Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:33:43 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử tổ chức đơn vị quân đội và quân hàm QĐND Việt Nam  (Đọc 216095 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
thainhi_vn
Thành viên
*
Bài viết: 705


« Trả lời #30 vào lúc: 21 Tháng Hai, 2009, 08:22:19 pm »

Tính đến 22/12/2008, quân đội ta đã có 64 năm phát triển, từ đội quân du kích tình nguyện đến quân đội chính quy hiện đại. Chặng đường hãy còn quá ngắn ngủi so với những đội quân cường quốc, lắm chông gai gian khổ, nhưng đội quân chúng ta cũng đã lập nên nhiều chiến tích lẫy lừng chấn động cả thế giới. Trong phạm vi chủ đề này, chúng ta sẽ cùng trao đổi ở mức hẹp hơn nhiều, nhằm giao lưu và bổ sung kiến thức về lịch sử hình thành và quá trình phát triển của cách thức tổ chức đơn vị quân đội và nguồn gốc của các cấp bậc quân hàm quân đội ta.

Mời các bạn cùng tham gia!
Logged
thainhi_vn
Thành viên
*
Bài viết: 705


« Trả lời #31 vào lúc: 22 Tháng Hai, 2009, 12:49:29 am »

Phát pháo đầu tiên: Những danh xưng đầu tiên của cấp bậc quân hàm quân đội hiện đại tại Việt Nam trước 1946.

Trong lịch sử quân sự Việt Nam, một số danh xưng giống các cấp hàm đã xuất hiện từ rất sớm như Thiếu úy, Đại tướng, Thượng tướng, Đô đốc, Đề đốc... nhưng quy mô và ý nghĩa của chúng khác hẳn thay đổi theo từng triều đại và với hiện nay.

Ta có thể thấy:
Thiếu úy: là chức vụ dành cho võ quan cao cấp, chỉ đứng dưới hàng Tam công.
Thượng tướng quân là một chức vụ dành cho võ quan cao cấp trên chức vụ Đại tướng quân

Khi người Pháp xâm chiếm, họ cũng mang những khái niệm quân hàm hiện đại vào Việt Nam. Do không có những khái niệm tương đương, nên hầu như người Việt dùng những danh xưng của giới võ quan thời đó để chỉ những cấp bậc hạ sĩ quan trong quân đội Pháp. Một bảng so sánh nhỏ sẽ giúp chúng ta hình dung như sau:

Cai: một danh xưng dùng cho cấp Caporal (Hạ sĩ), xuất phát từ một cấp hàm dành cho một võ quan thời Gia Long là Cai đội. Một trong những sĩ quan người Pháp thời Gia Long, Olivier de Puymanel, tên Việt là Tín, cũng từng giữ chức Cai đội. Một số tài liệu tiếng Pháp ghi là "Colonel de la garde royale". Do đó, các tài liệu tiếng Việt dịch ngược lại thành "Đại tá", dù de Puymanel chỉ là một sĩ quan công binh (officier du génie militaire) ngạch dự bị.
« Sửa lần cuối: 22 Tháng Hai, 2009, 01:24:51 am gửi bởi thainhi_vn » Logged
thainhi_vn
Thành viên
*
Bài viết: 705


« Trả lời #32 vào lúc: 22 Tháng Hai, 2009, 01:23:50 am »

Đội: danh xưng dùng cho cấp Sergent (Trung sĩ). Tôi chưa rõ xuất phát của danh xưng này. Có lẽ nó cũng xuất phát chức Cai đội chăng? Vì lẽ Cai rồi đến Đội?

Quản
: danh xưng dùng cho cấp Adjudant (Thượng sĩ), cũng có khi gọi là Ách. Đây có lẽ cũng xuất phát từ một chức vụ võ quan cao cấp thời Gia Long, nằm ngay trên chức Cai đội, là Quản cơ. Thường Quản cơ sẽ chỉ huy 500-600 lính.

Đối với các sĩ quan, người ta thường dùng Quan một (Chuẩn úy, Thiếu úy), Quan hai, quan ba, quan tư (hay bốn) theo các vạch trên lon. Cũng chính vì thế nhiều người thường nhầm lẫn quan 5 là Đại tá, nhưng trên thực tế cả cấp Trung tá và Đại tá vì đều có 5 vạch.

Một số tài liệu có ghi Quan sáu để chỉ cấp tướng. Tôi chưa kiểm chứng được thông tin này.
« Sửa lần cuối: 22 Tháng Hai, 2009, 01:28:26 am gửi bởi thainhi_vn » Logged
tranvuongviet
Thành viên
*
Bài viết: 143


« Trả lời #33 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2009, 02:26:59 pm »

Chào các bác,

Nguồn Wikipedia.org:
Ngày 22 tháng 03 năm 1946 do Chủ tịch Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký, các cấp bậc của Quân đội nhân dân Việt Nam được quy định như sau:

   1. Cấp Tướng (3 bậc):
          * Đại tướng 3 sao vàng trên nền đỏ.
          * Trung tướng 2 sao vàng trên nền đỏ.
          * Thiếu tướng 1 sao vàng trên nền đỏ.
   2. Cấp Tá (3 bậc):
          * Đại tá 3 lon vàng và 1 sao vàng trên nền đỏ.
          * Trung tá 2 lon vàng và 1 sao vàng trên nền đỏ.
          * Thiếu tá 1 lon vàng và 1 sao vàng trên nền đỏ.
   3. Cấp uý (4 bậc):
          * Đại úy 3 lon vàng trên nền đỏ.
          * Trung úy 2 lon vàng trên nền đỏ.
          * Thiếu úy 1 lon vàng trên nền đỏ.
          * Chuẩn úy (biểu tượng) vàng trên nền đỏ.
   4. Cấp sĩ (3 bậc):
          * Thượng sĩ (biểu tượng) đỏ trên nền vàng tươi.
          * Trung sĩ (biểu tượng) đỏ trên nền vàng tươi.
          * Hạ sĩ (biểu tượng) đỏ trên nền vàng tươi.
   5. Cấp binh (2 bậc):
          * Binh nhất (biểu tượng) đỏ trên nền vàng tươi.
          * Binh nhì (không có quân hàm).

Tuy nhiên, do điều kiện chiến tranh, chế độ quân hàm chưa được áp dụng, trừ vài trường hợp ngoại lệ. Năm 1958, chế độ quân hàm mới chính thức được áp dụng đại trà và ổn định từ đó đến nay, trừ một vài thay đổi nhỏ.

Hệ thống quân hàm sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam hiện nay có 3 cấp: Tướng, Tá, Úy, mỗi cấp có 4 bậc được phân theo số sao: Đại (4 sao), Thượng (3 sao), Trung (2 sao) và Thiếu (1 sao), riêng cấp Úy có thêm bậc Chuẩn úy (sĩ quan chuyên nghiệp). Dưới quân hàm sĩ quan là các quân hàm Học viên, Hạ sĩ quan và Chiến sĩ. Hạ sĩ quan (cấp sĩ) có 3 bậc: Thượng, Trung và Hạ. Cấp Binh (Chiến sĩ) có 2 bậc: Binh nhất và Binh nhì.

Cấp hàm Thượng tướng, Thượng tá và Thượng úy được quy định từ năm 1958. Cấp hàm Thượng tá bị bãi bỏ năm 1983 rồi được khôi phục lại từ năm 1992. Các cấp hàm có tên gọi riêng trong hải quân: Đô đốc (tương đương Thượng tướng), Phó Đô đốc (tương đương Trung tướng), Chuẩn Đô đốc (tương đương Thiếu tướng) được quy định lần đầu tiên trong Luật sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam ban hành ngày 31 tháng 12 năm 1981.

Quân nhân chuyên nghiệp là quân nhân có trình độ chuyên môn kỹ thuật nhất định cần cho công tác chỉ huy chiến đấu, do đó làm công tác chuyên môn nghiệp vụ dài hạn trong quân đội sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự. Sĩ quan chuyên nghiệp không làm công tác chỉ huy, quản lý. Cấp hàm thấp nhất của sĩ quan chuyên nghiệp là Chuẩn úy và cao nhất là Thượng tá.

Quân hàm Quân đội Nhân dân Việt Nam có 2 hình thức chính là quân hàm chính thức và quân hàm kết hợp. Quân hàm chính thức là cấp hiệu đeo ở trên vai áo. Quân hàm kết hợp là phù hiệu binh chủng kết hợp cấp hiệu đeo ở trên ve áo (còn gọi là quân hàm dã chiến). Quân hàm Chuẩn úy không áp dụng cho sĩ quan chỉ huy.

Ở trên diễn đàn quansuvn.net đã có đưa hình ảnh một số phù hiệu cấp bậc và phù hiệu binh chủng của các quân chủng của Quân đội nhân dân Việt Nam nhưng đó chỉ là hình vẽ. Giữa hình vẽ và hình chụp hiện vật thật khác xa nhau về... tính chân thực của hiện vật. Để các bác nhận biết rõ hơn, tôi mạo muội đưa lên diễn đàn "Phù hiệu cấp bậc và phù hiệu binh chủng của lực lượng Bộ đội biên phòng Việt Nam" để các bác tham khảo. Trong khuôn khổ có hạn, tôi không thể trình bày hết được những gì mình biết, mình có. Mong các bác thông cảm và lượng thứ.
« Sửa lần cuối: 03 Tháng Năm, 2009, 02:31:12 pm gửi bởi tranvuongviet » Logged
tranvuongviet
Thành viên
*
Bài viết: 143


« Trả lời #34 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2009, 02:30:08 pm »

Binh nhì
Logged
tranvuongviet
Thành viên
*
Bài viết: 143


« Trả lời #35 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2009, 02:32:05 pm »

Binh nhất.
Logged
tranvuongviet
Thành viên
*
Bài viết: 143


« Trả lời #36 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2009, 02:35:01 pm »

Hạ sĩ:
Logged
tranvuongviet
Thành viên
*
Bài viết: 143


« Trả lời #37 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2009, 02:35:59 pm »

Trung sĩ
Logged
tranvuongviet
Thành viên
*
Bài viết: 143


« Trả lời #38 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2009, 02:36:41 pm »

Thượng sĩ
Logged
tranvuongviet
Thành viên
*
Bài viết: 143


« Trả lời #39 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2009, 02:37:38 pm »

Thiếu úy
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM