Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:10:41 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Xiêng Khoảng mù sương  (Đọc 2180 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« vào lúc: 26 Tháng Mười, 2026, 02:55:51 pm »

XIÊNG KHOẢNG MÙ SƯƠNG

Tiểu thuyết
(Tái bản lần thứ nhất)

Tác giả: Bùi Bình Thi

Nhà xuất bản Quân đội nhân dân
Hà Nội – 2007

Nguồn pdf: Sưu tầm
Chuyển sang text: hoi_ls









“Có lẽ cũng có thể ví, tác phẩm văn chương nghệ thuật như rượu. Và chưa có một thứ gì dễ làm say đắm con người như rượu, đưa lên miệng một vài ly thôi là biết ngay mình như thế nào. Thế mà rượu lại có được chỉ bởi có ba thứ gạo và men và độ lửa. Vậy, tài năng của nhà văn và nhà nghệ sĩ ví như men ấy. Rượu ngon, thật ngon là nhờ bởi men. Thế còn rượu dở, rượu nhạt thì chả có lẽ không bởi men?...”.






Nhà văn Bùi Bình Thi và tiểu thuyết
XIÊNG KHOẢNG MÙ SƯƠNG



Khi xem hoa nở, khi chờ trăng lên.

Tôi có được niềm vui lớn tương tự trong suốt một năm qua, khi tò mò và hồi hộp dõi theo cả quá trình hình thành và ra đời tác phẩm Xiêng Khoảng mù sương của nhà văn Bùi Bình Thi.

Bùi Bình Thi đặt bút viết những dòng đầu tiên của bản thảo này vào ngày thứ hai ngày 12 tháng 7 năm 2004 và sau mười ba tháng ròng rã, anh viết hết dòng cuối cùng của cuốn sách dày dặn 459 trang vi tính, khổ A4 vào ngày thứ năm ngày 12 tháng 8 năm 2005, trong sự kính trọng của tôi và trong nỗi bàng hoàng của chính anh.

Ôi, cám ơn tuổi sáu mươi lăm sung mãn đã giúp ta hoàn thành cái công trình nghệ thuật đáng kể này !

Suốt mười ba tháng ròng tôi có cảm giác được xem một đóa quỳnh nở đêm. Rất chậm rãi, từng giây một, từng tích tắc một trong vô thanh và gần như vô hình tích, quỳnh âm thầm tự tại nhích nở dần từng cánh hoa trắng muốt mong manh.

Đó là vì chúng tôi thường gọi điện cho nhau. Và mỗi lần gặp nhau trên sóng điện là Bùi Bình Thi lại nói về cuốn sách anh đang theo đuổi. Nói một cách thật say mê. Cái mê say bất tử của kẻ nhập đồng, nhập cuộc, dấn thân, chỉ một lòng một dạ triệt để dâng hiến. Cái mê say bất chấp của một viên đạn đã ra khỏi nòng, chỉ một đường bay thẳng !

Ngày 20 tháng 9 năm 2004, qua điện thoại, anh cho biết đã viết xong phần 1 của cuốn sách có tên Tình cảnh thật khó lường, trình bày tình hình muôn phần khó khăn ở Xiêng Khoảng - Cánh Đồng Chum bên nước bạn Lào, khi phái đoàn quân sự của ta do Nguyễn Đình San và Lê Vân dẫn đầu, bắt tay vào công việc trợ giúp các bạn Lào; lúc này phỉ Vàng Pao đang hoành hành dữ dội. Cả Xiêng Khoảng - Cánh Đồng Chum bao gồm 5 huyện, 1.187 làng bản; thì 376 bản có đường đi đến nơi và trong 376 bản đó đã có tới 119 bản bị biến thành dân phỉ, đất phỉ.

Ngày 15 tháng 12 năm 2004, anh nói đã viết xong phần 2. Ngày 19 tháng1 năm 2005 anh kết thúc phần 3 của cuốn sách. Càng viết phong độ, cảm hứng của anh càng như lửa bốc trong lò, càng như cờ gặp gió. Rồi cũng có lần, đang nửa đêm anh dựng tôi dậy vì không kìm được hưng phấn. Vì mới tìm được một tư liệu quý nói về cái lối ăn chơi rất thổ phỉ của tướng phỉ Vàng Pao. Có lần qua điện thoại, cả tiếng đồng hồ anh đọc cho tôi một văn bản vô cùng hiếm hoi và kỳ quái mà anh mới sưu tầm được. Đó là biên bản môt cuộc bàn bạc việc đánh chác ăn chia của bọn phỉ thủ, xin được trích dẫn một tiểu đoạn:

“Tôi xin nói - Đại tá Bun Nợt Phi La Xông đứng lên: - Làm xong cuộc càn này, thì Bộ Tổng chỉ huy trả cho mỗi đơn vị bao nhiêu kíp? Kíp hay đô la?

Thiếu tướng Vàng Pao: - 8 triệu kíp cho cuộc này. Cấp trưởng các đơn vị được chi riêng 500 nghìn kíp.

- Đại tá Yang Sênh: - Tôi lấy đô la thôi không lấy kíp đâu.

- Thiếu tướng Vàng Pao: - Được - đô thì đô. Kíp thì kíp.

- Đại tá, trưởng AC1 Khan Đeng Sô Pra Đi: - Nếu lính tôi gặp Pa-thét Lào mà chạy, sau nó lại về thì vẫn trả tiền chứ, và trả bao nhiêu cho mỗi đứa.

- Thiếu tướng Vàng Pao: - Mỗi đứa 500 kíp, cho một lần chạy rồi trở lại. Còn chuyến càn này chỉ trả 600 kíp thôi, mà không trả đô la.

- Đại tá Nao Tuôn Yang Nu Phênh: - Tiền này Bộ Quốc phòng Lào cho, hay America cho đấy, Thiếu tướng Vàng nhỉ?

- Thiểu tướng Vàng Pao: - Bộ Quốc phòng Lào thì chỉ có cục cứt ngựa thôi. Đây là tiền của America cho chứ, đại tá Nao Tuôn lấy đô hay kíp?

- Đại tá Nao Tuôn Yang Nu Phênh: Đô đô đô... đô đô đô - la la la...”.

Một lần khác, anh đọc cho tôi nghe cả một đoạn văn tả buổi sáng mù sương ở Xiêng Khoảng:

“Xiêng Khoảng là thế này, quãng đầu mùa khô có độ mươi ngày liền thì sương mù đặc như sữa. Rồi sau đấy trời đất cứ theo một kiểu cách định hình như sau: Sương mù đặc quánh độ hai đến ba ngày, tiếp sau lại đến hai ba ngày sương loãng và mỏng thấp dần, cũng có khi ngày thứ ba thì sương mù tan hẳn, trời thật là quang quẻ trong quãng một buổi và thường là buổi chiều”.

Viết đến cuối phần 4 có tên Dằn mặt, anh kể cho tôi nghe về mối tình của hai nhân vật Nguyễn Đình San là cán bộ cấp trưởng trong phái đoàn quân sự Việt Nam với chị Vàng Seo Mảy, một cán bộ cơ sở địa phương, một phụ nữ Lào Sủng xinh đẹp giỏi giang.

“San nhận ra vẻ đẹp của người phụ nữ này từ lúc nào? Có lẽ đầu tiên là ở cử chỉ cuốn thuốc lá của chị. Từ lúc chị lấy ở cạp váy ra một cái túi thêu hoa đựng các lá thuốc. Rồi chị nhặt từ đó ra những lá thuốc đốm vàng, khéo léo cuộn chúng lại và mỗi lần lăn tròn chúng, xoa chúng lại cho chặt chịa thêm, anh lại thêm một lần thảng thốt vì nhận ra chưa bao giờ anh được thấy một bàn tay với những ngón tay đẹp đến thế!”.

Anh đọc cho tôi nghe cả một đoạn đối thoại dài bàn về công việc chung của hai nhân vật và cuối cùng, cái cần phải đến đã đến, một cuộc giao tình giữa đôi trai tài gái sắc này đã diễn ra thật êm ả, đậm đà mùi vị sắc dục xác thịt, mà không hề vướng bận cảm giác thô lậu:

“San từ từ rất nhẹ nhàng quay lại nằm ngửa, tay trái duỗi thẳng và luồn dưới gáy người đàn bà ấy, giây lát, cả đầu và một nửa khuôn mặt gối áp lên phần ngực trái của anh, rồi cũng thế non nửa tấm thân và một đùi trần dài săn chắc của chị gác chéo qua hai chân cùng nửa trần của anh. Hơi thở người thiếu phụ ấy cứ mỗi lúc một ấm ran cả ngực anh, bên cổ anh. Tay thiếu phụ lần tháo hàng khuy áo ngực, tháo dần từng khuy cho đến chiếc cuối cùng, củng bàn tay ấy cởi nốt mấy chiếc khuy bên dưới. San lần lượt co chân bên này lên rút bàn chân ra... San nằm, toàn thân anh thật mềm, bên cánh tay anh để cho thiếu phụ làm gối gối đầu, bàn tay của cánh tay ấy xoa xoa nhè nhẹ lên má lên trán lên cằm và cổ của người thiếu phụ, rồi cũng bàn tay ấy của anh lang thang như vô định, và thật nhẹ thật là nhẹ mơn man trên vùng đồi và thung lũng, giờ đã hẹp thắt lại vì nằm nghiêng của thiếu phụ. Còn bàn tay của thiếu phụ cũng vậy xoa xoa nhẹ nhàng khắp ngực anh, bụng anh rồi bàn tay anh ấy với năm ngón tay của bàn tay mỗi giây lát mỗi xòe ra, lang thang miền bên dưới, cho tới khi kẽ giữa của bốn ngón tay của thiếu phụ cài hẳn vào một cây cọc cứng ngắc. Thiếu phụ khẽ cười... San thì thầm bâng quơ: “ - ... Chiến tranh, chiến tranh, đàn ông khổ, đàn bà khổ... Nhưng các em khổ hơn...”.

Anh dừng lại, kể cho tôi nghe về cái kết thúc của số phận Peter Wolf, một gã sĩ quan Mũ nồi xanh, cúc cung tận tụy với chức trách, một con chó sói xảo quyệt, một trong những nhân vật chính của cuốn sách. Số phận y không thể khác được, nó gắn liền với âm mưu đen tối thâm độc của đế quốc Mỹ và bọn phản động, trước cuộc đấu tranh của các bộ tộc Lào và tình đoàn kết đặc biệt Việt - Lào.

“Anh San bây giờ mới từ tốn giới thiệu tôi và Vàng A Mang. Anh San nói xong, tôi hỏi ngay một câu định hỏi từ lúc vào đây:

- Ông làm trưởng đoàn Agape Mũ nồi xanh rất lâu, vậy tôi hỏi ông, vì sao ông lại không lên được cấp tướng? Mà ông bắt đầu thì đã là cấp trung tá?

Vàng A Mang chậm rãi:

- Tôi thích câu hỏi của ông! Thưa ông, tôi đi làm thuê thôi mà. Giới kinh doanh chiến tranh họ thuê tôi, thì tôi làm để có tiền. Chứ có đâu như các ông, là chiến đấu vì lý tưởng giải phóng đất nước và giải phóng dân tộc.

- Hay nhỉ... Ông nói đến mấy chữ “kinh doanh chiến tranh”... mà rất hay...

Vàng A Mang cười:

- Với người Mỹ chúng tôi thì cái gì cũng có thể kinh doanh được cả. Bất kể là cái gì cũng đem ra kinh doanh được tất. Mà trong các thứ để đem ra kinh doanh, thì kinh doanh chiến tranh là lãi nhất, lãi vô kể. Còn xác người ư, tính trong khấu hao rồi...”.



*


459 trang khổ lớn của bản thảo viết tay của cuốn Xiêng Khoảng mù sương là thành quả lao động vật vã mê mải, bền bỉ và quên mình của nhà văn Bùi Bình Thi. 459 trang A4, một ôm nặng tay. Không thể khác được. Một thân xác to lớn như vậy mới có khả năng thỏa mãn một cốt truyện với cả một hệ thống nhân vật, tính cách, các quan hệ dằng dịt, đan chéo, chi phối lẫn nhau, trên một bình diện rộng, ôm chứa một nội dung bề bộn, phản ánh cuộc chiến đấu độc đáo giành độc lập tự do, giải phóng dân tộc, giải phóng con người ở một vùng đất đặc trưng, trong một thời đoạn đặc sắc của lịch sử.

Như chúng ta đã biết, tỉnh Xiêng Khoảng - Cánh Đồng Chum là cao nguyên trung tâm của miền Thượng Lào. Ở đây có trữ lượng sắt khoảng 7 tỷ tấn. Có Urani, có gỗ rừng phong phú. Dân số ở đây có 80 vạn (gồm Lào Lùm, Lào Thâng và Lào Sủng (tức dân tộc Mông). Dân tộc Mông ở đây có 75.000 người. Đế quốc Mỹ với nhiều tham vọng và bọn phản động Lào quyết nắm giữ vùng đất chiến lược này.

Thời điểm các sự kiện diễn ra ở tiểu thuyết là những năm 1965-1975. Lúc này khoảng 1965-1968, vùng đất này gần như bị địch lũng đoạn, chiếm cứ. Thực hiện hiệp định hữu nghị giữa hai nước, một phái đoàn quân sự Việt Nam đã được cử tới đây, quân khu Xiêng Khoảng - Cánh Đồng Chum, để giúp đỡ bạn Lào. Dẫn đầu phái đoàn Việt Nam là Nguyễn Đình San và Lê Vân. San, nhân vật chính của tiểu thuyết đã cùng đồng chí và các bạn Lào nỗ lực tột cùng để xoay chuyển tình thế. Và tình thế đã được cải thiện dần. Tiếc thay, lòng đố kỵ ganh ghét của đồng đội lại là một thực thể đã xuất hiện ngay từ ngày đầu khi San được giao nhiệm vụ. Đỗ Hà, đại tá, Phó Tổng đoàn cảm thấy như bị mất cơ hội tiến thân đã kết hợp cùng Nguyễn Hoán, Hoàng Xuyên hai phần tử háo danh, thoái hóa, ra sức cản trở San, và cuối cùng đặt điều vu vạ, gán cho San mắc trọng tội là phản bội chạy sang hàng ngũ địch rồi đem tin dữ đó về đến làng quê của Hương. Hương là giáo viên, vợ San quá đau khổ, lại đang là đối tượng Đảng, chị rơi vào hoàn cảnh bị dồn ép, đã tới mức đành phải gửi con lại cho cậu em, và lấy người đàn ông bấy lâu vẫn theo đuổi, để tìm nơi nương tựa và cố thay đổi cái tiếng xấu xa là vợ một sĩ quan đào ngũ.

Trong khi ấy, San vẫn đang công tác tại một đơn vị Bạn. Anh cùng các chiến sĩ tiểu đoàn Pa Chay toàn người Mông, chiến đấu, giải phóng một loạt địa bàn quan trọng. Anh đã gặp Vàng Seo Mảy. Chị Mảy góa chồng, chỉ huy một vùng núi cao gồm hơn 50 bản sát Long Chẹng. Chị yêu San và muốn có con với San.

Tổng tiến công giải phóng Viên Chăn. San trở về quê thăm con. Vợ anh biết là bị lừa gạt, đã quyết trở lại với anh. Gương vỡ lại lành. Hạnh phúc gia đình được hàn gắn.

Một câu chuyện dài, trập trùng các tình huống biến động như thế, mà đọc không thấy nản, không thấy mệt mỏi và sự trễ nải, trái lại vẫn thấy lòng háo hức muốn theo đuổi, thì hẳn nhiên trước hết là do người viết đã dồn vào mỗi con chữ bao nhiêu tâm huyết, và khí chất nồng nhiệt của mình. Bùi Bình Thi là con người như thế trong ngày thường và trong văn chương; anh nồng nàn và nhạy cảm, Câu văn bộc lộ cơn nhiệt hứng dồi dào của anh.

Giữ được bạn đọc khi theo câu chuyện kéo dài suốt từng ấy trang, thêm nữa, còn phải kể đến cách tả, kể, dựng phối hợp khá hợp lý, khéo léo. Vì, nếu truyện ngắn coi trọng phong cách tập trung cô đọng, thì bí quyết thành công của tiểu thuyết là ở cách triển khai, trình bày.

Tiểu thuyết Xiêng Khoảng mù sương dẫn dắt người đọc theo mình bằng cái giọng kể tuần tự, từ tốn, nhẩn nha, không vội vàng, có trước có sau. Oóctêga Ygassets, nhà tiểu thuyết lớn Tây Ban Nha nói: Tiểu thuyết là thể loại đủng đỉnh.



*


Tôi và nhà văn Bùi Bình Thi quen thân nhau từ hồi chúng tôi còn rất trẻ và mới chập chững vào nghề. Nhớ nhất là vào quãng cuối những năm 60 của thế kỷ trước, dạo đó tôi còn công tác ở tỉnh Lào Cai, Thi hay từ Hà Nội lên đi “thực tế”, đặc biệt là những lần đột ngột Thi từ miền Tây, phía Lai Châu, tạt qua, ở lại với nhau vài ngày. Nhìn áo quần ba lô bụi bặm đường trường, hỏi Thi, mới biết Thi vừa ở chiến trường Xiêng Khoảng bên nước bạn Lào trở về. Xiêng Khoảng - Cánh Đồng Chum, năm 1997 tôi có sang đó, đặt chân lên một vùng đất lạ mà có cảm giác rất thân thuộc, có lẽ là đã đọc Ký sự Xiêng Khoảng anh xuất bản năm 1970. Gặp nhau ở Lào Cai hồi đó, Thi chẳng nói gì về chuyến đi sang Xiêng Khoảng - Cánh Đồng Chum của mình. Quen biết rộng, tranh thủ mấy ngày dừng chân trước khi về Hà Nội, anh dẫn tôi đi thăm mấy đơn vị bộ đội biên phòng ở biên giới Lào Cai -Vân Nam.

Giờ đây tôi biết, tiểu thuyết Xiêng Khoảng mù sương đã được ấp ủ từ hồi đó. Cuộc hoài thai, sinh nở diễn ra trong lặng lẽ của trầm tích thời gian. Và những chuyến đi của nhà văn tới vùng đất tuy không phải là tất cả nhưng chúng chính là yếu tố đầu tiên và có ý nghĩa quyết định đối với sự sáng tạo của anh sau này. Những chuyến đi, sự sống từng trải, trực tiếp. Chúng khơi nguồn cảm hứng. Chúng tạo nên sự sinh động. Chúng khiến cho mỗi câu văn, mỗi từ ngữ có niềm tin, có sự sống bên trong và tạo được sự tin cậy ở bạn đọc.

Tuy vậy, điều cần nói thêm ở Xiêng Khoảng mù sương và có lẽ không chỉ ở tiểu thuyết này, mà còn là ở cái cách sử dụng các chất liệu đời sống ở dạng gián tiếp, dạng tư liệu văn bản, hay nói một cách khác ở cái cách làm sao tạo được sự hài hòa giữa cái dấn vốn anh trực tiếp thu nhận được, bằng cảm quan với những hiểu biết trong quá trình nghiên cứu, học hỏi từ tài liệu, sách vở ở sự giao thoa giữa tư liệu và hư cấu tưởng tượng. Chẳng có ai viết mà không có sự thừa kế thành quả của người khác cả!

Và tôi tin chắc rằng, trong bừng bừng cảm xúc khi viết xong dòng cuối cùng của cuốn sách vào ngày thứ năm ngày 12 tháng 8 năm 2005, Bùi Bình Thi, như tôi đã nói ở trên, đã thật sự bàng hoàng vì thấy mình đã hoàn tất việc kết hợp giữa những gì mà mình đã thấy, đã sống với những gì mình đã đọc, đã học được - một sự kết hợp không đơn giản, nếu không nói là cần tài năng và những may mắn ngẫu nhiên.
Phần quan trọng của cuốn sách là tư liệu. Sưu tầm chúng và sử dụng chúng là cả một nghệ thuật. Bùi Bình Thi, theo thiển ý của tôi đã làm được việc này. Anh là người si mê tư liệu. Anh sục sạo vào các kho lưu trữ. Anh tìm đến các nguồn cội. Anh hỏi han bạn bè. Peter Wolf là tên một nhân vật Mũ nồi xanh trong cuốn sách. Wolf trong tiếng Mỹ có nghĩa là con chó sói. Khi nhân vật này sang hoạt động ở Lào, nhà văn muốn cho nó một cái tên Mông tương đồng. Anh gọi điện cho tôi, rồi gọi điện lên Lào Cai cho nhà văn Mã A Lềnh, người dân tộc Mông. Cuối cùng Wolf có cái tên là Vàng A Mang. Mang, trong tiếng Mông cũng có nghĩa là con chó sói.

Tác phẩm văn học là rượu. Cuộc sống là gạo. Nhà văn là men. Tôi rất thích ý tưởng này trong lời đề từ ở đầu cuốn sách này của Bùi Bình Thi.

Xiêng Khoảng mù sương cuốn sách này theo tôi là một cốc rượu, đã thực hiện đúng quy trình, quy tắc trên.



Ngày 2 tháng 9 năm 2005
Nhà văn MA VĂN KHÁNG
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #1 vào lúc: 26 Tháng Mười, 2026, 03:10:29 pm »

1. TÌNH CẢNH THẬT KHÓ LƯỜNG



Gió Lào thổi ràn rạt suốt từ lúc chưa rõ mặt   người tới thâu đêm. Từ giữa buổi sáng đến cuối chiều, gió nóng và nồng mùi vôi đổ ải càng nóng thềm trong cái nắng xối như trút lửa than xuống đất, xuống rừng. Cảnh vật như khô nẻ, rừng non và cây bụi rũ rượi, từng đám lá khô từ các cánh rừng tuôn ào ào ra mặt đường nhựa đang như cong vênh lên dưới cái nắng như thiêu.

Sáu chiếc ô tô Com-măng-ca đuôi vuông, đưa Nguyễn Đình San và một số các sĩ quan, dừng lại trước ngôi nhà một tầng, trên mái hiên treo một tấm biển dài sơn xanh, với hàng chữ lớn mầu đỏ sậm: “Đồn biên phòng Nậm Ca”. Đoàn người và đồ đạc vừa rời khỏi xe, hai chiếc ô tô quân sự đã vội vã ngoắt mũi hối hả chạy về phía đông, đằng sau một dải bụi lớn cuồn cuộn thốc lên trải dài; chân trời phía ấy ngập ngụa trong những đống bụi hồng.

San, cấp bậc thiếu tá, 36 tuổi vóc người cao 1m75; nước da sạm nâu; tóc húi đứng, trán phẳng gây một cảm giác rắn chắc, lông mày lưỡi mác, cặp mắt nhỏ tinh anh, đuôi mắt dài và mũi thẳng, chóp mũi tù, hai cánh mũi dầy và kín, bên dưới và giữa hai gò má hình quả hồng là nhân trung sâu trên cặp môi săn chắc đang nứt nẻ vì nắng và trong mùa gió tây kinh khiếp; cặp môi ấy tựa vững chãi xuống chiếc cằm vuông và rộng, xanh mịn chân râu, làm tôn lên một khuôn mặt dãi dầu và can trường, đến nỗi không phải bất cứ cái tuổi 36 nào cũng có được. Anh thong thả bước từng bước một trên bậc tam cấp để vào căn phòng giữa của ngôi nhà, và vui vẻ lên tiếng chào một sĩ quan, mà anh đoán có lẽ là đồn trưởng. Người này, lúc nãy thấy xe các anh tới, đã ra đứng sẵn chờ bên trong ô cửa sổ lớn của căn nhà; và anh ta chăm chú nhìn ra đường.

- Chào đồng chí, đồng chí là đồn trưởng Đồn biên phòng này? - San nói.

- Chào thủ trưởng... Vâng, đúng ạ. Mời thủ trưởng và các anh ngồi nghỉ cái đã.

- Cứ mặc chúng tớ.- San nói tiếp - Mình là Nguyễn Đình San, Đoàn chuyên gia quân sự giúp Bạn.

- Dạ vâng... Thưa, tôi cũng vừa nhận được điện của tỉnh báo có các anh. Các anh nghỉ đây một lát rồi có người đưa các anh đến chỗ tạm trú. Chỗ nghỉ hầm hào tốt lắm, chỗ đó dưới chân rừng ngay bên con Nậm Ca này, nên rất mát - Anh ta vừa nói vừa cầm chiếc quạt nan quạt tới tấp cho anh ta và cho San.

San hỏi:

- Có tin tức gì mới; tình hình bên kia dạo này thế nào, đồng chí?

- Vâng, tôi xin báo cáo thủ trưởng ngay đây ạ. Đoàn của thủ trưởng chờ tại đây hai ngày. Ngày kia, Quân khu bên ấy sẽ cho xe qua đón. Năm ngày nay, bên ấy đang có chiến sự, phỉ quấy phá suốt dọc con đường 7A này. Mỏm chốt Bôm Lộng thường xuyên cối xuống đường, tuy ít trúng nhưng cũng tác động không tốt tới tâm lý. Các anh bên Quân khu đã rải hẳn một tiểu đoàn mạnh để quét bọn phỉ này, nên từ hôm qua tới hôm nay, đã thấy yên yên...

San nghe với một vẻ bàng quan, anh nhìn người sĩ quan đồn trưởng đang mồ hôi nhễ nhại trên mặt và hai bên đầu vai áo.

- Đồng chí tên gì? - San hỏi giọng ân cần.

- Dạ, tôi tên Tuấn, họ Phạm...

- Vào đây lâu chưa?

- Được hai năm rồi, thủ trưởng ạ.

- Vợ chưa?

- Dạ chưa ạ... Lại vào thời chiến rồi mà... Nên bìu díu vào làm gì cho vướng.

- Nghĩ thế là được. - San cười vang, thoáng nghĩ đến vợ anh hiện đang là một cô giáo tại Quảng Bình, mà anh vừa mói chia tay hôm ra đi.
San lảng chuyện về tình hình bên kia, cũng là hàm một ý rằng dẫu bên ấy hiện đang ra sao, thì đối với anh lúc này cũng không mấy quan trọng. Một nơi đang có địch, như ở miền Nam nước ta, không lẽ kẻ địch nó lại chỉ có nhảy múa, ăn chơi và duyệt binh. Nó phá, chống phá ta, chống phá quyết liệt ấy chứ. Chỉ có điều đối với ta không thể nào lơ là, chẳng những vậy, phải có các quyết sách tốt.

Ngoài hàng hiên của căn nhà, một sĩ quan nữa đứng bên ba bốn người trẻ tuổi trong đoàn. Anh tên là Hoán, phó của San. Lúc đồn trưởng đồn biên phòng vừa báo cáo với San xong, Hoán quay sang người bên cạnh, ghé tai nói nhỏ với người ấy:

- Không trị được bọn phỉ thì rất gay, gay lắm. Rồi xôi hỏng bỏng không vì cái bọn khốn kiếp này cho mà xem. Đoàn có năm mươi chú lính, gặp phỉ đánh chặn lại, thế là dăm ba chú nằm gói gọn trong tăng ni lông, quay lộn về Nậm Ca này thì chán lắm đấy ông ạ.

- Đoàn phó nói, em sởn da gà. - Người đứng bên rút khăn lau mồ hôi trên mặt.

Cả đoàn đã đến khu nhà hầm nửa nổi nửa chìm. Bao bọc vành ngoài các cụm nhà là một giao thông hào có các ụ chiến đấu, bên ngoài nữa là hàng rào dây thép gai và rải rác những tấm tôn treo tòn ten trên các vòng thép gai bùng nhùng là những miếng tôn vuông hình chữ nhật, nhỏ và đều nhau, rõ hai chữ “có mìn”. Qua hàng rào gai xuống nữa thoai thoải là sườn đồi và dòng suối Nậm Ca đục ngầu mặt nước sủi sùng sục vì lòng suối đá.

Khi các sĩ quan trong đoàn tản mát vào các nhà hầm. San ngồi xuống một chiếc võng do chú lính trong đội cảnh vệ mắc cho anh. San vừa nhìn một lượt toàn cảnh nghĩ bụng: “Treo biển có mìn thế này rất hay đấy nhá. Đề phòng lính ta có cậu vô tâm, lại vừa doạ bọn phỉ...”. San quơ tay lấy chiếc xắc cốt da loại cho Sĩ quan cấp tá, mở nắp, moi một xấp tài liệu, trong đó có một quyển sách mỏng khổ lớn ngoài bìa sách đề bằng tiếng Pháp “Plaine des Jarres” (Cánh Đồng Chum). San giở ra từng tờ một, bên trong các trang cũng là thứ chữ như tờ bìa và ảnh khổ nhỏ có, khổ lớn đầy trang có, là hình những chiếc chum đá nằm ngả ngớn từng cụm dăm ba chiếc một. Hoán đoàn phó đi tới đến bên vừa chăm chú nhìn xuống trang sách đang đặt trên đùi San vừa khẽ hỏi, vẻ ngạc nhiên:

- Đoàn trưởng biết tiếng Pháp đấy ạ.

- Cũng đọc được sơ sơ. - San trả lời, anh chợt thấy không thích cái lối tò mò của Hoán, anh hỏi - Có việc gì không Hoán?

- Báo cáo, tôi cho anh em nghỉ ngơi tắm giặt và đã báo cơm rồi, Đoàn trưởng ạ.

- Cậu thấy còn việc gì phải làm nữa không?

- Dạ... Mỗi việc là nghỉ ngơi thôi ạ.

- Thật không, có thật là không còn việc gì không? - San dịu dàng đay lại.

- Dạ... Thế hệ của Đoàn trưởng ngày xưa mà được học tiếng Pháp thì nhà bố mẹ hẳn không phải là bần cố rồi... Xoàng thì cũng phải có của ăn của để, không thì cũng gia cảnh phong lưu - Hoán tuôn ra một mạch, để khoả lấp cái điều mà San hỏi, Hoán bí.

San chợt nhớ, đoàn sĩ quan chuyên gia quân sự này của anh là do từ nhiều đơn vị hội tụ về, nên Hoán nói vậy cũng phải, chứ anh chưa thể ngờ được rằng điều Hoán vừa nói ấy là bởi từ một nguồn cội khác, mà phải mãi đến sau này, sáu bảy năm trời anh mới nhận ra hiểm hoạ, và khi ấy anh chỉ còn biết tự trách mình thôi.

San thong thả:

- Ông già tôi là thầy lang, ông nội tôi cũng vậy, nhà tôi dòng đông y, các cụ nhịn ăn nhịn mặc chăm chỉ cho con cháu học hành lắm, đã trợ cấp cho tôi học đến tú tài một, Hoán ạ...

- Tú tài là cái gì thế anh? - Hoán hỏi, trong câu hỏi hàm một sự hí hửng.

- À, như lớp mười bây giờ ấy mà.

- Vậy các cụ vẫn là thành phần giàu có anh nhỉ... - Hoán giọng mềm oặt như muốn đáp lại cái câu của San khi nãy, mà theo như Hoán hiểu là San đã đay lại anh.

- Tuỳ cậu hiểu. - San trả lời như muốn đóng sập cái lối đi, mà anh vừa cảm thấy sẽ không hay ho gì.

- Thủ trưởng còn chỉ thị gì không ạ? - Hoán thừa biết San muốn gì. Hoán nhượng bộ.

- Nói anh em trong đoàn và tiểu đội cảnh vệ kiểm tra kỹ vũ khí.

- Vâng, vâng... - Hoán quay ngoắt đi thầm nghĩ: “Ta thua Đoàn trưởng một không. Đường đường là một tay vốn tự hào quân sự giỏi, mà phải để ông ấy nhắc như thế, hừ...”

Hoán dáng người tầm tầm, luôn cho người khác một cảm giác Hoán vốn sống sạch tinh tươm, quân phục tề chỉnh, đầu tóc chải mượt có xịt gôm, nếu thiếu gôm thì thay nước cơm. Khuôn mặt hẹp và dài hình lưỡi cày, cằm hơi chĩa ra phía trước, cặp môi mỏng thâm, sống mũi thuôn và chóp mũi nhọn, hai cánh mũi mỏng và hơi hếch, mắt lé, khi mở to hai con ngươi thật nhỏ và tròn như hai viên bi đất đùng đục; lông mày thưa, các sợi lông mày rất mảnh mầu hạt dẻ nhạt; trán thấp và da trán luôn bóng nhẫy. Với hình tích trên đây, Hoán là người tính khí khó lường, khi thì láu cá, lúc thì lại lộ ra cái vẻ thật thà...

San ngả lưng trên võng, tiếng ve sầu bỗng nhiên rộ lên ào ạt, rõ nhất là tiếng con cồ cộ. San bắt đầu đọc cuốn sách khổ rộng, được in bằng tiếng Pháp “Plaine des Jarres”.

San đã có mặt ở đây, năm đó cách nay ba năm, bấy giờ anh cũng là cấp trưởng, nhưng không thêm hai tiếng “chuyên gia”, mà là Đoàn quân sự trong một tư cách bên ngoài đại điện. Và hồi ấy, anh cũng đã có hiểu biết về cái nơi anh ở này. Tuy nhiên, để hiểu sâu sắc thêm nữa vùng đất có thể gọi là vừa bí ẩn vừa dữ dội mà anh sắp đến lần thứ hai đây, thì việc đọc tài liệu này khi nào cũng hết sức cần thiết:
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #2 vào lúc: 26 Tháng Mười, 2026, 03:47:29 pm »

Tài liệu 1 1 

“Cao nguyên Xiêng Khoảng - Cánh Đồng Chum (một tên khác phổ thông từ trước 1945 là cao nguyên Trấn Ninh) có cương vực với Luang frabang, Viên Chăn và Sầm Nưa (phía tây nam của Sầm Nưa) và cũng có biên giới với miền tây tỉnh Nghệ An. Trung tâm Xiêng Khoảng - Cánh Đồng Chum (Trấn Ninh) cách Luang frabang 110km, và nằm phía đông bắc Viên Chăn cách thủ đô 168km.

Xiêng Khoảng - Cánh Đồng Chum là một cao nguyên có độ cao trung bình 1.200 - 1.400m với diện tích là 19.550km2 bao gồm những đồi núi dốc xen kẽ những núi đá vôi bọc quanh những cánh đồng nhỏ có đông dân cư như Bản Ban, Tha Thơm, v.v. Hoặc đồng cỏ rộng lớn như Cánh Đồng Chum.

Nếu miền Thượng Lào được xem là do những cao nguyên mà hợp thành thi Xiêng Khoảng - Cánh Đồng Chum hơn đâu hết, mới là nơi có địa mạo đầy đủ nhất các tính chất của địa hình, địa chất, khí hậu và thực động vật của một cao nguyên. Hay có thể nói thế này, tất cả các cao nguyên của Thượng Lào đã dành cho Xiêng Khoảng - Cánh Đồng Chum thật là đầy đủ và thật là trọn vẹn các đặc trưng của một cao nguyên thì càng đúng hơn nữa.

Xung quanh Xiêng Khoảng - Cánh Đồng Chum, về phía bắc giới hạn bởi Nậm Khàn, một thung lũng sâu nằm kẹp giữa những dãy núi đá cao và rừng rậm nguyên sinh, và đây cũng là sườn phía bắc của cao nguyên Xiêng Khoảng - Cánh Đồng Chum. Nằm giữa ranh giới ba tỉnh Luang frabang, Sầm Nưa, Xiêng Khoảng có dãy núi đá Phu Lội với những ngọn núi nhọn hoắt lởm chởm cao 2.257m, cũng là nơi bắt nguồn của sông Nậm Hàn. Về địa hình, phía này rất hiểm trở, phức tạp, khiến cho việc giao thông từ Xiêng Khoảng lên phía bắc rất khó khăn. Chỉ có đường Mường Sủi, Mường Yểu và một cửa ngõ nữa nằm ở phía đông Luang frabang là có thể đi ngựa được. Phía nam núi rừng cao lên trên 2.000m. Chạy từ tây sang đông đó là dẫy Phu Bia cao 2.820m, Phu Sảo cao 2.550m và ngọn Phu Sao 2.620m, ba dãy này nối tiếp nhau và thấp dần thấp dần về phía sông lớn Mê Kông. Còn rừng ở vùng ba dãy núi lớn và cao nhất cao nguyên Xiêng Khoảng này, địa thế của chúng không những cao dốc mà còn lắm khe suối rất rậm rạp, và luôn luôn ẩm ướt là dạng địa mạo nguyên sinh. Và, giữa mấy dãy núi ấy có hai thung lũng rất có ý nghĩa, cũng là hai con suối lớn là Nậm Nhập và Nậm Sản, là hai con suối có nguồn nối từ trung tâm Xiêng Khoảng - Cánh Đồng Chum, và chảy xuống phía nam qua đồng bằng phì nhiêu Bô Ri Khan của Viên Chăn rồi đổ ra sông Mê Kông, do vậy nó đã mở đường cho Xiêng Khoảng - Cánh Đồng Chum đi xuống phía kinh đô này. Còn con đường số 4 Xiêng Khoảng - Pắc Xan, chính phủ Vương quốc Lào đã có kế hoạch mở rộng cho xe có động cơ chạy, vừa qua cũng đã có làm được một phần. Nếu hoàn thành, tác dụng của nó là hết sức quan trọng. Nó có thể nối liền với đường 13, hệ thống đường thuỷ Mê Kông và hệ thống đường đông bắc Thái Lan; và ở phía nam với hệ thống đường 6 Bản Ban - Sầm Nưa cho đến Mộc Châu (Việt Nam). Phía tây là những dãy núi cao trên 1.500m nằm giữa ranh giới hai tỉnh Luang frabang và Xiêng Khoảng như dãy Keng Kền, Phu Khao. Địa thế của vùng này cũng hiểm trở, rất phức tạp. Đường số 13 gồm Viên Chăn, Luang frabang ở Phu Khao. Phía đông là dẫy Trường Sơn cao trên 1.000m, đỉnh cao nhất là ngọn núi Phu Lai Leng cao 2.700m, và các ngọn nguồn con sông như sông Nậm Mật, Nậm Mò, Nậm Nhiên, ba con sông này chạy dưới những vách núi đá dựng đứng, đã gây ra biết bao khó khăn cho việc đi lại, nhất là về mùa mưa. Hai bên đường 7 cũng là vùng núi đá vôi xen lẫn với những dãy đồi gianh, hoặc rừng già mọc trên các ngọn núi cao, cả rừng già thị trấn Noọng Hét, Mường Xén về Cửa Rào rồi xuống đồng bằng ven biển của tỉnh Nghệ An (Việt Nam). Ngoài đường số 7, còn có nhiều đường mòn đi lại giữa hai vùng này. Đặc biệt, ở đây có đường mòn đi sát bên hàng cột dây thép cũ của hai hệ thống bưu điện Lào - Việt, do Pháp bắt đầu làm năm 1928 đi ngựa được. Nếu dùng cho quân sự thì các trung đoàn bộ binh có thể hành quân trên con đường này vừa thuận tiện vừa bảo đảm bí mật. Trong tương lai con đường mòn này còn có thể mở mang thành xa lộ cho ô tô qua lại. Dân của vùng này hầu như là người dân tộc Mông, trải qua rất nhiều đời họ luôn có truyền thống đấu tranh. Người dân tộc Mông nơi đây coi thị trấn Noọng Hét như là thủ đô của họ vậy. Dân vùng này có rất nhiều quan hệ dòng tộc với dân Mông ở Mường Xén, Cửa Rào và Nậm Ca (Việt Nam), nhất là việc thông thương trong buôn bán đổi chác thi hầu như hàng ngày.

Cao nguyên Xiêng Khoảng (Trấn Ninh) cũng là tỉnh Xiêng Khoảng, có một trung tâm rất lớn. Trung tâm này có diện tích như sau: chiều rộng 40km300, chiều dài 60km700, đó là một cánh đồng cỏ và xen lẫn những đồi thấp núi đất thấp nhỏ to đều nhau thoai thoải, như những chiếc vung nồi đất để úp. Nhưng khi càng ra xa thì cả bốn bề các ngọn núi đất thấp này càng cao dần lên, dần lên và xen lẫn với những dải rừng miền nam, là rừng cây thông và cây dẻ (sến); những dải rừng ấy đều lưa thưa. Có thể ngồi trên những chiếc xe Zép quân sự mà phóng chạy len lỏi giữa các cây thông. Ngày xưa các quý tộc Lào và hàng ngũ các sĩ quan thực dân Pháp, mùa khô hay lên đây, và tấp nập mở những cuộc săn bắn ban ngày lẫn ban đêm, nhất là vào những mùa trăng sáng.

Và chính giữa đồng cỏ rộng lớn này là Cánh Đồng Chum, chiều ngang 4km200, chiều dài 5km200, nền đất cao ráo, bằng phẳng có nhiều chum đá lớn. Có 4 cụm chum. Cụm trung tâm thuộc bản Lạt Thẳm; cách khoảng hơn 400m, Bản Ảng, giữa một bãi cỏ rộng là hàng trăm chum nhỏ, chum lớn, nhỏ cao 1m, lớn 1m50. Bên cạnh một ngọn núi đá thấp, có hang rộng và cạnh hang có một bãi chum nữa, hàng trăm chiếc, nhiều chum đục từ một hòn đá lớn, lòng chum rộng và sâu, gắn chặt vào sườn đá núi có chum từ miệng tới đáy sâu 2m. Ngoài Cánh Đồng Chum này còn ba cụm chum nữa, một trên sườn núi Phu Thinh, một ở Bản Hảy đường đi Sẩm Thông - Long Chẹng; một nữa ở ngã ba Bản Ban.

Cánh Đồng Chum có mỏ sắt lớn trữ lượng khoảng 7 tỷ tấn, dễ khai thác, có vỉa sắt nằm ngay trên mặt đất. Cách Bản Ảng 400m có sân bay, cho C119 và F8F lên xuống được, và tương lai có thể mở rộng cho máy bay B29, F84, F104 xuống được. Xung quanh sân bay và trung tâm Cánh Đồng Chum này là những đồi trọc cao chừng 10, 15, 20m so với nền đất tại đây; nếu có ngọn nào cao nữa thì cũng chỉ cao khoảng 40, 50m. Các ngọn đồi này chắp thành vành đai ngoài làm nên một tuyến phòng thủ tự nhiên. Còn xa hơn nữa về phía ngọn núi đất cao chừng 100m và cũng sắp thành từng dãy bao bọc; trên các dãy núi này là rừng thông thưa. Và, phía đông bắc đường đi Bản Ban thì có nhiều núi cao hơn nữa và rừng rậm. Về quân sự nếu bên phòng ngự muốn chiếm cứ để bảo vệ sân bay và căn cứ chính ở trung tâm Cánh Đồng Chum, thì họ phả i có một lực lượng lớn, có pháo lớn yểm trợ mới làm nổi chức năng bảo vệ. Còn nếu chỉ có lực lượng chừng 10, 12 tiểu đoàn thì chỉ nên trấn giữ các đồi thấp 10 - 20m phía trong mà thôi. Như vậy thì tuyến ngoài xây dựng một số điểm chốt để hỗ trợ cho trung tâm khi có chiến sự.

Nhìn toàn bộ điều kiện địa hình như trên đây, bên phòng ngự rất có thể thành lập những chiến hào liên tục, hay ít ra cũng có thể thành lập được một tập đoàn cứ điểm lớn, trong đó chứa nhiều cụm cứ điểm nhỏ, kết cấu chặt chẽ với nhau bằng hệ thống các loại chiến hào và hầm kiên cố. Nếu vậy, thì các địa điểm như Noọng Hét, Bản Ban, Mường Sủi, thị xã Xiêng Khoảng lại là những tiền đồn quan trọng dùng cho việc cảnh giới.

Cánh đồng cỏ lớn trung tâm Xiêng Khoảng địa hình rộng, thoáng, bằng phẳng dễ quan sát, dễ vận động binh lực lớn, máy bay dễ hoạt động, triển khai cơ giới pháo binh thuận tiện (vì ở đây không có sông lớn, chỉ có suối, khe nhỏ qua lại được). Đồi núi thoải, trọc, dễ tổ chức hoả lực và bố trí công sự vững chắc. Trong lúc đó bên tấn công phải vận động từ xa đến, tiếp cận khó, không có địa hình che khuất và che đỡ, lực lượng phải bầy ra trên địa hình trống trải là mục tiêu tốt cho phi pháo. Vì vậy đồng cỏ lớn trung tâm tỉnh Xiêng Khoảng này có đầy đủ điều kiện để thành lập một tập đoàn cứ điểm lớn.

Nhìn ra toàn cục miền Thượng Lào, Xiêng Khoảng - Cánh Đồng Chum có một vị trí hết sức quan trọng. Nó là cửa ngõ gần nhất để xuống Viên Chăn và Luang frabang. Nếu giữ được Xiêng Khoảng - Cánh Đồng Chum, có thể tiếp vận cho Mường Sài - Luang frabang khi bị bên tấn công uy hiếp, và làm nơi tập trung quân khi rút lui từ phía bắc xuống. Còn như mất Xiêng Khoảng - Cánh Đồng Chum thì cả hệ thống bố trí ở phía bắc Thượng Lào (kể cả Luang frabang bị cô lập và lung lay - Viên Chăn bị trực tiếp uy hiếp). Do đó năm 1953 khi Thượng Lào bị ta tấn công, địch đã tập trung về đây thành lập một tập đoàn cứ điểm gồm 11, 12 tiểu đoàn bộ binh và cơ giới (bằng Điện Biên Phủ lúc đầu) và Xiêng Khoảng - Cánh Đồng Chum được tách ra khỏi hệ thống tổ chức khu Bắc Lào (Zone Laos) mà trở thành Zone opérationnelle 2 Xiêng Khoảng; còn Plaine des Jarres trực thuộc Tham mưu Bắc Bộ (Việt Nam) chỉ huy. Trong lúc đó thì Luang frabang và Viên Chăn vẫn trực thuộc bộ chỉ huy quân sự Pháp ở Lào.

Rộng hơn ra, nếu cao nguyên Xiêng Khoảng - Cánh Đồng Chum mất vào tay địch, thì khối thống nhất giữa Thượng Lào và Trung Lào bị chia cắt, cả hai đều bị địch uy hiếp - Thượng Lào hoàn toàn bị cô lập. Còn đối với Viên Chăn, Xiêng Khoảng - Cánh Đồng Chum giữ một vị trí rất đáng kể. Từ đây có thể kéo quân xuống chiếm dóng đồng bằng ven biển Nghệ An (trong lúc đó bờ biển của vùng này cũng có rất nhiều nơi thuận tiện cho việc đổ bộ lớn từ ngoài biển vào) làm cắt đôi miền Bắc Việt Nam, cô lập Trung Bộ và Bắc Bộ. Hoặc từ Xiêng Khoảng tiến quân theo đường 6 chiếm Mộc Châu, Cò Nòi, Nà Sản uy hiếp cả Tây Bắc. Đối với Thái Lan, trước hết cao nguyên Xiêng Khoảng - Cánh Đồng Chum cao hơn hẳn vùng đông bắc Thái Lan, nhất là cao nguyên Cò Rạt, thế uy hiếp của cao nguyên Xiêng Khoảng - Cánh Đồng Chum với vùng này là rất lớn, nhất là trong điều kiện chiến tranh lớn có các loại vũ khí hiện đại. Rồi từ cao nguyên Xiêng Khoảng - Cánh Đồng Chum cũng có đường qua Đak Lay xuống Mường Lòi, qua Viên Chăn xuống U Đôn, qua Pắc Xan xuống Sa Khôn - Na Khôn, Thái Lan, Đó là những đường tiến quân thuận tiện.

Tuy nhiên, vì địa hình cao nguyên Xiêng Khoảng - Cánh Đồng Chum có đặc thù là rộng, trống trải, để cho bên phòng ngự bố trí được kín đáo chặt chẽ, muốn thế đòi hỏi phải có một lực lượng quân sự lớn và nhất là phải có sự tham gia đầy đủ của các quân binh chủng. Việc đảm bảo vật chất cho một số lượng bộ binh, khí tài như vậy là rất lớn và rất phức tạp, trong lúc đó thì ở đây cơ sở hạ tầng như sân bay còn rất xấu (mưa to không sử dụng được), hệ thống đường chưa đủ và còn khá nhỏ hẹp, lại không có đường sắt. Đó là những khó khăn rất lớn mà bên phòng ngự không thể không biết đến, mà việc giải quyết những khó khăn này, không những phải có nhiều nhân tài vật lực, mà lại còn là vấn đề thời gian nữa”
.



-------------------------------------------------------------------
1. Nguồn cung cấp: Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn, Trưởng đoàn Chuyên gia quân sự cùa ta tại Quân khu Xiêng Khoảng - Cánh Đồng Chum.
2. Vùng chiến lược
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #3 vào lúc: 27 Tháng Mười, 2026, 07:39:30 am »



San đặt tập tài liệu lên ngực, gối gáy trên hai bàn tay chồng vào nhau nhìn lên đỉnh rừng, bỗng dưng trong đầu anh vang như từ đâu vọng lại “... đường mòn đi sát hàng cột dây thép... Pháp làm 1928 từ Mường Xén... Sa Nọi... Xiêng Khoảng... hiện vẫn đi ngựa được... Nếu dùng cho quân sự thì các trung đoàn bộ binh có thể hành quân trên con đường này... Nếu... nếu... đường 7 chưa dẹp được xong lũ phỉ trong mấy ngày tới..”.

Trên đỉnh rừng nắng chợt dịu và gió tây mỗi lúc một thổi mạnh, nhưng càng lúc gió càng dịu và trong gió là hơi sương lẫn những hạt mưa to như hòn sỏi, rồi bỗng chốc có cả những rẻ sương lớn bằng vài ba chiếc chiếu bị gió thổi thốc tới làm cho những tán lá trên cao thoắt mờ đi, rồi sương tướp ra trong gió, và đỉnh rừng lại quang tỏ.

Chợt tiếng súng lớn vọng từ phía tây về. San lắng nghe, anh nhận ra đó là của đạn cối 80, nhưng vì quả cối nổ trên đá nên tiếng rất đanh, vang rất xa; và cỡ cái tiếng nổ ấy thì với anh đây không mấy xa. Chẳng nhẽ cối của bọn phỉ ở mỏm Bôm Lộng bắn xuống đường 7...

Anh lính cơ yếu đột ngột đến sát võng San. San ngồi bật dậy.

- Báo cáo Đoàn trưởng có điện của Đoàn bộ và của Ban chỉ huy Quân khu Xiêng Khoảng - Cánh Đồng Chum...

- Tốt lắm, đúng với cái điều mình đang ngóng trông - San cầm lấy quyển sổ mỏng hình chữ nhật như xấp biên lai, tờ điện thứ nhất: “Khăm Vân đang trên đường vào. Khăm Sản đợi. Tranh thủ đi sớm. Bạn đang rất trông”. (Khăm Vân là Lê Đình Vân, Chính uỷ đoàn, Khăm Sản là San, một cặp bài trùng đấy). - San gật đầu - Chúng ta sẽ chờ anh ấy. - San đọc tiếp, tờ điện thứ hai: “Gửi đồng chí Khăm Sản, tình hình chiến sự dọc đường 7 rất căng thẳng. Quân khu đang tích cực cho giải toả. Thời gian, trong một tuần. Sẽ có xe đón đồng chí và đoàn. Rất mong đồng chí và đoàn cảm thông. Tư lệnh QKXK - CĐC Khăm Màn đã ký”. San đưa trả lại sổ điện cho anh lính cơ yếu, mắt San thoắt đờ ra nhìn cậu lính cơ yếu không cảm xúc, San nói khô khàn, giọng bực bõ: - Thế mà chúng ta lại “ngồi chơi xơi nước” ở đây, thì có chán không cơ chứ. - Đột nhiên San cầm lấy tay anh lính - Này, máy 15 oát của các cậu, nếu hành quân đường rừng có thay nhau vác được không?

- Báo cáo, thì chúng em vẫn làm thế cơ mà...

- À tốt quá. Vậy, Viễn cho anh em trong tổ điện đài chuẩn bị tư tưởng sẽ hành quân bộ trong vài ngày nhé. Gọi Cư A Hoà cho tớ.

Thiếu úy Cư A Hoà người dân tộc Mông, quê ở một bản thuộc huyện Xi Ma Cai tỉnh Lào Cai. 27 tuổi, cao 1m61, vóc người rắn chắc, tay dài như tay vượn, năng động hoạt bát; cặp mắt nhỏ dài, sáng; con ngươi đen đầy mắt, hàng lông mày cong cong đen dầy, hai đầu của hai hàng lông mày đấu gần như sát nhau trên vùng ấn đường, trán phẳng, tóc dầy và thật mềm. Năm 26 tuổi Cư A Hoà lấy vợ, một cô gái họ Sùng, Sùng Thị Di người cùng bản, Di băng huyết chết. Cư A Hoà ôm chặt thằng bé cuống rốn lòng thòng bọc trong mớ áo quần, từ cái lán vợ đẻ vừa chạy đi tìm mẹ. Bà mẹ Cư A Hoà vội bế cháu nội vào lòng, quát gọi người nhà đun nước nóng đem pha cho bà lấy lau rửa đứa bé, cắt rốn cho nó, để bố nó còn đem khúc rốn chôn sâu dưới đất chỗ chân giường vợ chồng nằm, theo phong tục người Mông. Tha thẩn vật vờ mấy ngày, cho hết phép Cư A Hoà trở về tỉnh đội, nơi anh đang làm việc. Cư A Hoà buồn không chịu nổi, cứ đến tối, Cư A Hoà lại gào tên vợ; để khỏi ảnh hưởng đến mọi người, anh đóng chặt cửa buồng lại ngồi một mình trong đó mà khóc. Tỉnh đội phó Sùng Chí Lự, một tối thấy vậy đập cửa vào. Ngồi bên Cư A Hòa, Lự hỏi: “Mày có nguyện vọng gì không?”. “Chỗ nào có phỉ, có chiến đấu anh cho em đi thôi, ở đây gần mả vợ, gần đứa con mồ côi, em không chịu nổi đâu, nên em phải khóc phải gọi tên vợ em..”. Đang nói thoắt Cư A Hoà ngửa mặt nấc lên liền mấy cái, gào lớn: “Ô ô ô Di ơi Di ơi, sao mày bỏ tao mà đi một mình hở...”. Sùng Chí Lự ghì chặt Cư A Hoà vào ngực và anh chợt nhớ đến Nguyễn Đình San. Vốn hai người cùng một khoá Học viện Quân sự, lại ở chung một phòng, trong khi học, San rất tích cực học tiếng Mông, và rồi họ ngoéo tay trao chén rượu kết nghĩa anh em, từ đây mọi chuyện giữa hai người họ đều dùng tiếng Mông. Ngay hôm sau Lự gọi điện về Hà Nội cho San, may sao cũng là khi San được lệnh tập hợp một đoàn đi Xiêng Khoảng, và trong đầu anh cũng đã nghĩ đến trong đoàn chuyên gia rất cần một số sĩ quan người dân tộc Mông vì theo thông kê dân số, Xỉêng Khoảng đồng bào dân tộc Mông có tới 75.000 người. Anh lên ngay Lào Cai gặp Lự, và chỉ vừa gặp mặt Cư A Hoà, anh đã thấy ngay rằng đây chính là người anh đang hết sức cần. Lự cho Cư A Hoà về thăm nhà, nhưng Cư A Hoà không, anh đi theo San luôn. Hôm đi Cư A Hoà chỉ nói với Lự, anh có về thì nói với mẹ em nhé. Và, ra thăm mả vợ em (Sùng Chí Lự là anh họ Cư A Hoà mà). Rồi từ đấy Cư A Hoà rất quyến luyến San. Cư A Hoà có một tính cách San rất quý, đó là rất gắn bó với công việc và có trách nhiệm, làm đến nơi đến chôn việc cấp trên giao; và nữa, chẳng những vậy Cư A Hoà còn tự tìm việc mà làm. Cư A Hoà còn có một cái nết này, anh cũng thích, tuy trong quân ngũ, nhưng chỉ khi thực hiện điều lệnh, họp hành hay tác nghiệp quân sự, Cư A Hoà mới mặc đầy đủ quân phục. Còn thì anh lại mặc trên người chiếc áo dân tộc Mông và dưới là quần bộ đội.

Cư A Hoà mặt tươi rói, đứng nghiêm, bàn tay thẳng giơ lên để bên trán:

- Báo cáo Đoàn trưởng, thiếu úy Cư A Hoà có mặt, hí hí...

- Sai điều lệnh rồi... có một nửa là quân phục này, báo cáo có mặt xong lại cười hí hí này...

- Đoàn trưởng chỉ thị tiếp đi ạ. - Cư A Hoà ngồi xuống đòn cây dùng làm ghế băng bên võng San.

San ngắm nhìn chiếc áo dân tộc Mông xẻ vạt, hai vạt hai mảng hoa văn đỏ rực được phối mầu cực đẹp. San khen:

- Áo đẹp lắm, em mua hay ai cho?

- Bạn cho đấy. Lính trong đồn này có tới một trung đội là người vùng Mường Xén mà. Chao ôi người Mông ở vùng này phần nhiều là họ Giàng, còn có cả họ vợ em... Mà Đoàn trưởng ơi, vẫn còn nhớ vợ nhiều lắm... thế mới khổ...

- Kiếm cho Đoàn trưởng một chiếc như của em đi. Đi mua, tiền đây...

- Không, em xin chúng nó, đứa nào cũng có hai ba chiếc đấy...

- Bây giờ em có thể đi mời các bạn lại đây gặp Đoàn trưởng, nói có việc Đoàn trưởng muốn hỏi và nhờ nhé...

Cư A Hoà biến đi ngay sau một tiếng vâng rất gọn. San vừa có một quyết định. Lê Đình Vân đến là bàn nhau đi theo con đường Mường Xén - Sa Nọi - Xiêng Khoảng. Anh mở túi moi ra tấm bản đồ Xiêng Khoảng. Vừa tìm được phương định tìm, anh đã thấy ngay tên Sa Nọi, rê ngón tay trở anh nối Sa Nọi với một địa danh khác có tên là Thẳm Mật là nơi có Bộ Tư lệnh Quân khu chỗ anh Khăm Mằn. “Đây rồi!” - Anh reo lên, nơi đó cách thị xã Xiêng Khoảng - Cánh Đồng Chum khồng xa. Và điều vui hơn, anh theo một vết nhỏ rất mờ vòng vèo giữa vùng chỉ thị có núi cao vực sâu. Rồi ngược đầu ngón tay trở về phía đông, anh thấy ngay Mường Xén, và một cái chấm đen nhỏ trên một vệt xanh xanh ngoằn ngoèo như giun bò đó là Nậm Ca, chỗ anh đang ngồi đây. Căn cứ vào tỷ lệ của bản đồ, anh tính được quãng đường mòn đi bên hàng cột dây thép này. San tự nhủ: “Cho là đi 4 ngày, còn hơn 4 ngày đó phải chết dí ở đây... trong khi Bạn đang nước sôi lửa bỏng...”.

Cư A Hoà đến rủ được năm anh lính biên phòng đồn Nậm Ca là người Mông, họ đều măng tơ vui nhộn. Họ ngồi quây lại bên anh. San dùng tiếng Mông với họ:

- Chào tất cả các em! - Anh bắt tay từng người - Việc có thế này thôi - San chìa tấm bản đồ ra lấy bút trên túi ngực, chỉ đầu ngòi bút xuống vệt ngoằn ngoèo con đường đó - Các em xem kỹ nhé. Mường Xén đây, còn đây là đường dây thép Pháp làm năm 1928. Dây thép là đường dây điện thoại, hoặc dùng để đánh điện tín...

- Báo cáo! - Một anh lính ngồi cạnh Cư A Hoà, giơ tay - Em tên là Giàng Chẩn Mìn, chuẩn úy, các em đây là cùng trung đội em. Thưa Đoàn trưởng San, con đường đó có địa phương gọi tên là đường “Mả Ngựa” đi đến cách Cánh Đồng Chum chừng hơn một ngày đường thì gặp con đường vào Sẩm Thông - Long Chẹng đấy. Tất cả bọn em ở đây đều thuộc. Nhắm mắt đi còn không sợ lạc, đi tới thị xã Xiêng Khoảng đấy, đi tốt đấy. Vì sao thế? Là vì đây là con đường gặp lối đi vào Sẩm Thông - Long Chẹng, rồi lối ra Cánh Đồng Chum nữa, Đường Mả Ngựa cũng là đường thường xuyên chúng em đi tuần nữa.

- Trời ơi! - San kêu lên sung sướng đến tột độ. Trên đỉnh đầu anh ran ran một cảm giác như ở khắp chỗ ấy dưới chân tóc da đầu đang mọc làm anh rạo rực toàn thân - Tuyệt lắm các em ạ. Còn chờ một đồng chí nữa. Nếu mai đồng chí ấy đến thì anh sẽ cho đoàn hành quân vào sáng sớm ngày kia, đi thật sớm. Tình hình địch thế nào, phỉ ra sao? Quân Viên Chăn có tới đó không, tới khúc nào quãng nào? Các em có nắm vững không?

Giàng Chẩn Mìn lúc nãy vẫn cắp nách một gói giấy nhỏ dài độ gang tay, anh bảo đưa cho San:

- Em tặng Đoàn trưởng mặc làm kỷ niệm. Mà Đoàn trường nói tiếng Mông giỏi thế. Mặc cái áo này vào và nói tiếng Mông thì không ai là không tin Đoàn trưởng là dân Mông thật đấy mà.

San cầm chiếc áo, rũ ra và đứng lên mặc luôn ra ngoài áo quân phục. Bỗng bốn năm anh lính Mông vỗ tay ran; và tất cả đều thò ngón trở giơ về phía San cùng reo khẽ: “Đề nghị Đoàn trưởng với tụi em kết nghĩa anh em họ tộc nhé”.

- Tốt lắm, Đoàn trưởng hoan hô các em. Mình cũng đã có tên Mông ngay từ ngày kết nghĩa anh em với Sùng Chí Lự - anh họ vợ của Cư A Hoà đây. Tên Mông của mình là Sùng Chí Sản mà.

Tất cả các bàn tay, các ngón trở cùng quắp chặt lấy nhau. San nhìn kỹ từng chiến sĩ. Chuẩn úy Giàng Chẩn Mìn bỗng vụt biến đi, một lát anh đem lại chiếc bi đông và một lô chén con, chiếc nào cũng sứt sẹo, và anh thoăn thoắt đưa chén cho từng người, trước nhất là San, sau đó là nhóm lính, cuối cùng là Mìn, họ cụng chén và tất cả liền tợp làm một ngụm.

Giàng Chẩn Mìn khà ra hơi rượu trong miệng, còn nói nhỏ giọng thật ân cần:

- Báo cáo, Đoàn trưởng cứ làm việc với anh Tuấn đồn trưởng của chúng em. Rồi chúng em đưa đoàn đi, an toàn; nếu có gặp phỉ cũng không là gì. Em xin báo cáo với Đoàn trưởng thêm: Đây là con đường do chúng em làm chủ. Độ dài, đi chậm thì ba ngày, mỗi ngày đi tám tiếng, còn đi như bộ đội ta thì chỉ hai ngày thôi. Vì nó là đường còn ngắn hơn đường số 7 mà. Dọc đường có tất cả hai mươi hai bản, các Tà Xẻng là người mình, rất căm thù bọn phỉ Vàng Pao, máy bay T28 của Vàng Pao và ngụy Viên Chăn, Mỹ. Nói thế cũng không thể chủ quan là không gặp phỉ, nhưng đề nghị các anh và Đoàn trưởng cứ tin tưởng ở chúng em. Vùng này cũng là vùng do đồn Nậm Ca nắm vững và quản lý hộ cho Bạn mà. Chúng em sẽ đưa Đoàn trưởng với các đồng chí đến tận nơi. Bộ Tư lệnh Quân khu Xiêng Khoảng ở tại bản Thẳm Mật mà. Mỗi lần qua Việt Nam về Hà Nội các đồng chí ở Bộ Tư lệnh thường nghỉ ngơi tại đây. Đoàn trưởng có cần ngựa nữa không? Ngựa của đồn có, ngựa của bà con mình ở mấy bản Lào Sủng trong vùng cũng có nhiều, Đoàn trưởng mượn độ chục con là bọn em có ngay.

- Để nghĩ một tý... Nếu cần thì để tải đồ đạc, nhất là chiếc 15 oát, gạo nước, thực phẩm, mươi hòm lương khô và gạo muối. Có khi phải tăng số lượng muối...

- Muối thì khỏi, bọn em cung cấp cho dân đều đều, các Tà Xẻng trong nhà đểu có giỏ muối của bọn em mà.

- Giàng Chẩn Mìn - Một ít đôi giầy, đổi thực phẩm hoặc tặng...

Giàng Chẩn Mìn reo lên:

- Ôi, Đoàn trưởng khôn quá... đúng rồi. Dân ở bên ấy rất thích giầy của bộ đội mình, chứ không thích giầy Mỹ, ngụy Lào đâu, họ bảo mang nặng chân lắm, ngã liên liên, mà lại khó đi... Bọn em sẽ phục vụ Đoàn trưởng và đoàn thật tốt, chúng ta lại vừa là anh em rồi...

San đặt cánh tay trái lên đôi vai vạm vỡ và cái gáy bò tót của Cư A Hoà:

- Đương nhiên trong việc này không thể cầu toàn, các em nghe không? Cũng đừng chủ quan coi thường địch, chúng trăm phương nghìn kế. Mình biết con đường đó, đi lại trên con đường đó, thì phỉ nó cũng vậy, rồi quân ngụy Viên Chăn nữa. Đường đó được ta, địch và dân cùng dùng. Vậy trước khi hành quân ta sẽ để thì giờ thảo luận các phương án tác chiến...

Các chiến sĩ Mông đồng thanh:

- Đồng ý...

San quay sang Giàng Chẩn Mìn:

- Hai mươi hai bản này có ở gần con đường không? Hay là cách đường và cách đường thì những quãng cách đó là khoảng bao nhiêu, tính trung bình...

Chẩn Mìn nói ngay không lưỡng lự:

- Con đường đi qua ngay cạnh hai mươi hai bản. Em có kế hoạch thế này, báo cáo Đoàn trưởng, cứ đến mỗi bản, chúng em lại nói với Tà Xẻng cử du kích đi cùng đoàn, từ năm, sáu người một bản; tới bản kia họ quay về, rồi bản kia Tà Xẻng lại cử du kích đi nối tiếp với bản kia nữa...

Vậy là một nửa phương án tác chiến đã được thông qua - San chợt nghĩ: “Giá như tất cả các bản huyện của tỉnh Xiêng Khoảng này đều được như hai mươi hai bản thì thế của ta khác hẳn. Theo báo cáo mới đây, tình hình mấy huyện phía tây, phía nam và một phần phía bắc, đều là vùng trắng, không phải bản nào cũng có đội du kích... Đau lòng vậy đấy... Khó khăn, khó khăn... Tối nay hội ý đoàn phân công ai đi với mình, ai ở lại”.

Giàng Chẩn Mìn đưa mắt sang Cư A Hoà, tay cầm bi đông rượu lắc lắc như bảo “Làm một lần nữa nhé”. Cư A Hoà nhìn nhanh qua San:

- Xin Đoàn trưởng cho kết một chén nữa tại đây ạ...

- Đồng ý. - San dứt cơn nghĩ, mỉm cười.

Giàng Chẩn Mìn rót rất sành điệu một lượt bẩy chén. Ngắm nhìn, San thoáng tự nhủ: “Anh cu này rót rượu dẻo tay quá, không rớt một giọt rượu nào”.

Chẩn Mìn mặt tươi như hoa giọng trịnh trọng:

- Thưa Đoàn trưởng, chén này chúc hai ý nghĩa, thứ nhất, chúc cho tình nghĩa Đoàn trưởng với chúng em bền chặt mãi mãi. Thứ hai, chúc cho chuyến đi của Đoàn trưởng với các anh sang Xiêng Khoảng - Cánh Đồng Chum thắng lợi giòn giã...

San cụng chén lần lượt từ Chẩn Mìn, Cư A Hoà trở đi. Anh lại chợt nghĩ: “Giàng Chẩn Mìn hứa hẹn một sĩ quan giỏi... Nếu có thêm Mìn cùng với mình và Hoà nữa nhỉ...”.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #4 vào lúc: 27 Tháng Mười, 2026, 07:41:32 am »

Trời đã tối được một lúc, cơm nước và hội ý vừa xong, San tạm bằng lòng. Anh nhớ vẻ mặt Hoán, lúc anh vừa nói ý chờ cho anh Vân vào, ta đi luôn, hành quân bộ, anh thấy mặt Hoán thất sắc trong ánh nê ông pha với ánh đèn tròn. “Cậu ta lo... Cứ yên tâm... Cậu thế nào cũng có phần...” - San nghĩ và nói tiếp về sự chia đôi đoàn. Non nửa đi theo anh với Lê Đình Vân, còn già nửa ở lại chờ xe Bạn qua đón, nửa này do Hoán - Đoàn phó chủ trì, anh nhìn thẳng vào Hoán, cậu ta cúi xuống làm như để ghi chép mà bàn tay cầm bút của cậu ta run run.

Về Hoán, từ lúc thành lập Đoàn chuyên gia quân sự giúp cho quân đội Bạn tại Quân khu Xiêng Khoảng - Cánh Đồng Chum, San đã thoáng có ý định để cậu ấy công tác ở một đơn vị nào trong nước. Nhưng nghĩ lại thì anh đâu có quyền thực hiện ý định đó. Cảm nhận của anh, Hoán cứ khổ sở thế nào ấy, có lúc anh đã hỏi thẳng Hoán: “Cậu có thật sự yên tâm không? Có gì cứ thoải mái nói với mình, mình xin thay mặt cậu đề đạt lên thủ trưởng cấp trên...”, “Không, không, mà sao anh lại nghĩ vậy. Là sĩ quan sao lại từ chối nhiệm vụ, trong lúc làm việc với các thủ trưởng cấp trên tôi đã được giao kỹ các nhiệm vụ khi tham gia đoàn với cương vị Đoàn phó...”. Lắng nghe Hoán nói San hiểu ngay ý Hoán, có nghĩa là: “Anh đừng tưởng anh được trên phân công là Đoàn trưởng mà lại cứ nghĩ rằng anh có thể thay mặt được cho tôi. Cấp trên cử anh làm cấp trưởng, thì cấp trên cũng cử tôi làm cấp phó... Tôi phó Đoàn, chứ không hề có nghĩa tôi làm phó cho anh...”. San mỉm cười trong bóng đêm, vòm trời trên đầu anh mù mịt và lồng lộn những cơn gió ẩm ướt, bên trời tây, trời bên Xiêng Khoảng đang mưa to. Bên này thấy cả hơi mưa, những làn hơi mưa thổi táp vào mặt lạnh mát rượi. “Cứ vào trận, vào trận, bây giờ bất cứ những ý nghĩ, những gì vớ vẩn củng sẽ tan đi, trôi đi tuốt tuột. Làm chiến tranh, khó thật đấy, nhưng nó cũng lại có những điều làm con người không thể còn tủn mủn với nhau nữa. Đối mặt với địch, mình vốn không hề ngần ngại cấn cái. Đấy, mình với Lê Đình Vân đây, tung hoành ngang dọc miền Trung Lào, Bôlôven những năm đánh Pháp, thì có sao đâu... Hai thằng như một, khoẻ re... Nhưng còn những chuyện như thế này, mình đâu có hai mắt và bản mặt ở đằng sau mà nhìn thấy, mà phát hiện ra được những ngoắt ngoéo việc đời. Mình chỉ có một cái mặt đằng trước thôi”.

Hai ngọn pha vàng ủng xuất hiện đột ngột chiếu thẳng vào đoạn con lộ gập ghềnh trước mặt San, anh đang một mình đi dạo. Vừa nãy anh định rủ cả Hoà và Mìn, nhưng thấy các cậu ấy í ới với nhau hẹn bạn chơi tá lả, nên anh thôi, đi một mình cũng có cái thú của nó.

Hai ánh pha gần lại, bỗng tiếng reo của Vân từ trong xe vọng đến:

- Chào Đoàn trưởng... Đi dạo một mình thế này lại chỉ có nhớ cô em gái tôi thôi. - Lê Đình Vân ra khỏi xe với chiếc ba lô nặng, anh nói gì đó với lái xe, rồi phăm phăm đi tới trước mặt San trong ánh đèn pin của San. Vân tiếp giọng vồn vã - Sốt ruột không thể tưởng được. Các cụ dặn, đúng ra học tập cái đã rồi hẵng đi. Nhưng vì Bạn đang rất cần, nên sang đó ta vừa triển khai công tác vừa học sau vậy. Tài liệu đây rồi, nhiều ý mới và hay lắm.

Họ đi bên nhau về nơi tạm trú, ngọn đèn pin của San lia qua lia lại. San nói nhỏ:

- Anh có thấy mệt lắm không?

- Mai có xe Bạn đón ta đi ngay...

- Tình hình bên ấy căng lên trong hai ba ngày nay. Chiều nay tôi nghe đạn cối 80 của địch vọng qua bên này. Bạn điện cho tôi phải một tuần nữa đường 7 mới thông, Bạn đang điều một tiểu đoàn làm việc này.

- Trời đất... Ngồi đây những một tuần, sao mà chịu đựng cho thấu hở ông... đề nghị Đoàn trưởng tính cho cách khác đi...

Hai người vào nhà, ngồi bên bàn dưới ngọn điện sáng vừa phải. San nhìn Vân, Vân từ đầu đến chân như bọc trong bụi đường đất đỏ, thứ đất phổ biến của miền tây xứ Nghệ.

San tiếp:

- Bây giờ anh đi tắm rửa cho thoải mái... Rồi ta bàn tiếp, tôi có một phương án rất hay, tí nữa sẽ hiến cho Chính uỷ. Đúng là không thể ngồi đây những một tuần được.

Cả hai cùng cười. Lê Đình Vân tíu tít chào hỏi các sĩ quan đoàn viên, vừa khẩn trương lục moi trong ba lô những áo quần sạch để thay.
Vân nói với San:

- Ghé qua Hương bảo đưa ảnh thằng cu hoặc ảnh hai mẹ con đây anh mang đưa cho nó. Mình bảo, viết thư đi anh chuyển tận tay cho, nàng bảo thế này chứ, thôi anh ạ, mới đi mà, để cuối năm cũng được, chứ không lại làm “họ” bịn rịn. Mình mới trêu bảo, gớm dạo này cứng rắn ghê. Nói thế, mà cô nhỏ rân rấn nước mắt, ông ạ. Đàn bà, các cụ bảo, sâu sắc như cơi đựng giầu đấy, nhưng chỉ có giời mới hiểu được.

Không rõ nguồn cơn ra làm sao, mà cả hai San và Vân năm 1948 gặp nhau cùng một đơn vị độc lập. Thế rồi cũng cả hai cứ thế mà cùng bước lên sau mỗi trận, rồi đến khi đơn vị trở thành một tiểu đoàn, “hai đứa” cũng vậy, một chính trị viên, một tiểu đoàn trưởng, tung hoành trên dải đất hẹp Bình - Trị, rồi Khăm Muộn, rồi Bôlôven. Hoà bình 1954, “hai đứa” đều không rõ sẽ làm gì, thế rồi lại cả hai cùng ngồi Học viện Quân sự. Nào ngờ học xong, một “thằng” về Tổng cục Chính trị, một “thằng” lên Bộ Tổng tham mưu, phòng C là phòng nghiên cứu về Lào. San ngồi phòng C mới 6 tháng, chưa nóng chỗ thì trên bảo đi làm tỉnh đội một tỉnh có nhiều người Mèo sinh sống (bấy giờ gọi vậy). San lên nhận chỗ và cũng nhận luôn việc dẹp và tiễu phỉ; vì San đã thông thạo tiếng Mông. Hai năm sau, yên yên chuyện phỉ, San lại được gọi về, là lại về phòng C. Trên bảo với San: “Các ngón đối với phỉ trong 2 năm qua của cậu, sẽ còn dùng lại nhiều đấy. Nhớ tổng kết rồi gửi cho tớ xem với”.

Anh viết xong tổng kết chuyên đề về phỉ, thì được trên cử qua Khang Khay làm trưởng đoàn quân sự của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tại đó, cũng lại với thời gian 2 năm, anh đến Khang Khay một tuần, thì Lê Đình Vân tò tò đến. Hai thằng “va” mặt nhau cười trừ. San bảo Vân, này còn cái gì để gắn bó nữa giữa chúng ta thì làm nốt đi. Lê Đình Vân vỗ tay bôm bốp nói như hát: “Thôi làm em rể mình đi thôi, tớ tiến hành ngay...”. Trong chuyến về Việt Nam báo cáo và chỉ bằng vào thư của Vân, San đến gặp chị Hường, bây giờ chị là uỷ viên thường vụ tỉnh uỷ của một tỉnh, là chủ tịch Hội phụ nữ tỉnh. Chồng chị là một nhà thơ nổi tiếng. San đưa nốt thư của Vân gửi cho em gái, rồi chào chị Hường quay đi rảo bước; rồi hai mươi phút ô tô sau đây San gõ cửa một căn buồng của dẫy nhà tập thể trường cấp II Hương Trà, là căn buồng của Hương. Cô giáo Hương nhỏ xinh chỉ cao 1m55, còn San cao 1m75. Cô giáo Hương đọc thư anh cả xong, thì ngước nhìn San mặt lạnh như tiền, nhưng giây lát giọng nói thì bỗng lại khác hẳn, ấm áp, như lâu mới gặp lại: “Anh bỏ ba lô ra giường đi. Ngồi chơi... Em đi nấu cơm cho mà ăn”. “Anh có gạo đây”. - San nhanh nhẩu mở ba lô lấy bao gạo dài đến ba gang đưa cho Hương - “Anh tặng em luôn cả bao…”. “Thế anh ăn bằng gì, còn từ đây ra đến Hà Nội”. Hương nói, bây giờ vẻ mặt Hương mới hơi vui vui. Và San bỗng thấy Hương xinh, trong đầu thấp thỏm một cái gì đó, xốn xang. Bữa cơm, San nhận ra Hương nấu thức ăn ngon, dẫu trên cái mâm gỗ chỉ có ba món, bát canh rau đay, giá xào với mấy con cá thòng đong khô và đĩa đậu phụ. Sau đấy, San viết thư cho Hương khi anh ở Khang Khay. Hương hồi âm, cả một trang vở học trò Hương viết chỉ có mấy dòng như thế này: “Tôi không lấy chồng bộ đội đâu... Lấy bộ đội như anh, lại cả năm mới thấy mặt nhau, chịu sao cho thấu...”. San xem thư, thấy khắp người tê dại, anh giấu biệt Vân. Nhưng làm sao giấu được. Mấy hôm sau Vân đưa điện của Bộ Tổng cho San, bảo: “Về đi, lúc ra Hà Nội thì cứ vào thăm.... Muốn lấy được vợ thì phải có cái mặt trơ như mặt thớt ấy, nghe chưa! Còn mà tự ái ư... hỏng ngay”. Rồi lại như lần đầu, San rẽ vào chỗ Hương ở. Hương vẫn vẻ như vậy, đón tiếp không ra xa cùng không ra thân. Nhưng rồi khi cơm nước đã xong. Hương pha trà mời San, Hương rót trà ra chén đưa cho San cô thấy hai mắt San mòng mọng, giọng San khàn đặc: “Em nỡ từ chối anh... Tội nghiệp anh, em ạ”. Và San cứ vậy mà nước mắt giàn giụa, anh cúi xuống không uống nổi chén trà, nước mắt giọt xuống chén trà nóng... Một lúc lâu sau, San đứng lên, nói nhỏ: “Thôi chào em... anh đi...”. Hai mắt San vẫn ngấn đẫm nước mắt và tối lại. San đứng cao lớn như tượng đài, hai chân dài nặng nề bước qua bậc cửa và bước đi, cúi gằm. Hương đứng trong cửa nhìn theo. Bỗng dưng toàn thân cô rụng rời, và đầy tức lên một xúc cảm thật lạ lùng. Hương gọi: “Anh San, quay lại đi...”. San quay lại, bước những bước còn nặng nề hơn. Đến cánh cửa buồng của Hương, San vừa dừng, thì Hương hỏi ngay, như chả còn kịp nghĩ: “Anh ra Hà Nội làm việc mấy hôm?”. “Ba hôm”. “Có quay về không?”. “Có chứ, về lại Khang Khay mà”. San trả lời đã hơi hơi hoàn hồn. “Về thì nhớ ghé vào đây... Anh có ghé vào không?”. San gật, mặt đờ ra. Sau này, Hương tâm sự với chị Hường: “Lúc “hắn” đi, em bỗng thấy xót xa, bàng hoàng, răng người thế kia mà để vuột khỏi tay mình được ư... Ôi chao, “hắn” khóc, nước mắt cứ ràn ra, lòng em cũng như tan ra. Thế đấy, đàn bà chúng ta chết vì sự mềm lòng như thế đấy. Ôi, nước mắt của “hắn”, tai hại thiệt chị ơi”... Và rồi, cuộc đời chồng vợ của San và Hương nào có khác câu Hương viết trong thư là mấy đâu. Cũng mặt giăng mặt giời, cả năm mới thấy mặt nhau một hai lần, có năm không lần nào.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #5 vào lúc: 27 Tháng Mười, 2026, 07:48:03 am »

*

Họ đứng lại trên bờ thác nước của suối Nậm Ca. Họ gồm Phạm Tuấn, trưởng đồn biên phòng Nậm Ca, đại úy; Nguyễn Đình San thiếu tá, Đoàn trưởng Đoàn chuyên gia quân sự tại Xiêng Khoảng - Cánh Đồng Chum; Lê Đình Vân thiếu tá, Chính uỷ Đoàn, Cư A Hoà thiếu úy, Giàng Chẩn Mìn chuẩn úy với hai mươi lăm anh lính biên phòng Nậm Ca nữa, đưa đoàn đi, dẫn đường, bảo vệ, bắt liên lạc với du kích của hai mươi hai bản Mông và đón đội tuần tra của đồn trở về; tổ điện đài 15 oát; mười lăm sĩ quan nữa là các chuyên gia, pháo cao xạ, mìn và vũ khí, xe máy; và chuyên gia cho cấp tiểu đoàn, cùng bộ phận trinh sát, hậu cần, quân nhu, giao thông vận tải, v.v. Hoán và toàn thể số người đi sau bằng ô tô cũng lội qua Nậm Ca tiễn Đoàn trưởng San và Chính uỷ Vân. Phạm Tuấn bắt tay San và Vân:

- Hai thủ trưởng đi mạnh giỏi, đường này vốn an toàn. Tuy nhiên, chiến tranh không thể cầm chắc việc gì. Em đã dặn kỹ Giàng Chẩn Mìn và cánh đi đây rồi. Vả lại đội tuần tra của bọn em đi về rất đều đặn. Phòng xa bao giờ cũng hơn mà.

San nói, giọng nhẹ như hơi thở, nhìn Tuấn và Hoán:

- Nếu có gì đột xuất, với đoàn này, tôi nhờ Tuấn phối hợp với cậu Hoán, Đoàn phó trong việc lên đường khi có xe của bên Quân khu nhé. Bọn này đi, tùy cơ ứng biến, tránh được thì tránh, mà phải đánh thì cũng chẳng ngán gì - Họ ôm hôn nhau, vỗ vào lưng nhau bồm bộp.

*

Rừng Xiêng Khoảng mùa này có một thứ sương mù không ở đâu như thế. Màn sương dầy và đặc giăng phủ như không có giới hạn nào; có đoạn đường San, Vân và đoàn người tất cả đều phải bấm đèn pin, pha đèn pin rọi trong sương trắng quánh như bột nếp, để tiết kiệm pin nên không ai dám chiếu lâu, chỉ bật nháng lên một tị cho thấy rõ quãng ngắn của bề mặt lối đi bề ngang chừng như già hai mét. Nhưng rồi cũng lại có quãng rừng quãng núi, sương mờ mờ trông thấy được quang cảnh, cây cối những mảng rừng già khoảng trăm mét đổ lại. San đi giữa, đầu đoàn là Giàng Chẩn Mìn và mấy anh lính dân tộc Mông của đồn biên phòng Nậm Ca, với hai con ngựa, gạo và một sô nhu yếu phẩm. Còn một con ngựa nữa đi sau San và Vân cùng với chủ nó cùng là lính biên phòng, con này chở máy 15 oát, và phía sau con ngựa là tổ điện đài có cơ yếu và điều khiển máy; rải ra một đoạn gần một trăm mét là các sĩ quan và hạ sĩ quan trong các bộ phận chuyên gia. Bọc hậu lại có mấy anh biên phòng nữa. San quay lại thì thầm vào tai Vân:

- Qua những đoạn sương mù đặc không còn trông thấy gì, mình bỗng nghĩ sương phủ đến thế này, mình với phỉ đập trán nhau đánh bốp một cái, mới biết là địch hay ta, ghê thật.

Vân gật gật mỉm cười. Như San, Vân cũng rất am hiểu việc hành quân trong sương mù, đó là đi nhẹ, và tuyệt đối không ai được nói to, thậm chí ngáp to hoặc trò chuyện thành tiếng. Không hiểu ra làm sao, khi đi trong màn sương mà trò chuyện thì tiếng người nói vang đi rất xa, âm lượng của giọng nói vang tăng lên gấp bao nhiêu lần, so với lúc trời không có sương vậy, thế mới lạ.

Giàng Chẩn Mìn dừng hẳn, quay lại, lúc chờ San, Mìn đưa tay xoa vuốt lên sống mũi hai con ngựa mấy cái, đó là ám hiệu tiếp tục của một thói quen giữ bí mật trong hành quân mà. Mìn muốn bảo hai con ngựa rằng, không được hí nhé. Rồi cũng giống như mấy anh lính biên phòng người Mông, ba con ngựa đi trong đoàn, cất vó đều những bước ngắn và yên lặng, đến không còn cả tiếng thở rất bản tính ngựa là chốc chốc làn môi trên của ba cái mõm ngựa lại bật bật rồi phì ra một hơi dài... Vì đây là cuộc hành quân càng kín đáo càng tốt mà. San đã trông thấy Giàng Chẩn Mìn và mấy anh lính biên phòng vỗ về mây con ngựa. Anh chợt nghĩ: “Người ta vẫn nói, dân Mông yêu quý súc vật và rất giỏi thuần hoá thú hoang mà đúng”...

Giàng Chẩn Mìn thì thào vào tai San và tai Vân:

- Báo cáo hai thủ trưởng, đã qua một ngày rưỡi mà đi được đến hơn một nửa đường rồi; thông được hai phần ba đường rồi. Bây giờ vào qua bản Cò Mạy; bản này có Tà Xẻng rất tốt yêu cách mạng, tên là Giàng Sênh... Em hỏi, ta có nghỉ lại ăn trưa tại nhà nó không? Và cách Cò Mạy là một dãy núi nữa, trèo qua là thấy ngay lối rẽ đi Sẩm Thông - Long Chẹng, cái lối to đấy, ba con ngựa đi hàng ngang được - Mìn dừng lấy vạt áo lau mồ hôi.

San đáp, giọng anh tuy không thành tiếng nhưng cả ba vẫn đủ nghe:

- Mìn và hai ba cậu vào thăm dò, thuận lợi thì đoàn tản ra trong bản và ăn trưa. Còn đến quãng núi thấy được lối vào Sẩm Thông - Long Chẹng, có còn lối tắt nào qua núi nữa không, hiện giờ sương giăng như màn tuyn thế này, có thể chốc nữa trời sẽ quang đôi chút.

- Báo cáo, lối tắt thì nhiều ạ. Thì đoàn ta chọn một lối - Mìn xoè bàn tay ra nói nhỏ - Đã có hạt mưa bé tí rồi. Chỉ một lúc nữa là trời quang thôi.

San hỏi Mìn:

- Mìn có biết ý định của tôi không?

- Rõ... Thủ trưởng muốn dừng lại bên sườn núi để để phòng các đơn vị AC của phỉ đi lối đó để về Sẩm Thông -Long Chẹng, và nắm tình hình...

San quay qua Vân, hai anh cùng gật đầu. San nghĩ: “Người ta vẫn nói dân tộc Mông là dân tộc rất thông minh, đúng thật...”.

Đoàn người lại mất hút trên lối đi xuyên qua những cánh rừng, San đi và rất chú ý ngắm nghía từng cây cột điện tín bằng thép dầy đến gần 2cm, ba cạnh hình thước thợ, một cạnh vuông góc với hai cạnh kia, làm thành ba cạnh đều nhau, và không rõ sơn bằng thứ sơn gì, mà giờ vẫn không bong, mỗi cột cao khoảng 10m, trên đầu cột chỉ còn một hàng sứ điện, dây đã đứt và bị dân trong vùng lấy. San nghĩ đến một đường điện thoại quân sự sắp tới đây đi về Việt Nam, nhất định sẽ mắc qua đường này, chứ cứ men theo đường 7 như vẫn làm mỗi lần địch bắn phá, lính thông tin lại phải đi nối, vất vả lắm.

Suốt cả một ngày hôm qua và đêm qua cho đến cả chiều hôm nay, đằng sau đoàn đi, vẫn có một người mặt đã cứng tuổi, mặc áo dân tộc Mông, quần lính, đi giầy vải của bộ đội Pa-thét, cứ lẽo đẽo đi theo, lúc chậm lúc nhanh để có một cự ly vừa phải mà không bị đoàn của San phát hiện. Gặp quãng rừng quang, hắn ẩn mình lùi xa hơn... và nép vào bên gốc cây, khẩu các bin Mỹ quàng chéo sau lưng. Cũng suốt từ hôm qua tới hôm nay, tiếng súng nhỏ, tiếng đạn cối, cứ nổ tóc tóc, đoành đoành từ xa hai bên rừng vọng lại.

Giàng Chẩn Mìn dừng lại chờ San và Vân; Mìn ghé tai San với Vân:

- Em đề nghị cho tất cả ba con ngựa ở bên này sườn núi. Đây là dẫy núi thấp, trong bản đồ cao có 92m thôi, ta đi lối mòn vào giữa hõm núi thì chỉ một chóc trèo qua sườn bên kia là thấy ngay lối vào Sẩm Thông - Long Chẹng, mà trông thấy được đến vài trăm mét, hai thủ trưởng ạ. Giờ này, có khả năng lũ AC đang hành quân về, chúng nó đi như đi chợ, chẳng hàng lối gì đâu, bọn em đi tuần tra thấy nhiều lần rồi. Bọn em mà đánh, có khi bây giờ phải diệt đến vài đại đội. Bọn phỉ chỉ giỏi đi cướp bóc dân thôi, không biết đánh trận gì cả đâu.

Sương tan thật, quang dần từ trên đỉnh rừng đến sườn núi. San chợt nghĩ: “Nếu rẽ vào bản ăn cơm nghỉ trưa thì có khi bây giờ chưa thể tới đây, may thật, đi luôn chỉ dừng chốc lát ăn lương khô, còn nước đã có bi đông, vả lại một bản tốt, không có nghĩa dân đều tốt cả, nhất là lúc nước sôi lửa bỏng này. Mà lộ bí mật lúc này, thì khó khăn sẽ tăng lên không biết đến thế nào. Dân Mông vốn thông minh và am hiểu quân sự, họ thấy một đoàn có ngựa thồ thế này là phiền rồi, cho nên cần giữ gìn được đến đâu cứ phải giữ gìn. Rất may, là từ hôm khởi hành đến nay không gặp người địa phương đi trên đường này, còn họ thấy ta ở đâu trong hai bên rừng thì cũng đành vậy, đấy là chuyện thường tình rồi”.

Mấy anh lính Mông buộc ngựa sát cạnh nhau, để chúng có ở bên nhau, mới không hí vang gọi tìm nhau khi nhãng quên lời chủ dặn. Trước lúc theo Đoàn trưởng San và Chính uỷ Vân, họ cẩn thận xoa mũi từng con ngựa một lần nữa. Cùng ở lại cảnh giới và canh ngựa gồm gần như toàn thể đoàn đi.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #6 vào lúc: 27 Tháng Mười, 2026, 07:50:44 am »

San, Vân, Cư A Hoà, theo Giàng Chẩn Mìn và ba anh lính Mông đồn Nậm Ca, cùng phăm phăm trèo trên một con dốc vừa phải giữa hõm núi.
Đột nhiên Mìn dừng mặt không quay lại nhưng vụt giơ tay thẳng lên rồi ngả cánh tay ngang, San, Vân, Cư A Hoà và mấy anh lính tiến sát Mìn. San vừa nhìn thấy lối đi Sẩm Thông - Long Chẹng từ phải xiên xiên qua trái, thì cũng thấy cứ dăm ba tên phỉ đi sát bên nhau qua mặt họ. Cả ba, San, Vân, Cư A Hoà và tất cả đều nhẩm đếm.

Trời bỗng bừng sáng và nhuộm vàng của vầng nắng quái chiều hôm. San nghĩ lòng rộn rực: “Lối về cái tổ chấy là thế này đây... Trước mắt, bàn với Bạn, nếu Bạn đồng ý, ta sẽ có một trận phục ở đây để nắm số quân của Vàng Pao và quân chính quy từ Sẩm Thông - Long Chẹng ra quấy phá vùng giải phóng của ta, Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Và khi vào một đợt tấn công nào đó thì sẽ lấy đây làm vài trận mở màn. Chỉ cần một vài trận phục kích thật đích đáng...”.

Những toán lính đi thất thểu, áo nọ quần kia nhom nhếch, và phần nhiều chúng mặc áo dân tộc Mông, hoặc chỉ mặc độc chiếc gilê Mỹ vằn vện rất lắm túi, túi nào cũng phồng căng, và thằng nào cũng đeo, xách, gùi các đồ dùng như xoong nồi, chảo; vài con gà; dăm con vịt; một, hai con lợn sữa; hai thằng một khênh theo một con lợn; đeo trên vai một con lợn sữa được trói bằng sợi dây dù, cả một lồng gà trong ba lô quân dụng Mỹ to đeo khệ nệ sau lưng; và từng tốp 3, 4 con bò, trâu, rồi không rõ vì sao lại có cả mấy con chó chạy theo nữa. Nhập vào đoàn người ô hợp đang đi loạc choạc đó, có cả những con ngựa thồ hàng trên lưng; hàng được bọc kín ni lông, đi sát mấy con ngựa là những đàn ông đã luống tuổi hoặc còn trai trẻ, người nào cũng chéo qua lưng một khẩu tiểu liên AR15 hoặc AK. Sau đoàn đó là những đoàn thồ hàng của bọn thương lái đưa hàng vào Sẩm Thông - Long Chẹng. Hồi San còn là Trưởng đoàn quân sự của Việt Nam ở Khang Khay, anh đã nghe dân buôn bán kháo nhau về chợ ở đấy, đông đúc và sầm uất. Người đi đã vãn, rồi thưa thớt dần, và vắng hẳn, chỉ còn lại mặt đường gồ ghề cấp phối bị nát bấy. San hỏi Cư A Hoà:

- Hoà có đếm không? Bao nhiêu lính.

- Dạ, ba trăm hai mươi tám thằng. Còn đám dân buôn đi cùng với ngựa có bốn mươi hai đứa. Lũ lính số ba trăm hai mươi tám thằng đó, chỉ có một khẩu E rờ bê đê (RBĐ) với một nửa băng đạn vẫn lắp trong súng lòng thòng. Có mười lăm thằng, thắt lưng mỗi đứa có một lựu đạn Mỹ chúng đã ném đi hai quả, bi đông của chúng có lẽ đã gần hết nước, thấy lắc lủng lẳng. Đồ vật dân dụng và gia cầm thú nuôi chúng đem theo, em đoán chúng phải cướp được của ít nhất năm, sáu bản. Vậy em phán đoán có lẽ lũ lính này vừa đi càn trong một huyện nào đó khá là xa, vì trông chúng đi mệt mỏi lắm.

- Làm sao dân buôn lại dám đi cùng với lũ phỉ. Mìn có biết không?

Mìn quay qua San gật gật nói nhỏ:

- Dân buôn này nó đều có bọn tướng tá bảo trợ mà, có khi bọn lính đó còn phải đi bảo vệ hàng cho cánh buôn nữa chứ.

Chỉ bằng vào từng ấy điều Mìn nói và Cư A Hoà báo cáo lại, đã làm nẩy ra trong đầu San biết bao nhiêu dự định, biết bao nhiêu phương án sẽ đem ra thực hiện sau này...

Trời sâm sẩm chiều, sương đã nâng lên cao lưng chừng mây, chỉ còn mảng sương nào còn dầy và đặc thì trĩu xuống sát đỉnh rừng, trong rừng đã quang quẻ. San bước lên mấy bước đặt tay lên đầu vai Giàng Chẩn Mìn và một tay nắm lấy tay Vân ra hiệu dừng, San nói nhỏ:

- Ta dừng hội ý một chút. - Cả đoàn chậm lại đến chỗ ba người thì đứng, và ngay đấy đều tìm cách dựa vào thân cây to ngang bên lối đi. Đây là cách dừng quân khi hành tiến ở một vùng dự kiến có địch. San tiếp với Mìn và Cư A Hoà, Vân - Mìn tính xem, nếu đêm nay đi tiếp thì lúc nào đến Sở chỉ huy quân chủ lực? - Giọng San khao khao, không thành tiếng.

- Báo cáo, phải gần sáng, khoảng 3 giờ sáng đấy - Mìn giọng chậm rãi và chắc chắn.

- Mà đây là vùng thường xuyên có phỉ hoạt động phải không? - San hỏi.

- Chắc chắn vậy. - Mìn đáp.

- Nên đi hay nghỉ lại? - San tiếp.

- Báo cáo, nên ngủ qua đêm, sáng mai đi thì chỉ hai giờ là đến ngay mà.

- Vậy, cứ thế, Vân nhỉ! - San quay qua Vân.

- Đồng ý! - Vân gật đầu đáp khẽ.

San tiếp với Giàng Chẩn Mìn và Cư A Hoà:

- Hai em phụ trách việc này...

- Báo cáo - Mìn nói với San - Đoàn trưởng cho đi một lúc nữa là có chỗ nghỉ tốt, nó là một sườn núi và cao dần lên cách ruộng bậc thang khoảng một trăm mét...

- Đồng ý... San nói với Vân - Vân truyền cho anh em đi - San tiếp với Mìn - Mấy con ngựa làm sao cho đêm nó không hí, và nên đóng ngựa xa nơi đoàn mắc võng, Mìn nhỉ...

- Đúng rồi. Còn ngựa, Đoàn trưởng yên tâm mà, em cho mỗi con ngựa một túi gần đầy thóc, lồng túi vào mõm nó, quai túi buộc lên cổ nó, cho nó nhai chóp chép suốt đêm, thóc ngon nó khoái quên cả kêu đấy...

Cư A Hoà phụ hoạ:

- Dân Mông chúng em hiểu tính nết con ngựa còn hơn cả hiểu tính người thủ trưởng ạ.

San gật gật đầu mỉm cười, anh thầm thán phục Giàng Chẩn Mìn, và ý nghĩ sau này, tương lai gần làm sao xin chuyển được Mìn về với anh. Nhất định phải vậy.

Đã đến chỗ Mìn hẹn với San; trong rừng, nền rừng dốc thoai thoải, một vài vết tích cho biết trước đã có nhiều người mắc võng ở đây. Đây cũng chính là nơi các tốp tuần tra của đồn biên phòng Nậm Ca thường nghỉ lại. San, Vân một thoáng đứng im nhìn xuống những bậc thang đầy cỏ mọc, rậm rạp những búi mua, sim lúp xúp. Triền ruộng này dân đã bỏ lâu ngày. Trời chỗ ấy vẫn nhìn rõ mặt người. Đoàn sĩ quan rất thiện chiến và tinh nhuệ trong việc bố trí đóng quân, họ đều từ hàm thiếu úy cho đến đại úy, trước khi qua đây giúp Bạn, họ cũng đều có mặt ở nhiều chiến trường, đánh nhiều trận, rồi đi học ở các trường hoặc học viện sĩ quan các quân binh chủng. Và, họ đều học giỏi.

San và Vân đứng bên nhau với Mìn, cần vụ của hai anh đang mắc võng, còn Cư A Hoà thì hý húi mắc võng cho mình và Giàng Chẩn Mìn. San nói nhỏ với Vân và Mìn:

- Anh Vân này, Mìn nữa, suốt từ hôm qua tới giờ, mình cứ canh cánh trong lòng một linh tính, như đoàn của mình luôn có người theo đằng sau, hoặc ẩn nấp ở hai bên rừng nhìn vào...

- Em cũng có nữa. - Giàng Chẩn Mìn thật thà - Em có cách rồi đấy. - Mìn hạ giọng - Chúng ta ăn tối rồi mắc võng và để chăn dài ra làm như trong võng có người ngủ. Chúng ta phục trên dốc, cả đoàn phục trên dốc nhìn xuống võng và xiên xiên theo chiều cao dần lên về phía đỉnh núi. Chúng nó thế nào cũng từ dưới ruộng bậc thang dàn hàng ngang mà xông lên, chúng dùng loại dao phát nương lưỡi dao dài như chiếc kiếm, chặt thật mạnh là đứt đôi người nằm trên võng, bọn phỉ thường tập kích kiểu này, giết rất êm mà hiệu quả.

San đặt bàn tay lên đầu vai Giàng Chẩn Mìn, bóp một cái, tay kìa tìm nắm ngay tay Vân:

- Mìn phổ biến cho toàn đoàn nhé... Thôi đi ăn “cơm”...

Từng người một, ai nấy bóc lương khô ra ăn, và chiêu xuôi xuống bụng bằng những ngụm nước trong bi đông đeo bên sườn.

2 giờ sáng, cuộc phản tập kích xảy ra trong đúng 3 phút,có chín bóng đen, nhìn thấy từ dưới ruộng rồi một lát đã nhoà nhập hẳn vào màn đêm của tầng chân rừng. Đột nhiên vang lên khô khốc hai tiếng “doạt! doạt!”. Một loạt AK báng gấp đáp lại, loạt đầu là của Giàng Chẩn Mìn và chập vào tiếng nổ đầu nòng AK của Cư A Hoà, rồi đội cảnh vệ và cần vụ. San và Vân nấp sau hai thân cây vẫn hai khẩu K59 trong tay và im lặng. Chợt dưới ruộng, một pha pin loang loáng, Giàng Chẩn Mìn vẩy theo một điểm xạ. Pha đèn pin chổng lên trời đứng im phắc. Giàng Chẩn Mìn gọi theo hai chiến sĩ người Mông lao xuống. Anh dừng lại bên một xác người, rồi một xác nữa, thằng trước thằng sau. Thằng trước cầm đèn pin vẫn sáng đỏ, Mìn cúi xuống rút chiếc đèn 3 pin của Mỹ từ tay cái xác chết. Chiếc đèn như dính chặt lấy bàn tay nó. Mìn rọi pha xuống hai cái xác co quắp vì chết trong tư thế chạy khom lưng. Mìn dừng pha pin ở đôi giầy của tên có chiếc đèn pin, anh nói nhỏ với cậu lính: “A Tủa ơi, lục tất cả các túi áo túi quần của hai thằng này, tịch thu mọi thứ rồi giao cho anh Cư A Hoà” - Chẩn Mìn gí đèn pin xuống thằng nằm sát bên chân anh - “Em cũng lột nốt đôi giầy dưới chân thằng này nữa. Kiểu giầy Pa-thét Lào, chắc là nó vừa mới đổi được, còn mới lắm bỏ đi phí”.

Vân nói với San và anh em:

- San nhỉ, tháo võng ta đi thôi. Các đồng chí lục lọi tất cả các túi áo túi quần tịch thu mọi vật dụng và giấy tờ, có thể sẽ rất có ích đấy. Xong xuôi xếp gọn chúng nó lại thành một hàng.

Cậu lính cần vụ của San giơ cao hai nửa của chiếc võng trong ánh pin của anh, nói nhỏ:

- Như thế này là đứt đôi người đấy hai thủ trưởng ạ...

- Đúng vậy. - San giọng buồn buồn.

Vân giọng nhỏ hơn với San:

- Giàng Chẩn Mìn tuyệt lắm San ạ... Làm sao mà xin cậu ấy về công tác với bọn mình nhỉ.

San thở ra một cái thật dài:

- Trời đất! Hai thằng, việc nào cũng ý nghĩ chập một thế này... Từ hôm còn ở đồn Nậm Ca và đến giờ, mình chỉ nhăm nhăm lục các cách để xin với cấp trên cho Mìn về đoàn ta.

Vân cười nhỏ, nói tiếp với Cư A Hoà:

- Mọi thứ thu được của phỉ, sẽ nộp lại cho Bạn em nhé.

- Vâng, tới nơi em làm ngay.

Chính uỷ Vân:

- Chúng ta sẽ xin Giàng Chẩn Mìn về, cho Cư A Hoà có bạn chiến đấu nhé.

Cư A Hoà khẽ rên lên:

- Giàng ơi! Giàng ơi! Thế thì còn gì bằng... Mìn giỏi lắm thủ trưởng ạ... Một người thôi mà có thể đổi lấy cả một đại đội đấy, thật đấy Chính uỷ nhé.

Chính uỷ Vân gật gật đầu. Giàng Chẩn Mìn nói với San và Vân:

- Báo cáo, có một tên phỉ chân nó mang đôi giầy Pa-thét Lào rất mới. Em bào A Tủa lột luôn, thằng này mấy hôm rồi có quan hệ với bên Bạn, thì mới đổi được giầy chứ... Phải lẫn vào hàng ngũ Bạn có thể không ít đâu...

San:

- Mình ủng hộ cách đặt vấn đề của Mìn, sẽ bàn với Bạn, Vân ạ.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #7 vào lúc: 27 Tháng Mười, 2026, 03:35:36 pm »

*


Trời sáng rõ mặt người. San, Vân và toàn đoàn đến địa phận của bản Thẳm Mật, nơi đóng trú của Bộ Chỉ huy Quân khu Xiêng Khoảng - Cánh Đồng Chum. Quang cảnh của Thẳm Mật quá đẹp. Ngang trời là đầu của một dải núi đá cao vút, ngọn núi vẫn đang ngủ trong sương sớm. Còn mặt đất là miên man rừng cổ thụ, cây lớn cứ vài ba người ôm, một hai người ôm. Nhà dân, nhà sàn đều bằng gỗ, cột chân sàn như cột đình, “tường” nhà gỗ tấm dựng khít, với bên trên là hai mái ngói mo cau. Bản Thẳm Mật trải trong rừng già ấy và tràn ra cả bên những vạt rộng như sân bóng là ruộng nước đang dịp lúa ngậm đòng, chân ruộng toàn lúa nếp, xanh nhức.

Giàng Chẩn Mìn đi đầu đoàn, táp vào ngang một chòi gác. Anh lính Pa-thét vừa trông thấy Mìn, lập tức ưỡn ngực hai tay giơ cao và kêu lên:

- Ô ôi! Anh Mìn... Anh lính nhìn ra đoàn người đứng sau Mìn - Ôi, các thủ trưởng, thủ trưởng Tư lệnh Khăm Mằn suốt tuần này không ăn không ngủ vì mong đoàn đấy - Vừa nói anh lính Pa-thét vừa nhấc chiếc điện thoại quân sự quay vo vo và giọng anh oang oang - Cậu báo cáo với Tư lệnh Khăm Mằn, đoàn tới rồi...

San, Vân tất cả các sĩ quan của đoàn, từng người một mặt mũi hốc hác, khắp thân người từ đấu đến chân ướt đẫm sương mưa, chân giầy bê bết đất nhão, lấm láp lên đến tận bẹn tận mông.

Đặt ống nói xuống, anh lính gác vừa cười vừa nói với San, Vân và đoàn:

- Xin mời các thủ trưởng và các Sa hải 1 vào ạ. Tư lệnh Khăm Mằn sẽ ra đón thủ trưởng San và Vân đấy ạ.

San, Vân rảo bước, lòng hai người niềm vui ngập tràn, thế là bao mệt nhọc của đường đi được trả ngay lại cho ba ngày hành quân đó. Họ, Nguyễn Đình San, Khăm Mằn Xi Nha Vông, Lê Đình Vân như vập vào nhau, như chập một, một trong ra, hai ngoài đến, họ ôm, họ ghì, họ thay nhau nhấc bổng nhau lên, họ cười, họ giàn giụa nước mắt, họ kêu lên se sẽ, xúyt xoa những tiếng không rõ lời. Lịch sử bản thân của mỗi họ có quá nhiều lần bên nhau. Nhất là mấy năm ở Học viện Quân sự, họ cùng tựu trường, cùng đi thực tập ngoài trận mạc, cùng tốt nghiệp trong những luận văn về nhiều kiểu của phương pháp tác chiến hiệp đồng cấp tiểu đoàn, cấp trung đoàn, các binh chủng hợp thành. Thế rồi ở đấy - học viện ấy, Vân làm chủ hôn cho Khăm Mằn Xi Nha Vông, San làm phù rể để Khăm Mằn cưới một cô bác sĩ quân y cùng quê với Khăm Mằn.

Khi các sĩ quan đi về lối sang nhà nghỉ, Nguyễn Đình San, Lê Đình Vân, và Khăm Mằn Xi Nha Vông quàng tay qua lưng hai người vào ngồi hai bên bàn dài dùng để họp giao ban trong phòng làm việc của chỉ huy quân khu. Tư lệnh Khăm Mằn trút một hơi thở dài, giọng đĩnh đạc mà ân cần:

- Thế hai siều 2 với anh em mình hành quân bằng đôi chân à. Đi đường nào? Đi mấy ngày đấy, hai siều của mình?

San trả lời thay cho Vân:

- Bọn này phát hiện ra một nhánh đường tuyệt vời, là theo lối đi kế bên hàng cột dây điện thoại làm từ thời thằng Tây, cũng dễ đi và lại bí mật bất ngờ...

- Ôi thế à. Mình chưa đi lối đó bao giờ, nhưng mình biết trong bản đồ là có. Có gặp phỉ không hai siều?

- Sơ sơ thôi. - San nói - Và, đi mất 3 ngày...

Tư lệnh Khăm Mằn lại trút ra một hơi dài nữa:

- Tạ ơn Trời Phật, hai siều và đoàn đến nơi an toàn. Còn mình ấy à, mình mong hai siều và đoàn mà trong lòng như một cái chảo gang đã đặt trên bếp lửa, nhưng lại không có cái gì cho vào nấu, chảo để không; nó nung đốt lòng Khăm Mằn này. Địch và phỉ phá rất dữ con đường 7, đã cho hẳn một tiểu đoàn đi dẹp phỉ, mà rồi nó vẫn cứ nhào tới... Hai siều này, thế đoàn mình còn bộ phận nào ở lại bên Nậm Ca không?

San đáp:

- Còn non nửa, do đồng chí Hoán phó đoàn chỉ huy... Trước mắt, chúng ta cùng bàn xem cách dẹp phỉ đường 7 như thế nào...

Vân hỏi Khăm Mằn Xi Nha Vông:

- Trong dân chắc là nhiều dư luận xấu lắm?

- Vâng! Nhiều đấy.., Chúng nó loan tin Xiêng Khoảng - Cánh Đồng Chum bây giờ là “đất phỉ, dân phỉ” rồi. Bọn Pa-thét Lào sắp đầu hàng về với ông Vàng Pao rồi...

Vân khẽ lắc lắc đầu, nét mặt một thoáng sửng sốt đăm chiêu. San vẫn ngắm nhìn Khăm Mằn, trong đầu San vô vàn những ý nghĩ lao lung sôi cuộn.

Vân giọng nhỏ lại:

- Tình cảnh của chúng ta là chiến tranh trong hoà bình... Đối mặt với một loại quân, nhưng mà lại không phải là quân địch, nó vẫn là dân, thế mới khó.

San:

- Đúng nhỉ! Khăm Mằn cũng nghĩ thế chứ?...

- Như vậy mà, hai siều. - Khăm Mằn vươn hai cánh tay ấp bàn tay anh lên hai bàn tay Vân và San, giọng Khăm Mằn chân tình - Bọn mình lo, lo lắm. Hiện nay thế là chúng mình không hoàn thành nhiệm vụ anh Viêng Xay giao cho.

- Hồ Chủ tịch nói rồi, siều Khăm Mằn ạ: “Không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không bền...” thôi. Ta sẽ cùng nhau chung chí chung lòng nhất định sẽ tìm được cách đánh trả chứ. - San nói.

Tư lệnh Khăm Mằn vừa gật gật đầu vừa hai tay nhấc hai bàn tay của Vân và San lên, vẻ mặt xúc động:

- Bây giờ mời hai siều về nhà nghỉ, nghỉ ngơi tắm giặt, mình đã bảo anh em đun nước lá thơm để hai siều của mình tắm rồi. Đi mệt tắm nước nóng cho nó nhanh hồi sức. Còn nữa, bây giờ ba siều chúng ta mỗi người một chén rượu đã, theo phong tục người Lào Lùm. - Nói rồi Khăm Mằn quay qua bên trái nhấc chiếc bi đông Mỹ để sẵn đấy từ lúc biết San và Vân đã tới, Khăm Mằn vặn chiếc nắp cũng là chiếc tách ra, rót vào đưa cho Vân, anh nói nhỏ thân thiết - Mời Chính uỷ thân yêu siều của Khăm Mằn - Vân đón lấy chiêu luôn một ngụm, hơi rượu tức khắc làm cho da mặt Vân dãn ra - Khăm Mằn rót tiếp, đưa cho San, giọng đã vui hơn - Mình mời Đoàn trưởng, một siều nữa của mình - San đón nắp rượu đầy ngửa cổ tợp gọn một tợp rất thiện điệu.

San nói với Khăm Mằn.

- Nghỉ buổi sáng thôi. Trưa cơm nước xong, hai giờ xin chúng ta cùng làm việc, được không siều Khăm Mằn? - San quay sang Vân và anh đón cái gật đầu của Vân.

Khăm Mằn nhìn hai người, mỉm cười, giây lát anh thong thả vẫn một vẻ đĩnh đạc vốn có:

- Hai siều nghe mình đi. Đề nghị cứ nghỉ ngày hôm nay. Trong khi đó mình sẽ triệu tập khẩn toàn thể Bộ Tư lệnh Quân khu. Cho mình nói luôn tên các đồng chí với hai siều, thế này gồm có: Chính uỷ Đuông Đi; Tư lệnh phó Giàng Mê Lầu; Tham mưu trưởng Chăm Phin, Tham mưu phó Bua Kệt; Chủ nhiệm Hậu cần Bun Xưa; tướng Xinh Vông Xa. Tất cả các anh ấy sẽ có mặt trong ngày mai. Hai siều và đoàn cứ nghỉ ngơi đi. Sáng mai xin được bắt đầu làm việc.

Đi tiễn một đoạn quãng lối sang nhà nghỉ, Khăm Mằn với San và Vân, rồi vẫn với giọng ấm và mềm anh nói tiếp: - ‘'Không có việc gì khó. Chỉ sợ lòng không bền”. Lời Hồ Chủ tịch sẽ soi dẫn cho chúng mình trong tình cảnh thật khó lường này, hai siều ạ.



------------------------------------------------------------------
1. Sa hải: Đồng chí.
2. Siều: Đạn rất thân, tin cậy (chí cốt).

Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #8 vào lúc: 27 Tháng Mười, 2026, 03:46:14 pm »

*


Sau ba ngày hành quân, đi một lối hoàn toàn chỉ biết trên bản đổ, nhưng rất may, đoàn của San lại có Giàng Chẩn Mìn và các chiến sĩ người Mông đưa đi, và chỉ chạm địch có 3 phút, phần thắng lại về mình, nên với San chuyện như vậy là bình thường, chỉ có một điều San hơi lo, đến có trúng nơi Bộ Chỉ huy Quân khu Xiêng Khoảng trú đóng không, và rồi các anh ấy nhất là Tư lệnh Khăm Mằn, có gặp được ngay không. Vậy mà rồi đã toại nguyên. Sau ba ngày, cái vất vả của đi đường, của sương mưa và nỗi lo, đã được một thứ nước nóng, sực nức mùi hương của lá hoắc hương đã như rũ sạch mọi mệt nhọc. San đứng giữa khoảng trống của căn phòng có hai gương, giây lát anh lại đi đi lại lại. Còn Vân ngồi đầu giường đang hý húi lục trong ba lô, một lúc sau anh đưa cho San một tập pơ luya mỏng đầy chữ, trong đầu có dòng chữ như sau: “Les H'Mong du Laos Facs an dévolopement”. Dòng thứ hai chữ cũng to như dòng chữ tiếng Pháp ở trên như sau: “Nguồn gốc lịch sử và quá trình phát triển của dân cư H’Mông ở Lào”. San đọc lướt qua, bất chợt anh reo khẽ :

- Trời ơi! Tuyệt lắm Vân ơi! Cậu tài nhỉ, kiếm đâu vậy?

- Chẳng có gì là tuyệt cả. Mấy bố ở Cục Nghiên cứu gửi cho tôi, họ bảo tôi và anh nên học thuộc lòng đấy. - Vân nói.

- Sẵn sàng. - San gật gật, vừa giở lướt qua các trang sau - Mình cũng đã có một chút kiến thức khi hai đứa ta ở Khang Khay đấy. Nhưng vốn liếng chưa đựng đầy vỏ hến về hiểu biết dân tộc này...

Khăm Mằn tươi cười vào, tay xách một bi đông Mỹ bằng chiếc bi đông rượu anh đã rót mời hai người. San mời Khăm Mằn ngồi, còn anh cũng một ghế đối diện, bên anh là Vân.

San mặt rạng rỡ, hỏi Khăm Mằn:

- Nàng Khăm Kẹo của siều đâu, có khoẻ không, đã mấy nhóc rồi?

Khăm Mằn cười gật gật:

- Khăm Kẹo ở gần đây, trông coi bệnh viện của Quân khu. Một thằng nhóc rồi, sắp hai đấy...

San vỗ tay nhẹ nhẹ, còn Vân chìa tay bắt tay Khăm Mằn, giọng bổng lên:

- Thế là Tư lệnh nặn được thêm một chú lính Pa-thét...

- Còn siều San và siều Vân, gia đình con cái? - Khăm Mằn hỏi.

Vân quàng tay qua lưng San:

- Em rể của mình... hai đứa cũng mỗi đứa một nhóc.

Khăm Màn vỗ tay ran cười vang:

- “Lon hàm” đầy đủ quá... Giờ qua đây chung chiến hào với nhau, thế là Giời Phật sắp đặt đấy...

Cả ba bất chợt cùng lặng đi. Khăm Màn cúi xuống, giây lát anh ngẩng lên nhìn San và Vân, hai mắt to sáng chợt mòng mọng, anh thấp giọng:

- Trân trọng báo cáo với hai siều, mới cách đây một giờ anh Viêng Xay vừa điện hỏi hai siều đã tới chưa. Mình mừng quá, báo cáo lại với anh Viêng Xay toàn bộ. Rồi anh dặn dò mình: Tình hình của ta ở Xiêng Khoảng - Cánh Đồng Chum, đang bị đẩy vào thế bị động. Mà ở Xiêng Khoảng - Cánh Đồng Chum như vậy thì các nơi khác ở Lào cũng vậy. Thế rồi anh ấy nhắc nhở mình cái ý này làm cho mình giật mình nhé. Rằng, đã có bốn tiểu đoàn Pa-thét ở Nam Lào bổ sung cho Xiêng Khoảng - Cánh Đồng Chum, do đề xuất của Tổng tư lệnh Khăm Phăn Đon Na Xi, vậy cần chú ý giúp đỡ anh em, vì họ khác vùng, khác khí hậu, khác phong tục, để họ chóng làm quen với nơi ấy... Nhất là trong quan hệ với dân...

San nói bật ra:

- Đúng đúng... đúng lắm...

- Chúng ta sẽ bổ sung cho họ một số chuyên gia, ở cùng chiến đấu cùng, siều Khăm Mằn yên tâm đi.

Khăm Mằn gật đầu, giơ bi đông rượu lên:

- Đây là rượu ngâm với xương con Khái 1, để hai siều uống tăng sức. - Khâm Mằn lại vặn nắp, rót một nắp đưa cho Vân, một nắp đưa cho San và cho mình, rồi vừa khà ra một hơi dài, anh vừa vặn nắp vào chiếc bi đông.

Khăm Mằn đứng lên bắt tay hai người ra về, nói nhỏ ân cần:

- Sáng mai, hai siều nhé...

Hai người, San và Vân đi tiễn Khăm Mằn một quãng, quay vào cả hai cùng ngồi xuống bên bàn, vẻ mặt cả hai tư lự. Vô tình một cuộc hội ý ngắn xảy ra:

Vân:

- Mình đề nghị trước mắt trong quá trình thâm nhập thực tế và triển khai, ta cho anh em học tập kỹ tài liệu về “Phương pháp giúp đỡ Bạn”, tài liệu tôi đem đây rồi...

San: - Đồng ý, và mời cả bên chuyên gia Dân Chính Đảng của ta ở đây tham dự nữa, chứ không trong lúc này mà ông chẳng bà chuộc là chết, chết không đường ra đâu...

- Đúng thế... Bây giờ tôi xuông hội ý với anh em mấy việc cần làm nhé. San cứ ở nhà...

San gật đầu, nhìn Vân vội vã đi. Anh ngồi bên bàn giở ra trên mặt bàn tệp tài liệu mỏng, mà vừa nãy Vân đưa cho anh.

San đọc, hai mất như hút lấy hàng chữ:

Tài liệu 2 2 

“... Theo một tác giả người Pháp thì người H’Mông thời nguyên thủy cư trú trên bờ sông Euphrate và sông Tigre 3. Từ đây, có lẽ họ đi lên phía Bắc hoặc qua miền Côcadơ, hoặc qua Turkestan vào một thời kỳ không xác định được. Việc tìm tới vùng khí hậu ôn hoà hơn có thể đã đưa họ đến miền Đông Á. Ở đây chúng ta thấy họ sinh cơ lập nghiệp ở bờ sông Hoàng Hà hơn 25 thế kỷ trước Công Nguyên... Ngày nay không thể xác định được con đường đi từ Bắc đến Nam, nhưng có lẽ họ đã qua miền Tây Tạng; ý của tác giả cho rằng quê hương của người H’Mông đầu tiên ở vùng Bắc Sibiri.

Theo truyền thuyết của người Hán thì người H’Mông xuất hiện sớm nhất là ở lưu vực sông Hoàng Hà. Truyền thuyết có đoạn nói: “Người Miêu (Trung Quốc gọi người H’Mông lả người Miêu) theo Xuy Vưu chống lại Hoàng đế... (Khoảng thiên niên kỷ thứ ba trước Công Nguyên). Sau đó Huy Viên (người Hán) đã đánh lại Xuy Vưu và xưng vua (cách khoảng 2.700 năm trước Công Nguyên). Sau đó người H’Mông đi dần về hồ Động Đình và hồ Bành Lãi, xây dựng nên nước Tam Miêu đóng đô ở Trường Sa. Địa vực của Tam Miêu lúc bây giờ bao gồm đất Giang Tô, Triết Giang, Hồ Nam, Hồ Bắc, Doãn Nam và Đại Nam.
Sách “Chiến quốc” ghi địa vực cư trú của người Miêu thời Hạ Vũ (khoảng đầu thiên niên kỷ thứ hai trước Công Nguyên) có chép lời Ngô Khởi nói: “Nước Tam Miêu ở phía trái có hồ Động Đình, phía phải có hồ Bành Lãi, phía nam có núi Văn Sơn. Phía bắc là núi Bành Sơn, vì chính trị không tốt nên bị vua Vũ đuổi đi. Như vậy địa vực cư trú của Tam Miêu là thuộc vùng An Huy, Hồ Nam, Giang Tây ngày nay”.

Sách “Thanh đại Miêu dẫn khởi nghĩa” có đoạn nói “Tổ tiên người Miêu, người Dao trước kia đã biết trồng cây lương thực sớm nhất Trung Quốc”. Điều đó rất phù hợp với tên gọi của người H’Mông lúc bấy giờ ở lưu vực sông Hoàng Hà là Miêu tử tức là người phát minh ra nghề làm ruộng sớm nhất.

Nhưng sau đó sử Trung Quốc trong khoảng 100 năm không nhắc tới tên Tam Miêu nữa. Mãi đến thế kỷ thứ 9, thứ 10, tên tộc danh Miêu mới lại xuất hiện. Không rõ sự liên quan lịch sử từ Tam Miêu đến người Miêu sau này như thế nào.

Hiện nay nhiều người có xu hướng không công nhận Tam Miêu là gốc người H’Mông ngày nay. Vì vậy nguồn gốc lịch sử người H’Mông nói chung cần được hợp tác nghiên cứu mới có thể làm sáng tỏ một cách chính xác khoa học được.

Nguồn gốc lịch sử người H’Mông ở Lào Cai và ở Xiêng Khoảng:

Theo một sô nhà nghiên cứu về người H’Mông ở Lào thì: Người H’Mông có nguồn gốc xa xưa từ bên Trung Quốc, tổ tiên họ thiên di từ Trung Quốc qua Việt Nam và sau đó vào Lào qua nhiều thời kỳ lịch sử khác nhau.

Theo Henri Roux thì người H’Mông ở bắc Đông Dương di cư từ cực tây tỉnh Tứ Xuyên - Trung Quốc cách đây khoảng 230 - 140 năm (tính từ 1954 trở về trước). Theo Paul Le Boulanger thì người H’Mông xuất hiện ở Lào vào năm 1849. Theo Vương Quỳnh Anh (một học giả Trung Quốc) thì người H’Mông di cư vào Việt Nam khoảng 300 năm trở lại đây.

Theo điều tra nghiên cứu của Ban Dân tộc Việt Nam dẫn lời một cụ già người H’Mông 120 tuổi ở Bản Đông vùng Tả Cả, miền tây tỉnh Nghệ An kể lại thì người H’Mông ở nam Trung Quốc bị vua chúa nhà Thanh khủng bố nên phải chạy về phía nam. Lúc ấy ông cụ còn nhỏ, được đưa đến vùng Mèo Vạc (Hà Giang) sau đó là qua Tây Bắc rồi đi dần về phía Noọng Hét. Sau khi ông Pa Chay khởi nghĩa thất bại, bị Pháp khủng bố nên một số chạy sang Kỳ Sơn, Nghệ An.

Theo tài liệu nghiên cứu ở Luang frabang, dòng họ Và của ông Sê Sua trước là Pìn, nay là chủ tịch xã Chôn Chiêng, huyện Xiêng Ngân có quá trình chuyển cư như sau:

- Lao Xai Và, sinh ở Trung Quốc và di cư vào Việt Nam.

- Xìa Đinh Và, sinh ở Lào Cai và di cư sang Lào.

- Nhìa Câu Và con của Xìa Đinh Và, sinh ở Chôm Chít, Chôm Chăn, Luang frabang.

- Sê Sua Và 60 tuổi, con thứ ba của Nhìa Câu Và sinh ở Bản Xả, huyện Pắc Xoòng. Như vậy dòng họ Và của ông Sê Sua từ Trung Quốc qua Việt Nam vào Lào đã 4 đời khoảng 100 năm. Theo tài liệu điều tra của tỉnh Xiêng Khoảng thì người Mông ở đây cũng có nguồn gốc từ Trung Quốc qua Việt Nam rồi vào Lào.

Cụ Chư Và, 78 tuổi ở làng Xẳn Đôn, Noọng Hét nghe cháu của người tù trưởng đầu tiên đến Noọng Hét kể lại: Khoảng 100 năm trước ở nam Trung Quốc có giặc, người Mông phải chạy lên rừng. Sau đó họ di chuyển dần xuống các sườn núi phía nam. Đầu tiên họ tới Việt Nam vào vùng Mường Thanh (Điện Biên Phủ), Mường Lay (Lai Châu) rồi đi dần xuống các triền núi phía nam như Phu Luông, Phu Nốc, Con Ké (bắc Hủa Phăn) họ ở đó khoảng 30 năm thì chuyển xuống Chẹng Lung, Chẹng Ly (Sầm Tớ). Tới đây họ gặp một người Hoa kiều đi buôn tên là Tông Ma, người đó rủ những người Mông về Noọng Hét làm ăn. Nhóm Mông đến Noọng Hét làm ăn khoảng 20 gia đình thuộc dòng họ Giàng, họ đi theo đường Bản Hồng bắc Bản Ban rồi xuống Khăng Pha Niên. Sau một vụ trồng ngô, trồng thuốc phiện, được mùa Chu xa, họ trở lại Chẹng Lung, Chẹng Ly đưa thêm 80 gia đình nữa thuộc các dòng họ Lầu, Lý, Vàng, Mùa... đến ở Khăng Pha Niên, về sau các họ phân tán đi làm ăn khắp các vùng Noọng Hét (Như vậy dòng họ đến vùng Noọng Hét đầu tiên là dòng họ Giàng).

Nguyên nhân và thời gian tạo nên các đợt di cư của người Mông từ Trung Quốc sang Việt Nam vào Lào, theo một số nhà nghiên cứu thì có 3 thời kỳ:

1. Vào khoảng thế kỷ thứ XVII - XVIII có phong trào đấu tranh của người Mông ở Quý Châu (Trung Quốc) chống chính sách có tên là: “Cải thổ quy lưu” (tức là chính sách bãi bỏ chế độ tù tộc trưởng trong người Mông) của phong kiến Trung Quốc. Phong trào đó bị đàn áp khốc liệt, nên người Mông phải di cư sang đất mới làm ăn sinh sống.

2. Thời kỳ thứ hai người Mông phải di cư vì bị đàn áp sau cuộc khởi nghĩa của người Mông chống vua Càn Long và vua Gia Khánh nhà Thanh từ 1796 đến 1820.

3. Thời kỳ thứ ba là thời kỳ người Mông hưởng ứng phong trào khởi nghĩa: “Thái bình thiên quốc” chống vua quan nhà Thanh từ 1840 đến 1860. Phong trào thất bại người Mông phải di cư sang Việt Nam và Lào.

Lịch sử và truyền thống đấu tranh của người Mông ở Lào:

Lịch sử tồn tại và phát triển của người Mông là lịch sử đấu tranh không khuất phục đối với mọi thế lực áp bức bóc lột. Ngay lịch sử di cư của họ cũng thể hiện sự đấu tranh nhằm bảo tồn bộ tộc mình. (Sau các thời kỳ đấu tranh chống phong kiến Trung Quốc, họ đều có những cuộc di chuyển về phía nam đến Việt Nam và Lào).

Vào Lào, người Mông đã có những cuộc đấu tranh vẻ vang tiêu biểu, nhất là phong trào khởi nghĩa của Chậu Phạ Pa Chay và phong trào kháng chiến chống Pháp của ông.

Phong trào khởi nghĩa do Pa Chay lãnh đạo (1910-1922).

Đây là cuộc khởi nghĩa tiêu biểu nhất trong phong trào đấu tranh của người Mông trước năm 1945 và là một trong những cuộc khởi nghĩa có vị trí quan trọng trong lịch sử đấu tranh chống thực dân Pháp nô dịch và thống trị của nhân dân các bộ tộc Lào.

Người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa là ông Sênh Chung Pa Chay (Sênh Chung có nghĩa là vua). Tên thật của ông là Chừ Pa Vừ, quê ông ở Pa Khưng, Mường Thanh (Điện Biên Phủ, Việt Nam).

Khẩu hiệu của cuộc khởi nghĩa là “Chống thuế, chống đi phu, giành quyền tự chủ cho người Mông”. Khẩu hiệu đó phản ánh được nguyện vọng của nhân dân Mông lúc bấy giờ, nên đã thu hút đông đảo nhân dân Mông ở nhiều vùng tham gia cuộc khởi nghĩa.

Phạm vi phong trào khởi nghĩa và đấu tranh vũ trang của cuộc khởi nghĩa Pa Chay rất rộng lớn. Lần đầu tiên là cuộc đấu tranh chống sưu thuế của người Mông và nhân dân các dân tộc ở Mường Thanh (Điện Biên Phủ, Việt Nam). Về sau chuyển sang Lào, lấy căn cứ ở vùng Chom Chít, Chom Chăn (khu vực Phôn Thoong, Mường Ngòi, tỉnh Luang frabang). Phong trào lan rộng ra khắp các vùng đồng bào Mông ở Phôn Thoong, Mường Ngòi, Xiêng Ngơn, Pắc Xoàng (Luang frabang), Sốp Bào (Phong Sa Lỳ), Nhọt In, Huội Mươi (Kưa Phăn) và khắp tất cả vùng có đồng bào Mông ở Xiêng Khoảng, nhất là vùng Noọng Hét (ở Việt Nam phong trào này củng lan rộng khắp các tỉnh Lai Châu, Sơn La, Nghĩa Lộ, Lào Cai, thành một mặt trận liên minh chống Pháp mạnh mẽ trong một khu vực rộng lớn ở cả hai nước Việt Nam và Lào, gây cho Pháp nhiều thiệt hại, buộc chúng phải đối phó rất khó khăn và lúng túng).

Cuộc khởi nghĩa kéo dài 4 năm. Cuối cùng bị thất bại sau khi Tào Xư Đà, một người chỉ huy xuất sắc của nghĩa quân tử trận và Pa Chay bị bắt, bị giết thì phong trào tan rã. Hàng trăm người bị bắt và bị giết. Ở Xiêng Khoảng cũng còn những cuộc khởi nghĩa lẻ tẻ khác; năm 1905 nhân dân đã giết 9 tên đi thu thuế ở Mường Khăm và Khăng Pha Niên, sau đó còn tấn công vào trụ sở huyện Mường Khăm, cuối cùng các cuộc khởi nghĩa nhỏ này cũng thất bại.

Một số vấn đề về phong tục tập quán của người Mông (Lào Sủng):

- Người Mông ở cao từ 1.000m trở lên. Và không ở đông, mà ở từng nhóm nhỏ dăm bẩy nếp nhà. Trên nương rẫy họ trồng một loại lúa gọi là “M lề tề” gieo thẳng, không cấy, còn trên ruộng lúa nước họ trồng, kỹ thuật không kém người dưới xuôi. Thường ăn ngô độn. Năng suất lúa kém vì không bón phân. Còn trồng cải bắp, cà chua, bí đỏ, hành tỏi và cây thuốc phiện.

Người Mông rất giỏi chăn nuôi gia súc. Lợn, ngựa của họ đều giống tốt. Những con lợn người Mông nuôi thường nặng vài trăm cân. Bầy gà sống thiến của người Mông không nơi nào so sánh được. Họ rất yêu quý gia súc, có năng khiếu bẩm sinh thuần hoá thú hoang, gia súc và chăm nom gia súc rất chu đáo. Người Mông chia ra ba ngành lớn, người Mông trắng, người Mông đen, và người Mông hoa. Sự phân biệt này không do tiếng nói hay tập quán phong tục, mà do cách ăn mặc của phụ nữ. Nam thì quần và áo nhuộm chàm, trên đầu chít khăn chàm.
Ngày phiên chợ đàn bà và con gái Mông mặc rất đẹp, là các cô gái kín đáo đều muốn khoe tài dệt vá may của họ với các chàng trai. Trang phục cổ truyền của nữ là một váy ngắn đến gối có gấp nhiều nếp. Phủ bên ngoài váy ở đằng trước là một miếng vải thêu đẹp, rộng như tạp dề. Một chiếc áo dài, để hở ngực rất rộng và sau lưng đính một miếng vải vuông như áo của thuỷ thủ. Trên đầu vấn khăn, chân cuốn xà cạp. Váy đàn bà Mông hoa thêu các hình trang trí bằng chỉ mầu. Váy đàn bà người Mông đen nhuộm xanh tham, và họ đeo nhiều trang sức như vòng cổ, vòng tay, nhẫn, hoa tai.

Người Mông rất quý khách. Khách đã đến nhà dẫu quen hay lạ họ đều đối đãi rất tử tế. Họ rất trọng chữ tín. Khi đã hứa với ai cái gì, dẫu gặp khó khăn đến mấy cũng làm bằng được, vốn là những người có nếp sống từ ngàn đời giữa cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ, rộng lớn nên họ rất yêu tự do, và kiên quyết đấu tranh cho tự do, chiến đấu bảo vệ cuộc sống tự do...”.


San gập tệp tài liệu lại, hai bàn tay lồng các ngón vào nhau để nguyên trên bàn, trước mặt. Giây lát anh lại giở ra từng trang và hai mắt lần lượt lại đóng đứng vào những hàng chữ mà trong anh có nhu cầu xem xét thêm.

Vân vào, với quyển sổ công tác trên tay, hỏi và ngồi xuống bên kia bàn:

- Cậu đọc xong rồi? Tài liệu rất hay có phải không?

- Xem xét bất cứ vấn đề gì, mà lại thiếu hụt những hiểu biết cơ bản về xuất xứ, về lịch sử, thì nguy thật đấy. Nhất là vấn đề dân tộc, cậu ạ. - San rời mắt khỏi trang tài liệu nhìn Vân, nói tiếp chậm rãi: - Xiêng Khoảng - Cánh Đồng Chum bây giờ là “đất phỉ, dân phỉ”... Không phải thế, điều này cần trao đổi kỹ để Bạn cùng có với mình một quan niệm thế này: Không có nhân dân xấu, chỉ có kẻ thù mới là kẻ xấu mà thôi.

Vân gật đầu, nói tiếp vào điều San vừa nói:

- Đúng vậy... Chỉ có nhân dân đã được giác ngộ, và nhân dân chưa được giác ngộ... Và, một khi nhân dân ở đây chưa được giác ngộ thì đó là lỗi của chúng ta, của cán bộ Đảng... những cán bộ của Đảng Lao động Việt Nam và những cán bộ của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào... Chúng ta, Bạn và ta phải chịu trách nhiệm chứ, còn ai vào đây nữa.

- Vân ạ, anh sẽ giúp Bạn nhận thức sâu sắc vấn để cốt tử này. - San nói.

Vân tiếp mềm mại:

- Quên rồi, cả hai, cả hai chứ.

Họ cùng cười.

Giàng Chẩn Mìn và mấy anh lính đồn Nậm Ca hiện ra ngoài hàng hiên cửa gian phòng San và Vân ở. Giàng Chẩn Mìn chào lối quân sự, nói lưu loát:

- Em tạm biệt hai thủ trưởng. Chúng em về Nậm Ca đây.

San vội đi ra, đứng trên hiên nói với Mìn và các chiến sĩ:

- Mình bàn với các cậu thế này, chỉ ngày mai là cũng sẽ có ô tô về Nặm Ca đón đoàn anh Hoán, các cậu ở lại đi cùng luôn cho đỡ vất vả.

Giàng Chẩn Mìn:

- Báo cáo không được. Dạo này tình hình căng, bọn em phải quản lý con đường Mả Ngựa đó kỹ càng hơn nữa và vùng ngoại vi đó, nó là khu vực kiểm soát của đồn Nậm Ca mà, với lại Bạn với ta cũng cùng ý kiến như vậy, nên bọn em phải về bộ, để còn gặp đội tuần từ đồn sang, thông báo đoạn đã đi, em cũng...

- Mình hiểu rồi. Chặt chẽ như vậy tốt lắm. Các nhu yếu phẩm gạo, đạn có đủ đây chứ? - San hỏi Giàng Chẩn Mìn, bắt tay từng người.

Giàng Chẩn Mìn nói nhỏ với San:

- Đoàn trưởng ra đây cho em trao đổi cái này.

Hai người tách ra cách tốp lính chừng mươi bước. Còn Vân cũng ra tiễn thì đứng lại trò chuyện với họ.

- Thưa Đoàn trưởng, em có nguyện vọng chuyển về làm lính của Đoàn trưởng.

- Mình nhận ngay. Mình và anh Vân cũng đã nghĩ đến trường hợp của cậu trong mấy ngày nay. Để có gì mình sẽ xin với trên về Mìn nhé. Mình sẽ khẩn trương làm việc này...

- Em cũng đề đạt lên ngành dọc của em qua đồn trưởng Phạm Tuấn. Vậy thì em mừng lắm. Sang đây em có điều kiện được cống hiến nhiều hơn nữa đấy... Rồi Đoàn trưởng sẽ thấy em có ích cho hai thủ trưởng như thế nào...

San nhẹ nhàng:

- Có ích cho cách mạng của Bạn chứ...

Cả hai cùng cười. San quàng ôm lấy Giàng Chẩn Mìn, nói nhỏ:

- Gửi lời thăm đến đồn trưởng Phạm Tuấn nhé. Chúc các em mọi thắng lợi trên đường tuần tra.



-----------------------------------------------------------------
1. Khái: Khăm Mằn dùng từ gọi con hổ của người xứ Nghệ.
2. Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn - Trường đoàn Chuyên gia quân sự của ta tại Quân khu Xiêng Khoảng - Cánh Đồng Chum cung cấp.
3. Đây là hai con sông của miền đất Sirya.


Logged
Trang: 1   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM