Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 03:24:09 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Một số hình ảnh và thông tin về bảo vệ chủ quyền Việt Nam trên biển  (Đọc 403672 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
trucngon
Thành viên
*
Bài viết: 1776



« Trả lời #180 vào lúc: 16 Tháng Mười Hai, 2009, 07:32:30 am »

Yêu cầu Trung Quốc trả lại tàu cho ngư dân Việt Nam


Bộ Ngoại giao Việt Nam khẳng định việc Trung Quốc nhiều lần giữ tàu cá và ngư dân Việt Nam là hành động sai trái, yêu cầu Trung Quốc trả lại tàu cùng trang thiết bị và tài sản cho ngư dân Việt Nam.
 
Hôm nay, trả lời câu hỏi về phản ứng của Việt Nam trước việc ngày 7 và 8/12/2009, phía Trung Quốc đã bắt giữ 3 tàu cá của ngư dân tỉnh Quảng Ngãi đang hoạt động bình thường tại khu vực quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam, thu giữ hai tàu cùng thiết bị, tài sản và hải sản của ngư dân, dồn toàn bộ 43 ngư dân vào một tàu khi thả họ về Việt Nam, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam, bà Nguyễn Phương Nga, nói:

"Việt Nam quan ngại trước việc phía Trung Quốc nhiều lần bắt giữ tàu cá và ngư dân Việt Nam khi họ đang hoạt động bình thường tại các vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam. Đây là hành động sai trái, vi phạm nghiêm trọng chủ quyền, quyền chủ quyền của Việt Nam, không phù hợp với quan hệ hữu nghị giữa hai nước, gây nguy hại tới tính mạng và tài sản của ngư dân Việt Nam".

Bà Nga cho biết Bộ Ngoại giao đã trao công hàm cho Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội, yêu cầu phía Trung Quốc trả lại toàn bộ tàu cùng trang thiết bị và tài sản cho ngư dân Việt Nam, đồng thời có biện pháp chấm dứt các hành động tương tự trong tương lai.

Trước đó, ngày 14/12, Hội Nghề cá Việt Nam đã có văn bản gửi Đại sứ quán Trung Quốc phản đối hành động bắt giữ, ngược đãi 43 ngư dân tỉnh Quảng Ngãi.

Hội cho biết hai tàu cùng thiết bị, ngư cụ, nhiên liệu bị lực lượng Trung Quốc thu giữ có tổng giá trị trên 2 tỷ đồng.


Minh Long
http://www.vnexpress.net/GL/The-gioi/2009/12/3BA16B8B/

Logged
trucngon
Thành viên
*
Bài viết: 1776



« Trả lời #181 vào lúc: 16 Tháng Mười Hai, 2009, 07:41:12 am »

Đến philipin! Cool



Philipine chuẩn bị khảo sát địa chấn gần Trường Sa


Ngày 15/12, chính phủ Philipine đang trong quá trình chọn lựa các nhà đầu tư quốc tế để tiến hành khảo sát địa chấn 2 chiều tại khu vực Reed Bank, bao gồm một phần nằm trong khu vực quần đảo Trường Sa đang tranh chấp.Theo thông tin từ Bộ Năng lượng thì đã có danh sách 4 nhà thầu đăng ký tham gia vào dự án bao gồm các công ty PGS Asia Pacific (của Singapore), CGG Veritas (của Singapore), Fugro Geo Team AS (của Na-uy), Geraldine Geo Survey Ltd (của Anh).

Bộ năng lượng đã dự trù 1 khoản ngân sách 75 triệu Peso cho dự án này và việc đấu thầu sẽ được hoàn thành trong khoảng 6 tuần.

“Việc khảo sát sẽ được tiến hành trong quý I-năm 2010, trong khoảng thời gian từ 4-6 tuần.
Các công ty dự thầu sẽ phải cung cấp và xử lý các dữ liệu 2 chiều về địa chấn, vật lý, từ trường và độ sâu của khu vực kéo dài khoảng 760 km này.”, Bộ Năng lượng thông báo.

Bồn Reed Bank nằm cách Palawan khoảng 250 km về phía Tây, với diện tích 71.000 km vuông. Bộ Năng lượng cho biết, theo ước tính bồn có trữ lượng khoảng 440 triệu thùng.

Trong diễn biến có liên quan, ngày 07/12, Tập đoàn thăm dò dầu khí xa bờ lớn nhất Trung Quốc, có kế hoạch bắt đầu khoan các giếng dầu nước sâu và tăng gấp đôi sản lượng dầu thô và khí tự nhiên tại khu vực phía tây Biển Đông nhằm đáp ứng nhu cầu năng lượng ngày càng tăng của nước này.

Tập đoàn dầu khí lớn thứ 3 Trung Quốc này có kế hoạch sẽ tăng sản lượng tại khu vực này từ 10 triệu mét khối, tương đương 38,97 triệu thùng, năm 2008, lên 20 triệu mét khối vào năm 2015, ông Ke Luxiong, Phó Tổng giám đốc chi nhánh CNOOC tại Trạm Giang, Quảng Đông, cho biết sau khi đi thị sát các hoạt động của đơn vị này.

An Phú (Theo Abs-cbnnews)
http://vitinfo.com.vn/Muctin/Quocte/LA70435/default.htm
Logged
trucngon
Thành viên
*
Bài viết: 1776



« Trả lời #182 vào lúc: 16 Tháng Mười Hai, 2009, 10:11:54 am »

Và Trung Quốc! Cool


Trung Quốc thả phao tiêu quan trắc hải dương tại quần đảo Hoàng Sa


Trong đợt hành trình khảo sát lần thứ 6 (từ 31/8- 21/9/2009), Sở Nghiên cứu Nam Hải thuộc Viện Khoa học Trung Quốc Việc đã tự ý bố trí trạm quan trắc khu vực tại vùng biển gần đảo Phú Lâm (quần đảo Hoàng Sa) trên lãnh thổ của Việt Nam. Đây là một việc làm coi thường luật pháp quốc tế.

   Phao tiêu này có đường kính 3m, thuộc loại phao tiêu quan trắc hải dương tầng mặt nước, có khả năng đo đạc trong thời gian dài các tham số khí tượng, thủy văn trong khu vực vùng biển được bố trí. Số liệu do phao tiêu thu thập được sẽ được mã hóa truyền tải tới trạm bờ, được lưu giữ, phục vụ cho công tác xử lý, phân tích bằng phần mềm chuyên dụng.

   Phao tiêu gần đảo Phú Lâm là một trong những hạng mục thuộc hệ thống mạng lưới quan trắc nghiên cứu vùng biển ven bờ do Viện Khoa học Trung Quốc triển khai. Trong hệ thống này còn có các hạng mục khác như: hệ thống quan trắc thủy triều ven đảo, trạm khí tượng tự động trên quần đảo Hoàng Sa, phao tiêu ngầm thu thập trầm tích và phao tiêu quang học nổi ở vùng biển phía Tây Hoàng Sa

   Trạm nghiên cứu, quan trắc hải dương tại Hoàng Sa là trạm cuối cùng trong hệ thống mạng quan trắc sinh thái và môi trường biển Đông, bao gồm trạm đặt tại quần đảo Trường Sa, trạm đặt tại vịnh Đại Á (Huệ Châu, Quảng Đông), Tam Á (Hải Nam).

   Việc thu thập dữ liệu phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học là một việc làm đáng hoan nghênh, tuy nhiên, việc Trung Quốc tự ý bố trí các trạm quan trắc trên lãnh thổ của Việt Nam là một việc làm coi thường luật pháp quốc tế.

   Kể từ năm 1974, sau khi dùng vũ lực đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa, Trung Quốc đã có nhiều động thái nhằm triển khai sự chiếm đóng dài hạn ở quần đảo này. Thực tế, trên Quần đảo Hoàng Sa đã có các trạm Quan trắc của Việt Nam hoạt động liên tục nhiều năm, cung cấp dữ liệu cho cả thế giới. Trạm này do người Pháp xây dựng từ năm 1932 mang số hiệu 48860. Nhóm 48 chỉ vùng Đông Nam Á; số 860 dùng cho trạm Hoàng sa. Trạm chính thức hoạt động liên tục từ năm 1938 cho đến khi Trung Quốc đánh chiếm quần đảo, năm 1974.

   Trên đây là hình ảnh trạm Khí tượng hải văn Trường Sa - là một trong số 26 trạm phát bão quốc tế trên toàn thế giới. Trạm này được đăng ký số 48920 tại WMO, góp phần thể hiện chủ quyền lãnh thổ của nước Việt Nam

http://www.biendao.org/news.php?do=detail&id=1599
« Sửa lần cuối: 16 Tháng Mười Hai, 2009, 10:21:23 am gửi bởi trucngon » Logged
tankt90s
Thành viên
*
Bài viết: 106



« Trả lời #183 vào lúc: 16 Tháng Mười Hai, 2009, 09:23:01 pm »

Vậy là nói đi nói lại vẫn là vấn đề năng lượng và ở đây là dầu mỏ,sao con người ta càng lớn càng tham lam thế nhỉ?Chẳng lẻ nơi đây sắp biến thành Trung Đông trên biển sao?.Tại sao thay vì chi tiền vào nghiên cứu tìm ra nguồn năng lượng mới thì họ lại bỏ tiền ra mà chạy đua vũ trang, tiêm vào đầu con cháu họ sự hận thù và để rồi đánh đánh, cướp cướp.Đến một ngày hết dầu thì làm sao?chả phải khủng hoảng à,đám phương tiện chiến tranh đó đem bán phế liệu à .Bây giờ còn thời gian thì không chịu làm,đến lúc đó thì hối hận cũng không kịp.
Logged
trucngon
Thành viên
*
Bài viết: 1776



« Trả lời #184 vào lúc: 17 Tháng Mười Hai, 2009, 10:16:32 am »

Tranh chấp trên Biển Đông và giải pháp khai thác chung (kỳ 1)



Khai thác chung là một thỏa thuận giữa các quốc gia liên quan, nhằm chia sẻ tài nguyên trên các vùng biển chồng lấn. Liệu các bên liên quan có thể đi tới giải pháp khai thác chung cho vùng tranh chấp trên Biển Đông?

LTS: Để rộng đường dư luận, Tuần Việt Nam xin đăng tải hai kỳ bài viết thể hiện quan điểm riêng của Th.S.Hoàng Việt, ĐH Luật TP HCM, như một tư liệu để độc giả tham khảo. Bài viết giới thiệu về khai thác chung trong các vùng biển tranh chấp theo quy định của luật pháp và thực tiễn quốc tế.


* * * * *

Công ước Luật Biển năm 1982 của Liên Hợp Quốc trong Khoản 3 Điều 74 và Điều 83 có quy định: “Trong khi chờ ký kết thỏa thuận ở Khoản 1, các quốc gia hữu quan, trên tinh thần hiểu biết và hợp tác, làm hết sức mình để đi đến các dàn xếp tạm thời có tính chất thực tiễn và để không phương hại hay cản trở việc ký kết các thỏa thuận dứt khoát trong giai đoạn quá độ này. Các dàn xếp tạm thời không phương hại đến việc hoạch định cuối cùng…”.

Đây chính cơ sở pháp lý của luật pháp quốc tế trong việc tiến hành hợp tác khai thác chung trong khi chờ phân định.

Khai thác chung không phải là ý tưởng mới trong giải quyết các tranh chấp biển trên thế giới. Mô hình khai thác chung trên thế giới đã được thực hiện từ lâu, điển hình là Hiệp ước Svalbard ngày 19/12/1920, theo đó các bên tranh chấp công nhận chủ quyền của Nauy đối với quần đảo Svalbard, trong khi duy trì quyền tiếp cận hiện hữu của các quốc gia khác đối với quần đảo này nhằm mục đích thực hiện việc khai thác, săn bắt và các hoạt động kinh tế khác.

Kể từ khi Hiệp ước này ra đời, trên thế giới đã có khoảng 20 điều ước quốc tế về mô hình hợp tác khai thác chung được ký kết, ví dụ như Thỏa thuận khai thác chung giữa Papua New Guinea và Australia năm 1978, Nauy và Anh ở Biển Bắc, Ảrập Xêut và Sudan, Thái Lan và Malaysia, Australia và Indonesia, Việt Nam và Malaysia…

Những nguyên tắc cần lưu ý

Khai thác chung là một thỏa thuận giữa các quốc gia liên quan, nhằm chia sẻ tài nguyên trên các vùng biển chồng lấn. Cơ sở của các thỏa thuận này chính là chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán trên các vùng biển của quốc gia theo quy định của luật pháp quốc tế.

 
Tuy nhiên, thỏa thuận về khai thác chung phải được coi là giải pháp tạm thời nhằm giảm xung đột giữa các bên tranh chấp và chỉ nhằm mục đích phát triển nguồn tài nguyên mà thôi. Thỏa thuận này không được làm ảnh hưởng tới yêu sách về chủ quyền lãnh thổ cũng như các quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên biển. Đây là điều cần lưu ý khi bàn tới giải pháp khai thác chung.
Ngoài ra, trong vấn đề hợp tác khai thác chung, cũng cần chú ý tới một điều quan trọng khác là: Trong luật pháp quốc tế về biên giới lãnh thổ, có một nguyên tắc là “sự liên tục và xác định đường biên giới”. Điều này cũng được nêu ra tại Điều 62 Công ước Vienna về Luật Điều ước Quốc tế năm 1969, khuyến cáo sự ổn định của các đường biên giới.

Trên những nguyên tắc đó, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng “cái tạm thời của ngày hôm nay có thể trở thành vĩnh viễn sau một thời gian nào đó”. Thực tế trên thế giới thì thỏa thuận giữa Iceland và Jan Mayen tháng 10 năm 1981, thỏa thuận giữa Bahrain và Ảrập Xêut tháng 2 năm 1958 đã trở thành những thỏa thuận vĩnh viễn.

Đối với Biển Đông, cho tới nay, đã có nhiều đề nghị cho phương án hợp tác khai thác chung trên vùng biển tranh chấp này.

1. Phương án “chia sẻ tài nguyên Biển Đông”

Năm 1997, nhóm Mark J. Valencia của Đại học Hawaii đã đưa ra ý tưởng cho việc chia sẻ tài nguyên trong khu vực quần đảo Trường Sa. Nhóm học giả này cho rằng các nỗ lực giải quyết tranh chấp hiện tại đã lảng tránh hai vấn đề quan trọng, đó là chủ quyền lãnh thổ và khai thác tài nguyên thiên nhiên. Vì vậy, các nỗ lực gần như không có tác dụng bao nhiêu bởi vì vẫn chưa ngăn chặn được các hoạt động đơn phương của các quốc gia liên quan.

Do đó, để khắc phục tình trạng này, nhóm Mark J. Valencia khuyến cáo nên đưa ra một cơ chế hợp tác đa phương tại khu vực tranh chấp với nguyên tắc: Các tuyên bố về chủ quyền Biển Đông đều được công nhận; giải pháp tạm thời không ảnh hưởng đến giải pháp cuối cùng; không có các hoạt động quân sự; tài nguyên thiên nhiên được khai thác và chia sẻ theo nguyên tắc bình đẳng và công bằng.

Các bên trong tranh chấp sẽ thiết lập một thể chế quản lý tài nguyên biển trong khu vực để tổ chức nghiên cứu, khảo sát đánh giá về tiềm năng dầu khí. Qua đó, các bên sẽ xác định khu vực và phương thức hợp tác chung thông qua một cơ chế đa phương điều hành hoạt động khai thác chung và phân chia các nguồn lợi.

Thành viên bao gồm tất cả các bên tranh chấp và không có tranh chấp; cơ chế ra quyết định là đồng thuận và nguyên tắc phân bổ tài nguyên phụ thuộc vào tuyên bố đòi hỏi của các bên có tính đến yếu tố lịch sử. Tuy nhiên, việc quyết định phân chia tài nguyên hay quyết định về nhượng quyền khai thác sẽ được các bên tranh chấp trực tiếp thông qua.

Nhóm Mark J. Valencia cũng đưa ra 5 kịch bản cho việc chia sẻ trong việc khai thác tài nguyên tại Biển Đông. Cụ thể là:

(1) Toàn bộ Biển Đông sẽ được chia dựa trên đường cách đều từ các đường cơ sở của các bên, bỏ qua sự hiện diện của hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa;

(2) Phân chia Biển Đông dựa trên đường cách đều tính từ các đường cơ sở, bỏ qua sự hiện diện của Trường Sa, nhưng trao cho Hoàng Sa toàn bộ hiệu lực như là lãnh thổ của Trung Quốc;

(3) Phân chia Biển Đông dựa trên “sự công bằng tương đối” và những mối quan ngại về địa chính trị. Trong đó, thực chất là sự phân chia dựa trên sức nặng của các tuyên bố chủ quyền, vị trí chiếm đóng các đảo và yêu sách về các thềm lục địa;

(4) Các nước tự xác định ranh giới 200 hải lý tính từ đường cơ sở (với các đường cơ sở phải được xây dựng một cách hợp lý), ở những nơi có vùng chồng lấn thì sẽ chia theo đường cách đều các ranh giới 200 hải lý đó, bỏ qua sự hiện diện của Hoàng Sa và Trường Sa;

(5) Tương tự như kịch bản (4) nhưng Hoàng Sa có đầy đủ hiệu lực và thuộc về lãnh thổ của Trung Quốc. [1]

Điểm chung của tất cả các kịch bản phân chia nói trên là đều bỏ qua một phần hoặc toàn bộ sự hiện diện của hai quần đảo đang bị tranh chấp và giành nhiều lợi thế cho Trung Quốc (ví dụ kịch bản số (2) và số (5) đều coi Hoàng Sa là lãnh thổ thuộc chủ quyền của Trung Quốc).

Theo phương thức này thì các bên tranh chấp đều phải tôn trọng và công nhận yêu sách của Trung Quốc trên toàn bộ Biển Đông và có thể khai thác chung các khu vực thềm lục địa của các nước khác. Đây có lẽ chính là điều khiến cho đề xuất này trở nên bất khả thi bởi lẽ không một quốc gia tranh chấp nào chấp nhận từ bỏ chủ quyền.

Thêm nữa, việc phân chia này cũng rất phức tạp, trên thực tế cũng chẳng khác gì việc xác định chủ quyền trên quần đảo Trường Sa. Ngoài ra, việc phân chia này lại phụ thuộc vào “sức nặng” hơn là tính hợp lý của các yêu sách về chủ quyền.

2. Phương án “Gác tranh chấp, cùng khai thác” của Trung Quốc

Bản tham luận của hai học giả Trung Quốc Ji Guoxing là Li Jinming trong Hội thảo Quốc tế về Biển Đông tại Hà Nội vừa rồi đã nhắc lại quan điểm truyền thống của Trung Quốc trong giải quyết tranh chấp Biển Đông, đó là chủ trương “gác tranh chấp, cùng khai thác” của họ.

Chính sách “gác tranh chấp, cùng khai thác” của Trung Quốc được ông Đặng Tiểu Bình đưa ra lần đầu tại Tokyo tháng 10 năm 1982. Đây là một phương án được Trung Quốc đưa ra với quan điểm cùng hợp tác khai thác chung khu vực Biển Đông.

Về mặt hình thức, đề nghị này của Trung Quốc dường như là hợp lý, vì nó phù hợp với thực tiễn và luật pháp quốc tế, đặc biệt là xu hướng hợp tác trên biển ở các khu vực khác trên thế giới.

Tuy nhiên, nhìn nhận phương án này có những vấn đề tồn tại như sau:

Về mặt pháp lý, cơ sở để Trung Quốc tham gia tranh chấp Biển Đông là dựa vào yêu sách về chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và lập lờ sử dụng “đường lưỡi bò” - một yêu sách phi lý chiếm gần 80% toàn bộ Biển Đông.

Trung Quốc hiểu rằng nếu đấu tranh trên mặt trận pháp lý, họ khó có thể giành được lợi thế trong cuộc tranh chấp Biển Đông. Do đó, đề nghị “gác tranh chấp, cùng khai thác” của Trung Quốc làm cho dư luận dễ bị lầm tưởng là phù hợp với luật pháp và thực tiễn quốc tế.

Về mặt chính trị, đề nghị “gác tranh chấp, cùng khai thác” được thực hiện, Trung Quốc sẽ đạt được nhiều mục tiêu có lợi cho họ, trong đó họ có thể duy trì được yêu sách lãnh thổ và vùng biển không phải của Trung Quốc. Quan trọng hơn, đây là một giải pháp chính trị khôn khéo của Trung Quốc nhằm trấn an dư luận, mở rộng ảnh hưởng và chia rẽ các nước trong khu vực.

Về thực chất, ta có thể thấy như sau:

- Một mặt, Trung Quốc đề nghị khai thác chung, nhưng mặt khác Trung Quốc vẫn duy trì yêu sách “đường lưỡi bò” chiếm gần 80% Biển Đông và chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

- Quan trọng hơn, phần lớn các khu vực mà Trung Quốc đề nghị khai thác chung đều nằm trên khu vực thềm lục địa hiển nhiên thuộc chủ quyền của nước khác. Thực ra, ý tưởng khai thác chung của Trung Quốc dường như là sự tham gia của các nước khác trong việc khai thác những gì họ coi là của họ, trái ngược với hình thức khai thác chung truyền thống – đó là việc cùng đóng góp các quyền đối với tài nguyên trong các vùng tranh chấp.

Đánh giá về các đề xuất của Trung Quốc, nhóm Mark J. Valencia nhận xét: “Một bài học khác có thể thu được từ phương pháp của Bắc Kinh trong các tranh chấp lãnh thổ khác, đó là họ có thể sẵn sàng đàm phán và thậm chí tham gia vào một thỏa thuận khai thác chung (song phương) khi họ không nắm được quyền kiểm soát hoàn toàn lãnh thổ đang tranh chấp, ví dụ, quần đảo Trường Sa hay Điếu Ngư, ở Biển Đông Trung Hoa.

Mặt khác, nếu họ nắm quyền kiểm soát chắc chắn hoàn toàn khu vực, ví dụ quần đảo Hoàng Sa, họ sẽ không muốn đàm phán, chứ đừng nói tới việc tham gia vào bất kỳ một chương trình hợp tác nào”. [2]
http://tuanvietnam.net/2009-12-14-tranh-chap-tren-bien-dong-va-giai-phap-khai-thac-chung-ky-1-
Logged
trucngon
Thành viên
*
Bài viết: 1776



« Trả lời #185 vào lúc: 18 Tháng Mười Hai, 2009, 07:34:42 am »

Tranh chấp trên Biển Đông và giải pháp khai thác chung (2)[/center]


Trong khu vực Biển Đông, nhiều mô hình hợp tác chung rất thành công, nhưng cũng không ít mô hình sẽ mãi mãi không thể trở thành hiện thực. Nhìn chung, những mô hình hợp tác thành công phải thỏa mãn được một số điều kiện…

Lời tòa soạn: Trong kỳ 1 bài viết, tác giả Hoàng Việt đã giới thiệu sơ lược về phương án “chia sẻ tài nguyên Biển Đông” của nhóm Mark J. Valencia và phương án “gác tranh chấp, cùng khai thác” do phía Trung Quốc đưa ra.

Nhằm cung cấp tư liệu tham khảo cho độc giả, Tuần Việt Nam tiếp tục đăng tải kỳ 2 bài viết, nói về phương án khai thác chung do phía Việt Nam đề xuất, và những điều kiện căn bản để các bên có thể tiến tới giải pháp khai thác chung thành công.

* * *

3. Phương án “Hợp tác cùng phát triển” của Việt Nam

Việt Nam cũng đưa ra một sáng kiến cho việc hợp tác khai thác chung trên Biển Đông, đó là đề xuất “hợp tác cùng phát triển”. [1] Đề xuất này được biết tới lần đầu tiên là do ông Đỗ Mười nêu ra chính thức trong chuyến thăm Thái Lan tháng 10 năm 1993 và sau đó chủ trương này đã và đang được Việt Nam triển khai trên thực tế.

Khác với đề xuất “gác tranh chấp, cùng khai thác” của Trung Quốc, chủ trương “hợp tác cùng phát triển” trong các khu vực tranh chấp bao gồm không chỉ thăm dò, khai thác tài nguyên mà còn bao gồm các lĩnh vực khác như bảo vệ môi trường biển, nghiên cứu khoa học biển, bảo vệ nguồn lợi thủy sản, giữ gìn an toàn và an ninh hàng hải, chống cướp biển… và các lĩnh vực khác phù hợp với lợi ích của các bên liên quan.

Hợp tác cùng phát triển  trong khu vực Biển Đông nhằm mục đích đảm bảo và phục vụ lợi ích của các bên liên quan, biến Biển Đông thành một khu vực hòa bình, hợp tác và phát triển bền vững. Các bên tranh chấp phải tuân thủ các nguyên tắc được nêu trong Tuyên bố ASEAN - Trung Quốc năm 2002 về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), Công ước của LHQ về Luật biển năm 1982 (UNCLOS) và các nguyên tắc của luật pháp quốc tế được thừa nhận rộng rãi.

Về phạm vi thực hiện, việc hợp tác cùng phát triển được thực hiện ở những vùng có tranh chấp thực sự. Khu vực có tranh chấp thực sự là khu vực chồng lấn bởi những đòi hỏi chủ quyền của các bên liên quan có căn cứ pháp lý và lịch sử vững chắc, phù hợp với quy định của luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước về Luật biển năm 1982 và được các bên thừa nhận là vùng có tranh chấp.

Theo đó, trên Biển Đông, các vùng đang có tranh chấp cơ bản là khu vực quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và khu vực ngoài 200 hải lý tính từ đường cơ sở của quốc gia ven biển.

Ngoài ra còn có thể kể đến các vùng thềm lục địa ở phía nam và tây nam Việt Nam, cũng được coi là vùng chồng lấn được các bên thừa nhận những đòi hỏi chủ quyền của nhau giữa Việt Nam với Malaysia, giữa Việt Nam, Thái Lan và Malaysia; hay tại vùng nước lịch sử giữa Việt Nam và Campuchia.

Tại các vùng biển này, thực tế cho thấy, việc triển khai hợp tác cùng phát triển được tiến hành khá thuận lợi do đã đáp ứng được các tiêu chí về việc xác định vùng thực sự có tranh chấp.

Như vậy, mọi hoạt động của bất cứ bên nào tại các vùng biển của một quốc gia mà không có sự chấp thuận của quốc gia đó sẽ bị coi là hành vi vi phạm chủ quyền và quyền chủ quyền của quốc gia ven biển. Do đó, những hành vi như vậy không thể được coi là tinh thần hợp tác và cần bị loại trừ nhằm tránh gây những căng thẳng trong khu vực.

Ví dụ như hành động Trung Quốc và Philipines cùng nhau ký kết một thỏa thuận thăm dò địa chấn biển chung tại một khu vực có tranh chấp nhiều bên, trong đó có Việt Nam, mà không có sự đồng thuận của Việt Nam là vi phạm chủ quyền của Việt Nam và đi ngược lại tinh thần của DOC.

Sau khi Việt Nam kiên quyết phản đối, Trung Quốc và Philippines đã phải hủy bỏ thỏa thuận hai bên đó và ký kết một thỏa thuận ba bên về thăm dò địa chấn tại khu vực này.

Những điều kiện để khai thác chung thành công

Cho đến nay, một số cuộc thương lượng nhằm đi đế thỏa thuận về việc phát triển tài nguyên tại một số vùng tranh chấp khác nhau trên thế giới đã mang lại kết quả và được coi như là những khuôn mẫu cho việc quản lý phát triển tài nguyên trong Biển Đông.

Cũng giống như tranh chấp Biển Đông, mỗi thỏa thuận đều nhằm giải quyết những vấn đề liên quan đến tranh chấp chủ quyền, quyền tài phán biển, những tính toán về địa chiến lược và quyền tiếp cận các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Qua các thỏa thuận này, chúng ta có thể học hỏi được nhiều điều về những cách thức và biện pháp mà những thỏa thuận này đã xử lý đối với vấn đề chủ quyền hóc búa, cũng như vấn đề phạm vi và chiều hướng của các quyền, những nhiệm vụ và trách nhiệm của các bên liên quan.

Đối với tranh chấp Biển Đông, cũng đã có nhiều ý tưởng, đề xuất về những giải pháp tạm thời cụ thể: từ mức độ xây dựng lòng tin, đến quản lý cùng khai thác tài nguyên chung tại khu vực này.

Trong khu vực Biển Đông, nhiều mô hình hợp tác chung rất thành công, nhưng cũng không ít mô hình sẽ mãi mãi không thể trở thành hiện thực. Qua phân tích về những trường hợp hợp tác nói trên, những mô hình hợp tác thành công phải thỏa mãn được các điều kiện sau:

- Đáp ứng được nhu cầu và lợi ích chung của các bên;

- Việc khai thác chung được thực hiện trong một khu vực chồng lấn được xác định rõ ràng, tạo bởi các tuyên bố chủ quyền của các bên phù hợp với luật pháp quốc tế - đây là tiêu chí quan trọng nhất trong bất kỳ thỏa thuận khai thác chung nào.

- Cơ chế, phương thức hợp tác khai thác chung trên cơ sở luật pháp quốc tế. Tranh chấp Biển Đông là một trong những tranh chấp phức tạp nhất thế giới, vì thế không có một mô hình nào hay phương thức hợp tác chung duy nhất nào có thể áp dụng thành công ở Biển Đông. Trong đó, điều quan trọng là hợp tác khai thác chung phải đảm bảo phân chia lợi ích của các bên một cách bình đẳng.

- Việc hợp tác khai thác chung không ảnh hưởng đến quá trình đàm phán cũng như yêu sách chủ quyền của mỗi bên. Cơ sở để các bên có thể đạt được một thỏa thuận về hợp tác cùng phát triển là việc hợp tác này không phương hại đến lập trường, quá trình đàm phán cũng như giải pháp cuối cùng là phân định vùng biển chồng lấn giữa các bên.

Có thể nói, xét bối cảnh tranh chấp tại Biển Đông hiện nay về mặt chính trị, các nước trong khu vực chưa có được lòng tin ở mức độ nhất định để có thể gác tranh chấp sang một bên và tiến hành hợp tác khai thác chung trong toàn bộ Biển Đông.

- Việc hợp tác cùng khai thác chung tại khu vực Biển Đông tranh chấp chỉ có thể được thực hiện thành công và thực sự góp phần biến Biển Đông thành một khu vực hòa bình, hợp tác và thịnh vượng khi các bên thể hiện thiện chí và quyết tâm trong việc hợp tác, qua đó xây dựng lòng tin, đẩy lùi nguy cơ xung đột, phục vụ lợi ích của mình cũng như lợi ích chung của khu vực.

Trong tranh chấp Biển Đông, mối quan tâm, lợi ích của các bên trong tranh chấp đôi khi không đồng nhất, do đó bất kỳ một đề xuất hợp tác nào chỉ tập trung vào một đối tượng duy nhất và áp dụng chung cho tất cả các bên tranh chấp Biển Đông đều khó thành công. Ví dụ như lập trường chính trị của Trung Quốc đề nghị gác lại vấn đề chủ quyền, khai thác chung tài nguyên của các quần đảo này không được các bên tranh chấp chấp nhận vì Trung Quốc vẫn luôn đưa ra yêu sách của bên mạnh nhất.

Vài lời kết

Cho đến nay, phương án hợp tác đa phương trong khu vực Biển Đông vẫn luôn là một giải pháp được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới tán thành, mặc dù nó mới chỉ là một phương án tạm thời.

Tuy nhiên, chỉ có Việt Nam và Philippines là những nước tranh chấp sẵn sàng ủng hộ cho giải pháp này mà thôi. Trung Quốc một mặt có những phát biểu xoa dịu tình hình nhưng mặt khác luôn sử dụng sức mạnh của mình trong việc giải quyết những bất đồng.

Là một cường quốc, với những nhu cầu rất lớn về năng lượng, Trung Quốc luôn có tham vọng khống chế Biển Đông, biến Biển Đông thành “ao nhà” của mình. Có lẽ hơn ai hết, để chống lại chính sách “nước lớn” của Trung Quốc, thì các nước ASEAN phải cùng có lập trường chung với nhau thì mới thoát ra hiện trạng đang diễn ra theo hướng có lợi cho Trung Quốc như bây giờ.

Trong bối cảnh như vậy, đề xuất “hợp tác cùng phát triển” với nội dung hợp tác đa dạng, có lẽ đáp ứng được lợi ích và mối quan tâm của các bên là giải pháp thích hợp hơn cả. Trên thực tế, tại một số khu vực tranh chấp trên thế giới, ví dụ giữa Nhật Bản với Trung Quốc, giữa Nhật Bản và Nga, bên cạnh việc hợp tác khai thác chung dầu khí, các bên còn thỏa thuận thành lập các vùng đánh cá chung để đáp ứng lợi ích truyền thống của nhân dân các bên liên quan.

 

Chú thích

[1]: Tuyên bố 4 điểm trong chuyến thăm Thái Lan của Tổng Bí thư Đỗ Mười.

http://tuanvietnam.net/2009-12-16-tranh-chap-tren-bien-dong-va-giai-phap-khai-thac-chung-2-
Logged
trucngon
Thành viên
*
Bài viết: 1776



« Trả lời #186 vào lúc: 19 Tháng Mười Hai, 2009, 10:51:53 am »

"Đã thấy đủ ý chí độc chiếm Biển Đông của Trung Quốc"




ASEAN phải hành động cùng nhau trước khi thảo luận với Trung Quốc. Bằng cách đối thoại, dần dần từng bước vấn đề Biển Đông sẽ được giải quyết. Và sẽ là hữu ích nếu ASEAN tìm sự hỗ trợ từ các chuyên gia bên ngoài - tướng Daniel Schaeffer (Pháp).

Với mong muốn "không để những kiến thức về Biển Đông bị mất đi", tướng Daniel Schaeffer từ Pháp đã qua Việt Nam dự Hội thảo quốc tế về Biển Đông do Học viện Ngoại giao phối hợp với Hội Luật gia Việt Nam tổ chức.

Tại hội thảo này, tướng Daniel Schaeffer đã nêu lên sự thật về đường lưỡi bò của Trung Quốc với những vô lý của nó, dựa trên Công ước Luật biển Quốc tế 1982 và những bằng chứng lịch sử liên quan đến Biển Đông mà ông có được nhờ có điều kiện tiếp xúc sớm và tiếp tục tìm kiếm các tài liệu quý về Biển Đông tại Pháp. (Ông từng là tùy viên quân sự Pháp tại Thái Lan, Việt Nam, và Trung Quốc).
Tuần Việt Nam ghi nhận ý kiến của ông liên quan đến tình hình tranh chấp Biển Đông hiện nay, vai trò của Trung Quốc và lựa chọn chính sách của các nước ASEAN.

Cộng đồng quốc tế vẫn tiếp tục bối rối về tình hình biển Đông. Mặc dù hi vọng về những tiến triển tích cực liên quan đến Công ước quốc tế về Luật Biển 1982, về các thỏa thuận song và đa phương, các nguyên tắc ứng xử trên Biển Đông... thế nhưng vấn đề ở Biển Đông vẫn luôn như cũ: sự gia tăng lực lượng quân sự của Trung Quốc.

Thời gian gần đây, mối quan ngại của các quốc gia liên quan đến Biển Đông về hành động của Trung Quốc ngày càng gia tăng. Tuy nhiên, vẫn có cơ hội dành cho đối thoại và tìm kiếm một giải pháp, dù không phải là giải pháp cuối cùng cho vấn đề Biển Đông. Theo một cách nào đó, chúng ta sẽ tìm ra phương cách để có được những cuộc đối thoại tích cực và có chất lượng về các vấn đề liên quan đến Biển Đông.

Dù sao, vấn đề Biển Đông không thể giải quyết một sớm một chiều.
 
Giữa Trung Quốc và các nước ASEAN liên quan đến tranh chấp đã có hiệp định về đánh bắt cá, thế nhưng vẫn xảy ra những vấn đề với ngư dân khi tránh bão (xem thêm: Chuyện kể của những ngư dân trở về từ cõi chết).
Cơ chế trao đổi thông tin về hoạt động quân sự trong khu vực Biển Đông cũng được thiết lập.

An toàn hàng không cũng được cam kết đảm bảo với cơ chế thông tin về an toàn bay của vùng, và tất cả các quốc gia đều lưu tâm đến vấn đề an toàn bay.

Cũng có những thỏa thuận về khoa học và thương mại, như thỏa thuận ba bên về khai thác chung giữa Trung Quốc, Philippines và Việt Nam...

Nói chung, có khá nhiều ví dụ về khả năng hợp tác của các quốc gia liên quan ngay cả khi các nước này cạnh tranh với nhau để khẳng định chủ quyền trên Biển Đông.

Vấn đề là mỗi quốc gia ven Biển Đông không tìm ra giải pháp để có hợp tác kinh tế tốt, dẫn tới việc một số khu vực giàu tài nguyên sẽ không được khai thác để mang lại lợi ích cho các quốc gia này.

Trong nội bộ ASEAN, các nước cũng đã xây dựng các cơ chế khu vực và song phương để xử lý tranh chấp Biển Đông. Tuy nhiên, khi mà Trung Quốc vẫn còn đứng đối lập với những thỏa thuận đạt được bên trong khối ASEAN thì một mặt các nước ASEAN có thể hợp tác với nhau để triển khai các thỏa thuận, đồng thời không được phép rời mắt khỏi Trung Quốc, quan sát và xem xét động thái của nước này.

Tôi đã thấy đủ ý chí của Trung Quốc muốn kiểm soát và độc chiếm Biển Đông.

ASEAN hành động cùng nhau, mời chuyên gia quốc tế

Vấn đề lớn nhất là các nước ASEAN bao quanh Biển Đông không nhìn vào đối tác đủ tin tưởng để có thể cùng đối thoại về vấn đề này.

Hai là, Trung Quốc đang ngày càng gia tăng sức mạnh, không chỉ ở lĩnh vực quân sự mà cả ở lĩnh vực chính trị và chiến lược. Ngay cả khi Trung Quốc thể hiện một số cách để cải thiện tình hình căng thẳng ở Biển Đông với việc bỏ tiền cho hợp tác, thì sức mạnh của nước này sẽ làm ảnh hưởng đến giá trị của nỗ lực.

ASEAN phải hành động cùng nhau trước khi thảo luận với Trung Quốc. Bằng cách đối thoại, dần dần từng bước vấn đề Biển Đông sẽ được giải quyết.

Và sẽ là hữu ích nếu ASEAN tìm sự hỗ trợ từ các chuyên gia bên ngoài, có thể là các nhà khoa học đến từ các tổ chức quốc tế để giúp các quốc gia có liên quan trong ASEAN tìm giải pháp và đưa vấn đề này ra Tòa án công lý quốc tế.

Trung Quốc có thể đệ trình bất cứ cái gì nước này muốn, tuy nhiên, bản đồ đường lưỡi bò không thể được chấp nhận tại UB về thềm lục địa của LHQ, nếu theo đúng CƯ Luật Biển quốc tế 1982. Không có gì phải tranh cãi về điều đó.

Tuyên bố của Trung Quốc không thể được xem xét trên quan điểm lịch sử, bởi vì không có vùng nước lịch sử được quy định tại CƯ về Luật Biển quốc tế. Đó cũng không thể là vùng lãnh hải vì khoảng cách từ bờ biển đến các đường này quá xa so với quy định của CƯ.

Trung Quốc cũng không xác định tọa độ của đường ranh giới 9 đoạn này và cũng không giải thích được tại sao lại xác định đường ranh giới này, và cơ sở của nó. - Tướng Daniel Schaeffer (Pháp).
 http://www.tuanvietnam.net/2009-12-05-da-thay-du-y-chi-doc-chiem-bien-dong-cua-trung-quoc-
Logged
trucngon
Thành viên
*
Bài viết: 1776



« Trả lời #187 vào lúc: 21 Tháng Mười Hai, 2009, 01:39:29 pm »

Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân trên biển


Trao đổi với VietNamNet, Phó Đô đốc, nguyên Tư lệnh Quân chủng Hải quân, trung tướng Đỗ Xuân Công, Phó Chủ tịch Hội cựu chiến binh TP.HCM cho rằng phải thực hiện bằng được chủ trương xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân trên biển.


Trung tướng Đỗ Xuân Công:

Nòng cốt là hải quân
Biển, đảo luôn luôn giữ một vị trí quan trọng trong sự phát triển của đất nước ta, vì thế có thể khẳng định rằng biển đảo Việt Nam là một phần lãnh thổ thiêng liêng không thể tách rời của Tổ quốc Việt Nam.
Biển, đảo cũng giữ một vai trò hết sức quan trọng trong vấn đề phát triển kinh tế đất nước và bảo vệ Tổ quốc, chống mọi kẻ thù xâm lược từ hướng biển.
Vì vậy, bảo vệ chủ quyền của biển đảo của Tổ quốc là một nhiệm vụ thiêng liêng của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân mà lực lượng Hải quân là lực lượng nòng cốt làm nhiệm vụ này.
Tình hình hiện nay trên biển có những tranh chấp phức tạp, nhưng chúng ta tin tưởng rằng, chúng ta có đủ điều kiện, khả năng để bảo vệ vững chắc biển đảo của Tổ quốc.
Chúng ta sẽ đấu tranh trên cơ sở pháp lý, luật biển quốc tế và trên những chứng cứ lịch sử. Bằng con đường đấu tranh ngoại giao, pháp lý và bằng thương lượng hòa bình để chúng ta giữ vững toàn vẹn chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc. 
Trước mắt, phải giáo dục cho toàn dân ta hiểu về vai trò, vị trí của biển và ngày càng thêm yêu biển, đảo của Tổ quốc. Phải xây dựng lực lượng toàn dân, thực hiện bằng được chủ trương xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân trên biển và xây dựng lực lượng nòng cốt là lực lượng Hải quân để bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.
Thượng tướng Phan Trung Kiên, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng:

Thương lượng
Hiện nay trên biển có những tranh chấp phức tạp. Phải giải quyết với nhau bằng thương lượng, hòa bình.
Thời buổi bây giờ không thể giống như chuyện của mấy ngàn năm về trước, nhận thức cũng đã khác. Tuy nhiên vẫn còn một bộ phận thiếu thông tin, chưa nhận ra vấn đề và họ đã góp phần làm phức tạp thêm tình hình là không nên.
Cứ làm theo đường lối, quan điểm của Đảng và Nhà nước mình đã định hướng. Phải làm sao tạo điều kiện để giữ bình yên, làm ăn giàu có, xây dựng xã hội văn minh… Muốn vậy cái cần nhất là phải ổn định.
Nói như vậy không có nghĩa là chúng ta chỉ giữ ổn định một cách thúc thủ. Ai cố tình xâm phạm đến chủ quyền của Việt Nam thì đâu thể chấp nhận được.

Trong thế giới văn minh ngày nay, dùng quân đông, nước mạnh đi chiếm nước này, nước kia… không được đâu. Bây giờ ai vi phạm điều này sẽ bị lên án ngay. 
Nếu ai cố tình đi làm cái việc trái ngược với lương tâm, đạo lý của loài người thì sẽ bị trả giá.

Đại tá Lê Kim Dũng, Trưởng Ban quốc tế Viện Chiến lược quân sự, Bộ Quốc phòng:

Chúng ta có đủ sức mạnh để bảo vệ Tổ quốc
Quan điểm của Việt Nam là không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế, mà giải quyết mọi bất đồng và tranh chấp với các quốc gia khác bằng biện pháp hòa bình. Điều này không có nghĩa chúng ta không có đủ sức mạnh vũ trang cần thiết để bảo vệ Tổ quốc. Chính sức mạnh vũ trang đủ mạnh cũng là một sự răn đe đối với mọi kẻ xâm lược, có tác dụng ngăn ngừa chiến tranh.

Tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông là một vấn đề hết sức phức tạp, liên quan đến nhiều quốc gia trong khu vực. Vì vậy không thể giải quyết vấn đề này trong một thời gian ngắn. Hiện nay có nhiều giải pháp mà chúng ta có thể lựa chọn như tiến hành thương lượng hòa bình, đưa vấn đề ra tòa án quốc tế... Mỗi giải pháp có những thuận lợi và khó khăn riêng. Vì vậy chúng ta phải nghiên cứu kỹ lưỡng, tiến hành thận trọng nhưng không thể thiếu quyết tâm chính trị.

Để đạt được mục tiêu bảo vệ vững chắc chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông, chúng ta phải huy động sức mạnh của toàn dân tộc, tích cực, chủ động tìm ra các biện pháp, giải pháp thích hợp, hiệu quả để đạt được mục tiêu mà vẫn giữ vững được hòa bình, ổn định trong khu vực.

Theo Tuổi Trẻ
 


Đoàn Quý
http://vietnamnet.vn/chinhtri/200912/Xay-dung-the-tran-quoc-phong-toan-dan-tren-bien-885326/
Logged
Hai Ruộng
Thành viên
*
Bài viết: 1275


« Trả lời #188 vào lúc: 21 Tháng Mười Hai, 2009, 09:10:08 pm »

 Các cụ Trung Ương cũng rất sáng suốt xây dựng thế trận lòng dân trên biển để bảo vệ vùng Biển Hoàng SA và Trường Sa . Xây dựng sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc để bảo vệ và xây dựng  đất nước . Đẩy mạnh hiện đại hóa binh chủng Hải Quân - Không Quân .Mềm mỏng khôn khéo dùng thương lượng để giải quyết tranh chấp là đúng . Nhưng cũng không nên xem nhẹ đường bộ từ phía tây đất nước mình , cũng cố và thắt chặt tình đoàn kết gắn bó giữa ba dân tộc của ba nước Đông Dương cũng hết sức quan trọng . Ngày nay hệ thống đường xá phát triển , giao thông thuận lợi , nhất là con đường xuyên ba nươc Đông Dương . Nếu ta lơ là thì biết đâu đây lại là con đường bất ngờ thọc vào sườn ta đó .
Logged
5tan
Thành viên
*
Bài viết: 230


Đoàn kết hay là chết !


« Trả lời #189 vào lúc: 22 Tháng Mười Hai, 2009, 03:25:01 pm »

... Ngày nay hệ thống đường xá phát triển , giao thông thuận lợi , nhất là con đường xuyên ba nươc Đông Dương . Nếu ta lơ là thì biết đâu đây lại là con đường bất ngờ thọc vào sườn ta đó .
Bác Hai ! Thế  chiến II, Phát xít Đức rất mạnh ở khả năng cơ động nhanh. Quân đồng minh rất sợ tính cơ động này của phát xít Đức.
Em nghĩ, 3 nước Đông Dương không thể tách rời nhau được; Nếu kẻ thù nào muốn tấn công ta thì chắc chắn chúng cũng phải tính toán đến khả năng này của ta đấy (và ngược lại Lào và Campuchia cũng vậy). Theo em, nếu ta đụng chuyện thì rất có thể Lào và Campuchia sẽ là hậu phương chi viện cho ta đấy.
Logged

”Mau lên hỡi bạn xe thồ-Đường lên mặt trận vui mô cho bằng - Qua đèo rồi lại qua sông - Xe thồ đè bẹp xe tăng quân thù” - Tố Hữu
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM