Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 06:28:54 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Đơn vị Anh hùng và anh hùng ngành hậu cần Quân khu 9  (Đọc 2253 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« vào lúc: 05 Tháng Mười, 2026, 09:56:08 pm »

- Tên sách: Đơn vị Anh hùng và anh hùng ngành hậu cần Quân khu 9
- Tác giả:
- Nhà xuất bản:
- Năm xuất bản: 1999
- Người số hóa: macbupda, quansuvn


"... Chẳng những Quân đội đi giết giặc lập công mới Anh hùng, mà cán bộ cung cấp ra sức phục vụ cũng là Anh hùng, trong mỗi người các chú đều có mầm Anh hùng, các chú phát triển nó lên..."


09-09-52
HỒ CHỦ TỊCH
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #1 vào lúc: 05 Tháng Mười, 2026, 09:58:53 pm »

TRUYỀN THỐNG
NGÀNH HẬU CẦN LỰC LƯỢNG VŨ TRANG QUÂN KHU IX


* Tận tâm tận lực phục vụ các lực lượng vũ trang Quân khu chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu, công tác và xây dựng.

* Không sợ hy sinh gian khổ, dũng cảm chiến đấu chống mọi kẻ thù, bảo vệ lực lượng và cơ sở vật chất hậu cần trong mọi tình huống.

* Phát huy quan điểm và sức mạnh hậu cần nhân dân, hậu cần tại chỗ, đề cao tinh thần tự lực, tính chủ động sáng tạo.

* Tích cực học tập, rèn luyện và nghiên cứu khoa học; nâng cao trình độ mọi mặt; Xây dựng ngành hậu cần vững mạnh toàn diện.

* Cần, kiệm, liêm, chính. Đoàn kết tốt, kỷ luật nghiêm, hiệp đồng chặt chẽ trong và ngoài đơn vị, quan hệ gắn bó mật thiết với nhân dân tạo nên sức mạnh tổng hợp. Hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ.

* Thực hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn, công tác đền ơn đáp nghĩa và chính sách hậu phương Quân đội.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #2 vào lúc: 05 Tháng Mười, 2026, 10:00:55 pm »

LỜI NÓI ĐẦU


Nhân dịp kỷ niệm 55 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, ngày hội Quốc phòng toàn dân (22-12-1944 - 22-12-1999). Thiết thực chào mừng Đại hội Thi đua Quyết thắng của Cục Hậu cần và các lực lượng vũ trang Quân khu năm 1999, tiến tới Đại hội Thi đua toàn quân, toàn quốc năm 2000.


Đảng ủy - chỉ huy Cục Hậu cần tổ chức biên soạn và cho xuất bản cuốn "Đơn vị Anh hùng và Anh hùng ngành hậu cần Quân khu IX".

Với 15 đơn vị và 36 cá nhân Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân và Anh hùng lao động, tiêu biểu cho ngành hậu cần Quân khu IX trong vườn hoa rực rỡ của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam. Đó là những tập thể, những con người luôn luôn "Tận trung với nước tận hiếu với dân, kiên cường dũng cảm, tích cực chủ động và sáng tạo, tự lực tự cường cao, chịu đựng mọi gian khổ khắc phục mọi khó khăn, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ" qua các giai đoạn cách mạng của Đảng và dân tộc trong những thập niên nửa cuối thế kỷ 20.


Mong rằng các thế hệ hậu cần lực lượng vũ trang Quân khu hiện nay và sau này luôn trân trọng, kế thừa và phát huy những phẩm chất vốn có, truyền thống tốt đẹp và cao quý của các thế hệ cha anh. Trên cơ sở đó ra sức học tập và rèn luyện, cùng nhau thi đua thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ với tinh thần "ngành ngành thi đua, người người thi đua", phấn đấu ngày càng có nhiều tập thể và cá nhân Anh hùng, Chiến sĩ quyết thắng, Chiến sĩ thi đua... góp phần cùng quân và dân cả nước xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


Tuy đã cố gắng tập trung trình bày và thể hiện các gương sáng, nhằm nêu bật tầm vóc và giá trị lịch sử trong từng đơn vị và cá nhân anh hùng, song do trình độ người viết còn hạn chế, nên không thể tránh khỏi thiếu sót. Mong được sự góp ý phê bình của bạn đọc.


Xin chân thành cảm ơn các cơ quan đơn vị, các nhân chứng lịch sử, các đơn vị anh hùng và anh hùng... đã giúp đỡ chúng tôi về tư liệu, chuyên môn nghiệp vụ và nhiều nội dung thiết thực khác. Cảm ơn Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Cần Thơ và Xí nghiệp In Tổng hợp Cần Thơ đã tạo điều kiện thuận lợi để cuốn sách sớm ra mắt bạn đọc.

Đảng ủy - Chỉ huy
Cục Hậu cần - Quân khu IX
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #3 vào lúc: 05 Tháng Mười, 2026, 10:02:13 pm »

ĐƠN VỊ ANH HÙNG

ĐỘI PHẪU THUẬT TIỀN PHƯƠNG SỐ 1 TỈNH ĐỘI BẾN TRE


Được thành lập đầu năm 1964, là tổ chức quân y tuyến trước đầu tiên của lực lượng vũ trang tỉnh đội Bến Tre trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Lúc đầu với 17 cán bộ nhân viên (2 y sĩ, 2 y tá và 13 cứu thương) do y sĩ Nguyễn Thế Đoàn làm đội trưởng, trang bị dụng cụ chỉ có 1 bộ trung phẫu thiếu, đơn vị đã tự lực tạo thêm y cụ, thuốc men, cơ động trên khắp chiến trường, trực tiếp phục vụ quân và dân Bến Tre hoạt động chiến đấu liên tục trong những năm "đánh phá ấp chiến lược, mở rộng vùng giải phóng 1964 - 1967".


Đầu năm 1968, đội được giao nhiệm vụ vào nội ô thị xã Bến Tre phục vụ quân dân tỉnh nhà tổng tiến công tết Mậu Thân 1968. Nhận được lệnh của cấp trên, bất chấp chiến trường bom đạn ác liệt, từ căn cứ đội đã nhanh chóng cơ động vượt qua sông Bến Tre, bình tĩnh mưu trí và dũng cảm luồn lách qua các đồn bót địch, đột nhập nội ô thị xã đúng thời gian quy định.


Đợt 1 tổng tiến công năm 1968 vào nội ô thị xã đơn vị đã tiếp cận các đơn vị chiến đấu, xông pha trong bom đạn, dựa vào nhân dân tại chỗ và các dãy nhà góc phố tổ chức thu nhận, cấp cứu, cất giấu bảo vệ và vận chuyển được 82 thương binh ra khỏi vòng chiến sự an toàn.


Tháng 5 năm 1968 đội tiếp tục vào nội ô thị xã Bến Tre phục vụ chiến đấu (cao điểm 2). Trong đợt này các mũi tiến công của ta bị địch phản kích ngăn chặn ác liệt bộ đội thương vong nhiều, vị trí đứng chân của đơn vị cũng bị địch đánh phá quyết liệt, toàn đội vừa chiến đấu đánh bộ binh địch, trực thăng địch đổ quân, vừa cấp cứu khiêng cõng, dìu dắt thương binh đến khu vực an toàn. Sau đợt này đơn vị hy sinh 7 và bị thương 6 đồng chí trong lúc còn 36 thương binh chưa chuyển được ra ngoài, toàn đội đã kiên cường bám trụ tiếp tục đánh địch bảo vệ thương binh, tổ chức đưa được toàn bộ thương binh liệt sĩ ra vùng an toàn.


Từ khi thành lập đơn vị đến cuối năm 1970, đội phẫu thuật đã trực tiếp phục vụ chiến đấu trên 50 trận, cấp cứu điều trị hơn 1.000 thương binh (có hơn 400 thương binh vừa và nặng), đánh địch nhiều trận diệt 45 tên làm bị thương 30 tên khác, bắn cháy 6 máy bay lên thẳng làm bị thương 6 chiếc khác, góp phần vào thắng lợi chung của quân dân tỉnh nhà.


Những năm 1969 - 1970 địch đẩy mạnh hình định lấn đất - giành dân. Chúng ném bom, bắn pháo, rải chất độc hóa học, xua quân càn quét đánh phá tìm diệt lực lượng ta quyết liệt, làm cho vùng giải phóng ngày càng bị thu hẹp, căn cứ hậu phương trực tiếp không ổn định, các lực lượng vũ trang ta phải thường xuyên cơ động tránh né địch, bám vào các lõm giải phóng tạo thế cài răng lược với chúng để tồn tại, do vậy điều kiện tiếp tế lương thực và cơ sở vật chất quân y phục vụ thương bệnh binh hết sức khó khăn. Thực hiện chủ trương và quyết tâm của Tỉnh ủy và cơ quan quân sự tỉnh "kiên quyết bám trụ, chủ động đánh địch, một tấc không đi, một ly không rời", đơn vị đã bám chặt địa bàn, dựa hẳn vào nhân dân, bám sát các lực lượng vũ trang vừa chiến đấu bảo vệ căn cứ, vừa tìm mọi biện pháp cứu chữa chăm sóc và nuôi dưỡng thương bệnh binh, cùng quân dân tỉnh Bến Tre vượt qua thời kỳ thử thách khốc liệt.


Từ những thành tích xuất sắc trên, đơn vị đã được tặng thưởng 1 Huân chương quân công hạng 3, 4 Huân chương Chiến công các hạng, được tặng cờ "Dũng cảm quên mình phục vụ thương binh". Đồng chí Nguyễn Thế Đoàn và đồng chí Văn Lộc Sanh một trong những cán bộ ưu tú của đội được tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Ngày 5 tháng 9 năm 1970 đội phẫu thuật tiền phương số 1 tỉnh đội Bến Tre đã được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu cao quý: Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Phát huy truyền thống đơn vị anh hùng, từ năm 1971 cán bộ - chiến sĩ trong đội luôn đoàn kết gắn bó, nâng cao trình độ mọi mặt, xây dựng đơn vị thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ. Phục vụ lực lượng vũ trang tỉnh nhà đánh hại các kế hoạch bình định lấn chiếm của địch, giải phóng hoàn toàn quê hương vào mùa xuân 1975 lịch sử.


Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng theo yêu cầu nhiệm vụ mới, cán bộ chiến sĩ đơn vị được hòa nhập vào cơ quan quân y và bệnh xá tỉnh đội, có đồng chí được điều động đi đơn vị khác, có đồng chí được chuyển ngành hoặc phục viên về làm nòng cốt xây dựng y tế địa phương. Dù ở cương vị nào các đồng chí đều giữ được bản chất tốt đẹp và truyền thống anh hùng của đơn vị Anh hùng, tiếp tục hoàn thành mọi nhiệm vụ do Đảng Nhà nước, Quân đội và nhân dân giao phó.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #4 vào lúc: 05 Tháng Mười, 2026, 10:02:49 pm »

ĐẠI ĐỘI 23 QUÂN Y THUỘC E1, F1


Từ tháng 7 năm 1967, Đại đội 23 quân y phục vụ chiến đấu ở Thừa Thiên, Tây Nguyên rồi đầu năm 1970 vào Nam bộ và Đông Bắc Campuchia. Dù trong điều kiện nào, Đại đội luôn có quyết tâm cao, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, ác liệt để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.


Đặc biệt từ năm 1970 đến 1973, đơn vị phục vụ Trung đoàn 1 cơ động đánh địch ở miền Tây Nam bộ và Đông Bắc Campuchia là địa bàn có nhiều khó khăn, thời tiết khắc nghiệt, đồng lầy nhiều kênh rạch, nơi địch tập trung đánh phá quyết liệt, mọi thứ đều thiếu thốn, phần đông anh em khi vào đây mới tập bơi xuồng và lội sông... Nhưng đơn vị đã tìm cách khắc phục, sớm thích nghi với điều kiện hoàn cảnh chiến trường mới, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.


Nhiều lúc thương binh, bệnh binh tăng gấp bốn năm lần chỉ tiêu đề ra, các bác sĩ, y sĩ đứng mổ mỗi ngày hơn 10 giờ, liên tục cả tuần liền. Trong những lúc như vậy, tập thể đơn vị đã có những biện pháp giải quyết rất linh hoạt và chính xác cho từng ca thương binh, bệnh binh. Tinh thần phục vụ ở đây được các thương binh bệnh binh ghi nhận như những người "mẹ hiền", với thương binh mất máu nhiều, các y bác sĩ đã hiến máu để cứu sống.


Không kể ngày đêm, đạn bom ác liệt, mưa nắng, nhọc nhằn cứ có thương binh là đại đội lao vào cứu chữa ngay. Có nhiều lúc thiếu lương thực, cán bộ nhân viên C23 quân y tự đi tìm rau rừng, kiếm khoai, củ ăn để nhường cơm cho thương bệnh binh, ăn có sức mau lành bệnh.


Hoạt động tại địa bàn Tây Nam bộ, C23 quân y đã đảm bảo phục vụ tốt 5.700 lượt thương binh, bệnh binh trong đó có 62 ca bị cột sống, gãy xương đùi, thủng dạ dày, thủng ruột nhiều chỗ được cứu sống.

Đơn vị đã tranh thủ thường xuyên tổ chức rút kinh nghiệm, bồi dưỡng nghiệp vụ cho anh em từ đó nhiều đồng chí đã thực hành thành thạo những ca phẫu thuật công tác nuôi dưỡng thương bệnh binh được tốt hơn. Từ cây dược liệu tại chỗ, đại đội đã thu hái và chế biến được 1.100 lít thuốc nước, 44 vạn viên thuốc các loại để điều trị cho bộ đội, góp phần làm giảm khó khăn những lúc thiếu thuốc của đơn vị. Ngoài ra đơn vị còn tận tình chữa trị cho nhân dân được 118 lượt người khỏi bệnh, khám và cho thuốc nhiều người khác ở những nơi đại đội đóng quân, được bà con tin cậy.


C23 quân y đã được tặng 4 Huân chương Chiến công giải phóng (1 hạng nhất, 1 hạng nhì và 2 hạng ba).

Ngày 20 tháng 12 năm 1973, C23 quân y được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượnạ vũ trang nhân dân.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #5 vào lúc: 05 Tháng Mười, 2026, 10:03:57 pm »

XƯỞNG QUÂN GIỚI - QUÂN KHU 9


Xưởng quân giới Quân khu 9 thành lập năm 1960. Từ đó đến tháng 4 năm 1975, tuy có nhiều khó khăn thiếu thốn về dụng cụ, nguyên vật liệu làm vũ khí, địch lại thường xuyên càn quét đánh phá rất ác liệt, xưởng phải vừa sản xuất, vừa chiến đấu vừa di chuyển nhiều lần v.v..., nhưng đơn vị luôn nêu cao tinh thần khắc phục khó khăn, vượt qua gian khó ác liệt, tranh thủ mọi thời gian, sửa chữa sản xuất được nhiều vũ khí, phục vụ tốt cho các đơn vị chiến đấu. Đơn vị đã sản xuất được gần 40 vạn quả mìn, thủ pháo, lựu đạn và đạn các loại, gần 30.000 bệ phóng (đạn, lựu đạn, bộc phá), 200 quả thủy lôi cỡ lớn (trên 250 kg), hàng vạn phụ tùng các loại súng kịp thời cung cấp cho đơn vị chiến đấu.


Quá trình làm nhiệm vụ, đơn vị đã có 40 sáng kiến cải tiến kỹ thuật có giá trị.

Cán bộ chiến sĩ đơn vị vừa sản xuất giỏi vừa đánh địch rất dũng cảm có hiệu suất chiến đấu cao. Mỗi khi giặc càn vào khu vực đóng quân là đơn vị chủ động tổ chức chiến đấu, xưởng đã diệt 830 tên địch, đánh chìm 33 tàu xuồng chiến đấu, bắn rơi 1 máy bay lên thẳng, bảo vệ xưởng được an toàn.


Đơn vị đã được tặng thưởng 1 Huân chương Quân công giải phóng hạng ba, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất.

Ngày 15 tháng 1 năm 1976 xưởng quân giới mang phiên hiệu S201 thuộc Cục hậu cần Quân khu 9 được Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tặng danh hiệu Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng đến năm 1979. Xưởng 201 thực hiện nhiệm vụ bảo quản, bảo dưỡng, sửa chữa vũ khí, các loại phương tiện xe máy quốc phòng, phục vụ các lực lượng vũ trang quân khu huấn luyện sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu và xây dựng.


Ngày 30 tháng 9 năm 1979 theo yêu cầu tổ chức lực lượng, xưởng 201 sát nhập về Cục kỹ thuật quân khu, từ đó đến nay với chức năng chuyên trách bảo quản, duy tu bảo dưỡng và sửa chữa các phương tiện xe cơ giới quốc phòng. Cán bộ chiến sĩ đơn vị thường xuyên học tập rèn luyện nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ kỹ thuật và chuyên môn nghiệp vụ. Hoàn thành tốt nhiệm vụ trung tâm, giữ vững bản chất và truyền thống đơn vị Anh hùng.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #6 vào lúc: 05 Tháng Mười, 2026, 10:05:13 pm »

XƯỞNG QUÂN GIỚI TỈNH ĐỘI CÀ MAU


Xưởng quân giới Tỉnh đội Cà Mau thành lập ngày 6 tháng 1 năm 1960, trên cơ sở hợp nhất hai tổ sửa chữa vũ khí của hai đơn vị vũ trang tỉnh mang phiên hiệu Ngô Văn Sở và Đinh Tiên Hoàng. Ngày đầu thành lập xưởng có 11 đồng chí, dụng cụ sản xuất hoàn toàn thủ công. Tuy gặp nhiều khó khăn thiếu thốn cả về lực lượng, dụng cụ sản xuất và nguyên hóa liệu làm vũ khí, năm 1960 đơn vị đã khẩn trương xây dựng phát triển lực lượng, mua sắm dụng cụ cơ giới, tự khai thác nguồn nguyên liệu hóa chất, tích cực sửa chữa súng, rờ sạc đạn, làm lựu đạn và lăn xả bom, cung cấp kịp thời cho các lực lượng vũ trang chiến đấu, góp phần cùng quân dân tỉnh nhà giành thắng lợi to lớn trong các đợt đồng khởi.


Bước sang năm 1961 cùng với sự ra đời và phát triển lực lượng vũ trang ba thứ quân, xưởng quân giới Cà Mau trưởng thành nhanh chóng về mọi mặt. Đến năm 1964 với 250 cán bộ nhân viên, xưởng có ban giám đốc, 5 phân xưởng chuyên môn, nhiều bộ phận phục vụ (hậu cần, quân y, tiếp liệu, sản xuất tự túc v.v...). Được bổ sung thêm dụng cụ phương tiện cơ giới, xưởng đã sản xuất được nhiều loại vũ khí cơ bản phục vụ các loại hình tác chiến của bộ đội. Ngoài nhiệm vụ trọng tâm là sản xuất vũ khí từ năm 1961 đến năm 1964 xưởng đào tạo được 7 giám đốc, 12 quản đốc, 12 cán bộ kỹ thuật giúp 6 tỉnh bạn, đào tạo 15 cán bộ kỹ thuật cho các huyện trong tỉnh, mở 3 lớp đào tạo ngành hóa chất cho 25 cán bộ, đưa 118 cán hộ nhân viên kỹ thuật bổ sung cho xưởng Quân giới Quân khu và các địa phương góp công phát triển ngành quân giới Quân khu 9.


Những năm 1966 - 1968, nhu cầu vũ khí phục vụ chiến đấu ngày càng lớn, trong lúc tài chính và nguyên hóa liệu của xưởng gặp nhiều khó khăn thiếu thốn, đơn vị đã tự lực sưu tầm gom nhặt phế liệu chiến tranh và chất nổ, vận động nhân dân các địa phương cùng tham gia sưu tầm đóng góp, thu hàng trăm tấn kim loại, hàng chục tấn chất nổ, đáp ứng yêu cầu sản xuất vũ khí theo kế hoạch trên giao. Trong quá trình sản xuất, xưởng có nhiều sáng kiến cải tiến kỹ thuật, thiết kế lò nấu gang bằng phương pháp đúc treo thay phương pháp nung lửa ống bễ lò rèn đưa năng suất nấu gang tăng gấp 3 lần so với trước; tự nấu sunphát ăngtimon làm hạt nổ, cải tiến vỏ đạn lăn-xà-bom từ vật liệu gang bằng tol gọn nhẹ hơn, cải tiến đuôi đạn lăn-xà-bom từ gỗ căm xe rất khó tìm thay bằng gỗ đước có sẵn quanh căn cứ; sản xuất thành công đạn ĐH10, ĐH20 phá vật cản và chống địch xung phong; mìn hẹn giờ để trang bị lực lượng biệt động đánh phá hậu phương địch v.v.... phục vụ đắc lực cho quân dân địa phương tiến công và nổi dậy trong những năm 1965 - 1968.


Sau tổng tiến công tết Mậu Thân năm 1968, chiến trường Cà Mau - Bạc Liêu là một trong những trọng điểm địch bình định lấn chiếm. Bằng các chiến dịch "thăm dò U Minh", "nhổ cỏ U Minh", "sóng tình thương", v.v..., địch tập trung lực lượng, bom pháo và chất độc hóa học đánh phá quyết liệt địa bàn. Phối hợp với các lực lượng cùng quân dân tỉnh nhà, xưởng Quân giới Cà Mau đã kiên cường bám trụ, vừa ra sức sản xuất vũ khí, vừa dũng cảm đánh địch càn quét bảo vệ căn cứ. Trong hoàn cảnh thử thách (1969 - 1973) cán bộ chiến sĩ có lúc phải ăn đói mặc rách, xưởng thiếu nguyên liệu hóa chất nghiêm trọng, căn cứ bị địch đánh phá không ổn định, nhưng toàn đơn vị đã biết dựa vào dân và đơn vị bạn, bám chặt địa bàn vừa đánh địch bảo vệ mình, vừa sản xuất được nhiều vũ khí tự tạo như: bom nổ chậm, bệ phóng các loại đạn hỏa lực đánh tàu địch trên sông, cải tiến đạn súng cối 61 và 81 ly cho nổ trên không đánh máy bay lên thẳng, sản xuất được súng và đạn B40... Góp phần cùng quân và dân quân khu 9 đánh bại các kế hoạch bình định lân chiếm của địch những năm 1969 - 1974 và giải phóng hoàn toàn miền Nam tháng 4 năm 1975 lịch sử.


Kể từ ngày thành lập đến kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, xưởng Quân giới Cà Mau đà thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của mình:

Thu mua, sưu tầm khai thác nguyên liệu hóa chất sản xuất được 25 vạn quả lựu đạn, mìn, thủ pháo các loại; 25 vạn viên đạn các cỡ, 18 khẩu súng phóng bom, 1.800 xẻng cuốc; sửa chữa 1.400 súng các loại và 1.300 viên đạn súng cối, nhiều vũ khí thô sơ khác.

Nghiên cứu và ứng dụng thành công 33 sáng kiến cải tiến vũ khí tăng hiệu suất chiến đấu, hàng chục sáng kiến cải tiến dụng cụ tăng năng suất lao động.

Trực tiếp chiến đấu và tham gia chiến đấu nhiều trận diệt 50 tên địch, bắn chìm 1 tàu sắt, bắn hư 2 tàu khác.

Đơn vị được tặng thưởng 1 Huân chương Quân công giải phóng hạng ba, 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất và hạng nhì.

Ngày 15 tháng 1 năm 1976 xưởng Quân giới tỉnh đội Cà Mau vinh dự được Chủ tịch nước tặng danh hiệu: Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Từ năm 1976 đến nay với tên gọi "xưởng kỹ thuật" trực thuộc Phòng kỹ thuật, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Cà Mau. Cán bộ chiến sĩ đơn vị luôn quán triệt sâu sắc nhiệm vụ chính trị hàng năm được cấp trên giao, khắc phục mọi khó khăn trở ngại, hoàn thành tốt nhiệm vụ. Ngoài chức năng sửa chữa, bảo quản và quản lý vũ khí trang bi theo phân cấp; xưởng đã sản xuất và sửa chữa khôi phục được nhiều dụng cụ sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, đáp ứng yêu cầu phục vụ nhiệm vụ "Quốc phòng kết hợp kinh tế, kinh tế kết hợp quốc phòng" của tỉnh đội; những năm giúp bạn sản xuất được gần 70 ngàn quả mìn, lựu đạn, thủ pháo ủng hộ tỉnh bạn (Campuchia) và phục vụ lực lượng vũ trang tỉnh nhà huấn luyện, diễn tập; sửa chữa khôi phục nhiều máy móc phương tiện tàu, thuyền, xe máy theo kế hoạch thường xuyên cũng như đột xuất của trên giao, giữ vững và phát huy được truyền thống anh hùng của đơn vị anh hùng trong thời kỳ mới, thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #7 vào lúc: 05 Tháng Mười, 2026, 10:07:03 pm »

BỆNH VIỆN 121


Bệnh viện 121 được thành lập ngày 15 tháng 03 năm 1964 trong vùng căn cứ cách mạng U Minh, trung tâm đơn vị ở xã Khánh Lâm, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

Nảy mầm từ những hạt giống đỏ thuộc ngành Quân dân y miền Tây Nam bộ trong những năm đầu chống Mỹ và được sự chi viện nguồn lực y tế của Trung ương. Mùa xuân năm 1964 với tên gọi Z12, các ban khoa bộ phận: Ngoại chung, Chấn thương, Khoa nội, Răng hàm mặt, Thu dung phân loại, Bảo vệ, Hậu cần v.v... đã được tổ chức xây dựng, thực hiện chức năng bệnh viện tuyến cuối quân khu, phục vụ lực lượng vũ trang Quân khu 9 xây dựng và chiến đấu.


Những năm 1964 - 1967, để đáp ứng yêu cầu phục vụ lực lượng vũ trang đang phát triển, quy mô tác chiến ngày càng lớn. Bệnh viện 121 đã vượt qua nhiều khó khăn thử thách, vừa phục vụ chiến đấu, vừa nỗ lực xây dựng và phát triển lực lượng, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ được giao. Năm 1965- 1966 vùng giải phóng miền Tây Nam bộ bị địch ném bom, bắn pháo, rải chất độc hóa học... rất ác liệt, mục tiêu trọng điểm là rừng tràm U Minh và rừng đước Năm Căn nơi đứng chân của Bệnh viện. Mặc dù phải thường xuyên di chuyển căn cứ tránh bom pháo, nguồn tiếp liệu của trên thường thiếu và không kịp thời, nhưng Bệnh viện đã chủ động tìm mọi biện pháp khắc phục, tổ chức các ban khoa cấp cứu - điều trị và nuôi dưỡng gần 5.000 thương bệnh binh, tự đào tạo nhiều y tá và cứu thương, sản xuất và khai thác nhiều vật chất tại chỗ. Thành tích lớn của Bệnh viện là trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt, tài chính, thuốc men - dụng cụ y tế khan hiếm, số lượng thương binh ngày càng nhiều và tính chất vết thương phức tạp, cán bộ nhân viên đơn vị đã có nhiều sáng kiến sáng tạo như: dùng nước dừa tươi thay dịch truyền glucôza, dùng mật rắn thay thuốc chống liệt ruột sau mổ, dùng vỏ bom và xác máy bay địch làm bàn mổ vạn năng v.v..., đưa vào phục vụ chuyên môn có kết quả, góp phần khắc phục khó khăn thiếu thốn, nâng cao chất lượng điều trị, chăm lo sức khỏe các lực lượng vũ trang Quân khu.


Tết Mậu Thân và năm 1968, lực lượng vũ trang Quân khu liên tục "tổng tiến công, tổng công kích" vào các trung tâm đầu não địch, mục tiêu trọng điểm là thành phố Cần Thơ, Bệnh viện 121 đã triển khai bố trí các phân viện từ phía sau ra phía trước theo đúng yêu cầu kế hoạch của trên, huy động phần lớn lực lượng tổ chức các đội phẫu thuật bám sát các đơn vị chủ lực tiến công địch hướng chủ yếu, tăng cường dụng cụ thuốc men y tế cho các tuyến thu dung điều trị, phối hợp chặt chẽ với các lực lượng và đồng bào quanh khu vực đứng chân nỗ lực phục vụ chiến đấu. Tuy gặp nhiều khó khăn trở ngại do số lượng thương binh đông, địch phản kích lại ta liên tục và quyết liệt, nhưng các tuyến quân y đơn vị đã ngày đêm kiên cường chịu đựng bom pháo, tổ chức cấp cứu - điều trị - lưu thông vận chuyển hàng ngàn thương binh trên các chiến trường, hoàn thành tốt nhiệm vụ.


Từ năm 1969, trong lúc ta đang gặp khó khăn nhiều mặt sau các trận đánh lớn năm 1968. Địch đẩy mạnh bình định nông thôn, lấn chiếm vùng giải phóng vô cùng ác liệt. Chiến trường bị chia cắt, vận tải tiếp tế của ta bị ngăn chặn, tài chính vật chất hậu cần khan hiếm v.v..., làm cho tình hình hoạt động của đơn vị vốn đã khó khăn càng khó khăn hơn. Để vượt qua thời kỳ thử thách khắc nghiệt đó, bệnh viện đã phải chia thành nhiều bộ phận phân tán mỏng lực lượng, xây dựng căn cứ thành nhiều điểm nhỏ rải dài từ Cần Thơ - Sóc Trăng - Rạch Giá đến Nam Cà Mau. Bằng nhiều hình thức hoạt động sáng tạo và linh hoạt, suốt từ năm 1969 đến năm 1972 Bệnh viện 121 đã kiên cường bám trụ, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trung tâm "tự lực tự cường, phục vụ thương binh, đánh địch lấn chiếm, bảo toàn lực lượng". Thành tích đặc biệt xuất sắc của "những người lính áo trắng" là đã dũng cảm mưu trí đánh địch trên 170 trận, diệt 320 lên, bắn rơi 7 máy bay, bắn chìm 12 tàu chiến, trụ vững trên các địa bàn chiến lược, góp phần cùng lực lương vũ trang quân khu đánh bại các kế hoạch "bình định làn chiếm" của đích, chuyển tình thế cách mạng "từ thế thủ sang thế tiến công", liên tiếp đánh địch và thắng địch trong những năm 1973 - 1974, giải phóng hoàn toàn miền Nam ngày 30 tháng 04 năm 1975 lịch sử.


Hơn 11 năm kể từ ngày thành lập đến kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ. Bệnh viện 121 đã có 56 đồng chí cống hiến trọn đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, 132 đồng chí được tặng Huân chương Chiến công, 100 đồng chí được tặng danh hiệu "Dũng sĩ diệt Mỹ" và "Dũng sĩ quyết thắng"; tập thể bệnh viện được tặng Huân chương Quân công hạng ba, 05 Huân chương Chiến công các hạng và 01 Huân chương Lao động hạng ba.


Ngày 15 tháng 01 năm 1976, Bệnh viện 121 được Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tặng danh hiệu: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, các Đội điều trị Quân khu cùng Bệnh viện 121 được sát nhập làm một, tiếp quản bệnh viện dã chiến địch tại thành phố Cần Thơ, bước vào nhiệm vụ mới.

Những năm 1976 - 1985 nhiệm vụ trung tâm của Bệnh viện 121 là khắc phục hậu quả chiến tranh, phục vụ lực lượng vũ trang Quân khu xây dựng lực lượng, đánh địch bảo vệ biên giới Tây - Nam và làm nghĩa vụ quốc tế ở Campuchia. Với chức năng "trung tâm phục vụ thương bệnh binh, trung tâm nghiên cứu khoa học, cơ sở đào tạo cán bộ quân y trung, sơ cấp của Quân khu...". Mặc dù còn nhiều khó khăn mất cân đối về: tổ chức biên chế, số giường bệnh quy định, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, cơ sở doanh trại, đời sống v.v..., tập thể Bệnh viện đã phát huy truyền thống đơn vị anh hùng, tích cực chủ động khắc phục các khó khăn, hoàn thành mọi nhiệm vụ. Thành công lớn của Bệnh viện trong thời kỳ này là trước thực trạng chỉ có 400 giường bệnh theo biên chế, lưu lượng thương bệnh binh thường vượt mức quy định, có thời điểm đông gấp năm lần so số giường quy định, tính chất vết thương và bệnh tật của bộ đội phức tạp..., song bằng nhiều giải pháp tích cực Bệnh viện đã thu nhận cấp cứu điều trị gần 67 ngàn thương bệnh binh, thực hiện thành công nhiều ca phẫu thuật phức tạp và nguy hiểm, cứu sống nhiều trường hợp hiểm nghèo, tỷ lệ tử vong năm sau thấp hơn năm trước. Ngoài nhiệm vụ trọng tâm Bệnh viện 121 còn tăng cường nhiều cán bộ - nhân viên - dụng cụ - thuốc men y tế cho tuyến quân y chiến trường, góp sức cùng ngành Quân y Quân khu tổ chức bệnh viện dã chiến, các đội điều trị, đội phẫu, tổ phòng chống sốt rét... phục vụ Quân tình nguyện Việt Nam trên đất bạn, hoàn thành nghĩa vụ quốc tế vẻ vang.


Từ năm 1986, cùng với những thành tựu về nhiều mặt của đất nước trong thời kỳ đổi mới. Bệnh viện 121 đã nỗ lực xây dựng đơn vị, đột phá điểm là xây dựng "công tác quản lý bệnh viện". Được sự quan tâm của lãnh đạo - chỉ huy và cơ quan chỉ đạo nghiệp vụ cấp trên, Bệnh viện đã có nhiều chủ trương và giải pháp đúng đắn, từng bước hoàn thiện sáu mặt công tác quản lý bệnh viện, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện. Thành tích của Bệnh viện trong những năm đổi mới là đã đưa đi đào tạo và tự đào tạo hàng trăm cán bộ nhân viên nâng cao trình độ mọi mặt, xây dựng cơ bản 90 ngàn mét vuông nhà kiên cố, tiếp nhận và mua sắm nhiều máy móc phương tiện dụng cụ y khoa hiện đại, không ngừng nâng cao chất lượng khám và chữa bệnh, khả năng chuyên môn, phục vụ sức khỏe bộ đội. Ngoài việc hoàn thành tốt chức năng bệnh viện nhân dân phục vụ đồng bào trong khu vực; giúp đỡ nhiều bệnh viện cấp huyện - thị ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long về chuyên môn nghiệp vụ, khám và chữa bệnh miễn phí cho nhiều đôi tượng chính sách, đưa các tổ quân y đến vùng sâu vùng xa vùng căn cứ kháng chiến cũ khám và cấp thuốc miễn phí cho nhân dân, cùng y tế địa phương khắc phục hậu quả thiên tai v.v..., làm tốt công tác vận động quần chúng, củng cố "trận địa lòng dân", được cấp ủy chính quyền và nhân dân các tỉnh ca ngợi.


Do có nhiều thành tích xuất sắc trong giai đoạn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, trưởng thành nhanh chóng và vững chắc trong thời kỳ đổi mới của đất nước. Ngày 31 tháng 07 năm 1998 Bệnh viện 121 được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng danh hiệu: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân lần thứ hai.


Phát huy truyền thống đơn vị hai lần Anh hùng, tập thể Bệnh viện 121 đang nỗ lực phấn đấu xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện. Xứng đáng là người anh cả, lá cờ đầu của ngành Quân y Quân khu 9.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #8 vào lúc: 05 Tháng Mười, 2026, 10:08:53 pm »

ĐẠI ĐỘI 271 CỤC HẬU CẦN - QUÂN KHU 8


Đại đội 271 được tổ chức xây dựng năm 1965. Nhiệm vụ của đơn vị là đánh địch, soi mở khai thông hành lang, bảo vệ các nút giao thông quan trọng thuộc địa bàn quân khu 8 và thực hành vận tải tiếp tế trên các tuyến đường do đơn vị phụ trách.

Kể từ ngày thành lập, dưới sự lãnh đạo và chỉ đạo trực tiếp của hậu cần Quân khu 8, đại đội 271 đã liên tục cơ động trên các địa bàn trọng điểm quân khu, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, ác liệt và hiểm nguy, trinh sát nắm địch, đánh địch chốt chặn, soi mở các nút giao thông, bảo vệ tuyến tải, tạo thuận lợi cho các lực lượng hoạt động giao liên tiếp tế trên các cung đoạn thuộc đơn vị đảm nhiệm.


Những năm 1969 - 1970 chiến trường Quân khu 8 bị địch bình định lấn chiếm, vùng giải phóng bị thu hẹp, nhiều đoạn giao thông tiếp tế của quân khu bị phong tỏa và ngăn chặn quyết liệt, nhất là tuyến tải từ biên giới xuyên qua Đồng Tháp Mười về các mặt trận trong nội địa làm cho công tác vận tải tiếp tế của ta gặp nhiều khó khăn và tổn thất nặng. Trước tình hình đó giữa năm 1970, Hậu cần Quân khu giao nhiệm vụ cho Đại đội 271 triển khai lực lượng dọc tuyến hành lang vận tải từ biên giới Việt Nam - Campuchia thuộc địa bàn tỉnh Kiến Phong, xuyên qua Đồng Tháp Mười đến vùng 4 Kiến Tường, tổ chức trinh sát tình hình hoạt động của địch trên địa bàn, thông báo thông tin kịp thời cho các đơn vị vận tải. Trong hai năm từ tháng 7 năm 1970 đến cuối năm 1972 Đại đội 271 chia thành từng tổ, được trang bị vũ khí có hỏa lực mạnh, điện đàm vô tuyên, rải dài dọc các tuyến tải trong điều kiện địch thường xuyên càn quét, đánh phá tìm diệt lực lượng ta. Giữa mênh mông Đồng Tháp Mười tuy gặp nhiều khó khăn trở ngại về mọi mặt, thiếu thốn mọi thứ, từng tổ đã kiên cường bám chốt, nắm chắc mọi diễn biến hoạt động của địch, báo cáo chính xác về sở chỉ huy và thông tin kịp thời cho các đơn vị vận tải, góp phần hạn chế hy sinh tổn thất người và hàng hóa so với trước đó. Trong quá trình làm nhiệm vụ trinh sát nắm địch, cán bộ chiến sĩ Đại đội 271 còn tham gia vận tải nhiều thương binh, bộ đội, hàng hóa trên các cung đoạn do đơn vị quản lý.


Cuối năm 1972 Quân khu thành lập đơn vị vận tải mang tên "Trung đoàn Cửu Long", hoạt động vận tải tiếp tế trên các tuyến tải do đơn vị phụ trách, để phù hợp với tình hình và nhiệm vụ mới, Đại đội 271 được sát nhập vào Trung đoàn Cửu Long. Từ cuối năm 1972 đến tháng 4 năm 1975 đơn vị tiếp tục thực hiện nhiệm vụ trinh sát, đánh địch, bảo vệ các tuyến tải và lực lượng vận tải.


Quá trình hoạt động từ ngày thành lập đến kết thúc chiến tranh chống Mỹ, Đại đội 271 đã chủ động, mưu trí, dũng cảm đánh địch hàng trăm trận, diệt 2.200 tên (có 2 lần diệt gọn 2 đại đội địch), bắn cháy 4 xe lội nước, bắn chìm 2 tàu, bắn rơi 9 máy bay lên thẳng, thu hơn 100 súng. Không những đánh giặc giỏi có hiệu suất chiến đấu cao, đại đội 271 còn tham gia vận tải tiếp tế 600 tấn hàng hóa, hơn một vạn bộ đội (có hơn 1.000 thương binh), hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.


Đại đội 271 đã được tặng thưởng 13 Huân chương Chiến công giải phóng các hạng.

Ngày 3 tháng 6 năm 1976 đại đội 271 Cục Hậu cần Quân khu 8 vinh dự được Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tặng danh hiệu: Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Cuối năm 1976, theo yêu cầu nhiệm vụ mới, đại đội 271 được giải thể, hoàn thành và kết thúc vẻ vang nhiệm vụ lịch sử của mình.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #9 vào lúc: 05 Tháng Mười, 2026, 10:10:48 pm »

ĐOÀN 962 HẢI QUÂN


Đoàn 962 lây ngày 19 tháng 9 năm 1962 làm ngày khai sinh đơn vị1 (Ngày 19 tháng 9 năm 196215 ngày con tàu đầu tiên mang tên "Phương Đông I" cặp bến Cà Mau, khai thông tuyến vận tải chiến lược trên biển trong cuộc kháng chiến chống Mỹ).

Ra đời sau chuyến mở đường của con tàu "Phương Đông I từ miền Bắc vào Cà Mau thắng lợi. Đoàn được tổ chức xây dựng - tương đương cấp sư đoàn, triển khai lực lượng trên bốn khu vực chính thuộc miền duyên hải các tỉnh: Cà Mau, Trà Vinh, Bến Tre và Bà Rịa. Mỗi khu vực biên chế tương đương trung đoàn (thường gọi vùng bến), bí mật thực hiện nhiệm vụ mở bên, làm ụ đậu tàu xây dựng kho tàng căn cứ, đón nhận sức người, sức của từ hậu phương lớn miền Bắc chi viện cho miền Nam. Cất giấu, bảo quản, bảo vệ và chuyển tiếp đi các chiến trường theo kế hoạch của Trung ương.


Từ ngày thành lập đến cuối năm 1966, Đoàn 962 đã vượt qua nhiều khó khăn, gian khổ, ác liệt và hiểm nguy; bí mật xây dựng lực lượng, bến bãi, kho tàng, căn cứ, mua sắm phương tiện vận tải v.v... Tổ chức đón nhận và vận chuyển đi các chiến trường hàng trăm cán bộ trung cao cấp, hàng ngàn tấn vũ khí do Trung ương chi viện, góp phần cùng quân dân cả nước đánh bại chiến lược "chiến tranh đặc biệt" của Mỹ ở miền Nam Việt Nam.


Đầu năm 1967 các tuyến vận tải chiến lược trên biển và các vùng bến của đoàn 962 bị địch liên tục đánh phá ác liệt, Trung ương tạm dừng hoạt động vận tải trên biển. Đoàn 962 được rút gọn thành Trung đoàn 962, đứng chân trên hai vùng bến Cà Mau và Trà Vinh (các vùng bến khác giao cho Quân khu 8 và Quân khu 7). Suốt thời gian từ năm 1967 đến năm 1971, Trung đoàn 962 vừa làm nhiệm vụ vận tải tiếp tế, đánh địch bảo vệ căn cứ kho tàng, vừa tham gia Tổng tiến công tết Mậu Thân năm 1968, chống địch bình định lấn chiếm năm 1969- 1971. Góp phần cùng quân dân Quân khu 9 thu nhiều thắng lợi có ý nghĩa chiến lược.


Cuối năm 1971 theo chỉ thị của trên, Trung đoàn 962 bổ sung nhiều cán bộ chiến sĩ ưu tú và bàn giao các bến bãi kho tàng tốt nhất cho Đoàn 950 (mới thành lập), tạo thuận lợi cho Đoàn 950 thực hiện nhiệm vụ vượt biển ra miền Bắc nhận vũ khí đưa về phục vụ các lực lượng vũ trang Quân khu 9. Những năm 1972- 1975, với lực lượng và địa bàn hiện có, Trung đoàn - thường xuyên xây dựng và củng cố đơn vị về mọi mặt, sẵn sàng đón nhận nguồn chi viện tiếp tế bằng đường biển của Trung ương, chủ động phối hợp đơn vị bạn và địa phương đánh địch nhiều trận, tổ chức Trường thiếu sinh quân và Trường cơ điện hàng hải tạo nguồn lực kế cận cho nhiệm vụ lâu dài của cuộc kháng chiến.


Trong quá trình hoạt động kể từ ngày thành lập đến kết thúc chiến tranh chống Mỹ xâm lược, Đơn vị 962 đã lập nhiều thành tích xuất sắc:

- Trực tiếp và tham gia 4 lần mở đường Hồ Chí Minh trên biển Đông, nối liền hậu phương lớn miền Bắc với tiền tuyến lớn miền Nam.

- Mở bến, ụ đậu tàu, làm kho tàng, xây dựng và bảo vệ nhiều căn cứ từ mũi Cà Mau đến tỉnh Bà Rịa.

- Đón đưa 124 lượt tàu của Lữ đoàn 125 thuộc Bộ Tư lệnh Hải quân nhân dân Việt Nam vào các bên của đơn vị. Bốc dỡ, cất giữ và vận tải đi các chiến trường 6.545 tấn vũ khí, khí tài quân sự.

- Huy động 51 lượt tàu trực tiếp ra miền Bắc nhận 750 tấn vũ khí và nhiều mặt hàng quý hiếm khác đưa về phục vụ các lực lượng vũ trang Quân khu 9 về đích an toàn. Đưa đón đồng chí Lê Đức Anh, Võ Văn Kiệt và hàng trăm cán bộ trung cao cấp từ miền Bắc vào Nam bộ và ngược lại.

- Trực tiếp đánh địch 251 trận lớn nhỏ, diệt 3.840 tên, bắt sống 285 tên, loại khỏi vòng chiến đấu hàng ngàn tên khác, bắn chìm và cháy 306 tàu chiến các loại, diệt 65 xe tăng, phá hủy 37 khẩu pháo, bắn rơi 18 máy bay, phá hủy tại sân bay 24 máy bay các loại.


Những chiến công phục vụ chiến đấu và chiến đấu của cán bộ chiến sĩ Đoàn 962 trong cuộc kháng chiến chống Mỹ thật đáng tự hào.

Ngày 20 tháng 10 năm 1976 Đoàn 962 đã được Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam tuyên dương: Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Các đồng chí Bông Văn Dĩa, Phan Văn Nhờ, Nguyễn Đắc Thắng những tấm gương tinh tú của đơn vị cũng được phong tặng danh hiệu: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, nhiều tập thể và cá nhân đơn vị được tặng - thưởng huân chương và danh hiệu cao quý khác.


Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Trung đoàn 962 và Đoàn 950 được sát nhập làm một, giữ nguyên phiên hiệu Trung đoàn 962, chuyển chức năng từ đơn vị Vận tải chiến lược thành đơn vị Hải quân quân khu bảo vệ vùng biển và sông nước trên địa bàn Quân khu 9.


Từ năm 1975 đến năm 1978, Trung đoàn 962 đã tham gia phục vụ chiến đấu và giải phóng các đảo thuộc vùng lãnh thổ Quân khu 9 do bọn Khơme phản động lấn chiếm bảo vệ vững chắc vùng lãnh hải của Đồng bằng sông Cửu Long.

Những năm 1979 - 1989 cùng với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, trung đoàn tham gia làm nghĩa vụ quốc tế giúp bạn Campuchia, ngăn chặn bàn tay diệt chủng Pônpốt Trong những năm làm nhiệm vụ quốc tế Đơn vị đã sử dụng 1.067 lượt tàu, chiến đấu 56 trận, diệt 1 tiểu đoàn bộ binh địch, 3 trận địa pháo, bắn chìm và cháy 5 tàu chiến, thu 27 tàu các loại ; vận chuyển 200 xe tăng, 2.050 xe pháo, 108.000 quân tình nguyện, cứu và đưa 86.500 nhân dân Campuchia đang ngoắc ngoải trong đói khát, bệnh tật thoát khỏi thần chết trở về quê cũ ổn định cuộc sống, giúp bạn xây dựng 1 tiểu đoàn hải quân v.v...


Năm 1990 đến nay, Trung đoàn thực hiện nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện và xây dựng đơn vị. Là lực lượng chủ yếu của Quân khu bảo vệ hệ thống sông ngòi kênh rạch Đồng bằng Cửu Long, cùng các lực lượng khác tuần tra bảo vệ vùng biển và hải đảo Tây Nam Tổ quốc. Với nỗ lực chung của lãnh đạo - chỉ huy và tập thể đơn vị, Trung đoàn 962 luôn hoàn thành nhiệm vụ chính trị của mình, nhiều năm liền được Quân khu công nhận "Đơn vị vững mạnh toàn diện, Đảng bộ trong sạch vững mạnh" và tặng cờ thưởng "Đơn vị có phong trào thi đua khá nhất" khối Lữ Trung đoàn.


Chương trình hành động của Trung đoàn trong thời gian tới là quyết tâm xây dựng đơn vị "luôn nêu cao tinh thần cảnh giác sẵn sàng chiến đấu cao, huấn luyện xây dựng giỏi, chấp hành điều lệnh và xây dựng chính quy tốt, có đội ngũ cán bộ đủ mạnh, về trình độ chuyên môn kỹ thuật và khả năng hoạt động trên biển và mọi vùng sông nước ngày một nâng lên, chiến sĩ không đào bỏ ngũ, không có cán bộ và đảng viên vi phạm kỷ luật quân đội và pháp luật Nhà nước, khai thác sử dụng phương tiện khí tài quân sự "bền, an toàn và tiết kiệm". Xứng đáng phẩm chất tốt đẹp, bề dày truyền thống đơn vị anh hùng bước vào thế kỷ 21.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
Trang: 1   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM