Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 11:08:30 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tình hình và xu hướng hiện đại hóa vũ khí, trang bị một số nước châu Á  (Đọc 41264 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
dongadoan
Administrator
*
Bài viết: 7256


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #10 vào lúc: 03 Tháng Mười Một, 2008, 05:37:45 pm »

2. Ấn Độ


  Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, Ấn Độ đặc biệt coi trọng khoa học - công nghệ. Ấn Độ cũng đã thành công trong xây dựng tiềm lực khoa học - công nghệ và công nghiệp quốc phòng. Nhờ đó, tiềm lực quốc phòng của nước này đã được tăng cường đáng kể.

  Ba thập kỷ qua, Ấn Độ nổi lên thành một nước lớn thứ 4 trên thế giới về công nghiệp quốc phòng, đã từng bước khắc phục những khó khăn về ngân sách và công nghệ, tạo dựng một nền tảng vững chắc để phát triển mạnh công nghệ quân sự. Sự chấm dứt chiến tranh lạnh và tan rã khối Xô-viết đã làm mất đi nguồn cung cấp và các mối quan hệ then chốt đã được thiết lập giữa Ấn Độ với khối quân sự này. Điều đó đã khiến cho nhu cầu sản xuất và phát triển quốc phòng trong nước trở thành nhiệm vụ cấp bách. Những cải cách kinh tế do Quốc hội chính phủ Ấn Độ vạch ra đã có ảnh hưởng tới công nghiệp quốc phòng. Các nhà hoạch định quân sự Ấn Độ nhận thấy Ấn Độ cần phải có khả năng cạnh tranh hơn nữa trên thị trường vũ khí quốc tế. Các mối quan hệ và hợp tác với Nga và các công ty châu Âu khác đang ngày càng được tăng cường. Tiềm năng to lớn của Ấn Độ đang được khai thác để tương hợp với sự tồn tại và phát triển nhanh nền kinh tế. Có thể thấy rõ tiềm lực công nghệ quân sự Ấn Độ qua các chương trình của họ.

  Các chương trình công nghệ hàng không:

  - Chương trình máy bay huấn luyện: Chương trình này nhằm phát triển máy bay huấn luyện đã từng được đặt ra từ 1956, song do chi phí quá cao đã làm cho toàn bộ đề án này thất bại. Năm 1970, không quân đã phải nhập 200 SU-7 của Liên Xô trong tình trạng khẩn cấp. Trong những năm 90, không quân Ấn Độ nhận thấy nhu cầu cấp bách đối với việc phát triển trong nước một kiểu máy bay phản lực huấn luyện mới. Chương trình dự chi gần 2 tỉ trong 5 năm và đã được phát triển tới giai đoạn cạnh tranh giữa hai loại máy bay HAWK của Anh và Alpha Jet của Pháp - Đức hợp tác. Nga cũng chào hàng một máy bay phản lực huấn luyện với tư cách một phần của hợp đồng trọn gói.

  - Chương trình máy bay chiến đấu hạng nhẹ (LCA): Đề án LCA cũng trải qua những bước thăng trầm. Do thiếu sự phối hợp giữa các quân chủng, những trở ngại về tài chính, sự cạnh tranh của các đề án khác và những khó khăn về kỹ thuật làm cho từng giai đoạn của đề án chậm trễ.

  Sau nhiều sửa đổi lên xuống về tính năng và đặc điểm kỹ thuật dự kiến, đề án cũng bước vào giai đoạn hợp nhất phần cứng. Phần lớn cấu kiện thân đã được chế tạo và tiến hành lắp ráp. Song chương trình LCA vẫn có nhiều lĩnh vực bị tụt hậu như: cánh bằng vật liệu com-po-sit gia cố sợị cac-bon, máy tính hoạch định nhiệm vụ, thiết kế buồng lái, các hệ thống quản lý vũ khí và liên kết các thiết bị avionic. Trong hai năm 1992-1994, Ấn Độ đã có những nỗ lực tìm kiếm hợp tác kỹ thuật với các công ty của I-xra-en, Nga và Mỹ.

  - Chương trình trực thăng hạng nhẹ tiên tiến (ALH) : Năm 1970 Ấn Độ chế tạo được trục thăng CHETAK và CHEETAK từ A đến Z và hai loại trực thăng này đã trở thành phương tiện vận chuyển chủ yếu của quân đội Ấn Độ tại các vùng đồn trú núi non hiểm trở như các vùng biên giới chung với Pa-ki-xtan và Trung Quốc. Chỉ tính từ năm 1973 đến nay đã sản xuất tới 570 chiếc với giá bán trên thị trường quốc tế là 1,3 triệu USD/chiếc mà cũng không đủ cung cấp vì loại này chỉ nặng 1000 kg, chở được 7 hành khách, với tốc độ 200km/giờ có thể bay cao tới 7 km thì giá đó quá rẻ so với các loại máy bay cùng tính năng do các nước khác sản xuất. Tất nhiên những trực thăng thuộc thế hệ đó nay đã lỗi thời nên họ chuyển sang sản xuất loại trực thăng LAH (Light Advanced Helicopter) được lắp hai động cơ Turbo TM 333 2B do Pháp sản xuất. Đó có thể coi là thế hệ trực thăng ưu việt hơn rất nhiều loại trực thăng hiện đại trên thế giới, vì nó có hệ thống Roto không bản lề và không cần vòng bi ở roto hậu nên đơn giản hoá tối đa việc bảo dưỡng. Ấn Độ còn hợp tác với hãng Dassault của Pháp trong việc bảo dưỡng máy bay chiến đấu Mirage 2000 mua của Pháp trang bị cho không quân Ấn Độ và hiện đang thương lượng với Pháp để sản xuất loại máy bay chiến đấu theo lixen của Pháp. Ấn Độ cũng đang thiết kế để sản xuất loại máy bay cường kích theo bằng sáng chế của Anh - Pháp và tiếp tục hợp tác với Nga sản xuất loại máy bay chiến đấu MiG-27 song song với việc bảo trì bốn phi đoàn không quân MiG-21 cùng hợp tác sản xuất với Liên Xô trước đây.

  Ngoài ra, Ấn Độ cũng chú ý sản xuất các mặt hàng dân dụng. Họ đã hợp tác với Đức cho ra đời hàng loạt máy bay Fokker 50 theo lixen của Anh và máy bay vận tải Dornie 228 có sức chở 20 hành khách, bay với tốc độ 428km/h, loại máy bay này chỉ cần đường băng dài khoảng hơn 400m. Ấn Độ cũng tự thiết kế lấy để sản xuất loại máy bay tiêm kích KIRAN và MARUT. Ấn Độ còn chế tạo các loại phụ tùng theo đơn đặt hàng của Airbus như các cánh cửa trước, càng hạ cánh cho các loại máy bay vận tải hạng nặng A-320, A-321. Chỉ riêng năm 1994, mặt hàng này đã mang lại cho họ 3 tỉ Franc Pháp (khoảng hơn 600 triệu USD).

  Trong hai năm 1992-1994 đề án này đã được đẩy nhanh tốc độ và máy bay mẫu đã được chế thử lần thứ 2.

  ALH cũng đã được đưa ra trưng bày tại một số cuộc triển lãm và được xem là có tiềm năng lớn trong việc hợp tác liên doanh và tìm kiếm thị trường xuất khẩu.

  - Các đề án khác: Các đề án ít được chú ý trong những năm 80 đã đạt tiến bộ đáng kể như máy bay - mục tiêu không người lái PTA, phương tiện bay không người lái FALCON và hệ thống bóng bay làm vật cản. Đề án PTA đã bước vào giai đoạn kiểm chứng với nhiều chuyến bay thành công, đã có một lô hàng được chuyển giao cho hải quân.

  - Chương trình hợp tác: Các lĩnh vực mà Không quân Ấn Độ đang tìm kiếm sự hợp tác với nước ngoài bao gồm: mạng C4I an toàn, tác chiến điện tử, tự động hoá hệ thống bảo đảm và bảo dưỡng, các máy bay AWACS và tiếp nhiên liệu trên không.

  Nhu cầu về AWACS là đặc biệt cấp thiết. Không quân Ấn Độ đang tìm kiếm các hệ thống dựa trên an-ten quét điện tử tương thích và cố định như loại Phalcon của I-xra-en hoặc Erieye của Thụy Điển.

  Hiệp ước giữa Ấn Độ và Ma-lai-xi-a đã thiết lập được một cơ sở huấn luyện bảo dưỡng và bảo đảm kỹ thuạt cho MiG-29 của Nga. Có thể thông qua hiệp ước trên việc lựa chọn MiG-29 của Ma-lai-xi-a trong thời gian gần đây sẽ tạo nên mạng lưới bảo đảm kỹ thuật tin cậy. Một chương trình như vậy sẽ tạo điều kiện cho công nghiệp quốc phòng Ấn Độ đạt được những tiến bộ trong lĩnh vực hàng không vũ trụ, nhằm bảo đảm chất lượng cho các máy bay chiến đấu tiên tiến. Ngoài ra, đây còn là bước đầu tiên để tìm kiếm thị trường cho các ngành dịch vụ công nghiệp quốc phòng, đặc biệt là các trang thiết bị do Nga thiết kế, chế tạo.
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Administrator
*
Bài viết: 7256


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #11 vào lúc: 03 Tháng Mười Một, 2008, 05:48:04 pm »

  Các chương trình công nghệ lục quân

  - Chương trình xe tăng chủ lực: Chương trình xe tăng chủ lực được coi là biểu tượng thu nhỏ của những thăng trầm trong nền công nghiệp quốc phòng Ấn Độ nhằm tự phát triển các thiết bị hiện đại. Kế hoạch xây dựng dây chuyền sản xuất xe tăng được khởi đầu từ cuối thập kỷ 50, tới 1965 cho ra đời một mẫu xe tăng Chieftain cải tiến, gọi là VIJAYANTA. Sau khi nắm bắt được tất cả các khía cạnh của VIJAYANTA, chính phủ Ấn Độ bắt đầu khai thác ý tưởng phát triển xe tăng được thiết kế trong nước phù hợp với điều kiện của họ. Năm 1974, đề án phát triển xe tăng chủ lực, mang tên CHETAK được phê duyệt. Trong suốt thập kỷ 70 đề án này tiến triển chậm do những khó khăn về kỹ thuật và đối tác nước ngoài để chế tạo động cơ. Sau gần một thập kỷ và tốn 500 triệu rupi, đề án này đã bị gác lại nhường chỗ cho đề án khác, đó là xe tăng chủ lực ARJUN, nhằm chế tạo xe tăng tầm cỡ thế giới với sự pha trộn các cấu kiện chế tạo trong nước và nhập khẩu. Nhiều cấu kiện phục vụ cho đề án ARJUN được Đức, Anh, Mỹ chế tạo, Nga quan tâm tới việc nâng cấp hệ thống hỏa lực.
Sau gần 7 năm, đề án ARJUN đã có những thử nghiệm khá thành công với 6 xe tăng chế thử, hiện đã chuyển giao cho lục quân để tiến hành thử nghiệm khả năng thích ứng. Ngoài ra Ấn Độ đã sử dụng công nghệ trong nước để chế tạo các cấu kiện nâng cấp cho một số xe tăng cũ của Liên Xô như T-72 M1. Lục quân cũng đang tìm kiếm một loại động cơ mạnh hơn động cơ 760 mã lực hiện nay để tăng khả năng tác chiến ban đêm và nâng cao hiệu quả hệ thống điều khiển hỏa lực. Nỗ lực tìm kiếm động cơ đang hướng vào các nước Nga, Slo-va-ki-a, I-xra-en. Ấn Độ còn có ý đồ hợp nhất hệ thống điều khiển hoả lực mua sắm của Anh từ thập kỷ 80 cho các xe tăng VIJAYANTA, lắp động cơ mới cho T-72.

  Một lĩnh vực công nghiệp quốc phòng mà Ấn Độ tỏ ra có sức mạnh đáng kể là phát triển vỏ giáp cho xe chiến đấu bọc thép (AFV). Công ty trách nhiệm hữu hạn Mishra Dhatu Nigam thành lập năm 1973 đã có những tiến bộ trong việc chế tạo các loại thép và hợp kim phục vụ sản xuất máy bay và tên lửa. Trong những năm 80 công ty này đã phát triển loại vỏ giáp KANGHAN hiện dùng cho tất cả các AFV trong trang bị của Ấn Độ. Vỏ giáp này có thể chống được hầu hết các loại đạn bắn thẳng. Công ty đang nghiên cứu chế tạo giáp phản ứng nổ có đặc tính kém nhạy với hoả lực súng cỡ nhỏ và kiểu kích nổ cảm ứng.

  - Chương trình súng cỡ nhỏ: Các vũ khí cỡ nhỏ cũng là một lĩnh vực khá thành công của công nghiệp quốc phòng Ấn Độ. Súng trường 5,56mm INSAS được phát triển tại nhà máy vũ khí Ishapore ở phía đông Ấn Độ sau hơn hai thập kỷ tiến hành. Họ súng trường INSAS hoàn toàn do Ấn Độ tự thiết kế chế tạo đạt được tiêu chuẩn chất lượng thế giới.

  Súng INSAS là cơ sở để phát triển toàn bộ họ vũ khí cỡ nhỏ. Ấn Độ cũng hy vọng vào khả năng xuất khẩu súng INSAS, với chất lượng có thể sánh với bất kỳ vũ khí nào cùng loại, giá lại rẻ hơn đáng kể. Ấn Độ và I-xra-en đang thảo luận việc chuyển giao công nghệ các vũ khí thuộc chủng loại này, có thể tiểu liên UZI của I-xra-en sẽ được chế tạo qui mô lớn tại Ấn Độ.

  - Các chương trình khác: Một số lĩnh vực mà ngành công nghiệp quốc phòng Ấn Độ đã đạt được những thành công đáng kể như:

   + Công nghệ chế tạo dàn hỏa lực phóng loạt (MLRS) PINAKA, tầm bắn 37 km.

   + Chương trình nghiên cứu, thiết kế, cải tiến nhiều loại đạn như: đạn cối, mìn, lựu khói, đạn xuyên giáp APFSDS dùng cho pháo tăng T-72 (125mm) và một số hệ thống phóng lựu tự động. Tiềm năng xuất khẩu các mặt hàng này rất có triển vọng, cả về tính năng lẫn giá thành.

   + Chương trình các thiết bị điện tử và truyền thông: Ấn Độ đã phát triển được hệ thống quản lý mạng NMS đảm bảo làm việc với tất cả các nút liên lạc, phát hiện hỏng hóc, giám sát liên tục tính năng hoạt động của máy.

  Hệ thống radar INDRA được phát triển từ thập kỷ 80, triển khai dọc biên giới Ấn Độ và được đánh giá là giải pháp lựa chọn rẻ hơn hệ thống AWACS. Ấn Độ hiện đang phát triển khối nén xung cho ra-đa INDRA II để phát hiện mục tiêu bay thấp, với bộ phận giải tần cao, tầm được tăng lên và khả năng chống đối phó điện tử. Ấn Độ đã phát triển được radar mạng pha đa năng RAIJENDRA, có khả năng tìm bắt đồng thời nhiều mục tiêu và tên lửa, có thể dẫn đường cho tên lửa tấn công mục tiêu. Radar này được xem là tương đương với radar AN/MPQ-53 của hệ PATRIOT (Mỹ). Các nhà khoa học cho rằng Ấn Độ có thể trở thành một trong những nước chế tạo radar tầm cỡ thế giới.

  Các chương trình công nghệ hàng hải quân sự

  Cũng như không quân, hải quân cũng gặp khó khăn do nguồn cung cấp từ phía Nga. Tỷ lệ phần trăm vật tư của Nga trong dịch vụ Hải quân Ấn Độ chiếm tới 70% đối với các tàu khu trục và frigat, 95% đối với tầu ngầm và 50% với không quân hải quân.

  Vì vậy, hải quân theo đuổi kế hoạch mở rộng qui mô lớn và đang vạch ra các ưu tiên đáng kể nhằm phát triển cơ sở hạ tầng cơ bản.
Xưởng đóng tàu hải quân ở Bombay, các cơ sở khác ở Vyshakapatnam và Cochin được mở rộng và hiện đại hoá. Ưu tiên cho việc xây dựng cảng mới với công nghệ hiện đại ở Karwar. Ấn Độ dự định đầu tư 220 triệu USD, chiếm gần 1/3 ngân sách của chương trình mở rộng các cơ sở hải quân. Ngân sách của hải quân trong hai năm 1994-1995 tăng gấp đôi, đạt 44,5 triệu USD. Điều này cũng dễ hiểu vì hải quân là lực lượng nhỏ nhất trong lực lượng vũ trang Ấn Độ, chiếm 12,19% ngân sách hàng năm. Từ cuối thập kỷ 70 đến đầu thập kỷ 80 hải quân Ấn Độ đã có nhiều chương trình hiện đại hóa trong nước. Công ty đóng tầu Mazagon ở Bombay và Gardenreach Weirleshop Ltd. đã được mở rộng đáng kể, đảm nhận việc đóng 6 tầu frigat kiểu LEANDER theo li-xen của Anh. Đầu những năm 80, đề án đóng tầu frigat lớp GORDARAVI đã được tiến hành. Đặc biệt tàu LEANDER có sự hợp nhất các công nghệ của nhiều nước: Anh, Đức và Liên Xô cũ. Việc sản xuất tầu ngầm 1500 tấn do hãng HDW của Đức thiết kế được ký kết đầu thập kỷ 80. Tuy nhiên, sau khi đóng xong tầu ngầm INSSHAN - Kul thứ hai, dường như phần lớn cơ sở đóng tầu bị đe doạ thất nghiệp. Các đề án đầy tham vọng của hải quân như đề án tàu sân bay mới và tầu ngầm tấn công chạy bằng năng lượng hạt nhân bị huỷ bỏ do khó khăn về công nghệ và tài chính. Tuy nhiên, Ấn Độ vẫn là nước có cơ sở hạ tầng hải quân lớn thứ hai khu vực, sau Xingapo. Khả năng tiềm ẩn to lớn này khi có sự đầu tư nước ngoài sẽ trở thành những cơ sở sản xuất lớn về đóng tầu và dịch vụ hàng hải.

  Các chương trình công nghệ tên lửa

  Đề án phát triển tên lửa có điều khiển liên kết (IGMDP) của Ấn Độ bắt đầu từ năm 1983 nhằm phát triển khả năng chế tạo tên lửa trong nước. Chương trình này đã gặp phải sự chống đối của các nước phương Tây, đặc biệt là Mỹ. Mặc dù vậy chương trình vẫn được phát triển thành công và thể hiện nỗ lực nghiên cứu và sản xuất quốc phòng của Ấn Độ. Với ngân sách 260 triệu USD và thời hạn 15 năm, chương trình đã tiến xa hơn so với dự kiến. Chương trình này đã phát triển và chế tạo được 4 hệ thống tên lửa PRITHVI, AKASH, TRISHUR và NAG.

  PRITHVI là tên lửa chiến thuật đất đối đất tầm 40-150km, mang đầu đạn thường 1000kg; có thể tăng dần lên 250 km bằng cách giảm tải trọng đạn xuống còn 450kg. Tên lửa này là trường hợp độc đáo do sử dụng hệ thống đẩy nhiên liệu lỏng một tầng duy nhất và hệ thống dẫn đường quán tính kiểu Strap-down có độ chính xác rất cao. Tới cuối 1995 tên lửa này được chế tạo hàng loạt.

  AKASH là tên lửa phòng không, tầm 25km, hiện rất được chú ý bởi lẽ có thể sử dụng trong hai vai trò: với độ chính xác cao và hệ thống dẫn đường tinh vi nên có thể được dùng làm vũ khí đánh phủ đầu trong các điều kiện chiến thuật, đòng thời nó có thể dùng làm tên lửa phòng không kết hợp với radar mạng pha Rajendra. Radar này có khả năng bắt bám nhiều mục tiêu, điều khiển tên lửa AKASH đánh chặn các máy bay bay thấp và các tên lửa đất đối đất chiến thuật kiểu Scud.

  TRISHUR là tên lửa chiến thuật phòng không, tầm bắn 10km, có khả năng phản ứng nhanh, được sử dụng trong cả 3 quân chủng. Tên lửa này cũng thuộc hệ một tầng đẩy (giống như tên lửa PRITHVI), có độ chính xác cao. Được đưa vào trang bị sau năm 1995.

  NAG là tên lửa chống tăng thế hệ 3, tầm bắn 5km, có khả năng "phóng và quên", tấn công được các loại giáp phản ứng nổ thế hệ mới nhất. Tên lửa được lắp hệ thống dẫn đường hồng ngoại và sóng milimet, đưa vào trang bị năm 1996.

  Phần quan trọng nhất trong chương trình IGMDP có thể là tên lửa đường đạn tầm trung AGNI 2 tầng, dùng động cơ thuốc phóng rắn với tầm tối đa 2500km, đầu đạn nhỏ, có thể mang được các đầu đạn thường và đầu đạn hạt nhân. Mặc dù tên lửa AGNI còn là mẫu kiểm chứng, song cũng chứng tỏ Ấn Độ đã làm chủ được các công nghệ phức tạp, tinh vi.
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Administrator
*
Bài viết: 7256


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #12 vào lúc: 03 Tháng Mười Một, 2008, 05:53:37 pm »

3. Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều tiên


  Về cơ bản, Cộng hòa DCND Triều Tiên tiến hành hiện đại hoá vũ khí trang bị theo chủ trương, nguyên tắc "tự lực tự cường" với sự giúp đỡ ban đầu rất lớn của Liên Xô. Ngoài ra, Nhật Bản cũng là nước đã để lại nhiều cơ sở hạ tầng công nghiệp, nhất là các cơ sở phục vụ chiến tranh, chủ yếu nằm trên miền Bắc. Do đó, quá trình hiện đại háo vũ khí trang bị thông qua đổi mới và công nghiệp quốc phòng của CHDCND Triều Tiên khá đặc thù.

  Từ những công binh xưởng tiếp thu từ tay Nhật Bản, tới nay CHDCND Triều Tiên đã có một cơ sở công nghiệp quốc phòng khá vững mạnh, cho phép đảm bảo đáng kể nhu cầu vũ khí trang bị cho một quân đội luôn sẵn sàng chiến đấu cao. Hiện tại, công nghiệp quốc phòng của CHDCND Triều Tiên đã chế tạo được hầu hết các loại vũ khí trang bị lục quân; một số loại tàu chiến, trong đó có tàu hộ vệ (chẳng hạn tàu Najin 1500 tấn), xuồng nửa chìm đặc chủng; một số loại máy bay huấn luyện. Họ còn chế tạo được nhiều tên lửa đường đạn, trong đó có tên lửa No-dong 2 có tầm bắn tới 2000-3500km. Đặc biệt, CHDCND Triều Tiên cũng là một trong những nước đã chế ngự được năng lượng hạt nhân và có những tiềm năng chế tạo vũ khí hạt nhân.

  Công nghiệp quốc phòng của CHDCND Triều Tiên có hai đặc điểm nổi bật: Là một khu vực riêng tách biệt trong nền kinh tế quốc dân, độc quyền chế tạo vũ khí trang bị theo mệnh lệnh hành chính từ trên xuống và khi cần có thể chuyển các dây chuyền nghiên cứu, phát triển và sản xuất dân dụng sang phục vụ các nhu cầu quân sự và ngược lại.

  Đây là cách làm cho phép nhanh chóng động viên công nghệp phục vụ các nhu cầu quân sự và giải quyết những vấn đề nhạy cảm trong quan hệ quốc tế như chương trình hạt nhân của nước này.

  Ở CHDCND Triều Tiên, việc sản xuất vũ khí trang bị cơ bản cho lục quân, không quân và hải quân được thực hiện tại các cơ sở do Bộ Quốc phòng hoặc các Bộ tư lệnh quân chủng trực tiếp quản lý. Ngoài ra, một số hoạt động công nghiệp quốc phòng và sản xuất quốc phòng khác được thực hiện dưới hình thức các chương trình, do một bộ hoặc cơ quan ngang bộ phụ trách như chương trình năng lượng hạt nhân.

  Trong lĩnh vực vũ khí lục quân, CHDCND Triều Tiên sản xuất được hầu hết các loại vũ khí lục quân cơ bản, phần lớn theo mẫu Liên Xô hoặc Trung Quốc, được cải tiến ít nhiều, phù hợp với nhu cầu tác chiến cũng như trình độ công nghệ. Đáng chú ý có 3 kiểu pháo dã chiến (pháo lựu 152mm M1974, pháo nòng dài 130mm M1975 và pháo nòng dài 175mm M1978); một số dàn rốc-ket, trong đó có cỡ nòng 240mm; pháo tự hành 203mm M110 và một kiểu xe chiến đấu bộ binh. Tham gia hoạt động thiết kế chế tạo vũ khí trang bị lục quân còn có Cục Phát triển quân sự (thuộc BTTM), Bộ Công nghiệp chế tạo máy, Bộ Công nghiệp luyện kim và Bộ Công nghiệp hóa chất. Nhiệm vụ chính của các bộ này là cung cấp nguyên vật liệu. Một phần máy công cụ được nhập qua Bộ Kinh tế đối ngoại.

  Trong lĩnh vực đóng tầu, phần lớn dựa vào bên ngoài như Liên Xô và Trung Quốc. Tuy nhiên, họ cũng tự chế tạo được một số trang bị đáng chú ý như: tàu ngầm, khinh hạm và các hạm nhỏ tuần tiễu. Thập kỷ qua, họ tập trung chế tạo các tàu ngầm nhỏ, tàu đệm khí và xuồng xâm nhập nửa chìm. Công nghiệp đóng tàu hải quân thuộc biên chế Bộ tư lệnh hải quân. Ngoài 6 xưởng đóng tàu, quân chủng còn quản lý Viện hàn lâm hải quân và Trung tâm huấn luyện kỹ thuật (ngành hải quân). Tham gia lĩnh vực sản xuất này còn có Bộ Công nghiệp đóng tàu, Bộ Công nghiệp luyện kim...

  Công nghiệp hàng không của CHDCND Triều Tiên còn nhỏ bé, năng lực hạn chế. Các cơ sở của ngành tập trung ở Panghyon. Từ những năm 80 , họ bắt đầu chế tạo máy bay theo mẫu nước ngoài, chủ yếu là Liên Xô như máy bay huấn luyện Yak-18, máy bay lên thẳng Mi-2, phụ tùng cho các máy bay AN-2, MiG-15, MiG-17 , MiG-21 và lắp ráp các máy bay chiến đấu MiG-21, MiG-29. Với việc bố trí Cục hàng không dân dụng trong biên chế của Bộ tư lệnh không quân, thực tế toàn bộ ngành hàng không cũng như công nghiệp hàng không chịu sự quản lý của Bộ tư lệnh không quân. Thuộc bộ tư lệnh này, ngoài các cơ sở sửa chữa và sản xuất còn có Học viện không quân, nơi tham gia đào tạo cán bộ kỹ thuật cũng như tham gia các đề tài trong lĩnh vực kỹ thuật và công nghệ hàng không.

  Các chương trình công nghệ quốc phòng trọng điểm, như chương trình phòng thủ sinh học, chương trình vũ khí và phòng thủ hóa học, chương trình tên lửa đường đạn và chương trình năng lượng hạt nhân. Có lẽ ít chương trình nào của CHDCND Triều Tiên gây nhiều phản ứng của Mỹ và phương Tây như chương trình hạt nhân. Mặc dù đã ký hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân và tới năm 1989 họ đã tuyên bố "không phát triển vũ khí hạt nhân", nhưng đến tháng 3/1990 phó đô đốc T.A.Brook giám đốc tình báo hải quân Mỹ lại tuyên bố rằng "CHDCND Triều Tiên đã có những chương trình phát triển vũ khí hạt nhân tiên tiến". Từ cuối những năm 50, nước này đã gửi cán bộ khoa học kỹ thuật đi đào tạo về công nghệ hạt nhân tại Liên Xô và Trung Quốc. Tới 1985 Triều Tiên đã tiếp nhận được lò phản ứng nghiên cứu đầu tiên để chế tạo các đồng vị phóng xạ dùng cho y học và công nghiệp. Lò này được tăng công suất lên 8 Mw bằng công nghệ trong nước. Tới 1989 họ đã có 3 lò phản ứng, lò lớn nhất có công suất 30-50 Mw, cho phép tách khoảng 10-17kg Pluton hàng năm. Theo kế hoạch, tới 1996 CHDCND Triều Tiên đưa vào vận hành 4 lò phản ứng hạt nhân lớn nữa. Nhờ đó, năm 2000 nước này đã có khoảng 7 lò phản ứng, với lượng Pluton cỡ 3000kg. Hiện tại, Triều Tiên đã có 1-2 bom đạn hạt nhân thế hệ I, nặng cỡ 500kg phóng bằng tên lửa Scud Mod B. Một số chuyên gia cho rằng, nước này có khả năng chế tạo 10 đầu đạn hạt nhân mỗi năm.

  Từ đầu những năm 80 CHDCND Triều Tiên bắt đầu đẩy mạnh chương trình phát triển tên lửa đường đạn từ tầm gần tới tầm trung, và gần đây đã đạt trên 1000km. Các tên lửa này hiện đã có tầm bắn bao trùm toàn bộ đất Nhật Bản và rất có thể 5 năm nữa họ có khả năng chế tạo tên lửa đường đạn xuyên lục địa (ICBM), với tầm tới nước Mỹ.

  Trên thực tế, chương trình tên lửa đường đạn của Triều Tiên bắt đầu từ năm 1975, với kế hoạch chế tạo tên lửa đường đạn theo mẫu DF-61 của Trung Quốc, song đã sớm đình chỉ do không được Liên Xô và Trung Quốc giúp đỡ. Tới năm 1981, họ đã hợp tác với Ai Cập dể phát triển TLĐĐ. Họ đã được Ai Cập cung cấp mẫu tên lửa Scud B (R-17-E) và xe phóng cơ động MAZ-534. Năm 1986, Triều Tiên chế tạo thí điểm Scud B, và tới 1996 đã đạt nhịp độ 12 tên lửa/tháng. Hiện tại, nước này đã sản xuất được nhiều loại TLĐĐ đáng chú ý như No-dong1 (1000-1300km, đầu đạn 800kg), Taepo-dong1 (1500-2000km), Taepo-dong 2 (2000-3500km). Tên lửa đường đạn do Triều Tiên phát triển và chế tạo, đã được xuất khẩu sang một số nước thuộc thế giới thứ ba như Xiri, I-ran, Li-bi, .v.v... Chịu trách nhiệm tổ chức và quản lý các hoạt động nghiên cứu phát triển và chế tạo tên lửa đường đạn Bắc Triều Tiên là Bộ tư lệnh tên lửa có điều khiển thuộc BTTM.
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Administrator
*
Bài viết: 7256


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #13 vào lúc: 03 Tháng Mười Một, 2008, 05:55:48 pm »

4. Hàn Quốc


  Quá trình hiện đại hoá vũ khí trang bị bắt đầu từ năm 1953 và trải qua các giai đoạn: nhập vũ khí nước ngoài, xây dựng các cơ sở sửa chữa và chế tạo phụ tùng thay thế cho các vũ khí nhập khẩu, lắp ráp sản xuất theo li-xen, tự thiết kế chế tạo. Nhưng bước nhảy vọt về chất của ngành công nghiệp quốc phòng Hàn Quốc bắt đầu từ những năm 80. Trong quá trình hiện đại hoá vũ khí trang bị, Hàn Quốc áp dụng các biện pháp sau đây: lựa chọn các công nghệ chiến lược, tạo thêm cơ hội giáo dục và đào tạo, củng cố, chấn chỉnh các cơ quan có liên quan, định hướng chính sách mua sắm vũ khí phù hợp với các nhu cầu trung và dài hạn.

  Để khai thác tốt nhất năng lực nghiên cứu và phát triển trong nước, Hàn Quốc đã thiết lập một hệ thống hợp tác giữa các cơ quan nghiên cứu tại các trường đại học, các hãng tư nhân và các viện nghiên cứu do nhà nước tài trợ. Hệ thống này nhằm phát triển các công nghệ lưỡng dụng. Hàn Quốc có Uỷ ban quốc gia về khoa học và công nghệ, trong đó có phân ban về khoa học và công nghệ phòng thủ. Phân ban này gồm có các chuyên gia và các giám đốc có liên quan, thuộc Bộ Tài chính và Kinh tế, Quốc phòng, Giáo dục, Thương mại, Công nghiệp và Năng lượng, Khoa học và Công nghệ. Nhiêm vụ phân ban là tạo ra mối liên kết giữa chính sách khoa học và công nghệ, xây dựng các kế hoạch hợp tác công nghiệp - viện hàn lâm - viện nghiên cứu và phân tích các kết quả hoạt động hợp tác nghiên cứu và phát triển.

  Nhằm tăng cường khả năng công nghiệp trong phát triển công nghệ phòng thủ, số dự án nghiên cứu và phát triển các vũ khí cơ bản và chính xác do giới công nghiệp đề xuất và thực hiện sẽ chiếm tỷ lệ cao hơn. Cục phát triển quốc phòng sẽ được nâng cấp thành một viện nghiên cứu tiên tiến, mà nhiệm vụ hàng đầu là phát triển các công nghệ và các chi tiết cốt lõi phục vụ các nhu cầu vũ khí trong thế kỷ XXI. Bộ Quốc phòng cũng khuyến khích ứng dụng rộng rãi các công nghệ phòng thủ thông qua hợp tác dân- quân sự.

  Trong năm 1995, tổng cộng có 27 dự án nghiên cứu và phát triển vũ khí đang được tiến hành, trong số đó có 15 dự án do chính phủ thực hiện và 12 dự án do các ngành công nghiệp quốc phòng tiến hành. Khi năng lực nghiên cứu của các ngành công nghiệp quốc phòng được cải thiện, số lượng nghiên cứu theo đề xuất của giới công nghiệp sẽ còn tăng lên. Hiện nay có 112 chi tiết công nghệ then chốt đang được phát triển trong khuôn khổ hợp tác công nghiệp - viện hàn lâm - viện nghiên cứu. Bộ quốc phòng đã giao cho Viện khoa học và công nghệ tiên tiến Hàn Quốc, Trường đại học quốc gia Seoul, Viện công nghệ Pohang và Học viện khoa học quân sự làm nhiệm vụ các viện nghiên cứu hàng đầu trong các lĩnh vực chuyên môn hóa.

  Công nghiệp quốc phòng Hàn Quốc có đặc điểm nổi bật là không nằm trong các cơ sở nhà nước, mà bao gồm ít nhất 84 công ty tư nhân hợp lại. Đây là những công ty quan trọng nhất nằm trong các tập đoàn công nghiệp lớn (Les Chaebols). Doanh số 1994 của các tập đoàn công nghiệp Hàn Quốc có dính líu tới trang bị vũ khí đã lên tới khoảng 5% doanh số toàn bộ của nó và bằng 0,7% tổng thu nhập quốc dân, số người trực tiếp liên quan lên tới 28.000 người. 80% doanh số về trang bị vũ khí được thực hiện bởi 21 công ty có liên quan trong các hoạt động láp ráp. Ngành công nghiệp này thực hiện gần 300 sản phẩm quân sự, hiện đang hướng vào các công nghệ cơ bản và chế tạo các loại vũ khí thông thường.

  Về sử dụng sản phẩm công nghiệp quốc phòng, chính phủ Hàn Quốc là người tiêu thụ toàn bộ các sản phẩm quốc phòng và thường không áp dụng các nguyên tắc cạnh tranh thị trường. Sau khi hoàn thành sản xuất trang bị quân sự, vẫn phải duy trì các dây chuyền sản xuất để đảm bảo khai thác sử dụng các trang bị đã trtiển khai và sẵn sàng phục vụ các nhu cầu thời chiến. Vì vậy, CNQP được nhà nước bảo trợ. Năm 1973, chính phủ Hàn Quốc đã thông qua Luật đặc biệt về CNQP và đã hỗ trợ cho CNQP thông qua miễn giảm thuế, hỗ trợ kinh phí.

  Trong lĩnh vực công nghệ hàng không, Samsung (với sự cộng tác của Daewoo và Korean Air) sẽ chế tạo 72 máy bay F-16 sau khi lắp ráp 36 chiếc theo hợp đồng với Mỹ trị giá 5.200 triệu USD. Đề án máy bay huấn luyện chiến đấu hạng nhẹ tiên tiến KTX II được xem là chìa khoá để phát triển nền công nghiệp trong nước. Đơn đặt hàng 100 máy bay đã được ký kết. Samsung là chủ thầu chính cùng với Daewoo, Korean Air và Lockheed. BAE, DASA và Dassaul đã bàn bạc một kế hoạch phát triển liên doanh với các công ty Hàn Quốc và gần đây đã kết hợp đầu tư 395 triệu USD cho các cơ sở R&D. Samsung cũng đang tìm các đối tác để mở rộng dây chuyền sản xuất. Samsung và Nortrop (Mỹ) đang cùng nhau chào hàng các cấu kiện nâng cấp cho máy bay F-5. Hàn Quốc hiện tại chỉ có 27 máy bay F-5, nhưng vẫn còn khoảng 2000 chiếc ở 30 nước khác có nhu cầu nâng cấp. Không quân Hàn Quốc đang có yêu cầu chế tạo 90 máy bay lên thẳng UH-60 Black Hawk trị giá 500 triệu USD, từng bước chuyển từ lắp ráp sang chế tạo toàn bộ máy bay. Kế hoạch hiện nay là tìm kiếm thị trường ở nước khác, đồng thời tiếp tục nâng cấp phụ tùng cho hãng Sikorsky. Samsung cùng với Aerospacial thành lập một trung tâm đại tu máy bay lên thẳng. DASA đề nghị chế tạo Bo-105. Gần đây Nga đã trở thành một nguồn mới về công nghệ, đồng ý cùng Hàn Quốc tham gia vào đề án kể cả máy bay lên thẳng Ka-37. Daewoo đã bước vào thị trường tự động hóa với một chương trình trị giá 200 triệu USD, chế tạo các máy bay không người lái Pioneer cùng với công ty AAI (I-xra-en).

  Trong lĩnh vực đóng tàu chở hàng dân dụng, Hàn Quốc chiếm 25% thị trường thế giới. Có 4 cơ sở đóng tàu là SEC, Tacoma, Hyundai, Ulsan và Daewoo Okpo, đã đóng mới được 130 tốc hạm tấn công, 26 tàu corvettet và 9 tàu frigat. Đang đóng 19 tàu khu trục, tàu frigat KDX và 9 tàu ngầm (có thể đóng thêm 9 tàu nữa). Kế hoạch sẽ đóng 6 tàu chống thủy lôi Ka Keong. Hyundai cũng đã giành được đơn hàng đóng tàu tuần tiễu ven bờ với Việt Nam, mỗi tàu giá từ 5 đến 7 triệu USD.

  Hàn Quốc cũng tăng cường chế tạo vũ khí trang bị trên bộ ở trong nước như xe thiết giáp (bán cho Malaixia). Hyundai sẽ chế tạo 48 cầu Vickers đặt trên khung xe tăng chủ lực K-1A1 (yêu cầu tới 833 chiếc). Mối quan hệ lâu dài của Samsung với United Defence gồm lựu pháo tự hành M109A2, xe ủi đất M9 (hiện tại đang chế tạo 197 chiếc) và xe trung tâm điều khiển hỏa lực M109 (hiện đang chế tạo 36 chiếc).
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Administrator
*
Bài viết: 7256


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #14 vào lúc: 03 Tháng Mười Một, 2008, 05:58:21 pm »

5. Đài Loan


  Hiệp ước phòng thủ chung giữa Mỹ và Đài Loan ký kết năm 1954, trong đó Mỹ cam kết viện trợ cho Đài Loan nhiều tỷ đô la để xây dựng cơ sở vật chất và trang bị kỹ thuật cho các máy bay F-4 của Mỹ tham chiến ở Việt Nam, và cho các tàu chiến của hạm đội 7 của Mỹ. Đây là tiền đề quan trọng giúp tạo dựng cơ sở và con người cho HĐH VKTB của Đài Loan sau này.

  Với sự giúp đỡ của Mỹ, ngay từ đầu Đài Loan đã có một số xí nghiệp quân giới do nhà nước quản lý có khả năng cung cấp cho quân đội vũ khí cỡ nhỏ và pháo. Bước sang thập kỷ 70, sự phát triển công nghiệp quốc phòng được gia tăng, nhất là từ khi Mỹ và Trung Quốc bắt đầu nối lại các mối quan hệ. Các nhà hoạch định kinh tế và quốc phòng của Đài Loan nhận thức rằng mối đe doạ với hòn đảo này không chỉ là cuộc chiến tranh quân sự mà còn là cả cuộc chiến tranh kinh tế. Vì vậy hoạch định chiến lược xây dựng công nghiệp hóa của Đài Loan hướng vào ngành công nghiệp có hàm lượng công nghệ cao. Kết hợp với các mục tiêu quốc phòng, Đài Loan chủ trương phải tạo ra được các bước tiến về công nghệ, sự tiến bộ về nghiên cứu phát triển đảm bảo cho sản xuất hàng hóa lưỡng dụng. Đến đầu thập kỷ 80 công nghiệp quốc phòng Đài Loan nhìn chung vẫn dưới sự chỉ đạo và điều hành của nhà nước. Nhưng đến cuối thập kỷ này nhà nước bắt đầu tăng phần đóng góp của công nghiệp dân dụng trong sản xuất quốc phòng.

  Căn cứ vào tính chất lãnh thổ là đảo và bản chất các mối đe doạ tiềm tàng, Đài Loan chủ trương tăng cường xây dựng tiềm lực không quân và hải quân.

  Quan điểm này thể hiện trong chính sách trang bị và xây dựng CNQP, dành sự ưu tiên hàng đầu cho hải quân và không quân. Nhờ các công nghệ tiên tiến do Mỹ cung cấp, các xưởng đóng tàu của Đài Loan có thể biến đổi các tàu khu trục cũ thành các tàu chiến tương đối hiện đại và đóng mới (thiết kế và phụ kiện của Pháp) 16 tàu frigat lớp "Lafayette" và 8 tàu frigat lớp "Perry" theo giấy phép và thiết kế của Mỹ. Hoàn thành số tàu này, hải quân Đài Loan trở thành lực lượng hải quân lớn thứ ba châu á sau Trung Quốc và Nhật Bản. Mặt khác, nhờ khả năng phối hợp chặt chẽ giữa khu cực dân dụng và quân dụng, đặc biệt là trong lĩnh vực điện tử, khả năng quốc phòng của Đài Loan ngày càng được tăng cường. Lĩnh vực chế tạo vũ khí trên bộ, CNQP Đài Loan đã chế tạo được pháo tầm xa, tên lửa, hệ thống rocket phóng loạt, phương tiện thông tin liên lạc, xe tăng và xe bọc thép trong đó có 50 xe tăng M-48H hiện đưa vào trang bị và đang chế tạo tiếp 300 chiếc khác với nhịp độ 15 chiếc/tháng. Mới đây công ty FMC (Mỹ) đã liên doanh với HwaFong Group chế tạo các cấu kiện của xe bọc thép trong chương trình chế tạo 200-300 xe hạng nhẹ M-8.

  Một điểm đáng chú ý là Đài Loan đã bám sát các tiêu chuẩn của thế giới trong thiết kế và chế tạo các sản phẩm bán dẫn, máy tính điện tử, các thiết bị vi điện tử và các "chip" dung lượng lớn. Đài Loan đã có khả năng chế tạo các tên lửa tầm xa, có kinh nghiệm khoa học và kỹ thuật để chế tạo vũ khí hạt nhân trong một thời gian tương đối ngắn. Song Đài Loan không phát triển loại vũ khí này mà thay vào đó phát triển các hệ thống vũ khí thông thường công nghệ cao mới.

  Hiện nay có nhiều nước đã (hoặc có ý định) bán thiết bị quân sự cho Đài Loan dưới các hình thức từng phần, nguyên liệu và công nghệ, lixen. Ví dụ: Pháp (máy bay Mirage-2000, tàu frigat Lafayette), Đức (tàu frigat và tàu ngầm), Hà Lan (tàu ngầm). Đặc biệt, Ô-xtrây-a còn muốn liên doanh với Đài Loan trong công nghiệp đóng tàu ngầm, tàu rải thủy lôi, radar ngoài đường chân trời, thiết bị mô phỏng, động cơ phản lực và các hệ thống hạ cánh của máy bay.

  Các ngành công nghiệp quốc phòng then chốt của Đài Loan:

  Đài Loan có 3 ngành công nghiệp quốc phòng chủ chốt phục vụ cho ba quân chủng.

  Công nghiệp hàng không vũ trụ: Đây là một trong 10 ngành công nghệ cao quan trọng được ưu tiên phát triển nhanh. Khu vực công nghiệp này gồm 2 cơ sở chính là Trung tâm phát triển công nghiệp hàng không AIDC và hàng không Trung Hoa (China airline). AIDC là cơ quan chỉ đạo hoạt động phát triển và chế tạo máy bay quân sự. AIDC cùng với Viện Chung Shan tiến hành nghiên cứu thiết kế phát triển các loại máy bay vận tải, huấn luyện như XC-2, XAT-3, máy bay tiêm kích XA-3. Đặc biệt, với sự giúp đỡ của Mỹ, công nghiệp hàng không vũ trụ Đài Loan đã chế tạo được máy bay IDF tính năng tương tự như F-16, chế tạo các loại tên lửa. Tương lai, Đài Loan chế tạo được trạm vệ tinh mặt đất, chế tạo tên lửa đẩy phóng vệ tinh. Sau năm 2000 Đài Loan sẽ trở thành trung tâm công nghiệp hàng không, động cơ phản lực và các phụ kiện lớn thứ hai sau Nhật Bản. Đài Loan hiện đang tư nhân hóa AIDC và thực hiện liên doanh liên kết với nhiều công ty hàng không vũ trụ các nước trong khu vực.

  Công nghiệp chế tạo trang bị hải quân: Được hình thành từ các công ty đóng tàu quốc doanh và công ty chế tạo máy, với các xưởng đóng tàu hải quân như Tso-Ying Makung và Kao-Hsing. Các cơ sở đóng tàu này được trang bị khá hiện đại đủ khả năng đóng mới và sửa chữa nhiều tàu lớn hiện đại như tàu đổ bộ, tàu khu trục, tàu frigat đến các tàu tuần tiễu cỡ 30 tấn. Đài Loan cũng đã mua sắm tàu ngầm của Hà Lan và hy vọng nước này chuyển giao công nghệ đóng loại tầu này. Về vũ khí trang bị hải quân, Đài Loan đã chế tạo được các loại vũ khí chống ngầm, thủy lôi và phương tiện chống thủy lôi. Hiện nay, Đài Loan đang thực hiện hai chương trình lớn: Chương trình Kwang Hwa I và II, đóng ít nhất 8 tàu frigat lớp Parry cải tiến 4100 tấn theo lixen của Mỹ và đóng 16 tàu frigat lớp Lafayette 3200 tấn theo lixen và phụ kiện của Pháp cung cấp. Dự đoán đến năm 2010, lực lượng hải quân có đủ sức thách thức với hải quân Trung Quốc.

  Công nghiệp chế tạo vũ khí, phương tiện trên bộ: Ngành công nghiệp này có 3 lĩnh vực chế tạo chủ yếu:

  - Công nghiệp chế tạo vũ khí, bom đạn, thiết bị điện tử, máy vô tuyến chiến thuật phục vụ cho nhu cầu của 3 quân chủng.

  - Công nghiệp chế tạo xe quân sự: chế tạo xe vận tải quân sự, nghiên cứu cải tiến, chế tạo xe tăng, xe bọc thép phục vụ nhu cầu trong nước.

  - Công nghiệp chế tạo quân trang, quân dụng: bảo đảm toàn bộ các loại quân trang quân dụng kể cả chuyên dùng cho các quân binh chủng.

  Từ chỗ lệ thuộc vào Mỹ về quân sự, trong khoảng hơn 2 thập kỷ qua, Đài Loan đã trở thành một nước có tiềm lực quân sự khá mạnh trong khu vực. Đây cũng là một mô hình xây dựng và phát triển đã ổn định để nhiều nước đang phát triển tham khảo.
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Administrator
*
Bài viết: 7256


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #15 vào lúc: 04 Tháng Mười Một, 2008, 05:58:40 pm »

6. Thái Lan


  Hiện nay công nghiệp quốc phòng Thái Lan đã có thể tự cung cấp cho quân đội vũ khí hạng nhẹ, pháo và đạn dược và có thể tự sản xuất được một số mặt hàng quân sự khác như máy bay huấn luyện, tàu thuyền, một số loại xe quân dụng. Để đạt được khả năng như vậy, nền công nghiệp quốc phòng Thái Lan đã có những bước tiến khá nhanh. Trước năm 1975, quân đội Thái Lan trông cậy vào viện trợ quân sự và giúp đỡ của Mỹ về vũ khí trang bị. Khi Mỹ chuẩn bị rút khỏi Đông Dương năm 1975, Thái Lan mới nhận thấy sự cần thiết phải phát triển một nền công nghiệp vũ khí của chính họ. Tuy nhiên, Thái Lan vẫn là nước được ưu đãi ở mức cao về các khoản tín dụng theo qui chế tối huệ quốc (MFN) của Mỹ và được xếp thứ 2 sau Phi-lip-pin ở châu Á-Thái Bình Dương. Thái Lan mở rộng hợp tác quân sự với CHLB Đức, Pháp, Anh, Trung Quốc, Liên bang Nga. Tới đầu những năm 80, công nghiệp quốc phòng của Thái Lan mới thực sự phát triển, khởi đầu bằng việc sửa chữa và cải tiến các vũ khí trang bị hiện có.

  Bộ Quốc phòng trực tiếp chỉ đạo, phụ trách các nhà máy sửa chữa, chế tạo xe quân sự. Tất cả mọi yêu cầu mua sắm có liên quan đến vấn đề quốc phòng đều phải được đệ lên Bộ Quốc phòng Thái Lan. Cơ sở hạ tầng của Thái Lan là các công ty (của nhà nước và của tư nhân).

  Để giảm bớt đầu tư của nhà nước, chính phủ Thái Lan đã thu hút vốn tư nhân. Khi các nhà kinh doanh tư nhân trong nước không đủ vốn và khả năng, nhà nước sẽ liên doanh với các công ty sản xuất vũ khí của nước ngoài.

  CNQP Thái Lan có mấy lĩnh vực chủ chốt sau đây:

  Công nghiệp hàng không quân sự: Hình thành năm 1975 với sự ra đời Cục công trình hàng không, chuyên thiết kế, chế tạo và sản xuất máy bay với cơ sở công nghiệp lạc hậu. Kế hoạch đầu tiên là sản xuất máy bay huấn luyện RTAF-4 trên cơ sở cải tiến máy bay DHC-1 của Canađa. Thái Lan đã tự chế tạo được 15 chiếc RTAF-5 (một loại máy bay quan sát hai chỗ ngồi lắp động cơ cánh quạt tuốc bin Alyson). Năm 1982 Thái Lan đã ký với công ty cổ phần Waiin (CHLB Đức) lắp ráp 49 máy bay huấn luyện trong 3 năm 1984-1987. Đây là loại máy bay có thể dùng để huấn luyện ở độ cao nhỏ, trinh sát và rải bom, chở rocket. Không quân Thái lan còn có một cơ sở sản xuất thiết bị không chiến (ACMI) tại trường thử vũ khí phòng không Muang Khom. Với sự giúp đỡ của Mỹ, Thái Lan đã xây dựng được một số xưởng sửa chữa máy bay tại các căn cứ Utapao, Đôn mường, Tắc ly. Các xưởng này cũng có thể tiến hành lắp ráp máy bay chiến đấu.

  Công nghiệp vũ khí: Các cơ sở sản xuất vũ khí của Thái Lan đã có thể đảm bảo tự cung tự cấp vũ khí hạng nhẹ, pháo và đạn dược. Nhà máy quân sự tại Ayuthaya đã cho ra đời hàng loạt súng phóng lựu, lựu đạn, vũ khí chống tăng và súng trường tự động. Các vũ khí này đã được đưa vào trang bị cho lục quân Thái Lan.

  Trung tâm sản xuất và thử nghiệm vũ khí bộ binh sản xuất các loại vũ khí cỡ nhỏ và đạn cỡ 5,56 và 7.62mm, vừa dùng trong nước, vừa xuất khẩu. Trung tâm này sản xuất được cả súng cối, đạn các cỡ 60, 81 và 102mm, pháo 105mm cải tiến. Trung tâm này còn sử dụng linh kiện ngoại nhập lắp pháo lựu 105mm (nòng pháo của Hàn Quốc, thiết bị ngắm của Mỹ, thiết bị hãm lùi của Nhật).

  Công ty vũ khí số 1 của Thái Lan sản xuất ống phóng lựu M79, ống phóng rocket kiểu RPG-2 và RPG-7, súng tiểu liên M-16, súng máy các loại 7,62; 12,7 và 20mm, súng tiểu liên RPS-001 (loại súng cải tiến từ súng SAR-80 của Xin-ga-po).

  Tháng 6/1985 Bộ Quốc phòng Thái Lan đã được phép đầu tư 75 triệu bạt (tiền Thái) để xây dựng nhà máy sản xuất mặt nạ phòng độc.
Lục quân Thái Lan còn dự kiến sản xuất vỏ thép đặc biệt cho xe bọc thép hạng nhẹ của Thái Lan.

  Thái Lan đã có những tiến bộ rất lớn trong lĩnh vực trang thiết bị điện tử. Lực lượng biệt động Thái Lan phải thừa nhận rằng máy vô tuyến điện cao tần HTC-5S do công ty Elcom Research (Thái) sản xuất chất lượng còn tốt hơn các sản phẩm của Anh và Bỉ. Máy thu phát xách tay VHF/FM kiểu VPG được sử dụng trong các lực lượng không quân, lục quân và cảnh sát tuần tra biên giới. Ngoài ra còn một số loại máy đặc biệt khác được sản xuất theo yêu cầu của các lực lượng vũ trang, nửa vũ trang và cảnh sát Thái Lan.

  Công nghiệp đóng tầu: Thái Lan hiện đã có thể chế tạo được tầu tuần tiễu, pháo hạm, tầu đổ bộ... trên cơ sở 3 nhà máy đóng tầu lớn:

   * Nhà máy đóng tầu RTN: chế tạo được tầu ngầm loại nhỏ và tầu chở dầu, xuất xưởng được 7 pháo hạm T-91, đồng thời tiến nhành nâng cấp các tầu chiến của mình bằng cách lắp thêm những tổ hợp tên lửa nhập từ nước ngoài như Harpoon, Sea Skimne, Sea Sparrow, exocet , ngư lôi Stingray.

   * Nhà máy đóng tàu Ital - Thai Marine: trong giai đoạn 1983-1986 đã chế tạo được hơn 20 xuồng tuần tiễu loại nhỏ. Đến năm 1985, đã có khả năng đóng được tầu đổ bộ chở tăng trọng tải 3000 tấn. Nhà máy này còn dự kiến đóng tầu tên lửa trọng tải 890 tấn, trang bị tên lửa chống tầu Harpon, tên lửa phòng không aspide (theo lixen của Hàn Quốc).

   * Nhà máy đóng tàu Băng Cốc : chế tạo các tầu đổ bộ cỡ nhỏ, tầu đổ bộ chở tăng, tầu bổ trợ cho lực lượng hải quân (2 tầu do thám, 4 tầu đổ bộ chở tăng trọng tải 2000 tấn...)

  Nhà máy sản xuất xe bọc thép Rangsit: Trên cơ sở xe bọc thép chở quân M-113, tại đây Thái Lan đã chế tạo được xe lội nước Unicorn.
Trên cơ sở kỹ thuật vốn có, sản xuất các hệ thống phản lực và xe xích quân sự, Thái Lan còn tiến hành liên doanh với Trung Quốc để chế tạo các cấu kiện xe tăng và xe bọc thép chở quân.

  Các hãng tư nhân: Thái Lan có nhiều hãng tư nhân sản xuất khá ổn định các mặt hàng quân sự như:

  - Hãng Inter Arm: sản xuất súng bộ binh, đạn 5,56mm và 7,62mm; thuốc phóng, thuốc nổ.

  - Hãng Range Pasal: chế tạo súng phóng lựu chống bộ binh M79 (40mm), súng phóng lựu chống tăng kiểu mang vác, súng trường R-16, đạn các cỡ dùng cho súng bộ binh theo lixen Mỹ, tiểu liên RPS.

  - Hãng Elcom Research sản xuất các trang thiết bị điện tử như máy vô tuyến cao tần HTC-5S, máy thu phát xách tay VHF/FM kiểu VPG.
Giống như nhiều nước đang phát triển, nền công nghiệp quốc phòng Thái Lan xuất khẩu vũ khí để thu ngoại tệ và mua sắm những vũ khí trang bị chưa tự chế tạo được. Thái Lan đã bán ra thị trường một số loại đạn cỡ 5,56mm; 7,62mm; các loại đạn cối 60,80 và 120mm; tên lửa chống tăng loại nhỏ, máy bay huấn luyện Fantrainer, tàu tuần tiễu ven biển Hisucat trang bị súng M-197. Tuy nhiên, việc xuất khẩu vũ khí của Thái Lan gặp phải sự khống chế của Mỹ vì Mỹ là chủ phần lớn lixen công nghệ của Thái Lan. Thái Lan cũng bị hạn chế về vốn đầu tư để nâng cao hơn nữa khả năng công nghệ trên thị trường.

  Thái Lan đã giải quyết trở ngại vốn bằng cách huy động, thu hút vốn tư nhân vào sản xuất vũ khí, giảm nhẹ phần nào cho vốn đầu tư của nhà nước, đồng thời thu hút vốn đầu tư của nước ngoài thông qua việc hợp tác xuát khẩu, mua li-xen.

  Từ một nước trước đây hoàn toàn phụ thuộc vào vũ khí trang bị Mỹ, ngày nay Thái Lan chủ trương vừa tiếp tục dựa vào Mỹ, vừa tự lực cánh sinh, tăng cường khả năng phòng thủ của mình thông qua chuyển giao công nghệ. Thái Lan chủ trương mua vũ khí trang bị dư thừa của các nước với giá rẻ, sau đó nâng cấp, cải tiến để thay thế các vũ khí trang bị quá cũ của họ. Thí dụ, Thái Lan mua 300 xe tăng M-60A1 và M-48A5 của Mỹ, mua tầu chiến của Trung Quốc và nâng cấp bằng công nghệ của phương Tây. Thái Lan còn nâng cấp các máy bay cũ bằng trang bị vũ khí mới thông qua việc ký với hãng Selenia Industrie Electronic associate (Italia) để mua các radar mới, các thiết bị xử lý dữ liệu radar và màn hình, các thiết bị xử lý dữ liệu bay, các thiết bị kiểm soát thông tin, các bộ phân liên kết.
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Administrator
*
Bài viết: 7256


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #16 vào lúc: 04 Tháng Mười Một, 2008, 06:00:57 pm »

7. In-đô-nê-xi-a


  Từ những năm 70, công nghiệp quốc phòng In-đô-nê-xi-a bắt đầu phát triển công nghệ cao và đã đạt được một số thành tựu lớn trong các ngành công nghiệp hàng không, đóng tầu và quang điện tử. Năm 1974 In-đô-nê-xi-a đặt nền móng của công nghệ cao và họ đã quyêt định 3 vấn đề: bắt đầu thành lập ngành công nghiệp máy bay , thành lập cơ quan đánh giá và áp dụng công nghệ (BPPT), thành lập trung tâm nghiên cứu khoa học. Với vốn cơ sở vật chất và nguồn nhân lực hạn chế ban đầu tiếp thu từ các cơ sở tư nhân cũ, In-đô-nê-xi-a đã từng bước xây dựng một cơ sở vật chất khá đồ sộ.

  Công ty hàng không vũ trụ IPTN hình thành năm 1976 trên cơ sở Viện Công nghệ hàng không của không quân In-đô-nê-xi-a (trụ sở ở Băng-đung) và phân hãng hàng không và công nghệ mới của công ty dầu lửa quốc gia Pertamina. Lúc đầu IPTN chỉ có một công ty tư nhân sửa chữa nhỏ với số công nhân chưa tới 500 người, phương tiện thô sơ. Tới nay nó đã có đủ cơ sở vật chất của một công ty chế tạo máy bay, tên lửa với 13000 công nhân. Công ty có trung tâm tính toán với các máy tính IBM 3090-200 phục vụ thiết kế, chế tạo.
Chương trình đầu tiên của IPTN là hợp tác chế tạo máy bay lên thăng BO-105 và NPK-117 theo lixen với hãng MBB của CHLB Đức, hợp tác chế tạo máy bay vận tải hạng nhẹ NC-212 với hãng CASA của Tây Ban Nha. Đến tháng 1/1986 IPTN đã xuất xưởng 90 chiếc BO-105 và 78 chiếc NC-212 để đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Năm 1979 IPTN hợp tác chế tạo theo lixen máy bay lên thẳng NASA 330 Puma ( với hãng Aerospacial cuả Pháp). Năm 1982 họ chuyển sang chế tạo máy bay lên thẳng NASA-332 Super Puma. Năm 1979 IPTN cùng với Tây Ban Nha thành lập công ty chung Air Tech nhằm chế tạo máy bay vận tải hạng nhẹ 35-40 chỗ ngồi CN-235. Năm 1984 thành lập công ty chung với hãng MBB để áp dụng công nghệ mới nhất nhằm chế tạo máy bay lên thẳng cải tiến BN-109. Ngoài ra, IPTN còn chế tạo theo lixen máy bay vận tải hiện đại 85-120 chỗ ngồi NTTC-285 với hãng Boeing (Mỹ), chế tạo máy bay lên thăng BELL-412 với hãng Bell Helicopter (Mỹ). Điều đáng lưu ý là IPTN có các phân hãng chế tạo vũ khí trang bị cho các kiểu máy bay do IPTN chế tạo. Từ nay đến năm 2000, In-đô-nê-xi-a có đề án liên doanh với các công ty lớn như Mc. Donnel Douglas, Pratt and Whitney, Bell, General Dynamic, Boeing, British Aerospace chế tạo máy bay Hawk, F-16, nâng cấp máy bay F-5E/F. Đức đã nhập khẩu và lắp ráp các bộ phận của máy bay lên thẳng BO-105 do IPTN chế tạo. Máy bay CN-234 do CASA và IPTN hợp tác chế tạo theo lixen tại Thổ Nhĩ Kỳ và xuất khẩu sang Ma-lai-xi-a.

  Công ty đóng tầu PTPAL là trung tâm công nghiệp hàng hải với 9 xưởng có khả năng đóng các tầu tuần tiễu cỡ nhỏ, trong đó xưởng lớn nhất ở Surabaya do Hà Lan xây dựng từ năm 1994. Ban đầu , trên cơ sở thiết bị cũ từ thời chiến tranh thế giới thứ hai, công ty tiến hành sửa chữa là chủ yếu (90% khối lượng công việc), sản xuất chỉ chiếm 10%. Đến nay hoạt động chế tạo đã chiếm 60%. Các đốc tầu có sức nâng 2000-5000 tấn đang được sử dụng. Công ty có đốc cạo quét tầu cỡ 20.000 tấn và đang xây dựng một đốc 30.000 tấn. Đội ngũ thợ (6000) và kỹ sư (2000) hầu hết tốt nghiệp Học viện Hàng hải. Hướng đi của ngành đóng tầu cũng giống như hướng đi của ngành chế tạo máy bay là đi từ thấp lên cao, nghĩa là đi từ chỗ lắp ráp hàng nước ngoài giao, rồi chế tạo theo lixen, và cuối cùng là tự thiết kế chế tạo. Thành công đầu tiên của ngành là đóng được 5 tầu vỏ gỗ FPB-28 tải trọng 60 tấn theo lixen. Sau đó là tầu tuần tiễu SPB-57 tải trọng 400 tấn (theo lixen của hãng Luirssen CHLB Đức), tầu chở quân Jetfoil 120 tấn chở được 100 lính với đủ trang bị (theo lixen của hãng Boeing), tầu chở dầu DWT 3.500 tấn (hợp tác với Nhật), tầu ngầm quân sự 1300 tấn (theo lixen của hãng HDW Anh), ngư lôi dẫn bằng dây SUT (theo li-xen của hãng AEG CHLB Đức).

  Công ty PT PINDAD chuyên chế tạo vũ khí cỡ nhỏ và đạn, là một bộ phận của ngành quân giới lục quân, được thành lập từ trước chiến tranh thế giới thứ hai. PINDAD có khả năng chế tạo súng cỡ nhỏ như súng trường bán tự đọng (Peitrobaretta, M-16), súng trường nòng dài FNC và đạn kèm theo. In-đô-nê-xi-a có kế hoạch hợp tác với Anh chế tạo 90 xe Alvis Scorpion (thay thế xe AMX-13) và xe Stormer APC.

  Công ty thuốc phóng thuốc nổ PERUM DAHANA chế tạo thuốc phóng cho rocket, thuốc nổ cho 3 quân chủng hải, lục, không quân.

  Ngoài hai ngành công nghiệp hiện đại (công nghiệp hàng không và hàng hải), In-đô-nê-xi-a còn có trung tâm công nghệ PUSPITEK bao gồm nhiều cơ sở thực nghiệm, hỗ trợ đắc lực cho các ngành công nghiệp kỹ thuật cao. Ngoài chức năng nghiên cứu phát triển khoa học và ứng dụng công nghệ, PUSPITEK còn thu thập, xử lý và bảo đảm phương tiện cho các nhu cầu cụ thể trong nghiên cứu khoa học và áp dụng công nghệ . Sản phẩm của PUSPITEK có trình độ công nghệ cao và có tính chất lưỡng dụng, đã từng được sử dụng để chế tạo súng trường SS-109, đạn 5,56mm, rocket FZ, các thiết bị quang điện tử (kính hồng ngoại) điều khiển bắn, mô phỏng bằng lade...

  Để phục vụ khoa học kỹ thuật và công nghiệp, Inđônêxia đã xây dựng một hệ thống thông tin khoa học có quan hệ chặt chẽ với mạng lưới thông tin khoa học trên toàn cầu nhằm nắm bắt thông tin - khoa học - kỹ thuật - công nghệ trong và ngoài nước. Để giao lưu thông tin, Inđônêxia đã thiết lập mạng truyền thông vệ tinh Palapa (mạng thế hệ cũ Palapa-A đang được thay bằng mạng mới Palapa-B, có thời hạn hoạt động dài gấp đôi). Vệ tinh Palapa-B có khả năng mang tới 1000 mạch chuyển tiếp.

  Một trong những nguyên nhân có tính chất quyết định kết quả trên đây là do In-đô-nê-xi-a đã có các quan điểm đúng về chiến lược phát triển khoa học - kỹ thuật quân sự phù hợp với xu hướng phát triển của thế giới, lại vừa đáp ứng được tính chất đặc thù của nước này. Chiến lược đó xuất phát từ học thuyết sức bật quốc gia (National Resilience). Tinh thần cơ bản của học thuyết này là trong một thế giới phát triển phức tạp và đa dạng như ngày nay phải xây dựng một đất nước In-đô-nê-xi-a không những tự mình đứng vững được về mặt kinh tế, có khả năng bảo vệ các đặc trưng văn hóa và sự toàn vẹn lãnh thổ. Do đó chiến lược đó kết hợp truyền thống với hiện đại, vừa đáp ứng nhu cầu trong nước, vừa xuất khẩu, biết khai thác kinh nghiệm của các nước áp dụng vào điều kiện đặc thù cụ thể của In-đô-nê-xi-a, không đi theo hướng chuyên môn hóa sâu như một số nước ASEAN khác (như Xin-ga-po chuyên về điện tử và tin học, Phi-lip-pin chuyên về đóng tầu...). Khi đất nước còn nghèo, khoa học kỹ thuật quân sự phải ưu tiên phục vụ kinh tế, nâng cao mức sống của nhân dân và góp phần làm giầu cho đất nước, trên cơ sở đó tạo đòn bẩy để phát triển công nghiệp quốc phòng. Theo họ, điều quan trọng là phải trang bị cho quân đội đủ mạnh để phòng thủ với mức độ chi phí ít nhất. Các nước tiên tiến châu Âu hoặc Mỹ bắt đầu phát triển công nghệ bằng sản phẩm quân sự, theo các tính toán quân sự, sau mới chuyển giao qua dân dụng, thương mại. Một nước nghèo như In-đô-nê-xi-a, lại ở trong hoàn cảnh chưa có mối đe doạ thực sự trong những năm 70 mà đi ngay vào ưu tiên cho các mục tiêu quân sự thì chắc chắn sẽ làm cho nền kinh tế bị suy yếu, do đó cách đi như thế cũng sẽ thất bại. Do đó In-đô-nê-xi-a chọn công nghiệp hàng không làm hướng ưu tiên trong chiến lược hiện đại hoá vũ khí trang bị. Trên cơ sở đó, họ đã xây dựng được một trung tâm phát triển khoa học kỹ thuật quốc gia và tiếp thu công nghệ cao, vừa nhằm phục vụ các yêu cầu trước mắt trong nước, vừa chứng tỏ cho nước ngoài biết khả năng tiếp thu công nghệ cao để cùng hợp tác phát triển.

  Về hợp tác công nghệ chế tạo với nước ngoài, In-đô-nê-xi-a áp dụng nhiều hình thức khác nhau như: cùng hợp tác chế tạo, chế tạo theo lixen; hiện nay In-đô-nê-xi-a đã từng chế tạo theo lixen nhiều trang bị, vũ khí khác nhau như tầu frigat, tầu ngầm, máy bay (CN235, Superpuma), súng trường nòng dài FNC SS-109 và đạn 5,56mm (của công ty FN Herstal, súng cối (của công ty Tampella), rocket (của công ty FZ Bỉ), ngư lôi AFG, SUT.v.v.. Họ cũng đã nghiên cứu khả năng chế tạo theo lixen các kiểu pháo lớn của các công ty Bofors, OTO Melara, Rheinmtal.v.v..
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Administrator
*
Bài viết: 7256


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #17 vào lúc: 04 Tháng Mười Một, 2008, 06:05:13 pm »

8. Xin-ga-po


  Chiến lược phòng thủ Xin-ga-po nêu rõ, công nghiệp quốc phòng nhằm cung cấp vũ khí trang bị cho quân đội, giảm sự lệ thuộc vào nguồn cung cấp từ nước ngoài. Muốn vậy, công nghiệp phải mạnh để hỗ trợ cho các lực lượng vũ trang. Một lực lượng vũ trang có khả năng chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu cao, phản ứng nhanh và linh hoạt, đòi hỏi những phương tiện chiến đấu công nghệ cao như bom, đạn điều khiển chính xác, các hệ thống tác chiến điện tử. Một cơ sở công nghiệp vững mạnh, với hiệu quả kinh tế cao có thể bảo đảm cho quân đội trong các hoạt động chiến đấu kéo dài, được đảm bảo kỹ thuật trong nước, nhất là đối với các phương tiện công nghệ cao, và có khả năng tự cung cấp đầy đủ trong một số lĩnh vực công nghệ quân sự trọng yếu. Hiện nay, Singapo có thể bảo đảm cho hầu hết các yêu cầu về đạn dược, có thể sửa chữa và cải tạo xe bọc thép, tầu hải quân và máy bay. Trong điều kiện chưa có mối đe doạ trước mắt, ngân sách eo hẹp, nền công nghiệp quốc phòng phải đảm bảo hiệu quả kinh tế trong thời bình, sẵn sàng chuyển hướng để đáp ứng yêu cầu chiến tranh.

  Xin-ga-po chủ trương thành lập công nghiệp quốc phòng từ năm 1967 nhằm đáp ứng các yêu cầu về vũ khí trang bị. Hoạt động công nghiệp quốc phòng tiến hành dưới hình thức các công ty nằm trong tổ hợp công nghệ Xin-ga-po (Singapore Technologies Group of companies - ST), bao gồm trên 100 xí nghiệp hoạt động trên nhiều lĩnh vực, với 12000 công nhân và doanh thu hàng năm khoảng 2 tỉ đôla Xin-ga-po (1,2 tỉ USD). Bộ Quốc phòng điều hành qua cơ quan kế hoạch tiềm lực. Cục công nghiệp quốc phòng và Cục hậu cần liên hợp thuộc cơ quan kế hoạch tiềm lực là nơi chỉ đạo trực tiếp và quản lý khả năng sản xuất, khả năng công nghệ và khả năng sẵn sàng đáp ứng yêu cầu quốc gia. ST dự kiến tập trung vào lĩnh vực có tiềm năng, coi đây là "bệ phóng" cho những đổi mới và phát triển công nghệ hướng nội và hướng ngoại.

  ST có 5 lĩnh vực hoạt động chính với các tổ hợp sau:

  1- Tổ hợp công ty công nghiệp súng pháo Xin-ga-po (Chartered Industries of Singapo Ltd - CIS) chuyên sản xuất nhiều loại vũ khí cho các lực lượng vũ trang Singapo (SAF) và xuất khẩu sang nhiều nước trên thế giới. Các loại súng cá nhân do Xin-ga-po chế tạo đang được sử dụng trong quân đội các nước ASEAN. Công ty trách nhiệm hữu hạn chế tạo xe Xin-ga-po Automotive Engineering Ltd thuộc CIS nổi tiếng qua việc cải tiến xe AMX-13 cho phù hợp với SAF. Còn công ty Chartered Firearms Industries, bộ phận chế tạo vũ khí của CIS, đang thực hiện nhiều hợp đồng lớn, trong đó có súng phóng lựu 40mm/vòm pháo cỡ 50 cho xe M-113, chế tạo pháo lựu 115mm và nâng cấp hệ thống pháo lựu M71. Một số nước Trung Đông, châu á- Thái Bình Dương và châu Âu rất quan tâm tới hệ thống phóng lựu tự động 40mm của công ty này. Pháo lựu FH2000 155mm của công ty đã được sử dụng ở một số nước trên thế giới. Doanh thu của CIS năm 1993 là 491,4 triệu đôla Xin-ga-po, tăng 4% so với năm 1992 tuy thị trường vũ khí toàn cầu suy giảm.

  2- Công ty trách nhiệm hữu hạn kỹ thuật và đóng tầu Xin-ga-po (Singapore Shipbuilding & Engineering LTD - SSE) đóng tầu cho hải quân Xin-ga-po. Công ty đã thiết kế và chế tạo tầu tuần tiễu, tầu quét mìn (phối hợp với Kockums AB của Thuỵ Điển), đại tu sửa chữa các tầu của Mỹ. Công ty có các sản phẩm chủ yếu:

  - Tầu Corvete dài 62m mang pháo hạng trung, tên lửa hạm đối hạm, hệ thống vũ khí đánh gần hoặc hệ thống tên lửa chống tên lửa, Sô-na có độ sâu thay đổi, radar sục sạo tầm trung, radar điều khiển hoả lực pháo, hệ thống chỉ huy, điều khiển và tác chiến điện tử, cùng nhiều loại trang thiết bị hiện đại khác.

  - Tàu tiến công mang tên lửa hạm đối hạm, tên lửa hạm đối không, hệ thống bắt mục tiêu, chỉ huy và điều khiển các hệ thống tác chiến điện tử.

  - Tàu tuần tiễu cảnh giới biển dài 45m, tầm hoạt động 2400 hải lý với tốc độ 14 hải lý/giờ. Có thể hoạt động trên biển trong 7 ngày. Trang bị gồm pháo 40mm và súng máy, radar có độ phân giải cao, các hệ thống vô tuyến tần số IH/HF, MF, UHF và VHF.

  - Tàu tuần tiễu cao tốc dài 23m, tầm hoạt động 900 hải lý ở tốc độ 10 hải lý/giờ, được trang bị pháo 20 hoặc 30mm, các hệ thống tên lửa hạng nhẹ.

  Năm 1993 SSE chế tạo thành công tàu tuần tiễu mới của Hải quân Xin-ga-po, nhằm tăng cường bảo đảm an ninh lãnh hải. Tàu trang bị pháo 76mm, tên lửa hạm-đối- không, hệ thống thông tin liên lạc tiên tiến, hệ thống tác chiến điện tử (EW), hệ thống chống ngầm. Tàu có trọng lượng 500 tấn, tốc độ tối đa trên 500 hải lý/giờ và đoàn thuỷ thủ gồm 300 người.

  Ngoài ra, công ty đang chào hàng tàu tuần tiễu ven biển dài 15m, tầm hoạt động 150 hải lý, tốc độ 38 hải lý/giờ, xuồng tuần tra lớp PT tốc độ 30 hải lý/giờ. Công ty còn chế tạo được một tàu đổ bộ dài 13,6m đạt tốc độ 20 hải lý/giờ, tầm hoạt động 100 hải lý ; tàu đổ bộ dài 23m, tải trọng 18 tấn, xuồng đổ bộ có thể chở một nhóm 6 người. Công ty cũng chế tạo 2 tàu RORO/LOLO xuất khẩu sang Mỹ.

  3. Công ty TNHH hàng không vũ trụ Xin-ga-po (SA) : sản phẩm quân sự của công ty đóng vai trò quan trọng, nhưng thu nhập từ các hoạt động dân dụng cũng chiếm một phần đáng kể với nhiều khách hàng nước ngoài như hãng hàng không Trung Quốc, hãng hàng không quốc tế Pa-ki-xtan và hãng hàng không Trung Đông. Những thành tựu đáng kể của công ty trong lĩnh vực quân sự trong thời gian qua gồm hợp tác với Công ty TNHH Engineering Pty Ltd (australia) để hỗ trợ các hoạt động huấn luyện bay của không quân Xin-ga-po tại Ô-xtrây-li-a. Công ty đã nhận một hợp đồng trị giá 6 triệu đôla Xin-ga-po của Hải quân Mỹ để sửa chữa các máy thu phát cho máy bay, một hợp đồng khác trị giá 6 triệu đôla Xin-ga-po của lực lượng cảnh vệ biển (Mỹ) về bảo dưỡng và đại tu máy bay C-130 Hercules. SA đã lập được một liên doanh với Viện Hàn lâm khoa học Nga để khai thác và thương mại hóa một số sáng kiến công nghệ và sản phẩm được phát triển ở Nga.

  Trong tương lai, công ty có chủ trương: thương mại hoá, quốc tế hóa. Theo dự đoán, số lượng hành khách hàng không tăng 7%/năm hiện nay sẽ lớn gấp đôi ở cuối thập kỷ này, sẽ là thị trường rộng lớn cho công nghệ hàng không.

  4. Công ty TNHH đầu tư Xin-ga-po (Singapore Technologies Veture Ltd - (STV) được thành lập năm 1990 để phục vụ những doanh nghiệp phát triển dựa trên công nghệ, cung cấp các sản phẩm và dịch vụ chất lượng cao, giá trị cao, biến những doanh nghiệp này thành công ty có khả năng cạnh tranh quốc tế. Về tổ chức, STV có 5 cục: Semiconductors (Bán dẫn), System & Electronics (các hệ thống và điện tử học), Precision Engineering & Manufacturing (kỹ thuật và chế tạo chính xác), Telemedia (viễn thông đại chúng) và Management Investment Servicé (các dịch vụ quản lý và đầu tư). Vì viễn thông đại chúng là một trong những ngành kinh doanh đang phát triển nhanh nhất ở châu á- Thái Bình Dương, nên Telemedia đang nỗ lực để giành lấy những cơ hội mới ở khu vực.

  Về những sản phẩm của tổ hợp phục vụ thị trường quân sự, phải kể đến nhiều loại ngòi nổ như EF-793 dùng cho đạn 105 và 155mm, EF-7233, EF-723, EF-796 (loại cải tiến dùng cho các vũ khí của Liên Xô cũ như pháo 122, 152 và 130mm), EF-792 (ngòi nổ cận đích dùng cho súng cối), EF-784, EF-788 (ngòi nổ chậm định giờ điện tử cho súng cối).

  Ngoài ra, công ty còn chế tạo một số thiết bị thông tin VHF, quản lý dữ liệu cho các hệ thống vũ khí, điện thoại dã chiến và một số sản phẩm cho thị trường dân dụng.

  5. Công ty TNHH công nghiệp công nghệ Xin-ga-po (Singapo Technologies Industrial Co. Ltd - STIC). Đề án quân sự lớn của tổ hợp này là công trình xây dựng phần cầu cảng cho hạm tàu ở căn cứ hải quân Tuas. Ngoài ra, họ có nhiều hoạt động trong lĩnh vực dân dụng ở trong và ngoài nước như phát triển khu công nghiệp Wuxi-Singapo gần Thượng Hải, khu công nghệ tin học gần Bangalora ấn Độ, các dịch vụ tài chính ở Thái Lan, Ma-lai-xi-a và In-đô-nê-xi-a

  Ở Xin-ga-po còn có hai công ty khác tham gia các hoạt động liên quan đến quân sự. Đó là JCMI (John Crane Marine International) chuyên về hàn tàu biển, kể cả tàu ngầm cho các khách hàng trong nước và quốc tế, và Epex Industrial Pte Ltd chuyên về kỹ thuật và các dịch vụ có liên quan đến công nghiệp dầu. Trong lĩnh vực quân sự, công ty cung cấp các thiết bị hậu cần quân sự như hầm chỉ huy, các phương tiện chứa nhiên liệu cho quân đội, thiết kế, chế tạo hệ thống tiếp nhiên liệu cho trực thăng, hệ thống hậu cần nhiên liệu cho hải quân... Mục tiêu của công ty trong tương lai là cung cấp dịch vụ có chất lượng cho các ngành công nghiệp quân sự và hàng không.

  Để tăng cường các khả năng của công nghiệp quốc phòng, Bộ Quốc phòng Xin-ga-po đã hoạch định một số chính sách sau đây:

  - Đẩy mạnh hợp tác quốc tế

  Việc hợp tác liên doanh với các công ty nước ngoài trong chế tạo sản phẩm cũng như các dịch vụ khác cho phép Xin-ga-po học được những kỹ năng và công nghệ mới, củng cố các cơ sở chế tạo và dịch vụ để có thể sánh vai với nước ngoài về những lĩnh vực công nghiệp tương ứng. Các xí nghiệp lớn nhất trong số các xí nghiệp hợp tác với nước ngoài có Vosper Private Ltd. Singapore chuyên chế tạo xuồng đổ bộ, tàu bổ trợ, xuồng tuần phòng cho lực lượng hải quân trong nước và cho các nước khác như Ba-ren, Ma-lai-xi-a, Phi-lip-pin, Ô-man. Hãng Aimo chuyên sản xuất thiết bị nhìn đêm, kính tiềm vọng xe tăng, ống nhòm và các thiết bị quang học khác. Hãng Singapo Automotive Engineering chuyên sửa chữa, cải tiến kỹ thuật tăng thiết giáp, trang bị lại hệ thống tên lửa phòng không RBS-70 của Thuỵ Điển từ phương án mang vác sang dắt, kéo được. Công ty Ordance Development and Engineering chuyên sản xuất vũ khí, súng pháo. Công ty Xin-ga-pore Electrics Engineering chuyên chế tạo các thiết bị vô tuyến điện tử.

  Ở Xin-ga-po hầu như không có các cơ sở nghiên cứu khoa học của riêng mình. Việc chế tạo vũ khí và kỹ thuật quân sự dựa chủ yếu vào việc mua bán lixen của nước ngoài hoặc tự thiết kế nhưng với sự giúp đỡ của các chuyên gia nước ngoài. Khi mua li-xen, Xin-ga-po thường lôi cuốn hãng bán li-xen vào sản xuất hoặc ký kết hợp đồng cùng sản xuất chung. Ví dụ, cùng với hãng Borfors của Thuỵ Điển, lắp ráp tổ hợp tên lửa phòng không RBS-70; cùng hãng Oerlikon của Thuỵ Sĩ sản xuất súng cao xạ 20mm và đạn pháo; cùng hãng Interarms của Thái Lan chế tạo súng phóng lựu 40mm theo li-xen của Mỹ; cùng hãng Royal Ordnance Factory của Anh chế tạo súng trường 7,62mm; cùng hãng Errison của Thụy Điển sản xuất các thiết bị điện tử. Xin-ga-po còn ký kết với hãng OTO Melara của I-ta-li-a cùng chế tạo hệ thống pháo hạm 76mm. Một số hãng lớn của phương Tây đã mở chi nhánh tại Xin-ga-po để bảo dưỡng, sửa chữa các loại trang bị kỹ thuật bán cho các nước Đông Nam Á hoặc có trong trang bị của các đơn vị Mỹ tại khu vực này.

  Với sự giúp đỡ của Mỹ và Nhật Bản, ngành công nghiệp điện tử và quang học đã phát triển mạnh mẽ. Pháp đã giúp Xin-ga-po thành lập Viện Điện tử. Các nước phương Tây đã giúp đỡ mở rộng việc đào tạo chuyên gia cho các ngành công nghiệp điện tử tại các xí nghiệp của mình cũng như giúp đỡ xây dựng các cơ sở công nghệ để chế tạo vũ khí trong khu vực công nghiệp dân dụng. Việc SAE hợp tác với hãng Northrop (Mỹ) để cải tiến 6 máy bay F-5E của không quân Xin-ga-po thành máy bay trinh sát chụp ảnh chiến thuật tiêu chuẩn RF-5E Tigereye đã tạo cho Xin-ga-po khả năng có thể tiếp tục cải tiến các F-5E/F khác mà không cần sự trợ giúp của nước ngoài.

  Xin-ga-po đã có những chính sách chuyển giao công nghệ hấp dẫn để thu hút hợp đồng, đồng thời mở rộng phạm vi hợp tác với cả những đối tác không truyền thống như Nga, Trung Quốc... Các cơ sở liên doanh được chính phủ miễn thuế 5 năm đầu và nộp mức thuế ưu đãi trong nhiều năm tiếp theo.

  Trong tương lai, việc hợp tác với nước ngoài không chỉ dừng lại ở các hoạt động trong nước, mà còn mở đại diện và chi nhánh để hoạt động phối hợp ở các nước đối tác. Tổ hợp ST hiện đã có các cơ quan đại diện ở Bắc Kinh, Hồng Công, Đài Bắc, Perth (Ô-xtrây-li-a), Anh, Đu-bai và Mỹ. CIS đang xây dựng một nhà máy liên doanh ở Quảng Đông và mong muốn trong tương lai sẽ thành một tổ chức đa quốc gia với các phân hãng ở nước ngoài. CIS cũng đã mua 25% cổ phần của công ty Kinetic (Ô-xtrây-li-a), cho phép họ tiếp cận được với những phát triển và thị trường của Kinetic.

  - Ưu tiên cho các nỗ lực nhằm đạt những kỹ năng mới nhằm hướng tới đáp ứng những mối đe doạ hiện tại và tương lai, đồng thời đủ khả năng để khai thác các thành tựu công nghệ mới. Xin-ga-po chủ trương áp dụng kịp thời công nghệ cao để vượt đối thủ mạnh hơn về số lượng. Nghiên cứu và phát triển công nghệ mới có thể tạo cho họ yếu tố thắng lợi cơ bản. Đạn 5,56mm mới "Đulex", cầu mang vác của bộ binh và các tấm giáp bằng vật liệu tổng hợp cho xe chở quân bọc thép là những sản phẩm của nghiên cứu phát triển trong nước và sắp tới sẽ được đưa ra thị trường.

  Chuyển hướng đa dạng hóa để đảm bảo hiệu quả kinh tế trong thời bình, điều hoà doanh thu khi thị trường vũ khí mất ổn định, nhưng vẫn duy trì một cơ sở chế tạo quân sự vừa phải luôn ở trạng thái sẵn sàng để có thể chuyển hướng từ thời bình sang thời chiến. Hiện nay, phần hoạt động phi quân sự của công nghiệp quốc phòng Xin-ga-po đã chiếm tới 62%, gồm các lĩnh vực điện tử - viễn thông - máy tính, hàng không vũ trụ, hậu cần thương mại, kỹ thuật và chế tạo chính xác, chế biến thực phẩm, xây dựng cơ sở hạ tầng, các dịch vụ công nghiệp và giao thông. Năm 1989, phần thu nhập của công nghiệp quốc phòng từ các sản phẩm phi quân sự là 626 triệu đôla Xin-ga-po. Năm 1993, con số này đã lên tới 1509 triệu. Phần bán sản phẩm quân sự giờ đây chỉ còn chiếm 32%.

  Đẩy mạnh xuất khẩu. Các mặt hàng xuất khẩu gồm cả hàng quân dụng và dân dụng trên thị trường Đông Nam Á và Trung Đông. Trong số các dịch vụ mà các cơ sở công nghiệp quốc phòng Xin-ga-po thực hiện theo các hoạt động của nước ngoài gồm có cải tiến, nâng cấp sửa chữa cà cung cấp dịch vụ kỹ thuật. Chẳng hạn, đầu năm 1994 CIS đã nhận một hợp đồng trị giá 20 triệu đôla Xin-ga-po về nâng cấp xe tăng AMX-13 cho khách hàng nước ngoài, hoặc SSE có hợp đồng bán 2 tầu đổ bộ cùng các dịch vụ kỹ thuật cho lực lượng cảnh vệ bờ biển của Cô-oét.

  Tư nhân hóa các cơ sở công nghiệp quốc phòng Xin-ga-po. Đây là chủ trương nhằm nâng cao tính sở hữu của các doanh nghiệp, ngăn chặn tình trạng làm ăn kém hiệu quả, thu hút thêm nguồn vốn, tạo động lực thúc đẩy doanh nghiệp phát triển. Tuỳ theo tính chất và đặc thù riêng, các cơ sở công nghiệp quốc phòng được tư nhân hóa theo các mức độ khác nhau. Nhưng nhà nước vẫn giữ mức độ sở hữu thích hợp ở tất cả các cơ sở công nghiệp quốc phòng. Vì vậy, ở phạm vi nhất định, chúng vẫn thuộc tài sản quốc gia và nằm dưới sự chỉ đạo của Bộ Quốc phòng.

  Có đầu tư ban đầu thích đáng về tài chính và kỹ thuật thúc đẩy nền công nghiệp quốc phòng phát triển bằng luật cạnh tranh của kinh tế thị trường. Quân đội được phép lựa chọn quyền mua vũ khí trang bị tuỳ thuộc vào chất lượng và giá cả, bất luận đó là nguồn trong hay ngoài nước.
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Administrator
*
Bài viết: 7256


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #18 vào lúc: 04 Tháng Mười Một, 2008, 06:06:04 pm »

9. Phi-lip-pin


  Về khả năng tự chế tạo vũ khí trang bị trong nước, Phi-lip-pin có 4 sơ sở được coi là then chốt, đó là:

  Công ty các hệ thống chính xác CRESER chuyên về công nghệ và nghiên cứu đạn dược. Công ty hoạt động từ năm 1977 nhằm sản xuất các mặt hàng chất lượng cao do Phi-lip-pin tự thiết kế chế tạo như ngòi nổ cho súng cối 60mm, 81mm, lựu pháo RG-3, súng cối FMS2-A2 và FM-2, rocket FRK-3, bom nhiên liệu không khí CB4, đạn GL8. Công ty còn làm nhiệm vụ cải tiến, nâng cấp vũ khí trang bị đáp ứng nhu cầu của hoạt động quân sự.

  Công ty phát triển hàng không vũ trụ (PAD) thành lập năm 1973, là xí nghiệp của nhà nước nhằm phát triển công nghiệp hàng không Phi-lip-pin, đáp ứng 3 yêu cầu: tự lập, an ninh quốc gia, chuyển giao công nghệ; hoạt động chính là chế tạo và lắp ráp máy bay, bảo dưỡng kỹ thuật, bán máy bay và phụ tùng và là trung tâm dịch vụ máy bay lên thẳng BO-105 của công ty BN Islander. Hiện nay, PAD sản xuất và lắp ráp máy bay lên thẳng BO-105 và máy bay BN Islander theo li-xen của công ty MBB (CHLB Đức) và công ty PBN (Anh), bảo dưỡng kỹ thuật và sửa chữa động cơ tuôc-bin Allison 250, động cơ Piston Lycoming và Continental. PAD còn là một trung tâm bảo dưỡng kỹ thuật của công ty Hawker Pacific (Ô-xtrây-li-a). Năm 1989, PAD còn hợp tác với công ty Agusta (I-ta-li-a) lắp máy bay phản lực huấn luyện và máy bay chiến đấu S-211, máy bay SF-260TP cho không quân Phi-lip-pin. Ngoài ra, PAD còn hợp tác với công ty IAI (I-xra-en) cùng chế tạo máy bay KAFIR, với công ty Northrop (Mỹ) cải tiến máy bay F-5A/B, và còn là trung tâm bảo dưỡng kỹ thuật máy bay Beechcraft.

  Công ty công nghiệp công nghệ hàng không thành lập năm 1989 nhằm thiết kế, phát triển và chế tạo hệ thống trang bị pháo cho máy bay S-211 của công ty SIAI Marchetti; cung cấp cấu kiện composit của máy bay và thực hiện các dịch vụ bảo dưỡng máy bay.

  Công ty GKN Defence thực hiện các dịch vụ kỹ thuật cho lục quân Phi-lip-pin như: chế tạo, bảo dưỡng, sửa chữa xe máy bọc thép, chuyển giao công nghệ. Hoạt động của công ty khởi đầu bằng sự kiện quân đội Phi-lip-pin chọn xe bọc thép chở quân bảo đảm an ninh nội địa SIMBA. Công ty công nghệ xe bọc thép liên doanh châu á nhận thầu của công ty GKN chế tạo và xuất khẩu các phương tiện kỹ thuật tăng thiết giáp.
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Administrator
*
Bài viết: 7256


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #19 vào lúc: 04 Tháng Mười Một, 2008, 06:08:13 pm »

10. Ma-lai-xi-a


  Về khả năng chế tạo trong nước, công nghiệp quốc phòng của Ma-lai-xi-a có những mặt mạnh đáng kể, đặc biệt là công nghiệp hàng không, đóng tàu hải quân và dịch vụ hàng hải.

  Về công nghiệp hàng không, Ma-lai-xi-a coi ngành hàng không vũ trụ và công nghiệp hàng không là yếu tố then chốt và là động lực chủ đạo. Ngày nay, nền kinh tế đang phát triển nhanh, tạo cơ sở tài chính để phát triển nhiều lĩnh vực khác nhau trong ngành hàng không vũ trụ như: thị trường hàng không, vận tải hàng không thương mại, đào tạo phi công, truyền thông qua vệ tinh, sử dụng vệ tinh điều tra tài nguyên thiên nhiên... Để hỗ trợ cho ngành công nghiệp hàng không, Ma-lai-xi-a thành lập một công ty phát triển công nghệ vật liệu composite- một loại vật liệu chủ yếu trong ngành hàng không tương lai. Mục đích dài hạn của Ma-lai-xi-a là sẽ chế tạo các bộ phận của máy bay bằng vật liệu composite. Hiện tại Ma-lai-xi-a còn ở giai đoạn phát triển ban đầu, nhưng họ sẽ tiến kịp hãng Boeing và Mc. Donnell Douglas của Mỹ. Trong lĩnh vực vũ trụ, Ma-lai-xi-a đang thực hiện đề án dài hạn MEASAT hợp tác với công ty arianespace của Pháp. Hai vệ tinh MEASAT được phóng năm 1996 theo đề án này. Đó mới là mini vệ tinh nhưng sẽ là trường học quí báu cho các kỹ sư và các kỹ thuật viên Ma-lai-xi-a tiến tới làm chủ chương trình vũ trụ đầy tham vọng của họ.

  Ma-lai-xi-a rất chú trọng phát triển vận tải hàng không trước hết để xuất khẩu hàng hoá công nghệ cao sản xuất tại đây. Vận tải hàng không của họ là lĩnh vực phát triển nhanh nhất trong khu vực. Ma-lai-xi-a không chỉ chú ý khai thác các phương tiện vận tải hàng không cỡ lớn mà cả các máy bay loại nhỏ, kể cả tàu lượn.

  Trong công nghệ hàng không thuần tuý quân sự, Ma-lai-xi-a đã có thể đại tu được các máy bay chiến đấu như F-5, A-4. Việc mua sắm 8 máy bay F-18, 18 máy bay MiG-29 và 28 máy bay Hawk là nhằm mở rộng khả năng này. Máy bay MiG đang được phối hợp chế tạo giữa các công ty của Ma-lai-xi-a: airod (chế tạo khung và động cơ), SME (các bộ phận khung), Sapura (điện tử hàng không), Sime (lốp). Công nghệ mô phỏng (dùng để huấn luyện) rất được ưu tiên nghiên cứu ở châu á nhằm đáp ứng nhu cầu khai thác vũ khí trang bị hiện đại mua sắm ở khu vực này. Công ty Sapura của Ma-lai-xi-a là cơ sở hợp đồng chủ yếu để thiết kế chế tạo hai bộ mô phỏng MiG-29 chi phí 34 triệu USD. Ma-lai-xi-a còn đầu tư mua 8 máy bay F/A-18D, trong đó có 28 triệu USD để xây dựng trung tâm tạo mẫu nhanh nhằm khai thác công nghệ tự động hóa thiết kế bằng máy tính và một trung tâm bảo dưỡng khu vực. Công ty Zetro bảo đảm phần mêm và phần cứng cho điện tử học hàng không. Sự hợp tác giữa công ty Lockheet (Mỹ) với công ty airod (Ma-lai-xi-a) đã được giải quyết nhằm thành lập trung tâm bảo dưỡng máy bay C-130 tại Đông Nam á. Sắp tới, họ sẽ hợp tác để nâng cấp 20 trực thăng tấn công. Ma-lai-xi-a cũng có nhu cầu mua sắm trực thăng dùng cho hải quân, mua máy bay huấn luyện cơ bản của Ô-xtrây-li-a hiện đang được chế tạo tại Ma-lai-xi-a. Công ty Shorts of Belfast cũng đang đầu tư chế tạo tên lửa theo kiểu "sao chép" trong chương trình Starburt Missile offset.

  Trong lĩnh vực công nghệ vũ khí trang bị của lục quân, Ma-lai-xi-a tăng cường khả năng chế tạo xe tăng chiến đáu chủ lực, mua 47 xe chiến đấu của bộ binh từ công ty Daewo (Hàn Quốc). Công ty Pahlawan phối hợp với công ty GKN Defence hiện đại hoá xe trinh sát Ferret với tên gọi bản địa là Hariman-2000. Xe Scorpions và Stormer cũng được cải tiến lại. Công ty Syarikat Malaixia explosives (công ty thuốc nổ) phối hợp với công ty Oerliken and Dinamit Nobel chế tạo khoảng 15.000 súng trường Steyr 5,56mm.

  Trong công nghệ hàng hải quân sự, xưởng đóng tàu tư nhân Naval Dockyard (NDSD) sẽ là nhà thầu chính để đóng 27 tầu nhỏ tuần tra thế hệ mới trong vòng 20 năm với chi phí 1,6 tỉ USD. Trước đây xưởng này đã từng đóng tầu nhỏ tuần tra và tầu nhỏ tấn công cao tốc. Với nỗ lực chuyển giao công nghệ từ châu Âu, Mỹ, Ô-xtrây-lia, các công ty NDSD, MSE, Perang Shipyard sẽ có cơ hội trong chế tạo khí tài cho hải quân. Công ty NGPV sẽ xây dựng hạ tầng cơ sở có đủ khả năng thiết kế, quản lý, chế tạo các tầu nhỏ hàng hải hiện đại, tinh vi kết hợp nhiều chức năng. Tương lai, Ma-lai-xi-a còn vươn tới công nghệ đóng tàu ngầm. Hiện nay họ đã có cả một chương trình "làm quen với tàu ngầm" bao gồm cả sĩ quan và thuỷ thủ tập huấn công nghệ ở châu Âu. Hiện tại đã có 6 công ty đóng tầu ngầm nước ngoài cạnh tranh hợp đồng chuyển giao công nghệ đóng tầu ngầm cho Ma-lai-xi-a.

  Trong lĩnh vực công nghệ quân sự tổng hợp; gần đây (năm 1995), Ma-lai-xi-a đã xây dựng một công ty các hệ thống quang- điện tử (MOS-Malaixia optronic Systems). Mục đích của công ty này là chế tao, phục vụ khai thác các thiết bị, khí tài quang-điện tử cho các phương tiện kỹ thuật quân dụng và dân dụng. Họ nhận thức sâu sắc tầm quan trọng có ý nghĩa cốt tử của công nghệ quang-điện tử trong chiến trang hiệ đại, nhất là từ bài học chiến tranh vùng Vịnh. Nhiệm vụ của công ty là phối hợp với các nước trong khu vực và trên thế giới thiết lập cơ sở công nghệ quang - điện tử tiên tiến ở Ma-lai-xi-a và trong khu vực, đáp ứng nhu cầu bảo dưỡng các phương tiện quang - điện tử cho quân đội Ma-lai-xi-a và các nước khác trong khu vực; tham gia thị trường thế giới bằng các sản phẩm hiện có và sắp chế tạo, tăng cường hoạt động thương mại và dịch vụ trong các lĩnh vực quang - điện tử. MOS có các khả năng sau đây:

  - Chế tạo các hệ thống lade Nd - YAG phục vụ mục đích định tầm, bám mục tiêu, chiếu rọi mục tiêu bằng bức xạ cao tần, công suất lớn.

  - Chế tạo các thiết bị quan sát cả ngày và đêm như máy ghi ảnh nhiệt, nhìn đêm, camera chụp ảnh đêm.

  - Bảo dưỡng và sửa chữa các phương tiện quang - điện tử khác nhau có trong trang bị của Ma-lai-xi-a và các nước khác.

  - Cải tiến và cải biên hệ thống điều khiển hỏa lực cho các xe bọc thép và xe tăng.

  - Thiết kế, chế tạo, lắp đặt các hệ thống quang - điện tử cho vũ khí trang bị và các phương tiện dân dụng.

  - Nghiên cứu phát triển và huấn luyện trong lĩnh vực quang - điện tử, phối hợp với các trường đại học, viện nghiên cứu kỹ thuật, các trung tâm huấn luyện quân sự và các ngành công nghiệp dân dụng.


HẾT
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
Trang: « 1 2 3 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM