chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #60 vào lúc: 25 Tháng Mười Một, 2008, 09:33:43 pm » |
|
IV BÍ DANH “LE JEUNOT” ARTHUR FIELDING ĐANG SẴN SÀNG Ngay sau khi được bật đèn xanh cho việc tuyển mộ. Fielding, Morris Cohen đã có cuộc hẹn gặp với ông ta ở “Alexander” - một nhà hàng nhỏ ở Grand Concourse, thuộc vùng Bronx. Thực tế nhà hàng này đã không tồn tại mà được thay thế bằng một cửa hàng lớn cùng tên. Cả hai kẻ mưu phản này đều không kéo dài sự có mặt ở nhà hàng này mà đến một cửa hàng tạp phẩm của ông Harry - cha của Cohen ở số nhà 1244 cùng phố. Ở đó, trong quầy hàng hoa quả và rau, việc tuyển mộ được bắt đầu. Sau đó Cohen đã soạn thảo một bản tường trình rất dài về cuộc gặp gỡ này. Trong bản tường trình có đề cập đến việc đi du lịch từ Matxcơva và được ghi lại trong tập hồ sơ mang số 13676. Chúng ta sẽ kể theo bản dịch tiếng Nga, nơi mà Cohen đã ám chỉ bằng bí danh Tây Ban Nha của Luis. Về phía nhà vật lý, một lần nữa chúng ta sẽ gọi ông là Fielding. Một vài sửa chữa nhỏ đã được tiến hành đối với văn bản để đảm bảo sự liên kết. Luis: Thưa ông Arthur, được sự cho phép của cơ quan Có thẩm quyền Nhà nước Xôviết, tôi hoàn toàn đánh giá cao lời đề xuất của ông và khẳng định một vài điểm quan trọng.
Fielding: Đồng ý, tôi sẵn sàng. Nhưng trước khi chúng ta bắt đầu, tôi rất muốn biết tại sao họ lại cử ông đến đây để đại diện cho họ. Nếu họ nghĩ rằng không phải là tôi đã làm những việc đó, chúng ta có thể chấm dứt cuộc gặp gỡ ở đây và chúng ta hãy ra về.
Luis: Điều đó không cần thiết. Nếu họ đã cử tôi đến đây chính là để cuộc gặp gỡ này đảm bảo an toàn cho ông. Đối với một nhà bác học như ông, tất cả những cuộc tiếp xúc với những người Xôviết đều bị cấm.
Fielding: Đúng vậy. Rất tốt, vậy thì chúng ta hãy bắt đầu. Ông hãy đặt câu hỏi của mình?
Luis: Các ông đang tiến hành công việc gì, Arthur, ông sẽ trở về Nga và thông tin nào ông sẽ mang về cho họ?
Fielding: Để không có một sự hiểu lầm nào trong mối quan hệ của chúng ta, hãy đưa cho họ nội dung của hồ sơ này. Tôi tin là họ sẽ thấy được một vài điều giá trị của nó. Và nói với họ rằng tôi thuộc một nhóm những nhà bác học có khả năng tiếp xúc với những công việc bí mật.
Luis: Loại việc bí mật nào?
F: Đó là một kế hoạch phát triển rộng một loại vũ khí hủy diệt, có khả năng huỷ diệt tất cả sự sống trên trái đất.
L: Loại vũ khí này gọi là gì?
F: Bom nguyên tử.
L: Ý tưởng về loại vũ khí khủng khiếp này là của ai?
F: Khó mà nói được điều đó. Những người đầu tiên nghĩ đến nó là những người Đức nhất là từ khi họ chuẩn bị cho chiến tranh. Sau đó, nhà khoa học Hungari, Leo Szilard, người đã thấy được sự nguy hại của chủ nghĩa phát xít ở Châu Âu, đã yêu cầu những nhà vật lý Mỹ không xuất bản những bài báo về vật lý nguyên tử nữa. Chính ông ta đã thuyết phục Albert Einstein ký vào bức thư gửi cho Tổng thống Roosevelt đồng thời nói với ông ta rằng nếu những nhà bác học Đức chế tạo thành công loại bom hủy diệt và đặt nó vào tay bọn Đức quốc xã thì đó là một thảm họa cho thế giới. Chính vì lý do đó mà rất nhiều nhà vật lý Mỹ, trong đó có cả những nhà bác học đền từ Châu Âu, đã yêu cầu Tổng thống trợ cấp cho việc nghiên cứu của họ về chất uranium. Cuối năm vừa rồi, Nhà Trắng đã đồng ý với đề nghị đó và đã trợ cấp những khoản tiền lớn. Đó là những gì mà tôi biết.
L: Điều gì sẽ xảy ra tiếp theo?
F: Đầu tiên, những thí nghiệm về năng lượng nguyên tử sử dụng thông thường đã kết thúc và trong mỗi một thí nghiệm đều nghiên cứu về việc chế tạo ra một quả bom nguyên tử. Đối với tất cả những phòng thí nghiệm, nhiệm vụ chính bây giờ là thực hiện phản ứng dây chuyền với chất uranium 235...
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #61 vào lúc: 25 Tháng Mười Một, 2008, 09:34:32 pm » |
|
Rồi Fielding mô tả quá trình của hạt nhân nguyên tử mà chúng tôi đều biết, vậy nên nhắc lại cũng vô ích. Để kết luận, ông ta tuyên bố rằng phòng thí nghiệm của ông ta là trung tâm thực nghiệm của dự án và hoạt động của nó đang diễn ra suôn sẻ tất cả nhằm mục đích đánh bại Đức trong cuộc chạy đua về bom nguyên tử và giành thắng lợi trong chiến tranh. Trung tâm Los Alamos khi đó vẫn chưa có.
Luis: Tôi hiểu. Arthur. Nhưng chúng ta hãy quay trở lại câu hỏi ban đầu của tôi.
F: Câu hỏi gì nhỉ, Luis! Tôi đã quên mất rồi.
L: Tôi quan tâm tới lý do thúc đẩy ông tìm cách tiếp xúc với người Nga và đưa cho họ những thông tin bí mật.
F: Tôi cho rằng ông hiều về tôi không nhiều lắm. Lý do là tôi luôn bất đồng ý kiến với những người vì một sai lầm của lịch sử để xuất hiện một nhà nước xã hội trên bản đồ thế giới. Ông biết rõ điều đó, ít ra tôi còn đồng ý với những người tin rằng có thể sửa được sai lầm này bằng cách sử dụng chủ nghĩa phát xít Đức hoặc một quả bom nguyên tử. Fielding làm một sự đột kích mới trong lĩnh vực vật lý để kết luận:
F: Tôi có một hy vọng lớn rằng không chỉ Mỹ, mà cả Nga có loại vũ khí chết người này. Điều đó sẽ tạo ra một sự cân bằng trên thế giới. Anh không động vào tôi và tôi cũng không động vào anh. Vì họ đã nói, một sự hoà bình giả tạo còn tốt hơn một sự tranh cãi ngọt ngào. Bây giờ tôi hy vọng anh đã hiểu, tại sao tôi muốn gặp những người Nga rồi chứ
L: Đúng, ông đã thuyết phục được tôi rồi. Bây giờ, về sự an toàn cá nhân của ông, những người bạn Xôviết đã nói với tôi rằng ông có thể an tâm rằng thông tin khoa học mà ông cung cấp sẽ không bao giờ được sử dụng theo cách có hại cho ông. Nó sẽ tuyệt đối được giữ bí mật. Tên thật của ông chỉ có tôi và một người Nga biết. Họ cũng yêu cầu nói để ông yên tâm rằng sự giúp đỡ của ông với nước Nga sẽ không bao giờ làm thiệt hại cho nước Mỹ.
F: OK. Điều đó làm tôi an tâm và hy vọng.
L: Họ giao cho tôi trách nhiệm nói với ông rằng họ đã làm tất cả để cho ông một sự đảm bảo về vật chất, nếu có dịp.
F: Vì tình yêu Chúa, dừng bao giờ nói về điều đó. Tôi sẵn sàng hợp tác với họ vì lý do nhân đạo chứ không phải vì tiền!
L: Tốt rồi, bây giờ hãy tìm những giải pháp an toàn cho những cuộc tiếp xúc tới.
F: Tôi sẽ phải làm gì?
Louis - Cohen đưa cho Fielding những hướng dẫn liên, quan tới “Konspiratria”. Ông ta nói rằng vào mỗi cuộc gặp người ta sẽ đưa ra một danh sách những vấn đề mà những nhà bác học Nga quan tâm. Sau đó hai người chia tay nhưng không quên nói địa điểm và ngày giờ cuộc hẹn tới, Cohen thêm lời nhận xét trong báo cáo của ông ta.
Ban đầu, khi Fielding đề nghị tôi để ông ta tiếp xúc với một người Nga, tôi không khỏi băn khoăn: “Đây có phải là sự khiêu khích của FBI không?”. Những nghi ngờ của tôi chỉ được tiêu tan khi nghe ông ta nói rằng lương tâm và ý thức công dân của ông ta không thể chịu đựng được rằng Liên Xô không có vũ khí trước một sự nguy hiểm ngày càng lớn về một cuộc chiến tranh lớn, cuộc chiến tranh hạt nhân. Và họ sẽ có nguy cơ bị áp đảo. Trong khi cung cấp những tài liệu mật liên quan đến công việc, Fielding từ chối nhận tiền lương và khẳng định lại rằng ông ta làm như vậy chỉ vì những lý do nhân đạo.
Tôi phải ghi nhận rằng Fielding là một người mạnh bạo, chắc chắn và quyết đoán. Ngoài khoa học, ông ta còn đánh giá rất đúng về tình hình chính trị trên thế giới như tình hình trong những nấc thang quyền lực của Chính phủ Mỹ.
Ngay sau khi đã tuyển mộ Arthur Fielding, Morris Cohen cũng được tuyển vào... trong Quân đội Mỹ. Mặc dù việc phục vụ quân đội đã làm ông ta đổi hướng hoạt động bí mật vì mục đích của Xôviết nói chung và công việc đầy hứa hẹn nói riêng, ông ta không có lời biện bác nào, chức năng của người lính tạo cho ông được dịp chống lại Đức quốc xã bằng những phương tiện khác nhau. Ba mươi hai năm và những vết thương trong cuộc nội chiến ở Tây Ban Nha không miễn cho ông ta nghĩa vụ trong chiến tranh, vậy nên người ta đã lấy dấu vân tay mà ông đã để lại trên cơ thể những hạ sĩ và được chuyển tới Alaska vào tháng 6 để thực hiện chương trình Prêt-bail. Mùa hè năm 1942, một con đường mới đã được mở ra để phát triển việc vận chuyển từ Châu Mỹ sang Nga. Những máy bay của Mỹ sẽ chở liên tục với số lượng lớn hàng hoá, máy móc, đạn dược từ Great Falls, Montana tới Fairbanks, Alaska, tại đây hàng hoá sẽ chuyển sang những máy bay Nga và bay về phía đường băng hạ cánh ở Siberie. Morris được bổ nhiệm vào công việc này trong vòng hai năm sau đó được chuyển sang Anh để chuẩn bị dỡ hàng sang Normandie.
Leontine cũng bị bắt buộc đưa dấu vân tay vì cô ta làm việc trong một nhà máy đạn dược. Như vậy nhà Cohen đã để những dấu hiệu không thể xoá được trong những hồ sơ của US, nơi mà FBI có quyền động tới. Những dấu hiệu này cho phép nhận dạng những nhân vật bí ẩn Peter và Helen Kroger khi họ bị bắt vào tháng 1 năm 1961 ở Luân Đôn, nơi mà họ phải để lại dấu tay.
Một lần Morris Cohen phải đi công tác nên cần phải có một người khác để chăm nom Fielding. Đó là một nhân viên mang mật hiệu là Star (trong tiếng Nga là “cũ”). Nhân viên này được nêu trong lời nói đầu của tác phẩm mà trong đó tôi chỉ ra rằng anh ta đã được nhận dạng trong cuốn sách của Pavel Soudoplatov. Tôi không được tự do nói về anh ta, nếu không anh ta là nhân vật đầu tiên đảm nhận chức năng liên lạc của nhà vật lý trẻ - có nghĩa là giao những thông điệp cho Arthur Fielding và nhận những tài liệu của ông ta. Những biệt danh của Fielding sẽ được nói sau.
Hệ thống này hoạt động tới tận cuối năm. Lúc này Xôviết có hai nguồn cung cấp thông tin về việc chế tạo bom nguyên tử: Klaus Fuchs ở Trường Đại học Birmingham, người giao tài liệu cho Sonia, liên lạc của GRU và Arthur Fielding, ở Met Lab giao tài liệu cho Star, liên lạc của NKVD. Chúng tôi không quên những điệp viên bí mật của mạng lưới Cambridge, đã mắc nối với nhiều văn phòng của Chính phủ Anh và đã cung cấp nhiều thông tin có giá trị của quốc gia hoặc của nước ngoài. Ngoài những nguồn thông tin từ bên trong còn có những thông tin bên ngoài - những sĩ quan Xôviết, những nhân viên, những điệp viên, và cả những điệp viên nước ngoài, những người có cảm tình hoặc những người bạn đã thu thập được những lời đồn, những mẩu thông tin nhờ công việc của họ. Sang năm mới, tình hình được cải thiện đối với những cơ quan tình báo Xôviết.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #62 vào lúc: 25 Tháng Mười Một, 2008, 09:38:42 pm » |
|
DỰ ÁN MANHATTAN Sau khi Fielding được tuyển mộ và Cohen rời khỏi Mỹ, có một sự thay đổi lớn trong chương trình bom nguyên tử của Mỹ. Vannevar Bush, ông chủ của Viện Camegie và thành viên của nhóm chính trị cao cấp của Rossevelt, bắt đầu hết kiên nhẫn. Nhiều ủy ban dân sự về năng lượng hạt nhân tỏ ra không hiệu quả, nên đã quyết định cho tạm ngừng hoạt động và lập ra một cuộc kiểm tra vũ trang. Theo gợi ý của ông ta, tháng 8 quân đội US nhận nhiệm vụ trù liệu, xây dựng và giám sát những trung tâm chế tạo bom nguyên tử. Tướng Leslie Groves, người xây dựng Pentagone, chịu trách nhiệm về dự án có tên ngụy trang là Manhattan Engineer District. Ngay sau đó, người ta gọi ngắn gọn là “ dự án Manhattan”. Đứng đầu nhóm khoa học - tập hợp những nhà thiên tài mà lịch sử biết đến - Groves bố trí Robert Oppenheimer, một nhà vật lý đến từ Harvard, mới chỉ ba mươi tám tuổi. Groves và Oppenheimer chọn một địa điểm cách xa sự huyên náo của thành phố và những cái nhìn xoi mói. Họ đã tìm được một cao nguyên rộng rãi và khô cằn ở Nouveau Mexique. Nó được gọi là Los Alamos, “ những cây bạch dương”, theo cái tên của một trường học cạnh đó. Ba năm tiếp theo từ tháng 11 năm 1942 đến tháng 10 năm 1945, Groves thực hiện việc kiểm tra về dự án - việc xây dựng, những sự tiếp tế và sự an toàn - trong khi Oppenheimer chịu trách nhiệm về những việc nghiên cứu, những thử nghiệm và những nhu cầu, cả về vật chất lẫn tinh thần của những nhà bác học. Sự hợp tác Oppenheimer Groves là một liên minh rất khó khăn giữa khoa học và quân đội, giữa cá nhân và tổ chức, giữa suy nghĩ tự do và quy chế đến nỗi mà nó đã tiêu tốn một số lượng lớn sách vở phim ảnh và những cuộc thử nghiệm. Tất cả những gì liên quan tới dự án được bảo vệ như bí mật số một của Mỹ. Một bức tường im lặng hoặc những từ ngữ lừa phỉnh đã được dựng lên xung quanh trung tâm, ngay cả những người xung quanh cũng không biết cái gì diễn ra trong đó. Khu vực đã được bố trí trên đỉnh cao nguyên - một “cái bàn” được dựng lên - với độ cao 35.000 SantaFe, một trong những thành phố cổ của Old West, với dân cư là người Ấn Độ và Tây Ban Nha nhanh chóng chuẩn bị cho những người vừa mới đến. Để lên đến Colline, theo cách gọi của người phụ trách, chỉ có một con đường duy nhất, được đào qua một núi đá vôi đi qua khu bản xứ của người Ấn Độ, đi xuống để qua Grande và đi ngoằn ngoèo lên đỉnh dốc mới thấy dãy Jemez Mountanis. Qua hàng nghìn những khó khăn, sau đó tại cửa ra vào, những người qua lại được kiểm tra bởi cảnh sát, những giấy thông hành còn hiệu lực phải được trình ra và những sự cho phép được ghi nhận. Một hàng rào xung quanh khu vực cấm tất cả trong đó bao gồm cả những điệp viên. Việc xây dựng ở Los Alamos hoàn thành vào tháng đầu tiên của năm 1943 ngay cả những thay đổi hoặc sắp đặt vẫn diễn ra trong suốt thời gian khu vực này tồn tại. Những nhà bác học và gia đình của họ bắt đầu tới vào tháng 2 và 3, họ sống trong những khu nhà đơn điệu và không tiện nghi. Công việc khoa học bắt đầu với những hội nghị định hướng và những cuộc tranh luận, sau đó là những thử nghiệm. Những kết quả đầu tiên được đưa ra vào giữa năm. Vậy là dự án Manhattan ở Los Alamos và Labo 2 ở vùng ngoại ô Matxcơva, khởi động gần như trong cùng một thời gian, mặc dù với những phương tiện hoàn toàn khác nhau. Cơ quan tình báo Xôviết đã được thông báo về dự án Manhattan từ khi nó còn đang thai nghén và đã theo dõi từng chặng phát triển của nó với khả năng có thể. Từ New York, Zazoubine gửi một báo cáo ngắn gọn về Trung tâm: Tuyệt mật. Matxcơva Trung tâm.
Bí mật
Cho người bạn Viktor
Chứng nhận: 834/23 của ngày 14 tháng 6 năm 1942.
Tình hình nảy sinh sau khi Mỹ tham gia chiến tranh chống lại Nhật Bản đã buộc chính phủ và Pertagone mưu tính một hành động quyết định liên quan tới việc ứng dụng năng lượng nguyên tử trong quân đội. Tất cả những phòng thí nghiệm phân hạch chất uranium đặt ở New York, Berkeley, Princeton và Chicago đã bắt đầu hoạt động đúng theo một kế hoạch duy nhất có tên là Manhattan. Chính phủ đã chấp thuận cho quân đội trách nhiệm tổ chức tất cả những hoạt động cần thiết. Họ đã mất nhiều thời gian để quyết định về việc lựa chọn khu vực cho trung tâm khoa học. Cuối cùng họ đã chọn một vùng cao nguyên gọi là Los Alamos, thuộc nhà nước Nouveau Mexique. Đó là một khu vực khô cằn bên cạnh bờ Altantique. Thỉnh thoảng có những hải quân Đức đổ bộ làm nhiệm vụ thám thính và một diện tích lớn dân cư ở đó phải chịu những thiệt hại do tai nạn xảy ra trong những cuộc thử sơ bộ. Trong khi chờ đợi, các nhà bác học, các kỹ sư, kỹ thuật viên đã dựng những lều trại quanh khu vực. Đối với những người có lều trại thì được đón hàng ngày từ thành phố Santa Fe.
Những người bên ngoài chỉ được vào khu vực khi có sự cho phép của cơ quan OSS (tiền thân của CIA) của William Donovan. Tất cả dân cư của “thành phố bom A” những người lao động cũng như gia đình của họ được phép vượt quá giới hạn vào chủ nhật cuối cùng của mỗi tháng. Tất cả những giao dịch, vào cũng như ra đều bị kiểm dịch. Cấm mang thông tin ra khỏi Los Alamos. Mọi người phải báo cáo với cơ quan quân đội và cơ quan an ninh về những tin tức mà họ biết được, về sự tiếp xúc với bên ngoài và về những người tham gia tiếp xúc với những người bên ngoài về chủ đề của dự án Manhattan.
Hệ thống an ninh đã được đặt ra với những mục đích sau:
- Thông báo tất cả về sự rò rỉ thông tin về dự án hạt nhân.
- Đảm bảo rằng sự sử dụng bom nguyên tử sẽ gây ra một sự ngạc nhiên lớn.
- Không cho Nga biết về những khám phá khoa học và tất cả những chi tiết về dự án của Mỹ và của những nhà máy sản xuất từng bộ phận của bom.
- Giới hạn thông tin của mỗi nhân viên theo quyền hạn và nhiệm vụ của riêng mình: anh ta chỉ biết những gì liên quan tới công việc của anh ta, không hơn.
- Mỗi đơn vị phải làm việc theo nhiệm vụ của mình mà không biết được nhiệm vụ của đơn vị khác.
Cơ quan an ninh gồm khoảng 500 thành viên giữ một vị trí đặc biệt trong dự án Manhattan. Những nhân viên của FBI đặc biệt có tai mắt rất nhiều ở Los Alamos và Santa Fe nơi những nhà bác học và các chuyên gia ở. Những người nổi tiếng trong số họ và những người có khả năng nắm giữ được tất cả những bí mật được đặt dưới sự theo dõi. Họ không được rời chỗ ở của họ sau mười giờ đêm. Nơi làm việc của họ được tập trung che giấu. Tất cả những cuộc nói chuyện điện thoại của họ đều bị nghe lén. Theo FBI, những nhà bác học không phải gốc Mỹ có thể quỵ ngã và tiết lộ bí mật nên bị đặt dưới sự kiểm tra đặc biệt.
Báo chí trung tâm không sử dụng những từ Los Alamos, dự án Manhattan, bom uranium, eka-osmium, không gọi những từ địa lý như Hanford và Oak Ridge nơi những nhà máy được trù liệu để chiết xuất chất phetonium và uranium.
Mặc dù những giải pháp an ninh rất nghiêm ngặt, chúng tôi làm tất cả những gì cần thiết để thâm nhập vào những nơi tin cậy ở Los Alamos. Maxime
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #63 vào lúc: 25 Tháng Mười Một, 2008, 09:40:42 pm » |
|
Mọi người có thể tự hỏi về những điều mà Zazoubine Maxime nói về “làm tất cả những gì cần thiết”. Một tình báo Xôviết hoặc một nhân viên quốc tịch Mỹ có thể hy vọng đến được Santa Fe như thế nào, vượt qua con đường hoang vắng, những dây kẽm gai mà không gây báo động cho đội tuần tra sao? Và ngay cả khi vào được bên trong thì một người lạ có thể phát hiện ra điều gì? Sự phân tán công việc, sự kiểm duyệt, sự theo dõi. Sự an toàn của dự án Manhattan có vẻ hoàn toàn kín như bưng.
Chắc chắn rằng, việc tiếp cận khu vực này là không thể thực hiện được. Tuy nhiên Los Alamos không phải là một xí nghiệp đủ nhu cầu và tự túc. Nó được giúp đỡ bởi những phòng thí nghiệm, những viện nghiên cứu và những nhà máy ở Canada, Anh và Mỹ, điều này tạo thuận lợi cho những cơ quan tình báo Xôviết. Vậy nên suốt trong năm 1942, GRU đặt mạng lưới tình báo ở Canada mà 3 năm sau, 20 thành viên của nó đã bị lật tẩy do sự phản bội của Igor Gouzenko. Raymond Boyer, chuyên gia về tên lửa đã được tuyển mộ và Allan Nunn May, chuyên gia về hợp kim của Cambridge, đã được móc nối vào năm sau. Vậy là, Fuchs ở Birmingham và Fielding ở Chicago đã được kéo vào những cuộc thí nghiệm gắn với dự án Manhattan.
Cả hai người đã được chọn theo định mệnh mở lối trong lĩnh vực này để đột nhập vào thành trì của việc nghiên cứu hạt nhân của Mỹ. Họ không được cử đến đó bởi GRU hoặc NKVD; chính xác hơn, họ đã được mời bởi những nhà lãnh đạo Mỹ nhờ danh tiếng khoa học của họ. Đầu 1943, Robert Oppenheimer đã đề nghị Fielding và một vài đồng nghiệp của ông ta ở Met Lab tới Los Alamos. Điều đó xảy ra vài tháng sau khi nhóm của Fermi ở Chicago đạt được phản ứng dây chuyền đầu tiên đã được kiểm tra. Sau đó, vào cuối năm, Fuchs đến Mỹ với một nhóm nhà bác học Anh. Cả nhóm được dẫn bởi một quan chức của Maud Committee, James Chadwick; gồm Rudolf Peierls và người mới nhập quốc tịch Otto Frisch. Fuchs thuê một căn hộ ở New York, và có một phòng thí nghiệm ở Trường Đại học Columbia và bắt đầu những tính toán cho nhà máy khuếch tán của Oak Ridge mà ông ta không được phép tới thăm.
Đầu năm 1944, NKVD liên hệ với ông ta và thu thập được từ ông ta những thông tin để hoàn thành rất nhiều tài liệu. Người liên lạc là Harry Gold mà ông ta biết dưới biệt danh là Raymond. Hai người đàn ông gặp nhau khoảng 6 lần từ tháng 2 và tháng 7. Sau đó Hans Bethe, Giám đốc đơn vị lý thuyết của Los Alamos, yêu cầu Peierls đến khu vực và chính khi đó Peierls nghĩ tới người được che chở của mình (Fielding không nhìn thấy điều gì với sự chỉ định của Fuchs). Fuchs trở lại nhóm T-1, chuyên gia trong những vụ nổ do áp suất và tính năng động. Chính ông ta và Fielding làm trong trung tâm nghiên cứu trong suốt chiến tranh mà không ai trong số họ ngờ rằng người kia lại là tình báo.
Đúng là Fuchs đã bị kiểm tra bởi bên quân đội và được đánh giá là chấp nhận được, ngay cả khi sự cởi mở của ông ta có thể khiến cho Groves phải dè dặt. Mặt khác, Fuchs được biết đến bởi những giao tiếp của ông ta ở Anh và những nghiên cứu được lặp lại bởi J.Edgar Hoover, sếp của FBI, về khả năng vận hành của ông ta được thúc đẩy bởi Wrar Department, với sự đảm bảo rằng cơ quan an ninh Anh đã nghiên cứu trường hợp của ông ta và khẳng định khả năng của ông ta. Sự thật, được biết đến khi Fuchs bị lật tẩy là việc kiểm tra do Anh thực hiện là rất hời hợt.
Để thích hợp với sự phát triển trong chương trình nguyên tử của Mỹ, những Cơ quan Tình báo Xôviết có một vài thay đổi. Beria muốn có người giúp ông ta giám sát Labo 2 và để làm được điều đó, ông ta kéo Boris Vannikov ra khỏi nhà tù nơi anh ta đang bị giam giữ. Vannikov, phụ trách của lực lượng vũ trang, đã bị bắt trước chiến tranh vì đã chống lại sự ảnh hưởng nguy hiểm của những nhà cầm quyền về những quyết định trong lĩnh vực quân đội; và sau cuộc tấn công của Đức quốc xã, rõ ràng chính ông ta đã có lý. Beria dẫn ông ta từ nhà tù thẳng tới Kremlin để thuyết phục Stalin để ông ta vào chức vụ cũ. Và Vannikov giữ một vị trí trong dự án của Xôviết được so sánh với vị trí của Groves ở Mỹ, mặc dù rất ít quyền lực.
Đầu 1943, Leonid Kvasnikov khẩn trương tới Mỹ để lãnh đạo nhóm tình báo hạt nhân Xôviết với biệt danh là Enormoz. Lev Vassilevki bổ nhiệm vào DST (ban khoa học và kỹ thuật) ở Mátxcơva. Những phụ tá của Kvasnikov ở Mỹ là Seminov, người không thể thay thế mặc dù cũng sợ ông ta bị lật tẩy và Anatoli Yatskov, người thay thế Seminov vì cuối cùng ông này phải về quê hương tháng 3 năm 1944. Yatskov đảm nhận việc lãnh đạo chung khi Kvasnikov bị gọi về năm 1945 và Yatskov ở Mỹ tới cuối năm sau. Zazoubine trở lại Nga năm 1944.
Từ khi tới Los Alamos, Fielding trở thành điệp viên số 1 của Xôviết. Nhưng việc bố trí cho ông ta gặp những người liên lạc và đưa tài liệu là không phải dễ. Ông ta cho biết rằng ông ta không thể rời khu vực Los Alamos mà không có sự cho phép của Groves và trong những tình huống như vậy Groves cũng phải bắt buộc báo động cho FBI. Vậy nên ông ta gợi ý rằng họ sẽ gặp nhau mỗi năm một lần bên bờ biển trong kỳ nghỉ. Đối với Cơ quan Tình báo Xôviết, đề nghị này không thể chấp nhận được. Họ đề nghị ba tháng gặp một lần, vào chủ nhật cuối cùng của tháng thứ ba, trong khu vực gần Los Alamos. Một liên lạc khẩn cấp từ New York tới Albuquerque cách khu vực đó 60 dặm, với lý do là đi nghỉ ở bờ biển vì nguyên nhân sức khoẻ. Fielding có thể đi thăm thành phố như một khách du lịch. Địa điểm cuộc gặp có thể là một nhà thờ gần ga xe lửa; giờ - vào buổi chiều. Nếu vì một lý do nào đó, cuộc hẹn bị huỷ thì cuộc hẹn bù lại vào chủ nhật sau, và nếu cứ như vậy thì kéo dài tới tận cuối tháng sau. Trong trường hợp Fielding biết trước là ông ta không thể đến chỗ hẹn, ông ta sẽ gửi một lá thư gồm một câu là: “Tôi không thể vắng mặt trong thời gian này”. Điều này có nghĩa là cuộc hẹn sẽ bù vào tháng sau. Nếu có cuộc hẹn khẩn cấp, ông ta sẽ viết rằng ông ta thích nghỉ vào một ngày xác định, đó chính là ngày của cuộc hẹn. Tôi không biết rõ là ông ta viết cho ai.
Theo qui định của “Konspiratsi”, một điệp viên tới cuộc hẹn phải có một dấu hiệu để có thể nhận dạng được ngay từ xa. Khuôn mặt và dáng vẻ bên ngoài không thể đủ, người liên lạc có thể là một người mới, hoặc một người thay thế chưa gặp ông ta bao giờ. Vậy nên ông ta yêu cầu Fielding mang một chiếc túi giấy tờ màu vàng khi tới nhà thờ. Nếu ông ta cảm thấy nguy hiểm và muốn huỷ cuộc gặp ông ta phải xoay chiếc túi theo kiểu như muốn quảng cáo. Bên mới của chiếc túi có nghĩa là mọi việc đều tốt. Chi tiết quan trọng: một chiếc đuôi cá phải thò ra khỏi túi.
Bạn đọc có thể buồn cười về màn kịch Mélô kiếm hiệp này, đó là một cách chắc chắn đấy. Điều tác giả người Mỹ của tôi làm cho tôi nhận xét rằng một con cá khá to thò ra khỏi túi xách, cá ướp lạnh hoặc cá tươi sẽ nhanh chóng bị chảy ra hoặc bốc mùi dưới cái nắng của Nouveau-Mexique. Không nói đến những trở ngại khi mua, mang theo rồi vứt bỏ đi. Fielding thực sự không thể giấu những tài liệu quý giá trong một cái túi đầy cá ươn. Còn nếu như Fielding bị theo dõi, việc mua cá sẽ gây nghi ngờ vì ông ta không thể đun nấu ở Albuquerque và cũng không thể mang nó về Los Alamos trước khi nó bị chết (chặng đường về phải mất hơn một giờ, thậm chí là hai giờ). Với tất cả những thắc mắc này, tôi chỉ có thể trả lời rằng: dấu hiệu đặc biệt này được đưa ra từ Trung tâm ở Mátxcơva và Mátxcơva không thể cân nhắc những đặc thù của địa phương.
Khi việc nhận dạng xong, người liên lạc phải giới thiệu với Fielding theo qui định. Anh ta sẽ nói: “Xin lỗi, ông có biết nơi nghỉ hè nào là tốt nhất cho bệnh rối loạn hô hấp không, Sandia hay Rio Grande?”. Fielding sẽ trả lời: “Nơi nghỉ có khí hậu tốt nhất là trong núi Rocheusses, ở đó có các bác sĩ rất tốt”.
Đương nhiên, cần phải có một biệt danh cho Fielding khi liên lạc với NKVD và cho những yếu tố quan trọng khác của dự án Manhattan. Đó là Mlad (le Jeunot). Los Alamos thành Carthage (Camp 2), phòng thí nghiệm khoa học của ông ta, Parthénon, quả bom, Gorgone. Trừ đối với điệp viên, ý tưởng được phỏng theo truyền thuyết Hy Lạp: vì Persée, Fielding-Mlad, trong hang động Gorgone phải né tránh người đẹp Méchese, mà mái tóc xoăn biến thành những con rắn, cái nhìn khủng khiếp của nàng biến tất cả những sinh vật sống thành đá; Mlad phải lừa cô ta nhờ sự phản chiếu của cái khiên để có thể chặt đầu cô ta và cứu nhân loại. Có thể có một nhà thơ thông thạo ở NKVD hoặc một người tình luôn cảm thấy thất vọng về vùng đất chuyên bán sách cổ nổi tiếng.
Tạm biệt Arthur Fielding. Từ nay về sau, chúng tôi nói về ông bằng biệt danh Mlad.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #64 vào lúc: 27 Tháng Mười Một, 2008, 12:27:01 pm » |
|
KẾ HOẠCH GÌN GIỮ Như chúng tôi đã nói, Lavrenti Beria là một người hay nghi ngờ. Thật khó mà báo cho ông ta tin tốt lành là một nhà bác học Mỹ đã sẵn sàng phục vụ Xôviết và ông ta nhanh chóng được đưa vào trung tâm nghiên cứu nguyên tố của US, bị tách biệt và canh gác rất nghiêm ngặt. Không tin tưởng vào Anh và Mỹ mặc dù đã là đồng minh của Nga, họ luôn giấu ông ta những bí mật quân sự, vị chỉ huy cứng đầu này luôn phàn nàn là bị thông tin sai lệch và tìm cách phỉ báng những nghiên cứu khoa học, những bản vẽ, kế hoạch và những tính toán bắt đầu chảy dồn về New York. Chiếc hộp mà Mlad giao cho Luis, trong đó gồm 180 trang ghi chép trên giấy peluya, đã nằm rất nhiều tuần trong két của ông ta trước khi được gửi cho Barbu. Người ta có thể nhận định được phản ứng của Kourtchatov về việc gửi đi của NKVD qua một giác thư ngoại giao mà ông ta gửi cho Mikhail Pervoukhine, phó chủ tịch của chính phủ. Người này cùng với Molotov, chịu trách nhiệm chính của UB chuyên ngành năng lượng nguyên tử do Beria thành lập. Cuối chương 2, chúng tôi đã kiểm tra tài liệu đầu tiên của phòng lưu trữ của Kourchatov, “ được phóng thích” bởi KGB-SRE. Được ghi ngày 7 tháng 3 năm 1943, ông ta độc quyền đánh giá những nghiên cứu được cung cấp bởi Cairncross hoặc Donald Maclean. Giác thư ngoại giao thứ hai, soạn ngày 22 tháng 3 năm 1943, liên quan tới những bài báo được xuất bản bởi những nhà vật lý Mỹ trước khi họ quyết định giấu giếm những nghiên cứu của họ, trước tiên là giấu những người Đức, sau đó là giấu công chúng. Kourtchatov không thấy gì sau đó tới tháng 6 năm 1940, đến nỗi mà, trong một nghĩa nào đó, ông ta thu thập được những tài liệu khoa học trước đó ba năm. Nhưng giác thư ngoại giao tiếp theo đó, soạn ngày 4 tháng 6 năm 1943, gồm hai mươi tám trang giấy viết tay, và đưa lên tạp chí hai trăm tám mươi tư công trình của Mỹ. Ông ta nói về nguyên tử 93 và 94 (neptunium và plutonium), về phương pháp điện từ để tách những chất đồng vị và những trụ từ uranium - nước nặng. Đương nhiên, Barbud đã hưởng những bản sao, những tài liệu của những chất mới. Mặc dù chúng tôi không biết chắc chắn nguồn cung cấp và nội dung của chúng, nhưng ngày tháng, nguồn gốc từ Mỹ và cùng thời gian của dự án Manhattan cho phép giả định rằng Mlad đã được tham gia vào công việc. Hơn nữa, pin điện nhờ uranium-graphique đã được chế tạo thành công ở Mét Lab, nơi mà Mlad làm việc. Và Kourtchatov nói rõ ràng: “ Đương nhiên, việc đạt được những thông tin kỹ thuật chi tiết liên quan tới những hệ thống này, ngay cả ở Mỹ là tối cần thiết”. Mặc dù Kourtchatov phấn khởi nhưng Beria rất cảnh giác. Ông ta yêu cầu tăng sự xác nhận những tài liệu từ nước ngoài. Sự đòi hỏi càng tăng bởi những tình cảm mà ông ta nuôi dưỡng đối với Leonid Kvasnikov, người đã thâm nhập sâu vào tình báo nguyên tử ở Mỹ. Ngay cả khi ông ta đã xác nhận sự bổ dụng của Kvasnikov là do trình độ của ông ta, Beria cũng không bao giờ tin vào “ cơ sở”. Những lý do của ông ta mang tính chất cá nhân. Năm 1940, khi đi công tác ở Varsovie, Kvasnikov quen với Goerge Pézadzé, một người thuộc chi nhánh của giáo hội Géorge ở nước ngoài. Péradzé đã khẳng định với ông ta rằng, những năm trước, vào năm 1919, khi những người Bolchevic đã chiến thắng và giành được quyền kiểm soát ở Nga, Lavrenti Pavlovitch Beria đã có liên hệ với những tình báo Anh. Khi quay trở về Moscou, Kvasnikov chuyển lời chào của Péradzé tới Beria nhưng không nói gì về sự khẳng định của ông ta. Đây là một sai lầm nghiêm trọng. Beria ngờ rằng Péradzé có thể đã tiết lộ quá khứ của ông ta cho Kvasnikov nên ông ta đã có những mưu đồ, trực tiếp hoặc thông qua cấp dưới để điều tra xem ông mục sư kia đã nói những gì cho Kvasnikov. Kvasnikov nhanh chóng nhận ra rằng mình bị nghi ngờ nhưng ông ta không bao giờ thay đổi câu trả lời trong khi khẳng định rằng không bao giờ gặp Péradzé một mình mà trong buổi thảo luận với nhiều người, nên ông ta không thu thập được điều gì. Beria không tin nên mỗi lần tin tức từ New York về, ông ta đều nghi ngờ khả năng của Kvasnikov và cho rằng đó là những tin tức sai lệch. Tuy nhiên ông ta đã tìm được cách điều tra. Mọi chuyện xảy ra trong buổi thảo luận với Fitine và Vassilevski về chủ đề là Mald. Beria hỏi Kvasnikov có nhận được lệnh tìm hiểu xem nhà vật lý đã lấy tin tức thế nào không và Vassilevski trả lời là không. Họ phải bảo vệ điệp viên của họ và nếu họ cố gắng phát hiện xem ông ta đã có được những thông tin quý báu trong hoàn cảnh nào thì điều đó có nguy cơ dẫn đến những nguy hiểm rất nghiêm trọng. Trong trường hợp này, Beria đối lại, họ chỉ có thể hỏi trực tiếp Mlad. Vassilevski cho rằng kiểu tìm hiểu thế này, có thể làm cho nhà bác học bối rối và làm cho ông ta nghĩ rằng mình không tin tưởng ông ta nữa, vậy nên sẽ làm ông ta hoảng hết. Beria mất kiên nhẫn và bắt đầu gào lên khi Fitine có ý kiến: - Chúng ta có thể có được những thông tin của Mlad mà không làm cho ông ta gặp rủi ro. - Làm thế nào? - Beria hét. - Qua trung gian là một điệp viên đáng tin cậy. - Ai? - Charles. Ý tưởng của Fitine mang một dấu ấn của thiên tài: sử dụng một điệp viên để kiểm tra một điệp viên khác, mà điệp viên này không biết điệp viên kia. Những nghiên cứu của Fuchs về việc tách các chất đồng vị sáp nhập vào dự án Manhattan và nó gắn rất chặt với công việc của Rudolf Peierls. Những câu hỏi có thể đặt ra cho ông ta mà không cần chứng nhận về nguồn gốc của chúng, cũng như những đề nghị về công việc. Những câu trả lời và những tài liệu gửi đi có giá trị nội tại, tất cả dùng để kiểm tra Mlad.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #65 vào lúc: 27 Tháng Mười Một, 2008, 12:27:41 pm » |
|
Mọi người có thể tưởng tượng rằng Fuchs – Charles cũng là nguồn cung cấp thông tin sai lệch nhưng ngay trong sự ngẫu nhiên này sự so sánh với Mlad được xác định. Điều đó nói lên rằng thực sự Fuchs không thể cung cấp những thông tin sai lệch. Ông ta đã là một điệp viên thực sự của Xôviết và được tin tưởng hoàn toàn trước khi Mlad tham gia vào nhóm. Beria tán thành kế hoạch phỉnh phờ Kvasnikov.
Từ đó, rất kín kẽ, Fuchs phải trả lời những câu hỏi hoặc đưa ra những tài liệu nhằm xác minh lại những tư liệu được Mlad cung cấp. Khi ông ta gia nhập Los Alamos năm 1944, ông ta có một vị trí lý tưởng để hoạt động tình báo. Những dấu vết của kế hoạch gìn giữ này có thể thấy được, nhưng còn khá mơ hồ, trong lời thú nhận của Fuchs với ông Dr Michael Perin tháng 1 năm 1950. Hoạt động gián điệp giả vẫn diễn ra suốt giai đoạn tra hỏi, đánh giá và bỏ tù của ông ta.
Vậy nên có thể nói rằng Cơ quan Tình báo Xôviết đã đặt một bản nhạc hai bè giống hệt nhau tại Los Alamos. Họ đã không đơn độc. Khoảng cuối chiến tranh ít nhất cũng có sáu điệp viên Xôviết hoạt động trong kế hoạch Manhattan đó là: Mlad, Charles, Caspar, Méthode, Idée và Calibre. Để đảm bảo an toàn cho họ, có một số người liên lạc như Star, Raymond, Leslie. Ba trong số những nhân vật này từ nay sẽ quen thuộc với người đọc đó là: Mlad, Charles và Leslie. Carpar là biệt danh của Bruno Pontecorvo; Calibre là biệt danh của David Greenglass, người cung cấp những tin tức quan trọng về việc chế tạo vỏ bên ngoài của bom; Raymond chính là Harry Gold, người liên lạc giữa NKVD với Fuchs. Việc xác định Star,Méthode và Idée vẫn chưa được cung cấp.
Trong cuốn sách của mình, Pavel Soudoplatov nói rằng ông ta không thể nhớ được Persée trong hoạt động gián điệp nguyên tử. Trái lại, ông ta nhớ một bức điện của NKVD từ New York, tháng 10 năm 1945, cung cấp những thông tin từ Charles (tức là Fuchs), từ Star và từ Mlad. Ông ta xác định người đầu tiên là Fuchs, người thứ hai, Oppenheimer và Fermi, người thứ ba, Bruno Pontecorno.
Nhận dạng đầu tiên là chính xác, tôi không thừa nhận người thứ hai trong lời dẫn của tôi. Người thứ ba là không đúng. Thực tế Mlad là biệt danh đầu tiên được trung tâm trao cho Persée. Theo trung tâm, Mlad (Jeunot) tạo thành một cặp với Star (le vieux), người liên lạc của ông ta. Còn về Cohen, gần đây, họ gọi là Persée, do mối quan hệ với Gorgone (la bombe). Để tạo sự liên kết của câu chuyện, chúng tôi sử dụng tên thực là Mlad.
Nhưng, mới đây đã có một sự đảm bảo khác đã được sáng tỏ rõ ràng hơn. Khi những người Mỹ bắt đầu che giấu công việc quan trọng nhất của họ đối với Chính phủ Anh và tuyển chọn những nhà bác học Anh, MI6 đã vào cuộc. Nếu người ta tin tưởng Vladimir Barkovsko thì cơ quan của Xôviết và Luân Đôn đã nhận được từ những điệp viên địa phương của họ những tài liệu khẳng định sự tồn tại một nguồn ở Mỹ: Người Anh ăn cắp những tài liệu của Mỹ để sử dụng chúng trong chương trình của họ. Về nguồn đó, NKVD có thể yêu cầu mà không sợ những thông tin sai lệch: Maxcơva chỉ nhận được ít thông tin giá trị về kế hoạch Manhattan qua trung gian của cơ quan bí mật British.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #66 vào lúc: 27 Tháng Mười Một, 2008, 12:28:28 pm » |
|
NHIỆM VỤ Ở MIỀN ĐẤT MỚI MÊXICÔ “Ba tháng không đủ để cho tôi học tiếng Anh - Anatoli Yatskov nhớ lại - Tôi đã đến Mỹ với bao điều e ngại. Cũng may là nhiệm vụ đầu tiên của tôi là đóng vai người đón tiếp những người Mỹ. Qua tiếp xúc với họ, tôi đã học được ngoại ngữ nhanh hơn. May mắn hơn là chính Twain đã giúp tôi trong nhiệm vụ khó khăn này”. Twain Semion Semionov - đã dào tạo Yatskov, ông ta đã cung cấp những kỹ thuật tình báo trên đất Mỹ. Ông dạy Yatskov thích nghi với những lề thói địa phương, đi về đúng giờ, làm quen với những nhân vật quan trọng để làm giảm đi mối quan tâm của FBI. Ông còn dạy cả những thủ thuật để cắt đuôi, thiết lập những cuộc hẹn, và khuyến khích tham gia gặp gỡ với một điệp viên đến từ xa. Sau đó, ông ta hướng Yatskov kết nối với một vài điệp viên của ông ta, trong đó có Luis và Leslie tức Morris và Leontine. Yatskov, nhận biệt danh là Alexei và sử dụng như một tấm lá chắn những cái tên “Jonhn Doe”, “Johnny” hoặc đơn giản là “John” khi ông ta nói chuyện với những điệp viên Mỹ. Ông ta chỉ gặp Luis hai lần trước khi ông này đi Alaska. Từ đó ông ta tập trung suy nghĩ về Leslie. Điều đó diễn ra đúng lúc trung tâm ở New York đang tự hỏi sẽ cử điệp viên nào tới Nouveau - Mexique để liên lạc với Mlad. Chỉ có những người gốc Mỹ có thể được cử tới khu vực này vì trọng âm trong lời nói có thể gây chú ý. Ngoài vấn đề quốc tịch, còn phải có sự thông minh, hiểu biết và sức khoẻ tốt. Ba nhân vật đã được đề cử: Klibi, Pylos và Leslie. Theo những thông tin đưa ra thì Klibi không thể đi xa lâu như vậy. Pylos đã hai lần làm hỏng những cuộc hẹn bí mật vì những lý do vớ vẩn. Chính vì vậy Leslie đã được chọn. Trước sự khẩn cấp của công việc, Yatskov đã có sáng kiến tuyệt vời tiếp cận Leslie khi cô này tới nơi làm việc, ông đã đưa cho Leslie một tấm vé được cuộn lại. Khi tới nhà máy, cô ta đã giơ nó ra và phát hiện thấy thời gian và địa điểm cuộc hẹn khẩn cấp được ghi trên đó. Ngày hôm sau, “Johnny” giao nhiệm vụ cho cô ta. Đây là những điều mà ông ta nói: “Hãy xin nghỉ ốm vì bệnh đau họng dai dẳng và đến Nouveau-Mexique để chữa bệnh. Vùng núi cao Sandia thuộc Albuquerque là khu vực lý tưởng để ở và chữa bệnh đấy. Hãy đến ở khách sạn hoặc nhà dân. Hãy kết bạn với những người xung quanh và dân địa phương. Đừng tách mình ra khỏi đám đông, chủ nhật đi xe buýt tới Albuquerque. Nếu vì một lý do nào đó, cô nhỡ hẹn tới Mlad vào hôm đó thì tuần sau phải đến lại. Nếu trong khi cô và ông ta đang trò chuyện, cô phát hiện bị theo dõi hoặc có mối đe doạ nào thì hãy đóng vai là đôi tình nhân. Ngoài ra, phải giữ bình tĩnh và chú ý tới nhiều chi tiết”. Leslie đi một mình dưới tên thật và căn cước của mình. Vì không có thời gian làm giấy chứng nhận bị bệnh ở nơi làm việc, cô đến gặp bác sĩ và phàn nàn về hy vọng của mình rồi đề nghị được nghỉ làm. Tất cả đã được đệ trình với nhà máy và cô đã được nghỉ. Trước khi đi, “Johnny” gặp lại cô để dặn dò: “Để không gây chú ý của FBI, cô đừng mua vé đến thẳng Sât Fe, mà đến Chicago. Cô nghỉ một ngày tại Chicago sau đó hãy mua vé đi Albuquerque. Nếu cô nhận thấy bị theo dõi, hãy cứ làm những điều mà cô định làm như không có gì xảy ra. Nhưng nếu điều đó xảy ra khi cô gặp gỡ Mlad ở Albuquerque, thì đừng đến đó mà hãy trở về Sandia. Trong trường hợp khẩn cấp, hãy phát huy tài năng hài hước và sắc đẹp của cô, những người đàn ông có thể chết vì cô nhưng cô không được chết vì họ”.
Khi Mlad đưa cho cô chiếc hộp thì phải ngồi sát vào anh ta, không được để khoảng cách giữa hai người. Sau đó hai người có thể đi dạo một vài bước trên phố trước khi chia tay. Đừng để những tài liệu nhận được từ anh ta trong phòng của một người khác và trong mọi trường hợp đừng rời mắt khỏi chúng khi ở khách sạn. Nếu hoàn cảnh không cho phép thì cô nên trở về ngay trong ngày.
Theo nguồn tin của chúng tôi ở nhà ga, những hành khách có thể bị kiểm tra - không chỉ giấy tờ mà còn cả hành lý. Nếu cô bị hỏi, thì hãy bình tĩnh. Đừng quên rằng vào lúc khó khăn nhất, chính cô phải làm chủ chứ không phải đối thủ của cô. Cô hãy nhớ: sợ hãi là kẻ thù của lôgíc. Vậy nên cô hãy giữ bình tĩnh hết mức có thể. Sự cẩn trọng là rất cần thiết trong nghề của chúng ta. Nhưng đôi khi điều đó vẫn chưa đủ, cô phải có óc sáng tạo và lòng dũng cảm. Hãy cứng rắn Iên. Nếu cần thiết phải liên hệ với tôi thì hãy viết thư hoặc gửi điện báo nhưng là địa chỉ riêng của cô. Hãy để chìa khoá trong hộp thư của cô khi từ Nouveau-Mexique trở về, cô làm thế nào để như cô vừa ở New York”. Những lời chỉ dẫn như vậy tất cả gián điệp đều có thể tận dụng.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #67 vào lúc: 27 Tháng Mười Một, 2008, 12:29:38 pm » |
|
PARIS TỐT HƠN MỘT BUỔI THÁNH LỄ Leslie đi du lịch tới Nouveau-Mexique vào cuối tháng 7 năm 1943. Cô thuê một phòng trong khách sạn Sandia, nghỉ ngơi ở đó và sáng 25, tức chủ nhật, cô tới Albuquerque để gặp Mlad ở đó. Tới sớm một giờ, cô đi bộ chầm chậm về phía nhà thờ mà ở phía trên có chữ thập bằng sắt, có thể nhìn thấy từ mọi phía. Cô đảm bảo rằng không ai theo dõi mình, và không có gì khả nghi, cô đã tới điểm hẹn lúc một giờ chiều. Cô quan sát xung quanh. Người đàn ông mà “Johnny” cho cô xem ảnh không ở đó. Cô đến sát nhà thờ để chiêm ngưỡng kiến trúc và đưa mắt xung quanh để tìm Mlad. Cô biết rằng mình phải tiếp cận Mlad vì ông ta không biết cô. Nhưng mười phút trôi qua, rồi mười lăm phút, hai mươi phút, ông ta vẫn chưa xuất hiện. Để không gây chú ý, cô quyết định đi lòng vòng vài bước. “Tại sao ông ta không đến?” Cô tự hỏi khi đi qua phố nơi có những công trình tuyệt vời được trang trí theo kiểu Mêxicô chói chang dưới ánh mặt trời. Cô cho rằng có thể mình đã nhầm lẫn ngày giờ cuộc hẹn nên đã đi dạo khoảng một giờ sau đó mới quay lại khu nhà thờ vào khoảng hai giờ nhưng cũng không có kết quả gì. Cô lại đi và cứ một giờ lại quay lại. Hôm đó, Mlad không xuất hiện. Tuần sau, sự việc cũng diễn ra như vậy. Cô bắt đầu lo lắng. Có thể Mlad đã đến tuần trước nhưng cô đã không gặp? Hay ông ta bị ốm, ông ta nhầm địa điểm, hay ông ta phản bội? Ông ta có nhớ cuộc hẹn không? Ông ta có quay trở lại vào tuần sau không? Cô có phải trở về không? Cô không biết ông ta ở đâu, liên hệ với ông ta như thế nào, cô không có cách nào để tìm ra ông ta ngay được. Nỗi lo sợ dằn vặt cô, nhưng phải làm gì vào tuần còn lại nếu không là tự xoay sở lấy trong cái vỏ bọc này. Cô chỉ là một công nhân nhà máy đang đi chữa bệnh. Tuy nhiên, sáng thứ hai tiếp đó, cô soạn một bức điện tới địa chỉ riêng của mình: “ Harry không tới. Tôi chỉ biết ngừng đợt chữa bệnh của mình. Leslie”. Cô nhận được câu trả lời từ New York. Nó ngắn gọn nhưng rõ ràng: “ Hãy chờ đợi thêm. Paris tốt hơn một buổi thánh lễ. Johnny”. Trong thời gian này, Leslie cảm thấy chán ghét Mlad, mặc dù cô đã cố gắng kìm nén. Hàng ngày cô dành thời gian đi dạo và ngắm phong cảnh ở Sandia, còn buổi tối thì đọc sách hoặc nói chuyện thân mật với những người trong khách sạn. Sự chờ đợi và không tin tức đã làm cô rất thất vọng. Lại một lần nữa, chủ nhật tiếp theo, cô đi xe ca từ Sandia tới Albuquerque. Vừa quan sát xung quanh, cô đi bộ dọc theo đường phố tới nhà thờ để tới quảng trường vào đúng giờ hẹn. Đó là thời điểm mọi người ra khỏi nhà thờ sau khi cầu nguyện. Một số người về nhà ngay, còn một số đứng trò chuyện ngay sân trước giảng đường. Bỗng nhiên, Leslie nhận ra trong đám đông một người đàn ông thấp béo khoảng bốn mươi tuổi, mang chiếc túi màu vàng. Cô tự nhủ rằng có thể chính là người này. Cô đi thẳng tới chỗ ông ta. - Xin lỗi, ông có biết nơi nào tốt nhất để chữa rối loạn hô hấp không, Sandio hay Rio Grande? Người đàn ông nhìn cô không nói gì. Leslie tiến thêm và hỏi: - Thế nào? Ông muốn đứng như trời trồng trước mọi người à? Có vẻ hoảng sợ, người đàn ông quay gót. Khi đó, Leslie mới nhận ra rằng cô đã quên một chi tiết quan trọng: đuôi cá giả thò ra khỏi túi. Cô nhìn chiếc túi và không thấy đuôi cá. Cô biết là mình nhầm. Bỗng người đàn ông tiến lại: - Tôi thấy có gì không ổn. Tôi có thể giúp gì cho cô. - Không, thưa ông, không ai có thể giúp tôi. Tôi phải tự xoay sở thôi. Chúa sẽ phù hộ tôi. Tạm biệt. Người đàn ông nói có vẻ ẩn ý: - Cô đồng ý ăn trưa với tôi chứ? Cô làm tôi thích thú đấy. Cô có mái tóc thật đẹp. Ông ta đến gần cô và chạm vào người cô, cô hất mạnh ra: - Đừng tán tỉnh. Hãy cút đi! Tôi không cần ông. Cô rời khỏi quảng trường rất nhanh.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #68 vào lúc: 27 Tháng Mười Một, 2008, 12:32:06 pm » |
|
Thất vọng khi không gặp được Mlad, Leslie trở về Sandia, cô đi thẳng về phòng và để nguyên quần áo đi nằm. Đó là phản ứng tự nhiên đối với một người đã ba tuần nay sống trong thất vọng. Cô nghĩ: có thể Mlad “không ở Réserve” - đây chỉ là cái tên mà nhóm Xôviết ở New York gọi Los Alamos. Nhưng nếu ông ta ở đó, chỉ có ba lý do có thể giải thích cho sự vắng mặt của ông ta: ông ta quyết định cắt đứt với Cơ quan Tình báo Xôviết vì sợ hãi; có điều gì đó ngăn cản ông ta, có thể cuộc hẹn sẽ có hại cho ông ta nên ông ta quyết định chờ đợi, lý do thứ ba có thể ông ta nhầm lẫn thời gian hoặc địa điểm cuộc hẹn.
Leslie loại trừ lý do đầu tiên: Mlad đã quả quyết chọn tình báo Xôviết và ông ta không phải con người đi ngược với lý tưởng của mình. Lý do thứ hai có thể chấp nhận được: ông ta là người thận trọng và không muốn ai bị nguy hiểm. Lý do thứ ba là ít thuyết phục hơn cả: ông ta không thể quên thời gian cũng như địa điểm của cuộc hẹn quan trọng như vậy. Vậy đúng là ông ta cẩn trọng. Điều đó có nghĩa là cô phải có mặt một lần nữa trên quảng trường trước nhà thờ.
Nhưng kéo dài ngày nghỉ ở Sandia sẽ có vấn đề. Kỳ nghỉ ốm của cô đã hết và cô phải đi làm. Làm thế nào đây? Lại gửi điện cho “Johnny” và để ông ta quyết định? Điều đó không có ý nghĩa gì. Dù ông ta có quyết định thế nào thì cô vẫn đi làm muộn. Cô có thể ở lại thêm một tuần nữa!
Vậy là cô quyết định đến Albuquerque lần cuối cùng và nếu Mlad không xuất hiện thì cô sẽ đi thẳng ra ga để trở về.
Chủ nhật tiếp theo đó là ngày 15 tháng 8, Leslie tới Sandia với chiếc vali. Cô để nó ở phòng giữ hành lý ở Albuquerque và đi tới điểm hẹn. Cô nhận ra một người đàn ông ra khỏi quán cà phê và đi về phía nhà thờ. Ông ta đội một chiếc mũ rơm, một chiếc áo sơ mi thể thao trắng và đôi săng đan cùng màu. Nhưng hơn tất cả ông ta cầm trên tay một chiếc túi màu vàng có đuôi cá thò ra.
Ông ta kia rồi! Cuối cùng thì ông ta đã đến - tim Leslie đập rộn lên vui mừng. Nhưng khi họ tiến đến gần nhau, cô lại quên mất những câu phải nói, cô lắp bắp:
- Xin lỗi... tôi có thể hỏi ông... Mlad dừng lại, nhìn cô vẻ sốt ruột, ông ta không muốn mất thời gian với một người qua đường:
- Vâng, thưa bà cần gì?
Không thể nhớ được từ nào, Leslie đứng như trời trồng, cô mỉm cười như đang gặp một người bạn cũ. Ông ta có vẻ thông cảm. Khoảng khắc trôi qua, Mlad trở nên căng thẳng, ông ta tự hỏi đây có phải là trò khiêu khích của FBI không. Nỗi lo sợ của ông ta càng lớn khi ông ta nghe Leslie hỏi bằng cái giọng nài nỉ:
- Vậy ông có mang nó theo không?
Bị sốc bởi câu hỏi, ông ta nhìn xung quanh rồi quay chiếc túi để lộ nhãn hiệu của cửa hàng. Đó là một ký hiệu báo động:
- Có, tôi có mang một vài thứ - Ông ta chỉ chiếc túi xách - Một con cá trê hơn cân rưỡi.
Nhận câu trả lời mà không ngờ tới, đến lượt Leslie căng thẳng. Bỗng nhiên cô chợt nhớ phải nói câu cần thiết nhưng cô thất vọng vì không nhớ ra. Trong khi cô nhíu mày vuốt tóc suy nghĩ. Mlad nhìn cô soi mói, thất vọng nhưng ông ta hy vọng rằng ký hiệu báo động sẽ giúp ông ra khỏi nguy hiểm.
Cuối cùng thì Leslie nhớ ra:
- Xin lỗi, ông có biết nơi nào tốt nhất chữa bệnh rối loạn hô hấp không, Sandio hay Rio Grande?
Mlad bất ngờ vì người liên lạc là một phụ nữ, ông ta có vẻ do dự. Sau đó lấy lại trấn tĩnh, ông trả lời nhỏ:
- Nơi khí hậu tốt nhất là trong vùng núi Rocheuses. Ở đó có một bác sĩ giỏi.
Mật khẩu liên lạc đã đúng. Họ nhìn nhau hài lòng. Mlad cầm tay Leslie và nói:
- Ở đây có rất nhiều người khả nghi. Chúng ta đi về phía quán cà phê đi. Cơn tức giận dâng lên trong lòng Leslie:
- Ông làm gì từ bốn tuần nay? Chủ nhật nào tôi cũng đến đây. Hôm nay ông mới xuất hiện.
- Vâng - Ông ta nói vẻ hối hận - Đó là lỗi của tôi, tôi đã nhầm tháng.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #69 vào lúc: 27 Tháng Mười Một, 2008, 12:32:32 pm » |
|
Đó là lý do mà cô cho là ít khả năng nhất.
- Được rồi, ông có mang gì không?
- Có.
Leslie hài lòng. Mlad bỏ chiếc đuôi cá vào trong đáy túi và lấy ra một cuộn giấy. Chúng bị đen khi in. Ông ta đặt vào tay cô.
- Đây là tất cả những cái mà tôi có thể đưa cho cô.
- Xin cảm ơn. Ít nhất thì tôi không thể trở về tay không - Cô nói giọng xúc động.
Cô để cuộn giấy vào cái giỏ và hỏi:
- Tôi phải gọi ông thế nào?
- Hãy coi tôi như những người khác - Ông ta trả lời - trước khi nói thêm một cách nghiêm khắc - Morris đã nói với tôi rằng theo quan điểm của cô, mỗi người chỉ được biết điều mà anh ta có thể biết. Theo cách này, chúng ta không thể gây nguy hiểm cho nhau.
- OK - Leslie đồng ý.
- Theo cách mà cô tiếp cận tôi - Ông ta nói tiếp - Tôi cứ tưởng cô là điệp viên của FBI.
- Tôi xin lỗi, nhưng quả thực tôi không còn kiên nhẫn được. Ông tin là dễ dàng đến đây cả ba chủ nhật và đi loanh quanh hàng giờ để đợi ông?
- Vì những gì tôi mang cho cô hôm nay, cô có thể đến đây mỗi ngày này hàng năm không?
Leslie bật cười. Họ đi trên phố như một cặp tình nhân. Mlad nói:
- Tôi rất tiếc, nhưng tôi buộc phải trở về.
- Tôi cũng vậy.
Bây giờ cô đã có những tờ giấy quý giá trong tay, cô cảm thấy thoải mái, cô thấy tiếc là phải chia tay với ông ta.
- Hãy gửi tới Morris lời chào của tôi - Mlad nói - Khi nào cô trở về?
Leslie nhìn đồng hồ:
- Khoảng một giờ nữa.
- Sao, một giờ nữa? - Ông ta kêu lên - Cô muốn nói rằng nếu hôm nay tôi không đến...
- Tôi sẽ về mà không có gì.
Ông ta nói lời xin lỗi một lần nữa, sau đó hai người chia tay nhau.
Trong thế giới tình báo, những cuộc gặp gỡ rất ngắn ngủi và sự chia tay cũng thật nhẹ nhàng.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|