Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 11:56:10 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Một số hình ảnh và thông tin về bảo vệ chủ quyền Việt Nam trên biển  (Đọc 403531 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chiangshan
Thành viên
*
Bài viết: 3405


No sacrifice, no victory


WWW
« Trả lời #110 vào lúc: 26 Tháng Sáu, 2009, 05:26:23 pm »

Kỳ 3: Đương đầu cùng bão biển

TT - Không chỉ nhà giàn bị sập, có cả những con sóng lớn khiến tàu trực khu vực DK1 cũng bị chìm. Nhớ lại những ngày tháng ấy, những nhân chứng của DK1 mà chúng tôi gặp lại hôm nay đều không khỏi ngậm ngùi.



Đô đốc, tư lệnh hải quân Giáp Văn Cương (thứ hai từ trái sang) ra thăm và động viên chiến sĩ nhà giàn Ba Kè A năm 1989. Đây là thời kỳ gian khổ nhất đối với lính biển DK1. Và chỉ hơn một năm sau, nhà giàn này bị đánh sập - Ảnh tư liệu lữ đoàn 171

Những liệt sĩ đầu tiên của DK1

Ở nhà truyền thống của đoàn M71 có một hiện vật nhỏ nhưng nếu ai biết rõ lai lịch sẽ thấu hiểu sự hi sinh của người lính DK1 những ngày đầu. Đấy là tấm thẻ đảng viên của liệt sĩ Trần Hữu Quảng. Hôm diễn ra lễ tưởng niệm ở thềm lục địa, tên của anh được đại tá Đinh Gia Thật, phó chủ nhiệm chính trị quân chủng hải quân, nhắc đến đầu tiên: “Đó là sự hi sinh cao đẹp của trung úy Trần Hữu Quảng - chính trị viên nhà giàn DK1/3 Phúc Tần. Khi nhà bị đổ, anh đã cùng đồng đội bơi nhiều ngày trên biển. Trong lúc sóng to, gió lớn, anh đã nhường chiếc phao cá nhân và miếng lương khô cuối cùng cho người chiến sĩ yếu nhất và đã hi sinh ngày 5-12-1990”.

Anh Bùi Xuân Bổng - lúc bấy giờ là trung úy trạm trưởng DK1/3 - nhớ lại: Lúc đó khoảng 23g30 đêm 4-12, sóng mỗi lúc một mạnh dần, mặt biển đen ngòm. Sóng ập vào nhà giàn ngày càng dữ dội. Nhà nghiêng dần, nghiêng dần. Mọi vật dụng trên nhà bị xô lệch từ góc này sang góc khác. Chính trị viên Trần Hữu Quảng lệnh cho anh em mặc áo phao, sẵn sàng rời đi khi nhà giàn đổ. Nhưng áo phao chỉ còn năm cái trong khi anh em gồm tám người, những cái còn lại do lâu nay ngấm nước biển đã bị bục. Phao cứu sinh khi bơm hơi vào bị nổ, phao bè vốn làm bằng xốp độn bên trong vỏ nhôm, vừa thả xuống đã bị sóng đánh vỡ.

Khoảng 2g sáng, những trận sóng cao ngút trùm lên tận mái rồi phủ xuống khiến nhà giàn sụp hẳn. Tất cả anh em đồng loạt nhảy khỏi giàn, lao xuống những con sóng đang quăng quật dữ dội. Anh Bổng đã không còn áo phao nhưng may mắn vớ được một mảnh phao bè. Đêm mịt mùng, không nhìn thấy bóng ai, sóng biển át cả tiếng gào tên nhau của anh em, giục nhau nương theo dòng chảy ra phía nước sâu, chỗ ấy sóng êm hơn. Mảnh phao bè bị vỡ ra mà anh Bổng vớ được đã kịp được anh lao tới cho hai đồng đội là Phạm Xuân Quỳnh và Hồ Thế Công lúc đó đã đuối sức cùng bám vào.

Chiếc áo phao của anh Quỳnh bị sóng đánh rách mất một nửa. Anh Công bị say sóng sặc nước, chuẩn bị buông tay rời bè, anh Bổng phải xé vải áo buộc chặt anh Công vào mảnh phao. Dầm mình trong sóng biển thét gào từ mờ sáng cho đến suốt một ngày 5-12, nhìn xung quanh không có thêm đồng đội nào. Cũng chính trong đêm ấy, sở chỉ huy đã điều một biên đội với ba tàu lập tức tiếp cận khu vực nhà giàn bị sập để tìm kiếm anh em. Anh Bổng kể khi cả ba anh em đang bám vào phao bè suốt một ngày lênh đênh như thế, ai cũng động viên nhau cố sức bám trụ, thế nào cũng có tàu đến cứu. Tuy nhiên với sóng gió dữ dằn, lại ngâm mình trong nước biển suốt ngày, anh em đều đuối sức.

May sao, chừng 17g ngày 5-12, tàu cứu hộ HQ 711 đã phát hiện mảnh phao có ba anh em Bổng, Quỳnh, Công và tìm thấy anh Báu đang trên một mảnh phao khác. Đến 18g thì gặp anh Lê Văn Trung đang bám vào một phuy nhớt rỗng. Biên đội tàu quần đảo thêm mấy ngày trên vùng biển nhưng không thể tìm thấy Trần Hữu Quảng - chỉ huy phó chính trị, trung sĩ cơ điện Hồ Văn Hiền và trung úy quân y sĩ Trần Văn Là. Cả ba anh là những người lính đầu tiên hi sinh ở nhà giàn DK1.

Đêm “cúng ông Táo” không quên

Đúng một tháng sau đó, ngày 4-1-1991, con tàu HQ 666 trong chuyến đi trực khu vực DK1 lại bị bão đánh chìm. Và biển thềm lục địa lại ôm vào lòng hai người lính hải quân quả cảm.

Thượng tá Hoàng Văn Tuyên nay là lữ đoàn phó lữ đoàn 171, còn trong trận bão nhấn chìm con tàu HQ 666 năm 1991 là thuyền trưởng. Đó là chuyến đi trực tết ở khu vực bãi Tư Chính. Tàu vừa ra điểm trực được hơn ba tuần thì đã áp tết. Khuya 22 tháng chạp, chỉ vài giờ nữa là ông Táo về trời, anh em trên tàu HQ 666 dù sóng to gió lớn vẫn phấn khởi mổ heo để cúng như phong tục ở đất liền. Heo vừa mổ xong để ở boong tàu thì bất ngờ biển động mạnh, con tàu nhồi lắc dữ dội.

Thuyền trưởng Hoàng Văn Tuyên chuẩn bị đối phó với tình huống xấu nhất. Nhưng con tàu quá bé nhỏ so với những cột sóng cao hàng chục mét, đến 3g sáng thì tàu bị đánh lật nghiêng. Anh em trên tàu thả phao và rời tàu, tất cả đều bám được vào phao bè. Riêng thuyền phó quân sự Phạm Tảo là ngươi bơi rất giỏi đã kịp nhoài theo vừa bơi vừa cõng máy trưởng Lê Tiến Cường bơi yếu hơn. Nhà giàn lô Tư Chính vẫn có thể nhìn thấy mờ mờ trên sóng biển, với sức khỏe của mình anh Tảo nghĩ đủ sức dìu đồng đội bơi về phía đó, nhưng những cột sóng đã đánh lừa tầm mắt anh. Cuối cùng một “rái cá” như anh Tảo cũng đành chịu thua bão tố, nỗ lực dìu đồng đội của anh cũng không thoát khỏi sự dữ dội của biển cả.

Khi biên đội tàu cứu hộ đến cứu được toàn bộ thủy thủ đoàn, máy trưởng Lê Tiến Cường đã chìm vào lòng biển. Tàu HQ 713 tìm thấy duy nhất thi thể của anh Tảo, cũng chính trên tàu HQ 713 này anh Tảo đã làm thuyền phó trước khi về tàu HQ 666. Câu chuyện kể lại sau 18 năm phải dừng lại mấy lần bởi thượng tá Tuyên cố nén những cảm xúc làm anh nghẹn lại. Anh bảo: “Quê anh Tảo ở Quảng Bình, nhà báo nếu có điều kiện thì ghé ra đó sẽ hiểu thêm, anh Tảo hi sinh nhưng hoàn cảnh gia đình tội nghiệp lắm”.

Nghe câu chuyện về những người lính đã hi sinh trên thềm lục địa, mới hay sự hi sinh của các anh lớn hơn rất nhiều những điều mà chúng tôi chỉ nghe kể ngắn gọn trong những biên niên sử của đơn vị này.

LÊ ĐỨC DỤC - BÙI THANH

Chúng tôi đã về xã Quảng Phú (Quảng Trạch, Quảng Bình), những điều biết thêm về liệt sĩ thượng úy thuyền phó quân sự Phạm Tảo càng khiến chúng tôi thương quý anh hơn. Mẹ anh Tảo mất năm 1972 vì bom Mỹ khi anh lên 6 tuổi. Mười ngày sau khi mẹ anh mất, hai người em của anh cũng chết vì bom bi.



Chị dâu của liệt sĩ Phạm Tảo bên tấm bằng “Tổ quốc ghi công” của anh trên bàn thờ đơn sơ - Ảnh: Lam Giang

Ba của anh không chịu được nỗi đau quá lớn đó nên ngã bệnh thần kinh nằm liệt. Anh Tảo được người anh ruột là Phạm Văn Khất và chị dâu là Phạm Thị Hiền đưa về nuôi nấng từ đó. Khi đó, anh Khất đang là bộ đội chiến đấu tại chiến trường miền Nam, chị dâu phải tần tảo làm ăn nuôi anh Tảo lớn khôn. Học hết cấp III, anh Tảo nhập ngũ vào hải quân rồi được đưa đi học sĩ quan hoa tiêu. Năm 1984, anh được anh chị cưới cho cô vợ là người cùng làng, nhưng được hơn một năm thì người vợ này bỏ anh đi lấy chồng khác, hai người chưa có con với nhau.

Chị Phạm Thị Hiền ngậm ngùi: “Bị vợ bỏ, mỗi lần chú nớ về nghỉ phép anh chị thấy chú lủi thủi nên rất thương. Tui bảo là để tìm cho một đám khác, trước là có người chung lưng lo cho cuộc sống gia đình, sau nữa là kiếm đứa con cho vui cửa vui nhà. Mỗi lần nghe tui nói rứa là chú Tảo cứ giả lảng, nói đang phải lo công tác”. Anh Khất buồn buồn kể thêm: “Chú Tảo cứ nói chờ ra quân rồi lấy vợ luôn để tiện chăm lo gia đình một thể. Rứa rồi chú hi sinh”.

L.G. - Đ.D.
Logged

Dân ta phải biết sử ta
Cái gì không biết cần tra Gúc gồ
chiangshan
Thành viên
*
Bài viết: 3405


No sacrifice, no victory


WWW
« Trả lời #111 vào lúc: 26 Tháng Sáu, 2009, 05:27:37 pm »

Kỳ 4: Đêm xé lòng: 2A đâu? 2A...



Chiến sĩ báo vụ Hoàng Xuân Thủy, người nói lời cuối cùng với đất liền từ nhà  giàn Phúc Nguyên 2A 11 năm trước, vẫn còn nhớ như in “khúc bi tráng 2A” thuở ấy- Ảnh: Mai Thắng

TT - Cho đến bây giờ, những người lính biển lữ đoàn 171 vẫn không quên được những gì đã xảy ra với đồng đội của họ trên nhà giàn Phúc Nguyên 2A hơn 10 năm trước: bão tố đã đánh sập nhà giàn giữa đêm khuya, chín chiến sĩ bị cuốn vào sóng dữ.


Ngày 12-12-1998. Cơn bão Faith đang quét qua vùng biển DK1, nơi có hàng trăm chiến sĩ hải quân lữ đoàn 171 đang đồn trú trên những nhà giàn chênh vênh giữa trùng khơi. Trong khi hàng ngàn tàu cá của ngư dân đã vào bờ trú ẩn an toàn thì ở các căn cứ hải quân Hải Phòng, Cam Ranh, Vũng Tàu, mọi người bắt đầu lo lắng về các nhà giàn, cho tính mạng đồng đội. Đó thật sự là một cuộc chiến.

Lệnh báo động từ sở chỉ huy: tất cả các nhà giàn chuẩn bị tinh thần, sẵn sàng đối phó với sóng gió và tình trạng rung lắc mạnh của các nhà giàn, đề phòng tình huống xấu nhất xảy ra khi nhà giàn bị đổ. Cùng lúc đó, tất cả tàu hải quân có mặt ở khu vực được lệnh nhanh chóng về Côn Đảo tránh bão. Hệ thống thông tin của sở chỉ huy quân chủng, lữ đoàn M71, tất cả các tàu, nhà giàn đều cùng một kênh liên lạc theo quy định. Do vậy, từ tàu HQ 606, thiếu tá Nguyễn Văn Tôn đã nghe được hết “khúc bi tráng 2A” và ghi vào nhật ký của mình. Anh nhớ lại:

...Gió bắt đầu mạnh lên, sóng bạc đầu trắng xóa mặt biển. Lúc 1g30, qua hệ thống thông tin trên tàu HQ 606, chúng tôi nghe được nội dung báo cáo khẩn cấp từ nhà giàn 2A về sở chỉ huy quân chủng: “47 Đà - Lạt 01... 47 Đà - Lạt 01. Báo cáo sóng gió quá lớn, nhà 2A hiện nay đã bị nghiêng, có khả năng sẽ sụp đổ. Trên nhà giàn anh em vẫn bình tĩnh…”. Trên máy sở chỉ huy (Hải Phòng), chúng tôi nghe rất rõ tiếng của trưởng phòng tác chiến quân chủng: “Các đồng chí hãy bình tĩnh, nếu trường hợp xấu nhất nhà đổ thì đã có tàu của ta sẵn sàng vớt, các đồng chí yên tâm!”.

Máy thông tin từ nhà giàn 2A liên tục phát ra giọng nói của chiến sĩ báo vụ Hoàng Xuân Thủy, thông báo nhà giàn đang nghiêng dần: 10 độ, 15 độ... Anh em trên tàu HQ 606 chúng tôi vô cùng hồi hộp và lo lắng, không biết nhà 2A có thể chịu đựng đến mức nào. Sóng gió càng lúc càng mạnh, tính mạng đồng đội đang vô cùng nguy hiểm. Rồi giọng Hoàng Xuân Thủy gào lên trong tiếng rít của gió bão: “Báo cáo sở chỉ huy, sóng gió hiện nay mạnh cấp 9, cấp 10, giật trên cấp 10, chắc nhà 2A sẽ đổ trong chốc lát...”.

Giọng chỉ đạo của trưởng phòng tác chiến vẫn rõ ràng, dứt khoát, nhưng bắt đầu không giấu nổi cảm xúc. Rồi đột nhiên, chúng tôi nghe tiếng của chị Vân báo vụ và trưởng phòng tác chiến gọi dồn dập trên máy: “Quân chủng gọi nhà 2A. 2A nghe tốt trả lời. Quân chủng gọi nhà 2A…2A…2A đâu?...”. Nhưng tất cả chìm trong im lặng. Chúng tôi và những đồng đội đang trên biển đều nghĩ rằng nhà giàn 2A đã bị bão đánh đổ.

Bỗng, đến 2g30 phút cùng ngày, tiếng chiến sĩ báo vụ Hoàng Xuân Thủy đột ngột vang lên: “2A gọi sở chỉ huy… 2A gọi sở chỉ huy…”. Tất cả anh em chúng tôi trên tàu HQ 606 không ai bảo ai, đồng loạt hô lên: “2A chưa đổ! 2A chưa đổ! Thật tuyệt vời!”. Nhưng niềm vui không kéo dài. Tiếng Hoàng Xuân Thủy lại vang lên trong máy: “Báo cáo sở chỉ huy, nhà 2A mất liên lạc là do nhà nghiêng quá, hệ thống ăngten bị đổ. Hiện nay nhà đã nghiêng dữ dội, chắc chỉ trụ được năm bảy phút nữa. Vũ khí, tài liệu đã được anh em gói cẩn thận. Anh em chuẩn bị rời nhà khẩn cấp”. Tiếng chị Vân từ sở chỉ huy bên kia máy đáp gọn gàng: “Sở chỉ huy nhận đủ!”.

Bỗng nhiên chúng tôi nghe Hoàng Xuân Thủy nói đầy xúc động: “Sở chỉ huy cho anh em nhà 2A gửi lời chúc tết đến thủ trưởng quân chủng, lữ đoàn, gửi lời chúc tết tới gia đình chị cùng tất cả đồng chí đồng đội”. Rồi giọng Thủy chùng xuống đầy tha thiết: “Chị Vân ơi! Em là Hoàng Xuân Thủy. Quê em ở Mỹ Sơn, xã Lưu Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. Bố em là Hoàng Văn Sơn, mẹ em là Lê Thị Thịnh. Nếu em chết, nhờ chị viết thư về báo tin cho nhà em biết. Tạm biệt chị! Tạm...”. Trời ơi, lời nói cuối cùng của Thủy đã bị sóng gió chặt đứt hẳn.



Trung tá Nguyễn Văn Tuyết giới thiệu chiếc phao bè các chiến sĩ nhà giàn Phúc Nguyên 2A dùng 11 năm trước. Chiếc phao bè đã bị sóng biển đánh tan nát như thế này- Ảnh: Lê Đức Dục

Cuộc kiếm tìm vô vọng

“Sở chỉ huy gọi 2A... Sở chỉ huy gọi 2A... 2A đâu... 2A đâu... 2A đâu... đâu...”. Giọng chị Vân từ sở chỉ huy lạc đi. Chị khóc thành tiếng. Tiếng khóc của một đồng đội, tiếng khóc của một người phụ nữ, một người chị hòa trong gió bão như xé nát ruột gan chúng tôi.

Đồng hồ chỉ 4 giờ 15 phút ngày 13-12-1998. Kể từ lúc này nhà giàn Phúc Nguyên 2A hoàn toàn mất liên lạc. Nhà đổ, họ buộc phải lao xuống biển. Chuyện gì đã xảy ra với họ trong đêm tối bão bùng, chín anh em nhà 2A?

Tin dữ lan nhanh trên các nhà giàn khác ở DK1: 2A đã đổ! Chín đồng đội làm sao chịu nổi những cột sóng bão cao 15-20m? Ai sống ai chết? Tin dữ ấy cũng làm bàng hoàng những đồng đội của họ ở Hải Phòng, Cam Ranh, Vũng Tàu sau khi Hoàng Xuân Thủy nói lời vĩnh biệt đất liền. Mai Thắng, chính trị viên đại đội thông tin lữ đoàn 171, trực ở đài canh thông tin lúc ấy, kể: “Chúng tôi không thể nào quên được chuyện đã xảy ra vào đêm gió bão ấy và đau đớn đến mức không khóc được. Chính tôi là người đã công tác bảy tháng ở nhà giàn Phúc Nguyên 2A nên hiểu chuyện gì xảy ra với đồng đội mình. Nhưng không chỉ tôi. Hai phần ba đại đội thông tin trực đêm ấy đã lặng người đi. Hết ca trực đêm ấy về nhà anh em vẫn không thể nào ngủ được”.

Cũng buổi sáng hôm ấy, tin sập nhà giàn 2A đã lan nhanh trong gia đình cán bộ chiến sĩ lữ đoàn 171. Những người vợ lính tụm lại, buồn bã chia nhau từng chút thông tin về số phận chín đồng đội của chồng họ. Có một người phụ nữ trẻ dường như chết đứng ngay tại ngôi chợ nhỏ gần căn cứ  lữ đoàn 171. Đó là vợ của sĩ quan quân y Nguyễn Hữu Tôn, một trong chín người bị bão biển cuốn đi. Chị lao về nhà, chỉ để nhìn hai đứa con bé bỏng, rồi khóc và chờ đợi.

Vào lúc 5g30 ngày 13-12-1998, tàu HQ 606 được lệnh khẩn cấp từ sở chỉ huy: quay tàu vào hướng bão, tìm và cứu đồng đội 2A! “Đó không chỉ là mệnh lệnh của cấp trên mà là mệnh lệnh của lương tâm chúng tôi!” - thiếu tá Nguyễn Văn Tôn bồi hồi nhớ lại. Lúc này sóng gió vẫn đang cấp 8, cấp 9 nên tàu không thể chạy nhanh được, chỉ khoảng 3-4 hải lý một giờ. Rất chậm so với tình huống khẩn cấp như thế này. Đại úy thuyền trưởng Lê Văn Muộn ra lệnh cho anh em trên tàu tập trung quan sát bằng ống nhòm, không để sót vật trôi xung quanh tàu, vì những vật trôi có thể là dấu hiệu để tính toán dòng chảy từ thời điểm nhà 2A bị nạn.

Mãi đến 16g tàu HQ 606 mới đến được tọa độ cần tìm kiếm. “Chúng tôi căng mắt quan sát - thiếu tá Tôn kể - Vì đây là khu vực tâm bão đi qua nên rất nhiều mảnh vỡ của gỗ, can nhựa, thùng xốp... trôi trên biển. Chúng tôi luôn hi vọng những vật đang trôi xa xa kia là những phao bè, phao cứu sinh mà đồng đội 2A đang bám vào. Nhưng khi tàu chạy đến gần, chúng tôi lại òa lên thất vọng”.

Ngoài HQ 606,  Bộ tư lệnh Hải quân đã điều thêm ba tàu HQ 624, HQ 608, HQ 957 nhanh chóng về tọa độ X để tham gia chiến dịch tìm kiếm cứu nạn. Bốn tàu chạy theo kiểu bừa răng lược và chia nhau tìm kiếm, không bỏ sót vùng biển nào đã được đánh dấu trên hải đồ. Nhưng vẫn vô vọng và trời đang ngả về chiều. Thiếu tá Tôn nhớ lại giờ phút tuyệt vọng đó: “Chúng tôi hết sức sốt ruột vì trời tối thì việc tìm kiếm sẽ rất khó khăn. Và liệu anh em nhà 2A có đủ sức chịu đựng để qua nổi sóng gió lạnh buốt thấu xương đêm nay không! Mặt trời khuất dần và những tia hi vọng cũng tắt dần theo thời gian”.

BÙI THANH - LÊ ĐỨC DỤC
Logged

Dân ta phải biết sử ta
Cái gì không biết cần tra Gúc gồ
chiangshan
Thành viên
*
Bài viết: 3405


No sacrifice, no victory


WWW
« Trả lời #112 vào lúc: 26 Tháng Sáu, 2009, 05:28:58 pm »

Kỳ 5: Khúc bi tráng trên biển

TT - Lúc những con tàu hải quân kiếm tìm trong vô vọng, chuyện gì đã xảy ra với chín chiến sĩ nhà giàn Phúc Nguyên 2A sau khi nhà giàn bị sóng gió đánh đổ? Một ngày tháng 5-2009 tại Vũng Tàu, chúng tôi tìm gặp thiếu úy Hoàng Xuân Thủy và thiếu tá Nguyễn Hữu Tôn - hai trong số sáu người còn sống sót trở về. Đã hơn 10 năm trôi qua...



Thiếu tá Nguyễn Hữu Tôn - một trong số sáu người ở nhà giàn 2A còn sống sót trở về - Ảnh: Bùi Thanh


Lao xuống biển, cờ Tổ quốc không rời

16g ngày 12-12-1998, trên vùng biển thềm lục địa phía Nam không còn hình bóng một con tàu. Tất cả đã đi tránh bão, chỉ còn lại những nhà giàn cô đơn. Mặt biển mịt mù trắng xóa, gió rít giật ầm ầm. Càng về chiều sóng càng dữ dội. Những con sóng lừng lững như quả núi liên tiếp ập đến làm trạm rung lắc mạnh. Tất cả các cửa hướng đông của nhà giàn đều được đóng kín, vì lúc đó anh em chỉ cần sơ sẩy là gió hất tung xuống biển.

Chỉ huy nhà giàn là đại úy Vũ Quang Chương, 30 tuổi, người Thái Bình. Chương bình tĩnh động viên anh em, phân công từng người lo chuẩn bị áo phao cá nhân, phao bè, lương khô, thuốc men, dây ròng rọc... để sẵn sàng rời nhà giàn lao xuống biển. Đến khoảng 18g30, một cơn sóng cực lớn đánh trùm lên nhà giàn làm nó nghiêng hẳn một bên, lắc lư chao đảo. Tình thế lúc này cực kỳ nguy kịch.

Những tấm gỗ lát mặt sàn bật tung, chiếc tivi trên bàn rơi xuống, toàn bộ giá gạo trong kho đổ sập, giường tủ bàn ghế chạy đi chạy lại, máy phát bị chập, điện tắt ngấm. Trung úy Nguyễn Văn Hoan vào kho lấy bao gạo ra chèn phao cứu sinh và chân giường tránh va đập, liền bị toàn bộ giá gạo đổ sập xuống vai. Hoàng Xuân Thủy thì bị chiếc tủ sắt đổ vào người toạc máu ở bụng.

Sóng mỗi lúc một to, tất cả chín anh em đã mặc sẵn áo phao, lấy dây mồi buộc vào tay nhau để khi nhà đổ xuống biển vẫn tìm thấy nhau, chết vẫn còn xác. Mỗi khi có cơn sóng kinh hoàng như quả núi trước mặt, họ lại nhắm mắt nín thở cầu mong nhà không đổ và sóng qua mau. Nhưng tất cả đều chỉ là hi vọng. Nhà giàn càng lắc lư chao đảo mạnh theo từng cơn sóng dữ. Mọi người hiểu là có thể phải hi sinh, nhưng rất bình tĩnh, không ai nao núng, đôi khi còn nở những nụ cười lạc quan và trêu nhau chuyện này chuyện nọ. “Nhưng thật ra lúc đó trong tim chúng tôi đang chảy máu. Muốn khóc mà không khóc được”, thiếu úy Thủy nhớ lại.

Sau khi nhận được lệnh cuối cùng từ sở chỉ huy, đại úy Vũ Quang Chương hô lớn: “Tất cả chuẩn bị rời trạm, khi xuống biển nhanh chóng bám chặt vào phao!”. Dù được lệnh như vậy nhưng những người lính hải quân M71 vẫn kiên cường không rời nhà giàn, quyết bám trụ đến phút cuối cùng. Họ hiểu không ai bỏ nhà giàn mà đi khi chưa đổ. Rồi một cơn sóng kinh hoàng, dựng đứng như vách núi, đập mạnh vào nhà giàn, trùm lên đầu họ. Nhà giàn không trụ được nữa. Đại úy Chương lệnh cho tốp đầu bám phao cứu sinh nhảy xuống biển trước, gồm trung úy Nguyễn Văn Hoan, sĩ quan quân y Nguyễn Hữu Tôn, chiến sĩ cơ yếu Hà Công Dụng...

Chương và Thủy bật khỏi nhà giàn sau cùng. Anh Thủy kể: “Tôi mang theo một súng tín hiệu và sáu viên đạn, các tài liệu mật của ngành thông tin rồi lên máy lần cuối. Nói xong lời vĩnh biệt đất liền, tôi ôm bao gạo nhảy xuống biển mà vẫn còn nghe văng vẳng bên tai tiếng gào thét của đồng đội từ nhà giàn Phúc Nguyên 2B phát qua máy Icom: “Thủy ơi, nhảy đi... Nhảy đi, nhà đổ rồi, nhảy đi!...”.

Riêng đại úy Vũ Quang Chương trong giờ phút sinh tử ấy vẫn không quên bổn phận của một chỉ huy, của một người lính đối với đồng đội và Tổ quốc. Trước khi rời nhà giàn, anh cẩn thận đóng tất cả cửa lại, vì nếu nhà giàn đổ thì anh em không bị nước xoáy hút vào trong, không thoát ra được. Rồi Chương nghiêm trang ôm lá cờ đỏ sao vàng vào ngực mình, gấp lại, mang theo. Nhà giàn đổ, anh cùng Thủy lao xuống biển và không hề biết đó là những giây phút cuối cùng của đời mình.

Lúc đó là 3g50 phút ngày 13-12-1998.



Bàn thờ Vũ Quang Chương - người chỉ huy nằm lại mãi dưới thềm lục địa cùng lá cờ Tổ quốc - ở quê nhà Thái Thụy (Thái Bình) - Ảnh: Lê Đức Dục

14 giờ bập bềnh trên sóng dữ

Thiếu úy Hoàng Xuân Thủy kể: “Lúc chúng tôi lao khỏi nhà giàn trời tối đen như mực, không nhìn thấy gì. Rồi tôi nghe anh Vũ Quang Chương cố gào lên: “Tất cả anh em bám chặt vào phao bè. Nhanh chóng ra khỏi vòng xoáy!”. Ngay lúc đó một cơn sóng lớn ập đến. Anh Chương, An và Hồng bị hất tung, không bám vào dây được nữa. Thật nguy hiểm! Tôi chỉ nghe được những tiếng cuối cùng của anh Chương: Thủy ơi, cứu anh... Bám chặt vào dây em ơi...”. Rồi kể từ đó ba anh mất hút vào đêm đen”.

Còn tốp nhảy xuống đầu cũng bị sóng đánh tan tác. Thiếu tá Tôn kể lại: “Phao cứu sinh bị vỡ ngay khi xuống nước. Tôi phát hiện la lên Hoan ơi, phao vỡ rồi... Chưa dứt lời thì bị sóng đánh bật khỏi phao”. Rất may mọi người sau đó bám được vào chiếc phao bè (loại phao cứu sinh bằng xốp, bên ngoài bọc nhôm), nhưng ngay cả chiếc phao bè cũng bị sóng đánh méo mó, đứt dây liên kết với nhà giàn, trôi tự do...

Lúc này, trong tiếng gào thét không dứt, năm người gồm Hoan, Tôn, Thủy, Dụng và Thuật bám chặt chiếc phao bè móp méo mà chống chọi với sóng cuồng bão giật. Thủy vớ được một thanh gỗ trôi, bẻ đôi làm mái chèo, nhưng thật ra chẳng biết chèo đi đâu. Đúng lúc ấy mọi người phát hiện Thơ, một đồng đội 2A, đang bám vào bao gạo và gần như kiệt sức. Thủy lao ra dìu Thơ lên phao bè. Được sáu người, còn ba người nữa đâu? Lúc này không ai biết ba anh Chương, An, Hồng đã hi sinh.

9g ngày 13-12, Hoàng Xuân Thủy lấy súng tín hiệu bắn ba phát để cấp cứu. Chờ mãi vẫn không thấy có hi vọng gì. Viên cuối cùng anh đưa cho trung úy Hoan bắn, nhưng một cơn sóng mạnh đã cướp viên đạn cấp cứu này khỏi tay anh. Vậy là họ phải tiếp tục chống chọi với sóng gió, tiếp tục trôi giạt đi. Quần áo rách tả tơi, đói, khát, lạnh, kiệt sức. Anh em chỉ biết động viên nhau rồi uống nước biển, ngậm lương khô, tỏi, gừng để cầm hơi và giữ ấm.

14 giờ trôi qua như thế. 14 giờ kiên cường, 14 giờ hi vọng và 14 giờ xao động nỗi niềm riêng. Hoàng Xuân Thủy nhớ lại mà rơi nước mắt: “Lúc đó tôi thương bố mẹ và nhớ đất liền vô cùng. Và tôi còn nhớ anh Nguyễn Văn An nói thế này “Tao chết thì..., chỉ thương vợ tao mới đẻ, tao chưa biết mặt con và tên con vẫn chưa đặt”. Còn thiếu tá quân y Nguyễn Hữu Tôn lặng đi khá lâu, mắt đỏ hoe: “Tôi không nao núng gì vì đi giữ biển là sẵn sàng hi sinh, nhưng thật nhói lòng khi nghĩ đến vợ con. Lúc ấy tôi chỉ mới đưa gia đình từ quê vào sống cạnh đơn vị ở Vũng Tàu thôi. Các con tôi còn quá nhỏ, không biết chúng sẽ ra sao khi không còn tôi”.

17 giờ 30. Trời đã chạng vạng. Thật kinh khủng nếu chiếc phao bè này trôi vào đêm tối. Họ sẽ không còn đủ sức đến ngày mai. Đúng vào lúc đó, đài chỉ huy tàu HQ 606 nghe tiếng thét nghẹn ngào của thượng úy Nguyễn Văn Minh Tông từ vị trí quan sát: “Báo cáo đài chỉ huy... Báo cáo... Có người trên phao! Có người trên phao...”.

Thuyền trưởng Lê Văn Muộn vừa khóc vừa báo về đất liền một cái tin ai cũng chờ đợi. Sáu chiến sĩ hải quân nhà giàn 2A được cứu sống và được đưa lên tàu HQ 606 lúc 18g54 ngày 13-12-1998. Còn ba người nữa! Đồng đội trên các tàu hải quân lữ đoàn 171 tiếp tục tìm kiếm ngày thứ hai, ngày thứ ba và nhiều ngày sau đó. Vẫn không tìm thấy.

Đó là Nguyễn Văn An với niềm khao khát được nhìn mặt và đặt tên đứa con trai đầu lòng.

Đó là Lê Đức Hồng, chàng trai 21 tuổi, chưa biết tình yêu là gì, với những lá thư kết bạn từ báo Tiền Phong còn nằm dưới đáy balô.

Và đó là Vũ Quang Chương, người chỉ huy nằm lại mãi dưới thềm lục địa cùng lá cờ Tổ quốc. Từ quê nhà, cha anh (cũng là một người lính thời chống Mỹ và nạn nhân chất độc da cam) đau xót vô hạn.

BÙI THANH - MAI THẮNG
Logged

Dân ta phải biết sử ta
Cái gì không biết cần tra Gúc gồ
chiangshan
Thành viên
*
Bài viết: 3405


No sacrifice, no victory


WWW
« Trả lời #113 vào lúc: 26 Tháng Sáu, 2009, 05:30:54 pm »

Kỳ 6: Nhành san hô trên bàn thờ liệt sĩ

TT - Từ Vũng Tàu, chúng tôi tìm về xã Thụy Trường, huyện Thái Thụy (Thái Bình), nơi có câu chuyện về người bố bao năm đi tìm con dù biết con đã hi sinh, về nhành san hô trên bàn thờ thay hình hài xương cốt.

Thụy Trường là xã tận cùng của Thái Bình ở cực đông bắc tỉnh, một phía giáp biển, một phía giáp cửa sông cách ngăn với thành phố Hải Phòng. Hỏi nhà ông Dương, bố của liệt sĩ Vũ Quang Chương, không ai không biết.



Ông Dương bên bàn thờ anh Chương, với nhánh san hô từ thềm lục địa -Ảnh:  LÊ ĐỨC DỤC

Đêm đêm mơ thấy con về

Chờ ở nhà từ đầu giờ trưa đến tầm non nửa buổi chiều thì ông Vũ Quang Dương theo thuyền đi đánh cá về. Đã ngoài 60 tuổi nhưng ông vẫn không thể bỏ buổi biển nào bởi một phần cuộc sống của mấy bố con - ông cháu nhờ vào đó. “Trong nhà, Chương là đứa con mà tôi kỳ vọng nhất - ông Dương mở đầu câu chuyện với chúng tôi như thế - Bởi thế nên cho đến nay, nó hi sinh hơn 10 năm rồi, không nghĩ nó còn sống, nhưng nhiều đêm tôi vẫn mơ thấy nó về, nhen cho tôi chút hi vọng rằng nó đã bị trôi dạt đến một đảo xa nào đó. Tôi đọc báo thấy có chuyện đã có người dạt lên hoang đảo đến mấy chục năm mới về thì sao”.



Cành san hô được ông Dương gìn giữ như xương cốt của người con quả cảm - Ảnh: LÊ ĐỨC DỤC

40 năm trước, ông Dương là lính đặc công đoàn 429, cuối năm 1967 đơn vị ông hành quân vào mặt trận Tây Ninh khi vợ ông đang mang thai đứa con đầu lòng, sau Tết Mậu Thân thì nhận tin vợ ở nhà sinh con trai, ông mừng lắm. Nhưng phải hơn ba năm sau, năm 1971, khi bị thương, đơn vị đưa ra Bắc ông mới gặp mặt con - đấy là Vũ Quang Chương. Ông cũng không hay những đứa con được sinh ra từ khi ông từ chiến trường trở về mỗi đứa đều mang một căn bệnh nào đó, chỉ có Chương, đứa con đầu được mang thai trước khi ông vào chiến trường, là thông minh và khỏe mạnh nhất.

Vũ Quang Chuyên, em trai thứ ba của Chương, bị thần kinh, rối loạn sắc tố da, đau ốm liên miên ngay từ khi sinh ra. Hai em gái của Chương là Phương và Hồng cũng thường xuyên trở bệnh. Ông Dương chia sẻ nỗi đau ấy với rất nhiều đồng đội, nhưng ông vẫn thầm tạ ơn trời vì dù sao ông vẫn còn có Chương.

18 tuổi học xong cấp III, năm 1986 Chương thi vào trường sĩ quan lục quân. Bốn năm sau tốt nghiệp, anh được tăng cường về hải quân vùng D ở Cam Ranh. Biết con theo binh nghiệp khó về với gia đình, khi nghe tin con đóng quân ở Cam Ranh, ông Dương quyết định chuyển cả gia đình vợ con từ Thái Bình lên Tây nguyên, không chỉ vì chuyện làm ăn trên mảnh đất bazan màu mỡ mà chính là để được gần Chương.

Từ Đắc Lắc về Cam Ranh gần hơn cả chục lần so với từ nơi con đóng quân về tới quê nhà xã Thụy Trường, Thái Thụy xa tít tắp đất Bắc. Ông bảo: “Chỉ có như thế mới gần con được!”. Có lẽ nhờ cái tình yêu tha thiết ấy với con trai nên bảy năm đơn vị Chương đóng quân ở Cam Ranh, bố con, anh em may mắn được gặp nhau chừng mươi lần trước khi Chương được tăng cường về DK1 vào năm 1996. Hơn mười năm trôi qua, nhưng nỗi tiếc thương với đứa con mà ông ấp ủ bao kỳ vọng đã kẻ những nét hằn nặng trĩu trên gương mặt sóng gió can trường của một ngư phủ.

“Nhành san hô tro cốt”

Đốt một nén nhang trên bàn thờ liệt sĩ Chương, ông Dương lặng lẽ bê cành san hô xuống, có lẽ đây là nhành san hô đẹp nhất mà chúng tôi từng thấy: những cành san hô trắng muốt, nở xòe cân đối như một đóa hoa kỳ lạ. “Tôi cũng nghĩ con trai tôi không còn nữa, nhưng không hiểu sao vẫn cứ hi vọng huyễn hoặc, biết đâu như chuyện cổ tích, nó lạc lên hoang đảo nào đó rồi có ngày trở về” - ông Dương nói.

Thế nên sau khi Chương hi sinh, ông Dương và gia đình từ Đắc Lắc về Vũng Tàu dự lễ truy điệu Chương và đồng đội, vậy mà sau đó ông vẫn cứ thu xếp  tìm đến những nơi con trai từng đóng quân như Hải Phòng, Nha Trang, Cam Ranh, Vũng Tàu… với hi vọng biết đâu Chương còn sống và trở về. Thời gian theo ngày tháng cứ dày lên kéo xa dần những trông ngóng của ông. Đi tìm mãi cho đến một ngày ông ngỏ lời với đồng đội của con: “Các con mang về cho bác một cành san hô ngay vị trí nhà giàn bị đổ để bác đặt lên bàn thờ, coi như đó là tro cốt của Chương”.

Năm ngoái, thiếu tá Nguyễn Thế Dĩnh, phó chính trị viên DK1, đã mang được cành san hô từ lô Phúc Nguyên 2A về và anh cẩn thận không dám gửi theo đường bưu điện sợ bị gãy. Phải đợi đến lúc có người quen ra Thái Bình anh mới dám gửi theo về.

Giờ thì ông Dương đang nâng niu cành san hô đẹp kỳ lạ ấy, đứa cháu gái thấy ông làm vậy cũng sà vào phụ lau chùi cùng ông. Ông Dương vừa lấy chiếc khăn mềm lau bụi cho cành san hô vừa thầm thì: “Đây là xương của bác Chương mày đấy cháu ạ!”. Chúng tôi lạnh người và chợt nhói lòng khi nghĩ đến còn bao nhiêu người lính đã nằm lại ngoài biển khơi, không mấy ai được mang thân xác trở về. Vì thế nhành san hô trên bàn thờ của liệt sĩ Chương hôm nay như hiện thân của linh hồn và thân xác những chiến sĩ đã lẫm liệt hi sinh trên biển ấy.

Sau khi Chương hi sinh, ông Dương cũng không ở Đắc Lắc nữa, “ở đó chỉ để mong được gần con, nay con hi sinh thì mình về lại quê”, ông bảo vậy. Còn mẹ Chương đang bị bệnh liệt, nằm chữa trị ở đó cùng người con gái. Ông đưa Chuyên, đứa con trai thứ ba bị ảnh hưởng chất độc da cam (và mang thêm bệnh thần kinh) về lại Thụy Trường. Cùng với số tiền 40 triệu đồng của Bộ tư lệnh quân chủng Hải quân và đoàn M71 hỗ trợ xây căn nhà tình nghĩa, ông “cắm” thêm sổ hưu ở ngân hàng để xây một căn nhà bề thế, có nơi thờ tự Chương chu đáo.

“Hồi trước, Chương nó bảo đi lính về sẽ đóng gạch xây cho bố một ngôi nhà thật oách, cưới vợ đẻ cho bố một đàn cháu. Nay xây được nhà rồi mà nó lại không về để ở. Giá như nó kịp có một người vợ, một đứa cháu cho tôi. Đằng này khi hi sinh nó chưa có cả người yêu...”. Giọt nước mắt tuổi già hiếm hoi chợt lăn trên khuôn mặt sạm đen của ông…

LÊ ĐỨC DỤC


Không có điều kiện đi hết gia đình các liệt sĩ hi sinh trong sự cố nhà giàn Phúc Nguyên 2A, nhưng chúng tôi cũng đã liên lạc được với gia đình liệt sĩ Nguyễn Văn An (ở Yên Mật, Kim Sơn, Ninh Bình). Đứa con trai vừa sinh ra, trước khi hi sinh anh An vẫn chưa thấy mặt nay đã 11 tuổi, tên là Nguyễn Tiến Anh, sau mùa hè này sẽ lên lớp 6. Vợ liệt sĩ An, chị Trần Thị Tuyến, nay vẫn ở cùng gia đình, thờ chồng nuôi con, chăm lo công việc đồng áng.

Chúng tôi cũng đã về Hà Tĩnh, đến xã Thạch Mỹ hỏi liệt sĩ Lê Đức Hồng ai cũng biết. Bố liệt sĩ Hồng đã mất sau hai năm nhận được tin Hồng hi sinh ở thềm lục địa phía Nam. Ngôi nhà ba gian, lợp ngói âm dương phủ màu thời gian vẫn nằm lọt thỏm giữa xóm 9, xã Thạch Mỹ. Khi chúng tôi đến, ngôi nhà trống hoác, không một bóng người. Thắp nén nhang lên bàn thờ liệt sĩ Hồng, chúng tôi gặp một phụ nữ luống tuổi ghé sang nhà hỏi: “Các anh có phải bạn của liệt sĩ Hồng không? Bà cụ Cháu (mẹ liệt sĩ Hồng) đang đi thăm cháu ở miền Nam chưa về”.

Năm nay bà Cháu đã 75 tuổi. Ba đứa con ở trong Nam nhiều lần muốn đưa bà vào sống cùng con cháu nhưng bà nhất quyết không đi, nói sống ngày nào ở quê thì lo hương khói cho chồng và đứa con trai hi sinh chưa tìm được hài cốt ngày đó. Khi biết tin Hồng mất, bà khóc cả năm trời, mắt sưng húp. Hằng năm bà vào Nam thăm con, đi sáu, bảy tháng mới về. Thời gian bà vắng nhà, người dân cũng như chính quyền địa phương thường thay bà hương khói cho liệt sĩ Hồng.

Đ.D. - V.Đ.
Logged

Dân ta phải biết sử ta
Cái gì không biết cần tra Gúc gồ
chiangshan
Thành viên
*
Bài viết: 3405


No sacrifice, no victory


WWW
« Trả lời #114 vào lúc: 26 Tháng Sáu, 2009, 05:32:30 pm »

Kỳ 7: Có những niềm riêng

TT - Khi loạt bài này đăng kỳ đầu tiên cũng là lúc đại diện Sở LĐ-TB&XH tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, lãnh đạo lữ đoàn 171 đến thăm gia đình những người lính DK1 có hoàn cảnh khó khăn. Mỗi gia đình là một hoàn cảnh, một câu chuyện, những người vợ lính chúng tôi đã gặp đều xứng đáng được kể ra đây như một phần không thể thiếu khi nói đến 20 năm của DK1.



Chị Đặng Thị Huấn, vợ thiếu tá Phan Thế Hưng, “mẹ” của tám cháu nhỏ là con đồng đội của chồng - Ảnh: Mai Thắng

Những mùa “tuyển quân”

Về với lính DK1 sẽ biết thêm một khái niệm mới của từ “tuyển quân”. Đó là chuyện những người vợ “lên kế hoạch” để được gần chồng, được mang thai em bé. Có thai là coi như “tuyển quân” thành công. Chồng là bộ đội DK1, một năm gần chồng vẻn vẹn chưa đầy 30 ngày phép. Với thời gian ngắn ngủi ấy muốn sinh con thật không dễ, nên khi chồng hết thời gian nghỉ phép ở quê nhà mà vẫn chưa “kết quả”, các chị xin đi theo chồng vào đơn vị tiếp tục “tuyển quân”.

Chuyện “tuyển quân” của thiếu tá Trần Văn Lợi - chính trị viên nhà giàn Tư Chính IV - được nhiều cán bộ chiến sĩ nhà giàn kể với nhau như một “thành công mang tính thuyết phục”.

Vợ chồng anh cưới nhau năm 1999, chưa xong tuần trăng mật anh Lợi phải vào lại đơn vị để ra nhà giàn thay trực cho đồng đội về bờ, để lại quê nhà người vợ trẻ cùng mẹ già 85 tuổi. Trong căn nhà nhỏ ở Lưu Sơn (Đô Lương, Nghệ An), chị Hà Thúy Vân (vợ anh Lợi) và mẹ già luôn ước ao có một đứa cháu để vui cửa vui nhà. Vậy là tháng 10-2000, chị Vân xin chồng vào đơn vị “tuyển quân” đúng lúc anh Lợi từ biển trở về nhưng “trận ấy thất bại”. Tháng 8-2005, anh Lợi nghỉ phép, 30 ngày ngắn ngủi gần vợ cũng chẳng kết quả gì.

Chị Vân bàn với chồng: “Thua keo này ta bày keo khác. Lần này anh cho em theo, nhất định mình sẽ thắng lợi”. Rồi chị khăn gói theo chồng vào Vũng Tàu. “Tổ ấm dã chiến” của họ là một phòng tại nhà khách của lữ đoàn 171. Sau hơn hai tuần chị Vân có thai, anh Lợi tiếp tục ra nhà giàn. Chị Vân phấn khởi về quê khoe mẹ chồng. Kết quả lần “tuyển quân” ấy của vợ chồng Lợi - Vân bây giờ đã là một cháu bé đang học mẫu giáo và sau đó thêm một chú nhóc nữa nay gần 2 tuổi.

Tuy nhiên, không phải vợ lính nào đi “tuyển quân” cũng thành công. Chúng tôi ghé thăm chị Nguyễn Thị Chiến - vợ của thiếu tá y sĩ Bùi Văn Dong ở nhà giàn DK1/17. Có với nhau một cháu gái, cháu đã lớn mà vẫn chưa có đứa thứ hai, chị Chiến từ quê vào Vũng Tàu thuê căn nhà nhỏ để được gần chồng khi anh trở về từ biển cả. Căn nhà thuê của vợ chồng chị ở 41/7 Đô Lương chưa đầy 15m2, chỉ đủ kê chiếc giường và bàn bếp, vậy mà cứ rộng thênh vì luôn vắng bóng chồng. Ngày đêm chị lủi thủi một mình, đêm về làm bạn với chiếc giường cũ kỹ.

Hôm chúng tôi đến tặng quà, chị Chiến bần thần: “Tôi vào đây đã chín năm, chỉ mong có thêm đứa con nữa. Anh Dong đã sáu lần về mà mãi chưa được”.

Và những mùa chia xa

Chuyện chị Đặng Thị Huấn - vợ thiếu tá Phan Thế Hưng, chính trị viên nhà giàn Quế Đường - như một “điển hình vợ lính” DK1 mà chị em ở đây vẫn hay kể. “Năm 1984 vợ chồng tôi cưới nhau và đến nay đã 25 năm - nhưng thời gian gần chồng chỉ tính trên đầu ngón tay thôi. Với chưa đầy 24 tháng gần chồng chia đều cho 25 năm” - chị Huấn nói. Ngày mới cưới anh Hưng đóng quân ở biên giới Lạng Sơn. Năm 1994 anh chuyển về DK1 công tác. Đã xa chồng biền biệt nay lại xa hơn. Nhiều đêm giữa núi rừng Vĩnh Phúc, chị ôm con thao thức không sao ngủ được.

Năm 1999 chị Huấn bồng hai con vào Vũng Tàu tìm chồng đúng lúc anh Hưng đang ngoài nhà giàn. Căn phòng trọ mấy mẹ con thuê chỉ hơn chục mét vuông vừa đủ kê chiếc giường đơn. Để có tiền nuôi con, chị Huấn phải dậy từ 4 giờ sáng đi lột da cá bò mỗi ngày chỉ kiếm được vài ngàn đồng. Những ngày chị đi xẻ cá bò phải để hai con ở nhà, đứa lớn trông đứa nhỏ. Có hôm chị “nhốt” hai con tự chơi với nhau. Khi em khóc, đứa anh hỏi: “Em có ăn mì tôm không?”, em lắc đầu, vậy là hai anh em ôm nhau ngủ thiếp đi. Khuya chị đi làm về, nhìn con mà rơi nước mắt.

Bây giờ con trai đầu của chị là Phan Thế Hiện đã 21 tuổi, đang là sinh viên một trường ĐH tại TP.HCM. Con trai thứ hai là Phan Thế Lương đang học lớp 11 Trường Nguyễn Huệ (Vũng Tàu). Chị Huấn đang chăm nuôi tám cháu nhỏ là con đồng đội của chồng ở nhà mình. “Tôi yêu các cháu như con tôi. Các cháu đều gọi tôi là mẹ. Nhiều bữa bố mẹ các cháu đến đón về nhưng các cháu cứ nằng nặc đòi ở lại với mẹ Huấn” - chị Huấn bộc bạch.

Lá thư của chị Cao Thị Hồng ở xã Thượng Hóa (huyện Minh Hóa, Quảng Bình) - vợ của thiếu tá Trương Văn Thủy, chỉ huy trưởng nhà giàn DK1/8 - viết cho chồng thật nhiều nỗi niềm: “... Nếu nói về vợ lính thời bình không thiệt thòi là không đúng, nhưng đã là vợ lính thì phải biết chấp nhận hi sinh vì nghĩa lớn đúng không anh. Hôm con ốm, em cõng con vượt rừng đến bệnh xá và ba đêm không ngủ vì phải giành giật sự sống cho con từ tay tử thần. Hằng ngày phải đối mặt với bao khó khăn cơm áo gạo tiền, rồi tâm lý xa chồng, em cắn răng chịu đựng nỗi cô đơn vì vắng anh. Rồi khó khăn tất cả cũng vượt qua. Nhiều khi em nghĩ vợ lính thời bình mà phải chịu cách xa, nhưng em thấy tự hào có chồng là bộ đội DK, những lúc nhớ anh chỉ biết gửi tình yêu vào trang thư này”.

Anh Thủy kể lần ấy con ốm, vợ anh một mình cõng con vượt 5 cây số đường rừng đến bệnh xá xã. Con sốt quá cao, chị Hồng chỉ biết ôm con đi quanh hành lang chờ bác sĩ. Giữa đêm tối lạnh căm căm, cả hai mẹ con đều khóc. Những lúc ấy chỉ mong có một bờ vai tin cậy của người chồng, người bố để vợ con tựa vào, nhưng ước mơ rất bình thường với mỗi người ấy thì với vợ của những người lính DK1 thật quá xa vời.

Chúng tôi đến thăm gia đình thiếu úy Trần Văn Tiên chỉ vài giờ trước khi anh theo tàu đi công tác. Hai vợ chồng dành dụm làm được căn nhà chừng 30m2, ẩm thấp, lọt thỏm giữa các khối nhà cao tầng. Trong nhà tuềnh toàng, không có tủ bàn hay vật dụng gì ngoài chiếc giường đơn sơ. Từ bốn năm nay tất cả tiền lương của hai vợ chồng (vốn chẳng nhiều nhặn gì) đều dồn vào chạy chữa cho đứa con sinh thiếu tháng, khi sinh ra cháu nặng 1,2kg, bị tim bẩm sinh, ảnh hưởng phổi, mắt... Chồng đi theo nhà giàn, vợ ôm con đi hết viện nhi này đến bệnh viện khác, bé gái 4 tuổi rồi vẫn thường trú ở viện nhiều hơn ở nhà...

Có rất nhiều câu chuyện như thế khi gặp những người vợ của lính nhà giàn và nhờ có sự hi sinh lớn lao của họ, những người chồng chiến sĩ đã vững tâm vững lòng giữ thềm lục địa Tổ quốc.

* Ông Nguyễn Văn Phương, phó giám đốc Sở Lao động - thương binh & xã hội tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu:



Sở Lao động - thương binh & xã hội Bà Rịa - Vũng Tàu trao quà cho vợ chồng anh Văn Đình Sơn - Ảnh: Mai Thắng

Hằng năm Sở Lao động - thương binh & xã hội tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đều tặng quà các gia đình quân nhân DK1 có hoàn cảnh khó khăn vào dịp Tết Nguyên đán. Tết Kỷ Sửu vừa qua chúng tôi tặng 19 đầu thu vệ tinh TDH trị giá 38 triệu đồng và 15 bộ thể thao đa năng. Đến từng gia đình mới thấy những khó khăn vất vả, thiếu thốn của họ.

Họ chịu đựng gian khổ, nuôi con gánh vác gia đình. Năm nay, căn cứ vào nhu cầu của bộ đội, sở sẽ tham mưu đề nghị tỉnh tặng quà các nhà giàn cụ thể, thiết yếu phục vụ đời sống sinh hoạt của cán bộ chiến sĩ trong phạm vi kinh phí cho phép. Chúng tôi sẽ quan tâm hơn nữa đến đời sống gia đình cán bộ chiến sĩ DK1.
Logged

Dân ta phải biết sử ta
Cái gì không biết cần tra Gúc gồ
chiangshan
Thành viên
*
Bài viết: 3405


No sacrifice, no victory


WWW
« Trả lời #115 vào lúc: 26 Tháng Sáu, 2009, 05:34:20 pm »

Kỳ cuối: Hãy làm DK1 rực sáng biển đêm!

* Báo Tuổi Trẻ khởi động chương trình “Chung tay thắp sáng nhà giàn DK1”

TT - Hôm nay 26-6, chúng tôi cùng nhiều đại biểu khác sẽ lên tàu hải quân ra khơi, thăm lại những người anh em lính biển nhân kỷ niệm 20 năm DK1. Hơn 250 hải lý là hải trình chúng tôi sẽ vượt qua để đến nhà giàn gần nhất.



Vào những ngày biển động, canô tiếp tế hàng không thể cặp vào nhà giàn. Thế là những sợi dây được quăng ra, cột vào những gói hàng bao kín nilông và các chiến sĩ nhà giàn vất vả kéo vào - Ảnh tư liệu DK1

Luôn sẵn sàng ra đi

Trong chuyến đi trước vào tháng 5-2009, có một hình ảnh thật khó quên khi con tàu HQ 957 đành tạm biệt nhà giàn ở Phúc Tần vì không thể nào đưa người lên được: tất cả anh em nhà giàn khi ấy đã trèo lên nóc, vừa nhảy vừa hô vang gì đó, vừa phất cờ đỏ sao vàng vẫy chào mọi người trên tàu. Chúng tôi lặng người đi: Bao nhiêu lâu rồi những con tàu chưa ghé? Bao nhiêu lâu rồi họ chưa về đất liền? Bao nhiêu lâu rồi họ chưa gặp lại người thân?... Con tàu dần xa để lại những nhà giàn cô đơn giữa biển.

20 năm qua, vì nhiều lý do hoạt động của DK1 và những người lính “đầu đội trời, chân không đạp đất” này hầu như không được công khai. Họ hi sinh cũng trong thầm lặng. Ngay như Tuổi Trẻ cũng không có được dòng tin nào về cái ngày 13-12-1998 tang tóc khi nhà giàn 2A sập đổ: 3 người hi sinh, 6 người trôi giạt 14 giờ liền trong bão biển. Còn giờ đây, mọi người có thể biết được nhiều chuyện về 15 nhà giàn với hàng trăm anh em bám trụ trên vùng biển rộng ở phía đông, cách TP.HCM khoảng 600km.



Đây là vị trí khu vực nhà giàn DK1, nơi có những cột mốc chủ quyền đặc biệt trên biển, dù nằm ngoài khu vực quần đảo Trường Sa nhưng cũng rất xa đất liền. Nhà giàn gần nhất cách Vũng Tàu 500km, xa nhất 700km - Đồ họa: NHƯ KHANH

“Nhưng có chuyện cười ra nước mắt là ngay cả cán bộ rất nhiều nơi lại cứ tưởng DK1 là dầu khí, anh em chiến sĩ DK1 ăn lương dầu khí. Đâu phải, hai bên đâu có liên quan gì nhau. Bên dầu khí làm mỗi tháng 15 ngày ở giàn khoan, 15 ngày kia vào nghỉ trong bờ, thu nhập cũng khá. Còn anh em DK1 ăn lương lính, chế độ lính và đi biền biệt, có khi bố mẹ chết cũng không cách nào về được, rồi gia đình vợ con...” - đại tá lữ đoàn trưởng 171 Lê Việt Hùng trầm giọng nói vậy. “Cuộc sống thiếu thốn, gian khổ đấy, nhìn thấy đồng đội hi sinh đấy - đại tá Hùng nói tiếp - nhưng không cán bộ chiến sĩ DK1 nào tỏ ra dao động, nao núng tinh thần. Họ luôn sẵn sàng ra đi, và đến giờ chưa ai từ chối nhận nhiệm vụ ở DK1”.

Vị đại tá này không nói ngoa. Nằm nghỉ trong doanh trại lữ đoàn 171 một trưa tháng 5, chúng tôi cứ xao động với những câu chuyện nghe được về những chiến sĩ DK1. Như Bùi Xuân Bổng tưởng đã chết khi sập nhà giàn, thế mà vài tháng sau lại lên tàu nhận nhiệm vụ ở một nhà giàn khác. “Sợ gì, đi tiếp!”, Hồ Thế Công - người đồng đội cùng thoát chết với Bổng - cũng đã nói vậy, rồi lên đường. Như Nguyễn Hữu Tôn, vị thiếu tá hiền như cục đất Bắc Ninh, tưởng cũng đã vĩnh biệt vợ con năm 1998, thế mà ít lâu sau lại thấy quay ra biển cùng anh em. Anh đã chia 20 năm trai trẻ của mình cho 10 nhà giàn DK1...

Có một điều chắc chắn rằng: thiếu tá Bổng, thiếu tá Tôn và những sĩ quan hải quân 171 chúng tôi gặp đều ghi trong lòng lời tuyên thệ mà đại tướng Lê Đức Anh đọc vang trên biển Đông ngày 7-5-1988: “Chúng ta xin thề trước hương hồn của tổ tiên ta, trước hương hồn của các cán bộ chiến sĩ đã hi sinh vì Tổ quốc, xin hứa trước đồng bào cả nước, xin nhắn nhủ với các thế hệ mai sau: quyết tâm bảo vệ cho được Tổ quốc thân yêu của chúng ta...”. Là người lính, họ phụng sự đất nước. Và lời thề trên biển Đông kia cũng là điều thiêng liêng nhất mà họ khắc ghi để kiên cường đối diện kẻ thù, để chống chọi với bão tố và vượt qua bao gian khổ giữa trùng khơi.

So với mười mấy năm trước, cuộc sống của những người lính DK1 bây giờ đã đỡ hơn rất nhiều. Những nhà giàn giờ vững chắc hơn, an toàn hơn. Chuyện ăn uống cũng được cải thiện đáng kể. “Nhưng, bạn có biết không - một sĩ quan DK1 nói - cho đến nay nhiều nhà giàn vẫn không đủ nước ngọt và nước sạch vào mùa khô. Tất cả phải trông cậy vào trời và nước mưa được trữ trong những bồn chứa lâu ngày gỉ sét. Rau xanh đương nhiên thiếu dù anh em đã tận dụng trồng mọi nơi, mọi lúc có thể. Sóng điện thoại không có nên không thể liên lạc với gia đình, người thân như các đảo ở Trường Sa. Còn điện do chạy máy phát nên chỉ đủ đáp ứng cho nhu cầu thông tin liên lạc và thắp sáng tối thiểu...”.



Đúng 20 năm trước, những người lính DK1 đã dựng cột cờ Tổ quốc trên nhà giàn Ba Kè A - một trong những nhà giàn đầu tiên ở thềm lục địa phía Nam - Ảnh tư liệu lữ đoàn 171

DK1 rực sáng biển đêm, tại sao không?

Một câu hỏi không thể thiếu trong cuộc trò chuyện với lữ đoàn trưởng 171 Lê Việt Hùng: “Anh em ở nhà giàn cần gì nhất?”. Vị đại tá trả lời rất nhanh: “Một: điện, hai: nước sạch, ba: chảo parabol...”. Rồi ông nói rõ thêm: “Anh em nhà giàn rất cần hệ thống lọc nước sạch để ăn uống hằng ngày, nhất là vào mùa khô. Chảo parabol để xem, nghe đài, các nhà giàn đều có nhưng đã quá cũ và dễ hỏng. Nhưng nhu cầu bức thiết nhất là điện, điện mặt trời, cả 15 nhà giàn đều đang rất cần”.

Tại “đại bản doanh DK1”, trung tá tiểu đoàn trưởng cũng xác nhận điều đó: “Cái khó nhất của anh em chúng tôi là nguồn điện sinh hoạt. Hiện nay ở các nhà giàn đều có máy nổ phát điện, nhưng nguồn điện đó ưu tiên phục vụ công tác sẵn sàng chiến đấu, thông tin liên lạc, còn việc sử dụng cho sinh hoạt như thắp sáng, xem tivi... thì rất hạn chế. Mà máy nổ thì đều cũ, lại ít đổi nên dễ trục trặc”.

Vậy ở nhà giàn ban đêm thắp sáng được bao lâu? “Chỉ khoảng ba tiếng - chính trị viên tiểu đoàn DK1 Nguyễn Thế Dĩnh cho biết - Nếu có giàn điện mặt trời có thể thắp sáng suốt đêm và bảo đảm cho nhu cầu sinh hoạt, giải trí của anh em. Năm 2006, đoàn công tác của TP.HCM đã tặng bộ pin mặt trời cho ba nhà giàn, nghe nói khoảng 80 triệu đồng một bộ, đến nay chúng tôi thấy kết quả rất tốt, không chỉ cho sinh hoạt đâu anh... Ngoài ra, việc nhà giàn được thắp sáng suốt đêm sẽ giúp anh em bảo vệ an toàn cho nhà giàn vào ban đêm và giúp tàu bè qua lại thuận tiện trong vùng biển này. Nếu tất cả nhà giàn ở thềm lục địa này đều rực sáng trong biển đêm thì thật thiết thực và đầy ý nghĩa”.

Nhớ rồi, “Rực sáng Trường Sa” - đó là tít lớn trên Tuổi Trẻ cách nay không lâu. Và đêm ở đảo Trường Sa Lớn chúng tôi cũng đã đi dưới ánh sáng đó - ánh sáng tích từ những bộ pin năng lượng mặt trời do nhiều cơ quan đơn vị trong cả nước đóng góp hỗ trợ. Nhờ vậy, nhiều đảo ở Trường Sa của chúng ta bây giờ không còn chìm trong bóng tối biển đêm. Vậy tại sao chúng ta không thể cùng góp tay để làm cho những nhà giàn DK1 - những cột mốc chủ quyền đặc biệt trên thềm lục địa phía Nam - rực sáng về đêm? Tại sao không?

Chúng tôi lại chợt nhớ cách nay gần hai tháng, từ đài chỉ huy tàu HQ 957, Bí thư Trung ương Đoàn Phan Văn Mãi đã nói qua sóng bộ đàm với anh em nhà giàn DK1 Phúc Tần thế này: “Chúng tôi xin hứa rằng: tuổi trẻ đất liền luôn hướng về các anh và sẽ luôn bên cạnh các anh!”. Một lời động viên tinh thần qua làn sóng điện như thế cũng đủ làm xúc động những người lính trẻ xa nhà. Nhưng vẫn chưa đủ. Có nhiều điều chúng ta có thể làm, có thể góp tay cùng nhau để khẳng định rằng không ai bị lãng quên, không ai cô đơn khi nơi đầu sóng ngọn gió họ hiến trọn tuổi thanh xuân của mình cho đất nước.

BÙI THANH - LÊ ĐỨC DỤC
Logged

Dân ta phải biết sử ta
Cái gì không biết cần tra Gúc gồ
binhnhatvn
Thành viên
*
Bài viết: 43


« Trả lời #116 vào lúc: 28 Tháng Sáu, 2009, 07:47:28 pm »

Tàu trực DK1



Xây dựng (sửa chữa?) nhà giàn







(nguồn: sưu tầm từ Internet)

« Sửa lần cuối: 28 Tháng Sáu, 2009, 11:38:39 pm gửi bởi binhnhatvn » Logged
tuaans
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 3774


« Trả lời #117 vào lúc: 30 Tháng Sáu, 2009, 03:34:52 am »

Đố các bác thùng chứa nước của nhà giàn nằm chỗ nào?  Grin
Logged
donghai
Thành viên
*
Bài viết: 169


Vì nước quên thân - Vì dân quên mình


WWW
« Trả lời #118 vào lúc: 30 Tháng Sáu, 2009, 06:35:26 am »

Đố các bác thùng chứa nước của nhà giàn nằm chỗ nào?  Grin

       Thùng chưa nước chắc phải để trên đỉnh nóc nhà giàn rồi. Như thế còn hứng được nước mưa nữa chứ!
Logged

Đông Hải

             

                Tổ quốc ta, dân tộc của chúng ta.
                Tuổi ấu thơ  hùng anh cho chí tuổi già.
chiangshan
Thành viên
*
Bài viết: 3405


No sacrifice, no victory


WWW
« Trả lời #119 vào lúc: 30 Tháng Sáu, 2009, 08:18:35 am »

http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=324120&ChannelID=3

Ngày hội kỷ niệm 20 năm DK1

Rực ấm màu cờ giữa biển khơi

TT - Lần đầu tiên sau 20 năm kể từ khi cụm kinh tế khoa học dịch vụ thềm lục địa phía Nam (gọi tắt là DK1) được thành lập, sáng 28-6 lễ kỷ niệm long trọng đã diễn ra ngay giữa trùng dương mênh mông. Phóng viên Tuổi Trẻ đã có mặt trên chuyến tàu ra DK1 trong ngày kỷ niệm lịch sử này.

 

Chuẩn đô đốc Nguyễn Cộng Hòa, phó chính ủy Quân chủng hải quân, dâng hương trước bàn thờ các liệt sĩ hi sinh ở thềm lục địa phía Nam - Ảnh: LÊ ĐỨC DỤC



Lễ kỷ niệm đã được Quân chủng hải quân, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tổ chức ngay giữa biển khơi.


Những vòng hoa tưởng niệm các liệt sĩ đã hi sinh trên thềm lục địa trôi qua bóng nhà giàn - Ảnh: LÊ ĐỨC DỤC



Hành trình 30 giờ

Chiều 25-6, khi họp đoàn để chuẩn bị sáng 26-6 xuất phát, bản tin dự báo thời tiết cho biết cơn bão số 3 còn ảnh hưởng đến vùng biển có nhà giàn DK1, sóng vẫn ở mức cấp 4, cấp 5. Thượng tá Hoàng Minh Chí, lữ đoàn phó quân sự lữ đoàn 171, khi trình bày kế hoạch hành quân trên biển đã nhấn mạnh phương án bố trí đội hình, khả năng tác chiến bảo đảm an toàn cho các đại biểu và ngư dân nếu có tàu lạ đến quấy nhiễu, dự báo thời tiết cộng với tình hình vùng biển khiến chúng tôi lên tàu với một tâm thế như “ra trận”.

Trong lễ tưởng niệm, chúng tôi vô cùng xúc động khi nghe chuẩn đô đốc Nguyễn Cộng Hòa dặn dò các chiến sĩ tiểu đoàn DK1:

"Trong bất cứ hoàn cảnh nào, dù có phải hi sinh cũng phải ra sức bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân, coi việc cứu dân, giúp dân, bảo vệ dân là nhiệm vụ chiến đấu, là mệnh lệnh của trái tim, là trách nhiệm, là nghĩa vụ cao cả, là phẩm chất cao đẹp của bộ đội Cụ Hồ - người chiến sĩ hải quân trong thời kỳ mới"
 

Nhưng chuẩn đô đốc Nguyễn Cộng Hòa, phó chính ủy Quân chủng hải quân, với kinh nghiệm “trận mạc và đại dương” của mình đã nói với các thành viên chuyến đi rằng sau khi xuất phát biển sẽ yên, trời sẽ đẹp... Và đến lúc này, khi kết thúc hành trình tại Vũng Tàu mới thấy những dự đoán của ông hoàn toàn chính xác.

Đại tá Đinh Gia Thật, phó chủ nhiệm chính trị quân chủng, khi ngồi với anh em trên nhà giàn DK1/17 đã nói chân thành: “Khó có thể hình dung được đi công tác ra DK1 mùa này mà biển lặng như thế, chắc anh linh các liệt sĩ ngã xuống trên thềm lục địa đã phù hộ cho đoàn công tác”.

Còn khát khao lớn nhất của chúng tôi vẫn là lên được những nhà giàn, bởi chuyến đi lần trước điều kiện thời tiết ảnh hưởng cơn bão số 1 đã không cho đoàn tiếp cận với anh em hôm ấy, cũng ngay chính vị trí của trạm DK1/17 mà chúng tôi lên lần này. Bởi nếu sóng chỉ mạnh tới cấp 3 thôi, chuyện lên nhà giàn sẽ rất khó cho các đại biểu đất liền (còn anh em hải quân có nhiều cách lên xuống nhà giàn trong mọi điều kiện thời tiết, có khi là đu dây, nhảy giàn... như diễn viên xiếc).

15g chiều 27-6, chúng tôi đã thấy bốn nhà giàn DK1/2, DK1/16, DK1/17, DK1/18 hiện ra trong tầm mắt. Bất ngờ hơn khi thấy quanh nhà giàn DK1/16 có rất nhiều tàu cá của ngư dân Bà Rịa - Vũng Tàu buông neo ở đó. Năm tàu trực của hải quân trên khu vực thềm lục địa phía Nam cũng tập trung về đây. Cả một vùng biển mênh mông chỉ có những ngôi nhà giàn im lặng in bóng lên nền trời nay chợt ồn ào sôi động trong buổi chiều trước ngày lễ kỷ niệm 20 năm.

Thật khó diễn tả cảm xúc của chúng tôi lúc đó, giữa trùng khơi quanh năm quạnh vắng bỗng ấm rực màu cờ đỏ trên những chiếc thuyền ngư dân, ồn ào tiếng hỏi thăm nhau qua bộ đàm, những câu chào hỏi rộn ràng trên những con thuyền đang điều chỉnh đội hình cho lễ mittinh ngày mai. Tổ quốc giữa trùng dương vừa mênh mông diệu vợi mà cũng thật gần gũi biết mấy!


Tờ báo Tuổi Trẻ được thả xuống biển với ước nguyện “Hãy làm DK1 rực sáng biển đêm!”...- Ảnh: LÊ ĐỨC DỤC


 

... và vẫn trôi cùng bàn thờ các liệt sĩ trên sóng một chặng biển dài - Ảnh: LÊ ĐỨC DỤC




Lễ kỷ niệm 20 năm DK1 được tổ chức tại khu vực bãi Phúc Tần sáng 28-6 - Ảnh: LÊ ĐỨC DỤC



Không ai bị lãng quên

Đêm xuống, quanh khu vực nhà giàn DK1/16 rực sáng ánh đèn từ các tàu thuyền về dự lễ. Các chương trình văn nghệ “cây nhà lá vườn” diễn ra ngay trên các boong tàu, tiếng hát tiếng đàn vang vang trong gió biển. Sau bao nhiêu năm ít được biết đến, giờ đây DK1 đã xuất hiện trong các bản tin thời sự, những thước phim, nhiều bài báo... Và vì thế lễ mittinh được tổ chức lần đầu tiên này mang một ý nghĩa lịch sử đặc biệt.

Buổi sáng các phóng viên trên tàu HQ-609 xuống canô sang tàu HQ-621 dự lễ, có ba chú cá heo bơi theo đùa giỡn. Chúng tôi chợt nhớ đến ba liệt sĩ đầu tiên: Trần Hữu Quảng, Trần Văn Là, Hồ Văn Hiền đã hi sinh trên thềm lục địa phía Nam chính tại đây - khu vực bãi Phúc Tần này vào một đêm dông bão cuối năm 1990. Có lẽ sáng nay hương hồn các anh cũng theo về trên những ngọn sóng này để chứng kiến ngày lễ trọng.

Boong tàu HQ-621, nơi diễn ra mittinh, được trang hoàng đẹp đẽ. Đại biểu từ đất liền ra, các ngư dân trên các tàu cũng cử đại diện lên tham dự. Trên các tàu đánh cá của ngư dân nổi bật những khẩu hiệu chữ vàng trên nền đỏ thắm: “Bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo, thềm lục địa của Tổ quốc là nghĩa vụ và trách nhiệm của mọi công dân”, “Quyết tâm bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo, thềm lục địa của Tổ quốc”...

Diễn văn của chuẩn đô đốc Nguyễn Cộng Hòa đọc tại buổi lễ đã nhấn mạnh vị trí quan trọng của Cụm kinh tế khoa học dịch vụ thềm lục địa phía Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, những hi sinh của cán bộ chiến sĩ DK1 đã được Đảng, Nhà nước và nhân dân ghi nhận với danh hiệu Đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ đổi mới. Tổ quốc và nhân dân không bao giờ quên công lao, những gian khổ mà anh em cán bộ, chiến sĩ, nhân viên trên các nhà giàn đã và đang chịu đựng.

Đại diện lãnh đạo tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, ông Vũ Ngọc Minh, trưởng ban tuyên giáo tỉnh ủy, đã đánh giá cao những cán bộ chiến sĩ của DK1 là những công dân ưu tú của tỉnh nhà, góp phần bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc nằm trên địa bàn của tỉnh suốt 20 năm qua. Trong thời gian tới, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu sẽ quan tâm sâu sắc hơn đến đời sống vật chất tinh thần của anh em đang công tác tại DK1.

Sau lễ kỷ niệm 20 năm thành lập DK1 là lễ tưởng niệm các liệt sĩ hi sinh trên thềm lục địa phía Nam được tiến hành trang trọng và xúc động. Không chỉ có hương hoa của ban tổ chức chuẩn bị, rất nhiều thành viên trong chuyến công tác đã tự mình mang theo hoa, rượu, hương để thả xuống biển như một tâm nguyện biết ơn của riêng mình với hương hồn các liệt sĩ.

Thượng tá Đỗ Minh Tuấn, trưởng ban thanh niên Quân chủng hải quân, mang những tờ báo Tuổi Trẻ số ra ngày 26-6 đặt lên bàn tưởng niệm. Trên trang nhất tờ báo nổi bật dòng tựa: “Hãy làm DK1 rực sáng biển đêm!”. Thượng tá Tuấn nói với chúng tôi: “Làm rực sáng những nhà giàn trên vùng biển thềm lục địa không chỉ là ước nguyện của anh em cán bộ chiến sĩ đang sống trên những nhà giàn, có lẽ đó cũng là tâm nguyện của cả những anh em đã hi sinh ở thềm lục địa. Mong sao tâm nguyện này sẽ chóng thành hiện thực. Chúng ta muốn gửi đến anh em một niềm tin ấm áp: không ai cô đơn, không ai bị lãng quên, vì có biết bao người đang đồng hành cùng các anh trên con đường bảo vệ biển cả quê hương”.

Những tờ báo Tuổi Trẻ được các sĩ quan hải quân thả xuống biển sau phút tưởng niệm, trôi dập dềnh cùng những vòng hoa tươi thắm trên biển DK1. Chúng tôi theo chiếc xuồng cao su để tìm một góc chụp có vòng hoa trôi qua bóng nhà giàn. Và thật lạ lùng, những trang báo có bài viết mang mơ ước của những ngôi nhà giàn DK1 và tâm tình của bạn đọc gần xa vẫn cứ lặng lẽ trôi theo những bông hoa, trôi hoài theo khói hương nghi ngút như đang sưởi ấm những anh hùng DK1 mãi yên nghỉ dưới lòng biển Tổ quốc...

Nhiệm vụ đột xuất

Lúc 12g trưa 27-6, khi đoàn công tác đến vùng biển cách bãi Phúc Tần chừng 40 hải lý ở tọa độ 8 độ 17’4” độ vĩ Bắc, 110 độ 08’07” độ kinh Đông, biên đội tàu phát hiện năm tàu đánh cá mang cờ Trung Quốc xâm phạm vùng biển thuộc chủ quyền VN. Trên cabin chỉ huy của tàu HQ-609 và HQ-621, chúng tôi đã chứng kiến sự phối hợp ngoạn mục giữa các biên đội tàu bảo vệ thềm lục địa để truy đuổi tàu lạ.

Từ loa công suất lớn, lời cảnh báo (bằng tiếng Việt, Anh và Hoa) được phát đi liên tục và mạnh mẽ: “...Các vị đang hoạt động bất hợp pháp trên vùng biển thuộc chủ quyền của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Yêu cầu các vị nhanh chóng rút khỏi vùng biển này và không được tái phạm... Chúng tôi nhắc lại...”

Sau hơn một giờ bị xua đuổi kiên quyết, các tàu mang cờ Trung Quốc mới chịu rút khỏi vùng biển này và chạy về hướng đông bắc.

BÙI THANH - LÊ ĐỨC DỤC
Logged

Dân ta phải biết sử ta
Cái gì không biết cần tra Gúc gồ
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM