Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 11:53:14 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Một số hình ảnh và thông tin về bảo vệ chủ quyền Việt Nam trên biển  (Đọc 403520 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #290 vào lúc: 23 Tháng Ba, 2010, 07:02:43 am »

Hi hi! Theo em nghĩ là tiến hành xây cảng cá mang tên "Đảo Hoàng Sa" thôi! còn địa điểm xây thì để NC đi tìm đã  Grin

Em đồng quan điểm với bác  Grin

Chắc là xây một cái cảng cá cho bà con ngư dân hoạt động ở khu vực Hoàng Sa (tất nhiên là trong phạm vi an toàn cho phép  Roll Eyes)
Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
SukhoiSu-47Berkut
Thành viên
*
Bài viết: 354


Vọng mãi đến ngàn năm, vần thơ Nam quốc sơn hà!


« Trả lời #291 vào lúc: 23 Tháng Ba, 2010, 09:00:51 am »

....
@ Sukhoi 47 : Quyết định của Thủ tướng mà bạn bảo là QĐ "cá biệt" là sao?Huh Huh.Thủ Tướng không là người đại diện cho Việt Nam hay sao?Huh

Trích dẫn từ: Bodoibucket
Thì ngoài cái quyết định qui phạm còn có quyết định cá biệt.
Đại loại giống như trong lớp học thỉnh thoảng cũng có học sinh cá biệt, tụt tạt vậy. Cá biệt thì hẳn nhiên là rất ít và hay gây sự chú ý của mọi người.  Grin

Hề hề, đồng chí bắn tỉa đừng hiểu chữ "cá biệt" theo nghĩa đó chứ.
Mời đồng chí đọc hai văn bản này và để ý cách đánh số để thấy anh VBQP và anh VBCB khác nhau điểm gì dẫn đến việc đánh số khác nhau thế.
http://www.chinhphu.vn/portal/page?_pageid=578,33345598&_dad=portal&_schema=PORTAL&docid=93685
http://www.chinhphu.vn/portal/page?_pageid=578,33345598&_dad=portal&_schema=PORTAL&docid=93333
Bác Bodoibucket: bác em nói quá chuẩn nhưng lại hơi đùa ở câu cuối cùng khiến người đọc bâng khuâng... Grin
Logged

Bóng ai như tôi đi qua cánh đồng...
Bóng ai như tôi đi qua cuộc đời....!
chiangshan
Thành viên
*
Bài viết: 3405


No sacrifice, no victory


WWW
« Trả lời #292 vào lúc: 23 Tháng Ba, 2010, 09:15:37 am »

Đầu tiên lúc nghe tin này em nghĩ giống bác anhkhoi. Cơ mà thế này thì...
Logged

Dân ta phải biết sử ta
Cái gì không biết cần tra Gúc gồ
OldBuff
Moderator
*
Bài viết: 3053


Vì nhân dân quên mình


« Trả lời #293 vào lúc: 23 Tháng Ba, 2010, 11:05:03 am »


Mà Thủ trưởng ôi, số đó đâu có sai, vì QĐ của TTg là QĐ cá biệt nên ko có kiểu 346/2010/...

Cái này thì phải xem lại nhé Wink Văn bản do anh Ba Dũng ký trực tiếp lúc thì cá biệt, lúc lại quy phạm dù cho cùng 1 lĩnh vực. Các anh khác ký thay thì hầu hết được coi là cá biệt, trừ văn bản quy phạm. Nhìn chung là các anh ở trển nhiều khi cũng loạn giữa quy phạm và cá biệt khiến bà con không biết đâu mà lần Grin Cái này phải trách mấy bác thư ký và vụ văn bản của VPCP.
Logged

Thượng tôn công lý - Chế áp cường quyền
nhaiquaiziev
Thành viên
*
Bài viết: 149


« Trả lời #294 vào lúc: 23 Tháng Ba, 2010, 12:21:02 pm »

Thiếu cái căn bản nhất để giải phóng mặt bằng làm "Cảng cá Hoàng Sa" là khung giá đất đền bù giải toả và hệ số chuyển đổi nghề nghiệp và tái định cư cho "cư dân" trong diện giải toả. Grin Grin
Logged
SukhoiSu-47Berkut
Thành viên
*
Bài viết: 354


Vọng mãi đến ngàn năm, vần thơ Nam quốc sơn hà!


« Trả lời #295 vào lúc: 23 Tháng Ba, 2010, 11:33:02 pm »

...Nhìn chung là các anh ở trển nhiều khi cũng loạn giữa quy phạm và cá biệt khiến bà con không biết đâu mà lần Grin Cái này phải trách mấy bác thư ký và vụ văn bản của VPCP.

Ấy chết, bà con không biết đâu mà lần, nhưng không phải do cái vế trước... Grin, có quy định cụ tỉ đấy, sai thể thức cũng dẫn đến vô hiệu mà thủ trưởng. Dù Luật BHVBQP 2008 có sửa một số, nhưng Thông tư 55/2005/TTLT-BNV-VPCP (vẫn áp dụng) thì quy định rất chi tiết việc này Thủ trưởng ạ.
(Nếu lạc đề thì thủ trưởng tùy nghi xóa giúp em).
Logged

Bóng ai như tôi đi qua cánh đồng...
Bóng ai như tôi đi qua cuộc đời....!
trucngon
Thành viên
*
Bài viết: 1776



« Trả lời #296 vào lúc: 25 Tháng Ba, 2010, 01:20:16 pm »

Trường Sa giữa các mối căng thẳng về xung đột Biển Đông


Tác giả: Virginie Raisson


Mang tên một thuyền trưởng một tàu săn cá voi thế kỷ XIX, quần đảo Trường Sa gồm rất nhiều đảo nhỏ và đá ngầm san hô nằm giữa Biển Đông, cách các bờ biển Trung Quốc 1500 km, bờ biển Việt Nam 400 km và bờ biển Philippine hay Malaysia khoảng 300 km. Đây không phải là một vùng chính xác về mặt địa lý, mà là một không gian tại đó ngày nay thể hiện các tương quan lực lượng giữa các nước Đông Nam Á và Đông Á

Ngày 25/2/1992, Quốc hội Trung Quốc thông qua một luật biển đặt đại bộ phận Biển Đông dưới chủ quyền của mình. Như vậy, Bắc Kinh tự chiếm hữu một vùng có ý nghĩa chiến lược về ba mặt: có tài nguyên quan trọng về dầu khí, nằm trên những hải lộ quốc tế quan trọng, và bị sáu nước có yêu sách, một phần hay toàn bộ (Indonesia, Việt Nam, Malaysia, Brunei, Philippine và Đài Loan).

Quyết định đơn phương đó làm gia tăng những tin đồn về xung đột. Theo luật mới, từ nay lãnh thổ Trung Quốc sẽ bao gồm các quần đảo Senkaku (Trung Quốc gọi là đảo Điếu Ngư), Paracels - Hoàng Sa (Trung Quốc gọi là Tây Sa) và Spratly - Trường Sa (Trung Quốc gọi là Nam Sa). Vì Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa thực hiện chủ quyền của mình đối với lãnh hải (12 hải lý) và các vùng tiếp giáp (12 hải lý) nên chủ quyền đó sẽ bao phủ đại bộ phận Biển Đông và tài nguyên ở đó.

Về mặt pháp lý, yêu sách vẫn còn không rõ ràng. Để hợp pháp hoá các yêu sách ở phía Đông Hải hay ở Hoàng Hải,  Trung Quốc dựa vào diện tích thềm lục địa của mình. Nhưng đối với Biển Đông, họ lại viện dẫn "các lý do lịch sử", mà họ không chịu phát biểu rõ - họ không thể viện dẫn sự có mặt từ xưa và tiên tục trên các đảo. Giá trị pháp lý của từ ngữ được sử dụng để gọi các diện tích biển yêu sách (như nội thuỷ, lãnh hải, các vùng nước quần đảo) cũng không rõ rang.

Ngoài ra, về mặt địa lý, các yêu sách của Trung Quốc lại có vẻ có ý mơ hồ: việc thể hiện bằng các dấu chấm biên giới biển mới có thể cho thấy một phạm vi có thể thiêng liêng. Trên thực tế, vùng yêu sách bao gồm các vùng khai thác và các thiết bị lắp đặt do Indonesia, Malaysia hay Philippin kiểm soát. Nếu không có một giải pháp riêng về việc phân chia các vùng nước ở Biển Đông, pháp chế quốc tế sẽ cho các nước nói trên các quyền của một vùng đặc quyền kinh tế. Như vậy việc chiếm hữu đơn phương của Bắc Kinh vừa ít hợp pháp lẫn đáng tin.
Do đó có giả thiết sau đây: bằng cách mở rộng chủ quyền của họ như vậy, Trung Quốc có thể yêu sách không phải một lãnh thổ được xác định bằng các tiêu chuẩn vật chất, định hình và pháp lý khách quan, là một không gian chính trị và kinh tế được xác định theo các thông số khác. Nhưng thong số nào? Câu trả lời đầu tiên nằm ở vị trí địa lý quần đảo, mà hai bên quần đảo đó có tới một phần tư thương mại toàn cầu được vận chuyển qua. Và như vậy Trung Quốc sẽ có thể tiến hành việc kiểm soát không những đối với các đường biển đó có mà cả với mạng lưới dầy đặc các đường hang không trên khu vực.

Thông số thứ hai là lòng đất của quần đảo: theo Trung Quốc, nó có thể có các trữ lượng dầu khí bằng 205 tỷ thùng tương đương dầu lửa(BEF), nhưng theo các công ty dầu lửa thăm dò trong khu vực thì khối lượng dầu khí ít hơn rất nhiều. Ngoài các mỏ tiềm năng, có thêm các bồn đang sản xuất bao quanh quần đảo: các bồn Nam Côn Sơn, Thanh Long và Đại Hùng ngoài khơi Việt Nam. Natuna ở Bắc Indonesia, Nalampaya và Camago ở Bắc đảo Palawan, Jintan, Serai và Sederi ngoài khơi Sarawak và các bồn ở Tây Bắc Sabah(3).

Như vậy, tổng cộng, Trung Quốc đòi đặt tay lên phần lớn các bồn dầu ở Biển Đông. Không chỉ có thế, cuộc chiến đã sôi sục giữa người Việt Nam và người Trung Quốc qua các công ty dầu khí liên quan.

Tháng 5/1992, Trung Quốc cho công ty dầu khí Mỹ Crestone thăm dò đặc nhượng 25 155 km2 ở phía Tây quần đảo Trường Sa cách thành phố Hồ Chí Minh vào khoảng 300 km, ngay cạnh đặc nhượng Đại Hùng của Việt Nam. Lúc đó Chính phủ Hà Nội đã lên tiếng phản đối kịch liệt đối với việc mà Hà Nội coi là một sự vi phạm chủ quyền kinh tế của mình (4). Câu trả lời của  Trung Quốc hoàn toàn rõ ràng: tháng 7/1992, họ đổ bộ như đã từng làm năm 1988 - một số quân trên một đảo đá ngầm của quần đảo, đặt một mốc biên giới và đã đảm bảo với công ty Mỹ sự hỗ trợ của quân lực của họ. Việt Nam đáp lại vào tháng 4/1994 bằng cách đặc nhượng cho một công ty dầu lửa Mỹ thuộc Mobil việc khai thác mỏ Thanh Long ngay cạnh mỏ Crestone khai thác.

Tình hình năng lượng của cả Việt Nam và  Trung Quốc soi sáng phạm vi thực sự của cuộc tranh chấp đó. Đối với Hà Nội, việc khai thác và thăm dò dầu khí nằm ở trung tâm việc tái thiết kinh tế. Với 12% các khoản đầu tư của nước ngoài từ 1988, và gần 1/4 xuất khẩu, dầu lửa là một nguồn thu nhập chính. Nó cung cấp năng lượng rẻ tiền cần thiết cho việc công nghiệp hoá (các nhà máy thép, phân bón, lien hợp hoá dầu và nhà máy điện). Theo các cuộc thăm dò gần đây nhất, thềm lục địa Việt Nam mà phần lớn bị  Trung Quốc yêu sách, chứa các trữ lượng dầu ước tính từ 3 đến 5 tỷ thùng và vào khoảng 300 tỷ mét khối khí.

Ở  Trung Quốc cũng vậy, tài nguyên năng lượng là điều kiện phát triển công nghiệp. Các mỏ được khai thác trên mặt đất đang cạn kiệt và giá dầu thấp không có lợi cho việc khai thác ở các vùng mới; các nhà đầu tư nước ngoài ngày nay thích khoan ở những nơi có lợi nhuận nhiều hơn. Hơn nữa, các cơ sở hạ tầng của  Trung Quốc về khai thác và vận chuyển còn không đủ. Nằm ở Đông Bắc và cực Tây đất nước, các nơi khai thác đều ở xa những vùng tiêu thụ nhiều năng lương: các đặc khu kinh tế tập trung ở Nam Trung Hoa phải trả tiền năng lượng đắt lên rất nhiều do vận chuyển bằng ống dẫn dầu. Với việc gia tăng hạn chế ở mức 2% năm, việc sản xuất dầu không còn đáp ứng nhu cầu mà sự phát triển kinh tế hang năm là 10% từ 10 năm nay tạo ra. Điều đó giải thích tại sao đối với Bắc Kinh việc cần phải khai thác những dầu mỏ mới ở quần đảo Trường Sa.

Một khoảng trống chiến lược cần lấp

Ngoài Việt Nam, mưu toan của Trung Quốc nắm lấy dầu ở Biển Đông cuối cũng có thể dẫn đến đối lập Trung Quốc với tất cả các nước ven biển. Thí dụ các yêu sách của Trung Quốc trùm lên các đảo Natuna của Indonesia, và đặc biệt là mỏ lớn nhất thế giới: được ước tính là 137000 tỷ mét khối, đó là đối tượng vào tháng 1/1995, của một thoả thuận khai thác 35 tỷ đô la giữa công ty dầu khí nhà nước Pertamina và công ty Mỹ Exxon. Tuy nhiên sự cam kết của một công ty Mỹ mới trong khu vực không làm đủ yên lòng người Indonesia nhất là khi yêu cầu làm sáng tỏ về pháp lý Jakarta nêu ra với Bắc Kinh tháng 7/1994 vẫn không được trả lời.

Đe dọa bằng lời của Bắc Kinh là sẽ dùng vũ lực để bảo vệ chủ quyền của mình làm gia tăng các sự bấp bênh. Không những quân giải phóng nhân dân tổ chức rất nhiều cuộc thao diễn từ đầu thập kỷ, mà nó còn ngày càng can thiệp thêm vào phía Nam Biển Đông. Từ các đụng độ năm 1974 ở quần đảo Hoàng Sa, quần đảo nằm cao hơn ở phía Bắc, trong đó một chiến hạm  Trung Quốc đã đánh đắm một chiến hạm Việt Nam - đến các cuộc va chạm Trung - Việt mới năm 1994, người ta không kể hết các sự kiện, nhất là trong dịp quân lực Bắc Kinh đặt các cột mốc chủ quyền.

Bằng cách đó, Trung Quốc chiếm đóng bằng quân sự 8 đảo nhỏ của quần đảo. Họ không phải là nước duy nhất: Việt Nam chiếm 25 đảo, Philippin 8 đảo, Malaysia 3 và Đài Loan 1. Nhưng, tuy việc lắp đặt các cấu trúc vĩnh cửu chủ yếu nhằm củng cố các vị trí tương ứng của nước này, nước kia về mặt pháp lý, cuộc xung độ đối lập họ với nhau từ nay đã vượt qua khuôn khổ một cuộc tranh chấp đơn giản về tài nguyên trong khu vực. Khuôn khổ kinh tế của cuộc tranh luận đã bị vượt qua bởi các tham vọng quốc gia chủ nghĩa qua các diễn văn của Philippin, Việt Nam và nhất là của  Trung Quốc.

Ngược lại, mặc dầu sự gia tăng những chuyện được thua mọi loại, những đối tượng lien quan ngày càng nhiều, và các sự căng thẳng quân sự ngày càng lớn, đe doạ gây mất ổn định khu vực, việc tìm kiếm một giải pháp toàn diện đã không tiến triển. Sự chậm chễ đáng quan tâm đó là một phần là do, cho đến năm 1994, thiếu một cơ cấu thích hợp để giải quyết vấn đề an ninh ở châu Á. Sự kết thúc chiến tranh lạnh đã dẫn đến việc hợp để rút cam kết ra khỏi khu vưc, như việc người Nga rút ra khỏi căn cứ Cam Ranh của Việt Nam và Mỹ rút ra khỏi căn cứ Subic của Philippin.

Diễn đàn khu vực về an ninh do ASEAN thành lập năm 1994 không thể lấp khoảng trống chiến lược đó. Số thành viên của diễn đàn này cũng như sự khác nhau về quyền lợi của họ dường như là đã là những trở ngại nghiêm trọng. Còn phải xác định một vị trí đối với các nước không phải là thành viên của ASEAN (5) trong việc chấp nhận các biện pháp an ninh không chỉ liên quan đến người châu Á. Mà không quên các câu hỏi lớn về chính trị.Làm thế nào đảm bảo được tính thành thực của các ý Trung Quốc hay Triều Tiên khi thảo luận với các quốc gia và vùng lãnh thổ đứng ngoài các tập hồ sơ như Đài Loan hay Triều Tiên và Hàn Quốc?

Liệu Trung Quốc sẽ có tham hữu hiệu vào một diễn đàn mà họ ngờ là được thành lập để kiềm chế họ? Liệu người ta có xây dựng được một không khí tin cậy với một nước mà các thành viên của ASEAN coi như mối đe doạ chính đối với an ninh khu vực nhất là khi đó các cuộc đàm phán về các căng thẳng mà Trung Quốc được coi là nhân vật chính?

Không có thể giải quyết các cuộc xung đột, các nước ASEAN đã chọn nền ngoại giao phòng ngừa với mục tiêu đầu tiên là thông qua các biện pháp tin cậy. Ta hoàn toàn không ngạc nhiên khi thấy chương trình nghị sự của diễn đàn gần đây nhất họp tháng 7/1995 không có cả vấn đề xung đột Trường Sa lẫn vấn đề các cuộc thử nghiệm quân sự của  Trung Quốc ngoài khơi vùng lãnh thổ Đài Loan, mà chỉ có các vụ thử hạt nhân của Pháp hay tình hình chính trị ở Myanma (nước không phải thành viên). Tuy nhiên các vấn đề chủ quyền ở Biển Đông đã là đối tượng của nhiều cuộc thảo luận trong các hành lang, có mặt tất cả các nước quan tâm đến vấn đề Trường Sa.

Cuộc xung đột đẩy Hoa Kỳ vào những mâu thuẫn đáng sợ. Một mặt các áp lực của ngân sách "chủ nghĩa không can thiệp" của Quốc hội Cộng hoà và việc co về các lập trường quân sự cổ truyền. Mặt khác, sự có mặt trong khu vực của nhiều công ty dầu lửa được nhiều nhóm áp lực mạnh mẽ ủng hộ ở Washington, các bất trắc của việc vận tải biển, quyết tâm kiềm chế các tham vọng của  Trung Quốc và các yêu cầu của các nước trong khu vực buộc họ phải tham gia vào cuộc tranh luận.

Xét về mặt chính thức thì người Mỹ chống lại việc sự dụng doạ nạt hay vũ lực để thực hiện các yêu sách của bất kỳ nước nào. Nếu họ từ chối tỏ thái độ về tính hợp pháp của các yêu sách thì họ lại viện dẫn luật quốc tế để bố cáo các đe doạ đối với quyền tự do trên biển ở vùng Trường Sa. Nhưng Lầu Năm Gócdo dự giữa sự cần thiết phải làm yên ổn long các nứoc trong khu vực trong đó có việc thể hiện sự cương quyết đối với các tham vọng của  Trung Quốc và nhu cầu duy trì đối thoại với Bắc Kinh vì những lý do chiến lược chung, như thâm nhập vào thị trường Trung Quốc hay hạn chế việc cung cấp các công nghệ hạt nhân cho Pakixtan hay Iran.

Vì không thể dứt khoát giữa nhiều đòi hỏi cấp bách như vậy, Washington đóng vai trò trong mọi màn trình diễn. Các áp lực kinh tế và việc xử lý tính nhạy cảm của Bắc Kinh đối với vấn đề Đài Loan được phối hợp với các biểu hiện quan sự: khả năng chuyển giao máy bay chiến đấu F16 cho Philippin từ tháng 5/1995, gửi các đơn vị biệt kích hải quân đến Puerto Princesa để huấn luyện bộ đội Philippin; hạm đội 7 cùng thao diễn với người Nhật và Nam Triều Tiên ngoài khơi bờ biển Trung Quốc, cũng có các dự án cùng loại như trên với người Thái Lan và người Singapore.

Về phía Nhật, họ đã từ bỏ vào năm 1951 mọi quyền của mình đối với các đảo thuộc quần đảo mà họ đã chiếm đóng từ 1939 (6). Nhưng gần 70% số dầu cung cấp cho họ chuyển qua Biển Đông. Như người Mỹ, họ muốn bảo vệ các quyền lợi của các công ty dầu lửa của họ. Việc người tq quyết định hay không quyết định vận dụng Luật biển năm 1992 của họ, có ý nghĩa đối với các đảo Sankaku của Nhật Bản. Ở Tokyo kín đáo là bắt buộc. Người ta ủng hộ việc tìm kiếm một giải pháp hoà bình nhưng không tuyên bố về tính có cơ sở của các yêu sách khác nhau.

Tuy nhiên, người Nhật có sẵn những đòn bẩy kinh tế mạnh mẽ đối với các nước chủ chốt, nhất là đối với Bắc Kinh. Là người đầu tư thể chế hang đầu ở Trung Quốc, Nhật Bản đối với Trung Quốc là người bảo lãnh thu hút các nguồn vốn tư nhân; việc Nhật Bản ngừng cho vay sẽ có thể gây hại rất nhiều cho việc Bắc Kinh tìm kiếm các nguồn vốn của nước ngoài. Ngoài ra, tuy quân đội Nhật Bản không có các phương tiện triển khai quân đội của mình trong khu vực, họ vẫn được trang bị những thiết bị tinh vi và được huấn luyện tốt trong môi trường biển.

Trong lúc này, các mục tiêu của Tokyo là không làm cho Bắc Kinh mất lòng, mà trái lại muốn bảo đảm các lợi ích của mình trên một thị trường rất hứa hẹn. Căn cứ vào kinh nghiệm của eo biển Malaca trong những năm 1960, một số người thậm chí còn trông chờ vào sự trung gian hoà giải của Nhật Bản để giải quyết cuộc xung đột về chủ quyền ở Biển Đông.


(Còn tiếp)
Logged
trucngon
Thành viên
*
Bài viết: 1776



« Trả lời #297 vào lúc: 25 Tháng Ba, 2010, 01:21:02 pm »

Phải chăng ngày mai sẽ có chiến tranh? Dù sao giả thiết đó cũng không có gì chắc chắn. Trước hết vì lý do giới hạn về hậu cần của quân đội Trung Quốc. Nếu rõ ràng các lực lượng thuỷ lục chiến, tàu ngầm và lực lượng chuyên chở bằng máy bay trực thăng của họ khiến cho việc chiếm đóng các đảo không gặp quá nhiều khó khăn thì khoảng cách giữa Trường Sa và các căn cứ hậu phương của Trung Quốc vẫn đòi hỏi các khả năng không quân mà hiện nay họ còn chưa có. Việc huấn luyện các phi công láI SU-27 không đảm bảo ưu thế của Trung Quốc trong các hoạtd dộng trên biển. Như vậy, hảI quân dễ bị thương tổn trước các lực lượng không quân và tên lửa của Malaysia và Indonesia ở vị trí địa lý tốt hơn đối với quần đảo và được trang bị các công nghệ hàng không tinh vi hơn.

Nền kinh tế cũng không biện hộ cho cuộc phiêu lưu. Sự phát triển của Trung Quốc dựa vảo thương mại địa phương và vào đầu tư của nước ngoài, nhưng việc đó lại không phù hợp với cuộc xung đột ở Trường Sa. Vậy tại sao lại hy sinh cho một nền an ninh tạm thời và những nguồn năng lượng còn bấp bênh, một quá trình kinh tế đảm bảo sự duy trì chế độ hiện này của Trung Quốc và tài trợ cho việc hiện đại hoá quân đội? Các nước ASEAN đã nắm vững mâu thuẫn đó. Tuy họ tự biết là không có khả năng ngăn cản Trung Quốc đang bị thúc đẩy bởi động cơ cấp thiết về chính sách đối nội cần phát động một cuộc đối đầu, nhưng họ cũng không quên rằng sự phát trio đầu tư, sự lệ thuộc vào thương mại và sự hoà nhập kinh tế cung cấp cho họ những công cụ ngăn cản có tính thuyết phục hơn.

Vì những lý do đối nội và đối ngoại, Bắc Kinh phải khẳng định sức mạnh của mình: Biển Đông cho phép họ làm việc đó. Trung Quốc có lợi nhờ khoảng trống về chiến lược do người Mỹ và người Nga để lại, cũng như một tương quan lực lượng có lợi cho họ. Họ vận dụng dễ dàng các ảo ảnh của các nước láng giềng bằng cách phối hợp bí mật về ngân sách quân sự với tính không rõ ràng của các ý đồ . Họ có thể mơ tưởng đến việc trả thù các sự xúc phạm mà người phương Tây buộc họ phải chịu trước đây bằng cách loại họ ra khỏi cuộc thương lượng.

Họ cũng tiến hành các cuộc gây áp lực trực tiếp lên Hồng Công và Đài Loan kể cả bằng cách cô lập các vùng này ra khỏi  sự đoàn kết châu á có thể có. Họ phát ra những tín hiệu kín đáo cho cả các tỉnh ven biển phía Nam của họ, nhắc lại cho các tỉnh đó biết là chính quyền trung ương sẵn sàng kiểm soát toàn bộ lãnh thổ, Cuối cùng họ còn thể hiện không mập mờ để mọi người đều biết, các tham vọng của họ trong khu vực, thậm chí trên toàn thế giới.

Chắc hẳn then chốt của lập trường của Bắc Kinh nằm ở chỗ đó. Một cách sử dụng khôn khéo hồ sơ quần đảo Trường Sa có thể mở ra cho họ các tài nguyên chiến lược của khu vực. Không tạo ra rủi ro thực sự, họ hy vọng làm như vậy sẽ khẳng định được hình ảnh đại cường quốc của mình, trong khi chờ đợi có các phương tiện kinh tế và quân sự để trở thành một đại cường quốc thực sự. Vậy sẽ không gì phải ngạc nhiên là các vấn đề gắn với việc khai thác dầu khí sẽ cho thấy một  giải pháp trung hạn. Nhưng rất có thể là những vấn đề chủ quyền vẫn để treo đấy, khiến cho Bắc Kinh vẫn giữ được con ngáo ộp ngoại giao của mình.

http://www.tuanvietnam.net/2010-03-24-truong-sa-giua-cac-moi-cang-thang-ve-xung-dot-bien-dong
Logged
trucngon
Thành viên
*
Bài viết: 1776



« Trả lời #298 vào lúc: 27 Tháng Ba, 2010, 07:44:47 am »

Giải pháp Biển Đông: Trung Quốc cần bỏ yêu sách 9 đoạn



Trung Quốc từ bỏ yêu sách 9 đoạn, các nước bỏ qua một thế kỉ thực dân, đế quốc... là cách để tìm kiếm giải pháp hợp lý và công bằng cho Biển Đông - TS Vũ Quang Việt gợi ý tại Hội thảo ĐH Temple.

Ngày 25/3 (giờ địa phương), phòng hội thảo tại ĐH Temple nóng rẫy với các thảo luận liên quan đến tranh chấp chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và các vùng nước liên quan và con đường để tìm kiếm một giải pháp hợp lý và công bằng cho xung đột đang được dư luận quan tâm này.

Lo an ninh


Chia sẻ nhận định yêu sách chủ quyền của Trung Quốc đối với các đảo thuộc hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa “chỉ là một bước đi ban đầu để đến mục tiêu tham vọng hơn nhiều là kiểm soát toàn bộ Biển Đông Nam Á”, các học giả bày tỏ quan ngại về an ninh cho các quốc gia liên quan đến tranh chấp và cả khu vực.

TS Ngô Vĩnh Long chỉ rõ chủ nghĩa bá quyền Trung Quốc đang trở lại đằng sau những hoạt động triển khai trên khu vực biển Đông.

Mới đây nhất, phản ứng trước việc Việt Nam và Malaysia trình đăng kí chung về thềm lục địa mở rộng lên LHQ, Trung Quốc lần đầu tiên chính thức công bố bản đồ thể hiện yêu sách đường ranh giới 9 đoạn hình chữ U tham vọng chiếm tới 80% diện tích Biển Đông và thiếu vắng các giải thích cụ thể.

Trước đó, Trung Quốc đã tiến hành chính sách gặm nhấm từng bước với việc tính toán thời điểm kĩ lưỡng để tránh sự kháng cự hết sức có thể từ các nước liên quan.

Nhiều quốc gia trong khu vực bị đẩy vào tình thế tiến thoái lưỡng nan trong lựa chọn chính sách ứng phó dưới sức ép trong nước và tính toán lợi ích trong đối ngoại.
Bỏ yêu sách 9 đoạn

Để có một giải pháp công bằng và hợp lý với các bên liên quan, TS Vũ Quang Việt cho rằng, “yêu cầu quan trọng nhất là Trung Quốc phải ngừng yêu sách chủ quyền đối với vùng nước và tài nguyên liên quan trong đường ranh giới 9 đoạn hình chữ U mà Trung Quốc đã tuyên bố”.

“Không nghi ngờ gì khi bất kì tòa án quốc tế nào cũng sẽ từ chối yêu sách chủ quyền của Trung Quốc. Và cũng không nghi ngờ gì khi việc áp đặt đòi hỏi chủ quyền với hơn 80% diện tích biển Đông Nam Á như vùng nội thủy của Trung Quốc sẽ chịu sự phản đối không chỉ từ các quốc gia ĐNA mà còn từ tất cả các cường quốc trên thế giới”, TS Vũ Quang Việt nhận định.

Từ các tư liệu lịch sử sẵn có (của Trung Quốc và Việt Nam) và dựa trên luật pháp quốc tế, TS Vũ Quang Việt chỉ ra, Trung Quốc có thể tuyên bố chủ quyền hợp pháp với hầu hết cụm đảo Phú Lâm ở quần đảo Hoàng Sa trong khi Việt Nam có thể tuyên bố chủ quyền rõ ràng đối với cụm đảo Hoàng Sa (Crescent) với những bằng chứng mạnh mẽ và thuyết phục hơn nhiều.

Trong khi đó, với quần đảo Trường Sa, trước khi Pháp đến vùng đất này, đó vẫn hầu như chỉ là vùng đất không người ở.

“Việt Nam có thể kế thừa hợp pháp tuyên bố của Pháp đối với quần đảo này. Tuy nhiên, việc này sẽ không bao giờ có thể đưa đến một giải pháp hòa bình cho xung đột ở quần đảo Trường Sa”.

“Sẽ là công bằng và hợp lý hơn đối với tất cả các biên liên quan đến tranh chấp nếu gạt sang một bên các hệ lụy của thế kỉ của chủ nghĩa thực dân và đế quốc tại ĐNA”, TS Việt nhấn mạnh.

Theo ông, các bên cần mở ra những cuộc đàm phán nhiều bên một cách hợp lý hoặc sự phân xử quốc tế dựa trên cơ sở thực tiễn hơn là những hành động mang đậm chủ nghĩa dân tộc.

3 bước để có một giải pháp công bằng, hợp lý

Các học giả đề chia sẻ quan điểm rằng cần một giải pháp đa phương cho tranh chấp Biển Đông và nhất là cần sự tham gia của bên thứ ba, như Mỹ.

Trong bài phân tích thuyết phục của mình, TS Vũ Quang Việt cũng đưa ra đề xuất 3 bước để có được giải pháp công bằng và hợp lý cho vấn đề biển ĐNA.

Bước đầu tiên là đạt được một thỏa thuận về nguyên tắc bản chất của kết cấu tự nhiên ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sađể xem liệu chúng nên được xác định là các đảo hay các đảo đá theo Công ước Quốc tế về Luật biển (mà chưa cần quyết định nước nào có quyền sở hữu các đảo nhỏ, rạn san hô, đảo san hô…) Trọng tài quốc tế hoặc một ủy ban quốc tế với các chuyên gia về Công ước Luật biển có thể hỗ trợ được trong việc này.

Bước thứ hai là có một giai đoạn hòa hoãn (đồng nghĩa với việc không khai thác tài nguyên trong và xung quanh khu vực các quần đảo này) cho tới khi quyền sở hữu của các kết cấu tự nhiên này được xác định, đi liền với các vùng nước liền kề xung quanh các đảo và đảo đá phù thuộc vào thỏa thuận đạt được ở bước 1 về bản chất của các kết cấu liên quan.

Một “đảo” được định nghĩa theo Công ước Luật biển sẽ được hưởng vùng đặc quyền kinh tế với diện tích hạn chế dành cho các đảo nhỏ, trên cơ sở tiền lệ phán quyết của tòa án công lý quốc tế. Các đảo đá không có vùng đặc quyền kinh tế.

Bước thứ ba là giải quyết vấn đề chủ quyền đối với các đảo nhỏ, đảo đá… ở biển ĐNA.  Trong đó, một giải pháp cho xung đột biển ĐNA ít nhất phải dựa trên cơ sở Công ước Luật biển quốc tế.

Hiền Anh
http://vietnamnet.vn/chinhtri/201003/Giai-phap-Bien-Dong-Trung-Quoc-can-bo-yeu-sach-9-doan-900902/
 

Logged
trucngon
Thành viên
*
Bài viết: 1776



« Trả lời #299 vào lúc: 02 Tháng Tư, 2010, 09:26:22 am »

Hội Địa lý Mỹ chính thức sửa chú thích về Hoàng Sa


Một tuần sau khi ra quyết định, quy tắc mới về việc chú thích đối với quần đảo Hoàng Sa trên các bản đồ do Hội Địa lý Mỹ phát hành đã được bước đầu chính thức áp dụng với phiên bản điện tử, trước hết ở bản đồ thế giới.

Ngày 25/3, sau cuộc họp của Ủy ban Chính sách bản đồ, Hội Địa lý quốc gia Mỹ đã ra quyết định điều chỉnh việc ghi chú bản đồ đối với quần đảo Hoàng Sa.

Việc ghi chú sẽ tuân theo quy ước: Với các bản đồ thế giới tỉ lệ xích nhỏ: sử dụng tên gọi quy ước "Paracel Islands" và bỏ thông tin về chủ quyền.

Với các bản đồ khu vực, các châu lục và bản đồ từng phần có tỉ lệ xích lớn hơn, sẽ sử dụng tên gọi quy ước Paracel Islands, mở rộng thông tin về chủ quyền cụ thể hơn: Chiếm đóng (occupied) bởi Trung Quốc năm 1974, với tên gọi Xisha (Tây Sa), tuyên bố chủ quyền bởi Việt Nam với tên Hoàng Sa.


Quyết định này được đưa ra sau nhiều thảo luận của Hội trước phản ứng của dư luận và Chính phủ Việt Nam liên quan đến việc chú thích về quần đảo Hoàng Sa trên bản đồ do Hội này phát hành. Trong các bản đồ đó, quần đảo Hoàng Sa được ghi là Xisha Qundao và đính kèm chữ "China", ngầm hiểu là thuộc chủ quyền của Trung Quốc.

Phía Việt Nam cho rằng đây là "việc làm sai trái vi phạm nghiêm trọng chủ quyền không thể chối cãi của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa".

Trong thông cáo báo chí đầu tiên phát đi hôm 18/3, Hội cũng thừa nhận, "chỉ đơn giản sử dụng cái tên Trung Quốc kèm với chữ "China" để phụ chú mà không có sự giải thích thêm nào có thể dẫn tới việc hiểu sai và diễn dịch sai".

Theo quy tắc chú thích mới, tên gọi chính thức của quần đảo Hoàng Sa sẽ không phải là Xisha Qundao (Paracels Is.) mà là tên gọi quốc tế Paracel Islands và thông tin về chủ quyền sẽ được gỡ bỏ trên bản đồ thế giới.

Với các bản đồ khu vực và quốc gia, thông tin về chủ quyền được điều chỉnh, thay cụm từ "do Trung Quốc quản lý" bằng cụm từ "do Trung Quốc chiếm đóng" và  bổ sung thông tin cụ thể hơn về thời điểm: năm 1974.

Hội Địa lý quốc gia Mỹ cũng cho hay, "những quy ước ghi chú này cũng sẽ được áp dụng với bản in các bản đồ tương lai của Hội Địa lý quốc gia Mỹ và sẽ được thể hiện trên bản đồ điện tử trong thời gian sắp tới".

Đúng như cam kết, 4 ngày sau khi có quyết định, ngày 28/3 (giờ Mỹ), khi mở bản đồ  trên website của Hội Địa lý Quốc gia Mỹ, điều dễ nhận thấy là chú thích về quần đảo Hoàng Sa trên bản đồ thế giới đã có những điều chỉnh đầu tiên, bắt đầu bằng việc áp dụng tên gọi quy ước Paracel Island thay cho Xisha Qundao (Paracel Is.). Thời điểm đó, chữ "China" vẫn còn tồn tại trên bản đồ.

Và đúng một tuần sau quyết định, chữ "China" màu đỏ gây bức xúc trong dư luận Việt Nam đã được gỡ bỏ khỏi phần chú thích về quần đảo Hoàng Sa trên bản đồ thế giới.
Theo Hội Địa lý Quốc gia Mỹ, "những thay đổi hoặc làm rõ về bản đồ của Hội này cũng như chỉnh sửa bất kỳ lỗi nào" đều là "phán quyết độc lập", "dựa trên các thông tin và nghiên cứu tốt nhất sẵn có".

"Chúng tôi luôn cố gắng giữ lập trường phi chính trị, tham mưu ý kiến của các nguồn có thẩm quyền từ nhiều bên, và đi đến quyết định độc lập dựa trên các nghiên cứu mở rộng", Hội Địa lý Mỹ viết trong thông cáo báo chí đầu tiên phát ra.

Mục tiêu của Hội Địa lý Mỹ là "theo đuổi chính sách mô tả hiện trạng (de facto policy), có nghĩa là, để miêu tả cho mọi người đọc hoặc người xem có thể tiếp nhận được một cách tốt nhất sự đánh giá của chúng tôi về hiện trạng của một vấn đề".

Với mục tiêu đó, và các nguyên tắc chú thích bản đồ đã được đưa ra, Hội Địa lý Mỹ đã nhanh chóng "sửa sai" với chú thích trên bản đồ thế giới. Thế nhưng, bản đồ có tỉ lệ xích lớn hơn vẫn chưa có dấu hiệu điều chỉnh.

Hi vọng, nguyên tắc chú thích đối với quần đảo Hoàng Sa trên bản đồ có tỉ lệ xích lớn hơn, như bản đồ lục địa, bản đồ khu vực, quốc gia... sẽ sớm được áp dụng trên thực tế, giúp người đọc người xem nắm được hiện trạng như nó vốn có.

Trong khi đó, việc sai sót về bản đồ Việt Nam ở khu vực biên giới Việt - Trung trên Google Maps, đẩy hàng nghìn kilômét vuông của Việt Nam sang lãnh thổ Trung Quốc, vẫn đang trong giai đoạn xem xét. "Sẽ mất thời gian", bà Kate Hurowitz, người phát ngôn của Google Maps và Google Earth cho VietNamNet hay hôm 31/3. "Có thể sẽ là vài tuần, nếu không nói là lâu hơn để có kết quả cuối cùng".
http://vietnamnet.vn/chinhtri/201004/Hoi-dia-ly-My-chinh-thuc-sua-chu-thich-ve-Hoang-Sa-901969/
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM