Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 05:40:04 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Những trận đánh vĩ đại trong lịch sử Quân sự Việt Nam  (Đọc 100685 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
caytrevietnam
Trung tá
*
Bài viết: 471


Trồng sen trong biển lửa


« Trả lời #10 vào lúc: 01 Tháng Mười Một, 2007, 03:15:29 pm »

  Nghĩ mà tiếc nhỉ, giá mà thời bọn Nam Tống đang èo ọt, các cụ nhà mình cho người đi liên minh với Liêu, Hạ ở phía bắc; Thổ Phồn, Tây Tạng...ở phía tây và Đại Lý ở phía Nam rồi cùng "tổng tấn công" thì đến giờ đâu cứ phải canh cánh nỗi lo từ phương bắc nữa...kekeke
Logged

SỐNG VỮNG CHÃI 4000 NĂM SỪNG SỮNG
LƯNG ĐEO GƯƠM TAY MỀM MẠI BÚT HOA
seahawk1
Thành viên
*
Bài viết: 33



« Trả lời #11 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2007, 11:04:33 pm »

  Không thấy mọi người nhắc đến trận Bô Cô nhỉ, quân Hậu Trần trận đó đánh ác phết, thằng Mộc Thạch mang quân tăng viện sang bị dính đòn này sợ vãi, theo sách Đại Việt sử ký toàn thư thì trận này bọn Minh bị giết đến 10 vạn, chết mất mấy tướng lĩnh và văn quan cao cấp.
  Mấy bác bảo các cụ nhà mình ko tranh thủ bọn Tống đang thoi thóp mà đánh lên phía bắc là nhầm rồi, Trần Thái Tông có trực tiếp dẫn quân tấn công đấy chứ, ông còn tự xưng là Trai Lang...Có tài liệu nào đó nói phần đất mà Mạc Đăng Dung cắt cho bọn Minh thực ra ko phải của mình, nó vốn là đất Tàu bị các cụ nhà mình xẻo mất

Trận Bô Cô là thời Giản Định Đế nổi dậy kháng Minh. Có công lớn ở trận này là Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân. Chỉ tiếc là chưa kịp bắn hết chim thì Giản Định đã bỏ ná sát hại cả hai người. Kết quả là phải đợi khi Lê Lợi khởi nghĩa nước ta mới thoát vòng thuộc Minh. Có lẽ Việt Nam là nước nhỏ, dân số cũng có hạn nên quy mô các trận đánh cũng vừa phải (nói thêm là Trung Quốc nhiều khi cũng phét lác quá. VD: Thời chiến quốc khéo cả thế giới cộng lại cũng chỉ được chưa đến 100 triệu dân, TQ chắc ko quá 20 triệu lại chia bao nhiêu nước, thế mà Triệu chết được đến 450 ngàn quân ở Trường Bình thì cũng khó tin). Có thể kể ra vài trận đánh đáng nói:
-Cả chiến dịch chống Tống năm 981 của Lê Hoàn. Theo như sách ta thì quân Tống huy động khoảng 100 ngàn quân và thất bại thê thảm. Chủ tướng Hầu Nhân Bảo toi mạng ở Chi Lăng.
-Nam chinh to nhất thì có chiến dịch năm 1471 của Lê Thánh Tông huy động đến 250 ngàn quân như đã nói trước đây. Tiếc là tớ không có nhiều tư liệu.
-Thời hai họ Nguyễn tranh hùng cũng có nhiều trận quy mô lớn, như trận quân Nguyễn Gia Miêu diệt thủy quân Tây sơn ở Thị Nại năm 1800 hay 1801,
-Thời Nam Bắc triều cũng có vài lần nhà Mạc huy động đến 100 ngàn quân tấn công nhà Lê, nhưng rút cục đều thất bại, lần tệ hại nhất năm 1592 theo đại việt sử ký quân Mạc chết đến 10 ngàn người, với quân số thời đó quả thực là khủng khiếp.
-Thời Trần hiển nhiên có nhiều trận đánh dữ dội, thắng thì nhiều người nói rồi, thua thì nổi tiếng nhất là Hồ Quý Ly bị Chế Bồng Nga nện cho đến mức mất 76 tướng trong một trận năm 1389.
Logged
AK47
Thành viên
*
Bài viết: 241



« Trả lời #12 vào lúc: 10 Tháng Mười Một, 2007, 01:35:26 am »

Còn nhà Hậu Trần cũng có kháng chiến chống giặc phương bắc nữa mà các thủ trưởng.
Giai đoạn này dường như ít thấy tài liệu đề cập quá
Logged

Kỷ Luật Là Sức Mạnh Của QĐ
seahawk1
Thành viên
*
Bài viết: 33



« Trả lời #13 vào lúc: 14 Tháng Giêng, 2008, 10:31:19 pm »

Còn nhà Hậu Trần cũng có kháng chiến chống giặc phương bắc nữa mà các thủ trưởng.
Giai đoạn này dường như ít thấy tài liệu đề cập quá
Hình như giai đoạn này có nói ngay trong topic này rồi. Nổi tiếng nhất thời kháng chiến hậu trần (1407 - 1413) là trận Bô Cô. Trận này tổn thất của quân Minh rất lớn, cả đạo quân khoảng 100 ngàn người (con số này nhớ mang máng, không dám đoan chắc các bác nhé) bị đánh tan, bỏ mạng tại trận cũng vài chục ngàn. Tức là về quy mô chiến thắng thì oanh liệt không kém Can của Hannibal hay Austerlitz của Napoleon. Ngoài ra giai đoạn này cũng có rất nhiều anh hùng cứu quốc rất nổi tiếng, như Nguyễn Biểu, cha con Đặng Dung, Đặng Tất, cha con Nguyễn Cảnh Chân và Nguyễn Cảnh Dị. Bài thơ "Thuật hoài" mà bất cứ chú học trò cải cách nào cũng từng học qua cũng là của Đặng Dung sáng tác sau khi bị quân Minh bắt.
Logged
caytrevietnam
Trung tá
*
Bài viết: 471


Trồng sen trong biển lửa


« Trả lời #14 vào lúc: 09 Tháng Hai, 2008, 12:06:37 am »

chiến lược, xảy ra gần thành Đông-Quan [Hà-Nội], hầu như đã làm tê liệt lực lượng giặc lúc bấy giờ. Nhưng chiến thắng trước, trận Bồ-Cô [1409], mở đầu cho sự thất bại. Chiến thắng sau, trận Ninh-Kiều [1426], tạo nên bước ngoặt lịch sử [turning point], dẫn đến thắng lợi hoàn toàn. Người đọc sử cần tìm hiểu về sự thành bại, được mất của hai chiến thắng này.


1. Trận Bồ-Cô

Bồ-Cô là tên một bến đò thuộc xã Bồ-Cô, nay thuộc huyện Ý-Yên, tỉnh Nam-Hà. Đại Việt sử ký toàn thư [1] chép về trận đánh này như sau:

“Tháng 12, ngày 14, quốc công Đặng Tất cả phá quân Minh tại Bồ Cô hãn. Bấy giờ nhà Minh sai tổng binh Mộc Thạnh mang tước Kiềm quốc công, đeo ấn Chinh di tướng quân, đem 5 vạn quân từ Vân Nam đến Bồ Cô, vừa khi vua Giản Định cũng từ Nghệ An tới, quân dung nghiêm chỉnh, gặp lúc nước triều lên gấp, gió thổi mạnh, sai các quân đóng cọc giữ và lên hai bên bờ đắp lũy. Thạnh cũng chia quân thủy, quân bộ cùng cầm cự. Vua cầm dùi đánh trống, hạ lệnh các quân thừa cơ xông đánh từ giờ Tỵ [khoảng 11 giờ] đến giờ Thân [16 giờ], quân Minh thua chạy, chém được Binh bộ thượng thư Lưu Tuấn, Đô ty Lữ Nghị, cùng quân mới, quân cũ đến hơn 10 vạn tên. Chỉ một mình Mộc Thạnh chạy thoát trốn về thành Cổ Lộng.” [2]

Sử liệu từ Minh thực lục cũng xác nhận chiến thắng này, còn cho biết rõ hơn về lý lịch các tướng lãnh, quan lại cao cấp của nhà Minh tử trận, bản dịch như sau:

Ngày 24 tháng 12, năm Vĩnh Lạc thứ 6 [9/1/1409]

“Ngày hôm nay quan Tổng-binh Giao-Chỉ Kiềm-Quốc-công Mộc Thạnh giao tranh với đầu đảng giặc Giao-Chỉ, Giản Định, tại sông Sinh-Quyết [3] bị thua. Đô-đốc Thiêm-sự Lữ Nghị, Binh bộ Thượng-thư Lưu Tuấn, Tham-chính Giao-chỉ Bố-chánh ty Lưu Dục đều chết.

Lữ Nghị người đất Hạng-Thành, Hà-Nam; khởi đầu giữ chức Bách-hộ vệ Tế-Dương; thời Hoàng-thượng Tĩnh Nạn, Nghị theo chinh phạt mấy lần lập kỳ công, được thăng đến chức Đô-Chỉ-huy Đồng-tri. Năm Vĩnh Lạc thứ ba thăng Đô-đốc Thiêm-sự, cùng với Hoàng Trung luyện binh tại Quảng-Tây; lại cùng mang binh đem cháu Vương An-Nam là Trần Thiên Bình về nước. Vì làm trái chiếu chỉ, nên Nghị không tránh được thất bại ở Kê-Lăng; rồi được tha tội cho giữ nguyên chức tòng chinh, mệnh sung Ưng-Dương Tướng-quân. Giao-Chỉ bình, có công được giữ chức Đô-ty Giao-Chỉ. Nghị tính thâm trầm, dũng lược, đánh trận thâm nhập; bị hãm chết trận.

Lưu Tuấn người đất Giang-Lăng, Hồ-Quảng; đậu Tiến-sĩ năm Ất Sửu; thời Hồng-Vũ, giữ chức Chủ-sự bộ Binh, rồi được thăng lên Tả Thị-lang bộ này. Thời Kiến Văn [4] giữ chức Thị-trung; khi Thiên-tử [Thành Tổ] tức vị, được thăng hàm Thượng-thư. Tuấn cẩn thận, cần mẫn trong công việc, có mưu trí, giỏi ứng biến, nên được tín nhiệm. Trước đây quan Tổng-binh chinh phạt Giao-Chỉ, mệnh Tuấn tham mưu quân vụ, góp nhiều công ích, nên sau khi bình Giao-Chỉ được ban thưởng. Rồi lại được cử sang Giao-Chỉ để tham mưu quân vụ cho Thạnh. Thạnh bại, Tuấn bị vây, bèn thắt cổ tự tử.

Lưu Dục người Vũ-Thành, Sơn-Đông; xuất thân từ Lại-khoa Cấp-Sự-trung, thăng Thông-chính Sứ-ty Tả-Thông-chính, rồi đến chức Tả-Tham-chính ty Bố-chánh Hà-Nam; được đổi đến Giao-Chỉ giữ chức Hữu-Tham-chính. Dục tính hà khắc, ít nói, thiếu ân; tuy nhiên làm việc giỏi, đến nơi nào thuộc lại và dân cũng đều sợ, đến nay cùng chết với Tuấn.” [5]

Sau chiến thắng này, quan điểm về tiến, thủ của vua Giản Định và Quốc-công Đặng Tất hoàn toàn khác nhau. Toàn thư chép:

“Vua bảo các quân:

‘Hãy thừa thế chẻ tre, đánh cuốn chiếu thẳng một mạch, như sét đánh không kịp bịt tai, tiến đánh thành Đông-Quan thì chắc chắn phá được chúng.’

Tất tâu:

‘Hãy bắt hết bọn giặc còn sống sót, không nên để mối lo về sau.’

Do dự mãi không quyết định được. Quân giữ thành Đông-Quan đến cứu viện, đón Mộc Thạnh về.”

Từ sự việc này, nội bộ vua tôi nhà hậu Trần trở nên chia rẽ, mấy tháng sau vua nghe lời gièm, giết Nguyễn Cảnh Chân và Đặng Tất. Con Nguyễn Cảnh Chân là Nguyễn Cảnh Dị, con Đặng Tất là Đặng Dung tức giận bỏ đi, phò Trần Quí Khoách lên làm vua.

Vua Giản Định tuy được vua mới (Trần Quí Khoách) tôn làm Thái-Thượng-hoàng, nhưng không có thực quyền, rồi chẳng bao lâu bị đạo quân của Trương Phụ tăng viện cho Mộc Thạnh truy kích và bắt sống. Sự việc được chép trong Minh thực lục như sau:

Ngày 10 tháng 11, năm Vĩnh Lạc thứ 7 [16/12/1409]

“Quan Tổng-binh Giao-Chỉ Anh-Quốc-công Trương Phụ, chinh di Tướng-quân Kiềm-Quốc-công Mộc Thạnh bắt được bọn giặc Giản Định. Lúc bấy giờ Định tới sách Cự-Lặc, rồi từ sách Địa đến trấn Thiên-Quan tụ tập chống trả. Thạnh mang binh từ Lỗi-Giang hướng về sách Cự-Lặc; bọn Đô-đốc Chu Vinh, Đô-Chỉ-huy La Văn dùng lính đi thuyền theo sông Lỗi-Giang lên Ngưu-Tỵ quan; Trương Phụ điều bọn Đô-đốc Chu Quảng, Đô-Chỉ-huy Trần Hoài dùng bộ binh và kỵ binh từ Lỗi-Giang lên sách Địa để kịp đến trấn Thiên-Quan. Giản Định lại từ sách Đông-Hoàng hướng đến sách Đa-Bôi, quan quân đuổi tới huyện Mỹ-Lương [6] , sách Cát-Lợi. Giản Định vừa mới trú tại nhà dân, nhìn đằng xa thấy quan quân đến, bèn bỏ các vật như ngựa, ấn tín, chạy trốn vào rừng. Quan quân lục soát không bắt được, bèn vây chặt rừng, rồi bắt sống được Giản Định cùng các tướng giặc Trần Hy Cát, Nguyễn Nhữ Lệ, Nguyễn Yến.” [7]

Xét về sự thất bại, có thể do vua tôi nhà hậu Trần phạm những lỗi lầm sau đây:

- Việc binh, có sự thảo luận tham gia ý kiến lúc bàn bạc tham mưu, nhưng một khi đã quyết định thì mọi người phải hòa thuận để thi hành, nên người xưa gọi quân môn là “hòa môn”. Nói cách khác, đạo quân không thể nào chiến thắng trong tình trạng bất hòa, “trống đánh xuôi kèn thổi ngược”.

- Trong khi hai bên tương tranh, rất kỵ tình huống “nằm ngủ trên chiến thắng”. Nếu ta không có hoạt động để triển khai thành quả chiến thắng, thì kẻ địch sẽ thay ta làm chủ chiến trường và tình thế sẽ đảo ngược, như đã thấy ở trên.
Logged

SỐNG VỮNG CHÃI 4000 NĂM SỪNG SỮNG
LƯNG ĐEO GƯƠM TAY MỀM MẠI BÚT HOA
caytrevietnam
Trung tá
*
Bài viết: 471


Trồng sen trong biển lửa


« Trả lời #15 vào lúc: 09 Tháng Hai, 2008, 12:06:59 am »

2. Trận Ninh Kiều

Chiến công về trận Ninh-Kiều cũng được ghi lại trong các bộ chánh sử của nước ta và Trung-Quốc. Khâm định Việt sử thông giám cương mục chép như sau:

“Nghe nói các tướng Đinh Lễ và Lê Xí đang đóng tại Thanh-Đàm, Lê Triện bèn sai báo gấp cho họ đến tiếp ứng. Bọn Lễ và Xí lựa lấy 3000 quân tinh nhuệ và 2 thớt voi, tức tốc ngay ban đêm đến hội quân ở Cao-Bộ. Họ chia quân đặt phục tại Tốt-Động và Chúc-động.

Bắt được gián điệp của địch, ta đã biết Vương Thông tiến đóng tại Ninh-Kiều, ngầm cho kỳ binh tiến nhanh đến phía sau quân của Triện, còn chính binh của Thông sẽ vượt sông tiến lên phía trước. Chúng hẹn nhau hễ nghe tiếng súng pháo nổ, thì các mũi quân địch cùng lúc đánh khép lại. Hồi canh năm đêm ấy, bọn Lễ sai quân bắn súng pháo ở nơi yếu hại để đánh lừa giặc. Giặc nghe súng nổ đều đổ xô đi chiếm lấy chỗ thuận lợi. Chúng lùa quân đi tắt vào. Bấy giờ trời mưa, đường lầy lội, chúng kéo đến Tốt-Động, bị phục binh ta bốn bề nổi dậy. Quân ta hợp sức chiến đấu, cả phá được quân giặc. Chém Thượng thư Trần Hiệp, và Nội-quan Lý Lượng. Quân Minh cùng giày xéo chồng chất lên nhau, chết đến hơn 5 vạn. Số quân địch chết đuối cũng rất nhiều, làm nghẽn cả khúc sông Ninh-Giang.”

Sử Trung-Quốc, Nam Việt truyện [8] của danh thần Vương Thế Trinh thuộc đời Gia Tĩnh triều Minh, xác nhận số quân Minh bị chết khoảng hai, ba vạn người, trong đó có Thượng-thư Trần Hiệp.

Riêng Minh thực lục chép đầu đuôi trận đánh này như sau:

Ngày 9 tháng 11, năm Tuyên Ðức thứ nhất [7/12/1426]

“Ngày hôm nay quan Tổng-binh Thành-Sơn-hầu Vương Thông tiến binh đánh giặc bị thua to, giặc bèn vây thành Đông-Quan.

Trước đó tướng giặc Lê Thiện [Triện] chia quân làm 3 đạo, tới đánh thành Giao-Chỉ. Một đạo từ cửa phía tây đánh vào thành đất Thanh-Oai, một đạo từ Giáo-Trường đánh Hạ-Quan; bị Đô-đốc Trần Tuấn dùng súng lửa, hỏa tiễn đánh lui; một đạo đánh vào cửa nhỏ tại ven sông gặp Sự-quan Lý An mang quân tinh nhuệ giao chiến, giặc bị chết rất nhiều, nửa đêm bèn rút lui.

Lúc này Thông điều quân chia đường mà tiến. Tham-tướng Đô-đốc Mã Ánh mang quân đến Thanh-Oai gặp giặc, đánh bại chúng. Rồi đến huyện Thạch-Thất họp quân với Thông, cả hai mang quân đến huyện Ứng-Bình, trú quân tại Ninh-Kiều. Các tướng nói đất này hiểm trở nên lập trại để xem tình hình, không nên coi thường mà tiến. Thông không nghe, cho điều quân qua cầu, đường sá lầy trơn, người ngựa lặn lội, phục binh nổi lên, quan quân bị bại; Thượng-thư Trần Hiệp chết, Chỉ-huy Lý Đằng bị chết vào tay giặc, Thông trúng thương nên quay về. Lê Lợi tại Nghệ-An nghe tin bèn mang đại quân tới Thanh-Đàm, đánh các xứ tại Bắc-Giang, rồi vây thành Đông-Quan.” [9]

Đúng như Minh thực lục chép, các bộ sử nước ta đều xác nhận sau chiến thắng Ninh-Kiều, vua Lê Lợi đích thân dẫn đại quân và 20 thớt voi chia hai đường thủy, bộ ngày đêm đi gấp. Quân ta lần lượt chiếm các mục tiêu chung quanh thành Đông-Đô, rồi bắt đầu vây thành này. Để chặn đường tiếp viện, cùng làm suy yếu tinh thần quân Minh đang bị vây, nhà vua sai các tướng chiếm các thành trì nằm trên trục lộ huyết mạch qua Trung-Quốc như các thành Điêu-Diêu [10] , Thị-Cầu [11] , Tam-Giang [12] , Xương-Giang [13] , Khâu-ôn [14] .

Thế lực quân Minh lúc này bị co cụm lại, Vương Thông tại thành Đông-Quan sa vào tình thế tuyệt vọng, đành phải giao lại đất đai từ Thanh-Hóa trở vào nam cho vua Lê Lợi và ra lệnh quan quân đóng tại các nơi này phải rút lui về thành Đông-Quan gấp.

Bấy giờ có tên Tri-châu Thanh-Hóa tên là La Trung mang nhiều tội ác với dân ta, sợ ra khỏi thành sẽ bị giết, nên đánh liều giữ thành không chịu ra; sự việc chép trong Minh thực lục như sau:

Ngày 5 tháng 12, năm Tuyên Ðức thứ nhất [1/1/1427]

“Ngày hôm nay giặc họ Lê đánh châu Thanh-Hóa không hạ được. Trước đó, từ khi thất bại tại Ninh-Kiều, Thành-Sơn-hầu Vương Thông không còn vững lòng như trước, tự tiện cho Lê Lợi cai quản từ Thanh-Hóa trở vào nam, truyền hịch cho quan quân tại nơi này rút về thành Đông-Quan. Riêng châu Thanh-Hóa không chịu nghe lệnh.

Trước đó Lê Lợi đánh Thanh-Hóa, Tri-châu La Thông, Chỉ-huy Đả Trung suất quân dân kiên thủ, có lúc mang quân đánh núi đất, sát thương giặc nhiều, thế giặc bớt căng thẳng. Lúc này hịch tới, người trong thành kinh sợ. Thông nói với Trung rằng:

‘Bọn chúng ta chống cự, mấy lần đánh bại giặc, ra khỏi thành thì không sống được; nay tại đây thành cao, hào sâu, lương nhiều, dân đông; so với việc chịu trói, chi bằng tận trung mà chết, mà chưa chắc đã chết đâu! Bọn [Vương] Thông bán thành cho giặc, lệnh này không thể theo được.’

Rồi cùng với Trung tưởng lệ quân sĩ, giữ thành vững thêm; giặc đánh không hạ được, bèn bỏ đi. Khi Vương Thông bỏ Giao-Chỉ, bọn [La] Thông cũng trở về kinh đô.” [15]

Qua văn bản nêu trên, cần phải nhấn mạnh rằng Thanh-Hóa là quê hương của vua Lê Lợi. Trong những ngày đầu khởi nghĩa, La Thông và bè lũ quân Minh tại đây đã gây nhiều tội ác đối với gia đình nhà vua cùng nghĩa quân; như việc con gái vua bị Mã Kỳ đưa sang Tàu làm nô tỳ rồi chết tại đó [16] . Đối với người bình thường, ở vào địa vị vua Lê Lợi, ắt phải dùng đại quân đánh vào thành này, trừng trị cho hả giận. Nhưng nhà vua nghĩ đến đại sự trước việc riêng tư, thấy thành này không cần đánh cũng có thể cô lập được, nên để yên cho bọn chúng sống. Với tầm nhìn chiến lược của bậc thiên tài quân sự, nhà vua quyết định dùng quân đánh vào thành Xương-Giang, nằm trên con đường huyết mạch đến biên giới Việt Hoa, dù tổn thất cũng đánh cho kỳ được. Trận tấn công rất gay go; Minh thực lục mô tả như sau:

Ngày 2 tháng 4, năm Tuyên Ðức thứ hai [28/4/1427]

“Ngày hôm nay giặc Giao-Chỉ Lê Lợi công hãm thành Xương-Giang. Lợi cho rằng Xương-Giang là nơi quan trọng, [trên đường] đại quân ra vô; bèn dùng hơn 8 vạn quân đánh. Quan giữ thành Đô-Chỉ-huy Lý Nhiệm, Chỉ-huy Cố Phúc ra lệnh già, trẻ, phụ nữ đều lên mặt thành, giương cờ hò hét, ngày đêm chống cự; Bọn Nhiệm bất ngờ mang quân tinh nhuệ ra công kích, đốt phá dụng cụ đánh thành. Bốn phía giặc đều xây núi đất, dùng phi minh bắn vào thành; Nhiệm sai quân cảm tử ban đêm mở cửa thành ra đánh, giết giặc giữ núi đất. Mưu tập kích doanh trại, giặc đào địa đạo vào thành, Nhiệm sai đào hào ngang chặn địa đạo, rồi ném đá xuống, khiến giặc chết nhiều.

Giặc nghe tin đại binh của Chinh-di Tướng-quân [Liễu Thăng] sắp tới, sợ sẽ dùng thành này làm chỗ dựa, bèn tăng cường thêm quân và voi tấn công. Tên đá bắn vào như mưa. Nhiệm dùng trăm cách để chống cự, trải qua 9 tháng trời, giao tranh hơn 30 trận; khởi đầu trong thành có hơn 2000 tướng sĩ, lúc này chết và tật bệnh đến một nửa, nhưng giặc vẫn quyết vây đánh, dùng thang mây leo lên thành, rồi đoạt cửa, Nhiệm điều lính quyết tử ba lần đánh lui, nhưng giặc lại xua voi và lính vào. Bọn Nhiệm kiệt sức, đánh không xuể, Nhiệm và Phúc đều tự tử; quan trong thành là Phùng Trí khóc ròng, hướng về phía bắc bái tạ, rồi cùng Chỉ-huy Lưu Thuận, Tri-phủ Lưu Tử Phụ thắt cổ chết. Trong thành các quan quân, cùng trai gái chết rất đông; giặc phóng hỏa đốt, cướp phá đến sạch không.” [17]

Nỗi gian khổ về cuộc tấn công tại thành Xương-Giang được đền bù một cách xứng đáng, vì đã làm suy sụp đoàn quân tiếp viện, cùng đem lại chiến thắng cuối cùng. Sau khi quân tiên phong bị phục kích chết cùng Liễu Thăng tại núi Mã-Yên, lực lượng còn lại do Thôi Tụ chỉ huy đến thành Xương-Giang, thì được tin thành này đã mất, chúng càng kinh hoàng sợ hãi; quân ta tấn công, đại quân giặc tan rã tại đó. Minh thực lục cố tình nói bớt sự tổn thất, nhưng cũng không thể chối bỏ sự thất bại hoàn toàn của đoàn quân cứu viện:

Ngày 9 tháng 9, năm Tuyên Ðức thứ 2 [29/9/ 1427]

“Ngày hôm nay quân của quan Tổng-binh An-Viễn-hầu Liễu Thăng đến Ải-Lưu quan; Lê Lợi cùng các Đầu-mục lớn nhỏ sai người đến cửa quân dâng thư xin bãi binh để yên dân, lập con cháu họ Trần làm chủ đất này. Bọn Thăng nhận thư, không mở ra xem, sai người tâu về kinh. Những chỗ quan quân đi qua, giặc làm trại để thủ, quan quân liên tiếp công phá, đến ngay ải Trấn-Di, như vào chỗ không người. Ý Thăng xem thường. Lúc này Tả Phó-Tổng-binh Bảo-Định-bá Lương Minh, Tham-tán quân sự Thượng-thư Lý Khánh đều bệnh; Lang-trung bộ Lễ Sử An, Chủ-sự Trần Dung nói với Khánh rằng:

‘Xem lời lẽ, sắc mặt của chủ tướng có vẻ kiêu; kiêu là điều tối kỵ của nhà binh. Vả lại bọn giặc ngụy trá, hoặc có thể làm ra vẻ yếu để dụ chúng ta; huống tỷ thư dụ rõ ràng là phải phòng ngừa giặc đặt phục binh. Đây là phút an nguy, Ngài nên nói gấp.’

Khánh rán ngồi dậy, gặp Thăng, hết sức can gián. Thăng ừ ào, nhưng vẫn không nghiêm chỉnh phòng bị. Đến Đảo-Mã pha, cùng với hơn trăm quân kỵ qua cầu; nửa chừng cầu bị sập, quân đằng sau không tiến được. Thăng rơi xuống vũng lầy, phục binh giặc nổi lên bốn phía, Thăng bị đâm chết bằng giáo, đám quân theo Thăng cũng bị giết sạch. Lúc này Hữu Tham-tướng Đô-đốc Thôi Tụ thu thập quan quân, chỉnh đốn đội ngũ. Cũng ngày hôm đó Lương Minh bệnh chết, lại ngày hôm sau Lý Khánh cũng chết. Rồi đến ngày hôm sau nữa, Thôi Tụ điều quan quân tiến; đến Xương-Giang gặp giặc, quan quân ít mà giặc thì đông, cố gắng đánh nhưng giặc xua voi vào trợ chiến, nên quân lọan, Thôi Tụ bị bắt sống.

Giặc hô lớn: ‘Kẻ hàng không bị giết.’

Quan quân hoặc tử trận, hoặc chạy về biên giới, không một ai hàng. Lang-trung Sử An, Chủ-sự Trần Dung, Lý Tông Phương đều chết vào ngày hôm đó; duy một mình Chủ-sự Phan Hậu thoát trở về được…” [18]

Nam Việt truyện [19] chép về trận đánh này: “Bảy vạn người không còn sót ai” (thất vạn nhân vô di giả 七 萬 人 無 遺 者); có thể hiểu là tất cả bảy vạn quân Minh đã bị chết hoặc bị bắt.

Từ chiến thắng Ninh-Kiều trở về sau, nghĩa quân của vua Lê Lợi tấn công liên tiếp, khiến Vương Thông phải nhượng bộ giao đất đai từ Thanh-Hóa trở vào nam cho quân ta. Rồi sau khi đoàn quân tiếp viện của Liễu Thăng thất bại, Thông hoảng hốt không đợi lệnh vua, tự tiện làm lễ thề với vua Lê Lợi để được rút quân về nước:

Ngày 7 tháng 2 năm Tuyên Ðức thứ 3 [21/2/1428]

Bọn quan Tổng-binh Giao-Chỉ Thành Sơn-hầu Vương Thông sai người đến tâu rằng:

“… Thần trộm nghĩ phụng mệnh diệt giặc, đáng dốc lòng trung thành liều chết để đợi viện binh, nhưng trong thành quân ít, lòng người kinh sợ, chí không vững; bọn giặc lại điên cuồng giảo hoạt hơn trước, các đường thủy bộ quan trọng đều bị chúng chiếm, cho dù có viện binh cũng khó đến ngay được. Nếu thành trì bị hãm, không khỏi phải hưng binh một lần nữa; vì một góc đất mà mệt nhọc nhiều người trong thiên hạ, khiến đấng quân phụ phải lo, không hợp với lòng trung thành của kẻ thần tử. Thần và chúng [quan] bàn rằng nhân cơ hội này, chỉnh đốn quân lữ, vượt trở về đất sống rồi tái mưu đồ hậu sự. Thần đã đốc suất các nha lại trực thuộc Giao-Chỉ cùng quan quân trở về Nam-Ninh, Quảng-Tây để phục mệnh, và trông đợi Hoàng-thượng xét Trần Cảo có đúng danh nghĩa con cháu nhà Trần không? Hoặc sai sứ qua lại xem xét, nếu có sự giả mạo, xin ước lượng cho thêm quân mã thủy bộ chia đường cùng tiến thảo; nếu còn một lần nữa không có hiệu quả, bọn thần xin chịu tru lục. Kính cẩn phủ phục đợi mệnh.”

Thiên-tử xem tờ tấu, nói với thị thần rằng: “Quan Tổng-binh ở ngoài tự tiện liên lạc với giặc, không đợi mệnh lệnh của triều đình mà mang quân trở về, không còn theo lễ của bề tôi nữa!” [20]

Hai chiến thắng Bồ-Cô và Ninh-Kiều tầm cỡ ngang ngửa như nhau, nhưng một đằng vì bất hòa dẫn đến thất bại, một đằng được chỉ đạo khéo léo tài tình, mang lại thắng lợi cuối cùng. Thành quả chiến thắng ở đây không phải chỉ được hưởng một lần. Trải qua mấy trăm năm dưới triều đại nhà Minh, về phía nước ta cũng có những thời điểm suy vi, như lúc Mạc Đăng Dung tự trói, nộp mình đầu hàng vào năm Canh Tý [1540], nhưng nhà Minh đã không dám lợi dụng cơ hội này để đặt chân đến nước ta. Phải chăng dân ta hái được cái “quả” bình yên lúc đó, cũng là nhờ “nhân” tốt của trận Ninh-Kiều và những chiến thắng kế tiếp đã làm tởn lòng quân giặc!
1]Đại Việt sử ký toàn thư, bản dịch của Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, tập 2, trang 224. Xin lưu ý, Toàn thư ghi trận Bồ-Cô xảy ra vào ngày 14/12 năm Mậu Tý, tức Vĩnh Lạc thứ 6; Minh thực lục ghi trận này xảy ra vào ngày 24/12 năm Vĩnh Lạc thứ 6; như vậy lịch Trung-Quốc trước ta 10 ngày. Theo Hoàng Xuân Hãn trong bài khảo cứu “Lịch Và Lịch Việt Nam” (La-Sơn Yên-Hồ Hoàng Xuân Hãn, tập 1, trang 930) thì sau khi nước ta giành độc lập, khoảng đời Lý Thánh Tông, cùng lúc với việc đặt quốc hiệu Đại-Việt, ta tự làm lịch riêng. Vì vậy, kể từ thời đó trở về sau, sử nước ta ghi tháng nhuận nhiều trường hợp khác với lịch Trung-Quốc. Chúng tôi dò các thời điểm lịch sử trong sử Trung-Quốc và sử nước ta, nhận thấy năm, tháng ít khi sai lệch, nhưng ngày thì có thể xê dịch.
[2]Theo chú thích từ bản dịch Toàn thư: Thành Cổ-Lộng do người Minh đắp, thuộc xã Bình-Cách, huyện Ý-Yên, tỉnh Nam-Hà, tục gọi là thành Cách.
[3]Sông Sinh-Quyết gần núi Thiên-Kiện; theo Cương mục, núi Thiên-Kiện còn có tên là núi Địa-Cận, ở xã Thiên-Kiện, huyện Thanh-Liêm, tỉnh Nam-Hà.
[4]Kiến Văn: niên hiệu của Minh Huệ-đế.
[5]Minh thực lục, quyển 86, trang 1144.
[6]Mỹ-Lương: Tên huyện thuộc tỉnh Sơn-Tây, giáp với Nho-Quan, Ninh-Bình.
[7]Minh thực lục, quyển 98, trang 1290.
[8]Nam Việt truyện, Vương Thế Trinh, Kỷ Lục Vựng Biên, quyển 49, trang 4.
[9]Minh thực lục quyển 22, trang 0594.
[10]Thành Điêu-Diêu: ở huyện Gia-Lâm, Hà-Nội.
[11]Thành Thị-Cầu: nay thuộc thị xã Bắc-Ninh, tỉnh Hà-Bắc.
[12]Thành Tam-Giang: ở huyện Lâm-Thao tỉnh Phú-Thọ, nay thuộc huyện Phong-Châu, tỉnh Vĩnh-Phú.
[13]Thành Xương-Giang: nay là thị xã Bắc-Giang, tỉnh Hà-Bắc.
[14]Thành Khâu-Ôn: là tỉnh lỵ Lạng-Sơn ngày nay.
[15]Minh thực lục quyển 23, trang 0606.
[16]Đại Việt sử ký toàn thư tập 2, trang 297.
[17]Minh thực lục, quyển 27, trang 0701.
[18]Minh thực lục, quyển 31, trang 0800.
[19]Nam Việt truyện, quyển 49, trang 5.
[20]Minh thực lục, quyển 36, trang 0897-0899
Logged

SỐNG VỮNG CHÃI 4000 NĂM SỪNG SỮNG
LƯNG ĐEO GƯƠM TAY MỀM MẠI BÚT HOA
caytrevietnam
Trung tá
*
Bài viết: 471


Trồng sen trong biển lửa


« Trả lời #16 vào lúc: 09 Tháng Hai, 2008, 01:02:33 am »

Từ các sử liệu của Trung-Quốc và trong nước liên quan đến việc vua Quang Trung đại phá quân Thanh, nhân đó đính chính một vài điều về lịch sử

Phiên dịch Cao Tông thực lục, chúng tôi rất lưu ý đạo dụ của vua Càn Long, liên quan đến việc quân Thanh bị tấn công tại thành Thăng-Long vào dịp đầu xuân Kỷ Dậu [1789]. Sự kiện lịch sử trọng đại này còn được chép trong các sách như Thanh thông giám, Khâm định Việt sử thông giám cương mục của Quốc Sử Quán triều Nguyễn, cùng Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô Gia văn phái. Nhằm nhìn rõ vấn đề từ mọi hướng, xin chép lại các sử liệu nêu trên; để cuối cùng qua phần lời bàn, người viết cố gắng phân tích vấn đề, tìm tòi sự khác biệt đúng sai, với niềm hy vọng có thể thấy được sự thực.

Trận đánh thành Thăng-Long theo Cao Tông thực lục:

Ngày 25 tháng Giêng, năm Càn Long thứ 54 [19/2/1789]

Tổng-đốc Lưỡng-Quảng Tôn Sĩ Nghị tâu rằng sau khi thành nhà Lê được thu phục, vị trí dải đất về phía nam thành tiếp giáp với đất giặc. Theo lời Lê Duy Kỳ báo, vào ngày mồng hai tháng giêng năm nay quân lính của viên Quốc-vương phòng thủ nơi này bị giặc đánh đuổi, bọn chúng rêu rao rằng sẽ trả thù rửa hận. Thần sai quan binh đến tiễu trừ, đánh bại bọn giặc. Rồi Lê Duy Kỳ nghe tin Nguyễn Huệ thân tới, sợ hãi gan mật tê liệt, tay bế con nhỏ, cùng với mẹ chạy trốn qua sông Phú-Lương; khiến dân tình hoảng hốt, người trong nước rần rần chạy loạn. Thần cùng Ðề-đốc Hứa Thế Hanh lại đốc suất quan binh quyết tâm huyết chiến, nhưng không địch nổi, vì giặc quá đông, vây kín đại binh bốn phía. Từ đó Thần và Ðề-đốc Hứa Thế Hanh không thấy mặt nhau nữa, Thần phá vòng vây, tiến thẳng tới cầu nổi, ra lệnh Tổng-binh Lý Hóa Long qua sông để chiếm lấy bờ phía bắc. Lý Hóa Long đi đến giữa cầu, chẳng may trướt chân rơi xuống nước.Thần ra lệnh Phó-tướng Khánh Thành quay đầu bắn súng điểu thương chặn địch, rồi mang binh từ từ theo cầu nổi tới bờ phía bắc, đọan rút về sông Thị-Cầu trú đóng. Một mặt cho người chạy đến vùng Lạng-Sơn, ải Nam-quan tìm mẹ con Lê Duy Kỳ; tạm trú bọn họ tại quan ải. Thần mang trọng trách không làm xong việc sớm, lần này lại bị giặc đánh chặn, xin được cách chức trị tội về việc điều binh sai lầm để làm răn.

Nay dụ các Quân Cơ Ðại-thần: Trẫm trước kia đã cho rằng Lê Duy Kỳ mềm yếu không có khả năng, xem ra trời đã ghét họ Lê nên không thể hỗ trợ được, mà dân tình An-Nam lại phản phúc khó tin; nên đã giáng chỉ dụ lệnh Tôn Sĩ Nghị cấp tốc triệt binh. Nếu như Tôn Sĩ Nghị nhận được chỉ dụ bèn lập tức triệt hồi, thì ngày hôm nay đại quân đã về đến cửa quan ải rồi. Nay Nguyễn Huệ dám ra chặn đánh, nguyên do là Tôn Sĩ Nghị hy vọng Nguyễn Huệ sẽ hối lỗi đầu hàng để mọi việc được hoàn mỹ, nên chần chừ ngày giờ, mới xảy ra như vậy. Hiện tại vào tiết mùa xuân, tại nơi này mưa nhiều lắm chướng khí; nếu muốn cử đại binh cũng chưa phải lúc. Huống các tỉnh Quảng-Ðông, Quảng-Tây trước đây tiếp tục điều binh, thì đã ra lệnh đình chỉ; nay lại rầm rộ truyền hịch điều động, thì cũng không đáp ứng được tình hình khẩn cấp, mà lại khiến cho lòng người thêm kinh hãi. Nói tóm lại đem binh triệt hồi, vẹn toàn quốc thể là điều cốt yếu.

Tôn Sĩ Nghị là người thống suất toàn quân, không thể làm việc mạo hiểm; viên Tổng-đốc phá vòng vây để ra, hành động này rất đúng. Thứ đến, Hứa Thế Hanh là viên chức lớn với cấp bực Ðề-đốc cũng rất quan hệ; hiện nay chưa có tin tức, đang hết sức trông ngóng. Hai người phải lưu tâm thận trọng, đốc suất quan binh đến quan ải gấp. Theo lời tâu của Tôn Vĩnh Thanh thì Lê Duy Kỳ đến quan ải vào ngày mồng 7 tháng giêng, hiện cho trú tại Nam-Ninh. Bàn về việc hành quân từ trước tới nay không phải mỗi lần ra quân đều thuận lợi, như các cuộc hành quân tại Tân-Cương, Tây-Lộ, cho đến Lưỡng Kim-Xuyên đều có những tổn thất nhỏ rồi mới thành công. Lần nầy Tôn Sĩ Nghị mang quân đến An-Nam đánh giặc thành công quá dễ, nay có sự tổn thất biết đâu đây chính là Nguyễn Huệ tự mang lấy mầm diệt vong vậy. Tôn Sĩ Nghị và Hứa Thế Hanh hãy mang quân ra cho vẹn toàn, đừng làm tổn thương quốc thể; tương lai có liệu biện việc này hay không do chính Trẫm thao túng, rồi sẽ từ từ quyết định. Còn việc Tôn Sĩ Nghị tâu xin cách chức trị tội; thì việc tổn thương này ngoài ý muốn, không phải do viên Tổng-đốc lầm lỡ mạo muội, tại sao lại tâu như vậy! Viên Tổng-đốc phải gia tăng trấn tĩnh để lo liệu việc triệt thoái, chớ nên hoang mang ý loạn, đó là điều hết sức quan trọng. Chắc bọn Nguyễn Huệ cũng không dám xâm phạm biên giới của Thiên triều, tuy nhiên dọc theo quan ải cần dàn binh lực để làm mạnh thanh thế và chuẩn bị việc tiếp ứng. Hiện theo lời tâu của Tôn Vĩnh Thanh đã điều 1 ngàn quân tiến trước hợp với quân phòng thủ gồm 3 ngàn tên [1] , sẽ lo điều động thêm. Nay dụ Tôn Vĩnh Thanh hãy tính toán kỹ, nếu số binh lính không đủ dùng, thì có thể một mặt tiếp tục điều tại các doanh, một mặt tấu lên. Quân Quảng-Tây hiện đang triệt hồi, còn đạo quân Vân-Nam do ngã Tuyên-Quang An-Biên cũng phải triệt thoái gấp. Quân lính tại các doanh đồn trú tại Vân-Nam tương đối nhiều, nếu quân số dưới quyền của Phú Cương và Ô Ðại Kinh hiện nay không đủ dùng, thì đừng ngại lấy thêm quân từ các doanh để phòng thủ dọc biên giới, khiến cho thanh thế càng thêm mạnh mẽ. (Cao Tông thực lục quyển 1321 tờ 868-869).

Trận đánh thành Thăng-Long theo Thanh thông giám

Ngày mồng 5 tháng giêng:

Quân Thanh bị bại, Tôn Sĩ Nghị mang tàn quân chạy về bắc.

Vào cuối năm năm ngoái, quân của Nguyễn Huệ nước An-Nam vượt sông Gián-Thủy đánh bại quân phòng thủ của Lê Duy Kỳ [Lê Chiêu Thống]; lại bắt toán quân Thanh tuần thám giết sạch. Ngày mồng hai, Tôn Sĩ Nghi được tin hoảng hốt ngự địch; ra lệnh Tổng-binh Trương Triều Long mang 3000 quân tăng cường cho các đồn Hà-Hồi, Ngọc-Hồi để chống cự, lại ra lệnh cho Ðề-đốc Hứa Thế Hanh mang 1500 tên, tự đốc suất 1200 tên để tiếp ứng. Quân Nguyễn Huệ tiến tới đông như ong, vây đồn 4 phía, đánh nhau một ngày một đêm, quân Thanh bị đánh tan bèn bỏ chạy.

Vào canh năm ngày này [mồng 5] Nguyễn Văn Huệ mang đại binh tiến đánh, thân tự đốc chiến, dùng 100 thớt voi khỏe làm tiên phong. Rạng sáng quân Thanh cho kỵ binh nghênh địch, ngựa bị voi quần kinh hãi bỏ chạy, quân rút lui vào trại cố thủ. Phía ngoài trại, lũy đầy chông sắt, bên trong bắn súng ra cự địch. Vào giờ Ngọ quân Nguyễn bắn hỏa châu, hỏa tiễn tới tấp; lại dùng rạ bó to lăn mà tiến đều, khinh binh theo sau, trước ngã sau tiến lên một lòng quyết chiến, tại các trại quân Thanh đồng thời tan vỡ, quân Nguyễn thừa thắng chém giết, quân Thanh tử thương quá nửa.

Ðề-đốc Hứa Thế Hanh thấy thế lực nhiều ít rõ ràng, bảo gia nhân đem ấn triện Ðề-đốc mang đi, rồi ra sức đánh, bị chết tại trận. Lúc này quân địch càng bị giết càng nhiều, chia cắt quân Thanh từng nhóm rồi vây kín. Thống-soái Tôn Sĩ Nghị mất liên lạc với Hứa Thế Hanh và các đại viên Ðề,Trấn; bèn ra lệnh Phó-tướng Khánh Thành, Ðức Khắc Tinh Ngạch mang 300 quân đoạt vây chạy về phía bắc. Khi tàn quân của Tôn Sĩ Nghị chạy đến bờ sông, thì số quân Thanh 3000 tên trú đóng tại bờ phía nam đã được Tổng-binh Thượng Duy Thanh mang đi tiếp ứng cho Hứa Thế Hanh, bèn ra lệnh cho Tổng-binh Lý Hóa Long vượt qua cầu nổi chiếm cứ bờ phía bắc, để tiện việc yểm hộ qua sông. Không ngờ Lý Hóa Long đi đến giữa cầu, trượt chân rơi xuống nước chết, số quân mang đi kinh hãi không biết làm gì. Tôn Sĩ Nghị ra lệnh Khánh Thành yểm hộ mặt sau bằng cách bắn súng điểu thương vào quân Nguyễn Văn Huệ đang truy kích, riêng mình tự mang quân theo cầu nổi lui về bờ phía bắc; rồi lập tức cho chặt đứt cầu nổi, cùng với bọn Khánh Thành rút lui về sông Thị-Cầu.

Quân Thanh tại phía nam sông thấy cầu đã bị đứt chìm, không có đường về, bèn đánh trở lại thành nhà Lê. Các Tổng-binh Thượng Duy Thăng, Trương Triều Long, Phó-tướng Na Ðôn Hành, Tham-tướng Dương Hưng Long, Vương Tuyên, Anh Lâm đều tử trận. Tri-châu Ðiền-Châu Sầm Nghi Ðống không được viện binh đành tự tử, số thân binh tự tử cũng đến hàng trăm. Quốc-vương An-Nam Lê Duy Kỳ vào lúc binh thua tới dinh Tôn Sĩ Nghị họp bàn, thấy Tôn Sĩ Nghị đã bỏ chạy, bèn hoảng hốt vượt sông chạy lên phương bắc, đến đây nhà Lê diệt vong.

Nguyễn Văn Huệ xua quân tiến vào thành, chiến bào mặc trên người nhuốm đen, do bởi thuốc súng. Ðề-đốc Ô Ðại Kinh mang đạo quân Thanh tại Vân-Nam xuất phát từ Mã-Bạch quan vào ngày 20 tháng 11 năm ngoái, đến Tuyên-Quang vào ngày 21 tháng 12; khi đến sông Phú-Lương thấy cầu nổi bằng tre đã bị chìm đứt, nhìn sang bên kia bờ thấy lửa rực bốn phía, bèn triệt hồi Tuyên-Quang, rồi lập tức lui vào trong nước. (Thanh thông giám, quyển 146, trang 4565-4567).

Khâm định Việt sử thông giám cương mục:

Hồi trống canh năm sớm hôm sau (mồng 5 tháng giêng), Văn Huệ xắn tay áo đứng dậy, đốc thúc bản bộ lùa quân rầm rộ tiến lên. Chính Văn Huệ tự mình đốc chiến, cho hơn trăm voi khỏe đi trước. Tờ mờ sáng quân Thanh lùa toán quân kỵ tinh nhuệ ồ ạt tiến. Chợt thấy bầy voi, ngựa quân Thanh đều sợ hãi, hí lên, tế chạy, lồng lộn quay về, chà đạp lẫn nhau. Giặc [2] lại lùa voi xông đến: quân Thanh trong cơn gấp rút, không cứu nhau được, ai nấy rút trong lũy để cố thủ. Bốn mặt đồn lũy quân Thanh đều cắm chông sắt, súng và tên bắn ra như mưa. Giặc dùng những bó rơm to để che đỡ mà lăn xả vào, rồi quân lính tinh nhuệ tiến theo sau. Kẻ trước ngã, người sau nối, thảy đều trổ sức liều chết mà chiến đấu. Các lũy quân Thanh đồng thời tan vỡ và đều chạy. Giặc đuổi đến đồn Nam-Ðồng, thừa thắng ập lại giết chết. Quân Thanh bị chết và bị thương đến quá nửa. Thế Hanh, Tiên-phong Trương Sĩ Long và Tả-dực Thượng Duy Thăng đều chết. Sầm Nghi Ðống đóng đồn tại Loa-Sơn (tục gọi Ðống-Ða) bị một tướng khác của giặc đánh, quân cứu không có, Nghi Ðống phải tự thắt cổ mà chết. Toán thân binh của Nghi Ðống cũng tự ải chết theo đến vài trăm người. (Bản dịch của Viện sử học, tập 2, trang 846).

Hoàng Lê nhất thống chí:

Vua Quang Trung lại truyền lấy sáu chục tấm ván, cứ ghép liền ba tấm làm một bức, bên ngoài lấy rơm dấp nước phủ kín, tất cả là 20 bức. Ðoạn kén loại lính khỏe mạnh, cứ 10 khiêng một bức, lưng giắt dao ngắn. Hai mươi người khác đều cầm binh khí theo sau, dàn thành trận chữ “nhất”; vua Quang Trung cưỡi ngựa voi đi đốc thúc, mờ sáng ngày mồng 5 tiến sát đồn Ngọc-Hồi. Quân Thanh nổ súng bắn ra chẳng trúng người nào cả. Nhân có gió bắc, quân Thanh bèn dùng ống phun khói lửa ra, khói tỏa mù trời, cách gang tấc không thấy gì, hòng làm cho quân Nam rối loạn. Không ngờ trong chốc lát trời bỗng trở gió nam, thành ra quân Thanh lại tự làm hại mình.

Vua Quang Trung liền sai đội khiêng ván vừa che vừa xông thẳng lên phía trước. Khi gươm giáo hai bên đã chạm nhau thì quăng ván xuống đất, ai nấy cầm dao ngắn chém bừa; những người cầm binh khí theo sau cũng nhất tề xông tới mà đánh. Quân Thanh chống không nổi bỏ chạy tán loạn, giày xéo lên nhau mà chết. Tên Thái-thú Ðiền Châu Sầm Nghi Ðống tự thắt cổ chết. Quân Tây Sơn thừa thế chém giết lung tung, thây nằm đầy đồng, máu chảy thành suối, quân Thanh đại bại (Bản dịch của Nguyễn Ðức Vân và Kiều Thu Hoạch, trang 223-224).
Logged

SỐNG VỮNG CHÃI 4000 NĂM SỪNG SỮNG
LƯNG ĐEO GƯƠM TAY MỀM MẠI BÚT HOA
caytrevietnam
Trung tá
*
Bài viết: 471


Trồng sen trong biển lửa


« Trả lời #17 vào lúc: 09 Tháng Hai, 2008, 01:03:07 am »

Lời bàn của người dịch (Cao Tông thực lục):

Duyệt qua các tài liệu lịch sử từ các nguồn khác nhau giúp người đọc có một cái nhìn mới về trận đánh của vua Quang Trung vào thành Thăng-Long với những điều đáng lưu ý sau đây:

1. Ðánh trước mặt và ngang hông cùng một lúc:

Báo cáo của Tôn Sĩ Nghị trong Cao Tông thực lục không cho biết chi tiết về trận đánh, chỉ nói rằng “Quân giặc quá đông, vây kín đại binh bốn phía”. Ðây là lời báo cáo của một kẻ hoảng hốt, thấy có tiếng súng chung quanh rồi tưởng rằng đã bị vây chặt, thực ra chỉ là nghi binh mà thôi. Căn cứ vào Thanh thực lục và Khâm định Việt sử thông giám cương mục, thì lực lượng chính của vua Quang Trung như hai quả đấm vung lên cùng một lúc để đánh gục đối phương, đó là các trận Ngọc-Hồi và Ðống-Ða. Rạng ngày mồng 5 tết, trận Ngọc-Hồi bùng nổ tại phía nam thành Thăng-Long, trong lúc quân Thanh đang dồn nỗ lực tiếp cứu, thì mặt trận phía tây bùng nổ tại Ðống-Ða. Quân Thanh bị đánh bất ngờ ngang hông, không có quân tiếp viện, Tri-phủ Ðiền-Châu Sầm Nghi Ðống phải thắt cổ tự vẫn. Sau khi chiến thắng tại Ngọc-Hồi và Ðống-Ða, quân ta “chia cắt quân Thanh từng nhóm rồi vây kín”, quân giặc lớp chết, lớp đầu hàng; thành Thăng-Long được giải phóng trong ngày.

2. Ðính chính lịch sử về chiến thuật hành quân tại trận Ngọc-Hồi:

Trong Hoàng Lê nhất thống chí, một bộ tiểu thuyết lịch sử của Ngô Gia Văn Phái viết theo lối chương hồi, đoạn văn trích dẫn ở phần trên nằm trong chương 14 với nhan đề:

Ðánh Ngọc-Hồi quân Thanh bị thua trận
Bỏ Thăng-Long, Chiêu Thống trốn ra ngoài

Trong đoạn văn này, không kể đến chi tiết sai lầm về nơi chết của Sầm Nghi Ðống (y tự tử tại Ðống-Ða chứ không phải tại Ngọc-Hồi), Hoàng Lê nhất thống chí mang lỗi lầm chung của tiểu thuyết lịch sử [3] là viết hấp dẫn, nhưng nhiều khi không đúng với sự thực. Những người có chút kiến thức sơ đẳng về quân sự đều biết rằng đoàn quân “dàn trận hình chữ nhất ” rầm rộ tiến vào, mà “Quân Thanh nổ súng bắn ra chẳng trúng người nào cả” là một việc khó có thể xảy ra. Ngoài ra, chi tiết “Vua Quang Trung lại truyền lấy sáu chục tấm ván, cứ ghép liền ba tấm làm một bức, bên ngoài lấy rơm dấp nước phủ kín, tất cả là 20 bức. Ðoạn kén loại lính khỏe mạnh, cứ 10 khiêng một bức, lưng dắt dao ngắn. Hai mươi người khác đều cầm binh khí theo sau, dàn thành trận chữ “nhất”; vua Quang Trung cửi voi đi đốc thúc, mờ sáng ngày mồng 5 tiến sát đồn Ngọc-Hồi”. Chúng ta tự hỏi rằng 10 người khiêng một bức, cho dù đồn giặc bằng phẳng như một sân đá banh (mà thực tế không thể có như vậy) cũng phải nhắc tấm ván lên khỏi mặt đất vài chục phân mới di chuyển được, giặc trang bị đầy đủ súng điểu thương, ống phun lửa; cứ nhắm chân mà bắn ắt phải có người bị thương, ngã xuống không khiêng được. Một bức ván với 30 quân sĩ (kể cả 20 quân tháp tùng) đã gặp khó khăn như vậy, thì toàn bộ 20 bức ván gặp khó khăn đến nhường nào, và làm sao có thể xung phong mạnh mẽ, chế ngự đồn giặc được!

Nhà quân sự giỏi về “công đồn” có thể thấy được ở chỗ: lập kế hoạch sát với thực tế, gây sự bất ngờ, thi triển đồng loạt, ít tổn thất, hiệu năng cao, hỏa lực phía trước mạnh. Sử liệu do hai bộ sử Thanh thực lục và Khâm định Việt sử thông giám cương mục của triều Nguyễn nước ta đã mô tả rõ nét thiên tài của vua Quang Trung về chiến thuật công đồn với đủ những yếu tố nêu trên. Thanh thực lục chép:

“Vào canh năm ngày này (mồng 5) Nguyễn Văn Huệ mang đại binh tiến đánh, thân tự đốc chiến, dùng 100 thớt voi khỏe làm tiên phong. Rạng sáng quân Thanh cho kỵ binh nghênh địch, ngựa bị voi quần kinh hãi bỏ chạy, quân rút lui vào trại cố thủ. Phía ngoài trại, lũy đầy chông sắt, bên trong bắn súng ra cự địch. Vào giờ Ngọ quân Nguyễn bắn hỏa châu, hỏa tiễn tới tấp; lại dùng rạ bó to lăn mà tiến đều, khinh binh theo sau (Ngọ thời Nguyễn quân loạn phóng hỏa tiễn, hỏa châu, tịnh dĩ hòa cán tác đại thúc, loạn cổn nhi tiền, khinh binh tùy chi), trước ngã sau tiến lên một lòng quyết chiến, tại các trại quân Thanh đồng thời tan vỡ, quân Nguyễn thừa thắng chém giết, quân Thanh tử thương quá nửa.”

Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục cũng chép tương tự:

“Hồi trống canh năm sớm hôm sau (mồng 5 tháng giêng), Văn Huệ xắn tay áo đứng dậy, đốc thúc bản bộ lùa quân rầm rộ tiến lên. Chính Văn Huệ tự mình đốc chiến, cho hơn trăm voi khỏe đi trước. Tờ mờ sáng quân Thanh lùa toán quân kỵ tinh nhuệ ồ ạt tiến. Chợt thấy bầy voi, ngựa quân Thanh đều sợ hãi, hí lên, tế chạy, lồng lộn quay về, chà đạp lẫn nhau. Giặc lại lùa voi xông đến: quân Thanh trong cơn gấp rút, không cứu nhau được, ai nấy rút trong lũy để cố thủ. Bốn mặt đồn lũy quân Thanh đều cắm chông sắt, súng và tên bắn ra như mưa. Giặc dùng những bó rơm to để che đỡ mà lăn xả vào, rồi quân lính tinh nhuệ tiến theo sau. Kẻ trước ngã, người sau nối, thảy đều trổ sức liều chết mà chiến đấu. Các lũy quân Thanh đồng thời tan vỡ và quân Thanh đều chạy.”

Hai sử liệu từ hai nước Hoa, Việt đều xác nhận vua Quang Trung dùng voi để chống lại kỵ binh. Ngựa sợ voi là chuyện tự nhiên, lính tháp tùng trên lưng voi từ trên cao khống chế quân kỵ một cách dễ dàng, lại còn có sức mạnh đàn áp tinh thần địch về mặt tâm lý. Việc sử dụng voi đúng chỗ hiện diện của kỵ binh, chứng tỏ đạo quân vua Quang Trung hơn hẳn về mặt tình báo.

Việc dùng rạ (hòa cán) bó thành bó lớn như bánh xe lăn khổng lồ (dùng để cán sửa đường lộ), bó nọ nối liền bó kia cùng lăn đều, tạo thành bức tường di động giúp quân lính núp đằng sau tương đối an toàn, vừa tiến lên vừa bắn, để đánh chiếm đồn giặc là một sáng kiến tuyệt diệu; xin được phân tích như sau:

* Vật liệu lấy tại chỗ: Bấy giờ vào đầu tháng giêng, nhà nông tại vùng xung quanh Ngọc-Hồi có thể còn phơi rạ ngoài đồng, hoặc làm đụn rạ trong vườn để dành dùng đun nấu, cho bò ăn, hoặc đánh tranh lợp nhà. Rạ là vật liệu rất cần thiết cho nông dân, ở nhà quê đâu đâu cũng có. Còn dây buộc là tre non chẻ ra, hoặc cây mây; hầu như có sẵn trong mọi vườn.

* Dễ bó thành bó tròn lớn: Dịch giả lớn lên từ nhà quê, đã nhiều lần thấy nông dân bó rạ với cung cách dùng hai đòn xọc cắm sâu xuống đất, cách nhau khoảng 1 mét làm điểm tựa, chất rạ vào giữa hai đòn xóc lên cao đến đỉnh đầu, đứng lên trên đống rạ nén chặt, khi đã ưng ý, kéo những sợi dây đã đặt sẵn dưới đống rạ lên rồi buộc chặt. Những nông dân có kinh nghiệm bó những bó rạ chắc chắn, lăn cách nào cũng không tung ra. Dịch giả cũng thấy tận mắt tại nông trại ở Mỹ, có những bó cỏ cho ngựa ăn, bó chặt cao quá đầu người; lính Việt-Nam phần lớn xuất thân từ nông dân, nếu ba bốn người hợp lực có thể bó những bó lớn như vậy.

* Khi khai triển đội hình hàng ngang, những bó rạ được lăn đều, nhanh chậm tùy theo hiệu lệnh của cấp chỉ huy.

* Nếu bó rạ lớn được nhúng nước, có khả năng ngăn cản đạn nhỏ của súng điểu thương, là loại súng quân Thanh được trang bị. Quân ta khom lưng tiến sau bó rạ tương đối an toàn, ngoài việc lăn rạ còn có khả năng bắn phủ đầu đối phương.

* Hãy tưởng tượng hàng trăm bó rạ tạo thành bức thành di động, dù súng bắn vẫn lăn đều lên; lại còn có khả năng bắn trả lại; lúc lăn đến gần, quân Thanh ắt phải kinh hoàng mà bỏ chạy.


Ngoài ra cần phải nhắc thêm, trong buổi sáng vua Quang Trung cho voi quần khiến kỵ binh giặc tháo chạy, rồi quân ta dùng “hỏa châu, hỏa tiễn” bắn tới tấp lúc xung phong vào giờ ngọ, thật đúng bài bản “tiền pháo, hậu xung”, có thể ứng dụng bài học này cho ngay cả chiến tranh trong thời hiện đại!

Rất tiếc những bộ sử ngày nay như Việt-Nam sử lược của cụ Trần Trọng Kim [4] và Ðại cương lịch sử Việt Nam [5] của nhà xuất bản Giáo dục Hà-Nội vẫn dùng sử liệu “ghép ván có phủ rơm” của bộ tiểu thuyết chương hồi Hoàng Lê nhất thống chí, mà không đề cập đến “bó rạ lăn tròn”được chép trong sử nhà Thanh và sử triều Nguyễn. Thiết tưởng lịch sử là một bộ môn trong khoa học nhân văn, cần được nghiên cứu một cách khoa học không thiên kiến; lại được biết trong nước có Viện Lịch sử Quân sự, nếu Viện này cho trắc nghiệm bằng cách tập trận về hai chiến thuật nêu trên, thì sẽ thực sự thấy được đáp án.

3. Chặt đứt cầu nổi bắc qua sông Hồng

Ðể cầu sự an toàn cho bản thân, trong lúc hoảng hốt Tôn Sĩ Nghị ra lệnh chặt cầu phao bắc qua sông Hồng-Hà, khiến hầu hết các Ðề Trấn và quân lính dưới quyền kẹt lại tại thành Thăng-Long rồi bị giết, bị bắt. Vua Càn Long không trực tiếp đưa vụ này ra ánh sáng. Vị vua già có hơn nửa thế kỷ cầm quyền hiểu rằng công khai việc làm đớn hèn của Tôn Sĩ Nghị, khiến quân lính nổi giận làm loạn, thì hậu quả sẽ không lường được. Hơn nữa Càn Long, tác giả cuốn Thập toàn võ công ký, tự khoe mình võ công vô địch, vướng phải vết nhơ này, thì còn đâu là thập toàn nữa.

Xét ra, những thảm họa về việc phá cầu không phải chỉ xảy ra một lần trong lịch sử chiến tranh. Khi chiến tranh bùng nổ tại bán đảo Triều-Tiên vào ngày 25 tháng 6 năm 1950, chính phủ Nam Triều-Tiên có kế hoạch phá cầu bắc qua sông Hán để bảo vệ thủ đô Hán-Thành ở phía nam. Nhưng vì quân Bắc Triều-Tiên tiến công quá nhanh, trong cơn hoảng hốt cho giật mìn cây cầu quá sớm, khiến hơn một vạn quân nam Triều-Tiên bị kẹt không rút lui được, nên tinh thần quân dân Nam Triều-Tiên lúc bấy giờ bị suy sụp mau chóng.

4. Trút tất cả lỗi lầm lên đầu Lê Chiêu Thống

Sau khi thất bại, Tôn Sĩ Nghị tìm cách đổ lỗi cho Lê Chiêu Thống, y tố cáo với vua Càn Long rằng:

“Lê Duy Kỳ nghe tin Nguyễn Huệ thân tới, sợ hãi gan mật tê liệt, tay bế con nhỏ, cùng với mẹ chạy trốn qua sông Phú Lương; khiến dân tình hoảng hốt, người trong nước rần rần chạy loạn. Thần cùng Ðề-đốc Hứa Thế Hanh lại đốc suất quan binh quyết tâm huyết chiến, nhưng không địch nổi, vì giặc quá đông, vây kín đại binh bốn phía.”

Càn Long thua trận, muốn bỏ cuộc nhưng sợ dư luận chê cười, nhân đó về hùa với Sĩ Nghị để lên án Lê Chiêu Thống. Sự thực các sử sách Hoa Việt đều xác nhận Tôn Sĩ Nghị đã chạy trước Lê Chiêu Thống. Thanh thông giám chép:

“Quốc-vương An-Nam Lê Duy Kỳ vào lúc binh thua tới dinh Tôn Sĩ Nghị họp bàn; thấy Tôn Sĩ Nghị đã bỏ chạy, bèn hoảng hốt vượt sông, chạy lên phương bắc, đến đây nhà Lê diệt vong.”

Hoàng Lê nhất thống chí cung cấp thêm chi tiết như sau:

“Tôn Sĩ Nghị sợ mất mật, ngựa không kịp đóng yên, người không kịp mặc giáp, dẫn bọn lính kỵ mã của mình chuồn trước qua cầu phao, rồi nhắm hướng bắc mà chạy. …Vua Lê trong điện, nghe tin có việc biến ấy, vội vã cùng bọn Lê Quýnh, Trịnh Hiến đưa Thái-hậu ra ngoài. Cả bọn chạy đến bờ sông thì thấy cầu phao đã đứt, thuyền bè cũng không, bèn gấp rút chạy đến Nghi-Tàm thình lình gặp được chiếc thuyền đánh cá, vội cướp lấy rồi chèo sang bờ bắc. Trưa ngày mồng 6, vua Lê và những người tùy tùng chạy đến núi Tam-Tằng, nghe nói Tôn Sĩ Nghị đã đi khỏi nơi đó.” (trang 226).

Vua tôi nhà Thanh cảm thấy hài lòng vì đã tìm cách trút mọi lỗi lầm lên đầu Lê Chiêu Thống, để dọn đường cho việc thân tiện với vua Quang Trung trong tương lai.

© 2005 talawas

[1]Sử nhà Thanh cố tình nói bớt quân số. Theo Thanh thông giám, lúc bấy giờ dân Trung-Quốc tại vùng biên giới Quảng-Ðông, Quảng-Tây nghe tin quân Nguyễn Huệ sẽ sang trả thù rửa hận, nên đều bỏ chạy để nhà cửa trống không; tình hình như vậy mà chỉ có vài ngàn quân phòng thủ biên giới, thì chắc số lính này cũng không có gan ở lại để phòng thủ! Tham khảo với các sách khác, về quân số nhà Thanh thường nói bớt khoảng mười lần!
[2]Nhà Nguyễn gọi nhà Tây Sơn là giặc, hoặc ngụy Tây.
[3]Thông lệ chung các bộ tiểu thuyết lịch sử thường cường điệu để câu chuyện thêm đậm đà, như Tam quốc chí diễn nghĩa kể chuyện Quan Công, Lưu Bị, Trương Phi đánh Lữ Bố (Tam anh chiến Lữ Bố) hết sức hấp dẫn; nhưng đây là những sự kiện được tiểu thuyết hóa; còn sử Tam quốc chí của Trần Thọ không chép chuyện này. Ngoài ra, những sự việc như các tướng thách đánh nhau, tướng đánh tướng, là chuyện trong tiểu thuyết, tuồng kịch; còn thực tế, chiến tranh thời xưa cũng không có như vậy
[4]Việt-nam sử lược, Quyển 2, trang 133.
[5]Ðại cương lịch sử Việt-Nam, Tập 1, trang 425.
Logged

SỐNG VỮNG CHÃI 4000 NĂM SỪNG SỮNG
LƯNG ĐEO GƯƠM TAY MỀM MẠI BÚT HOA
chiangshan
Thành viên
*
Bài viết: 3405


No sacrifice, no victory


WWW
« Trả lời #18 vào lúc: 09 Tháng Hai, 2008, 11:28:22 am »

Những người có chút kiến thức sơ đẳng về quân sự đều biết rằng đoàn quân “dàn trận hình chữ nhất ” rầm rộ tiến vào, mà “Quân Thanh nổ súng bắn ra chẳng trúng người nào cả” là một việc khó có thể xảy ra. Ngoài ra, chi tiết “Vua Quang Trung lại truyền lấy sáu chục tấm ván, cứ ghép liền ba tấm làm một bức, bên ngoài lấy rơm dấp nước phủ kín, tất cả là 20 bức. Ðoạn kén loại lính khỏe mạnh, cứ 10 khiêng một bức, lưng dắt dao ngắn. Hai mươi người khác đều cầm binh khí theo sau, dàn thành trận chữ “nhất”; vua Quang Trung cửi voi đi đốc thúc, mờ sáng ngày mồng 5 tiến sát đồn Ngọc-Hồi”. Chúng ta tự hỏi rằng 10 người khiêng một bức, cho dù đồn giặc bằng phẳng như một sân đá banh (mà thực tế không thể có như vậy) cũng phải nhắc tấm ván lên khỏi mặt đất vài chục phân mới di chuyển được, giặc trang bị đầy đủ súng điểu thương, ống phun lửa; cứ nhắm chân mà bắn ắt phải có người bị thương, ngã xuống không khiêng được. Một bức ván với 30 quân sĩ (kể cả 20 quân tháp tùng) đã gặp khó khăn như vậy, thì toàn bộ 20 bức ván gặp khó khăn đến nhường nào, và làm sao có thể xung phong mạnh mẽ, chế ngự đồn giặc được!
....
Việc dùng rạ (hòa cán) bó thành bó lớn như bánh xe lăn khổng lồ (dùng để cán sửa đường lộ), bó nọ nối liền bó kia cùng lăn đều, tạo thành bức tường di động giúp quân lính núp đằng sau tương đối an toàn, vừa tiến lên vừa bắn, để đánh chiếm đồn giặc là một sáng kiến tuyệt diệu; xin được phân tích như sau:

* Vật liệu lấy tại chỗ: Bấy giờ vào đầu tháng giêng, nhà nông tại vùng xung quanh Ngọc-Hồi có thể còn phơi rạ ngoài đồng, hoặc làm đụn rạ trong vườn để dành dùng đun nấu, cho bò ăn, hoặc đánh tranh lợp nhà. Rạ là vật liệu rất cần thiết cho nông dân, ở nhà quê đâu đâu cũng có. Còn dây buộc là tre non chẻ ra, hoặc cây mây; hầu như có sẵn trong mọi vườn.

* Dễ bó thành bó tròn lớn: Dịch giả lớn lên từ nhà quê, đã nhiều lần thấy nông dân bó rạ với cung cách dùng hai đòn xọc cắm sâu xuống đất, cách nhau khoảng 1 mét làm điểm tựa, chất rạ vào giữa hai đòn xóc lên cao đến đỉnh đầu, đứng lên trên đống rạ nén chặt, khi đã ưng ý, kéo những sợi dây đã đặt sẵn dưới đống rạ lên rồi buộc chặt. Những nông dân có kinh nghiệm bó những bó rạ chắc chắn, lăn cách nào cũng không tung ra. Dịch giả cũng thấy tận mắt tại nông trại ở Mỹ, có những bó cỏ cho ngựa ăn, bó chặt cao quá đầu người; lính Việt-Nam phần lớn xuất thân từ nông dân, nếu ba bốn người hợp lực có thể bó những bó lớn như vậy.

* Khi khai triển đội hình hàng ngang, những bó rạ được lăn đều, nhanh chậm tùy theo hiệu lệnh của cấp chỉ huy.

* Nếu bó rạ lớn được nhúng nước, có khả năng ngăn cản đạn nhỏ của súng điểu thương, là loại súng quân Thanh được trang bị. Quân ta khom lưng tiến sau bó rạ tương đối an toàn, ngoài việc lăn rạ còn có khả năng bắn phủ đầu đối phương.

* Hãy tưởng tượng hàng trăm bó rạ tạo thành bức thành di động, dù súng bắn vẫn lăn đều lên; lại còn có khả năng bắn trả lại; lúc lăn đến gần, quân Thanh ắt phải kinh hoàng mà bỏ chạy.


Ngoài ra cần phải nhắc thêm, trong buổi sáng vua Quang Trung cho voi quần khiến kỵ binh giặc tháo chạy, rồi quân ta dùng “hỏa châu, hỏa tiễn” bắn tới tấp lúc xung phong vào giờ ngọ, thật đúng bài bản “tiền pháo, hậu xung”, có thể ứng dụng bài học này cho ngay cả chiến tranh trong thời hiện đại!

Rất tiếc những bộ sử ngày nay như Việt-Nam sử lược của cụ Trần Trọng Kim [4] và Ðại cương lịch sử Việt Nam [5] của nhà xuất bản Giáo dục Hà-Nội vẫn dùng sử liệu “ghép ván có phủ rơm” của bộ tiểu thuyết chương hồi Hoàng Lê nhất thống chí, mà không đề cập đến “bó rạ lăn tròn”được chép trong sử nhà Thanh và sử triều Nguyễn. Thiết tưởng lịch sử là một bộ môn trong khoa học nhân văn, cần được nghiên cứu một cách khoa học không thiên kiến; lại được biết trong nước có Viện Lịch sử Quân sự, nếu Viện này cho trắc nghiệm bằng cách tập trận về hai chiến thuật nêu trên, thì sẽ thực sự thấy được đáp án.

Cái chuyện dùng ván hay dùng bó rạ lăn tròn này hồi trước cũng tranh luận kha khá bên TTVN. Bác này phân tích rất hay về ưu điểm của việc dùng bó rạ, nhưng lại quên mất một chi tiết là khi gặp hào sâu hay vật cản nổi (chiến lũy, hàng rào, bãi chông....) là bó rạ chịu chết. Những chỗ như thế dùng ván có thể vượt qua.

Ưu điểm của ván vừa là lá chắn, vừa là cầu để vượt vật cản, vừa để tải thương binh tử sĩ, chiến lợi phẩm sau trận đánh.

Như thế cũng hợp lý nếu quân TS sử dụng cả ván lẫn bó rạ, tuỳ thuộc địa hình từng chỗ.

Còn dùng súng điểu thương, từ trên bắn xuống mà trúng được chân thì hơi bị khó. Mà ngay cả có trúng vẫn có người lên thay thế được.
Logged

Dân ta phải biết sử ta
Cái gì không biết cần tra Gúc gồ
ChienV
Đại tá
*
Bài viết: 453


« Trả lời #19 vào lúc: 12 Tháng Hai, 2008, 04:31:23 pm »

Nói về những trận vĩ đại thì có lẽ phải có trận Rạch Gầm - Xòai Mút chứ các thầy nhỉ!

Một trận điển hình về nghi binh cấp chiến thuật và chiến lược!
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM