều phương tiện, thuốc men cứu chữa; ta có nhiều y - bác sĩ như bây giờ, có thể bố tôi không chết. Nhưng phải sống thời khắc đó, vào tình huống đó, mới thấy sự mất mát, đớn đau của gia đình và của bản thân tôi là bất khả kháng. Bởi vì, khi một số cô chú du kích đưa cha tôi về nhà thì trận chống càn vẫn diễn ra quyết liệt. Đặc biệt, để trả đũa việc 44 lính ngụy bị diệt và 6 tên bị bắt, trong đó có quan ba Quýtsắc; địch đã tăng cường lực lượng, quay lại phản kích. Trận địa La Giang, Gia Xuyên mỗi lúc càng thêm "nóng". Đạn của ta vơi dần, bộ đội phải tính từng phát bắn. Chỉ chờ có vậy, kẻ địch ồ ạt xung phong.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #6 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2026, 08:22:58 pm »

Trong khi bộ đội, du kích căng sức ra quần lộn với giặc thì ông, bà tôi cùng một số cô chú du kích khẩn trương đưa bố tôi sang giấu ở cánh đồng làng Mỹ Ân, phòng khi giặc tràn vào được Đồng Kênh. Quá trưa sang chiều thì tiếng súng im dần. Địch lục tục kéo về La Tỉnh. Đêm xuống, mọi người mới đưa thi thể bố tôi về và tổ chức chôn cất.


Vậy là ta đã có một trận chống càn bằng phục binh mẫu mực, gây thiệt hại lớn cho địch, bắt sống quan ba Tây trắng. Thắng lợi lớn, tiếng vang khắp vùng châu thổ sông Hồng. Tuy nhiên, sự mất mát là khó bề tránh khỏi, vẫn biết thắng trận rồi, niềm vui chung bù nỗi đau riêng; nhưng mất mát của gia đình tôi, của riêng tôi là không có gì bù đắp nổi. Từ đây anh em tôi đã mồ côi bố. Năm đó, tôi tròn tám tuổi và Dung - em gái tôi mới lên hai. Chỉ thương em tôi quá non nớt, chưa ý thức được tình cảm của bố, và chưa nhớ nổi khuôn hình, tính cách của ông - một nông dân chân chất, hiền lành, đức độ, nhưng tinh tế, nhạy cảm; sinh hoạt trong Đảng và đoàn thể rất mẫu mực, chiến đấu gan dạ, trong làng ngoài thôn từ người già đến lớp trẻ đều mến phục. Bởi vậy, sự hy sinh của bố tôi đã để lại niềm thương tiêc trong Đảng bộ xã và bà con cô bác quê hương.


Hai mươi ngày sau thắng lợi trận phục kích chống càn ở Văn Tố, cuối tháng 10, ta phục kích đánh địch ở Mỹ Ân, diệt 1 quan hai Pháp và 30 ngụy binh. Tiếp đó là các trận đánh địch ở cống Câu, quán Bái, đánh vào Báo Đáp - Nghi Khê nơi có những bốt dõng rất phản động. Diệt được các bốt tề dõng như cởi được gông xiềng; cuộc sống của người dân dễ thở hơn, mặc dầu dăm bữa, nửa tháng địch lại lùng bố, ruồng càn, khi hay tin bộ đội chủ lực khu, tỉnh về hoạt động. Đặc biệt, địch tăng cường cả hỏa lực lẫn xung lực cho các vị trí: Bỉnh Di, Phương Điếm, Ô Mễ, Xuân Nẻo... để khống chế địa bàn Tứ Kỳ, Gia Lộc, Ninh Giang... đã gây cho ta không ít khó khăn. Nhưng với lực lượng du kích không ngừng được củng cố, thế trận chiến tranh nhân dân ngày càng vững chắc, Tứ Kỳ nói chung và Văn Tố nói riêng luôn là nơi duy trì được nhiều làng chiến đấu, nhiều khu du kích khá vững vàng.


Về phần anh em tôi, từ ngày bố mất đi, ông bà nội, ngoại và mẹ tôi quản riết, không mấy khi được ra khỏi nhà nếu không có người lớn đi cùng. Hôm nghe tiếng súng rộ lên từ hướng bắc, khi thấy pháo cấp tập từ các đồn bốt phía nam lên; bà thường ôm chặt anh em tôi ở dưới hầm, và miệng luôn khấn vái tổ tiên, thần linh phù hộ độ trì, bom đạn đừng rơi lạc đến đây... Nhưng tính hiếu động lớn lên trong tôi theo thời gian, nhiều khi đã giúp tôi "biến" khỏi sự quản thúc của ông bà, để cùng một vài đứa bạn bám theo du kích, bộ đội, xem các chú, các bác tập tành, bày trận. Những lúc như vậy, nỗi nhớ nhung bố tôi thường trỗi dậy. Không ít lần nhớ thương bố, tôi thầm ước mình lớn vụt lên thành một du kích hay anh bộ đội thực thự, cầm súng chiến đấu bắt kẻ thù đền tội.


Ước mong là vậy, nhưng cảnh giặc giã, đạn bom lại kéo tuổi thơ chúng tôi về thực tại. Rồi chúng tôi lại hồ hởi, lăng xăng mỗi khi bộ đội Trung Dũng, bộ đội huyện về thôn. Tôi cứ nhớ mãi hình ảnh ông Lê Hiền Hữu1 (Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, đồng chí Lê Hiền Hữu là Tỉnh đội trưởng Hải Dương) - Huyện đội trưởng Tứ Kỳ kiêm Chỉ huy trưởng bộ đội Nguyễn Huệ của huyện. Đám trẻ chúng tôi rất thích được đi theo mấy ông Huyện đội; được các ông nhờ giúp một việc gì đó, hoặc giả có đứa nào được ông nhờ đi báo du kích một mẩu tin, hay lấy lá cài vòng ngụy trang... thì lấy làm hãnh diện, sung sướng lắm!


Thời gian này, ở thôn La Tỉnh xã Chí Minh có ông Trần Trọt - một du kích nổi tiếng khôn khéo, gan dạ. Ông đã nghĩ ra nhiều cách rất đơn giản, nhưng hiệu quả, nhằm che mắt địch, nắm tình hình của chúng để báo tin cho đằng mình; hoặc nuôi giấu bộ đội, du kích, ông là một trong những gương tiêu biểu của lực lượng vũ trang và nhân dân Tứ Kỳ, sánh vai với các "Dũng sĩ đường 5", của Cẩm Giàng, Nam Sách... hay các nữ du kích Hoàng Ngân của Hưng Yên. Sau này, ông Trọt là Chiến sĩ thi đua toàn quốc, được lên Việt Bắc dự Đại hội Anh hùng. Chiến sĩ thi đua toàn quốc.


Có thể nói, cùng với ông, bà nội ngoại và người bố rất mực hiền từ, mẫu mực - các đấng sinh thành và những thầy giáo (tôi sẽ kể ở phần sau) nuôi dưỡng, rèn dạy hằng ngày, giúp cho tôi có được cái "tâm", cái "đức" làm người, thì các ông Lê Hiền Hữu, Trần Trọt, Mạc Đình Vịnh, cán bộ Trung đoàn 42... luôn được chúng tôi xem như "thần tượng". Có thể nói họ là những người có tác động trực tiếp và mạnh mẽ đến tính cách cũng như suy nghĩ, hành động của tôi, của bạn bè cùng trang lứa trước cảnh quê hương, đất nước từng ngày rên xiết, quằn quại bởi bom đạn và gót giày đinh của quân xâm lược. Với riêng tôi còn là nỗi đau, nỗi uất hận lớn nhất trong đời phải trả - ý nghĩ đó cứ lớn dần trong tôi.


Từ sau thất bại của cuộc tiến công chiến lược lên Việt Bắc, mục đích tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến của ta bị thất bại, đồng nghĩa với chiến lược "đánh nhanh thắng nhanh" bị phá sản, Pháp buộc phải chuyển sang dùng chính sách đánh lâu dài, "dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh". Theo đó, Pháp tăng cường bình định vùng đồng bằng; ráo riêt xây dựng ngụy quân, ngụy quyền tay sai, tề dõng ở vùng chúng chiếm đóng - và quê tôi là một mẫu hình tiêu biểu ở đồng bằng sông Hồng. Nhưng mọi thủ đoạn, mưu ma chước quỷ của kẻ xâm lược đều không có đất tồn tại trước tinh thần đấu tranh ngoan cường của quân và dân ta, được một chính Đảng của Bác Hồ có đường lối kháng chiến đúng đắn lãnh đạo... Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, của Bộ Quốc phòng - Tổng tư lệnh, sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc của ta đã tiến từng bước vững vàng. Khi đó, chúng tôi được nghe các bác, các cô chú bộ đội, du kích bàn tán, trao đổi: Ta đã qua kỳ phòng ngự, rồi qua kỳ cầm cự - đấu tranh giằng co với địch. Điều này chúng tôi đã chứng kiến mỗi làng tề địch dựng lên, ta phá; chúng lại tái lập, rồi ta lại phá; hai bên giành giật nhau từng rặng tre, bờ ao, mảnh ruộng. Cứ sau một đợt "mở đất" của ta, là không chóng thì chày, địch sẽ tổ chức những cuộc càn lớn, kiểu như: Điabôlô, Mêđuy (Sứa biển); Rếptin (Bò sát)... Nhưng rồi khu du kích ngày càng vững, càng rộng; kẻ địch ngày càng thất thế, co rúm lại.


Trên bình diện cả nước, thu đông 1950, Trung ương Đảng, Bộ Quốc phòng - Tổng tư lệnh quyết định mở chiến dịch Biên Giới - Lê Hồng Phong II, nhằm tiêu diệt một lực lượng lớn cơ động của địch, giải phóng dân và đất; đặc biệt là khai thông biên giới - nối hậu phương căn cứ địa Việt Bắc với Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Liên Xô và các nước dân chủ khác. Chiến dịch Biên Giới thắng lợi, định cột mốc quan trọng của tiến trình kháng chiến - từ thế "cầm cự", ta chuyển sang thời kỳ "phản công".
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #7 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2026, 08:24:15 pm »

Để lãnh đạo, đưa cuộc kháng chiến tiến nhanh, đầu năm 1951, Đảng ta tiến hành Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II - đề ra đường lối kháng chiến và kiến quốc.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng và phát huy thắng lợi chiến dịch Biên Giới, trên chiến trường trung du, đồng bằng Bắc Bộ, ta đã liên tục mở các chiến dịch Trần Hưng Dạo (Trung Du), Hoàng Hoa Thám (Đường số 18), Quang Trung (Hà Nam Ninh)...

Để đối phó với các chiến dịch tiến công của ta, trên địa bàn Hải Dương, sau khi kết thúc chiến dịch Hoàng Hoa Thám, địch triển khai ngay chiến lược "chiến tranh tổng lực", liên tiếp mở các chiến dịch lớn đánh phá khu du kích của ta, thực hiện tái chiếm đóng, tái bình định để tranh chấp kho người, kho của vùng châu thổ; vơ vét nhân tài, vật lực phục vụ cho cuộc chiến tranh xâm lược mà tương lai hết sức mờ mịt, không thể kết thúc ngày một ngày hai.


Mở màn cho chiến lược "chiến tranh tổng lực" ở đồng bằng Bắc Bộ, trung tuần tháng 4 năm 1951, địch mở chiến dịch Mêđuy (Sứa biển), hòng xóa vùng căn cứ liên tỉnh Hải Dương - Thái Bình - Hải Kiến; lập vành đai bảo vệ Hải Phòng từ phía nam... Cũng từ đó, quê tôi liên tục hứng chịu nhiều trận càn quy mô lớn địch huy động tổng lực cả hải - lục - không quân. Từ tháng 4 đến tháng 9 năm 1951, địch đã tiến hành 5 cuộc càn lớn trên địa bàn huyện Tứ Kỳ. Chỉ trong cuộc càn "Sứa biển", với mũi đánh lên Tứ Kỳ, trong một ngày, địch đã sát hại hàng trăm dân lành ở Tứ Xuyên, Phương Kỳ... Tội ác của địch chất chồng như núi. Cùng với hành quân càn quét, địch rải quân ra đóng chốt ở nhiều nơi; khôi phục lại tề dõng ở các xã Đại Đồng, Bình Lãng, Tái Sơn, Hưng Đạo, Duy Tân... Lại những ngày cơ sở du kích ở Văn Tố, Tứ Kỳ gặp nhiều khó khăn, bị thu hẹp. Lại những ngày các đơn vị bộ đội Trung đoàn 42, bộ đội huyện và các cơ sở du kích chịu nhiều gian khổ, hy sinh.


Tôi nhớ trong những ngày đặc biệt khó khăn này, bộ đội Trung đoàn 42 đã về Tứ Kỳ cùng với Đại đội Nguyễn Huệ và du kích phá càn; nhiều trận ta thắng lợi lớn, làm nức lòng nhân dân khắp vùng. Điển hình là trận phá càn ở khu Trung Tứ Kỳ (ngày 4 và 5 tháng 7 năm 1951) làm thất bại cuộc càn của gần một nghìn tên địch, ta diệt 176 tên, trong đó có tên quan hai chỉ huy bốt An Nghiệp; hay trận phá cuộc càn Miraben. Dựa vào làng chiến đấu Nhũ Tỉnh, Đại đội 25 Trung đoàn 42, Đại đội Nguyễn Huệ và du kích đã loại khỏi vòng chiến đấu 340 tên địch, trong đó có một quan hai và nhiều lính Âu - Phi... Kinh nghiệm phá càn ở Nhũ Tỉnh đã được phổ biến rộng rãi để lực lượng vũ trang Liên khu 3 học tập.


Tuy nhiên, không một thắng lợi nào của ta mà không phải trả giá. Thêm một tuổi, hay chứng kiến thêm một trận chống càn, luồn càn của bộ đội, du kích, tôi càng thấy rõ hơn điều đó. Với một cuộc càn Miraben, địch huy động tới mấy nghìn quân, kết hợp hải - lục - không quân, tập trung càn vào một địa bàn hẹp. Trong khi đó, lực lượng của ta chỉ có khoảng một tiểu đoàn cả bộ đội chủ lực, bộ đội huyện và du kích tại chỗ. Với tương quan lực lượng như vậy, bộ đội và du kích đã ngoan cường bám trụ, dựa vào làng Nhũ Tỉnh - làng chiến đấu vững chắc để quyết chiến với kẻ thù suốt cả ngày. Đêm xuống, sau một trận giáp lá cà với quân địch đông gấp nhiều lần ở đình làng Nhũ Tỉnh, các đơn vị của ta đã mở được đường máu, rút khỏi vòng vây của địch. Du kích kháo nhau: Loại được gần một tiểu đoàn địch khỏi vòng chiến đấu, Trung đoàn 42 cũng phải thương vong hai trung đội; trong đó có hai cán bộ trung đội. Hình ảnh bộ đội cả ngày đầm mình dưới ao bèo vừa giấu quân, vừa chiến đấu; gương những chiến sĩ quần nhau với địch suốt ngày, súng hết đạn, đã dùng lê, dao găm tử chiến với kẻ thù, để đồng đội rút lui trong trận chống càn ở Nhũ Tỉnh... gây xúc động mạnh mẽ trong người dân quê tôi. Trong câu chuyện thường ngày, mọi người đều cảm phục, xót thương các chú bộ đội dũng cảm chiến đấu và hy sinh.


Có thể nói, những tháng cuối năm 1952 tình hình quê tôi cực kỳ căng thẳng, khó khăn; cơ sở bị xáo trộn; nhiều cán bộ, đảng viên du kích phải bật khỏi địa bàn. Tuy nhiên Tứ Kỳ luôn là đất nóng. Tôi có cảm tưởng những ngày tháng khó khăn chính là những ngày đêm "giữ lửa" - lửa cách mạng của lòng dân; lửa chiến tranh du kích, chiến tranh nhân dân, để rồi lại vùng lên thiêu đốt lũ cướp nước và bọn tay sai bán nước.


Trong những ngày địch vừa tái lập tề dõng vừa tăng cường càn quét, kìm kẹp, o ép mọi hoạt động kháng chiến; khống chế, chà xát gắt gao; người dân quê tôi đã tìm mọi cách để "giữ lửa" cách mạng, và khó có thể tin là những người dân chân chất, mộc mạc như hạt thóc, củ khoai ấy đã làm được những việc diệu kỳ.


Đầu tiên phải kể đến gương du kích - Chiến sĩ Thi đua toàn quốc Trần Trọt - người mà tôi xem như thần tượng. Địch đóng bốt ở An Nhân ngay cạnh thôn La Tỉnh - quê của ông, nên Trần Trọt đã giả làm người câm, đi đơm đó để đi lại trong làng, ra vào đồn địch dò la tình hình, đưa đón cán bộ về hoạt động, ở An Thanh có bà Thanh vờ làm người đi bắt cáy, để mang tài liệu, cung cấp tin tức và cả cơm - nước cho cán bộ xã và du kích ở căn cứ bí mật tại bãi An Lao. Tôi cũng nghe người lớn kể ở xã Quang Trung có ông Nguyễn Văn Hồ tuổi ngoài 60 vẫn tìm cách quật ngã, bắt sống một tên ác ôn. Còn ở làng Hải Hà xã Hà Thanh có một đội thiếu nhi, hoạt động phục vụ cho bộ đội, du kích đánh giặc, ví như dò la tin tức của giặc, báo cho du kích, bộ đội; canh gác cùng với du kích...


Thời gian này, ở Văn Tố quê tôi đã xuất hiện biết bao gương kiên trung bất khuất trước quân thù, dù vào tù ra tội, dù bị tra khảo đánh đập dã man vẫn một lòng sắt son với cách mạng, bảo vệ Đảng, bảo vệ bộ đội, du kích như ông Khác, ông Năng, bà Như, bà Yến, ông Suy, ông Huyên... Hay như ông bà tôi, dù không khi nào nguôi ngoai nỗi đau cha tôi mất, nhưng vẫn bất chấp hiểm nguy, ngày đêm che giấu, nuôi dưỡng cán bộ, bộ đội về hoạt động. Còn chuyện các bà, các cô trong thôn, ngoài làng, tổng trên - xã dưới hằng ngày tập trung kéo đến đồn bốt địch, kêu gọi chồng con bị cưỡng ép đi lính, nhanh chóng quay súng trở về... diễn ra thường xuyên.


Chính nhờ các hình thức hoạt động, đấu tranh khôn khéo, hợp pháp mà ta vừa bảo toàn được lực lượng; đồng thời biến nhiều làng tề của địch lập nên chỉ là hình thức - khi đó gọi là "xanh vỏ, đỏ lòng". Cũng nhờ vậy mà bộ đội khu, tỉnh và huyện có điều kiện bám dân, bám đất, duy trì hoạt động tác chiến; chờ thời cơ đưa chiến tranh nhân dân vùng địch hậu phát triển lên một cao trào mới.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #8 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2026, 08:25:39 pm »

Vào cuối năm 1951 - đầu năm 1952, trên địa bàn Tứ Kỳ liên tiếp nổ ra những trận đánh lớn của bộ đội và du kích gây tác động mạnh cả với ta và địch. Điển hình là trận bộ đội cùng du kích cường tập tiêu diệt các vị trí Ô Mễ, Xuân Nẻo thuộc xã Hưng Đạo. Từ lâu, chúng tôi vẫn nghe người lớn bàn tán về cụm dõng binh này như sào huyệt của địch, nơi tập trung những phần tử phản động, ác ôn nhất vùng. Và chính kẻ địch cũng từng huênh hoang tuyên bố: "Ô Mễ, Xuân Nẻo là pháo đài bất khả xâm phạm". Nhưng kẻ địch có đâu ngờ, chỉ trong đêm 25 và ngày 26 tháng 11 năm 1951, một tiểu đoàn bộ đội tỉnh cùng Đại đội Nguyễn Huệ của Tứ Kỳ và du kích đã xóa sổ "pháo đài" này. Những ngày đó chúng tôi được nghe mọi người trầm trồ thán phục gương hai cảm tử quân là Nguyễn Ngọc Kỳ và Đào Duy Cảnh dũng cảm ôm gói bộc phá 10 cân đánh sập lô cốt, tạo điều kiện cho xung lực diệt đồn địch. Cả hai anh đã anh dũng hy sinh.


Chiến thắng Ô Mễ - Xuân Nẻo đã mang lại một sắc thái mới cho không khí kháng chiến ở quê tôi; nói đúng hơn là khôi phục niềm tin của quân và dân Tứ Kỳ sau gần một năm cực kỳ khó khăn, nếu không nói là bế tắc. Chiến thắng đã tạo thế, tạo đà để quê tôi vươn dậy, cùng toàn vùng phối hợp với chiến trường chính đẩy mạnh chiến tranh du kích.


Về phần mình, lúc này tôi đã lên mười. Chưa có lớn mà cũng chẳng có khôn. Giặc giã, bom đạn, lại sớm rời khỏi tay cha; nên tuổi thơ của tôi, của em Dung cùng cằn cỗi, đơn điệu như thân hình gầy guộc, lòng khòng lèo khèo của tôi. Mười tuổi, con cái nhà nông, tôi đã đỡ đần ông bà và mẹ được khối việc. Ngoài đồng khi thì chăn trâu, cắt cỏ. Việc nhà, thì gánh nước, xay thóc, giã gạo... Mặc dù, ông bà tôi khi nào cũng giành lấy việc, không cho tôi làm. Cũng phải thôi, ông bà dồn hết tình thương cho hai anh em tôi - những đứa cháu côi cút, thiệt thòi so với đám bạn bè. Ngay trong những ngày bom đạn đang ì ùng suốt ngày; khi ở hầm, khi đi sơ tán, ông bà đã muốn tôi được học hành. Nhưng học ai, học ở đâu trong vùng tề..., quả là câu hỏi khó tìm ra lời giải. Vì vậy, tôi vẫn chưa làm được điều mà ông bà muốn.


Năm 1953, Nhà nước quan tâm đến con em các gia đình thuộc diện chính sách. Theo đó, là con liệt sĩ, tôi được địa phương chọn gửi đi học ở Trung Quốc. Trong huyện, số được chọn không nhiều. Ngẫm lại, ngay trong những ngày chiến tranh ác liệt; vận mệnh đất nước - từ Nam - chí Bắc, bao nhiêu chiến dịch, chiến trường cần tới sự chỉ đạo của Trung ương, Bác Hồ. Thế mà Đảng, Nhà nước vẫn quan tâm chăm lo tương lai của con em các gia đình chính sách như tôi. Điều đó làm cho gia đình và bản thân tôi vô cùng xúc động và vinh dự. Ông, bà và mẹ tôi dỗ dành tôi phải đi học cho nên người, "cho bằng anh bằng em", để cha tôi dưới suối vàng cũng mát lòng mát dạ.


Không nản lòng, nhưng việc đi học hay ở lại, qua lời bàn ra, tán vào của người thân cũng làm tôi phân vân một thời gian. Cuối cùng tôi quyết định chưa thoát ly. Bởi lúc này, tôi chưa thể xa quê hương - nơi đây ngày đêm ông, bà, mẹ tôi, chú bác, cô dì... và đám bạn nối khố của tôi đang đương đầu với đạn bom, chết chóc. Bởi đã mấy năm rồi, kể từ ngày cha tôi hy sinh, tôi đã nung nấu, nuôi mối căm thù, ước một ngày có sức vóc, tôi sẽ làm được một điều gì đó có ích cho gia đình, quê hương, trả thù được cho cha mình. Chưa hết, khi đó tôi nghĩ mình khó rời khỏi được đám bạn bè nối khố, chăn trâu cắt cỏ, tập đánh trận giả... Tôi khó lòng chia xa những dòng sông đào từng nhuộm nâu tôi bởi váng phù sa; những khoanh ao hồ mà tôi cùng các em lặn ngụp, tập bơi cho nhau... Rồi các chú, các bác trên huyện cũng chiều lòng tôi. Thú thực, khi đó tôi chỉ tiếc em Dung đang bé quá, không thì để em đi thay tôi ra nước ngoài học, sang Trung Quốc hay Liên Xô gì đó thì trọn cả đôi đường. Như trên tôi đã nói, việc đắn đo, phân vân cũng chỉ thoáng chốc rồi qua đi. Sau một ngày chạy càn, một ngày giúp người lớn gánh phân ra đồng...; đêm về chìm trong giấc ngủ, tỉnh dậy, bao nhiêu lo toan cho cuộc sống thường nhật; hôm nay giặc càn ở đâu, có ai hy sinh không?... đã choán hết mọi suy tư rồi!


Đông xuân 1953-1954, tranh thủ lúc Pháp đang tập trung quân ứng chiến lên đối phó với bộ đội chủ lực của ta ở chiến trường Tây Bắc, ở vùng châu thổ sông Hồng, ta đẩy mạnh tiến công địch. Từ chống càn ta chuyển lên phá càn. Cuối năm 1952 - đầu năm 1953, bộ đội và du kích Tứ Kỳ đã phá được cuộc càn Noócmăngđi, khi Pháp cho quân đánh vào Tứ Kỳ. Nhân đà thắng lợi, ta nhổ luôn nhiều đồn bốt của địch, trong đó có Bỉnh Di, Ô Mễ, Cống Câu... là những nơi tập trung bọn ác ôn khét tiếng. Mặc dù còn nhiều khó khăn, trong cơn giãy chết, kẻ địch vẫn phản ứng điên cuồng; nhưng năm 1953, bộ đội và du kích Tứ Kỳ đã trưởng thành mạnh mẽ, đánh địch có hiệu quả. Vùng kiểm soát của địch ngày càng bị thu hẹp. Khu du kích không ngừng được mở rộng. Địch ngày càng lâm vào khó khăn. Rồi chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 cuốn hút mọi tâm lực, tình cảm của quân và dân quê tôi vào trận cuối cùng, quyết sống mái với kẻ thù.


Cuối năm 1953 đầu năm 1954, Trung ương Đảng, Bộ Tổng tư lệnh và Bác Hồ quyết định đưa chủ lực lên chiến trường Tây Bắc, tiến công Điện Biên Phủ - một tập đoàn cứ điểm mà Pháp huênh hoang cho là "bất khả xâm phạm". Mặc dù phải cuống cuồng điều binh khiển tướng - đưa quân chủ lực cơ động lên đối phó với ta ở Điện Biên Phủ, nhưng ở đồng bằng Bắc Bộ, địch vẫn tăng cường đánh phá hậu phương của ta. Riêng ở Văn Tố, tôi nhớ vào cuối tháng Chạp năm Quý Tỵ - 1953, địch mở một trận càn rất dữ. Cuối năm đó, mưa dầm, gió bấc, rét như cắt da cắt thịt. Với kẻ thù, tôi cứ ám ảnh một điều, hình như chúng không có tổ tiên, ông bà, không có ai để mà thờ cúng, gửi gắm tâm linh... Bởi vậy, đúng vào ngày 23 tháng Chạp, trong làng, từ gia đình tạm đủ ăn đến những nhà khốn khó, cố dành dụm con gà, đĩa xôi cúng ông Công ông Táo, thì bất ngờ địch ập vào làng. Lính lê dương như trâu điên xả súng vào bất cứ đâu mà chúng muốn. Súng nổ dữ dằn, chát chúa. Giặc bắn giết nhiều dân thường, đốt nhà, bắt bỏ, hãm hiếp đàn bà, con gái. Tiếng kêu khóc xé lòng, ở thôn tôi và La Giang, địch đã khui được mấy hầm bí mật, bắt được một số đảng viên, du kích. Năm đó, quê tôi hoàn toàn không có Tết, đúng hơn là chỉ có "tết thương đau". Năm mới về mà nhiều đứa trẻ đầu trắng khăn tang. Mối thù với quân cướp nước và lũ tay sai là không đội trời chung. Thế rồi, vượt lên mọi bi lụy, đau thương, bộ đội và du kích tăng cường đánh giao thông, hạn chế hoạt động chi viện cho Điện Biên Phủ của địch; đồng thời tập trung nhổ những đồn bốt còn lại như bốt Măng, Đồng Lâm, Quý Cao, Hàm Hy, An Thổ...
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #9 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2026, 08:26:37 pm »

Ngày 7 tháng 5 năm 1954, ta toàn thắng ở Điện Biên Phủ. Quân Pháp đại bại. Tướng Đờ Cát cùng toàn bộ bộ chỉ huy tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ bị bắt. Tin chiến thắng Điện Biên truyền về quê tôi làm cho bầu không khí sau bao ngày bị o ép, dồn nén như vỡ òa ra. Từ khu Thượng, khu Trung đến khu Hạ của Tứ Kỳ, người người hân hoan tột độ. Trong xóm, ngoài làng, người ta kháo nhau về chiến thắng Điện Biên. Vui mừng hồ hỏi và bồn chồn nhất là những gia đình có người thân tham gia chiến dịch; chồng, cha, anh... họ còn hay mất? Chiến thắng rồi, khi nào được về xuôi, về thăm nhà?... Mừng là đó mà lo cũng đó... Ngược với tâm trạng, không khí phấn chấn ngất trời của ta là vẻ hoang mang lo sợ của kẻ thù. Những thằng Tây trước đây ngày ngày nghênh ngang, xấc xược, mặt lúc nào cũng như gà chọi, sẵn sàng bắn giết, hiếp đáp dân ta, thì nay co rúm lại trong đồn; đám tề ngụy lại càng bi đát hơn, nhiều tên đã bỏ trốn về quê.


Nhân đà thắng lợi, ta kết hợp tiến công địch cả quân sự, chính trị, binh vận. Tôi không thể nào quên không khí hồ hởi, rạo rực của quê hương những ngày hè năm 1954, những ngày tổng phá tề trong toàn huyện, toàn tỉnh. Các gia đình có con em đi lính cho Pháp, tụ tập kéo lên đồn Bỉnh Di, Cống Câu... gọi người thân buông súng trở về.


Ngày 20 tháng 7 năm 1954, Hiệp định Giơnevơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương được ký kết. Theo đó, Tứ Kỳ thuộc vùng tập kết 100 ngày. Lệnh của Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp, ngày 22 tháng 7 năm 1954, Hiệp định đình chiến có hiệu lực trên cả nước. Thế nhưng từ thời điểm đó cho đến ngày địch rút hẳn, đó đây, thi thoảng vẫn gằn lên từng loạt đạn chát chúa. Người dân quê tôi vẫn tiếp tục ngã xuống bởi bàn tay tàn bạo của kẻ thù; rồi cảnh cướp bóc, lừa phỉnh, mua chuộc lôi kéo giáo dân các xứ Đồng Lâm, Ngọc Trại, Hà Kỳ... xuống Hải Phòng để di cư vào Nam. Tuyên truyền, đấu tranh, thuyết phục giữ giáo dân, những hàng xóm láng giềng của mình ở lại chung lưng đấu cật xây dựng quê hương lúc này cũng là cuộc chiến đấu gay go, ác liệt... Cũng có người ở lại, nhưng cũng không ít gia đình bỏ quê ra đi... Riêng xứ đạo Đồng Lâm có hơn một trăm hộ với hơn bốn trăm khẩu bỏ quê vào Nam. Chứng kiến cảnh chia ly bất đắc dĩ đó, một nỗi buồn trĩu nặng trong suy nghĩ non nớt của tôi.


Ngày 30 tháng 10 năm 1954, những tên lính viễn chinh, thực dân cuối cùng rút khỏi đất Tứ Kỳ. Quê tôi sạch bóng quân thù. Vậy là sau chín năm "kháng chiến ba nghìn ngày không nghỉ"; phải chịu biết bao mất mát, hy sinh; phải chịu cảnh o ép của vùng tề, lắm khi nghẹt thở; có đêm mà chẳng có ngày... giờ đây quê hương đã thật sự thanh bình. Cũng bầu trời đó mà sao sắc xanh - xanh thắm; cũng cánh đồng đó, nhưng không còn cảnh đất bầm như nhuốm máu, nhuốm bầm vì uất hận. Lô cốt địch vẫn còn, nhưng không gớm ghiếc, mà trở nên vô hồn, tội nghiệp. Nhưng, sau khi cùng đội thiếu niên, cùng bạn bè trang lứa tụ tập hát hò; tham gia cổ động, mít tinh mừng ngày giải phóng quê hương, mừng hòa bình; tôi bỗng lặng đi trong một cảm giác buồn vắng khó tả. Nghĩ tới ông nội, tới cha mình, tôi lẳng lặng ra khỏi đám đông, chạy một mạch về nhà. Một cảnh tượng làm tôi buồn vô hạn. Đầu hồi nhà, bà nội tôi khóc nấc lên. Vào nhà, tôi đốt mấy nén hương thắp lên bàn thờ. Giá chi, ông tôi sống được đến bây giờ, và bố tôi không hy sinh trong trận càn dữ dằn khủng khiếp hồi tháng 10 bốn năm về trước của kẻ thù, để chứng kiến ngày quê hương thanh bình, hết bóng giặc!...


Thương ông nội và thương bố tôi khôn xiết, nhưng rồi phần vì tuổi trẻ, buồn có, vui cũng có; phần vì thắng giặc rồi, niềm vui chung lấn át, bù đắp nỗi đau riêng, tôi lại bị cuốn hút bởi không khí của những ngày mới - ngày đầu hòa bình.

Hòa bình rồi, với người lớn biết bao nhiêu công việc phải tính, phải lo: từ tổ chức lại chi bộ, chính quyền, đến các đoàn thể; lo cứu tế, chạy ăn cho bao gia đình đứt bữa triền miên; lo sức kéo, tổ chức khai hoang phục hóa hàng trăm hécta đã hoang hóa mấy năm nay bởi bom đạn của giặc Pháp. Rồi còn cải cách ruộng đất... Với đám trẻ chúng tôi, cũng cơ man nào là công việc. Mười bốn tuổi, ở quê, tôi đã gần như một lao động chính trong nhà. Ra xã hội, tôi là một thành viên tích cực của đội thiếu niên; tham gia các buổi cổ động, mít tinh, sinh hoạt văn nghệ... Cùng với người lớn, đám trẻ chúng cũng góp phần làm cho bộ mặt của quê hương hồi sinh, khởi sắc từng ngày.


Chiến tranh lui rồi, mới 14 tuổi dẫu có muốn làm người lớn cũng chẳng được. Việc chính của tôi lúc này là học hành.

Trước đây, trong những ngày còn giặc giã, ông bà nội tôi cũng đã rất quan tâm đến việc học hành của tôi. Chừng 10 tuổi, tôi mới được học vỡ lòng, rồi lớp nhất, lớp nhị. Lớp học khi đó là nhà thầy hoặc nhờ một nhà dân nào đó có hầm hố chắc chắn. Vài chục đứa trẻ, cùng với một ông giáo làng là thành lớp học. Có hôm vừa học vừa chạy giặc, nên chữ được chữ không. Nhưng khi còn sống, ông tôi thường nhắc: một chữ, hai chữ cũng phải học; không học thì không thành người được. Giờ đây dẫu còn bao khó khăn, thiếu thốn trong chuyện học hành, nhưng so với ngày vừa học vừa chạy giặc, thì được cắp sách đến trường dưới trời xanh yên ả là hạnh phúc quá lớn lao.


Cùng với sự "lột xác" về đời sống chính trị, kinh tế; chỉ một thời gian ngắn, sau ngày hòa bình, đời sống văn hóa tinh thần của quê tôi có bước tiến trông thấy. Giáo dục phổ thông phát triển mạnh. Xã đã có trường cấp I, có đủ 4 lớp - từ lớp 1 đến lớp 4. Trường ốc tuy tuềnh toàng nhà tranh, vách đất nhưng không còn phải nương nhờ nhà dân như trong kháng chiến. Xã chưa có trường cấp II, nên sau khi học xong cấp I tôi lên cấp II ở trường huyện. Việc tôi đeo đuổi học lên được cấp II, không chỉ là cố gắng của bản thân mà phải nói là sự gồng lên của gia đình, mà người phải gánh đỡ tất cả để tôi được học hành là bà nội, bởi người trước đây sẻ chia cùng bà là ông nội thì đã mất rồi. Còn mẹ tôi cũng đã tái giá và cũng lo gánh vác việc nhà chồng. Những năm 1958-1959, học cấp II trường huyện cùng với tôi ở xã, một khối lớp, không quá chục đứa. Trường ở thị trấn, cách nhà hơn ba cây số, ngày hai buổi chúng tôi cuốc bộ, vui bạn vui bè, chẳng thấy xa xăm gì.


Ngoài gia đình, người thân, thì tiếp cho tôi thêm một nghị lực, quyết tâm, niềm say mê học tập là các thầy giáo. Từ lớp vỡ lòng cho đến ngày tôi buông bút nhập ngũ, mỗi lớp, mỗi thầy giáo đều đọng lại trong tôi những tình cảm sâu đậm, thiêng liêng; đều gieo vào tâm hồn của tôi biết bao tình cảm; tạo trong tôi thế ứng xử đầy tình nhân ái. Đầu tiên phải kể đến thầy Phúc - người thầy dạy dỗ, kèm cặp tôi từ lớp 1 đến lớp 3; người đã cầm tay, giúp tôi đưa những nét bút, nét chữ, nét vẽ đầu tiên. Lên đến lớp 4 và cấp II có nhiều thầy dạy, như thầy Tuyên dạy văn, thầy Cần dạy toán, thầy Trung dạy lý để lại trong tôi nhiều ấn tượng nhất.


Thầy Tuyên quê gốc Thanh Hóa. Không rõ đường đi nước bước thế nào mà thầy về dạy ở trường huyện chúng tôi sau hòa bình. Ông là khuôn mẫu của một ông đồ sống vào thời Tây. Thầy thông thạo tiếng Hán, đã từng là môn đồ của "cửa Khổng sân Trình", nhưng thầy giỏi cả tiếng Pháp - theo tôi biết đến thời điểm chúng tôi học thầy thì thầy đã có tới 20 năm học tiếng Pháp. Cũng vì thế mà vốn văn học Pháp của thầy dày lắm. Không chỉ được học văn học nước nhà, chúng tôi còn được thầy cho ngao du vào thế giới văn học Pháp - nào là Môlie, Bandắc, Môpátxăng, Víchto Huygô... Tôi không thích các môn xã hội, nhưng giờ giảng văn của thầy Tuyên khi nào cũng đầy sức cuốn hút, hấp dẫn. Sau khi nghỉ hưu, thầy Tuyên và gia đình về ở Đồ Sơn - Hải Phòng; thầy còn có nghề bốc thuốc Bắc và nghiệp văn chương, hay nói đúng hơn văn chương là một phần cuộc sống của thầy. Những năm gần đây, hễ có dịp là tôi xuống Đồ Sơn thăm thầy; những lần như vậy, thầy trò cùng ôn lại kỷ niệm một thời. Thời đó, thầy trò đều nghèo, nghèo lắm. Nhưng đạo làm thầy và đạo làm trò rất đỗi thiêng liêng. Thầy thường dạy chúng tôi: "Khó khăn phải đạo, cháo càng ngon... "! Bởi vậy, tình nghĩa thầy trò, tình người trong sáng, nhân ái đẹp đẽ vô cùng. Cũng những lần đó, thầy không quên đọc cho tôi nghe những bài thơ thầy viết bằng tiếng Pháp.


Tôi thích học và học được các môn tự nhiên. Thầy Cần dạy toán cấp II là người giúp tôi rất nhiều trong học toán. Thầy cũng là người nhen lên trong tôi sự thích thú học toán; dẫu rằng sau này binh nghiệp hướng tôi sang một khúc ngoặt khác, không được theo đuổi môn học này. Tôi cũng có tình cảm đặc biệt với thầy giáo dạy môn học chính trị - bởi thầy là một thương binh trong kháng chiến chống pháp. Cứ nghĩ thầy đã từng xông pha nơi chiến trận và gửi lại một phần xương máu trên chiến trường, là chúng tôi thầm cảm phục, kính trọng...


Phải nói rằng, cùng với các thành viên trong gia đình, thì thầy giáo là những người giúp tôi có được tâm hồn không đến nỗi cằn cỗi, khô cứng; không chỉ là thầy mà còn là những người bạn thân tình, giúp cho tôi có được định hướng vào đời. Vốn văn hóa, mặc dù chưa đáng là bao, cùng với những tình cảm, lối sống và sự định hướng đó là hành trang vô giá giúp tôi trở thành người lớn để bước vào một chặng đường mới - chặng đường làm Bộ đội Cụ Hồ.
Logged
Trang: 1 2 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM