Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 12:46:02 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Một số hình ảnh và thông tin về bảo vệ chủ quyền Việt Nam trên biển  (Đọc 403565 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
trucngon
Thành viên
*
Bài viết: 1776



« Trả lời #250 vào lúc: 19 Tháng Hai, 2010, 01:07:05 pm »

Bay cấp cứu đến Trường Sa



Mai bay ra Trường Sa với 917 nhé!” - điện thoại từ đại tá Đỗ Hồng Ngọc, Chủ nhiệm chính trị Đoàn không quân B70 vào một chiều cuối năm 2009. Ngay trong đêm, chúng tôi vội vào sân bay quân sự để sáng sớm hôm sau lên đường
 
4 giờ 30 phút, bên chiếc trực thăng Mi 171 mang số hiệu VN SAR 04 CỨU NẠN, Ban chỉ huy Trung đoàn không quân trực thăng 917 đã hiện diện không thiếu một ai. Từ thượng tá Trung đoàn trưởng Lê Việt Thắng, rồi thượng tá Chính ủy Mai Đình Dương và thượng tá Trần Văn Quang - Phó trung đoàn trưởng, Tham mưu trưởng cùng với các bộ phận chuyên môn khác, họ đang khẩn trương chuẩn bị cho một chuyến bay ra đảo Trường Sa Lớn để cấp cứu và chuyển về đất liền một người lính đang mắc bệnh hiểm nghèo. Đó là thượng úy Đảo trưởng đảo Đá Lát  Ngô Văn Hải. Anh bị bệnh nặng hơn 1 tuần qua, đã được tàu hải quân đưa từ đảo Đá Lát về đảo Trường Sa Lớn để trị bệnh nhưng bệnh quá nặng sợ không qua khỏi... 
 
Chúng tôi nhanh chóng nhận được thông báo hành trình sẽ là Tân Sơn Nhất - Phan Thiết - Phú Quý - Trường Sa với thời gian cả đi lẫn về 7 tiếng đồng hồ.
Với tôi, đây là lần thứ 5 ra Trường Sa nhưng là lần đầu tiên đi bằng trực thăng. Bốn lần trước đi bằng tàu hải quân, trên đường đi, tôi đã cảm nhận được sự nhỏ bé của con người, con tàu trước đại dương mênh mông, còn lần này, chúng tôi càng thấy sự “chông chênh, chơi vơi” khi ngồi trên chiếc trực thăng nhỏ bé mà ở dưới  bốn bề là nước. Thời tiết hôm đó thật khó lường. Đang trong xanh bỗng tối sầm lại. Mưa bắt đầu tới tấp đập vào kính cửa máy bay, chiếc trực thăng bé nhỏ với những tay lái kỳ cựu vẫn cứ lầm lũi bay trong mưa...
 
Rồi đảo Trường Sa Lớn cũng hiện ra trước mắt chúng tôi. Từ trên trực thăng nhìn xuống đảo là một tam giác cây cối xanh um, nhà cửa vườn tược... Điều mà chúng tôi thấy được đầu tiên và rõ nhất khi từ máy bay bước xuống là những nụ cười của quân và dân đang sinh sống và công tác trên đảo Trường Sa, nhất là những nụ cười trẻ thơ, hồn nhiên đến lạ lùng.

Không thể chậm trễ, bước ra từ  máy bay, thượng tá bác sĩ Dương Đình Cảnh và đại úy quân y sĩ Trịnh Tôn Quyền của Bệnh viện 175 đến ngay Bệnh xá thị trấn Trường Sa. Trên giường bệnh, anh Ngô Văn Hải đang nằm thở mệt nhọc với những cơn ho tưởng như không dứt. Sau hơn 30 phút cấp cứu, bác sĩ Cảnh cho biết: nếu chậm trễ, bệnh nhân có thể chết bất cứ lúc nào...

Nghe vậy, tổ bay quyết định bay về đất liền ngay lập tức. Trước lúc máy bay cất cánh, ông Vi Đức Thanh - Chủ tịch UBND thị trấn Trường Sa, huyện Trường Sa, tỉnh Khánh Hòa nói với chúng tôi: “Thấy máy bay ra, chúng tôi vô cùng xúc động. Việc làm này giúp chúng tôi an tâm hơn trong xây dựng và bảo vệ đảo ngày càng vững mạnh...”. Còn anh Nguyễn Xuân Yên, đang đánh cá khi thấy máy bay đáp xuống đã cùng vợ mang vội mấy chú cá bò để đãi các chú không quân ăn cho có sức.
 
Trên cả quãng đường về, thời tiết như thử thách bản lĩnh của những phi công Trung đoàn 917. Mưa xối xả, mưa như trút nước, trời như hạ thấp xuống và tối sầm với tầm nhìn rất hạn chế. Trong buồng lái, các cơ trưởng Đỗ Thành Hồng và Trần Như Vy vẫn vững vàng thay nhau lái. Sau gần 4 giờ bay, chiếc trực thăng đã hạ cánh an toàn xuống sân bay căn cứ Tân Sơn Nhất. Chiếc xe cấp cứu của Bệnh viện 175 hú còi đón bệnh nhân Ngô Văn Hải ngay cầu thang máy bay. Còn những người trực chỉ huy của Trung đoàn 917 vui mừng đón sự trở về an toàn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của tổ bay bằng những cái bắt tay thật chặt.
 
Theo Thanh Niên
Ngon lành nhé! Grin
Logged
trucngon
Thành viên
*
Bài viết: 1776



« Trả lời #251 vào lúc: 22 Tháng Hai, 2010, 12:34:04 pm »

Chuyện những người dựng "làng trên biển" (Kỳ 1)




Kỳ  1 - Gian nan ngày đầu

Nét độc đáo của các nhà giàn DKI được các chuyên gia Nga ví như những khách sạn trên Biển Đông, quần thể các nhà giàn được xem như "làng trên biển" trên thế giới chưa có tiền lệ... Để xây dựng được "làng trên biển" ấy, biết bao cán bộ, chiến sĩ, công nhân, chuyên gia kỹ thuật đã phải đổ mồ hôi, thậm chí xương máu. Hai mươi năm đã qua, chuyện vui, buồn, nỗi vất vả của những người đã xây dựng nhà giàn DKI nay được kể lại. Chuyện của họ thậm chí còn được kể  bằng cả một tập thơ.

Vùng biển DKI rộng khoảng 80.000km vuông, nằm trọn trong vùng biển thềm lục địa của nước ta, thuộc khu vực Nam Biển Đông. DKI án ngữ trên tuyến đường hàng hải quốc tế; là tiền đồn phía Nam quần đảo Trường Sa; là khu vực rào chắn phía ngoài bảo vệ vùng khai thác dầu khí, nơi đánh bắt thủy sản, khai khoáng... quan trọng của nước ta. Hai mươi năm trước, Cụm dịch vụ kinh tế khoa học kĩ thuật tại các bãi đá ngầm thuộc vùng biển này đã ra đời, các công trình được gọi tắt là các nhà giàn DKI.

Một vùng núi đá xa xa

Cách mặt nước biển quả là không sâu

Đây là điểm tựa dài lâu,

Ta xây dựng được tòa lầu xinh xinh...

(Dấu ấn thời gian công trình DKI, Nguyễn Quang Ánh, nguyên phó ban DKI)

Một ngày đông đầu năm 2010, Đại tá Nguyễn Bá Hiểu, một người đã theo các công trình DKI suốt 20 năm qua và hiện là Trưởng ban quản lí dự án các công trình DKI (ban DKI), Bộ tư lệnh Công binh, kể lại:

 "Tôi vẫn nhớ như in kỉ niệm đầu tiên khi tham gia ban DKI. Đất nước trong bối cảnh cuối những năm 80, đầu năm 90 của thế kỷ trước, trên cương vị trợ lý vật tư, tôi cùng một số đồng chí chỉ huy trong ban DKI đã phải tới khá nhiều nơi để chọn cho bằng được vài trăm tấn nguyên vật liệu là các loại sắt thép đặc chủng, các loại gỗ đúng yêu cầu thiết kế, chịu được ăn mòn nước biển, nhẹ, bền, chắc... để chuẩn bị cho việc dựng nhà giàn DKI.

Lần đó, cũng vào dịp giáp Tết, cơ quan cử tôi và hai cán bộ về kho vật liệu của Tổng công ty dầu khí (nay là Tập đoàn dầu khí quốc gia) tại Thái Bình để chọn vật liệu chuẩn bị dựng hai nhà giàn. Khẩn trương vào kho, lựa chọn, ghi chép, lên số liệu, thành phần sắt thép trong kho... Xong xuôi, trời đã quá chiều. Những năm đó, chúng ta mới bắt đầu cải cách mở cửa, đời sống còn nhiều khó khăn, trước khi đi chúng tôi đã chủ động xin một chiếc xe có thùng (còn gọi là loại gát đít vuông), mục đích muốn mua chút gạo Thái Bình để cải thiện. Tuy nhiên, khi xong việc muộn quá, chợ đã tan, gạo không mua được. Bàn bạc một hồi, cả nhóm 3 người quyết định mua hai con lợn để về thành phố bán, hưởng chênh lệch giá và bù đắp hao hụt khi ăn đường... Suốt chặng đường từ Thái Bình về Hà Nội, ngoài việc ngồi chung với hai chú lợn, thi thoảng tôi lại phải đút rau cho lợn ăn để bảo đảm “chú ỉn” luôn khỏe mạnh (cười...). Đó là món tài sản không hề nhỏ... Sau khi về đến Hà Nội, “vỗ béo” hai chú trong hai ngày, gọi thợ đến bán, kết quả chia 3, mỗi người “lời” được số tiền trị giá bằng cả cây thuốc lá ngon...".

Câu chuyện về những người lính Công binh đã xây dựng nhà giàn DKI được bắt đầu vô tư như vậy đó. Ông Hiểu bộc bạch: "Cách đây hai mươi năm, cứ vào những dịp này, những đoàn quân "đặc biệt" lại hành quân vào khu vực tập kết ở cảng Vũng Tàu. Tại đây, công tác chuẩn bị từ khâu thiết kế, hàn, lắp ghép, gia công... các chi tiết, cấu kiện để hình thành nên một nhà giàn được bắt đầu.... Từ khâu chuẩn bị nguyên vật liệu, tới lúc lên khung, đưa cấu kiện ra tàu, thi công trên biển, xử lý tình huống phát sinh... nghe đơn giản nhưng thực tế lại vô cùng khó khăn. Đối mặt và giải quyết xong công việc của nhà giàn này, chuyển qua nhà giàn khác, hết làm mới đến sửa chữa... công việc cứ cuốn tôi và các đồng đội... Thoáng một cái, hai mươi năm đã qua".

Ông tâm sự: "Một năm vài tháng lênh đênh trên biển với các đợt thi công, gia cố, sửa chữa, bảo dưỡng... có lẽ không ai hiểu chúng tôi hơn chính các cán bộ, chiến sĩ Hải quân sống trên nhà giàn DKI, và cũng không ai hiểu chiến sĩ sống trên nhà giàn DKI bằng các chiến sĩ Công binh. Tôi hỏi: "Tại sao lại như vậy?". Như chạm đúng nỗi niềm, ông Hiểu kể: Ngày 5-7-1989, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (HĐBT), nay là Thủ tướng Chính phủ đã ra chỉ thị triển khai thực hiện xây dựng các Trạm dịch vụ kinh tế khoa học kĩ thuật (gọi tắt là các nhà giàn DKI) tại khu vực các đảo san hô ngầm Tư Chính, Phúc Nguyên, Phúc Tần, Quế Đường, Huyền Trân, Ba Kè... và thành lập ban chỉ đạo nhà nước, do đồng chí Trần Đức Lương, Phó chủ  tịch HĐBT là Trưởng ban; các bộ, ngành có liên quan, nòng cốt là Bộ Quốc phòng, Bộ Giao thông-Vận tải và Tổng cục Dầu khí.

Ban đầu, Ban đã phối hợp tổ chức triển khai 3 công trình DKI/1; DKI/4; DKI/3 tại các bãi đá ngầm trên khu vực Tư Chính, Phúc Tần và Ba Kè. Đây là loạt công trình đầu tiên có tính đột phá được đưa ra lắp dựng trên vùng DKI. Do yêu cầu gấp của nhiệm vụ, ta lại chưa có kinh nghiệm, mặt khác nhiều số liệu khí tượng thủy văn, địa chất công trình phục vụ cho thiết kế chưa chính xác, cho nên các công trình này chưa đáp ứng với yêu cầu sử dụng. DKI/3 đã bị đổ vào ngày 5-12-1990. Hai công trình DKI/1 và DKI/4 được xây dựng từ những ngày đầu, thiết kế chiều cao sóng thấp, sóng đánh gây rung lắc mạnh, đang chờ gia cố sửa chữa.

Ban chỉ đạo nhà nước xác định rõ, việc xây dựng các công trình DKI có tính chất đặc biệt quan trọng, khó khăn và nguy hiểm. Rút kinh nghiệm từ công tác chỉ đạo cũng như những tồn tại khiếm khuyết ban đầu, ngày 26-2-1990, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã ra quyết định số 60/QĐQP giao cho Binh chủng Công binh làm chủ đầu tư và thành lập Ban xây dựng công trình DKI, nay là Ban quản lí dự án công trình DKI, tổ chức triển khai thực hiện xây dựng các nhà giàn DKI. Tới năm 1998, tổng cộng đã xây dựng được hàng chục công trình, trong đó có 19 công trình tại các bãi đá ngầm san hô, có độ sâu nước từ 7,5m đến 25m. Một công trình trên nền đất yếu tại bãi cạn ở độ sâu nước 25m; hai công trình xây dựng theo phương án móng trọng lực; một công trình theo phương án móng cọc kết hợp; còn lại là các công trình theo phương án móng cọc.

"Các công trình DKI được xem như "làng trên biển" độc đáo của ta mà trên thế giới chưa có tiền lệ"- (Báo cáo của Ban biên giới-Bộ Ngoại giao đã nêu). Các chuyên gia Nga của Xí nghiệp Liên doanh dầu khí Vietsopetro đã nhận xét: Các công trình DKI như là những khách sạn giữa Biển Đông. Trong báo cáo với chính phủ về kết quả xây dựng công trình DKI, giai đoạn 1989 -1997, đồng chí cố Đại tướng, nguyên Bộ trưởng Quốc phòng Đoàn Khuê đã đánh giá, hệ thống các công trình DKI đã xác lập và khẳng định chủ quyền của ta tại vùng biển Đông Nam của Tổ quốc; các công trình đang hoạt động thực sự như những chốt tiền tiêu; là chỗ dựa tin cậy bảo vệ phía ngoài khi triển khai công tác thăm dò và khai thác dầu khí, trợ giúp hiệu quả cho ngư dân trong việc đánh bắt hải sản xa bờ tại khu vực biển này. Năm 2009, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Thượng tướng Phan Trung Kiên, Chủ tịch hội đồng nghiệm thu các công trình DKI đã nhận xét: "Hệ thống các công trình DKI hiện đang khai thác sử dụng đã khẳng định vai trò lịch sử, hoàn thành tốt chức năng nhiệm vụ đã đặt ra". Đánh giá tinh thần chịu đựng gian khổ của cán bộ, chiến sĩ tham gia xây dựng nhà giàn, Thượng tướng Phan Trung Kiên nhấn mạnh "ý chí tiến công cách mạng không khác gì chiến đấu trong chiến tranh. Lãnh đạo Đảng, Nhà nước cũng như nhân dân cũng đã biết tới những công việc thầm lặng trong suốt 20 năm qua. Nhiều hoạt động tôn vinh cũng đã tổ chức, sự quan tâm động viên kịp thời của các cấp lãnh đạo cũng mang tới sức sống mạnh mẽ hơn cho những người đã xây dựng các nhà giàn DKI. Sự thừa nhận, nhìn nhận của Lãnh đạo và nhân dân khiến những mất mát hi sinh của cán bộ, chiến sĩ, công nhân... càng thêm có ý nghĩa".

Trước đó, Thượng tướng Đào Đình Luyện, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng tham mưu trưởng nhận xét: "Nét đặc sắc có ý nghĩa hàng đầu là tìm ra giải pháp, đóng được cọc vào nền san hô, và giải pháp hạ được công trình ổn định đóng được cọc rất sâu vào nền đất yếu. Các công trình xây dựng bền vững, chịu được sóng, gió, dòng chảy lớn của đại dương. Thành công của các công trình DKI đã mở ra hướng mới cho ngành công trình biển non trẻ của nước ta". Thiếu tướng Dương Đức Hòa, Tư lệnh Binh chủng Công binh nhận xét: "Cái được lớn nhất chính là sự trưởng thành về kĩ thuật, về kinh nghiệm khi triển khai thi công các công trình biển của cán bộ, chiến sĩ Công binh. Thành công của các nhà giàn DKI đã mở ra hướng mới trong thi công xây dựng các công trình biển, phục vụ đắc lực cho việc xây dựng các công trình phòng thủ biển, bảo vệ đất nước".

Những hồi ức như ùa về, ông Hiểu xúc động kể:

"Hơn 20 năm kể từ khi có nhà giàn DKI đầu tiên, và tròn 20 năm thành lập ban DKI, có thể nói tôi đã sống gần trọn cuộc đời binh nghiệp với việc xây dựng các nhà giàn DKI. Rất nhiều chuyện vui, chuyện buồn cũng như sự trưởng thành của tôi gắn chặt với các công trình DKI. Đặc biệt, khi việc phát triển ra hướng biển trở thành ưu tiên chiến lược của Đảng và Nhà nước, hơn lúc nào hết, chúng tôi hiểu rõ trách nhiệm nặng nề của mình.

Mùa đông  - Thét gào gió Đông Bắc

Mùa hè - hầm hập gió Tây rang

Sóng thần, giặc dữ luôn rình rập

Lính DK - "dạ sắt gan vàng"

(DKI - Nơi đầu sóng, Phạm Ngọc Nam, nguyên trưởng ban DKI)

Với chúng tôi, hình ảnh về cuộc sống đời thường, khó khăn nguy hiểm, những gian khổ, thiếu thốn cả vật chất lẫn tinh thần, nhưng cũng rất kiên cường, dũng cảm của những người lính Hải quân sống và làm nhiệm vụ trên các nhà giàn DKI lúc nào cũng như thôi thúc chúng tôi, cần phải làm những công trình tốt hơn nữa, tiện lợi hơn nữa. Chứng kiến những giây phút đồng đội gặp hoạn nạn mới thấy thấm thía giá trị của những công trình. Cho dù đã hết sức cẩn trọng trong các bước thiết kế, thi công, nhưng buổi ban đầu với những thiếu thốn trăm bề, không lường hết sự khắc nghiệt của thiên nhiên khiến cái giá phải trả không chỉ lớn về vật chất, mà đó còn là sinh mạng của đồng đội. Chúng tôi vô cùng cảm phục những sĩ quan Hải quân, đến phút chót, giữa ranh giới cái chết và cái sống, không nghĩ tới cá nhân mình, bám trụ đến cùng, quấn chặt lá cờ Tổ quốc, ra đi trong lòng biển quê hương.

"Sóng thần"  - DK ba, năm, sáu đổ

Quảng, Hiền, Là, Chương, Hồng, An hi sinh

Gương anh hùng DK giữ biển

Vì Tổ quốc nhân dân quên mình

Lời cuối "Chào! Chúng tôi đi đây..."

Quảng, Hiền, Là, Chương, Hồng, An tuyệt thay

Tổ quốc ghi công, những người giữ biển, đảo

Trường tồn DK - Việt Nam này...!

(Gương anh hùng DKI, Phạm Ngọc Nam - Nguyên Trưởng ban quản lí dự án DKI, Bộ tư lệnh Công binh)

Ông Hiểu nói:"Là lính công binh, nhưng gắn bó với các công trình biển suốt 20 năm, không biết tự lúc nào, tình yêu với biển đã ngấm vào trong tim. Những người lính Công binh với truyền thống mở đường thắng lợi, nay lại xuất sắc trong nhiệm vụ trên biển Đông". Chính vì gắn bó quá lâu với DKI, đã thành thói quen, mỗi khi nghe báo áp thấp hay bão sắp về, lòng tôi lại phấp phỏng lo âu, không biết sóng lớn vậy anh em ngoài nhà giàn sẽ thế nào. Có con sóng nào gây ảnh hưởng cho các nhà giàn DKI hay không... Tấm gương anh dũng của các cán bộ, sĩ quan Hải quân như lời nhắc nhở nghiêm khắc nhất với tất cả chúng tôi rằng phải làm tốt hơn nữa, để không bao giờ còn phải chứng kiến đồng đội mình ra đi giữa lúc đất trời bình yên".

"Hai mươi năm nghe báo thời tiết

Tiêu điểm - vùng Trường Sa, DK

Yên lòng - dù bão cấp mười sáu

Luôn trĩu lo - "sóng thần" tràn qua"

http://www.qdnd.vn/QDNDSite/vi-VN/61/43/56/57/57/103951/Default.aspx











Logged
trucngon
Thành viên
*
Bài viết: 1776



« Trả lời #252 vào lúc: 22 Tháng Hai, 2010, 12:37:24 pm »

Chuyện những người dựng "làng trên biển" (Kỳ 2)


Kỳ 2: Chắc từ móng, vượt chiều cao sóng

Tiếp tục câu chuyện về các nhà giàn DKI, Đại tá Nguyễn Bá Hiểu cho biết, một nhà giàn DKI chắc chắn, an toàn là nhà có móng vững chắc, cọc ổn định, có ma sát tốt với nền san hô, chân đế vững vàng, thiết kế có chiều cao sóng phù hợp (khoảng từ 17m đến 20m), và một khối thượng tầng được thiết kế hợp lí. Sở dĩ mấy nhà giàn DKI xây dựng từ những năm đầu bị đổ, ngoài yếu tố thời tiết, gió bão quá khắc nghiệt, một phần cũng do buổi ban đầu còn lạc hậu, chưa có đủ số liệu tính toán chính xác, các số liệu về khảo sát địa hình địa chất, số liệu khí tượng thủy văn còn rất sơ sài... Số liệu về độ cao sóng, hệ số ma sát giữa cọc thép với nền san hô chưa phản ánh đúng thực tiễn. Trên thực tế, các nhà giàn DKI bị đổ chỉ được tính toán cho chiều cao sóng là 7,5 đến 14m, trong khi chiều cao sóng thực tế lúc "quật đổ" nhà giàn đã lên tới 17-18m.

Khắc phục các yếu tố trên, từ năm 1990, khi ban DKI ra đời, cán bộ, sĩ quan trong Ban đã phối hợp chặt chẽ với các đơn vị thiết kế, các viện nghiên cứu Biển trong cả nước để tổ chức lấy số liệu, từ đó thiết kế nhà giàn phù hợp với tình hình thực tế. Đảm bảo an toàn cho bộ phận cán bộ, chiến sĩ sống trên nhà giàn, ngay từ ban đầu, công tác thiết kế được thẩm định chặt chẽ thông qua hội đồng các cấp phê duyệt.

Sau khi hồ sơ thiết kế được phê duyệt, quá trình thi công được chia làm hai giai đoạn, thi công trên bờ và thi công trên biển. Thi công trên bờ bao gồm hàn lắp ghép các mô-đun của chân đế, khối thượng tầng. Thi công trên biển gồm công đoạn đóng móng cọc, hàn ghép... để hình thành một nhà giàn DKI hoàn chỉnh. Quá trình triển khai công trình đã dần đi vào chính quy và nề nếp. Các vấn đề về cấp độ sóng, gió, dòng chảy, nước biển dâng, độ mặn nước biển… từng bước được chính xác dần. Riêng về chiều cao sóng đã điều chỉnh tăng dần từ 6,9m lên 9m, đến 10,5m và 14m, và hiện là 15,8m.

Về kết cấu nền san hô, lúc đầu chỉ khảo sát địa hình, sau này vừa khảo sát địa hình, vừa khoan thăm dò địa chất. Qua khoan thăm dò địa chất, đã xác định được một số đặc điểm địa chất và tính chất cơ lí của nền san hô.

Bão cấp 16 chẳng ngại đâu

DK sừng sững vững bền lâu

Sóng 15 mét nhà vẫn đứng

Với Trường Sa trường cửu mai sau...

(Còn mãi với Trường Sa, Phạm Ngọc Nam, nguyên Trưởng ban DKI)

Tôi hỏi: "Công trình với hàng nghìn tấn sắt thép, thi công cách xa bờ 500-600km làm thế nào có thể thi công trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt, sóng to gió lớn?". Ông Hiểu cho biết: Một công trình nhà giàn DKI cơ bản có 3 phần: Móng, chân đế và khối thượng tầng (nhà ở và sân bay). Đầu tiên phải khảo sát, tìm được chỗ thích hợp để hạ chân đế rồi lồng cọc vào ống chân đế, sau đó đóng cọc sâu vào nền đá san hô. Khi đã tạo thành móng chắc chắn, hàn khối chân đế với cọc có gắn khối thượng tầng ở trên.

 Móng công trình có 3 loại móng là móng trọng lực, móng trọng lực kết hợp với cọc và móng cọc đều đã được áp dụng. Trong giai đoạn xây dựng mới, loại móng 4 cọc được lấy làm chủ đạo. Đã đưa ra ứng dụng nhiều loại cọc khác nhau, cọc có mũi vát, mũi đầu đạn. Cọc có ống lồng, buồng bơm trám xi-măng, tăng dính bám cọc và nền. Cọc có một ống lồng, 2 ống lồng để tăng cứng cho ngàm… Khối móng của mỗi công trình gồm có 4 cọc thép. Cọc được cấu tạo bằng thép ống hợp kim chịu mặn, có đường kính 720mm, dày 20mm được đóng sâu vào nền san hô từ 13 đến 24m, có ống lồng nhằm tăng cứng tại phần ngàm và tạo buồng  áp lực bơm bê-tông tạo dễ với nền san hô. Tổng trọng lượng sắt thép cho một công trình từ 450 tấn đến 700 tấn, tùy theo từng vị trí nông sâu nơi đặt công trình.

Về chân đế, lựa chọn dạng kết cấu chân đế khung nối, dầm chịu lực. Chân đế được chế tạo bằng thép ống, hợp kim chịu mặn, có đường kính từ 273mm đến 812mm, được tổ hợp theo cấu tạo khung giàn dạng giắc-két.

Khối thượng tầng gồm có nhà ở hình bát giác, phục vụ cho ở, làm việc và công tác sinh hoạt của bộ đội. Mái nhà ở là sân bay trực thăng hoặc dùng để lắp đặt thiết bị khí tượng thủy văn, đèn báo hiệu vật cản, ra-đa cảnh giới. Toàn bộ khối nhà ở được tổ hợp lên sàn công tác và khung nối công trình, tạo thành khối thượng tầng, rất thuận lợi cho thi công lắp dựng trên biển. Khối thượng tầng cũng được nâng dần mức độ hợp lí theo quá trình tích lũy kinh nghiệm từng công trình theo từng năm.

Trong quá trình thi công, chủ yếu kết nối các kết cấu mô-đun để giảm thiểu thời gian thi công trên biển. Dựa theo sức nâng của tàu cẩu, lúc đầu chế tạo 6 mô-đun, sau còn 3 mô-đun cho một công trình khi đi thi công trên biển. Công tác thi công chế tạo công trình DKI trên bờ tuân thủ theo đúng quy trình quy phạm chế tạo giàn khoan biển theo tiêu chuẩn hiện hành của ngành dầu khí Việt Nam. Giai đoạn thi công trên bờ được giám sát nghiệm thu chặt chẽ theo đúng quy định ở tất cả các bước, các công đoạn thi công và tuân thủ đúng trình tự nghiệm thu công trình. Tất cả các công đoạn thi công trên biển, trên bờ và trong lòng biển đều được quay ca-mê-ra, giám sát trực tiếp và chuyển cho các cơ quan chức năng.

Sau khi từng khối lượng công việc và từng hạng mục công trình hoàn thành, ban nghiệm thu cơ sở do ban DKI chủ trì phối hợp với giám sát thiết kế và cán bộ giám sát kỹ thuật của đơn vị thi công tiến hành nghiệm thu cả trên hiện trường và hồ sơ hoàn công công trình. Trên cơ sở kết quả nghiệm thu của Ban nghiệm thu cơ sở, Hội đồng nghiệm thu cơ sở do Tư lệnh Công binh làm chủ tịch, tiến hành nghiệm thu công trình và sau đó hội đồng nghiệm thu cấp trên tiếp tục kiểm tra, đánh giá để đưa vào sử dụng.

Tôi hỏi: "Vậy là toàn bộ cấu kiện được lắp ghép xong mới đưa ra biển thi công?". "Đúng", ông Hiểu cho biết. "Nhưng mỗi khối mô-đun nặng vài trăm tấn làm thế nào đưa lên tàu để vận chuyển ra vị trí tập kết". Ông hiểu trả lời: "Phải dùng cần cẩu chuyên dụng của liên doanh dầu khí Vietsopetro (VSP), các tàu này có đủ sức nâng, tuy nhiên giá thuê rất đắt. Quá trình thi công trên biển diễn ra như sau: Toàn bộ các cấu kiện công trình gồm khối chân đế, khối thượng tầng và khối móng cùng các trang thiết bị, vật tư thi công biển và lực lượng thi công, được tập kết lên tầu cẩu có trọng tải xấp xỉ 15.000 tấn, sức nâng lớn nhất 1.200 tấn để vận chuyển và thi công một hoặc hai công trình DKI trong cùng một đợt thi công biển. Hỗ trợ cho hai tàu cẩu có hai tàu kéo dịch vụ có công suất từ 5.000 đến 8.000 mã lực, làm nhiệm vụ thả neo, cung cấp vận chuyển xi măng bơm trám và chở nước ngọt, đồng thời sẵn sàng cứu hộ khi có sự cố xảy ra trên công trường hoặc trên đường hành quân.

Trước khi tàu cẩu nhổ neo ra biển thi công, một tàu dịch vụ xuất phát trước một ngày, ra vị trí xây dựng, thợ lặn kiểm tra tìm vị trí đã được khảo sát, có địa hình bằng phẳng, tiến hành thả phao dấu, định vị vị trí đặt chân đế công trình. Chân đế được hạ thủy theo vị trí đã được định vị, thợ lặn kiểm tra sự tiếp xúc của 4 ống chính chân đế với nền sao cho 4 ống chính đều tiếp xúc tốt với nền mới cho phép thả cọc vào chân đế. Cọc được cẩu thả luồn vào chân đế bằng thiết bị cẩu chuyên dụng. Thời gian thả mỗi cọc vào chân đế trung bình mất vài giờ, tuy nhiên trong điều kiện thời tiết không thuận, sóng cao trên 3m, việc thả cọc vào chân đế gặp rất nhiều khó khăn, thời gian để đóng mỗi cọc từ 4 đến 6 giờ cho một cọc. Công việc vừa khó lại vừa nguy hiểm, bởi khi sóng lên cao trên 3m, cho dù tàu thi công rộng bằng cả sân đá bóng, với hệ thống dây neo dài vài km, nặng hàng trăm tấn cũng vẫn bị rung lắc. Để công việc có độ chính xác cao, rất cần sự ổn định của mặt biển.

Sau khi cọc được luồn vào chân đế, tiến hành đóng cọc bằng búa MRS1800 hoặc MRS 3000 có tải trọng quả búa 18 tấn và 30 tấn, cọc được đóng sâu vào nền san hô từ 13 đến 24 mét. Cọc được liên kết với chân đế qua hệ thống mặt bích, mã phần trên chân đế và bơm trám xi măng vào vành khuyên giữa cọc và ống chân đế, sau khi thi công xong hệ thống liên kết giữa cọc và chân đế, đến công đoạn cẩu khối thượng tầng lắp lên chân đế và hàn liên kết chân đế với khối thượng tầng.

"Chân đế hàng trăm tấn

Cọc năm mươi mét dài

Đang cẩu bão ập tới

Văng, giật, lắc, liên hồi

Hai hai giờ vật lộn

Cẩu xong bốn cọc thôi

Búa đầu cọc thình thịch

Xuyên đá san hô rồi

Mặc sóng gầm, dông bão...

DK pháo đài thép

Chiến công đáng tự hào..."

(Công trình DKI/5,6-Khám phá mới, Phạm Ngọc Nam, nguyên Trưởng ban DKI)

"Vì chưa từng có đơn vị nào, chưa có nước nào từng làm, do vậy sau mỗi công trình là một kinh nghiệm xương máu được đúc rút kịp thời để công trình sau hoàn thiện, chắc chắn hơn công trình trước", ông Phạm Ngọc Nam, nguyên Trưởng ban DKI, là chủ nhiệm thiết kế của các công trình DKI, người đã thuộc hết các thuộc "tính" của từng nhà giàn DKI, thuộc từng mùa biển, thuộc cả tính cách con người, yêu thơ, yêu biển, yêu DKI đến mức đã ra một tập thơ... cho biết thêm: "Ở mỗi vùng san hô khác nhau, độ cứng các lớp san hô cũng có sự thay đổi, vì vậy không thể đưa ra quy chuẩn của nhà giàn này áp dụng cho nhà giàn khác. Mỗi công trình lại có sự sáng tạo riêng để chất lượng công trình luôn đạt được cao nhất. Với những lớp đá bình thường, quả búa nặng 30 tấn có sức giáng 1.200 tấn có thể khiến cọc móng xuyên đá san hô, nhưng trong nhiều trường hợp, do đá quá cứng gây ra rất nhiều khó khăn cho quá trình đóng cọc. Ví dụ ở công trình DKI/7, ngay ở lớp mặt đầu đã rất cứng, độ chối của búa tương đương sức giáng 1.200 tấn mà cọc vẫn không xuống được; ở DKI/15, khi đóng xuống độ sâu 14-19m, gặp lớp đá rất rắn, phải rất cố gắng, liên tục thay đổi, cải tạo hình dạng các đầu cọc mới có thể đóng sâu được vào lớp san hô. Với các bãi đá quá cứng phải huy động cả những quả búa nặng 45 tấn, mới bảo đảm đóng xuyên được cọc qua lớp san hô rắn đến độ sâu thiết kế.

Rút kinh nghiệm của các năm trước, khi công trình DKI/3 bị đổ, từ năm 1991, ban DKI đã đề xuất lồng ống vào trong cọc để tăng độ cứng vững cho công trình. Sau khi dùng một ống lồng, chưa thấy vững, dùng hai ống lồng. Khắc phục được cách đóng cọc tại các núi san hô cứng, lại xảy ra những trường hợp oái oăm khi đóng cọc vào những khu vực núi san hô quá xốp. Cọc đóng đến đâu, "tút tùn tụt..." đến đó. Càng nối cọc, càng thấy "mất hút"... Từ thực tế trên cho thấy nếu không mang đủ cọc dự trữ theo để nối cọc, đóng đến độ sâu và độ chối đúng quy định thì toàn bộ chuyến đi với chi phí hàng tỉ đồng sẽ "đổ xuống biển".
Ngoài ra, việc thi công chỉ có mùa nhất định, thường là trong tháng tư đầu tháng năm. Biển lặng trong vài tuần, không thi công nhanh, khi vào mùa biển động, vừa mất an toàn, vừa không chính xác, lại vô cùng nguy hiểm. Từ kinh nghiệm của người lính thi công trên biển, sau những đúc rút buổi ban đầu, ông Nam cùng các đồng đội trong ban DKI và các nhà khoa học đã tính toán và đưa ra độ cao nhà giàn tại từng khu vực để phù hợp với mức sóng từ 17 đến 20m. Sửa chữa kịp thời, những công trình từ trước, để công trình sau ngày càng vững chắc hơn, an toàn hơn, tiện dụng hơn"...

Gia cố hết lắc, nghiêng

Mặc sóng dữ triền miên

Bão gầm biển xoắn vặn

DK vẫn đứng nguyên...

(Gia cố thành công DKI/8, 12;  Phạm Ngọc Nam)

NGUYỄN HÒA

http://www.qdnd.vn/QDNDSite/vi-VN/61/43/56/57/57/104027/Default.aspx
Logged
trungfbi
Thành viên
*
Bài viết: 1153


Luôn tự hào để nói:"tôi là người Việt Nam"


« Trả lời #253 vào lúc: 23 Tháng Hai, 2010, 08:57:47 pm »

 Hôm nay lang thang trên mạng, thấy có vài bức hình 3D và sơ đồ thiết kế đèn hải đăng trên đảo Sơn Ca và đảo Trường Sa (có ghi chú bằng tiếng Việt) . Nguồn http://bbs.tiexue.net/post_3720120_1.html

Vì không nắm rõ tình hình nên muốn xin hỏi các bác là 2 ngọn đèn hải đăng này có thực không và đã được xây hay chưa? Và những bức ảnh dưới đây có thật sự là thiết kế của nó hay không ?

* Nếu có nhầm chủ đề xin bác mod chuyển sang chủ đề phù hợp giúp em ? Cảm ơn
Logged

"Tôi muốn cho tất cả mọi người, bất kể là ai, biết được sự thật. Vì không có thông tin, công chúng sẽ không thể đưa ra được những quyết định chuẩn xác" - Bradley Manning (chuyên gia tình báo của Bộ Quốc Phòng Mỹ)
trungfbi
Thành viên
*
Bài viết: 1153


Luôn tự hào để nói:"tôi là người Việt Nam"


« Trả lời #254 vào lúc: 23 Tháng Hai, 2010, 08:59:15 pm »

và thêm vài cái hình  Huh
Logged

"Tôi muốn cho tất cả mọi người, bất kể là ai, biết được sự thật. Vì không có thông tin, công chúng sẽ không thể đưa ra được những quyết định chuẩn xác" - Bradley Manning (chuyên gia tình báo của Bộ Quốc Phòng Mỹ)
trucngon
Thành viên
*
Bài viết: 1776



« Trả lời #255 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2010, 01:01:47 pm »

20 năm thực hiện nhiệm vụ xây dựng nhà giàn DK1 Thế vững chủ quyền thềm lục địa


20 năm qua, hệ thống nhà giàn DK1 (Cụm Kỹ thuật - khoa học - dịch vụ) được xây dựng, đưa vào khai thác sử dụng tại thềm lục địa phía Nam Tổ quốc không chỉ khẳng định chủ quyền lãnh hải và khai thác tài nguyên biển của Việt Nam, mà từng bước phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, nghiên cứu khoa học… ở địa bàn chiến lược trọng yếu.

Công trình “đặc biệt” của trí tuệ tập thể

Năm 1988, Nhà nước ta quyết định giao các cơ quan chức năng nghiên cứu, thiết kế, xây dựng nhà giàn DK1 tại thềm lục địa phía Nam. Quân đội, trực tiếp là Binh chủng Công binh được giao đảm trách nhiệm vụ đặc biệt này. Ngày 26-2-1990, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quyết định giao Binh chủng Công binh làm chủ đầu tư xây dựng hệ thống công trình DK1, không chỉ khẳng định chủ quyền, quyền chủ quyền trên thềm lục địa phía Nam Tổ quốc, mà còn có ý nghĩa chiến lược về chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh...
 
Được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Bộ Quốc phòng, sự tham gia trách nhiệm, nhiệt huyết của các nhà khoa học trong và ngoài quân đội, cuối năm 1989, 3 nhà giàn đầu tiên đã mọc lên trên bãi san hô ngầm, thực sự là những “cột mốc chủ quyền” giữa biển khơi. 

Được biết, việc xây dựng hệ thống nhà giàn trên biển vô cùng khó khăn, gian khổ, phức tạp, bởi phải thi công trên các bãi đá ngầm ở độ sâu từ 15 đến 25 mét dưới mặt nước, cách đất liền hàng trăm cây số, rất thiếu các số liệu khí tượng thủy văn, địa chất; thời tiết khí hậu hết sức khắc nghiệt. Có đợt, vật tư, cấu kiện xây dựng nhà giàn đã “kéo” ra biển xa, gặp sóng to, gió lớn nhiều ngày lại phải “kéo” về, đưa lên bờ bảo quản chờ mùa biển lặng năm sau… 

Theo Đại tá Nguyễn Bá Hiểu, Trưởng ban dự án: “Hiếm có công trình nào nhận được sự quan tâm, giúp đỡ tận tình, đặc biệt của các cấp, các, bộ ngành… và là nơi “hội tụ” của nhiều nhà khoa học cả nước, nhất là trong thời kỳ đầu như công trình nhà giàn DK1. Mặc dù điều kiện kinh tế đất nước rất khó khăn, Bộ Vật tư, Xí nghiệp Liên doanh Dầu khí Việt - Xô... sẵn sàng cung cấp các loại vật tư, sắt thép “đặc chủng” theo yêu cầu; Bộ Lâm nghiệp “ưu tiên” những loại gỗ tốt nhất, chịu được môi trường biển; ngành Đường sắt sẵn sàng vận chuyển các cấu kiện nhà giàn từ Bắc vào Nam… Nhiều nhà khoa học có uy tín của các viện nghiên cứu; các kỹ sư, chuyên gia đầu ngành xây dựng công trình biển… trong và ngoài quân đội cùng tham gia nghiên cứu, phản biện, nghiệm thu cấp Nhà nước. Nhà giàn DK1 thực sự là công trình trí tuệ tập thể của các nhà khoa học Việt Nam, đồng thời là “địa chỉ” tối ưu để nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ, đi tiên phong trong lĩnh vực xây dựng công trình biển trên nền đá san hô ngầm, để các nhà giàn ngày càng vững chắc, hiện đại, sử dụng lâu bền, thuận tiện hơn.

Hướng tới công trình đa năng

Đã có 20 nhà giàn được bộ đội công binh xây dựng, đưa vào sử dụng. Thời gian qua, Bộ Tư lệnh Công binh phối hợp với các cơ quan chức năng trong và ngoài quân đội, các viện nghiên cứu, các nhà khoa học thuộc các lĩnh vực liên quan tổ chức nhiều hội nghị, hội thảo khoa học, rút ra nhiều kinh nghiệm quý trong xây dựng, nâng cấp, cải tạo nhà giàn bảo đảm ngày càng tiện ích, bền, đẹp, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, công tác của bộ đội. Hiện bộ đội ở các nhà giàn đều được xem ti-vi; có khu chơi một số môn thể thao, trồng rau xanh... Chương trình “Chung tay thắp sáng nhà giàn” do Báo Tuổi trẻ Thành phố Hồ Chí Minh phát động đã giúp nhiều nhà giàn có điện sinh hoạt từ hệ thống pin năng lượng mặt trời. Dự kiến cuối năm nay, toàn bộ các nhà giàn sẽ được sử dụng năng lượng sạch...  Thượng tướng Phan Trung Kiên, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Chủ tịch Hội đồng nghiệm thu công trình DK1 cấp Bộ Quốc phòng đánh giá: “Hệ thống các công trình DK1 hiện đang khai thác sử dụng khẳng định vai trò lịch sử, hoàn thành tốt chức năng nhiệm vụ đặt ra”.

Để phát huy hiệu quả của nhà giàn, thiết thực góp phần phát triển kinh tế biển, cùng với duy tu bảo dưỡng định kỳ, Binh chủng Công binh tiếp tục tham mưu cho Nhà nước, Bộ Quốc phòng nâng cấp, cải tạo hệ thống nhà giàn theo hướng “đa năng”, hiện đại, bền vững hơn. Các công trình DK1 sau khi cải tạo, nâng cấp không những là những “cột mốc” chủ quyền, mà còn “tích hợp” nhiều chức năng như: Là các trạm dịch vụ kinh tế - khoa học kỹ thuật biển, nghiên cứu khí tượng hải văn, môi trường, khoa học kỹ thuật biển; thu, phát tín hiệu tìm kiếm cứu nạn, bảo đảm cho hoạt động hàng hải quốc tế; là điểm hỗ trợ dịch vụ hậu cần, y tế cho ngư dân... Trong tương lai không xa, trên nhà giàn không chỉ có bộ đội, mà cả cán bộ, nhân viên một số ngành kinh tế, dịch vụ khác. Việc thiết kế, thi công hệ thống nhà giàn sẽ được ứng dụng các công nghệ tiên tiến trên thế giới, tăng cường sử dụng các vật liệu phi kim loại. Cơ quan chức năng sẽ nghiên cứu, sản xuất thiết bị cập xuồng mềm trang bị cho nhà giàn, bảo đảm tiếp cận, vận chuyển người, hàng hóa thuận tiện, an toàn khi sóng to, gió lớn.

Bài và ảnh: Thủy Kiên - Xuân Cường
http://www.qdnd.vn/QDNDSite/vi-VN/61/43/4/39/39/104302/Default.aspx
Logged
pallmall
Thành viên
*
Bài viết: 19


« Trả lời #256 vào lúc: 03 Tháng Ba, 2010, 06:16:40 pm »

Hôm vừa rồi e có xem 1 phóng sự về Đảo Trường Sa đón Xuân 2010, em có 1 số thắc mắc mong các bác trong diễn đàn giải thích giúp :

- Trên huyện đảo Trường Sa có dân sinh sống, vậy các hộ dân ấy sinh sống bằng ngành nghề gì? Nếu bằng nghề đánh cá ( hoặc liên quan đến biển) họ có thuyền đánh cá riêng hay không? Khi có việc gia đình cần giải quyết họ có dùng thuyền riêng của mình để về đất liền được hay không?
- Thấy trong phóng sự có phỏng vấn phó chủ tịch huyện đảo Trường Sa mang cấp hàm thượng tá QĐND, vậy ông phó chủ tịch này thuộc ngạch dân sự hay quân sự? Ông ấy chịu sự chỉ đạo trực tiếp của chủ tịch tỉnh Khánh Hòa hay của bên Hải Quân?
- Cùng trong phóng sự có phỏng vấn 1 anh lính trẻ , em thấy ghi cấp bậc chuẩn úy. QĐNDVN có tồn tại cấp bậc này không?

Em xin cám ơn
« Sửa lần cuối: 03 Tháng Ba, 2010, 06:24:09 pm gửi bởi daibangden » Logged
bonsevich
Thành viên
*
Bài viết: 51


« Trả lời #257 vào lúc: 04 Tháng Ba, 2010, 10:08:13 pm »

Hôm vừa rồi e có xem 1 phóng sự về Đảo Trường Sa đón Xuân 2010, em có 1 số thắc mắc mong các bác trong diễn đàn giải thích giúp :

- Trên huyện đảo Trường Sa có dân sinh sống, vậy các hộ dân ấy sinh sống bằng ngành nghề gì? Nếu bằng nghề đánh cá ( hoặc liên quan đến biển) họ có thuyền đánh cá riêng hay không? Khi có việc gia đình cần giải quyết họ có dùng thuyền riêng của mình để về đất liền được hay không?
- Thấy trong phóng sự có phỏng vấn phó chủ tịch huyện đảo Trường Sa mang cấp hàm thượng tá QĐND, vậy ông phó chủ tịch này thuộc ngạch dân sự hay quân sự? Ông ấy chịu sự chỉ đạo trực tiếp của chủ tịch tỉnh Khánh Hòa hay của bên Hải Quân?
- Cùng trong phóng sự có phỏng vấn 1 anh lính trẻ , em thấy ghi cấp bậc chuẩn úy. QĐNDVN có tồn tại cấp bậc này không?

Em xin cám ơn
- Người dân sống chủ yếu bằng dịch vụ nghề cá, số dân ở đây rất ít chủ yếu là cán bộ các cơ quan của huyện đảo và các cơ quan hải đăng, khí tượng và gia đình họ, họ có thể có thuyền đánh cá nhưng là tuyền nhỏ không thể vào đất liền được.
 - Chủ tịch huyện đảo thuộc cả hai ngạch về mặt hành chính dân sự chịu sự chỉ đạo của chủ tịch UBND tỉnh, về mặt quân sự chịu chỉ đạo của Hải quân.
 - VN vẫn còn cấp bậc chuẩn úy chủ yếu là ở quân nhân chuyên nghiệp!
Logged
trucngon
Thành viên
*
Bài viết: 1776



« Trả lời #258 vào lúc: 06 Tháng Ba, 2010, 10:45:56 am »

Không quốc gia nào có thể độc chiếm biển Đông



Đề xuất mở một hội nghị quốc tế về vấn đề chủ quyền trên biển Đông của Pháp xưa kia từng bị Trung Quốc nhiều lần khước từ nhưng ngày nay, thái độ khăng khăng "song phương" không còn hợp thời.

LTS: Xung quanh những ý kiến bàn về xu thế "quốc tế hoá" trong tranh chấp chủ quyền và khai thác ở Biển Đông, để rộng đường dư luận, Tuần Việt Nam xin giới thiệu góc nhìn riêng của GS. Hồng Lê Thọ, một người Việt Nam đang sinh sống ở Nhật Bản để quí vị độc giả cùng suy ngẫm thêm.

Tình thế không cho phép đơn phương

Những ngày qua dư luận quốc tế tỏ ra quan tâm nhiều hơn đến thái độ chống quyết liệt của Trung Quốc với các nước láng giềng về xu thế "quốc tế hóa" trong tranh chấp về chủ quyền và khai thác ở biển Đông.

Từ lâu Trung Quốc khăng khăng giữ lập trường giải quyết và thương lượng song phương, tránh né, thậm chí ngăn chặn việc đưa ra tranh luận và xét xử quốc tế vấn đề này, bằng nhiều cách, kể cả sử dụng vũ lực(1)

Ở thời điểm trước năm 1993, khi Trung Quốc chạy theo đường lối "tự lực cách sinh" với "Bước nhảy vọt" hay "Đại cách mạng văn hóa", xem Mỹ và phương Tây là cừu địch, thì lựa chọn của Trung Quốc là giải quyết song phương trong vấn đề chủ quyền ở biển Đông.

Trung Quốc đã từng lợi dụng tình hình Hoa Kỳ thất bại trong cuộc chiến ở VN, buộc phải rút quân khỏi miền Nam và suy yếu, thu nhỏ qui mô và hiện diện quân sự ở khu vực - ra tay đoạt Hoàng Sa tháng 1/1974, và sau này, vào đầu năm 1988 chiếm đoạt một số đảo nhỏ và bãi chìm ở Trường Sa - khi Liên Xô suy yếu về kinh tế, hỗn loạn chính trị trong nội bộ, giảm dần sự chi phối về quân sự ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương.

Ngày nay, trong một tình huống mới, với chính sách "4 hiện đại hóa" của Đặng Tiểu Bình(2) khi Trung Quốc đã trở thành nước nhập khẩu dầu thô ngày càng lớn tương ứng với phát triển kinh tế ngày càng nóng trong hơn 2 thập niên kể từ năm 1980 và hiện là nước đứng thứ hai nhập khẩu và tiêu thụ dầu mỏ trên thế giới, vượt cả Nhật thì giải pháp đa phương trong tranh chấp dù muốn hay không Trung Quốc cũng sẽ phải chấp nhận nếu muốn gìn giữ quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại tốt đẹp với các nước mà Trung Quốc đang muốn duy trì.

Nói khác đi, cho dù bộ máy tuyên truyền chính trị lẫn đối ngoại của Trung Quốc hô hào về chủ quyền của họ ở biển Đông, dùng nhiều biện pháp đe dọa (bằng các tàu tuần ngư và tuần tra), phủ dụ hoặc phân hóa (bằng "sức mạnh mềm", hay dưới chiêu bài tăng cường quốc phòng vì mục đích "hòa bình" và ổn định trong khu vực...) các nước trong khu vực ASEAN thì tất cả cũng chỉ có tác dụng gây căng thẳng để giữ thể diện.

Nhân tố bên thứ 3

Thực chất hành động đó nhằm che dấu sự lúng túng hay lo lắng không thể chối cãi của Trung Quốc trước việc không thể phá vỡ mối tương quan lực lượng hiện hữu mà Hoa Kỳ là nước giữ vai trò chủ chốt.

Việc đảm bào an toàn và ổn định của con đường huyết mạch thông thương trên biển Đông, nối dài từ eo biển Holmutz qua eo biển Malacca để chuyên chở dầu mỏ và hàng hóa cho Trung Quốc và từ Trung Quốc, là điều kiện cơ bản đảm bảo an ninh về năng lượng, duy trì quan hệ thương mại ngày càng tăng trưởng và là nhân tố quyết định của sự phát triển hiện nay của nền kinh tế Trung Quốc.

Đây cũng chính là điểm yếu nhất kìm hãm mọi toan tính phiêu lưu về quân sự của những nhà lãnh đạo Trung Quốc kể cả tính toán phân chia Thái Bình Dương ra làm 2 phần Đông-Tây để tăng cường sự chi phối của Trung Quốc trên biển Đông(3) khi mối tương quan lực lượng giữa các cường quốc có mặt trên vùng biển Châu Á-TBD vẫn còn lệch về phía bên kia.

Hơn thế nữa, liệu các nước công nghiệp phát triển khác trong khu vực như Nhật Bản, Hàn Quốc... có thể chấp nhận sự lấn lướt và khuynh loát về quân sự của Trung Quốc? Đó là chưa kể thái độ của Hoa Kỳ có quan hệ đồng minh với những quốc gia Đông Bắc Á này hay của Nga trong mối quan tâm đặc biệt đối với khu vực nói trên.

Quan hệ Mỹ -Trung dù phát triển tốt đẹp đến mấy trong thương mại vẫn hàm chứa những mâu thuẩn dai dẳng về vấn đề Tân Cương, tỷ giá đồng nhân dân tệ của Trung Quốc, cán cân mậu dịch nhập siêu của Hoa Kỳ, quyền sở hữu trí tuệ...là những vấn đề không thể thỏa hiệp dễ dàng.

Phải chăng Hoa Kỳ có thể hi sinh những đồng minh chiến lược của mình, bỏ đi cái ô hạt nhân che chở và tầm chi phối của mình đối với Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan?

Thực tế, những đảm bảo an ninh khu vực và với các nước này của Hoa Kỳ vẫn còn đó. Việc Mỹ chấp thuận tiếp tục cũng cấp khí tài chiến tranh hiện đại cho Đài Loan, liên tục gây sức ép đối với Bắc Triều Tiên hay - dù di dời căn cứ quân sự của quân đội Mỹ ở Okinawa nhưng không phải là bỏ hẳn - duy trì sự có mặt của quân đội Mỹ ở Nhật Bản là những bằng chứng trả lời câu hỏi này.

Mặt khác, đối với các nước ASEAN, trong đó Indonesia, Việt Nam, Malaysia, Brunei và Philippines là những quốc gia đang có tranh chấp và yêu sách về chủ quyền trên biển Đông cũng không thể làm ngơ trước những hoạt động khiêu khích hay dọa dẫm.

Tình thế biển Đông ngày nay không cho phép Trung Quốc thao túng và mạo hiểm như trước. Tuy sự gắn bó của ASEAN chỉ dừng lại ở mức "đồng thuận", nhưng các nước ASEAN đã lớn mạnh trong hơn 20 năm qua, 10 nước tham gia biết phải làm gì khi bị lấn lướt.

Hơn thế nữa, quan hệ của Trung Quốc với cộng đồng quốc tế đang ngày càng được mở rộng theo nhiều kích chiều thì bản thân kích chiều đa dạng đó cũng đã hạn chế, không cho phép Trung Quốc từ chối những giải pháp thương lượng hoặc đàm phán đa phương khi có sức ép từ cộng đồng quốc tế.

Nói khác đi, biển Đông ngày nay không chỉ thuộc quyền một nước mà đã trở thành một vùng biển mang tính chiến lược cho nhiều quốc gia trong lẫn ngoài khu vực, có vị trí địa - chính trị quan trọng đối với quan hệ của nhiều phía, đa phương lẫn song phương.

Không một quốc gia nào có thể độc chiếm vùng biển này dù có bố trí tàu sân bay hay trang bị khí tài chiến tranh hiện đại, tầm xa có thể vượt nghìn cây số để can thiệp, như Trung Quốc đang tăng cường hải - không quân trong hơn một thập kỉ qua.

Không ai có thể tồn tại một mình

Đề xuất mở một hội nghị quốc tế về vấn đề chủ quyền trên biển Đông của Pháp xưa kia đã bị Trung Quốc nhiều lần khước từ(4), nhưng với tình huống ngày nay, khi Trung Quốc đã trở thành một thành viên trong cộng đồng quốc tế, chỉ có thể tồn tại và phát triển khi họ tôn trọng "luật chơi" của WTO, LHQ hay những tổ chức quốc tế khác như APEC, ASEM, WTO... thì thái độ khăng khăng "song phương" sẽ vô cùng bất lợi, nếu không nói là muốn chèn ép nước nhỏ.

Thử tưởng tượng nếu một ngày 55% dầu mỏ nhập khẩu của Trung Quốc bị chặn lại trên eo biển Malacca và 70% hàng hóa Trung Quốc cũng không qua được cửa này, nếu bị ai đó phong tỏa hay ngăn chặn?

Trung Quốc cần hơn ai hết một môi trường hòa bình để giao thương với các nước, đặc biệt với Đông Nam Á, các nước Nam Á, Trung Đông, Châu Phi và Châu Âu mà tuyến đường biển nối dài từ biển Đông giữ vai trò quyết định, sống còn.

Có thể ở thời điểm nửa thế kỷ 21, vào những năm 2050, như tiên đoán của nhiều người, Trung Quốc có thể trở thành quốc gia siêu cường khuynh loát về kinh tế và quân sự trên khu vực ĐNÁ đối với Hoa Kỳ, Châu Âu hay nước Nga vốn có một tiềm năng quân sự, kinh tế hùng hậu...(5) thì Trung Quốc cũng không thể tồn tại một mình và không bao giờ có thể thống trị thế giới bằng vũ lực, cũng như không thể di dân ào ạt xây dựng đội quân thứ 5 - đang phảng phất ở Châu Phi hay các nước trong khu vực Đông Nam Á.
Trong tình huống như vậy, thái độ và sách lược của Việt Nam trên trường quốc tế về vấn đề biển Đông vô cùng quan trọng, vừa là cơ hội vừa là thử thách trong mục tiêu đưa Việt Nam trở thành một thành viên chủ chốt trong việc bảo đảm an ninh và ổn định trên biển Đông và khu vực châu Á-Thái Bình Dương.

Chỉ trong vai trò này và chia sẻ trách nhiệm, chúng ta mới có thể đảm bảo được chủ quyền, độc lập và toàn vẹn lãnh thổ trên đất liền lẫn biển đảo với sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế.

Nói khác đi, Việt Nam chỉ có thể bảo vệ vững chắc những gì còn lại của mình trên biển Đông ằng một tầm nhìn chiến lược và hiệu quả trong cộng đồng quốc tế, đặc biệt là trong khu vực hơn là chỉ "gói gọn" trong chủ trương bảo vệ chủ quyền trong phạm vi song phương mà Trung Quốc vẫn muốn áp đặt.

Việt Nam cũng cần phải có phương án để đối phó một cách hữu hiệu và nâng cao nhận thức bảo vệ chủ quyền hải đảo trong nhân dân hơn bao giờ hết.

http://www.tuanvietnam.net/2010-03-05-khong-quoc-gia-nao-co-the-doc-chiem-bien-dong
Logged
Võ Tắc Thiên
Thành viên
*
Bài viết: 36


Ôi, thời oanh liệt nay còn đâu ...


« Trả lời #259 vào lúc: 06 Tháng Ba, 2010, 07:11:39 pm »

Không quốc gia nào có thể độc chiếm biển Đông

http://www.tuanvietnam.net/2010-03-05-khong-quoc-gia-nao-co-the-doc-chiem-bien-dong


Mới đây có 1 tổ chức Phi chính phủ của Pháp đề xuất mở một hội nghị quốc tế về vấn đề chủ quyền trên biển Đông; Nhưng Trung Quốc nó hù cho nên sợ rồi Bác ạ. Hõan lại vô thời hạn rồi.
« Sửa lần cuối: 22 Tháng Ba, 2010, 11:20:46 pm gửi bởi daibangden » Logged

Lấy máu của kẻ khác làm môi son cho mình !
Mèo nào cũng là Mèo-miễn là bắt được Chuột !
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM