Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:06:53 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chúng ta đã thua trận ở Việt Nam như thế nào  (Đọc 11986 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #10 vào lúc: 04 Tháng Mười, 2008, 06:52:44 am »

Người đứng đằng sau việc đó chính là tướng Nguyễn Khánh, một nhân vật khổ người thấp, vui tính, để chòm râu dê và thích đội bê-rê dù màu đỏ. Ông thích nói câu:

“Tôi là một người lính”, mà quả đúng vậy. Trong những năm ngoài hai mươi tuổi, ông đã từng làm du kích chiến đấu chống Pháp. Mẹ ông mở một quán rượu ở Đà Lạt, còn dì ghẻ ông là một ca sĩ danh tiếng của Việt Nam về nhạc tình cảm ai oán.


Khánh là một người bạn cố tri và tôi mến ông ta. Lần đầu tôi được nghe việc dự định đảo chính vào thượng tuần tháng Giêng khi Khánh vô ý-hầu như là quá cẩu thả-nói rằng ông không hài lòng về phương thức Minh lớn lãnh đạo đất nước. Ông không nói gì về việc sắp xếp một cuộc đảo chính, nhưng ông ta muốn thăm dò phản ứng của tôi, và trên cơ bản tôi đồng ý với Khánh. Tôi cũng không hài lòng về Minh lớn. Dù sao đi nữa tôi cũng thuộc về thế hệ trẻ, như Khánh, và dù tôi đã có làm nhiệm vụ của tôi trong việc lật đổ Diệm, nhưng tình trạng của chúng tôi cũng không khả quan gì hơn trước. Cũng vẫn những khuôn mặt cũ quanh bàn nội các. Chẳng khác gì đảo một bộ bài cũ vậy. Cuộc đảo chính Diệm xảy ra ngày 1 tháng Mười một, và vào cuối tháng Giêng thì Khánh lại lên nắm quyền. Xét theo ý nghĩa rất sôi động của từ “đảo chính” thì đây không phải là một cuộc đảo chính vì tướng Khánh và những người theo phe ông chỉ đả kích Minh lớn và tố giác ông này và những người cùng cánh với ông ta trong Hội đồng quân nhân cách mạng, là có tư tưởng trung lập.


Minh lớn và những thành viên hàng đầu trong nội các đều bị lật đổ. Trong đêm đảo chính tôi không có mặt ở căn cứ, nhưng bảy giờ sáng hôm sau một sĩ quan trong đơn vị gọi tôi lên và báo: “Tôi nghĩ có chuyện đã xảy ra; và đại tá nên trở về căn cứ". Tôi vội vàng trở về, thế cũng may vì trong vòng nửa giờ sau đích thân Khánh gọi tôi và nói: “Này Kỳ, Minh lớn và phần lớn các thành viên trong chính phủ các ông đã bị lật đổ. Anh có theo tôi không?”. Tôi nói với ông ta là có. Từ giờ phút, Khánh chắc chắn là thành công vì không còn phải lo ngại gì về phía không quân nữa.


Năm 1964 giống như một trò đánh đu chính trị điên rồ, với bảy lần thay đổi chính phủ. Lật Minh lớn rồi, Khánh lại bổ nhiệm Minh lớn làm Quốc trưởng (theo sự khẩn khoản của Mỹ), trong khi đó Khánh làm Thủ tướng, lẽ dĩ nhiên là với nhiều quyền hành hơn. Nhưng vào tháng Tám, Minh lớn lại bị lật đổ và Khánh lên làm Quốc trưởng. Một tháng sau, Minh lớn lại làm Quốc trưởng và Khánh lại làm Thủ tướng một lần nữa.


Trong thời gian đó, Khánh và tôi không được lòng người Mỹ vì chúng tôi đã thúc hối họ đẩy mạnh chiến tranh. Người Mỹ đã có kế hoạch đự phòng cốt để làm chính việc đó, chủ yếu là vì họ không tin tưởng chính phủ Khánh và nghĩ rằng họ phải giữ một vai trò to lớn hơn trong việc chỉ đạo chiến tranh.


Nhưng, vào đầu năm đó, khi Khánh yêu cầu Bộ trưởng quốc phòng Mc Namara cho khởi sự tiến công miền Bắc thì Mc Namara lảng tránh và nói rằng một hành động như thế có thể chỉ là để bổ sung chứ không phải để thay thế cho hoạt động của Nam Việt Nam chống lại cộng sản ở miền Nam dầu sao ông cũng không loại bỏ hẳn khả năng đó.


Thế rồi vào tháng Bảy, Khánh nói chuyện trước một cuộc tập hợp ở Sài Gòn và phát động một chiến dịch “Bắc tiến”, kêu gọi chúng tôi đưa chiến tranh lên phía bắc vĩ tuyến 17. Cũng trong ngày hôm đó tôi nói với một phóng viên về nhu cầu phải ném bom những đường mòn ở bên Lào được Việt cộng sử dụng để xâm nhập người và đưa đồ tiếp tế vào miền Nam.


Người Mỹ điên tiết vì chúng tôi-không phải vì chúng tôi quá táo bạo, nhưng là vì họ đã có kế hoạch cho cả hai loại hành động đó. Lầu Năm Góc đã thảo một phương án cho một cuộc chiến tranh công khai chống miền Bắc từng bước một, có cả việc ném bom những mục tiêu đặc biệt, và đã bắt đầu bố trí các máy bay B57 ở bh. Sau khi thám sát bằng các máy bay U2, họ đã chuẩn bị một danh sách gồm có 22 mục tiêu nằm bên trong đất Lào cần phải ném bom trong một chiến dịch mang ám hiệu “Barrel Roll”.


Họ tố giác rằng tôi đã để lọt tin tức về Barrel Roll ra ngoài và không hề tin khi tôi thề là không hay biết gì về các kế hoạch của họ. Họ tố giác rằng Khánh đã không giữ lời hứa với Mc Namara sau khi đã được cảnh giác là đừng nên mở chiến dịch đánh miền Bắc.


Đại sứ Maxell Taylor sợ rằng nếu không có hành động gì tiếp theo sau lời kêu gọi “Bắc tiến” thì Nam Việt Nam sẽ thành ra bất mãn với quân đội Hoa Kỳ. Đặc biệt là ông ta sợ rằng một trong những phi công của tôi có thể cất cánh bất cần phép tắc và ném bom xuống Hà Nội, như vậy sẽ làm cho cuộc chiến lan rộng.
Nhưng với sự hỗn loạn đang xảy ra thường xuyên trong chính phủ Nam Việt Nam nên tôi không tin rằng những lời nói của Khánh hoặc của tôi lại có thể tác hại được gì.


Đến tháng chín, Khánh gần như bị lật đổ lần nữa. Thật thế, tôi đã cứu ông ta. Hôm sáng chủ nhật 13, một ngày tôi còn nhớ rõ vì đó là lần đầu tiên tôi đưa Mai, cô vợ tương lai của tôi, đi ra ngoài du ngoạn trong một ngày. Tôi lái xe đưa nàng ra khỏi Sài Gòn để thăm sân bay Biên Hoà, 35 dặm về phía bắc. Trên đường đi, người sĩ quan cận vệ của tôi bàn về chuyện một số quân lính đang di chuyển, nhưng có lẽ vì có mặt Mai bên cạnh, nên lúc ấy tôi chẳng chú ý mấy.


Tuy nhiên, khi chúng tôi đến Biên Hoà thì sự kiện đã được ghi nhận. Tôi gọi Bộ tư lệnh của tôi ở Sài Gòn yêu cầu đưa một chiếc trực thăng để đón Mai và tôi, và ra lệnh cho máy bay chiến đấu ném bom cất cánh để trinh sát.

Khi liên lạc với tôi bằng vô tuyến, các phi công cho biết: “Quân lính đang tiến vào Sài Gòn. Xin chờ lệnh của chuẩn tướng”.

Tôi bảo họ là thử xem là quân của ai và họ báo cáo lại đó là quân của tướng Dương Văn Đức, tư lệnh vùng sông Cửu Long.


Tôi biết Đức và bỗng nhiên tôi cảm thấy băn khoăn vì cũng có phần nào trách nhiệm. Rõ ràng là Đức đang muốn tìm cách nắm lấy quyền hành và một tuần lễ trước đó, Đức và tôi có nói chuyện về Khánh, ông này đã tỏ ra những dấu hiệu là muốn trở thành một nhà độc tài. Thực ra, tôi có nói: “Cần phải có một biện pháp gì với ông ta mới được”. Đức cho rằng nhận xét của tôi hàm ý nhiều hơn là những gì tôi đã nói, thế là ông ta đã đem một sư đoàn cùng với xe tăng để đảo chính mà không hề báo trước. Khi đôi đáp trực thăng xuống Sài Gòn thì Đức đã kiểm soát gần hết thành phố, kể cả Bộ Tổng tham mưu và Đài phát thanh.


Tôi biết ông muốn được không quân của tôi ủng hộ, nhưng rồi tôi nghe được giọng nói của tướng Lâm Văn Phát trên đài phát thanh. Là một người bạn của Đức, ông này có nhiều lời tuyên bố mà tôi chẳng thích. Mục đích được ông ta đưa ra là nhằm phục hồi lại triết thuyết của Diệm và ông ta cũng muốn dựa vào uy tín sẵn có của Diệm.


Tôi không tin tưởng Phát. Khi thấy là ông ta đang hành động cùng với Đức tôi đã gọi và báo cho Đức biết: “Trung tướng đã hành động theo một phương thức mà tôi không thể nào ủng hộ được. Giải pháp khôn ngoan nhất là trung tướng nên quay trở về”.


Thay vì thế, ông ta đã đưa xe tăng đến vây quanh căn cứ không quân của tôi. Khi xe tăng tiến đến vị trí thì trời đã tối nhưng nền trời sáng lên vì hoả châu. Tôi đi ra vòng đai, tìm người chỉ huy của các toán xe tăng và cảnh cáo: “Nếu anh cho xe tăng tiến lên một bước nữa là tôi sẽ cho ném bom”. Các xe tăng án binh bất động. Binh chủ này không có hiềm khích với không quân và thực sự họ không hiểu chuyện gì đã xảy ra.

Sáng ra, tôi lại gọi Đức và bảo ông ta: “Đã đến lúc trung tướng nên từ bỏ ý định. Đây là lời nói cuối cùng của tôi. Nếu trung tướng không rút lui, tôi sẽ ném bom xuống Bộ chỉ huy của trung tướng".

Ông ta đành bỏ cuộc.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #11 vào lúc: 04 Tháng Mười, 2008, 06:53:39 am »

Trong thời gian đó, Việt Nam không những chỉ tiến hành chiến tranh nhưng còn chuẩn bị một cách chậm rãi để có một lúc nào đó, quân đội sẽ trao quyền hành lại cho phía dân sự. Tôi tán thành đường lối này, miễn là có những người dân sự đầy đủ khả năng. Nhưng điều khó khăn là dường như mọi việc quanh chúng tôi đều được người lớn tuổi quyết định. Khi Thượng hội đồng quốc gia gồm có chín người, được thành lập vào tháng chín 1964, để soạn thảo một hiến pháp mới, như là bước đầu có thể tiến tới chế độ dân sự, thì ông chủ tịch, bác sĩ Phan Khắc Sửu đang ở cuối tuần chín chục.


Khi Thượng hội đồng quốc gia bắt đầu hoạt động, hội đồng quân nhân cách mạng chấp thuận cho tướng Khánh từ chức Thủ tướng; Trần Văn Hương, một thầy giáo 61 tuổi, cựu đô trưởng Sài Gòn, thay thế ông làm thủ tướng. Tất cả đều là giải pháp tạm thời cho dân khi hình thành Hiến pháp và tổ chức được các cuộc bầu cử. Khánh vẫn chỉ huy quân đội.


Hương là một người mang lại tai hoạ. Ông ta không có nghị lực, không nhìn xa thấy rộng và tệ hại hơn hết là không có can đảm khi đương đầu với hàng nghìn vạn người gây rối phá phách trên đường phố Sài Gòn, chống lại chính phủ nhu nhược và bất lực của ông ta.


Ý kiến thành lập Thượng hội đồng quốc gia quả là tuyệt diệu hoặc có thể được như thế nếu chúng tôi không phải đang tiến hành một cuộc đấu tranh một mất một còn để chống lại cộng sản, vài tuần lễ sau, người ta thấy rõ là thượng hội đồng quốc gia chỉ có những ý nghĩ viển vông mà thôi. Hội đồng quá già nua đang đến dộ ở các quán rượu Sài Gòn người ta gọi đó là viện bảo tàng Tối cao quốc gia. Nhưng lúc đó ít ra là tôi cũng đã làm được một điều gì, trong khi trước kia những người trẻ tuổi vẫn chỉ ngồi yên để nhìn những người già muốn làm gì thì làm. Lý do của sự thay đổi này cũng đơn giản thôi. Từ khi tôi ngăn chặn được cuọc đảo chính của Phát chống lại Khánh, tôi đã trở thành một loại lãnh tụ không chính thức của nhóm sĩ quan trẻ, dám nói những điều mình nghĩ mà không sợ sệt. Một nhà báo đặt cho chúng tôi danh hiệu là “nhóm tướng trẻ”. Tên gọi này còn được nhắc đến mãi.


Hồi bấy giờ các tướng trẻ họp lại hầu như hàng ngày, thường thường sáu bảy sĩ quan cấp cao, không khi nào trên 10 người. Có lúc chúng tôi họp ở bộ chỉ huy phòng dù của tướng Thi, có lúc ở văn phòng của tướng Nguyễn Hữu Có, phần lớn là ở căn cứ không quân nơi tôi trú ngụ. Khánh cũng đích thân đến sự các cuộc họp thảo luận của chúng tôi. Tại một cuộc họp như thế ở Bộ Tổng tham mưu vào giữa tháng Mười hai 1964, Khánh nói một vài thành viên trong Thượng hội đồng quốc gia đang âm mưu giành tất cả quyền hành!”. Chúng tôi biết rằng không thể tin tưởng được vào Minh lớn và một người-Tôi nghĩ đó là Thi-đã la lên ”chúng tưởng chúng là gì đây?”. Một người khác la to: “Hốt chúng đi là xong!”.


Chúng tôi biểu quyết bằng cách đưa tay và ngay lúc ấy chúng tôi quyết định tại chỗ là sẽ bắt giữ họ. Tôi còn nhớ lúc đó vào khoảng chập tối và tướng Có (sau này là thành viên trong nội các của tôi cho đến khi tôi giải nhiệm ông ta vì tham ô) nhìn vào đồng hồ tay và nói: “Đã muộn rồi. Đến lúc phải lùa gà và bò vào chuồng rồi”.


Không có gì khó khăn. Khánh cầm đầu các lực lượng vũ trang, tôi hoàn toàn kiểm soát không quân. Những người khác kiểm soát lực lượng đặc biệt, thuỷ quân lục chiến, nhảy dù. Tôi cho tìm những sĩ quan cấp nhỏ, cung cấp chi tiết, thế là họ cho quân cảnh đi bắt Minh lớn và 4 người khác nữa tại nhà của họ. Ngày hôm sau, tôi lái máy bay đưa họ đi Pleiku ở cao nguyên, tại đây họ bị quản thúc tại gia một cách bí mật trong một thời gian.


Trong đêm đó tất cả chúng tôi đều ở lại trong doanh trại tại Bộ Tổng tham mưu, và tôi chưa ra lệnh để lấy máy bay đưa những người bị bắt giữ lên phía bắc, thì điện thoại đã reo lên. Toà đại sứ Mỹ muốn nói chuyện với Khánh. Chúng tôi theo dõi trong khi Khánh chăm chú nghe, thỉnh thoảng nói lên những tiếng: “có” hoặc “không” một cách vô thưởng vô phạt. Nhưng cuối cùng, sau khi đặt ống nghe xuống, ông quay sang nói với chúng tôi: “Đại sứ Taylor muốn gặp tất cả chúng ta tại đại sứ quán Mỹ, ngay bây giờ. Nhưng tôi không đi. Tôi có thể nói với các anh như thế. Trong các anh có ai đại diện tôi không?” Không ai tình nguyện cả. Khánh quay sang tôi nói: “Này Kỳ, anh là lãnh đạo của nhóm tướng trẻ, anh nên đi đi”. Thiệu và Thi đồng ý đi cùng với tôi. Đô đốc Chung Tấn Cang cũng thế.

Chúng tôi không khi nào thực sự tha thứ Khánh về việc ông ta lẩn tránh không chịu dự cuộc họp ở toà đại sứ vì đó là những giờ phút khó chịu vô cùng.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #12 vào lúc: 04 Tháng Mười, 2008, 06:54:30 am »

Tướng Maxwell Taylor, đại sứ Mỹ tại Sài Gòn trong những năm 1964 và 1965, là một con người đáng tiêu biểu của West Point, ông ta có một thành tích chiến tranh xuất sắc, vì không những ông đã từng chỉ huy một sư đoàn không vận tham dự vào việc giải phóng châu Âu mà còn chỉ huy đạo quân thứ 8 ở Triều Tiên. Dù có học vấn uyên thâm và rất nhiều huy chương nhưng không khi nào ông có thể quên được rằng ông không còn ở trong quân ngũ với tư cách một tướng lãnh nữa. Bộ thường phục trắng giản dị và trang nhã của ông đã không sao che đậy được phong thái quân sự của ông khi ông thuyết giảng cho chúng tôi. Taylor thuộc về loại người luôn luôn thuyết giảng cho người khác chứ không phải là để nói chuyện với họ.


Tất cả chúng tôi kéo vào văn phòng của ông, một gian phòng nhìn xuống sân nhỏ có một cây me khổng lồ mà có một đại sứ đã nói đó là tượng trưng cho sức mạnh của Mỹ ở Việt Nam. Taylor ra hiệu mời chúng tôi ngồi và bắt đầu một cách rất xẵng: “Tất cả các ông đều nói được tiếng Anh chứ?” Chúng tôi gật đầu, mặc dù trên thực tế, thì kém về Anh ngữ.


Taylor nói: “Được rồi”. Trong bữa cơm tối tại nhà tướng Westmoreland, tôi có nói với cả quí vị là người Mỹ chúng tôi đã chán ngấy các cuộc đảo chính lắm rồi. Quả thật tôi đã phí lời nói một cách vô ích”.


Lúc đầu khó mà nghe được giọng nói của ông ta, mãi sau tôi mới làm quen được với giọng điệu lạ tai đó. Dù nói được tiếng Pháp lưu loát, nhưng ông đã nhất định nói bằng tiếnh Anh, và trong lúc ấy, tôi nghĩ rằng ông đang than phiền là chúng tôi không thích bữa ăn tối tại nhà Westmoreland. Tôi vui vẻ nói: “Nhưng bữa ăn đó thực là tuyệt mà”.


Taylor nhìn một cách sửng sốt trong một lúc rồi lờ câu nói cắt ngang của tôi đi. Ông lặp lại: “Tôi nói với các ông là chúng tôi đã chán các cuộc đảo chính. Quả thật tôi đã phí lời một cách vô ích”. Thế rồi, với một cố gắng nhẹ nhàng để mỉa mai một cách chua cay, ông nói thêm “có lẽ tôi nói tiếng Pháp một cách rành lắm vì rõ rằng quí vị không hiểu. Tôi nghĩ tôi đã trình bày rõ ràng là tất cả các kế hoạch quân sự của chúng ta đều tuỳ thuộc vào sự ổn định của chính phủ. Bây giờ quí vị-ông nhìn thẳng vào tổi-đã làm nát bét cả rồi. Chúng tôi không thể nào yểm trợ quí vị mãi mãi được nữa nếu quí vị cứ làm ăn như thế này mãi”. Chẳng một ai nói lên được một lời nào nhưng rồi ông lại nhìn chúng tôi và hỏi: “Người nào đại diện cho nhóm này đây?” “Quí vị có một người phát ngôn không”.


Tự biết rằng mình là người nói được tiếng Anh khá nhất tôi đáp: “Tôi không phải là người phát ngôn của nhóm, nhưng tôi nói được tiếng Anh. Tôi sẽ giải thích tại sao đêm qua lực lượng vũ trang đã hành động như thế. Thưa ông đại sứ, chúng tôi ý thức được trách nhiệm của chúng tôi, và chúng tôi ý thức được sự hy sinh mà nhân dân chúng tôi đã chịu đựng trong 20 năm qua. Và làm thế nào để đoàn kết được khi mà ngày nào cũng có tin đồn đảo chính? Chúng tôi biết rằng những tin đồn do các thành viên trong thượng hội đồng quốc gia đưa ra, và đó là điều mà ông đại sứ không biết”.


Tôi chậm rãi giải thích cho ông Taylor về những dấu hiệu mà chúng tôi đã thấy trong nhiều tháng qua, những dấu hiệu cho thấy có một sự rạn nứt trong quân đội có thể tai hại cho Việt Nam. Tôi nói cho ông rõ về một bức thư của một thành viên trong thượng hội đồng quốc gia gửi cho thủ tướng, cảnh giác thủ tướng quốc gia không thể làm chủ vì có hiến pháp. Các thành viên trong hội đồng phải chứng tỏ rằng họ muốn chiến đấu". Về điều này, tôi nói thêm: “Có vẻ như thượng hội đồng quốc gia không muốn có đoàn kết. Hội đồng này không muốn chiến đấu chống cộng sản”.

Rồi tôi hỏi đại sứ: “Tại sao đại sứ cho rằng chúng tôi cần phải loại bỏ các tướng lãnh như Minh lớn? Chỉ vì họ có cơ hội mà lại làm không nổi việc”.

Tôi nói, nhóm tướng trẻ đã mất 6 giờ để đi đến quyết định bắt giữ không những một vài thành viên trong Thượng hội đồng quốc gia mà còn bắt cả những lãnh tụ bất hảo của sinh viên, những lãnh tụ của uỷ ban cứu nguy dân tộc mà đa số là cộng sản.


Tôi chậm rãi nói thêm: “Nhưng, chúng tôi không có tham vọng chính trị. Chúng tôi muốn có lực lượng vũ trang hùng mạnh, thống nhất, và ổn định để hậu thuẫn cho cuộc chiến đấu, và một chính phủ ổn định. Quốc trưởng Sửu đồng ý với chúng tôi. Chúng tôi làm những gì phải làm, vì lợi ích của đất nước chúng tôi. Giờ đây, riêng cá nhân tôi, tôi sẵn sàng trở về đơn vị để chiến đấu".


Taylor nói: “Tôi rất kính trọng lòng thành khẩn của quí vị nhưng bây giờ tôi muốn nói đến hậu quả của những điều mà quí vị đã làm”. Rồi, nhìn thẳng vào tôi, ông nói rất chậm rãi: “Trước nhất là ông không thể trở lại đơn vị được đâu, tướng Kỳ ạ. Bây giờ quí vị đã vướng mắc quá nhiều về chính trị rồi. Đây là một cuộc đảo chính quân sự đã làm tiêu tan quá trình hình thành chính phủ mà quân đội đã làm được hồi mùa thu rồi bằng một hành động có tính chính trị được thế giới hết sức ngưỡng mộ”.


Taylor hỏi có người nào trong chúng tôi muốn tham chính và thay thế quốc trưởng Sửu hoặc thủ tướng Hương hay không. Khi tôi trả lời là không và nói thêm rằng người ta sẽ cho đó là một cuộc đảo chính quân sự thì Taylor vặn lại: “Dù sao người ta cũng sẽ nói như thế”. Có ai trong chúng tôi muốn hạ bệ Hương không? Chúng tôi đồng thanh đáp “không”. Chúng tôi có cộng tác với ông ấy không? Chúng tôi lại đáp “không”. Chúng tôi không tranh chấp với Hương-dù cho ông ta hoàn toàn bất lực nhưng chúng tôi tranh chấp chống lại những tác động gây chia rẽ trong lực lượng vũ trang. Quân đội là quan trọng hơn cả, và chúng tôi muốn đoàn kết chứ không muốn âm mưu mờ ám để thăng quan tiến chức.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #13 vào lúc: 04 Tháng Mười, 2008, 06:55:07 am »

Taylor vẫn cứ tiếp tục nói với chúng tôi như là những học sinh lang thang bị bắt gặp đang trộm quả trong một vườn cây ăn trái, ông nói thêm: “Sau vụ này tôi không biết chúng tôi có còn tiếp tục ủng hộ quí vị nữa hay không. Tại sao quí vị không nói trước với bạn bè của quí vị trước khi hành động? Tôi tiếc là phải nói thẳng hôm nay, nhưng chúng tôi có quá nhiều điều đáng lo ngại. Các ông đã đập bể quá nhiều đĩa rồi và bây giờ chúng tôi phải làm cách nào để sắp xếp tình trạng hỗn độn này đây”.


Tôi muốn la lên: “Đó là đĩa bẩn”, nhưng tôi đã thay đổi ý kiến. Khi chúng tôi ra đến xe ô tô thì Thiệu nổi cáu và muốn triệu tập ngay một cuộc họp báo, và sẽ cho thế giới biết cách thức của một ông đại sứ Mỹ đã đối xử với những tướng lãnh cấp cao của Việt Nam như là với những đứa bé đần độn. Tôi đưa ra ý kiến: “Ta không nên làm thế, anh Thiệu à. Việc đó chẳng đưa ta đến đâu hế, chẳng có lợi gì cả. Chúng ta nên tập trung vào cuộc chiến tranh thì hơn”.


Lý do là, trong suốt khoảng thời gian đó, vẫn phải tiến hành chiến tranh và mặc dù Taylor đã nhận xét một cách ngớ ngẩn là tôi không thể trở về đơn vị được, tôi cũng đã tham dự một trận tập kích ném bom ở miền Bắc trong vòng mấy tuần lễ sau cuộc gặp gỡ ê chề của chúng tôi. Khi tôi dẫn đầu một phi tuần máy bay của Nam Việt Nam trong chiến dịch “Flaming Dart I” (Phi tiêu rực lửa I). Đó là chuyến tập kích trả đũa đầu tiên, tiến công Bắc Việt Nam do tổng thống Johnson ra lệnh và xảy ra vào tháng hai 1965.


Từ lâu, người Mỹ đã nghĩ đến việc trả đũa bằng không quân, nhất là vì cuộc chiến tranh tiến triển chậm do sự xáo trộn chính trị ở Sài Gòn gây ra. Khi Việt cộng cài bom ở Brinke, một khu cư xá sĩ quan ở Sài Gòn làm chết 2 người Mỹ và bị thương 58 người, thì hội đồng tham mưu trưởng liên quân Hoa Kỳ đã hối thúc cho trả đũa ngay, nhưng tổng thống đã từ chối không cho phép.


Nhưng khi cộng sản tấn công khu cố vấn quân sự ở Pleiku trên cao nguyên và trại Holloway, một căn cứ trực thăng của Hoa Kỳ ở gần đó, làm chết 9 người Mỹ và bị thương 76 người, tổng thống quyết định phải có một sự “phản ứng thích nghi và phù hợp”. Máy bay của cả Mỹ lẫn Nam Việt Nam đều phải cho cộng sản một bài học hữu ích và mục tiêu được chọn lựa là Đồng Hới, một cơ sở huấn luyện du kích ở phía bắc vĩ tuyến 17.


Một buổi chiều chủ nhật, khoảng trên 12 giờ sau biến cố Pleiku, tôi dẫn đầu phi tuần Nam Việt Nam bay lên không, nhưng khi chúng tôi vượt quá đám mây dầy đặc trên Đồng Hới tôi bắt gặp máy bay Mỹ đã hoạt động cất cánh từ những tàu sân bay Coral Sea và Hancock của hạm đội bẩy.


Cả thảy có 19 chiếc-máy bay A4 Skyhawk và máy bay phản lực F8 Crusader của hải quân Hoa Kỳ-đang nã bom đạn xuống quân cộng sản. Để tránh đụng nhau, tôi phải dẫn phi tuần dđ nơi khác và tìm được một mục tiêu khác trong vùng Vĩnh Linh để ném bom xuống đó, vì dường như không còn chỗ để trừng phạt mục tiêu kia thêm nữa. Sau đó tôi được biết mục tiêu này là bộ chỉ huy của một trung đoàn phòng không, và họ đã bắn rất ác liệt. Trong 24 chiếc máy bay do tôi chỉ huy, chiếc nào cũng bị dính đạn. Chính chiếc máy bay của tôi cũng bị bốn phát đạn bắn trúng, trong đó có một phát sướt qua thân tôi khi tôi đưa tay lên để che mặt theo phản xạ. Tôi tìm ra được viên đạn đó để đem về cho vợ tôi. Trong số các phi công của tôi có hai người bị bắt buộc phải nhảy dù xuống biển. Tất cả các phi công Việt Nam trong cuộc tập kích đó đều là những người tình nguyện.


Dĩ nhiên là việc đó không được Washinton phân nhiệm cho chúng tôi, và hành động của tôi đã tạo ra một ít va chạm giữa Washington và Sài Gòn khi đô đốc Grant Sharp, tư lệnh các lực lượng Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương báo cáo cho hội đồng tham mưu trưởng liên quân. Tôi không phải mất ăn mất ngủ về chuyện đó vì tôi biết rằng tôi có một quyết định hợp lý vào lúc bấy giờ.


Trong bất cứ trường hợp nào cuộc tập kích trả đũa cũng không phải là nhiệm vụ độc nhất, ăn miếng trả miếng như đã được dự tính, bởi vì quân cộng sản lại tiến công doanh trại khác của Hoa Kỳ-ở Qui Nhơn và Johnson ra lệnh mở một cuộc tập kích trả đũa thứ nhìn, “Flaming Dart II”. Thế là việc này trực tiếp dẫn đến “chiến dịch Rolling Thunder” (Sấm rền), chiến sĩ chiến tranh kéo dài bằng không quân của Mỹ.

Ban đầuu Rolling Thunder được dự trù khởi sự vào ngày 20-2-1965 nhưng phải hoãn lại vì tướng Phát tìm cách làm một cuộc đảo chính khác và cũng vì có một sự rắc rối lớn lao đối với tướng Khánh.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #14 vào lúc: 28 Tháng Hai, 2010, 10:09:11 am »

Chương VI
NHÓM TƯỚNG TRẺ CON ĐƯỜNG ĐƯA ĐẾN CHÍNH QUYỀN


Vào đầu năm 1965 ai cũng thấy rõ là thủ tướng Hương đang đưa Việt Nam đi đến chỗ sụp đổ, vì vậy mà đến cuối tháng giêng Hội đồng quân lực (hội đồng này được thành lập để thay thế cho hội đồng quân nhân cách mạng) với sự đoàn kết chặt chẽ hơn kể từ khi Minh lớn ra đi, đã quyết định giải nhiệm thủ tướng Hương. Việc này đã không làm cho ai phải xúc động. Quyết định giải nhiệm Hương đã được Hương chấp nhận một cách hoan hỉ và có lẽ còn được Hương biết ơn nữa là khác (!) và tướng Khánh đã lại lên cầm quyền.


Một việc không may là tướng Khánh đang biến chất. Nếu thực sự quyền lực làm hư hỏng con người thì quyền lực thực sự cũng còn làm cho con người bị mê hoặc nữa. Tất cả chúng ta đều đã thấy Diệm sống trong một thế giới ảo tưởng như thế nào rồi. Lúc ấy đã có dấu hiệu trước mắt là Khánh đang trở nên độc tài hơn. Khánh đã không lạm dụng quyền hành của mình như Diệm trước kia. Khánh đã không làm điều gì sai trái nhưng cũng tệ hại như vậy-Khánh đã chẳng làm được việc gì đúng cả.


Nhóm tướng trẻ lúc bấy giờ chính là quyền lực sau ngai vàng, và chẳng mấy chốc, họ đã thấy cần phải cho Khánh biết là Khánh đang để mất sự ủng hộ của dân chúng và sự kính trọng của quân đôi đối với ông ta.


Không bao lâu sau một phi vụ đánh bom của tôi, tôi đã đến gặp Khánh tại phủ thủ tướng. Tôi có thể đến gặp Khánh bất cứ lúc nào, bởi vì không những tôi là những người bạn cũ-mà giữa chúng tôi đã không bao giờ có bất cứ một sự hiềm khích nào-nhưng cũng bởi vì Khánh nhận thấy là ông ta phải cần đến sự ủng hộ của nhóm tướng trẻ. Chính vì sự ủng hộ này mà tôi đến gặp Khánh để cảnh cáo Khánh. Chúng tôi đã nói chuyện riêng với nhau.


Tôi biết Khánh là một người hoạt động chính trị hết sức thủ đoạn, nhưng đôi khi người ta cũng có thể quá khôn ngoan, và lúc ấy tôi đã nghĩ rằng đó là trường hợp của Khánh. Sự tranh giành gay gắt đã nổ ra giữa Công giáo và Phật giáo, giữa những phe phái chính trị kình địch, và Khánh hình như đã cố ý đổ thêm dầu vào những ngọn lửa bất mãn này. Tôi nói với Khánh: “Đối với bọn thực dân làm như vậy là đúng, họ thích chia rẽ chính trị, nhưng trung tướng không phải là thực dân, trung tướng là thủ tướng của Việt Nam và trung tướng phải làm mọi việc để cho đất nước chúng ta có sự đoàn kết”. Tôi nói thêm: “Trung tướng phải nghe tôi, chúng tôi muốn ủng hộ trung tướng, nhưng nếu trung tướng muốn được sự ủng hộ đó thì xin trung tướng đừng có dùng thủ đoạn chính trị”.


Tôi lại tiến thêm một bước nữa và nói: “Trung tướng phải cứng rắn hơn và phải dùng biện pháp mạnh để chặn đứng các cuộc biểu tình xuống đường vì các cuộc biểu tình này đi ngược lại quyền lợi của Tổ quốc”. Lúc ấy tôi liên tưởng đến một trường hợp, là Khánh đã gởi quân đội đi đàn áp một cuộc biểu tình nhưng lại cấm không cho họ mang súng có nạp đạn. Gởi một người lính không có vũ khí để đàn áp đám đông ngang ngược bất chấp luật pháp thì có ích lợi gì? Tôi đã nói để kết thúc: “Nếu trung tướng không thể cứng rắn hơn thì trung tướng nên từ chức. Nếu không trung tướng sẽ bị cả nước quở trách và con cháu trung tướng phải ô nhục vì trung tướng".


Khi tôi ra đến cửa, Khánh mỉm cười và nói: “Tôi hiểu anh muốn gì anh Kỳ-nhưng anh nên nhớ, anh còn trẻ và đang còn hăng…”.

Tôi đã nhận thấy ngay là Khánh sẽ không làm gì cả. Tôi nói tiếp: “Tôi chỉ nói với trung tướng điều gì chúng tôi đang cảm nghĩ-điều mà đất nước này đang cảm nghĩ mà thôi, chúng tôi còn trẻ nhưng Nhóm tướng Trẻ mới là nhịp đập của trái tim đất nước này”.


Bây giờ nhìn trở lại chuyện ngày trước, tôi có thể thấy được là Khánh đã không bao giờ thực sự tin tưởng là giới trẻ chúng tôi có đủ quyết tâm để bắt buộc bất cứ chính phủ nào làm theo yêu cầu của chúng tôi. Do đó mà Khánh đã không sửa đổi gì cả.


Không bao lâu sau cuộc nói chuyện kể trên, một vài người trong Nhóm tướng Trẻ quyết định là Khánh phải rời khỏi chính quyền. Chính tôi đang chuẩn bị đi xuống khu đồng bằng sông Cửu Long để thăm binh sĩ thuộc quân đoàn IV do Thiệu, trong Nhóm tướng Trẻ của chúng tôi chỉ huy. Khánh có ý định nghỉ đêm tại tổng hành dinh của sư đoàn 9 ở Cần Thơ và tôi đã gọi điện thoại cho Thiệu nói rằng: “Chúng ta phải làm một cái gì. Đất nước đang đi vào chỗ bế tắc. Bây giờ chúng ta được dịp Khánh không có mặt ở thủ đô, chúng ta nên tiến công. Tôi sẽ bay xuống Cần Thơ trong một chiếc máy bay riêng khi Khánh rời Sài Gòn, và chúng ta sẽ đặt kế hoạch bắt giữ Khánh”.


Sau khi bàn luận xong các kế hoạch đảo chính với Thiệu, tôi có nói với ông ta: “Bây giờ tôi sẽ bay về Sài Gòn và nói với các tướng Trẻ khác về kế hoạch của chúng ta. Không nên làm bất cứ việc gì cho đến khi tôi được sự đồng ý của họ. Chừng đó tôi sẽ gọi điện thoại cho anh”.


Tôi đã hết sức ngạc nhiên là các tướng trẻ khác đã không đồng ý. Một số các tướng trẻ cho rằng chúng tôi hành động quá hấp tấp. Và chưa phải lúc để làm một cuộc đảo chính. Vì vậy mà kế hoạch bắt giữ Khánh đã bị huỷ bỏ.


Tuy nhiên, trong vòng mấy ngày số phận của Khánh đã do tướng Phát định đoạt khi tướng Phát mưu toan một cuộc đảo chính khác vào ngày 12 tháng 2. Mặc dù cuộc đảo chính này thất bại, nhưng Khánh đã đủ khôn ngoan để nhận thấy ý nghĩa của những điềm bất thường rồi.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #15 vào lúc: 28 Tháng Hai, 2010, 10:10:06 am »

Vào lúc 11 giờ 30 sáng ngày 19 tháng 2, năm 1965, tôi đang ở nhà đánh mạt chược với sáu phi công khác thì Khánh gọi điện thoại cho tôi và nói: “Tôi nghĩ là đang có chuyện lộn xộn xảy ra, có rất nhiều xe tăng đang di chuyển”.


Tôi nói với mấy phi công của tôi, “các anh trở về phi đoàn lấy máy bay, bay lên xem có chuyện gì xảy ra”. Nhưng khi vừa ra khỏi phòng thì họ đã quay trở lại và báo cáo: “Chúng tôi không thể đi vào các nhà để máy bay được, chỗ nào cũng có xe tăng cả”.
Tôi nhảy lên một chiếc xe díp và lái đi một mình. Ở tại cổng tôi gặp Khánh đi trên xe Mercedes có cắm cờ lệnh. Không có cách nào lái vượt qua các chiếc xe tăng đang tiến về căn cứ không quân, vì vậy mà tôi nói với Khánh nên bỏ xe và đi bộ vượt qua các xe tăng. Không có ai chặn Khánh lại và ông đã chậm rãi đi về phía tôi.


Khánh nói: “Phát hầu như đã làm chủ tình hình ở Sài Gòn rồi, anh có cách nào đưa tôi ra khỏi đây không?” Tôi đáp lại: “Chắc tôi không thể làm được. Mấy phi công của tôi đã không thể cất cánh được. Trung tướng muốn đi đâu?”. “Xuống vùng IV”, Khánh nói. Lúc bấy giờ hình như tôi không nhớ chắc lắm là mẹ của Khánh đang sống trên Đà Lạt. “Bất cứ đi đâu, nhưng chúng ta nên đi khỏi chỗ này”.

Tôi đáp lại: “Thôi được, nếu cần đi thì chúng ta nên đi mau”.

Tôi biết lối đi phía sau của một nhà để máy bay, nơi mà lúc nào cũng có một chiếc máy bay sẵn sàng cất cánh trong trường hợp khẩn cấp. Chúng tôi chạy nhanh đến nơi đó trên chiếc xe díp của tôi, tránh không cho binh sĩ của Phát trông thấy, và các binh sĩ này hình như cũng không tiến sâu hơn nữa vào trong căn cứ không quân.


Tôi giục Khánh lên ngồi trên một ghế hành khách, cho nổ máy và lái máy bay ra phi đạo. Chúng tôi ra phi đạo vào đúng lúc, bởi vì khi tôi nhìn về hướng cuối phi đạo, tôi thấy có 20 chiếc xe tăng đang tiến về phía chúng tôi. Tôi không thể trở lui được nữa, vì vậy mà tôi đã cho chiếc máy bay DC3 đã cũ quay hết tốc lực máy bay chạy nhanh trên phi đạo và cất cánh, hai bánh xe của máy bay lướt sát trên các xe tăng.


Khi máy bay đã lên không rồi, Khánh nhìn như có vẻ thấy dễ chịu hơn. Khánh nói: “Tôi không biết bây giờ phải làm gì, nhưng tôi muốn anh đưa tôi lên Đà Lạt, rồi tôi sẽ để cho anh tự do hành động theo ý anh muốn”. Khánh lặp lại: “Anh được tôi cho toàn quyền để giải quyết vụ này”.


“Được”, tôi nói, “tôi sẽ báo cáo lại với trung tướng". Tôi đáp xuống gần Đà Lạt, để Khánh xuống và bay trở lại hướng nam. Tôi không thể đáp xuống Sài Gòn vì các đơn vị của Phát đang bao vây căn cứ không quân này, và tôi đã bay đi Biên Hoà khoảng 20 dặm về phía bắc. Căn cứ không quân này vẫn còn do chính phủ kiểm soát. Vừa đáp xuống là tôi đã lấy ngay văn phòng của tư lệnh căn cứ-đương nhiên là tạm thời thôi. Việc đầu tiên là tôi triệu tập một buổi họp của hội đồng nội các tại Biên Hoà. Bây giờ nghĩ lại tôi tự hỏi tại sao tôi đã dám làm như vậy. Xét cho cùng, tôi chẳng hề có giấy uỷ quyền của Khánh và Khánh chỉ nói miệng với tôi mà thôi. Một mặt khác, ai cũng biết là Phát đang thực sự kiểm soát Sài Gòn. Thành viên của nội các và các thành viên của Hội đồng quân lực bắt đầu đến Biên Hoà hầu hết bằng đường bộ. Tướng thi từ Đà Nẵng cũng đã bay vào. Khi các thành viên nói trên vào khoảng 40 người họp lại, tôi đã trình bày điều gì đã xảy ra. Ai nấy đều cho rằng biến cố này là một điều bất hạnh nhưng ai nấy đều tỏ ra lo ngại cho tương lai của đất nước nếu Khánh còn cầm quyền.


Tôi đã nhấn mạnh khi nói: “Có một việc mà tôi nghĩ rằng chúng ta không thể làm, đó là lấy một quyết định trọng đại đối với Khánh trong lúc Khánh không có mặt. Đây chỉ là một cách xử sự công bằng. Tôi nghĩ là Khánh phải được để cho có cơ hội để trình bày quan điểm của ông ta”.


Đây là một thái độ đối với vấn đề chính trị và quyền lực, mà tôi luôn luôn nghĩ rằng người ta cần phải có như vậy, và Khánh đã tỏ ra hết sức cảm kích. Tôi đã phái một chiếc máy bay rước Khánh, đã nhận thấy rõ bầu không khí căng thẳng trong phòng họp, khi Khánh gặp lại những người đồng sự của ông ta. Một số đòi Khánh phải từ chức và một số khác phát biểu là Khánh nên tiếp tục ở lại cầm quyền. Khánh đưa tay lau mắt và chỉ nói: “Tôi muốn trở lại Đà Lạt. Tôi xin để cho anh Kỳ và tất cả các vị ở đây quyết định điều gì cần phải làm-hoặc các vị ủng hộ Phát hay tôi. Hay là trong vấn đề này-quí vị ủng hộ bất cứ một người nào khác cũng được!”.


Một cách vội vã, Khánh bước ra khỏi phòng họp. Chiếc máy bay rước Khánh về đang chờ Khánh, và khi tôi một mình cùng đi với Khánh ra phi đạo tôi biết là Khánh đang tự hỏi là câu “bất cứ một người nào khác” có phải là ám chỉ tôi hay không và có thể là tôi đang âm mưu hành động bí mật để giành chính quyền hay không, nếu Khánh có bất cứ sự nghi ngờ nào như vậy thì các sự nghi ngờ đó đều không có cơ sở. Khi chúng tôi bắt tay trước khi Khánh leo lên máy bay, Khánh có nói: “Này anh Kỳ, nếu anh muốn làm chuyện gì, tôi không thể cản anh. Nhưng đừng quá hấp tấp, và cũng đừng quên chúng ta là bạn, đừng quên những lúc vui vẻ chúng ta đã sống chung với nhau”.


Khi tôi trở về phòng họp thì bầu không khí đã hoàn toàn thay đổi vì bây giờ sự có mặt của tướng Khánh đáng tội nghiệp làm cho người ta lúng túng và dè dặt đã không còn nữa. Ai nấy cũng đều đòi hỏi phải có sự thay đổi, nhưng riêng tôi, tôi đã đòi hỏi thêm một việc nữa: sự thay đổi phải được thực hiện trên căn bản pháp lý. Tôi nói: “Quân đội đã làm quá nhiều cuộc đảo chính theo lề lối cũ rồi. Nếu bây giờ chúng ta muốn có bất cứ sự thay đổi nào, thì các sự thay đổi đó phải được thực hiện một cách hợp pháp. Việc đầu tiên mà chúng ta phải làm là trở về Sài Gòn, rồi rước bác sĩ Sửu ở thượng hội đồng quốc gia để thảo ra một sắc lệnh cho phép thực hiện bất cứ sự thay đổi nào”.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #16 vào lúc: 28 Tháng Hai, 2010, 10:10:52 am »

Nhưng trước khi có thể trở về Sài Gòn, chúng tôi phải dẹp được Phát trước đã. Tôi quyết định đe doạ sử dụng sức mạnh của không quân, một lối đe doạ mà trước kia đã tỏ ra có hiệu quả, và tôi sắp sửa tìm cách tiếp xúc với Phát thì, không báo trước, tướng Robert Rowland, cố vấn Hoa Kỳ cạnh không quân Việt Nam đã gọi giây nói cho tôi vào lúc 3 giờ trưa và nói: “Chính phủ của tôi muốn biết là ông có đứng về phía phe nổi loạn hay không?”. Tôi trả lời là không có theo phe nổi loạn và nói tiếp: “Tốt hơn là ông nên nói với mấy người đó hãy rút khỏi tổng hành dinh của tôi ở Sài Gòn. Nói với họ là tôi cho họ bốn tiếng đồng hồ để rút, nghĩa là cho đến 7 giờ chiều hôm nay. Nếu họ không rút ra, tôi sẽ đánh bom khu vực Sài Gòn”.


Việc đánh bom Sài Gòn thực sự gần như đã có thể xảy ra. Đến 6 giờ rưỡi, Rowland lại gọi giây nói cho tôi: “Ông Kỳ, ngay bây giờ đừng làm như vậy. Gạt bỏ tất cả mọi chuyện khác ra, tôi hiện vẫn đang ở tại tổng hành dinh, nếu ông đánh bom tổng hành dinh, ông sẽ đánh bom luôn cả tôi nữa”.


Tôi nói với Rowland là tôi không có cách lựa chọn nào khác. Đến 7 giờ kém 5 phút, Rowland lại gọi giây nói cho tôi: “Giả sử tôi đem Phát và đại tá Thảo-đại tá đi theo phe Phát-đến gặp ông, ông có đảm bảo an toàn cho họ hay không?”.


Đại tá Phạm Ngọc Thảo, một tín đồ công giáo, đã có một lúc làm sĩ quan cho Việt Minh. Tôi đã không gặp Thảo từ trước khi cuộc đảo chính Diệm hồi 1963, nhưng tôi đã biết Thảo có dính líu với Đức và Phát trong một âm mưu đảo chính thất bại trước đó. Thảo là người có cái gì hơi bí mật, đứng phía sau thúc đẩy các tướng lãnh bất mãn.


Tôi chấp nhận và huỷ bỏ lệnh đánh bom tổng hành dinh. Đại tá Fround của quân đội Hoa Kỳ bay với Phát và Thảo lên Biên Hoà. Cuộc đảo chính được chấm dứt sáng hôm sau khi tôi cho máy bay quan sát đi trước một lực lượng gồm có lính nhảy dù và xe tăng, thả truyền đơn xuống các đơn vị của Phát nói rằng: “Đừng chống lại, nếu không tướng Kỳ sẽ cho dội bom các anh”. Sự chống đối đã bị đập tan.


Thảo và Phát bỏ chạy trốn trong các làng công giáo khoảng hai dặm. Thảo đã chết một cách rùng rợn. Khi cảnh sát phát hiện được nơi Thảo ẩn trốn, cảnh sát đã thuyết phục người cận vệ của Thảo, người này thực ra là do cảnh sát trả tiền để báo cáo về Thảo, đến gặp Thảo ở một chỗ hẹn, tại đây Thảo bị người mà Thảo tin cậy này bắn vào cổ và bỏ cho chết tại đó. Nhưng khi cảnh sát đến nơi thì Thảo đã biến mất. Thảo chỉ bị thương qua thôi. Tuy nhiên, hai mươi bốn giờ sau cảnh sát đã tìm thấy Thảo, bắt nhốt Thảo trong khám, và tại đây Thảo đã bị bắn chết theo lệnh của tướng Thiệu. Tôi tin rằng chính Thiệu đã tổ chức cho người cận vệ của Thảo bắn Thảo trước đó. Khi tôi làm thủ tướng, tôi đã ra lệnh ân xá, đưa Phát ra khỏi nơi ẩn trốn. Suốt trong mấy tuần cuối trước khi Sài Gòn sụp đổ, Phát thường hay đến nhà tôi, tỏ ý muốn công tác với tôi để lật đổ Thiệu. Theo tôi biết thì Phát vẫn còn ở Sài Gòn.


Ngày hôm sau khi cuộc đảo chính rầm rộ lúc ban đầu bị dẹp tan, chúng tôi quyết định cách thức phải đối xử với Khánh. Trong nhóm tướng trẻ không có một người nào muốn làm hại Khánh, chúng tôi chỉ muốn Khánh đứng ngoài và tôi đã tìm ra một giải pháp toàn hảo. Chúng tôi bổ nhiệm Khánh làm đại sứ lưu động. Khánh đã được thúc giục lên đường gấp với một lễ tiễn đưa long trọng ở tại sân bay. Tôi đã đích thân lên máy bay để chào từ biệt và chúc Khánh may mắn.


Trong khoảng vài tuần lễ, ở Sài Gòn đã hoàn toàn yên ổn. Sửu vẫn còn là quốc trưởng như cũ và tạm thời chúng tôi cử một thủ tướng dân sự, ông Phan Huy Quát. Không có vấn đề gì xảy ra trong khoảng vài tháng mặc dù có tin đồn là giữa Sửu và Khoát không có sự ăn ý với nhau.


Cuối cùng, ngày 12 tháng 6 vào 8 giờ tối, Quát đã triệu tập vội vã tất cả các tổng trưởng và thành viên của hội đồng quân lực đến họp tại phủ thủ tướng. Tôi nhớ lúc đi vào phòng họp trong khi chờ đợi, tôi đã dùng các thức ăn nguội để trên một bàn dài kê trong góc của phòng họp. Trên một bàn khác có bia và nước ngọt. Theo một số người, thì sự bất hoà giữa Sửu và Quát đã xoay quanh vấn đề giải thích luật pháp và họ đã không bao giờ đồng ý với nhau.


Quát đã than vãn là “thực sự tôi không thể tiếp tục được nữa bởi vì quốc trưởng đã cố ý ngăn cản không để tôi làm bất cứ việc gì”.

Cảm nghĩ của tôi lúc bấy giờ là giữa hai người này chỉ có sự ghét nhau, ghét cay ghét đắng mà thôi và người nọ luôn luôn muốn lấn át người kia thay vì cùng bắt tay nhau để làm việc.

Sửu có mặt tại phiên họp-với phần xác chứ không phải với phần hồn, bởi vì không có một ai có thể bàn luận nghiêm chỉnh với ông già này về bất cứ một vấn đề gì được. Sửu luôn luôn nói lải nhải, giảng thuyết không mạch lạc về nguyên tắc thượng tôn pháp luật và cách xử sự khi làm chính trị. Rốt cuộc bất thình lình, Quát đập mạnh xuống bàn và không có một lời mở đầu nào cả, đã nói một cách cộc cằn: “Tôi xin từ chức. Vì hội đồng quân lực đã chỉ định tôi làm thủ tướng, hôm nay tôi xin giao trả quyền hành thủ tướng lại cho hội đồng quân lực”.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #17 vào lúc: 28 Tháng Hai, 2010, 10:12:01 am »

Chúng tôi đã không nghĩ là việc này hẳn sẽ phải xảy ra. Thông thường các thủ tướng không gọi điện thoại triệu tập hội đồng nội các nhóm họp vào ban đêm, trừ phi có trường hợp khẩn cấp. Trong phiên họp này, chúng tôi đã mất nhiều thì giờ với ông già Sửu lẩm cẩm. Suốt trong mấy tiếng đồng hồ chúng tôi đã không giải quyết được chuyện gì. Theo tôi, nếu chính quyền được giao trả lại cho hội đồng quân lực thì việc này phải được hợp pháp hoá để cho tướng Thiệu, người mà tôi nghĩ rằng sẽ lên làm thủ tướng, có thể được đề cử trên một cơ sở pháp lý vững chắc. Sửu làm chủ tịch thượng hội đồng quốc gia và chúng tôi cần có chữ ký của ông ta để ban hành sắc lệnh cho phép mọi sự thay đổi về mặt nhân sự. Nhưng Sửu vẫn tiếp tục nói về “các sự bất đồng ý kiến mà tôi có thể giải quyết được”. Tôi có cảm tưởng là Sửu đang ở trên mây. Sau cùng, vào khoảng 12 giờ rưỡi khuya, tôi bảo nhỏ với hai viên chức ngồi kế tôi: “Đi sang phòng bên cạnh thảo một bản sắc lệnh về việc Quát muốn trao quyền lại cho hội đồng quân lực, rồi đem vào cho tôi. Cố gắng tìm một máy ghi âm và cùng mang vào đây”.


Trong lúc hai người này đi ra ngoài thảo sắc lệnh, thì Sửu vẫn tiếp tục nói dông dài và đòi hoi gần như là than vãn: “Tại sao ông Quát bạn thân của tôi lại muốn bỏ tôi?”. Trong khi chờ đợi, chúng tôi nhai mấy miếng bách “xăng-duých” cho đến khi hai sĩ quan nói trên trở lại với bản thảo sắc lệnh và chiếc máy ghi âm. Tôi để bản sắc lệnh trước mặt Sửu kế bên máy ghi âm và yêu cầu ông: “Xin quốc trưởng đọc tên tài liệu này. Chúng ta không còn thì giờ để thảo luận nữa”.


Không lưỡng lực, và thực ra với nét mặt dịu đi, Sửu đọc to bản sắc lệnh và tỏ vẻ đồng ý. Một người trong chúng tôi dựt lấy tài liệu, và sau đó, mệt lả người, tất cả chúng tôi đứng dậy ra về.


Vấn đề cử một thủ tướng mới phải chờ đến ngày hôm sau.

Sáng hôm sau, tất cả 50 thành viên cấp cao của hội đồng quân lực-đương nhiên trong số này có nhóm tướng trẻ-và nội các đã họp lại để cử một thủ tướng mới. Chúng tôi quân sự họp tại tổng hành dinh của bộ tư lệnh thuỷ quân lục chiến vì tại đây có một phòng họp chính thức rộng rãi dành cho ban tham mưu đơn vị nhóm họp với những hàng ghế có vải bọc ở trên như kiểu ghế trong các rạp chớp bóng, và ở chỗ kê bục có để một chiếc bàn hình bầu dục lớn. Trung tướng Thiệu, với tư cách là tướng lĩnh cấp cao đã chủ toạ phiên họp, ngồi ở giữa với các tư lệnh quân binh chủng ngồi xung quanh. Không có một ai trong chúng tôi đã có thể tưởng tượng được là chúng tôi sẽ ngồi hai ngày và một đêm tại đó để làm xong công việc chỉ định một vị lãnh đạo mới cho Việt Nam.


Sau khi Thiệu giải thích xong mục đích của phiên họp, tôi đứng dậy với tư cách là người lãnh đạo được công nhận của nhóm tướng trẻ, và nói: “Tôi đề nghị chúng ta nên cử trung tướng Thiệu”. Bởi vì xét cho cùng, Thiệu là một sĩ quan cấp cao, và tôi nghĩ là tướng Thiệu sẽ dễ dàng chiếm được đủ số thăm cần thiết.


Việc tướng Thiệu cảm ơn tôi và thẳng thắn từ chối không ra ứng cử, đã làm cho tôi ngạc nhiên.

Lẽ dĩ nhiên, vào lúc ấy-theo thói thường của bản chất con người trong phòng họp đã nổi lên lời kêu gọi “chúng tôi cần trung tướng" và “xin trung tướng đừng từ chối”. Chắc chắn là trong số những người đứng ra kêu gọi này có nhiều người trước đó đã có thái độ lừng chừng và đã nghĩ rằng Thiệu chưa đáng được đề cử, nhưng bây giờ lại đi theo chiều gió. Trong suốt hơn một giờ đồng hồ, chúng tôi cố gắng thuyết phục Thiệu ra ứng cử. Lúc bấy giờ chúng tôi nghĩ rằng Thiệu sẽ là một lãnh đạo tốt cho đất nước, nhưng Thiệu đã không thay đổi ý kiến. Thiệu nói là Thiệu không muốn lãnh trách nhiệm. Đây là một lời nói mà không bao giờ tôi quên được trong mấy năm về sau này.


Chúng tôi nghỉ để ăn trưa với bánh “xăng-duých” và uống bia hoặc nước ngọt Hoa Kỳ, và khi chúng tôi tái nhóm lại, tôi đã đề cử tướng Có. Có cũng từ chối và sự từ chối của Có đã đưa đến một sự tranh cãi và đưa ra nhiều lý lẽ trong nhiều tiếng đồng hồ. Sau cùng, mệt lả người, chúng tôi quyết định tạm đình phiên họp vào khoảng 10 giờ đêm để tái nhóm lại sáng hôm sau. Giường ngủ đã có sẵn tại đây và chúng tôi đã dùng cơm tối ở tại câu lạc bộ sĩ quan.


Sáng hôm sau, bất thần tôi thoáng có một ý kiến mới. Tôi đã nói “Tôi xin đề cử thiếu tướng Thi”.

Thiếu tướng Thi lúc bấy giờ là tư lệnh quân đoàn I, đã nổi tiếng là một chiến sĩ nhảy dù gan dạ-một chiến sĩ hiếu động luôn luôn cùng nhảy chung với binh sĩ của mình-và Thi lúc nào cũng thích được mọi người chú ý đến.


Từ các lời bình luận của Thi, tôi đã nhận thấy Thi cũng tự cho mình là người biết ít nhiều về hoạt động chính trị phải như thế nào. Và lúc ấy tôi đã nói ra điều đó. Tôi lại nói thêm: “Xét cho cùng, hình thiếu tướng là người có đủ điều kiện để lãnh đạo. Thiếu tướng có ý thích chính trị nhiều hơn hầu hết các tướng lĩnh khác và thiếu tướng khoái được nổi tiếng”.


Nhưng Thi không phải chỉ nói từ chối một lần mà lại còn kêu to: “Không, không, không, không bao giờ”.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #18 vào lúc: 28 Tháng Hai, 2010, 10:13:07 am »

Đối với tôi, hai ngày được nghe những lời “không, không, không” đó, tôi vẫn còn không thể tưởng tượng được nổi điều đó, mặc dù là chính trong những năm khó khăn ấy, báo chí quốc tế đã phần nào tạo ra một nguồn dư luận tiêu cực đối với chức vụ thủ tướng ở Việt Nam. Bất kỳ người nào nhận lãnh chức vụ này là tức khắc đã đặt mình trước búa rìu dư luận, và có thể bị mọi phe pháo chống đối. Khi một người nào nhận làm thủ tướng trong những ngày hỗn loạn lúc bấy giờ thì người đó không những chỉ có thể bị lật đổ một cách nhục nhã mà còn có nguy cơ bị ám sát nữa. Có lẽ điều này đã lảng vảng trong đầu của nhiều người suốt trong hai ngày họp thực khó tin ấy.


Tôi xin nói một cách thành thực là lúc bấy giờ không khi nào trong đầu tôi có ý tưởng là tôi có điều kiện thích hợp để được đề cử. Chúng tôi cần có một chính phủ quân nhân để thay thế Quát và Sửu, nhưng trong lúc bộ binh và hải quân tổng cộng cả trăm nghìn người, thì không quân trong lúc đó chỉ có khoảng 30.000 người. Đây là đoàn chim non có lẽ đã bay được, nhưng vẫn còn bé bỏng so với các đàn anh trong quân đội.


Rồi sau khi chúng tôi nghỉ giải lao lại uống cà phê, thì một sự việc đột xuất đã bùng nổ. Trong một góc phòng họp, tôi thấy Thiệu, Có và Thi đang nghiêm chỉnh thảo luận, sau đó Thiệu bước về  phía tôi đứng trong hành lang và nói thẳng với tôi: “Kỳ, tại sao anh không nhận thủ tướng? Không có ai chịu nhận, không có ai dám đứng ra nhận cả”.


“Tôi nghĩ rằng trung tướng Thiệu nên nhận làm thủ tướng”, tôi đã nói như vậy với giọng nài nỉ, “nếu trung tướng không nhận thì tôi biết việc gì sẽ xảy ra. Nếu cuộc họp đáng buồn cười này của chúng ta mà kéo dài thêm một vài tiếng đồng hồ nữa, thì chắc là chính quyền sẽ lọt ra khỏi tay của quân đội”.


Thiệu nói: “Chúng ta phải giải quyết việc này cho xong”. Tôi liền nói tiếp: “Nếu trung tướng là một tổng trưởng dân sự trong chính phủ, trung tướng sẽ nghĩ thế nào về việc ở trên ghế giới này lại có một quân đội không có khả năng để quyết định xem ai nên đứng ra lãnh đạo họ? Tôi có thể tưởng tượng được dân chúng đang suy nghĩ như thế nào, “một quân đội như thế thì làm sao đưa chúng ta đến chiến thắng được?” Chúng ta được giao cho cơ hội để sử dụng quyền lực. Giới dân sự đã làm cho tình hình rối beng. Vì vậy mà tôi nghĩ rằng cho đến khi có điều kiện thành lập một chính phủ dân sự, chúng ta cần có một người hùng-một quân nhân”.


“Yêu cầu anh Kỳ đứng ra thành lập chính phủ", Thiệu nói với giọng van nài.

Tôi vẫn còn do dự. Thực ra, lúc bấy giờ tôi không biết gì về chính trị, tôi chỉ biết là tôi đã tin tưởng ở đất nước của tôi.

Cuối cùng tôi có nói: “Bằng mọi cách, quân đội chúng ta phải thành lập một chính phủ càng sớm càng tốt. Nếu không có ai khác dám đứng ra nhận lãnh trách nhiệm, và nếu tất cả các anh thực sự có đủ sự tín nghiệm nơi tôi, thì tôi xin sẵn sàng nhận lãnh cũng như tôi luôn luôn đã nhận lãnh bất cứ công tác nào-ngay cả công tác khó khăn nhất-mà quân đội đã giao cho tôi”.


Chúng tôi tái nhóm lại, Thiệu đề cử tôi làm thủ tướng, và toàn thể hội đồng đã hoan hô. Tôi đã được toàn thể hội nghị “đứng dậy vỗ tay hoan hô” đúng như lối nói của người phương Tây nói như vậy.


Tôi vẫn còn muốn biết thật chắc chắn là không có ai chịu nhận đứng ra thành lập chính phủ và tôi đã đứng lên một lần nữa trước mặt các sĩ quan nhóm họp và hỏi: “Nếu các vị nào muốn đứng ra thành lập chính phủ, thì xin nói lên, tôi sẵn sàng nhường lại!” Lúc bấy giờ họp đã đồng thanh nói: “Không”.


Đến giờ phút này tất nhiên là tôi không có kế hoạch gì sẵn cả. Tôi tin mạnh mẽ vào số phận của mình, nhưng tôi đã không bao giờ tưởng tượng được là có ngày như hôm ấy, cho nên tôi đã không có chương trình dài hạn nào, như thông thường những kẻ âm mưu đã chuẩn bị sẵn trước.


Tất cả những gì tôi có thể nói trong bài diễn văn nhận lãnh trách nhiệm thành lập chính phủ chỉ là tôi đã lấy làm hãnh diện về danh dự to lớn dành cho tôi với tư cách là thành viên của hội đồng quân lực chứ không phải với tư cách của một người hoạt động chính trị. Tôi đã nói với hội nghị là tôi không ở trong bất cứ đảng phái chính trị nào. Chỉ có một việc mà tôi đã ý thức rõ là tôi không muốn giữ tất cả các quyền bính cho riêng tôi và tôi hy vọng là có thể thành lập nhanh chóng một chính phủ, và chính phủ này sẽ làm việc trong tinh thần đồng đội để cho mỗi thành viên của chính phủ đều cảm thấy được là mình có tham dự chung vào vấn đề lấy mọi quyết định. Rồi tôi đưa ra thêm một điều kiện: “Tôi sẽ phải xin phép vợ tôi đã”.


Phản ứng đầu tiên của vợ tôi là “không được”. Lúc ấy chúng tôi là một cặp vợ chồng trẻ, chúng tôi không muốn dính líu đến các mưu đồ chính trị. Tuy nhiên, sau khi tôi giải thích cho vợ tôi nghe các sự việc đã xảy ra, vợ tôi đã hiểu và đồng ý với việc tôi quyết định đứng ra thành lập chính phủ. Ngày hôm sau, tôi trở lại phòng họp của hội đồng quân lực để xác nhận quyết định của tôi.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #19 vào lúc: 28 Tháng Hai, 2010, 10:17:14 am »

Chương VII
Tôi làm Thủ tướng: Ba ngày của tôi với Johnson


Trong những ngày cuồng nhiệt của nhóm tướng trẻ, tôi không chỉ dính líu vào những cuộc đảo chính và bận bịu với công cuộc tác chiến của không quân mà tôi còn đem lòng thương một người nữa. Cuộc hôn nhân đầu tiên của tôi với một phụ nữ Pháp-và chúng tôi đã có 5 đứa con với nhau-đã kết thúc bằng sự ly thân và tiếp theo đó chúng tôi đã ly dị. Sau khi ly dị với vợ tôi, theo lời của một nhà báo, tôi đã hưởng được “hai năm hết sức sôi động của một người có số đào hoa”.


Có lẽ tôi không cần phải đính chính là sự nhận xét trên đã được phóng đại như thế nào và thực ra tôi cũng đã vui chơi nhiều và thoải mái trong lúc bấy giờ bởi vì tất cả chúng tôi đều không biết sống chết ngày nào và cần phải sống vội khi mình được sống. Nhưng trong năm 1964 tôi có đi trên một chuyến bay của Hàng không Việt Nam để viếng thăm chính thức Băng-cốc. Chiêu đãi viên trên chuyến bay này là một cô gái 20 tuổi, với một sắc đẹp cổ kính nhất mà tôi chưa thấy bao giờ.


Nàng tên là Đặng Tuyết Mai và tôi đã thuyết phục mời được nàng đi dùng cơm với tôi chiều hôm đó. Qua sáng hôm sau, biết được nàng sẽ rời Băng Cốc sớm trong chuyến bay trở về Việt Nam, tôi cảm thấy là phải đến chào từ giã nàng. Nhưng thông thường đàn ông Việt Nam không được đột nhập vào phòng ngủ đàn bà lúc 6 giờ sáng. Tuy nhiên tôi cũng đã tìm ra được cách để vào phòng nàng. Tôi đã mặc xong bộ quân phục thiếu tướng không quân màu trắng có hồ bột cứng sẵn sàng để đi dự cuộc diễu hành chính thức, sau đó tôi kín đáo đứng chờ người phục dịch khách sạn mang điểm tâm lên phòng nàng và tôi dúi cho người này mấy đồng bạt (tiền Thái Lan) và tôi đã bưng mâm điểm tâm đến gõ nhẹ nhẹ cửa phòng của Mai. Nàng đang đứng nhìn ra ngoài cửa sổ và gần như là không ngó đến tôi khi nàng bảo để mâm điểm tâm xuống bàn. Sau này nàng nói với tôi là lúc bấy giờ nàng đang tìm cách để nhìn tôi trên đường tôi đi đến dự cuộc diễu hành!


Khi chúng tôi quyết định kết hôn với nhau, tôi đã mua cho nàng một chiếc nhẫn trị giá khoảng 12 đôla và Hương, lúc bấy giờ còn là thủ tướng đã gửi đến chúng tôi một quà mừng đám cưới sang trọng là 200.000 đồng, số tiền này đã hết sức tiện lợi cho tôi để trang trải phí tổn tiệc cưới tại nhà hàng Caraven mà “ai ai” cũng đều được mời dự-không chỉ có Khánh và Hương mà có cả ngoại giao đoàn và tất cả bạn bè thân thiết của tôi trong không quân.


Khánh đã cho tôi một món quà lộng lẫy-một chiếc xe Pho Phan-cong (Ford Falcon) cũ, kiểu năm 1960 mà Khánh không dùng nữa vì Khánh đã có một chiếc xe hơi khác của nhà nước. Đây là chiếc xe hơi đầu tiên mà tôi được làm chủ từ trước đến giờ, mãi cho đến lúc đó tôi chỉ luôn luôn lái chiếc xe gíp của quân đội cấp cho và tôi đã gìn giữ quí mến chiếc xe díp này cho đến ngày chế độ Sài Gòn sụp đổ.


Khi tôi lên làm thủ tướng, chúng tôi quyết định tiếp tục ở trong căn cứ không quân như cũ mặc dù ban an ninh đã cơ nài xây dựng mọt bức tường chung quanh khu vườn có chúng tôi và cho người canh gác 24 tiếng đồng trên 24 tiếng. Bởi vì người nào muốn vào căn cứ đều phải có giấy thông hành của căn cứ cấp phát cho nên chúng tôi cảm thấy sự an toàn của chúng tôi được bảo đảm đầy đủ.


Thay vì di chuyển đến ở công thự dành cho thủ tướng, một nhà lầu ba tầng cách dinh tổng thống khoảng một dặm, tôi đã dùng nơi này làm văn phòng của tôi, tại đây có sẵn bếp, người phục dịch và phòng ngủ và tôi có thể chiêu đãi hoặc ngủ tại khi công vụ bề bộn tôi phải làm việc trễ-và tình trạng này đã thường xảy ra trong những ngày sôi dộng lúc bấy giờ. Tôi làm việc trong một văn phòng rộng trên một bàn giấy lớn đẹp, trong phòng này có ghế bành êm ái cho khách ngồi thoải mái, một cái bàn để họp và có cả một tủ lạnh. Trên tường có trang hoàng ảnh cỡ lớn của các nhà lãnh đạo trên thế giới.


Khi chính phủ tôi bắt tay vào việc, tôi phải thú thật là tôi đã thấy bỡ ngỡ lúc đầu, ấy vậy mà chẳng có một âm mưu đảo chính nào để lật đổ tôi hoặc một sự chống đối ầm ĩ nào cả. Có thể nào lại xảy ra trường hợp người không chuyên nghiệp đã thành công trong việc mà người lành nghề đã bị thất bại chăng? Trường hợp của tôi hình như là như vậy, bởi vì sau khi tôi làm thủ tướng được một tháng thì Thiệu lúc bấy giờ là quốc trưởng, đã nói với tôi: “Chúng ta phải tổ chức một buổi lễ liên hoan”.


Tôi hỏi lý do tại sao thì Thiệu đã nói: “Chính phủ của anh đã tồn tại được một tháng rồi”. Thực sự là chúng tôi đã tồn tại. Và bắt đầu từ đó cứ mỗi tháng, tháng này qua tháng kia, tất cả các đồng sự chúng tôi đều đã tổ chức lễ liên hoan.


Tôi cũng đã bị quấy rầy vì một bài tường thuật cho rằng tôi đã nói là chúng tôi cần có một Hít-le (Hitler) ở Việt Nam. Đại sứ Anh ở Sài Gòn lúc bấy giờ đến gặp tôi và cho tôi biết là nhóm thành viên thuộc cánh tả của Quốc hội Anh đã ngăn chặn lại các cố gắng nhằm giúp đỡ Việt Nam bởi vì nhóm thành viên này của Quốc hội Anh đã cho rằng tôi là một người ái mộ Hít-le.


“Này, thưa ông đại sứ”, tôi đã nói lại: “Tôi đã không bao giờ nói là tôi ái một Hít-le. Tất cả những gì tôi có thể nhớ về câu chuyện rắc rối này là lúc tôi còn là tư lệnh không quân và trong khi tán gẫu với vài người viết báo Hoa Kỳ, tôi đã nói với họ là ở miền Nam Việt Nam, chúng tôi hết sức cần có một sự lãnh đoạ mạnh. Tôi đã viện dẫn trường hợp của một nước Đức yếu kém đã được Hít-le biến thành một đại cường quốc. Ngay trong vấn đề lãnh đạo mạnh này, tôi cũng có thể viện dẫn một cách dễ dàng trường hợp ông Hồ Chí Minh và nếu viện dẫn như vậy tôi cũng sẽ bị chỉ trích không kém gì khi tôi viện dẫn trường hợp của Hít-le. Tôi ghê tởm cách thức mà Hít-le đã sử dụng quyền lực và tôi đã không bao giờ xem Hít-le như là một vị anh hùng".
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


Trang: « 1 2 3 4 5 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM