Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 03:47:30 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Những trận đánh vĩ đại trong lịch sử Quân sự Việt Nam  (Đọc 100678 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Lancer
Thành viên

Bài viết: 2



« Trả lời #30 vào lúc: 15 Tháng Năm, 2008, 05:41:01 pm »

Một số biên khảo của nhà nghiên cứu Nguyễn Duy Chính về chiến thắng quân Thanh năm Kỉ Dậu

Quân Thanh tiến vào Thăng Long: http://vietkiem.stackmedia.com/old/vietkiem/nc/ndc/VuaQuangTrungRaBac.pdf

Vua Quang Trung ra Bắc: http://vietkiem.stackmedia.com/old/vietkiem/nc/ndc/QuanThanhTienVaoThangLong.pdf

Bình Định An Nam Chiến Đồ: http://vietkiem.stackmedia.com/old/vietkiem/nc/ndc/AnNamChienDo.pdf

Vai trò của hải phỉ trong chiến thắng Kỷ Dậu: http://vietkiem.stackmedia.com/old/vietkiem/nc/ndc/VaiTroCuaHaiPhi.pdf

Logged
yeulichsu1982
Thành viên
*
Bài viết: 27


« Trả lời #31 vào lúc: 16 Tháng Năm, 2008, 03:05:20 pm »

Trong các cuộc chiến tranh vệ quốc của dân tộc Việt Nam, cuộc chiến chống hơn 20 vạn quân Thanh xâm lược vào mùa xuân năm Kỷ Dậu (1789) là một điểm son chói lọi trong lịch sử chống ngoại xâm của quân và dân nước ta. Yếu tố quan trọng để lập nên chiến công lẫy lừng ấy là nhờ thiên tài quân sự của Hoàng đế Quang Trung Nguyễn Huệ và nước cờ lui quân trấn giữ Tam Điệp trong những ngày đầu của cuộc chiến. Tác giả nước cờ chiến lược này là tiến sĩ Ngô Thì Nhậm, Tả Thị Lang bộ Lại của nhà Tây Sơn.
Cuối năm Mậu Thân (1788), vua Lê Chiêu Thống cầu viện, hơn 20 vạn quân Thanh do Tôn Sĩ Nghị, thống đốc Lưỡng Quảng, cầm đầu kéo sang nước ta với chiêu bài diệt Tây Sơn, dựng lại nhà Lê. Tôn Sĩ Nghị chia quân làm ba đạo. Một đạo do tổng binh tỉnh Vân Nam và Quý Châu kéo sang mạn Tuyên Quang. Một đạo do Sầm Nghi Đống kéo sang mạn Cao Bằng. Một đạo do Tôn Sĩ Nghị cùng Đề đốc Hứa Thế Hanh kéo sang mạn Lạng Sơn. Ba đạo quân của Tôn Sĩ Nghị xuất phát ngày 28 tháng mười năm Mậu Thân (25-11-1788), tiến vào nước ta thế mạnh như nước vỡ bờ!

Trấn thủ Lạng Sơn là Phạm Khải Đức khiếp sợ kéo cờ hàng. Phó tướng là Nguyễn Văn Diễn chạy về Kinh Bắc cùng Nguyễn Văn Hòa cố thủ, rồi sai người về Thăng Long cấp báo. Được tin, Ngô Văn Sở dùng kế hoãn binh, sai Nguyễn Quý Nha, Trần Bá Lãm mang ba tờ bẩm văn ký tên Sùng Nhượng Công và bá quan văn võ, đến quân thự Tôn Sĩ Nghị cầu hòa. Nghị bác khước!

Ngô Văn Sở bèn nhóm các quan văn võ lại, bàn biện pháp đối phó. Nhiều người đề nghị dùng phục binh đánh địch. Ngô Thì Nhậm nói:

- Quân địch mới tới, sức còn mạnh, khí đương hăng, lại khoa trương thanh thế làm kinh động nhân tâm. Nếu ta đem quân ra khỏi thành sẽ bị chúng sát hại. Cựu binh sĩ của Bắc Hà, nhuệ khí vốn đã nhụt, thừa cơ trốn hết. Chừng ấy ta mới đánh thì không hơn, mà muốn giữ cũng không được. Chi bằng rút hết quân thủy bộ vào đóng giữ từ Tam Điệp ra đến biển, để bảo toàn lực lượng, rồi cấp báo về Phú Xuân. Lúc ấy ta sẽ quyết chiến cũng không muộn.

Cuối cùng, mọi người đều thống nhất ý kiến của Ngô Thì Nhậm, rồi thừa đêm tối đem quân ra đi. Từ Thăng Long, Ngô Văn Sở theo đường bộ lui quân về giữ núi Tam Điệp (Ninh Bình). Quân thủy chở lương thực theo đường biển rút về đóng ở Biện Sơn (Thanh Hóa).

Đây chính là "cổ họng" của bắc-nam. Vì thế đèo Tam Điệp là một phòng tuyến, phòng ngự lợi hại, mang vị trí chiến lược trong quân sự như bức tường thành thiên nhiên án ngữ con đường thiên lý ra bắc vào nam của đất nước. Án ngữ đèo Tam Điệp thì địch khó có thể tiến đánh quân Tây Sơn ở kinh đô Phú Xuân.

Thế là trong giai đoạn đầu, quân Thanh mặc dù chiếm được Thăng Long, nhưng chúng không hoàn thành được kế hoạch chiến lược, tức là không tiêu diệt được quân Tây Sơn và không chiếm được tuyến địa hình có lợi cho sự phát triển của chiến tranh. Còn quân Tây Sơn tuy tạm thời rời bỏ kinh thành, vẫn bảo tồn được lực lượng, chiếm được tuyến địa hình quan trọng, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc phản công chiến lược sau này. Chính vì vậy, khi tới Tam Điệp, vua Quang Trung đã đánh giá cao kế hoạch rút quân của Ngô Thì Nhậm.

Ngày 20 tháng chạp năm Kỷ Dậu (15-1-1789), đại binh Tây Sơn tới Tam Điệp. Ngô Văn Sở, Ngô Thì Nhậm, Phan Văn Lân ra chịu tội. Vua Quang Trung cười nói:

- Ta biết đây là kế của Ngô Thị Lang. Lui quân để tránh thế giặc, trong khuyến khích sĩ khí, ngoài kích động lòng kiêu ngạo của giặc. Kế dụå địch vào chỗ hiểm yếu như thế là phải. Các khanh không có tội chi cả!

Tại Tam Điệp, vua Quang Trung cho chỉnh đốn quân sĩ 10 ngày. Đến ngày 30 tháng chạp (25-1-1789), nhà vua cho mở tiệc khao quân ăn Tết trước và tuyên bố trước ba quân:

- Nay ta ăn Tết Nguyên đán trước, đợi sang xuân ngày mùng 7, vào Thăng Long, sẽ mở tiệc ăn Tết Khai hạ.

Sự việc diễn ra như vua Quang Trung đã nói. Chỉ trong 5 ngày, ngày mùng 5 Tết Kỷ Dậu (1789) quân Tây Sơn chiến thắng anh dũng ở Ngọc Hồi-Đống Đa (Thăng Long), đập tan hơn 20 vạn quân Thanh xâm lược.

Nước cờ Tam Điệp của Ngô Thì Nhậm đã góp phần vào chiến thắng lẫy lừng đó. Vì vậy năm 1790, vua Quang Trung đã giao cho Ngô Thì Nhậm giữ chức Binh Bộ Thượng Thư
Nguồn- Báo Quân đội nhân dân
Logged
yeulichsu1982
Thành viên
*
Bài viết: 27


« Trả lời #32 vào lúc: 16 Tháng Năm, 2008, 03:08:55 pm »

Lê Lai là một danh tướng trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi chủ xướng. Quê ông là xã Dựng Tú, huyện Thuỵ Nguyên, tỉnh Thanh Hóa (nay là huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa). Có tài liệu nói ông là người làng Dựng Tú (huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa). Ba người con của ông là Lê Lô, Lê Lộ, Lê Tâm và người anh cả Lê Lãn đều là tướng soái quan trọng của nghĩa quân Lam Sơn. Ông được xếp vào hạng thứ 3 trong số 18 công thần dự hội thề Lũng Nhai.

Năm 1416, tại Lũng Nhai (Lam Sơn) Lê Lai cùng Lê Lợi và 17 tướng lĩnh tâm phúc thề cùng nhau sống chết chống lại giặc Minh xâm lược đang ngày đêm giày xéo quê hương, đất nước. Sau hội thề Lũng Nhai, ông được trao chức Đô Tổng quan (tước quan Nội hầu) chiến đấu dưới cờ của Lê Lợi. Nghĩa quân xây dựng miền rừng núi Lam Sơn, Thanh Hóa thành căn cứ để tiến hành cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Do tương quan lực lượng nên cuộc chiến trong giai đoạn đầu chủ yếu là du kích, nhằm chống lại các cuộc vây quét của địch. Quân Minh dựa vào ưu thế binh lực, huy động những lực lượng lớn - có khi hàng chục vạn quân, để bao vây, càn quét hòng tiêu diệt cuộc khởi nghĩa vừa nhen nhóm. Trong thế trận không cân sức buổi đầu, nghĩa quân Lam Sơn đã phải chịu đựng muôn vàn khó khăn, gian khổ hy sinh; vượt qua nhiều thử thách hiểm nghèo. Đã bao lần nghĩa quân bị vây hãm ở núi Chí Linh (Thanh Hóa) và Khôi Huyện (Ninh Bình) rơi vào cảnh quân hao, lương cạn...

... Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần

Khi Khôi Huyện quân không một đội.

(Nguyễn Trãi - Đại cáo bình ngô)

Hoặc: … Đến như phá vòng khốn quẫn, tạo cuộc hanh thông. Chín phần tử, một phần sinh, tuy ở chốn hiểm nghèo mà còn ngất trời khí thế…”.

(Nguyễn Mọng Tuân-Phú núi Chí Linh)

Vào khoảng tháng 3 năm 1419, nghĩa quân Lam Sơn bị quân địch bao vây lần thứ hai ở núi Chí Linh. Vòng vây quân Minh ngày càng khép chặt, lương thực của nghĩa quân đã hết sạch “Hơn 10 ngày chỉ ăn củ nâu và mật ong, người, ngựa đều khốn đốn…” (Đại nam thông sử, Đế kỷ). Mọi con đường liên lạc với bên ngoài bị cắt đứt. Lực lượng cũng ngày một hao mòn.

Trong thế bị vây hãm khốn đốn nghĩa quân có nguy cơ bị tiêu diệt, Lê Lợi họp Bộ tham mưu bàn kế giải nguy. Ông nói rằng: “Bây giờ ai có thể làm như Kỷ Tín ngày xưa để ta ẩn náu trong rừng núi, mưu tính cử sự về sau” (Việt sử thông giám cương mục, quyển 13, tr.Cool.

Thấu hiểu ý đồ chiến lược của Lê Lợi, Lê Lai đã khảng khái xin nguyện hy sinh để cứu minh chủ, giải vây cho nghĩa quân Lam Sơn. Liền sau đó, Lê Lai cải trang làm Lê Lợi, lĩnh 500 quân và hai con voi chiến, tự xưng là Chúa Lam Sơn kéo ra tập kích địch. Quân Minh tập trung lực lượng vây đánh đội nghĩa binh dũng cảm đó và bắt được Lê Lai.

Điều đáng khâm phục, ngợi ca hơn là Lê Lai không cam chịu bó tay hàng giặc mà ông đã chỉ huy đội cảm tử quân chiến đấu đến phút cuối cùng mới chịu rơi vào tay giặc. Ông bị giải về thành Đông Quan và bị xử bằng những hình phạt vô cùng tàn ác.

Tưởng rằng thủ lĩnh Lê Lợi đã bị bắt, bị giết và lực lượng khởi nghĩa đã hoàn toàn bị đánh bại, quân Minh bỏ núi Chí Linh kéo về Tây Đô (thành nhà Hồ, Vĩnh Lộc, Thanh Hóa). Lê Lợi và nghĩa quân Lam Sơn nhờ đó có cơ hội xây dựng lại lực lượng để tiếp tục hoạt động.

Trước tinh thần nghĩa liệt quên mình cứu chúa của Lê Lai, Lê Lợi đã cảm khái cầu khấn với trời đất rằng: “Lê Lai vì đại nghĩa mà xả thân, tôi thề ngày sau chẳng quên ơn ấy, nếu nuốt lời thề thì cung điện thành rừng núi. Ấn báu thành đồng, gươm thần thành đao”.

Nhớ công ơn Lê Lai, sau khi kháng chiến thành công, lên ngôi vua, Lê Lợi đã truy tặng ông là “Đệ nhất công thần”, và giao cho Nguyễn Trãi soạn thảo hai đạo: “Tiên ước thệ từ”, “Lai Công thệ từ” cất giấu trong tủ vàng để mãi mãi ghi nhớ công lao Lê Lai.

Cái chết của Lê Lai là một trong những cái chết trở thành bất tử. Cái chết đó đã mở con đường sống cho nghĩa quân Lam Sơn để làm nên những trang sử chống ngoại xâm hào hùng của dân tộc.

Nguồn- Báo Quân đội nhân dân
Logged
yeulichsu1982
Thành viên
*
Bài viết: 27


« Trả lời #33 vào lúc: 16 Tháng Năm, 2008, 03:13:33 pm »

Cuối năm 1406, khi triều đình nhà Minh nhận được cấp báo của Vương Thông xin viện binh thì ở Đại Việt, địch đã chỉ còn giữ được một số thành Đông Quan (Hà Nội), Điêu Diêu (thị trấn Gia Lâm), Xương Giang (thị xã Bắc Giang), Chí Linh (Phả Lại), Cổ Lộng (Ý Yên-Nam Định), Thị Cầu (Bắc Ninh), Tây Đô (Thanh Hóa). Số quân trong các thành đó vẫn còn khá đông, đông nhất là thành Đông Quan, 5 vạn, nhưng đều đã bị bao vây, không dám ra phản kích và hết sức lo lắng, bị động. Sở chỉ huy của Lê Lợi – Nguyễn Trãi đã tiến ra Bồ Đề (Gia Lâm). Lực lượng nghĩa quân đông, khí thế mạnh mẽ, hăng hái, sẵn sàng bước vào cuộc tổng tiến công.

Có được hình thái chiến lược này là do Bộ chỉ huy nghĩa quân đã sớm phát hiện ra tình thế mới của cuộc chiến tranh và triển khai ứng xử thích hợp với tình thế ấy. Từ hiện tượng địch phá vây ở thành Nghệ An, cố đưa một bộ phận vượt biển ra tăng cường cho Đông Quan, lãnh đạo nghĩa quân có ngay nhận định: sức mạnh và tinh thần của binh sĩ và bọn chỉ huy chóp bu ở Đông Quan đã lung lay đến mức ta có thể đánh đòn cuối cùng, kết thúc chiến tranh và lập tức quyết định chuyển trọng tâm của cuộc kháng chiến từ Thanh – Nghệ ra Bắc, tạo, nắm thời cơ chuẩn bị đột phá tiêu diệt Đông Quan.

Đầu năm 1427, khi hai đạo viện binh quân Minh với tổng số 15 vạn quân đã áp sát biên giới đối diện với Lạng Sơn, Lào Cai, thì Bộ chỉ huy nghĩa quân Lam Sơn đứng trước ba câu hỏi lớn: Một là, diệt quân địch ở Đông Quan trước, hay diệt quân viện trước? Hai là, cùng lúc diệt quân viện ở cả hai hướng, hay chỉ tập trung diệt một hướng; nếu diệt một hướng thì chọn hướng nào? Ba là, cách triển khai kế hoạch đánh địch ra sao?

Để trả lời đúng được ba câu hỏi trên trong thực tế, Bộ chỉ huy nghĩa quân đã căn cứ vào tương quan so sánh lực lượng; tương quan so sánh sức mạnh chiến đấu; căn cứ vào mức độ nguy hiểm của từng đối tượng và yêu cầu chiến thuật. Cụ thể: Địch ở Đông Quan còn đông tới 5 vạn, có một bộ phận lực lượng tinh nhuệ, lại được sự bảo vệ của thành cao, hào sâu, trong khi ta ít kinh nghiệm, ít vũ khí, phương tiện để công thành. Nếu đột phá, chắc chắn phải tổn thất lớn và kéo dài, gặp tình huống gay cấn, đột phá chưa xong mà viện binh đã ập tới thì nguy hiểm vô cùng. Nhưng vây Đông Quan, triệt tiếp tế, bức hàng, đồng thời mai phục, lợi dụng địa hình, phát huy sở trường đánh địch ngoài công sự: phục kích, tập kích quân viện thì nghĩa quân có thể đánh thắng mà ít bị tổn thất, thương vong. Mặt khác, giữa hai đối tượng quân viện thì đạo quân của Liễu Thăng nguy hiểm hơn đạo quân của Mộc Thạnh, vì đạo quân này đông và mạnh hơn (10 vạn so với 5 vạn), phải vượt chặng đường ngắn hơn (160 so với 320 cây số), Liễu Thăng hung hăng hơn, không chỉ là tổng chỉ huy quân viện mà còn là tướng chỉ huy trực tiếp hướng chủ yếu, đang muốn khẳng định vị trí, vai trò. Còn Mộc Thạnh đã 2 lần thua trận ở Đại Việt, nỗi sợ chưa thể quên. Nhưng đoạn đường Lạng Sơn-Đông Quan có nhiều khúc quanh và đèo dốc hiểm trở, đặc biệt là ải Chi Lăng vẫn được truyền gọi là “Bách nhị cửa quan” (cửa quan hai người trấn giữ có thể ngăn cản được một trăm người tiến công). Liễu Thăng lại quá tự tin, chủ quan, hiếu thắng, dễ sơ suất, sai lầm. Cho nên ta hoàn toàn đủ sức tiêu diệt đạo quân này. Hơn nữa, nếu ta tiêu diệt được đạo quân Liễu Thăng thì chẳng những có ý nghĩa quyết định đến trận Chi Lăng – Xương Giang mà còn có ý nghĩa quyết định đến việc đánh đuổi đạo quân của Mộc Thạnh và hơn nữa đến công cuộc giải phóng hoàn toàn đất nước. Về yêu cầu chiến thuật, muốn rảnh tay tập trung đánh quân viện thì nhất thiết phải tiêu diệt hết và tiêu diệt trước các lực lượng địch trên đường mà quân viện sẽ đi qua, phải thường xuyên đánh cắt giao thông, làm gián đoạn tiếp tế để làm rối loạn phía sau, khó khăn phía trước. Theo chủ trương ấy, khi địch đã tới cánh đồng Xương Giang mà Pha Luỹ, Chi Lăng, Bàng Quan, huyết mạch vận chuyển của chúng vẫn thường xuyên bị quân ta tập kích, thành Xương Giang bị hạ vào cuối tháng 9, rồi biến thành trận địa chốt chặn rất quan trọng của ta. Để hạ được thành này, Lê Lợi đã phải phái tướng giỏi nhất của mình là Trần Nguyên Hãn trực tiếp chỉ huy, với tinh binh, mọi vũ khí, phương tiện và phương pháp chiến đấu tiên tiến nhất mà nghĩa quân có thể có.
 

Từ trận thành Xương Giang, ta lại thấy sự linh hoạt, uyển chuyển của Lê Lợi - Nguyễn Trãi khi vận dụng nghệ thuật quân sự. Theo các ông “Đánh thành là hạ sách”, nhưng nếu ta không đánh và hạ thành Xương Giang trước, đẩy Thôi Tụ, Hoàng Phúc vào hoàn cảnh mất chỗ trú quân an toàn, phải lâm thời phòng ngự giữa cánh đồng, công sự dã chiến thì cũng không có trận tập kích đại quân địch thắng lợi trên cánh đồng Xương Giang (diệt 5 vạn, bắt 3 vạn, bắt cả chủ tướng), không triệt tiêu được gọng kìm nguy hiểm thứ hai của 5 vạn quân Mộc Thạnh và cũng không có chuyện Tổng chỉ huy Vương Thông cùng 5 vạn quân phải đầu hàng, đưa tới kết thúc mỹ mãn cuộc kháng chiến mười năm chống quân Minh xâm lược. Tìm hiểu những nguyên nhân dẫn tới sự đầu hàng của Vương Thông, ta thấy ngoài những chiến thắng quân sự giòn giã, còn có sự đóng góp quan trọng của đòn tiến công địch vận, kết hợp giữa đòn tiến công của nghĩa quân, với đòn nổi dậy phối hợp khắp nơi của dân chúng, khiến quân địch khiếp sợ, lực lượng bị căng, kéo, phân tán, tiêu hao đến đuối sức, phải cố thủ trong thành rồi bị vây hãm, chờ chết; trong khi chủ lực ta có điều kiện tập trung, đánh những trận quyết định, giành thắng lợi quyết định.

Đến tháng 10, 11 năm nay, trận Chi Lăng – Xương Giang đã đi vào lịch sử gần 580 năm, nhưng chiến công hiển hách, quyết định số phận của giặc Minh xâm lược, giành lại độc lập, tự do cho đất nước, cùng những cống hiến xuất sắc về nghệ thuật quân sự của nghĩa quân Lam Sơn, mãi mãi vẫn là niềm tự hào to lớn cho chúng ta, mãi mãi vẫn là những kinh nghiệm, bài học có giá trị, giúp chúng ta có cơ sở để nghiên cứu, phát triển, vận dụng sáng tạo, hiệu quả vào công cuộc bảo vệ Tổ quốc tương lai.

Nguồn- Báo Quân đội nhân dân
Logged
vodoi
Thành viên

Bài viết: 1


« Trả lời #34 vào lúc: 13 Tháng Bảy, 2008, 12:19:42 pm »

Trận đánh vĩ đại phải có tầm quan trọng thể hiện tài thao lược của tướng lĩnh chứ không nhất thiết phải quân đông
« Sửa lần cuối: 13 Tháng Bảy, 2008, 07:59:57 pm gửi bởi caytrevietnam » Logged
caytrevietnam
Trung tá
*
Bài viết: 471


Trồng sen trong biển lửa


« Trả lời #35 vào lúc: 13 Tháng Bảy, 2008, 08:10:01 pm »

Trận đánh vĩ đại phải có tầm quan trọng thể hiện tài thao lược của tướng lĩnh chứ không nhất thiết phải quân đông

Theo ý kiến cá nhân tôi thì tài thao lược của tướng lĩnh chỉ là 1 phần, cái quan trọng nhất là kết quả của trận đánh đó có ảnh hưởng đến toàn cuộc.

@ voidoi: Bác là thành viên mới nên nhà em "nhân nhượng" không xóa bài mà còn chỉnh lại cho bác. Nhưng lần sau bác viết bài không dấu là em "del" đấy. Mời bác vào đây dow về mà dùng http://www.unikey.org/index.php?langset=vie
Logged

SỐNG VỮNG CHÃI 4000 NĂM SỪNG SỮNG
LƯNG ĐEO GƯƠM TAY MỀM MẠI BÚT HOA
mig21-58
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 576

binh nhì


« Trả lời #36 vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2008, 09:38:26 am »

Thực ra cả hai yếu tố trên đều quan trọng cả.Tướng giỏi,đòn đánh trúng huyệt làm cho địch choáng váng mất hết tinh thần, quân số không cần nhiều nhưng phải đủ. Có thể nói nó quan hệ hữu cơ với nhau./.
« Sửa lần cuối: 17 Tháng Bảy, 2008, 06:10:16 pm gửi bởi caytrevietnam » Logged
Bí Bếp
Thành viên
*
Bài viết: 157


Chết vì "xứ mưa"


« Trả lời #37 vào lúc: 21 Tháng Bảy, 2008, 10:28:30 am »

Cuối năm 1406, khi triều đình nhà Minh nhận được cấp báo của Vương Thông xin viện binh thì ở Đại Việt, địch đã chỉ còn giữ được một số thành Đông Quan (Hà Nội), Điêu Diêu (thị trấn Gia Lâm), Xương Giang (thị xã Bắc Giang), Chí Linh (Phả Lại), Cổ Lộng (Ý Yên-Nam Định), Thị Cầu (Bắc Ninh), Tây Đô (Thanh Hóa). Số quân trong các thành đó vẫn còn khá đông, đông nhất là thành Đông Quan, 5 vạn, nhưng đều đã bị bao vây, không dám ra phản kích và hết sức lo lắng, bị động. Sở chỉ huy của Lê Lợi – Nguyễn Trãi đã tiến ra Bồ Đề (Gia Lâm). Lực lượng nghĩa quân đông, khí thế mạnh mẽ, hăng hái, sẵn sàng bước vào cuộc tổng tiến công.


Quân Minh chưa tiến đánh Đại Việt đến năm 1407 thì mần răng có chuyện Vương Thông gửi cấp báo xin viện binh được ...  các bác có gõ nhầm về mốc điểm thời gian chăng?  Roll Eyes
Logged

Thiên đàng nầy mơ ước bao lâu...
Bí Bếp
Thành viên
*
Bài viết: 157


Chết vì "xứ mưa"


« Trả lời #38 vào lúc: 21 Tháng Bảy, 2008, 10:39:09 am »

Trích dẫn
"Từ trận thành Xương Giang, ta lại thấy sự linh hoạt, uyển chuyển của Lê Lợi - Nguyễn Trãi khi vận dụng nghệ thuật quân sự. Theo các ông “Đánh thành là hạ sách”, nhưng nếu ta không đánh và hạ thành Xương Giang trước, đẩy Thôi Tụ, Hoàng Phúc vào hoàn cảnh mất chỗ trú quân an toàn, phải lâm thời phòng ngự giữa cánh đồng, công sự dã chiến thì cũng không có trận tập kích đại quân địch thắng lợi trên cánh đồng Xương Giang (diệt 5 vạn, bắt 3 vạn, bắt cả chủ tướng):

Vừa tiêu diệt vừa bắt cả 80,000 ngàn lính trong một trận ... quả là một trận đánh quá vĩ đại ... đánh sánh cùng trận Xích Bích giữa Đông Ngô và Bắc Ngụy của thời Tam Quốc (cũng cỡ chừng nớ thương vong từ số 230,000 quân của Bắc Ngụy trấn đóng ở đó).

Theo qui cách tấn công bình thường mình cần tỉ lệ 3:1 (ba chọi một); còn đơn phương thì cũng cần 1:1 (một đánh một) thì ít ra trận đánh nầy cả hai bên cần huy động tối thiểu 200,000 lính, quả là một con số quá to lớn để điều hành ở bất kỳ thời đại nào ....; mong các bác suy tính và cho biết tình trạng khả thi cúa trận đánh (quân ta là nghĩa quân so cựa cùng lính chuyên nghiệp của nhà Minh và kết quả là quân Minh bị tiêu diệt gần như 100% ở trận nầy).

Trích dẫn
XƯƠNG GIANG:

địa danh lịch sử trong cuộc "vây thành diệt viện" những năm 1426 - 27 của nghĩa quân Lam Sơn chống giặc Minh (Ming) xâm lược. Thời thuộc Minh, thành XG được xây dựng tại thôn Đông Nham - một thành khá lớn (rộng khoảng 25 ha, tường đất cao và dày, xung quanh có hào sâu, có khoảng trên 2.000 quân tinh nhuệ đồn trú) và giữ vị trí án ngữ (cách bờ Sông Thương 3 km về phía bắc, cách thị xã Bắc Giang 2 km) trên con đường dịch trạm độc đạo từ Quảng Tây sang Đông Quan. Từ cuối 1426, nghĩa quân Lam Sơn đã tổ chức vừa vây vừa dụ hàng. Nhưng quân Minh vẫn ngoan cố, liều chết cố thủ, chờ viện binh. Nắm rõ tình thế, Lê Lợi - Nguyễn Trãi quyết định đánh gấp trước khi viện binh giặc kéo sang. Cánh quân đang vây thành do Lê Sát chỉ huy được tăng cường thêm cánh quân tiếp ứng của thái uý Trần Nguyên Hãn. Được sự giúp đỡ của nhân dân địa phương, từ tháng 8.1427, nghĩa quân bắt đầu trận công kích. Các loại nỏ cứng, hoả pháo, hoả tiễn ngày đêm cấp tập bắn vào thành. Đến đêm 28.9.1427, nghĩa quân bắc thang ào ạt đánh chiếm thành. Tướng giặc tự tử, toàn bộ quân lính bị tiêu diệt.

Thắng lợi trong trận công phá thành XG đã tạo điều kiện thuận lợi cho bộ chỉ huy nghĩa quân tổ chức thành công trận tiêu diệt viện binh tại ải Chi Lăng và trên cánh đồng XG (8.10 - 3.11.1427). Sau Kháng chiến chống Minh 1406 - 07 thắng lợi, thành XG được phá đi lấy đất thưởng cho các thôn, xã xung quanh.

Đây là một nguồn khác từ VN về thành Xương Giang.

Các bác có nghĩ rằng mình đã thổi phồng con số ... hơi quá đáng chăng?  Shocked
« Sửa lần cuối: 21 Tháng Bảy, 2008, 11:20:10 am gửi bởi Bí Bếp » Logged

Thiên đàng nầy mơ ước bao lâu...
Galaxy
Thành viên
*
Bài viết: 196


Hãy sống vì KHÁT VỌNG, để thấy đời mênh mông


« Trả lời #39 vào lúc: 21 Tháng Bảy, 2008, 04:13:48 pm »

Trích dẫn
"Từ trận thành Xương Giang, ta lại thấy sự linh hoạt, uyển chuyển của Lê Lợi - Nguyễn Trãi khi vận dụng nghệ thuật quân sự. Theo các ông “Đánh thành là hạ sách”, nhưng nếu ta không đánh và hạ thành Xương Giang trước, đẩy Thôi Tụ, Hoàng Phúc vào hoàn cảnh mất chỗ trú quân an toàn, phải lâm thời phòng ngự giữa cánh đồng, công sự dã chiến thì cũng không có trận tập kích đại quân địch thắng lợi trên cánh đồng Xương Giang (diệt 5 vạn, bắt 3 vạn, bắt cả chủ tướng):

Theo qui cách tấn công bình thường mình cần tỉ lệ 3:1 (ba chọi một); còn đơn phương thì cũng cần 1:1 (một đánh một)
...
Các bác có nghĩ rằng mình đã thổi phồng con số ... hơi quá đáng chăng?  Shocked

Em thì chắc không đủ trình để tra cứu chéo nhiều tài liệu cổ. Nhưng em nghĩ cũng tuỳ vào hoàn cảnh mà áp dụng cách so sánh như trên, và tỉ lệ này nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố lắm. Ví dụ: "xét trường hợp đánh 1 đội quân không có cứ điểm vững chắc (thành) mà phải đóng quân giữa cánh đồng, trong công sự dã chiến":

+ Giả sử lúc đó còn là giai đoạn quân Minh đang thắng quân Đại Ngu hay Hậu Trần như chẻ tre thì có lẽ tỉ lệ trên phải là 5:1 hoặc hơn

+ Giả sử lúc đó còn thành XG, nghĩa là cánh quân phòng ngự chưa bị mất tinh thần, tin rằng có thể cố gắng cầm cự để tạo thành thế ỷ dốc. Bên tấn công cũng không dám toàn lực tấn công, vừa tấn công vừa lo chống quân trong thành ra đánh tập hậu, ... thì có lẽ tỉ lệ trên là 3:1

+ Nhưng trong thực tế, lúc đó XG mất rồi, viện quân vừa tất tả tiến sang, trơ trọi nơi đất khách quê người, lòng quân hoang mang, ... thì có khi không cần đánh cũng tự động rút lui. Có khi chỉ cần vài đồn tiền tiêu bị vỡ, vài cánh quân tháo chạy là tạo lên hiệu ứng thác đổ, toàn quân hỗn loạn, lúc đó chỉ có chạy và bị tiêu diệt mà thôi.

Em tạm lấy ví dụ như vậy. Tóm lại, ý của em là không nên áp dụng các thông số về tỉ lệ một cách quá máy móc
« Sửa lần cuối: 21 Tháng Bảy, 2008, 04:19:09 pm gửi bởi Galaxy » Logged

Đây Trường Sa
Kia Hoàng Sa
Quần đảo đứng hiên ngang
Thiên hùng ca ngời sáng
Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM