Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 11:48:59 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Hành trình qua cánh đồng chết  (Đọc 47476 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
gicungduoc
Thành viên
*
Bài viết: 95


« Trả lời #50 vào lúc: 13 Tháng Mười Một, 2008, 01:42:18 pm »

"Athy, bước tới đi. Nước không sâu đâu, thấy chưa?" Đầu chị cúi xuống chỉ mực nước lên đến ngang đầu gối chị. Chị nhìn tôi khuyến khích, chờ đợi. Nhưng tôi không thể nghĩ gì ngoại việc nghĩ rằng mình sẽ bị dòng nước cuốn đi. Tôi biết rằng mình rất yếu. Chị Ra quay lui nhìn và tôi đề nghị "Chị đi tới xin thức ăn đi. Em sẽ ở đây chờ chị. Sẽ không sao đâu".
Chị nhắc tôi rằng nếu tôi ở cạnh con sông, bọn chhlop ở khu 3 sẽ bắt tôi.
"Cứ đi qua đi, không sao đâu. Chị cũng đâu biết bơi" chị nói.
Tôi bèn ngồi thụp xuống ôm lấy đầu gối như một trái bóng để chị Ra khỏi kéo được tôi xuống nước.
"Em sẽ không té đâu" chị gắt "Chị sẽ lội bên cạnh em, còn em thì nắm tay chị".
Tôi lắc đầu. Tôi càng sợ hơn khi chị đẩy tôi về phía trước, tay vẫy, chân bước trên những tảng đá nhô lên  trên mặt nước nông. Cuối cùng, chị chỉ cho tôi thấy một chiếc gậy dài nằm bên bờ sông. Chị trấn an tôi rằng tôi sẽ không té nếu dùng gậy chống khi đi ngang qua sông, và chị lại còn nắm tay tôi nữa. An toàn vì thấy hai tay đều có chỗ dựa, tôi bèn quyết định thử.
Nước thật mát, khi nước lên đến ngực, hơi lạnh làm tôi hít vào, thở thật sâu. Không sao đâu, chị Ra trấn an tôi. Tôi liếc mắt nhìn chị và thấy chị tỏ ra không chút sợ hãi. Cùng lúc đó dường như nước đã rửa trôi bớt nỗi sợ hãi của tôi. Tôi thấy chân tôi trượt trên đá và người tôi nổi lên. Nhưng nước chỉ lên thấu vai tôi và chúng tôi đã sang được đến giữa dòng sông. Tiếng nước vỗ vào ống quần nghe thật rõ giữa cảnh tĩnh mịch của dòng sông và rừng cây. Mắt tôi nhìn theo bờ sông. Lần này là một bức tường đất và đá lợp đầy các dây leo và bụi cây.
Chị Ra leo lên bờ sông, bám vào dây leo như là bám vào thang, và tôi làm theo chị. Tôi bám vào các dây trường xuân dại và các tảng đá chắc nịch chôn sâu vào đất. Âm thanh duy nhất tôi nghe được là tiếng chim hót và tiếng lá xào xạc.
"Athy, nhanh lên!" Chị Ra suỵt tôi.
Chúng tôi chui xuyên qua một bụi cây dày rậm, rồi bước ra gần một ngôi nhà gỗ lớn. Trông nó giống như một nhà kho, chung quanh có tàn cây che phủ bóng mát. Các bức tường còn mới, sơn màu gạch tươi. Đây là nơi chị Ra nói chúng tôi sẽ gặp một người đàn ông mà chị và các bạn lao động của chị gọi là Pok (cha), một người đã từng cho họ thức ăn trước đây.
Chưa chi tôi đã tưởng tượng ra đủ món thức ăn, cơm, cá nướng tẩm sốt, xúp nấu với rau tươi và cá. Chị Ra nói nhỏ bảo tôi đợi một chút trong khi chị đi vào nhà kho tìm Pok. Trí tôi lại tập trung thêm nhiều hình ảnh về thực phẩm: bún cà ri bò, bánh bột chuối, nước thơm  vắt và món tôi ưa thích nhất là xang uých pa tê bằng bánh mì giòn kiểu Pháp, v..v..Khẩu vị của tôi gia tăng, đồng thời lòng nôn nả của tôi cũng  vậy.
Tôi đứng dựa vào tường, cầu nguyện cho chị Ra và tôi trở về khu vực của mình an toàn. Bao tử tôi cồn cào hơn. Nhưng nỗi lo lắng trong tôi cũng tăng lên. Tôi cầu nguyện Trời Phật mang chị Ra trở ra với tôi, dẫu có hay không có thức ăn.
"Athy, Athy" tiếng thì thào cắt ngang lời cầu nguyện của tôi.
Từ xa chị Ra vẫy tay bảo tôi đến chỗ chị. Chị quàng tay qua vai tôi và cùng tôi bước vào nhà kho. Nền bê tông chất đầy các chồng gạch và các khối bê tông trang trí chất dọc quanh tường. Tôi nhìn kỹ nhà kho này, ghi nhận tính cách gọn gàng, sạch sẽ của nó. Thật lạ là tìm thấy một toà nhà chất đầy gạch ở giữa một nơi trống trơn như thế này.
"Pok sẽ đến ngay. Hồi nãy ông đi lấy thức ăn cho chị em chúng mình" Chị Ra nói nhỏ.
Tôi nghe chị, nhưng không chú ý lắm. Tôi đang bị chỗ này mê hoặc. Nó thật khác với trại lao động cưỡng bách biết mấy. Trông nó hiện đại, tân tiến, giống ở Phnom Penh hay Takeo thưở trước.
Dầu tôi chưa từng gặp Pok, tôi cảm thấy ghen tị với ông ta. Tôi tự hỏi làm thế nào mà ông ta thích nghi được với cái ý thức hệ mà từ lâu Khmer Đỏ rao giảng cho chúng tôi. Không có người giàu, kẻ nghèo, chỉ có bình đẳng. Là đồng chí, tất cả chúng ta là một. Nhớ lại, tôi đã nghi ngờ biết mấy khi lần đầu tiên nghe họ nói như thế ở Year Piar. Và giờ đây căn nhà kho càng làm tôi thêm nghi ngờ hơn. Không có bình đẳng, không bao giờ có. Tôi cay đắng nghĩ.   
"Athy, Pok đang đến đó" chị Ra nhắc tôi.
Chị giới thiệu tôi với ông "Pok, đây là em gái con"
"Chumriep sur, Pok" tôi nói, chắp hai lòng bàn tay lại, đưa lên ngang cằm. Đó là sự lễ phép mà Khmer Đỏ không lấy mất của tôi được. Tôi cũng không cần xem ông ta có tán thưởng cách chào hỏi đó không, cũng như nó có thích hợp hoặc ông ta có phải là Khmer Đỏ và khinh ghét cái nghi thức đó không.
Thay vì chào tôi bằng lời nói, ông ta nhìn tôi rồi nhìn  chị Ra. Nếu ở vào sangkum mun (xã hội thời trước) ông ta hẳn phải đáp lại cái chumriep sur của tôi. Nhưng vì hai tay ông đang cầm chảo và đĩa, nên tôi có thể hiểu  được. Tôi vốn rất hài lòng vì sự tử tế của ông, sẵn sàng mang cho chúng tôi thức ăn.
"Ara, cháu phải cẩn thận khi mang em cháu tới đây, lúc ra về cũng vậy. Có khối bọn chhlop đấy" Ông nhắc chị Ra trong lúc ông đặt thức ăn xuống sàn nhà. "Chúng sẽ tra tấn cháu nếu chúng bắt được cháu. Phải rất cẩn thận".
Lời ông nói cho tôi thấy nhiều điều. Giọng nói của ông dịu dàng, giống như cha đang nói với con, và qua cách ông không gọi chị Ra là đồng chí, tôi biết ông không phải là Khmer Đỏ. Tôi chăm chú nhìn ông – cao, vạm vỡ với làn da sạm màu ô liu. Tóc đen chải gọn, điểm vài sợi bạc. Tôi đoán chừng ông ngoài năm mươi. Dáng vẻ của ông cho thấy ông chưa từng biết đến cực khổ hay thiếu ăn. Ông có vẻ có học, được ưu đãi, mặc dù mặc đồng phục Khmer Đỏ, quần và áo sơ mi đen mới với chiếc khăn quấn quanh cổ. Tôi nhìn ông và tự hỏi người đàn ông này là ai.
Pok mời chúng tôi ngồi xuống. Chúng tôi ngồi xổm xuống trên nền xi măng. Đột nhiên một người trẻ tuổi, mảnh khảnh, khoản 18 tuổi, lông mày đậm và mái tóc đen dày tiến lại gần chúng tôi. Tôi ngước lên, cố nhìn xem anh ta đang cầm cái gì nơi tay.
Pok giải thích “Sun làm việc cho tôi. Hắn mang đồ ăn thêm cho các cháu”.
Sun đặt xuống trước mặt chúng tôi một bát cháo lớn đầy những khúc bí ngô vàng, với hoa bí và những chồi xanh non. Gần đó là mấy con cá hun khói nâu giòn, nằm sấp bụng như khi đang bị hun khói vậy. Rồi là cả một chén nước mắm gồm ba muỗng màu thẫm như nước trà. Mùi nước mắm đậm. Thật tuyệt. Tôi thưởng thức mùi thơm đó và tâm trí tôi quay cuồng.
Tôi chưa hề được nếm nước mắm kể từ khi chúng tôi bị đuổi khỏi Year Piar – hơn hai năm về trước. Cho nên thoạt tiên tôi không nhận ra nước mắm cho đến khi cái mũi nhắc tôi, nó dò ra mùi gắt nồng của nước mắm. Từ đó ký ức tôi sống dậy, mắt mở lớn, đăm đăm nhìn vào các thức ăn.
Pok lấy trong đống đồ ra một chiếc đĩa. Rồi ông nhắc nắp nồi lên, bên trong là cơm trắng tinh. Mùi thơm của cơm mới thọc vào mũi tôi, mùi thơm quen thuộc của mùa lúa mới. Bao tử tôi réo lên, miệng thi trào nước bọt. Mắt tôi đưa theo tay của Pok dùng muỗng xới cơm vào đĩa. Tâm trí tôi, cả người tôi đều ao ước muốn vồ lấy cái đĩa nơi tay ông.
Cơm xúc trên đĩa của tôi cao như một đống bột đang dâng lên. Tôi muốn ăn ngay, lùa ngay cơm vào miệng, nhưng tôi còn phải đợi Pok, ông đang lấy một cái đĩa khác để lấy cơm cho chị Ra. Tôi đưa mắt lo âu nhìn bàn tay ông cử động từ nồi đến đĩa. Tôi phải tự kiềm chế để không cựa quậy và kêu lên “Làm ơn nhanh nhanh lên”.
Cuối cùng thì Pok xới xong, đưa cho chị Ra. Chị đưa cả hai tay đón lấy, một cử chỉ lễ phép đôi với người lớn mà Mak thường dạy chúng tôi.
“Thôi, ăn đi” Pok nói, liếc mắt nhìn tôi.
“Bác cũng ăn chứ?” chị Ra hỏi.
“Các cháu cứ ăn đi rồi trở về cho nhanh”.
Tôi xọc muỗng vào đống cơm, rồi lùa ngay vào miệng. Họng tôi đầy ắp, thức ăn như một người lạ đi vào cơ thể. Tôi bèn múc một thìa canh, nuốt chất nước ấm xuống để làm trôi nhanh những hạt cơm di chuyển chậm chạp. Rồi tôi mới ăn miếng bí. Rồi hoa bí. Rồi các chồi xanh mềm. Sau đó tôi ăn cá hun khói với nước mắm, rồi lại múc một muỗng cơm đầy. Cứ cho vào miệng là nuốt chửng ngay, mất tung mất tích. Hương vị bồng bềnh, thân thể tôi bắt đầu lo khi nhận thêm thức ăn vào miệng. Tôi bèn ăn chậm lại để thưởng thức vị ngọt của bí, vị cay của nghệ và sả. Hơi nóng toả dần khắp người tôi, bụng đã no nhưng tay tôi dường như không muốn chậm lại. Như thể tôi đang ăn đua với chính mình vậy.
Chị Ra liếc mắt nhìn tôi rồi nhìn Pok. Tôi chú ý đến phong cách điềm đạm của chị, phong cách mà trước đây chị thường biểu lộ khi có khách đến nhà. Đó là cách mà mọi đứa con gái Cambodia được dạy khi xử sự trước mặt khách. Phải vừa phải, nhẹ nhàng. Những cách xử sự này rất nghiêm nhặt, kiểu cách, đến nỗi khi còn nhỏ chúng tôi không bao giờ được ăn cơm với khách. Ngay cả đến bây giờ, tôi còn thấy vẻ bẽn lẽn, rụt rè nơi cách chị ăn, mặc dù hiện chúng tôi đang ăn trước mặt Pok, một người lạ tốt bụng.
Nhưng với tôi thì cái đói không còn làm cho tôi rụt rè nữa. Tôi tiếp tục nuốt thức ăn. Tôi biết mắt Pok đang nhìn chúng tôi – mặc kệ. Tôi chẳng cần nhớ phong cách ăn của Cambodia cũng như mọi quy củ văn hoá như đừng cạ muỗng vào đĩa khi xúc cơm, đừng ăn quá nhanh trước mặt người lạ, phải nhìn những người khác ăn thế nào để ăn cùng nhịp với họ…Ngày nay tất cả những điều đó không còn áp dụng cho tôi nữa. Tôi đã học rất kỹ và điều chỉnh cho thích hợp với sự khan hiếm thức ăn ngày nay, câu ngạn ngữ tôi thường nghe người lớn nói “Chol sturng tam bought, chld sork tam proteh” – “Theo sông tuỳ khúc, theo nước tuỳ miền”. Người ta phải thích nghi với hoàn cảnh của mình để sống sót. Và tôi đang điều chỉnh mình để thích hợp với môi trường mới, một thế giới trong đó cả nghi thức cũng như sự lễ phép đều không còn cần thiết – thậm chí còn bị cấm đóan. Thay vào đó, sự hung bạo là luật lệ cai trị mọi người, một luật lệ được thiết kế để phá vỡ linh hồn chúng tôi nhân danh padewat (cách mạng).
Logged
gicungduoc
Thành viên
*
Bài viết: 95


« Trả lời #51 vào lúc: 13 Tháng Mười Một, 2008, 01:42:56 pm »

Đã một tuần lễ kể từ khi chúng tôi đến nhà kho của Pok. Mặc dù ông ta làm việc cho Khmer Đỏ, Pok không có trái tim bằng đá giống như họ. Lòng tốt trong người ông làm tôi thấy nhẹ người.
Chị Ra không đến chỗ tôi, và tôi không thể chờ được nữa. Trong suốt những giờ không ngủ, tôi đều nghĩ về hình ảnh thức ăn chúng tôi đã ăn ở nhà Pok: cơm, cá hun khói, canh bí, đọt măng, sả và củ nghệ. Trong trí, tôi như đã ở nhà Pok rồi.
Ngày hôm sau tôi chuồn đi một mình. Lần này tôi nghĩ mình có thể bước nhanh bằng chị Ra. Trước khi nhận ra, tôi đã đến bờ sông, và không còn phải sợ leo xuống bờ dốc hoặc bị Khmer Đỏ bắt giữ. Chỉ có thức ăn là mục tiêu duy nhất của tôi. Vội vã, tôi lội qua sông, không cần chị Ra giúp, cũng như chẳng cần cây gậy chống nữa. Nước lên dần đến đầu gối, ngực, miệng rồi tai tôi! Nước xộc vào mũi tôi. Tôi vội vã đưa tay lên khỏi mặt nước. Tôi bịt mũi, nghiêng đầu. Tôi đạp chân, đẩy người về phía trước. Người hơi nổi lên, miệng tôi hớp lấy một hớp không khí. Mặt tôi nhô lên khỏi mặt nước, dán vào mục tiêu. Mực nước thấp lại, xuống ngang cổ, tôi vội vàng nuốt lấy không khí.
Bây giờ đã an toàn trên đất cứng, tôi nhìn lại dòng nước và thấy sợ cho chuyến trở về. Nhưng tôi phải ăn trước cái đã.
Nơi nhà kho, Pok ngạc nhiên lo lắng “Ara có đến không?”
“Không ạ” tôi trả lời, giọng tôi rung theo thân thể đang run rẩy.
“Cháu đợi ở đây” Pok ra lệnh, đưa tay chỉ nền xi măng.
Ông trở lại ngay, bước nhanh vào nhà kho với thức ăn, trán nhăn tít lại.
“Nhanh lên, ăn đi. Phần còn lại thì mang về, nhớ cẩn thận đấy”.
Tôi xúc cơm ra đĩa, nuốt vội với khúc cá nướng. Xong tôi gói mọi thứ vào khăn rồi chạy đi.
Trở lại dòng sông, cái thân thể gầy còm của tôi phải ra sức chống chọi với dòng nước, chân tôi cũng vậy, phải đạp liên hồi để đẩy tôi về phía trước. Đưa lên khỏi nước, tay phải tôi cầm thức ăn gói trong bọc, còn tay trái thì bịt mũi. Còn một khoảng ngắn phía trước, bờ sông dốc đứng đang đợi. Mình sẽ không bao giờ qua đây nữa, tôi tự nhủ, nhẹ nhõm vì đã sống sót ngày hôm nay.
Nhưng cái đói có quyền lực rất lớn, là tiếng nói yên lặng nhưng mạnh mẽ bên trong tôi. Chỉ vài ngày sau là nó lại ra lệnh cho tôi trở về khu 3. Khi mọi người đều đi làm việc, tôi ba chân bốn cẳng chạy ra dòng sông.
Ra đến bờ sông, tôi chóang người khi nhìn thấy dòng nước căng phồng lên. Lượng nước đã gấp đôi và đang tiếp tục dâng lên. Mình không thể đi qua con sông này được! Tuy vậy nỗi tuyệt vọng kéo tôi về phía chiếc câu sơn xanh. Đến gần, tôi đi chậm lại, bước thong thả. Đứng trên cầu, mắt nhìn lên trời, tôi giả bộ đang quan sát cấu trúc nghiêng của cây cầu, trông giống như một nhóm chữ X nối liền với nhau bằng một cây xà dẹt trên đỉnh. Tôi cứ đứng ở đó và đợi xem có ai đến hỏi tôi đang làm gì ở đây. Tôi đợi, đợi mãi, nhưng không thấy ai tiến đến cả. Tôi quay đầu nhìn dòng nước lấp lánh phía dưới. Hơi yên tâm. Lòng tôi giục tôi tiến lên phía trước, hoặc bây giờ hoặc không bao giờ nữa. Tôi bèn chạy vội qua cầu và vọt lên bờ sông dốc chỗ gần cầu, sau đó ngồi bệt tụt xuống phía bên kia, dừng lại nơi một bụi cây trước rừng. Định phủi đít đứng lên thì tôi nghe tiếng đàn ông và tôi lại ngồi sụp xuống.
Tôi đang chờ bị tóm, nhưng rồi chú ý thấy tiếng người vẫn còn ở xa. Họ không đến chỗ tôi. Tò mò, tôi bò đến bụi cây kế tiếp. Từ đây tôi thấy ba người đàn ông mặc đồng phục đen, khăn quấn quanh cổ. Một người trong túp lều giống trạm gác, mũi súng trường nhô ra sau vai. Hai người kia đứng ngoài trạm, đối diện với ông ta.       
Tôi nhẹ nhàng đi đến nhà kho của Pok. Khi tôi bước vào nhà, gặp ngay cái nhìn của Pok, Sun và của một người đàn ông khác đang đợi. Pok bước về phía tôi, mặt ông tái xanh vì giận dữ.
“Có ai khác cùng đi với cháu không?” ông hỏi gấp.
“Chỉ có cháu thôi” tôi len lén trả lời, mắt nhìn xuống sàn, sau đó đưa mắt nhìn lên Sun và người đàn ông kia, chờ xem phản ứng của họ. Mặt họ biểu lộ sự lo ngại.
“Trời, cháu liều quá!” Pok kêu lên. Ông nhìn tôi không tin. “Làm thế nào cháu đến được đây?”
“Cháu chạy qua cầu”.
Pok lắc đầu, chống tay vào hông “Thế cháu không sợ bọn cán bộ gác ở đầu cầu à? Nếu họ bắt được cháu, họ sẽ tra tấn cháu đấy! Cháu không biết à? Rồi họ sẽ hỏi bác tại sao cháu đến đây. Họ có thể giết hết chúng ta đó. Cháu không hiểu sao?” Giọng nói của ông làm cho tôi run rẩy.
“Đừhg bao giờ trở lại đây nữa. Đừng bao giờ đi qua cầu nữa. Hôm nay có cán bộ cao cấp của Khmer Đỏ đến đây. Nguy hiểm lắm, hiểu không?”
Khi bình tĩnh lại, ông bảo Sun và người kia dẫn tôi đến một chiếc lều gần đấy. Ở đó chúng tôi phải thật yên lặng khi ăn. Không được nói chuyện, tuyệt đối không được gây một tiếng động nào.
Căn lều này nhỏ, dựng trên cột, phía trước có thang để bước lên. Chung quanh toàn là cây cao, bóng che phủ hết lều. Nhà kho nằm gần đó,Sun và người kia đi lấy thức ăn. Ánh sáng mờ chiếu qua kẽ hở ở tường bằng phên tre. Tôi nhìn chăm chăm vào đó như thể mạng sống của tôi tuỳ thuộc vào ánh sáng này.
Đột nhiên tôi nghe thấy tiếng chân bước lên cầu thang. Tôi quay đầu nhìn ra và thấy cửa nhẹ nhàng mở. Bóng một người mang chiếc nồi và một chiếc bát lớn hiện ra, rồi một bóng khác theo sau. Tôi thở mạnh, nhẹ nhõm khi nhận ra đó  chỉ là Sun và người đàn ông kia.
Họ đặt xuống sàn trước mặt tôi cái nồi cơm và cái bát canh với rau gì đen đen trong bóng tối với một khúc màu trắng, có lẽ cá. Một mùi thơm nồng khiến tôi ngạc nhiên, mùi nồng và chua của cá muối nấu với dưa chuột tươi xát lát. Miệng tôi trào nước bọt, bao tử cồn cào, còn nỗi sợ thì bay đi đâu mất.
Chúng tôi ngồi thành một vòng tròn trong bóng tối. Mỗi người chúng tôi đều nhẹ nhàng xúc thức ăn và đặt vào miệng. Tôi chỉ nghe tiếng mình nuốt thức ăn. Những cử động bình thường trong bữa ăn bí mật này bây giờ lại làm tăng cơn sợ.
Đột nhiên tôi nghe tiếng của Pok vang lên “Mạnh khoẻ chứ, các đồng chí?”
“Ờ, cũng bìng thường vậy” giọng một người đàn ông trả lời một cách nhẫn nại “Thế nào, việc sản xuất tốt hơn chứ?”
Miệng tôi cứng lại. Đầu của Sun và người kia quay về phía tôi, nhưng rồi họ lại quay nhìn thức ăn trên sàn. Tôi tưởng tượng những người cán bộ kia ùa vào trong lều, kéo tôi đi, trói ngược tay tôi lại. Chỉ sau khi tiếng của Pok và các cán bộ Khmer Đỏ kia xa dần tôi mới dám nuốt miếng thức ăn cuối cùng. Bây giờ tôi mới hiểu tại sao mấy người ở đây thất kinh khi trông thấy tôi. Hiểu được việc tôi có mặt tại đây có thể mang lại khó khăn cho họ, tôi đột ngột đứng dậy đi về.
“Em đem theo ít cơm nhé?” Sun giục. Anh cũng đứng dậy.
“Đợi một lát” người kia nói, giọng điềm tĩnh “Đây, chúng tôi gói một số thức ăn”.
Họ đi ra ngoài để xem xét lúc nào thi tôi có thể về bên kia an toàn. Họ lại dặn tôi ngồi yên và đợi. Ngồi một mình trong lều, tôi lặng lẽ khóc. Tôi không biết mình khóc vì lòng tử tế của họ hay chỉ vì tôi quá sợ hãi.
Liền sau đó, có tiếng chân chạy nhanh lên làm rung cả lều. Tôi nhỏm dậy, nửa đứng nửa ngồi “Mau lên, đi ra mau lên!” giọng thì thào khẩn cấp.
Tôi lạnh cứng người lại.
“Đi theo tôi. Ổn cả”.
Tôi lướt ra khỏi nhà và thấy Sun đã bước xuống khỏi thang. Tôi bước theo, người run rẩy. Xuống tới mặt đất, Sun liền kéo tôi nấp vào sau thân cây. “Họ vẫn còn ở trong nhà kho” anh thì thào “Khi nào tôi nói đi, thì em chạy liền nhé. Nếu có trượt té thì đừng khóc đấy”, cặp mắt đen của anh như muốn hỏi, có hiểu không?
“Em không té đâu” tôi nói, lắc đầu, nhưng nước mắt tôi lại trào ra.
Từ cây này sang cây khác, từ bụi này sang bụi khác, tôi chạy với anh, theo sự hướng dẫn của anh. Rồi đột ngột anh nói “Thôi, tôi trở lui. Tôi chỉ chúng tôi đi với em ra đến đây thôi. Cẩn thận đấy”.
Tôi nhìn anh biến mất. Tôi khóc vì sợ. Tôi cầu nguyện Trời xin linh hồn Mak và Pa che chở cho tôi. Tôi cầu nguyện thầm, đọc đi đọc lại trong đầu. Và như thể có một linh hồn hướng dẫn, cơn sợ của tôi tan đi, và tâm trí tôi lại tập trung vào việc trở về khu vực của mình an toàn. Thân thể nhẹ tênh, thoải mái khi chạy qua rừng và leo lên bờ sông rồi qua cầu, để lại khu vực 3 nằm phía sau.
Bây giờ an toàn trên khu vực của mình, tôi quay lại nhìn rừng cây nơi có căn nhà kho và túp lều, nơi mà ký ức tôi sống dậy. Một ký ức về những người tốt bụng và về chị Ra, người đã mang tôi đến với họ.
Logged
gicungduoc
Thành viên
*
Bài viết: 95


« Trả lời #52 vào lúc: 13 Tháng Mười Một, 2008, 01:44:37 pm »

Hành trình qua cánh đồng chết
________________________________________
CHƯƠNG 11
Chanrithy Him
Hành Trình Qua Cánh Đồng Chết
Dịch giả: Mịch La
CHƯƠNG 11
LỜI HỨA
Bây giờ là cuối năm 1977. Vì một lý do nào đó tôi được gởi đến một trại mới nằm lọt giữa các ruộng lúa rộng cùng với một nhóm trẻ em. Giống như nhiều trại lao động khác, trại này cũng vô danh như những con người đang làm việc trong đó. Tôi cũng không biết chúng tôi đang ở đâu và nơi này gọi là gì nữa. Từ sáng tinh mơ cho đến hoàng hôn, công việc của tôi là đuổi chim bay khỏi đồng lúa chín vàng. Bây giờ đang giữa buổi sáng và mặt trời đang chiếu xuống, ngay lúc này thời tiết dễ chịu và ấm áp.
Nhưng vào buổi sáng sớm tôi luôn luôn bị lạnh vì chiếc áo tôi mặc không đủ giữ ấm. Còn chiếc áo kia thì tôi để trong lều, dùng để thay cho ngày kế tiếp. Sương sớm đọng trên những lá cỏ mọc trên bờ ruộng bám vào đôi chân trần của tôi, càng làm cho buổi sáng sớm lạnh không chịu nổi.
Khi mặt trời chiếu sáng, tôi dang hai cánh tay ra như một con gà con mới nở đang vươn cánh. Đứng thẳng người, tôi cựa quậy, hai bàn tay chà vào nhau, miệng hà hơi thổi phù phù vào hai tay cho ấm. Nơi chân trời xa xa, giữa đám ruộng, tôi thấy bóng những người lớn túa ra gặt. Ở xa trông đầu của họ như nổi bồng bềnh trên ruộng lúa.
Vừa khi con người dậylàm việc thì chim chóc cũng vậy, sẵn sàng bắt đầu ngày kiếm ăn của mình. Chưa chi chúng đã bay lên, ào ào như những làn sóng đen kịt. Chúng chao liệng trên ruộng lúa một lúc như để chọn lựa cây lúa nào chín tới mới làm tiệc. Chúng vừa hạ cánh xuống thì đám trẻ con ùa về phía bầy chim. Đầu của đám trẻ nhấp nhô giữa ruộng lúa. Chúng đuổi theo chim, miệng hô “Su! Su!”. Những cánh tay nhỏ xíu huơ huơ lên trời để đuổi đàn chim.
Bầy chim túa lên, kêu lên những tiếng chít chít, dữ tợn rồi bay sang ruộng khác, đám ruộng của tôi. Thế là tôi cũng chạy về phía chúng, miệng tôi “Su! Su!” Tôi hò theo tiếng vang của đám trẻ kia. Tay tôi vung vẩy lên trời để làm cho chim sợ.
Tiếng cười bật ra trong  không trung khi đàn chim bay từ ruộng lúa này sang ruộng lúa khác. Bây giờ nó giống như trò chơi hạ cánh – xua đuổi. Chim kêu chí chóe, còn chúng tôi thì cười vang. Từng giọt mồ hôi chảy ướt cả trán tôi. Tiếng cười đó là thức ăn nuôi dưỡng tâm hồn tôi. Đã lâu lắm rồi tôi không hề cười. Tôi thấy mình sống lại, như một cô gái nhỏ, mặc dù nay tôi đã 13 tuổi.
Phần ăn được cải thiện, khá hơn hồi ở làng, tôi bèn nghĩ về gia đình và ước chi có họ ở đây. Hằng đêm, tôi nao nức đến cháy lòng mong họ được hưởng những gì tôi có: cơm và canh cá nấu với rau. Tôi tự hỏi không biết bây giờ chị Ra ở đâu, chị còn ở trại giáp với khu 3 hay đã chuyển đi nơi khác rồi. Tôi cũng ước phải chi Avy, Vin, Mak và Pa còn sống. Mak hẳn sẽ sung sướng nếu được ăn cơm với muối. “Có được cơm với muối để ăn thì sướng bằng được lên trời”, tôi nhớ mãi câu nói của mẹ, mắt mẹ rực lên niềm ao ước.
Đêm xuống, nằm trên chiếc giường đất lót cỏ khô trong căn lều nhỏ, tôi lại nghĩ về Mak. Hình ảnh khuôn mặt nhợt nhạt, sưng vù của bà ở bệnh viện Choup lại hiện ra trong  đầu tôi như trong một giấc mộng. Dường như Map và tôi chỉ mới đến thăm mẹ vài ngày trước thế mà nay mẹ đã mất rồi. Bây giờ sức khoẻ tôi đã khá hơn, trí óc tôi cho phép mình đi ngược lại thời gian lúc còn sống với mẹ. Bồng bềnh trôi vào giấc ngủ, tôi khao khát được nói chuyện với mẹ, ao ước bà có mặt ở đây với tôi.
 
*
Mak xuất hiện, ngồi giữa tôi và Map ở cuối cái bàn gỗ sồi giống cái bàn để thuốc của Pa nơi nhà chúng tôi ở Phnom Penh. Dưới ánh đèn huỳnh quang mờ mờ, tôi bị hút hồn vì sự xuất hiện của mẹ - vẻ mặt của bà đẹp và khoẻ mạnh, y hệt như thời còn ở Phnom Penh ngày trước.
Khi bà nhìn tôi, tôi chú ý đến vẻ buồn sâu xa nơi khuôn mặt đẹp ấy, đóng khung trong làn tóc đen chải mượt. Tôi ngừng đút cháo cho Map, đặt muỗng xuống đĩa và đứng dậy ra khỏi ghế. Tôi nhẹ nhàng đi lại phía Mak. Nhưng trước khi tôi kịp nói điều gì, bà đã bồng bềnh bay lên trên trần. Mak van nài “Athy, con chăm sóc em trai con. Hãy cho nó ăn, koon Mak. Săn sóc nó cho Mak…Saniya Mak (Hứa với mẹ đi)!”
“Mak, con muốn…”
“Saniya Mak” Mak ngắt lời tôi trước khi tôi nói xong điều muốn nói. Trông mặt bà rất buồn thảm, và tôi nhìn bà chăm chăm.
“Con xin hưá…” Tôi trả lời, tôi chỉ mong muốn cho vẻ buồn thảm trên mặt bà biến mất đi. Tôi muốn nói cho mẹ biết vì sao tôi không thể đến săn sóc bà ở bệnh viện Choup. Nhưng tôi vừa mới hứa với mẹ, thì bà đột ngột biến đi cũng giống như lúc bà xuất hiện vậy.
“Mak ơi, mẹ hãy trở lại…” tôi khóc nức nở, cố tìm kiếm bà.
 
*
Mở mắt, tôi thức giấc trong bóng tối. Mình đang ở đâu? Tôi tự hỏi. Tôi quay đầu, âm thanh lạo xạo của cỏ khô dưới lưng làm tôi nhớ lại dần. Rồi nhớ ra, tôi đang ở trong lều, không phải ở nhà tại Phnom Penh với Map hay với Mak. Mak là thật. Mẹ đã nói chuyện với tôi. Mẹ ơi, có phải mẹ trở lại để nói với con điều mẹ không thể nói trước khi mất? Mẹ ơi, xin mẹ nói lại với con một lần nữa. Con đang đợi mẹ.
Nhưng mẹ không trở lại, thay vào đó, một giọng nói chắc nịch đánh thức tôi dậy.
“Dậy đi. Đến giờ làm việc rồi”, tiếng đập vào váhd lều kêu lách cách.
Cái bóng quen thuộc của đồng chí Thore Meta, trưởng đoàn của tôi thò vào lều. Khi tôi bò ra khỏi lều thì bà ta đã biến mất. Bây giờ mới là sáng sớm, trời còn chập choạng. Lại bắt đầu một ngày chạy đuổi theo chim trên ruộng lúa, tôi mệt nhọc nghĩ. Ít nhất thì ở đây cũng không có bọn chỉ điểm rình mò chúng tôi. Tôi có cả một ngày của mình cùng với những đứa trẻ khác.
Thore Meta, một neradey, tức một cán bộ Khmer Đỏ xuất thân từ vùng tây nam Cambodia, không giống như các trưởng đoàn của tôi trước đây. Cô ta chưa từng bao giờ la mắng tôi khi thức dậy đi làm việc chậm. Cô khoan dung và hiểu biết. Có lẽ cô chỉ mới ngoài hai mươi, với khuôn mặt điềm đạm và đôi gò má tròn trĩnh. Mắt cô đậm và to. Mặt cô trắng, tương phản với bộ đồng phục đen mới, sáng hơn của nhiều phụ nữ neradey khác. Mái tóc đen xoăn tự nhiên ôm lấy tai và gò má. Cô thấp người, vì thế cổ cũng vậy. Cô trông như không có cổ, như thể đầu mọc từ vai ra vậy. Mặc dù không đẹp, tính tình dễ thương của cô khiến cho người ta rất dễ gần gũi.
Nhiều tháng nay, người ta thì thào về những vụ giết chóc khủng khiếp xảy ra ngay sau khi vị neradey đến Daakpo và những làng khác quanh tỉnh Battambang (ở phía tây của Cambodia). Mục đích của họ là nắm lấy quyền ở đây và thanh trừng các lãnh đạo của Khmer Đỏ địa phương. Mặc dù Angka cấm dân chúng nói về chuyện này, nhưng tiếng xì xào về các mệnh lệnh hành quyết những người lãnh đạo này vẫn lan truyền như mùi nồng nặc của chuột chết. Việc giết chóc này làm tôi nhớ đến câu nói của người Cambodia "Domrei gnob khom yok Chongey tao kroob", có nghĩa là "lấy thúng che voi chết".
Theo người ta nói, "voi" ở đây chính là Ta Val, người lãnh đạo Khmer Đỏ cao nhất, coi sóc việc xây dựng các con kênh thủy lợi và các đập ở phía tây của Cambodia. Ông ta cùng nhiều người khác bị bắt, bỏ vào trong bị rồi cho xe máy kéo cán lên. Theo người neradey cáo buộc, tội của ông ta là xây một con đập về hướng Thái Lan để ông ta và những người đồng mưu có thể theo đó mà tẩu thoát. Chấn động vì tin này, tôi tự hỏi tại sao Ta Val và những người kia lại muốn chạy trốn. Họ sợ điều gì? Những giây phút cuối cùng đối với họ hẳn là khủng khiếp lắm, khi tiếng ùng ục của bánh xe máy kéo tiến lại gần, làm rung chuyển mặt đất rồi nghiền nát họ. Người ta bảo rằng neradey là một người dễ sợ, nhưng tôi cám ơn Trời vì Thore Meta không giống cách miêu tả đó.
 
*
Nhiều ruộng lúa đã chín vàng. Hạt lúa nặng chúc đầu xuống thân. Phụ nữ được gởi đến đây để lo việc gặt và xay lúa. Lều của họ mọc lên cạnh chíếc cầu gỗ như nấm mọc sau cơn mưa phùn. Nơi xay lúa nằm cách lều tôi khoảng nửa dặm. Phía sau đó, phụ nữ lo việc xẩy trấu khỏi gạo vừa xay xong. Tay họ ôm nghiêng thúng gạo, tay trước tay sau. Ngón tay thì xoè ra trên mép thúng, để vỏ trấu rơi ra, tách khỏi những hạt gạo trắng.
Bên trong lều, những phụ nữ khác thì lo xảy trấu trên một chiếc chiếu rộng. Họ chăm chỉ huơ chiếc nia theo một vòng tròn đều đặn và những hạt gạo lọt xuống những lỗ nhỏ trên nia. Trước xuất ăn chiều tôi rất đói, vì thế tôi đứng nấn ná trước lối vào lều. Thấy không có ai la rầy, tôi nhích dần lại các đống gạo rồi lấy tay bốc vài hạt bỏ vào miệng. Mấy đứa bé khác cũng làm theo, vừa liếc nhìn những người phụ nữ kia. Thấy vậy mấy người đàn bà nọ đưa mắt nhìn cảnh cáo trong khi tay vẫn bận rộn làm việc.
"Nếu cứ làm thế chúng mày sẽ bị tiêu chảy đấy", một người phụ nữ chịu trách nhiệm ở nơi này đưa ra lời cảnh cáo, mọi người gọi bà là đồng chí Murn. Bà độ năm mươi ngoài, người thấp khoẻ với làn da sậm, tóc đen nháy, bên ngoài phủ chiếc khăn vải cũ kỹ.
Tôi nhẹ nhõm vì bà cảnh cáo hàm ý chăm sóc, chứ không la mắng hay đánh đập gì. Tiêu chảy là chuyện sau, còn bây giờ tôi đang đói. Tôi nhai nát mấy hạt gạo, chất bột tạo ra vị ngọt, thơm trong miệng. Lợi dụng sự rộng rãi của đồng chí Murn, chúng tôi còn lùa gạo vào túi áo hay vào bất cứ cái gì chúng tôi có, ngay cả trong tay.
Thời tiết càng ngày càng nóng hơn, lúa càng chín nhanh hơn. Từng bao gạo chất đầy sát vách quanh lều. Mấy người phụ nữ bây giờ bận tíu tít, họ toát mồ hôi vì lo xay, xàng xẩy, rồi đổ vào bao tải. Đột nhiên một người gạt thúng thóc đang rây sang một bên "Ôi chao, tôi không còn chịu nổi nữa, tôi đến đái trong xà rông mất!" Bà bước lảo đảo do chân tê vì ngồi quá lâu.
"Có ai cấm chị đi tiểu đâu" đồng chí Murn vừa nói vừa cười. Mắt sáng, thái dương nhớp nháp vì mồ hôi và bụi, trong khi hai tay bà vẫn mạnh mẽ rây gạo. Những người khác đưa mắt nhìn bà, miệng thoáng cười.
Tôi đưa mắt nhìn cái thúng đặt cạnh chồng gạo và chỗ mới để trống cạnh người phụ nữ. Hăng lên, tôi nhảy vào chỗ đó, trút chỗ gạo còn dính trấu vào mủng, rồi cầm mủng lên rây. Tiếng rây gạo chung quanh ngừng lại. Âm thanh duy nhất tôi nghe thấy là tiếng rây gạo của tôi. Tôi cảm thấy lo trong lòng. Không biết bà Murn có la mình không.
"Nhìn con bé kìa! Nhỏ thế mà đã biết rây gạo như người lớn" đồng chí Murn nói với vẻ ngạc nhiên. "Thế mà nó không phải là một đứa trẻ ở nông thôn đâu nhé".
Koon la-au (đứa trẻ ngoan) là tiếng mà đồng chí Murn gọi tôi. Bà hỏi tôi học nghề này từ ai. Tôi nhìn bà rồi nhìn mọi người. Do quan sát mẹ tôi làm mà tôi học được, tôi giải thích.
Sau khi Pa bị hành hình ở Year Piar, tôi quan sát cách sống ở nông thôn để có gì còn giúp đỡ Mak. Tôi quan sát cách bà xử lý lúa từ giai đoạn đầu đến giai đoạn cuối. Một ngày nọ tôi nghĩ mình đã sẵn sàng áp dụng những gì mình học được. Tôi nghĩ mình có thể làm mọi việc được nên tôi bảo Mak tôi muốn giúp bà và mẹ đồng ý. Nhưng khi rây gạo, tôi mới thấy thật khó. Gạo trong mủng không chuỷên động tròn như khi mẹ rây. Mẹ nói đó là do cái mủng lớn hơn tôi nên tôi phải tập nhiều lần. Tôi toát mồ hôi khi phải vật lộn với số lượng gạo và cái mủng to quá khổ.
Mẹ cười "Koon, quay mủng chứ không quay koot (đít). Nhìn con kìa, mặt mày đỏ bừng, gân nổi phồng lên rồi kìa. Cứ như đang đi vào nhà xí ấy". Bà đưa tay đỡ cái mủng cho tôi nhưng tôi không chịu. Tôi đưa tay đẩy nhẹ tay bà ra và tiếp tục tập rây gạo. Mak cười khi thấy tôi vụng về. Nghe tiếng cười của Mak thật nhẹ cả người.
Logged
gicungduoc
Thành viên
*
Bài viết: 95


« Trả lời #53 vào lúc: 13 Tháng Mười Một, 2008, 01:45:14 pm »

Bây giờ đồng chí Murn cũng cười, đưa mắt nhìn tôi, các người khác cũng vậy. Tôi ngạc nhiên thấy mình thành trung tâm của sự chú ý. Tôi cảm thấy có một mối dây gắn kết với những người này. Và đột nhiên tôi thấy họ như là gia đình của tôi, một  gia đình thay thế.
Tôi đã để dành gạo trong túi và một ít cá muối trong một hộp thiếc, đem giấu trong lều cho Map và chị Chea ở Daakpo. Chị Chea đã ở lại Daakpo để chăm sóc Map, đó là điều chị Ra cho tôi biết khi chúng tôi ở trại lao động gần khu 3. Chị Ry vẫn còn ở lại bệnh viện còn anh Than đã được phái đi xa, chi Ra cũng không nhớ được là ở đâu. Đôi khi tôi ước ao được chạy về Daakpo để mang thức ăn cho họ. Cứ tưởng tượng họ sẽ mừng biết mấy.
Tôi sẽ nói với chị Chea "Chea ơi, chạy đuổi chim khỏi ruộng lúa cũng không nặng nhọc gì lắm. Ngay cả chị cũng muốn làm việc này. Nó không giống như việc đào đất xây đập thuỷ lợi đâu".
Nghe vậy hẳn chị Chea rất vui, tôi nghĩ, như một bà mẹ hãnh diện vì đứa con của mình.
 
*
Mùa gặt đã đến tốc độ nhanh nhất. Đàn ông từ các làng khác sẽ đến đây,lời đồng chí Murn nói với tôi, để lấy gạo đem về cho làng họ. Có lẽ một người nào đó ở làng Daakpo sẽ mang giùm gạo tôi đã để dành cho gia đình, bà gợi ý, không biết làm sao bà biết được tôi đã để dành gạo sẵn cho Map và chị Chea.
Vài ngày sau một đoàn xe bò kéo đến đây vừa lúc tôi làm xong công việc trong ngày. Ở cánh đồng bên cạnh là những con bò gầy  trơ xương đang nhai cuống rạ khô trước mặt chúng như thể lương thực của chúng cũng bị phân phối. Thân thể của chúng chỉ còn da bọc xương, xương hông của chúng nhô ra giống như mắt chúng vậy.
Tôi lặng lẽ bước đến gần mấy chiếc xe bò. Tôi quỳ xuống, chui đầu bên dưới xe, nơi các người đàn ông đang mệt nhoài nằm nghỉ. Họ ngủ say sưa, tay gác lên trán để che ánh mặt trời. Nhưng riêng một chiếc xe có một người đàn ông già đang đứng tháo dây buộc ra khỏi xe. Trông ông quen quen.
"Xin lỗi bác, có phải bác ở Daakpo không ạ?" Tôi hỏi nho nhỏ. Người đàn ông quay lại nhìn tôi, trán nhíu lại như muốn hỏi cháu là ai.   
Rồi ông ngừng tay và trả lời "Đúng vậy".
"Bác có phải là Ta Barang không?" Trí nhớ của tôi bắt đầu hoạt động. "Trước đây có phải bác làm việc trong một nhà máy đường ở gần Daakpo, có phải không ạ?"
"Làm sao mà cháu biết tên bác?" Ông hỏi.
"Bác có nhớ Chea không? Cháu là em gái của chị ấy đó" Tôi trả lời một cách sung sướng.
Tôi kể cho ông một năm trước đây, ông rất tử tế với chị Chea và tôi. Ở xưởng đường gần Daakpo, nơi đây đường từ cây cọ được sản xuất cung cấp cho cả làng. Ông thường để cho chúng tôi vớt thứ bọt trắng nổi lên bên trên mép chiếc nồi lớn và nặng, trong đó nước đường từ cây cọ được nấu cho đến khi keo lại thành một chất đặc màu nâu sẫm. "Đôi khi bác còn cho chị Chea mang đường về. Lần khác bác còn để cho chị ấy nhúng rễ cây ngọc giá vào nước đường cho đến khi rễ cây chín và được bọc một lớp đường. Chị Chea nói bác là người tốt nhất ở làng đó".
Ta Barang liếc mắt nhìn phía sau "Vào thời buổi này," ông ta nói "khi ta tốt với người khác, ta sẽ bị trừng phạt. Họ mang bác đi cải tạo và thay thế bác là một người khác tốt cho Angka. Cháu ơi, bây giờ đất nước chúng ta đã thay đổi nhiều quá, thật khó mà hiểu được". Ông thở dài nhưng đồng ý mang gạo và cá muối của tôi về cho Map và chị Chea.
Một tháng nữa, sau khi hầu hết lúa đã được gặt xong, đoàn của chúng tôi được gởi lại về Daakpo. Người ta bảo chúng tôi về ở với gia đình cho đến khi họ lại cần đến chúng tôi. Sau một cuộc đi bộ dài, cuối cùng tôi thóang nhìn thấy lều của mình. Rồi đột nhiên thấy hai người da bọc xương chạy đến, như từ trong lều bắn ra vậy! Đó là Map và chị Chea! Chị Chea dấn lên trước, trông chị gầy khẳng khiu, với Map phía sau, bụng ỏng ra, dấu hiệu của sự đói kém. Như những người già yếu, chị Chea và Map bước đi chân cứng đơ như những cây gậy. Chị Chea gắng nở nụ cười để che giấu sự đau đớn. Chị dang hai tay ôm lấy tôi.
"Em về làng hồi nào?" Chị hỏi. Giọng chị là sự pha trộn giữa sự phấn khích và đau buồn, chị nói mà nước mắt ứa ra. Trong khi đó Map đưa mắt nhìn tôi một cách hăm hở, tuy nhiên mặt nó lộ vẻ mệt nhọc.
"Em vừa mới về tức thì, chị ạ. Ê, chào Map". Tôi gọi nó, vói tay chạm vào đầu nó. Trải qua biết bao ngày nghĩ về họ, tôi thật sung sướng  được trở về cùng với họ. Nhưng sự phấn khích của tôi không kéo dài được lâu. Khuôn mặt khô kiệt của chị Chea và Map làm tôi bàng hoàng. Tôi đã quên rằng đời sống của họ bấy lâu nay rất khác với đời sống của tôi.
Ở khoảng trống nơi lều trong buổi tối mát mẻ, chị Chea, Map và tôi ngồi đối diện với nhau. Map ngồi sát vào chị như một đứa trẻ muốn được mẹ nó ôm vào vòng tay. Khuôn mặt trũng hõm, nhiệt thành của chị Chea diễn tả tình mẫu tử đó thật. Tôi hỏi chị một loạt câu hỏi, nôn nả muốn biết khẩu phần ăn ở Daakpo có tốt hơn khi mùa màng năm nay thật tốt.
"Chẳng thay đổi gì hết" giọng chị thật sầu thảm. "Tụi chị vẫn chỉ ăn có cháo gạo, mà còn không đủ nữa. Chỉ toàn là nước. Hàng ngày điều chị mong ước chỉ là một ngày nào đó được ăn cơm. Chỉ một ngày thôi. Khi bang (chị) hỏi người điều hành là tại sao tụi chị không có được nhiều gạo hơn, ông ta trả lời phần lớn gạo được gởi cho những người ngoài mặt trận, những người xây dựng padewat".
Nước mắt đẫm mặt chị "Athy ơi, cuộc sống thật là khó khăn. Mùa này cũng y hệt như mùa trước. Chị từng cầu nguyện cho mùa gặt sắp đến để tụi chị có nhiều gạo hơn. Nhưng rồi mùa gặt qua, khẩu phần vẫn vậy, vẫn ít ỏi như thế. Athy ơi, nếu đời sống cứ khủng khiếp như thế này, bang chỉ muốn chết cho xong. Chị…"  Chea đưa tay lên chùi nước mắt. " Chị chỉ muốn nhắm mắt lại và chết. Nếu chị sống, đời sống cũng chẳng có nghĩa gì cả. Chẳng có chút ý nghĩa nào ngoại trừ sống chỉ để trông có ngày được nhiều gạo hơn một chút, chỉ có thế".
Nước mắt chị tuôn như mưa. Mắt tôi cũng cay xè, Map thì nhìn chị qua chính nước mắt của nó, rồi nó đưa tay vói lấy chị. Thật hết sức đau lòng khi thấy chị khổ não. Nỗi đau khổ của chị bao gồm của cả Map. Gương mặt bốn tuổi trầm uất của nó trông như đầy vết thương. Giữa tất cả những điều đó, tôi bỗng dưng nhớ đến điều tôi muốn hỏi về số gạo và cá khô tôi gởi về, lời hứa của tôi với Mak.
Ý nghĩ đó vụt sáng trong trí tôi "Chị Chea, Ta Barang có mang gạo và cá em gởi cho chị và Map không? Ong ta có đem tới cho chị không?"
Chị nhìn tôi rồi nhìn Map như thể chị cố tìm ra lời thích hợp. Rồi chị trả lời một cách điềm tĩnh "Ông ta có mang cá thôi, một miếng cá nhỏ".
"Bao nhiêu?" Tôi nhíu mày "Em đã gởi cả một bao gạo to như thế này này, và cả một hộp cá muối, đầy lên đến tận mép như thế này này" Tôi dùng tay diễn tả.
"Athy ơi, ông ấy đã xin lỗi là đã dùng hết số gạo đó và ăn gần hết cá" Chị Chea giải thích "Ông ấy đói quá và không cầm lòng được".
"Không! Đó không phải là đồ ăn dành cho ông ta, chị Chea!" tôi gào lên, không muốn tin điều chị vừa nói "Em để dành cho Map, cho chị. Em đã hứa với mẹ. Mẹ đã về gặp em. Trong giấc mơ. Mẹ van em…Ông Ta Barang, ta aarrak (lão già xấu xa)!" Đầu tôi nhức lên, ngực tôi nghẹn lại bởi cơn đau. Tôi cảm thấy mình bị phản bội.
Chị Chea ôm chặt lấy tôi "Athy, em đừng nên nói như vậy, p yoon srey" chị thì thào vào tai tôi "Ông ta đói, ông ta cũng chỉ là người mà thôi. Nếu em là ông ta, em cũng sẽ làm như vậy".
"Nhưng đó không phải là đồ dành cho ông ta, không phải cho ông ta, chị Chea ơi…"

Logged
gicungduoc
Thành viên
*
Bài viết: 95


« Trả lời #54 vào lúc: 13 Tháng Mười Một, 2008, 01:46:59 pm »

Hành trình qua cánh đồng chết
________________________________________
CHƯƠNG 12
Chanrithy Him
Hành Trình Qua Cánh Đồng Chết
Dịch giả: Mịch La
CHƯƠNG 12
DÙ LÀ TRINH NỮ, TÔI BỊ GỌI LÀ ÔNG GIÀ

New Internationalist.
Tháng Tư năm 1993.
"Trở lại Năm không".
 
Năm không (Year Zero) là buổi rạng đông của thời đại, trong đó, in extremis [1] sẽ không còn có gia đình, không tình cảm, không biểu hiện tình yêu và buồn đau, không thuốc men, không bệnh viện, không trường học, không sách vở, không học, không ngày nghỉ, không âm nhạc, chỉ có lao động và cái chết.
 
 
            Gió hú dữ dội. Tiếng sấm dội lên những âm thanh chậm, trầm, tiếp theo là một tiếng nổ điếc tai. Âm thanh xa dần nơi chân trời, rồi lại bắt đầu ngay. Túp lều sột soạt, các bức vách đan bằng lá đập liên hồi. Cơn mưa dày, nặng hạt đánh điên cuồng xuống mái lều. Gió mùa đã tới. Mùa hè năm 1978 đã trôi đi. Chị Chea ôm sát lấy Map còn tôi thì ôm chị. Đêm nay tôi cám ơn Trời đã cho tôi sự ấm cúng và dịu dàng của gia đình. Khi mưa ngớt và gió dịu lại, tôi ngủ thiếp đi, say như chết. Lát sau tôi giật mình nghe tiếng nói "Dậy, đi làm việc!" cái anh chàng chỉ điểm mặt sần sùi rống lên như bò.
Tôi sợ những ngày đó. Tôi phải gặp những đứa  trẻ khác ở Sahakar rồi ngày làm việc bắt đầu. Ra khỏi lều, tôi thấy bầu trời vẫn còn tối. Cơn mưa đêm làm không khí mát hẳn. Cơn gió lạnh làm tôi run lên. Ước chi mình có thể vào ngủ lại, ôm sát nhau, cùng chia hơi ấm.
Chị Chea chửi rủa lầm bầm trong hơi thở. Đại để như quỷ tha ma bắt Angka đi. Tôi cũng muốn chửi nhưng lúc này tôi quá mệt không nổi giận với Angka được nữa. Bầu trời đầy mây. Dọc theo con đê bò quanh co giữa cánh đồng ngập nước, tôi bước đi sau một hàng dài trẻ em và người lớn, tiến hành cứu mạ non. Vào lúc này trong năm, ruộng lúa dọc con đê thường xanh ngắt với những cây mạ nhô lên nhưng bây giờ thì chúng bị ngập trong nước, với tầm mắt nhìn thấy được. Dường như một cái hồ nước khổng lồ vừa mới được tạo ra trong đêm. Chỉ có đầu mạ lú lên khỏi mặt nước, thế mà trông còn có vẻ có những trận mưa lớn trong những ngày sắp tới nữa.
Ngày kế tiếp là một ngày khổ sở khác. Đất ướt, trời mờ tối, u ám, cơn mưa phùn biến thành trận mưa như trút nước. Hàng trẻ con phía trước tôi dừng bước rồi lùi lại. Hàng người phía trước lại chuyển động, mọi người vây quanh một người ngồi sụp trên đê, đầu gục vào cánh tay đang ôm quanh đầu gối. Tôi nhìn kỹ thân thể đang run lên của người phụ nữ đó, chiếc khăn vải bạc màu đang phủ lên người. Tiếng khóc của người đó nghe quen thuộc.
"Chị Chea đó hả? Chị Chea!"
Đầu chị ngẩng lên, đôi mắt ướt đẫm. Tôi lay cái lưng đẫm nước mưa của chị. Chị vẫn khóc, run rẩy. Tôi thét lên, cố để cho nỗi đau vì bất lực, vì cô đơn và nhọc nhằn trong người tôi thoát ra ngoài. Nỗi thống khổ lớn đến độ tôi không mang nổi và cũng không che giấu nổi.
"Athy, chị bị bệnh mà họ cứ kéo chị ra khỏi lều. Chị đau quá, chị lạnh. Chị không thể làm việc được. P yoon srey bang…em của chị".
Ôi chị Chea! Xin trời làm phúc…Nhìn lên bầu trời đầy mây, tôi như bị ngập trong nỗi đau của chị và của chính tôi. Tôi muốn làm dịu đi nỗi đau của chị nhưng cay đắng nhận ra rằng tôi bất lực. Họ là ai mà kéo chị tôi đi như thế này? Thật thô bạo quá! Câu hỏi đó làm bùng lên sự giận dữ đã nung nấu trong lòng tôi bấy lâu nay. Tôi chỉ còn biết nhắm mắt lại, muốn gào lên biết mấy!
"Athy, Athy, em đi đi, p yoon srey, bọn chhlop đang đến đấy" chi Chea nói nhỏ. Tôi đưa mắt nhìn chị rồi đứng lên lảng ra…Chỉ đi vài bước thì chị đã khuất sau hàng người và làn mưa.
Rồi sau đó mưa cũng ngừng. Nước trong đồng ruộng cũng rút đi. Chị Chea hồi phục lại sức khoẻ sau hai tuần nghỉ ngơi. Cơn sốt chấm dứt, chị trở lại là mình với hình dáng trước đây, cởi mở, thân thiện như hồi còn ở Phnom Penh.
Một hôm, một người phụ nữ hàng xóm qua lều chúng tôi. Mặt chị Chea sáng lên. Chắc chị rất vui khi gặp người này. "Chào dì, dì khoẻ chứ ạ?" Chị Chea chào bà nồng nhiệt bằng tiếng Anh như thể từ lâu chị đã muốn nói thứ tiếng này. Tôi ngạc nhiên tuy vậy sung sướng  nghe chị nói tiếng Anh.
Người đàn bà lùi lại, luống cuống. Chị Chea nhăn răng ra cười "Comment ca va, Madame? Très bien, oui?"
"Cháu nói như vậy dì không hiểu được" người phụ nữ nhẹ nhàng phàn nàn, lông mày hơi cau lại "Dì mang cho cháu ít gạo này" người đàn bà mở nút buộc khăn, trút vài cân gạo ra.
"Merci beaucoup, Madame" chị Chea cúi mình, vẻ vui thích.
Người đàn bà ngượng ngập, cứ đưa mắt nhìn chị Chea.
Chị bèn giải thích, dịch lại những điều chị vừa nói rồi hỏi bà đang làm gì ở Cambodia.
"Làm gì thì bây giờ cũng vậy thôi" người đàn bà nói nhỏ một cách buồn thảm "Đời sống cứ như địa ngục," bà thì thào. "Ngày nay cháu không thể tin ai được, cháu Chea ạ, kể cả con cái của mình. Con dì cũng vậy, bây giờ chúng là con của Angka rồi. Chúng quay lại chống dì, chúng không nghe lời dì, chỉ nghe Angka nói thôi. Cháu phải cẩn thận đấy. Cháu đừng nói các thứ tiếng ấy nữa".
Tôi cười, quan sát hai người. Tôi hãnh diện vì chị Chea, tự hào thấy chị chào hỏi bằng tiếng Anh và tiếng Pháp. Tôi vui vì thấy vẻ bối rối  của người đàn bà này khi thoạt đầu bà nghe chị Chea nói tiếng Anh. Bà là một phụ nữ nhỏ thó, một trong những "dân mới" thân thiện và hơi nhút nhát.
Sáng hôm sau, người chỉ điểm thường đánh thức chúng tôi dậy để đi làm mỗi buổi sáng đột ngột xuất hiện trước cửa lều chúng tôi. Cái nhìn hung hãn, soi mói của anh ta đầy vẻ đe doạ. "Angka cần tìm sách", anh ta tuyên bố rồi tự động bước vào trong lều của chúng tôi. Tôi bối rối, không tin vào mắt mình nữa.
Chị Chea vẫy tay ra hiệu cho tôi và Map ra khỏi lều trong khi tên chỉ điểm lục lọi kỹ lưỡng áo quần, chăn màn của chúng tôi. Anh ta nhảy ra lên phần trống nơi chúng tôi để đồ nấu ăn. Chúng tôi nghe tiếng soong nồi chạm vào nhau loảng xoảng, rồi anh ta bắt đầu đào bới. Chị Chea đưa mắt nhìn tôi, tôi cũng đưa mắt nhìn lại chị. Map thì nhìn chúng tôi dò hỏi.
Người chỉ điểm ra về. Vết chân bẩn của anh ta còn in dấu trên sàn. Đôi mắt anh ta nhìn chúng tôi một cách dữ tợn khi anh ta mang đi một gói đồ lớn, quá khứ che giấu bấy lâu nay của chúng tôi. Những đồ đạc cá nhân của chị Chea gói trong một tấm giấy nhựa màu lam bẩn. Trong đó có một chiếc cặp da và một chiếc xắc tay. Đó là quà của Pa và Mak thưởng cho chị vì chị học giỏi. Chiếc cặp da chứa những ghi chép các năm học của chị. Cuốn tập môn toán, hai cuốn tỉêu thuyết Cambodia, Pka srapone (Đóa hoa tàn) và Sanaeha (Một mối tình) do bạn chị ở cùng trường viết. Nhét chắc trong các rãnh đối diện với những cuốn sách là bút máy, bút chì màu sặc sỡ, quà của bạn bè chị tặng. Ngoài ra là một cuốn an bum gồm các tấm ảnh chụp chị với bạn bè. Bên cạnh các tấm ảnh là những lời lưu niệm thân tình gởi cho chị, quanh dòng chữ có trang hoàng hình vẽ hoa hồng, hoa dâm bụt, thường xuân…Trong  túi xách là tài liệu gồm giấy tờ khai sinh của chúng tôi và giấy tờ nhà của chúng tôi ở Phnom Penh và Takeo, dấu dưới lớp áo sa tanh nhiều màu của chị Chea. Thế là trong tay người chỉ điểm này là bằng chứng hiển nhiên về cuộc sống trước đây của chúng tôi. Làm thế nào mà hắn biết được rằng chúng tôi có sách? Chị Chea tự hỏi như vậy và bản thân tôi cũng không hiểu nổi sự xuất hiện đột ngột của hắn. có thể hắn đã nghe trộm chúng tôi lúc chị Chea chào hỏi người hàng xóm hôm qua, lúc đó chắc hắn núp trong lều hay trong bụi cây phía trước. Với các tài liệu giấy tờ cũng như sách của chị trong tay Angka, số phận chúng tôi coi như tiêu rồi. Nhưng chị Chea chỉ giữ suy nghĩ đó cho riêng mình. Chị im lặng, ra vẻ lơ đãng, như thể nói cái gì cũng làm cho hoàn cảnh của chúng tôi khốn khó thêm. Tôi phải chuẩn bị tinh thần để đón nhận những hậu quả sắp đến.
Ngày hôm sau lúc đi làm việc, lòng tôi luôn luôn lo lắng mình sẽ mất chị Chea. Tôi cứ tưởng tượng ra cảnh bọn chhlop mang chị đi cải tạo vì tội đã giữ sách, bằng chứng của học vấn. Map thì ở nhà một minh, khóc mãi. Tôi thấy rõ trong trí cảnh nó khóc, ngồi đợi tôi về. Mặt nó sầu thảm, tuyệt vọng y như lúc người ta kéo nó ra khỏi tay Mak để đưa bà đến bệnh viện Choup.
Từ nơi làm việc trở về, tôi chuẩn bị đón nhận tin xấu nhất. Khi về đến lều, tôi thấy một người gầy gò, đầu trọc lóc đang ngồi xổm trước lều, lưng quay lại phía tôi.
Chị Chea? Ô, không! Nước mắt tôi ứa ra. Chị đã tự cạo trọc đầu, trông không giống chính chị chút nào, người chị đã từng rất xinh đẹp của tôi! Sọ chị vàng bủng, đầy xương, cổ chị gầy ngẳng, đen xì. Nhìn từ phía sau, trông chị giống một người già, rất già. Tôi cũng không thể bảo chị là đàn bà hay là đàn ông nữa.
Chị quay lại, ánh mắt chị gặp mắt tôi. Trông chị cương quyết. Chị dứng dậy, tiến lại gần tôi. Bình tĩnh chị nói "Athy, nếu trông chị xấu xí và điên khùng như thế này thì bọn Khmer Đỏ có thể sẽ không làm hại chị".
Chúng tôi vào lục lọi lại mấy tấm ảnh gia đình mà tôi giấu trên mái lều. Để xoá mối quan hệ của Pa với chế độ trước, tôi bèn cắt đi phần thân của ông nơi tấm ảnh cỡ bằng chiếc ví, trong đó ông mặc bộ đồng phục quân cảnh, chỉ giữ lại hình ông từ cổ trở lên. Chị Chea bảo nếu chúng tôi bị thẩm vấn, cứ nói là Pa không bao giờ làm việc cho chính quyền trước, công việc của ông thuộc về lãnh vực y tế. Ông thích giúp đỡ mọi người.
Tối hôm sau trời mát. Vì còn chút ánh sáng nên tôi và chị Chea ra nhổ cỏ trước sân lều, nơi chúng tôi trồng bắp mùa rồi. Chúng tôi có hai dụng cụ, một con dao và một cái xẻng nhỏ cũ kỹ. Đột nhiên một giọng nghiêm khắc sau lưng chúng tôi gọi lớn "Đồng  chí!"
Chúng tôi quay lại, đó là Srouch, đó là người đứng đầu bọn chỉ điểm. Chị Chea đứng lên, lại gần anh ta.
"Angka tìm thấy sách trong nhà đồng chí, đồng chí học đến cấp nào?" Anh ta hỏi.
Chị Chea bước tới đối diện với anh ta, tay cầm con dao. Chị nói một cách hờ hững "Tôi tìm thấy mấy cuốn sách này trên đường đi khi rút khỏi Phnom Penh. Tôi không học nhiều do chiến tranh. Nhưng tôi có biết đọc chút ít. Tại sao đồng chí lại hỏi vậy? Đồng chí có muốn mấy cuốn sách đó không? Cứ giữ lấy, tôi chỉ muốn giữ lại để giải trí khi quá mệt nhọc thôi mà". Chị buông con dao xuống đất như thể vì chị nắm không vững. Chị chầm chậm tiến về phía Srouch, tay cào khắp người chị, mặt mũi, ngực cổ, cả cái đầu trọc – khiến Srouch sợ hãi lùi về phía sau.
"Đủ rồi" anh ta nói, lông mày nhăn tít "Tôi chỉ muốn biết đồng chí có học vấn cao và có từng giữ một chức vụ gì trước đây thôi mà".
Tiếng cuối cùng vừa rời khỏi miệng, anh ta đã vọt biến đi, cũng nhanh như lúc xuất hiện. Chị Chea nhăn răng ra cười với tôi, tôi cũng cười lại với chị.   
Logged
gicungduoc
Thành viên
*
Bài viết: 95


« Trả lời #55 vào lúc: 13 Tháng Mười Một, 2008, 01:47:57 pm »

Vài tuần sau, cũng vào buổi tối, tôi đang nhổ cỏ ở đàng trước còn chị Chea thì tưới nước phía sau lều. Tôi nghe tiếng mấy đứa con gái chuyện  trò, cười đùa đang tiến lại trên lối đi phía sau lều. Trông chúng thật vô tư lự. Lạ, tôi nghĩ. Thông thường các "dân mới" không dám biểu lộ niềm sung sướng như vậy. Khi chúng từ sau rừng bước đến, trông thấy rõ mặt chúng, tôi mới hiểu tại sao chúng không có vẻ sầu khổ, chúng là "dân cũ". Chúng có đời sống tốt hơn chúng tôi cho nên có lý do để mà vui vẻ, tỏ ra hạnh phúc. Khi chúng đến gần lều, chị Chea nhìn chúng, tay cầm cái xô tưới nước. "Các đồng chí đi làm trong rừng về đấy à?" giọng chị dịu dàng hỏi. Đó là cách chị chào đón mọi người.
Đám con gái ngừng nói chuyện, một đứa trong bọn, có lẽ khoảng 13, nhìn kỹ chị Chea. Mắt nó nheo lại, khinh bỉ, rồi nó la lớn "Ê, ông già điên", rồi nó cầm dao huơ về phía chị nhiều lần. Mấy đứa khác bèn tham gia. Tất cả cùng reo lên "Ê ông già điên. Đồ điên điên!" Chúng cùng nhau huơ dao về phía chị Chea, chúng hò la, chế giễu chị nhiều lần. Tôi đăm đăm nhìn theo chúng cho đến khi chúng bỏ đi, khuất sau hàng cây.
Chị Chea đứng chôn chân xuống đất. Mặt chị tràn đầy vẻ tủi nhục. Chị bị tổn thương rất nặng. Chầm chậm, chị để xô nước xuống đất, rồi đi vào lều. Khi đi ngang qua tôi, chị rủa "Đồ con nít mất dạy!"
Đêm sau chị nằm cạnh tôi, chỉ còn hai chúng tôi vì Map đi theo chị Ry đến bệnh viện Preahnethe Preah rồi. Chị co người lại, nằm gần tôi và thì thào vào tai tôi "Đêm hôm qua bang có làm một bài thơ, trong trí thôi. Nghe đây".
"Tôi thương xót cho chính mình. Dù là một người con gái, tôi vẫn bị gọi là ông già
trong xã hội trước, chắc là tôi sẽ rất giận dữ. Nhưng giờ đây thì đó là điều bình thường đối với người phụ nữ.
Tôi thương xót tôi là một người phụ nữ. Chỉ mới hai mươ ba [2], nhưng tôi đã trông như sáu mươi
Răng tôi vẫn còn nguyên, tóc tôi đen bóng, thế mà họ tưởng tôi đã sáu mươi vì tôi cạo đầu trọc lóc
Tôi thương xót tôi vô cùng, sống không cha không mẹ
Không còn hy vọng chăm sóc họ, không còn hy vọng sống gần cha mẹ dấu yêu nữa [3]
Chị Chea ốm vì lên cơn sốt. Người chị nóng hổi, nhiệt độ không hạ xuống mặc dù đã đắp vải nhúng nước lên trán và lên bụng. Chị Ra trở về từ trại lao động đúng lúc để giúp đỡ tôi. Chị Ry và Map cũng đã từ bệnh viện Preahnethe Preah trở về. Anh Than thì vẫn ở xa, tại một trại lao động nào đó. Sự có mặt của hai chị Ra và Ry an ủi tôi đôi chút. Bây giờ tôi không đến nỗi quá sợ khi nghe tiếng chị Chea ú ớ mê sảng trong giấc ngủ, những tiếng đó thường đánh thức tôi dậy vào giữa đêm.
Chị Chea nằm trên  sàn, hơi thở chị cạn. Sau khi cơn sốt dừng, chị thấy đói. Nhưng tất cả những gì chúng tôi có là cháo gạo nấu với khoai. Nhưng mùi của thứ này làm chị thấy buồn nôn. Người chị càng gầy đi nhanh chóng. Bằng một giọng nói nhỏ, khao khát, chị nói chị muốn có thức ăn thật sự. Cơm với thịt bò tẩm xốt, cháo thịt heo, cam…hoặc ít nhất là sữa ấm, ngọt để làm mất đi cái vị đắng chát trong miệng chị. Tôi ước ao mình có thể trở lại thời gian trước đó để mang chị các loại thức ăn mà hồi trước Mak đã mua cho chúng tôi khi một trong chúng tôi bị đau ốm.
Chị Ra và tôi chuồn ra đi đánh cá ở bờ sông phía tây, nằm bên một trảng cỏ, cách Daakpo chừng hai dặm. Chị Ra mang theo lưới mùng, còn tôi là một cái chảo sắt. Trong bầu trời đêm, sao lấp lánh. Một mảnh trăng chiếu sáng đường đi. Dế kêu rỉ rả như điệu hát buồn của cuộc sống chúng tôi. Chúng tôi bước nhanh theo con đường đất ngoằn ngoèo dọc các căn lều của dân mới. Mặt đất lạnh ẩm làm nhẹ tiếng chân của chúng tôi trong đêm.
Khi chúng tôi đến sông, bóng trăng phản chiếu trong mặt nước. Đã một thời gian dài từ lần cuối cùng khi tôi đến đây. Đó là lúc tôi phải dắt bò đi qua sông đến ruộng lúa cùng với mấy đứa trẻ trong đoàn. Lúc đó, em Avy còn sống, và Mak cũng vậy.
Chị Ra đề nghị chúng tôi đánh cá dưới những cành cây toả ra ở phía bên kia của bờ sông. Những cành cây ấy sẽ che chúng tôi khỏi cặp mắt của bọn chỉ đỉêm, chị nghĩ vậy. Tôi đồng ý, nhưng lại sợ băng qua cây cầu tạm đã hư nát dựng lên trên các cây cột tháp cũ còn nhô lên trên mặt nước. Tôi còn nhớ, trên đỉnh những chiếc cột này, người ta lát những phiến gỗ vuông. Như thường lệ, chị Ra giục tôi đi nhanh, như chị làm thế khi chúng tôi lén trốn đi xin Pok thức ăn tại khu 3. Tôi đành phải bò qua cầu sau lưng chị. Tôi không lo âu về bọn chỉ điểm, chỉ lo bị rơi xuống dòng nước đen sì.
Tay chân chúng tôi thay cho mắt. Qua cầu xong, chúng tôi kiếm đường đi xuống dòng sông. Nước lạnh. Chúng tôi đánh cá dọc bờ sông, cạnh các cành cây toả ra. Vì nước ở bờ sông cạn hơn, chị Ra cầm một đầu lưới đứng ra phía giữa sông, còn tôi thì đứng phía gần bờ sông. Thế mà nước cũng lên tới ngực tôi.
Chầm chậm, chúng tôi lội tới, với hai tay cầm lưới dang rộng. Cái chảo thì nổi trước lưới, đánh dấu bởi đầu chóp nhô lên của nó. Kế hoạch của chúng tôi là buông lưới ở chỗ sông dưới bóng im của các cành  cây. Cá thường tụ tập ở đó suốt ngày khi trời nóng. Thở nhẹ, chị Ra bảo tôi đưa cho chị cái chảo. Sau khi đẩy cái chảo qua cho chị Ra, tôi vói tay sờ vào cái vật đen đen giữa lưới để xem chúng tôi bắt được cái gì.
“Ồ, tôm, vô số tôm!” Chị Ra mừng rỡ kêu lên.
Ý tưởng về con tôm làm tâm hồn tôi bay bổng. Tôi không thể đợi cho đến khi đánh cá xong được nữa. Đói quá, chị Ra và tôi ăn ngay một vài con. Tôi chụp lấy ít con trong chảo và đưa luôn vào trong miệng. Chúng vùng vẫy, đuôi chích vào lưỡi tôi. Một số con chỉ bằng ngón tay tôi. Số khác lớn hơn một chút.
Rồi chúng tôi vội vã trở về lều. Khi chị Ra và tôi bước xuyên qua làng, đêm hoàn toàn im vắng. Như  thể chúng tôi là hai linh hồn duy nhất đang lang thang trong đêm. Đến lều, chúng tôi càng cố gắng yên lặng hơn. Khi chúng tôi sắp để chảo và lưới xuống khoảng trống trước lều, thì nghe tiếng chị Chea thều thào trách móc “Chị lo chết được. Tụi em sao đi lâu quá vậy? Chị ngủ không được. Chị cứ nghĩ bọn chhlop đã giết tụi em, thế là hai đứa em gái của chị đã chết  vì chị”. Chị nói nhanh, giọng mạnh hơn một chút.
“Nhưng chị Chea này, có vô số tôm đấy” chị Ra nói nhỏ, phấn khích “chẳng biết được khi nào thì tụi em mới đi đánh cá lại, thế nên em nghĩ mình phải bắt cho được một số kha khá kẻo uổng công. Này, xem tôm này, gần đầy chảo đấy!” chị đưa cái chảo về phía chị Chea. “Tôm nhiều quá hả? Thế mà Athy và em đã ăn nãy giờ rồi đấy. Ngọt lắm”
“Ồ, tôm còn sống đấy” chị Chea kêu lên. Chị Ry cũng phụ hoạ theo. Họ ríu rít bốc tôm bỏ vào miệng.
Trong cái đói và trong bí mật, chúng tôi lặng lẽ ăn trong  bóng tối. Map cũng thức dậy tham gia. Chúng tôi cùng nhau ăn tôm sống, thò tay vào chảo bốc mãi, giống hệt như bốc đậu rang ăn trong rạp chiếu bóng ngày xưa. Trong tâm trí, tôi hình dung Mak hài lòng, vẻ mặt vui tươi của bà khi đặt con tôm vào miệng. Tôi ước chi mẹ có mặt lúc này với chúng tôi.
 
*
Nhưng niềm vui được cùng sống với gia đình của tôi không kéo dài được lâu. Sau hai lần nữa đi ra sông để bắt tôm, Angka lại gọi tôi đưa tôi vào đoàn thiếu nhi đóng ở một ngôi làng xa Daakpo. Tôi ở trong một căn nhà gỗ, chỉ có một phòng trống trơn dựng trên cộg với một bậc thang dốc đứng, cùng với năm mươi đứa trẻ khác. Công việc của chúng tôi là phát các bụi rậm trong rừng để chuẩn bị trồng khoai và ngọc giá. Mặc dù rằng khổ lại bị cách ly khỏi gia đình, tôi cố tìm một điều tích cực trong sự thay đổi này. Tôi hơi dễ chịu khi biết rằng Thore Meta, người phụ nữ khoan dung và hỉêu biết thời tôi còn làm việc đuổi chim ăn lúa, bây giờ là người lãnh đạo đoàn của chúng tôi.
Đã hai tuần rồi kể từ lần cuối cùng tôi thấy chị Chea. Phải làm việc từ rạng sáng cho đến khi tối mịt, tôi kiệt sức, không còn sức lực để nghĩ đến chị nữa. Nhưng khi nghĩ đến thì tôi thấy nhớ chị vô cùng. Biết chị bệnh khi tôi rời nhà đến đây, tôi sợ, rất sợ rằng tôi sẽ mất chị như tôi đã mất Pa, Mak, Avy và Vin. Mặc dù có ăn tôm, cơn sốt của chị vẫn tăng thêm. Nhiệt độ cơ thể của chị vẫn tiếp tục tăng lên, chị càng ngày càng mê sảng. Mỗi ngày sự sống của chị trôi đi dần. Chị cần phải được chăm sóc thuốc men thích hợp chứ không phải chỉ thực phẩm không mà thôi. Tôi không biết làm cách nào cứu được chị. Tôi nghĩ về Pa và chiếc bàn đựng thuốc của ông, nghĩ về các phép thuật có thể chữa lành bệnh cho chị. Tôi muốn mang chị lại thời trước để Pa có thể chữa cho chị.
Tối hôm nay, có một điều gì đó cứ day dứt tôi mãi. Nằm trên sàn nhà, tôi hoàn toàn thức khi tiếng nói trong tôi thúc giục tôi phải đi thăm chị Chea. Nỗi thôi thúc ấy càng lúc càng mạnh khiến tôi bật khóc. Có cái gì bên trong  đang gặm nhấm tôi. Tôi khóc thét lên.
“Đồng chí nào đang khóc đó?” giọng của Thore Meta hỏi, chân bà bước lên bậc thang.
Tôi nhỏm dậy và ngồi nơi góc nhà, nhìn cái bóng của Thore Meta.
“Tại sao lại khóc hở đồng chí Thy?” Bà hỏi, giọng nghiêm khắc.
“Chị cả của cháu bệnh nặng. Cháu muốn đi thăm chị. Cháu muốn thấy chị trước khi chị chết” tôi kiệt sức.
“Đi đi. Đi thăm chị của đồng chí đi rồi trở về ngay. Nếu có ai hỏi, bảo họ rằng tôi cho phép đồng chí đi” nói xong, bóng của Thore Meta liền biến mất trong đêm tối.
Khi tôi về đến lều, thấy còn một ngọn lửa trong hố bếp. Tuy nhiên không có nấu gì, chỉ thấy ngọn lửa không liếm láp bóng tối. Khi đến trước cửa lều, tôi đã chuẩn bị trước cho mình.
“Đững để bang có tội…” việc tôi vào đột ngột làm tiếng yếu ớt của chị Chea dừng lại.
“Chị Chea, Athy về đây này!” Chị Ry báo. Chị quay đầu lại, cả chị Ra và Map cũng vậy.
Mọi người nhích ra, nhường chỗ cho tôi thấy chị Chea. Một thân hình ốm, co quắp nằm trên tấm ván sàn. Hơi thở của chị rất cạn. Tôi đến gần hơn để ngắm chị, đôi mắt chị sâu hoắm, trũng xuống làm tôi giật mình.
“Chị Chea, em đây”, tôi nói nhỏ, muốn chị mở mắt. Đột nhiên mắt chị động đậy dưới mí mắt.   
“Athy ơi” Chị Chea thều thào “nếu bang có làm điều gì không phải làm tổn thương đến em, em hãy tha thứ cho bang, p’yoon srey. Chị xin lỗi. Đừng để cho bang có tội…” Chị nghẹn thở, người co giật.
“Không, chị Chea ơi, chị, chị không làm điều gì sai cả. Chị không bao giờ làm sai…” tôi sụt sịt, cố gắng hết sức để đè nén nước mắt và cơn đau trong lồng ngực.
“P’yoon, tất cả các em, hãy tha thứ cho chị vì những điều chị làm sai. Hãy đừhg để bang tội lỗi…” mắt chị nhắm lại.
“Chị không có lỗi gì cả, chị Chea ạ” Chị Ra nói, giọng dịu dàng.
Chị Ry thì sụt sịt, đưa tay nắm tay chị Chea “Chị không làm điều gì sai cả”.
“Khi chị chết, hãy chôn chị dưới cái cây trước lều mình. Chị muốn chăm sóc tất cả các em, Mak, Pa yurk (mẹ và ba chúng ta) chết đi, không còn ai săn sóc các em. Chị muốn trông nom các em. Ra, em đừng quên nhé, p’yoon”.
Ngày hôm sau ở trong rừng, tôi không nghĩ gì về chị Chea. Về thân thể teo tóp của chị. Về việc chị nài xin tha thứ. Tôi cứ nhìn vào trong khoảng không, tay thì cứ phát cỏ và bụi cây. Tôi cũng quên bẵng mất mấy đứa trẻ làm việc bên cạnh tôi.
“Các đồng chí, đến giờ ăn trưa rồi” tiếng một người đàn ông. Đó là tiếng lè nhè của bọn con trai của người trưởng đoàn.
Bọn trẻ bên đoàn tôi vội vã đi vượt qua tôi để đến lãnh phần ăn. Nhưng ngày hôm nay thì cả việc lấy thức ăn cũng là một công việc chán ngắt đôi với tôi. Tôi ngồi dưới bóng râm, tay đung đưa bát cháo lá đen sì. Tôi nghe tiếng một cậu con trai nói “Không biết đồng chí kia có bao giờ cười khi nhận khoai hoặc cơm không nhỉ?”
Tiếng một người phụ nữ nói “Tôi chưa bao giờ thấy nó cười. Mặt nó lúc nào cũng buồn, chân mày nhăn tít lại.”
Đột nhiên những tiếng nói sống động của chị Chea lại hiện ra trong trí tôi, che mờ đi những gì đang xảy ra trước mắt. Chị nói “Đến thăm chị lại nhé, Athy. Ngày mai nhé, nhớ đừng quên.” Không, tôi không quên. Tôi nói thầm với mình, như thể muốn cho chị cùng nghe.
Khi đoàn lao động của tôi trở về nhà tập thể, Thore Meta cho phép tôi đi thăm chị Chea, dường như bà biết trước tôi sẽ xin phép điều đó. Bà nói “Đi đi, rồi trở về nhé”, giọng đầy vẻ quan tâm.
Logged
gicungduoc
Thành viên
*
Bài viết: 95


« Trả lời #56 vào lúc: 13 Tháng Mười Một, 2008, 01:48:36 pm »

Tôi vọt xuống bậc thang trước nhà tập thể. Gió ấm và ẩm. Buổi chiều biến thành chạng vạng rất nhanh. Khi tôi về đến lều nhà, ngọn lửa dưới nhà vẫn đang cháy, nhưng lần này mờ hơn. Khi lửa gần tắt, tôi nhìn thấy chị Ra, chị Ry và Map nằm gần Chea. Tất cả yên lặng. Tôi không nghe tiếng chị Chea như đêm hôm qua. Tôi cảm thấy mình trở về quá muộn. Tôi đang đứng đây, muốn nghe chị nói, muốn nghe rõ chỗ mà chị nói nửa chừng hôm qua.
“Chị Chea ơi, Athy về đây”, tôi thì thào “Em về thăm chị đây, chị Chea. Bà trưởng đoàn cho phép em về”.
Không có tiếng trả lời. Chị Ra và chị Ry quay nhìn tôi, cả hai cùng khóc. Tiếng khóc của Map phụ hoạ theo. Chị Ry nói chị Chea đã ngừng nói sáng nay. Thế nhưng chị đã yêu cầu tôi về thăm chị kia mà. Hẳn chị còn muốn nói thêm điều gì với tôi. Chị không thể ngừng nói bây giờ. Không thể được.
Tôi khóc, hụt hơi. Đột nhiên tay chị Chea với ra phía tôi. Tôi lùi lại, không kiềm chế nổi, thét lên. Tay chị buông xuống sàn. Cổ họng chị nghẹn lại. Mí mắt chị hơi rung động rồi nhắm lại. Cảnh tượng quá sức chịu đựng của tôi. Tôi rời lều, chạy trở về nhà tập thể.
Suốt đêm hôm đó tôi nằm khóc. Dầu nỗi đau đớn đó là của riêng tôi, nỗi buồn của tôi được cả những đứa trẻ ở công xã chia xẻ. Chúng khóc nho nhỏ. Tiếng sụt sịt của chúng vang lên khắp gian phòng.
Ngày hôm sau, khi làm việc xong, khi tôi đang phơi quần đã giặt xong lên vách trong căn nhà tập thể, thân thể tôi cảm nhận một cái gì đó rất kỳ lạ. Một cảm xúc đột ngột dâng tràn khắp người tôi, tôi choáng váng rồi nước mắt cứ ứa ra. Chị Chea! Tôi hét lên, gọi thầm tên chị. Chị Chea đã chết! Ôi trời, xin hãy phù hộ cho chị với.
Tôi nghe tiếng bước chân lên thanh. Tôi chùi nước mắt và đứng trước mặt tôi là bọn trẻ trong phòng. Nét mặt chúng là tấm gương phản chiếu nỗi buồn của tôi. Rồi Thore Meta nhô lên. Tôi đến trước bà và nói “Cháu muốn…”, tôi nghẹn lời trước khi có thể nói tên chị Chea.
“Đồng chí Thy, chị đồng chí có đến đây và báo cho tôi biết người chị cả của đồng chí đã chết”.
 
*
Ngày bắt đầu. Ánh sáng của buổi rạng đông chiêu xuyên qua kẽ ván trong nhà. Tôi vừa mới ngủ được một chốc, nhưng đã bị đánh thức dậy bởi tiếng gọi của bà Thore Meta – đến giờ làm việc. Trước khi tôi kịp nghĩ gì thì mọi người đã nhỏm dậy và vội vã ra khỏi nhà, biến mất từng người một.
Sau xuất ăn trưa, bà Thore Meta bảo tôi về nhà. Khi bà nói, tôi cảm thấy mắt của mấy đứa  trẻ kia đều nhìn tôi. Quá mệt, không trả lời bà trưởng đoàn nổi, tôi lặng lẽ rời trại.
Khi tôi đến nhà, Kong Houng, ông nội tôi, và một người đàn ông khác đang leo xuống lều, hai tay giữ chắc một vật gì đó dài, quấn vải chặt, đó là chị Chea. Các chị Ra, chị Ry và Map thoe sau, mắt đỏ ngầu, sưng vù. Vì phải mang chị Chea xuống khỏi lều, Kong Houng và người đàn ông kia cần giữ chị cho chắc nên họ buộc chị vào chiếc đòn gánh. Thảm biết mấy, tôi nghĩ, phải mang chị đi như vậy. Không kiểm soát nổi mình nữa, tôi oà khóc.
Khi Kong Houng và người đàn ông đào mộ chị ở gần hàng cây cọ, tôi đưa mắt nhìn xác chị. Trong trí, tôi nói thầm những lời tôi muốn nói với chị “Chị Chea ơi, nếu em sống sót, em sẽ học ngành y. Em muốn giúp đỡ người khác vì em đã không thể giúp chị. Còn nếu em chết trong kiếp này, em sẽ học ngành y ở kiếp sau”.
 
“
Khi đêm xuống, chị Ra nhắc tôi trở lại nhà tâp thể. Trong một lúc, tôi không hiểu chị đang nói gì. Tôi nhìn chị, nhíu mày lại. Chỉ khi chị lập lại từ “nhà tập thể” tôi mới nhớ Thore Meta đã cho phép tôi ở lại với gia đình đêm nay và ngày mai.
Nằm trên sàn, tôi nhớ lại lời chị Chea yêu cầu hôm trước. Tôi nhìn chị Ra và hỏi “Tại sao chị không chôn chị Chea dưới cái cây trước nhà?”
“Chị không muốn chôn chị ấy ở đó, chị sợ lắm” chị Ra trả lời bực bội.
Tôi không thể tin chị Ra lại từ chối cái ý nguyện cuối cùng của chị Chea, tôi bèn nhắc cho chị chính xác từng lời của chị Chea, lời chị Chea van nài chị đừng quên. Chị Ry bèn nhào vào cứu chị Ra, nhắc tôi rằng chị Ra vốn rất sợ ma. Qủa vậy, tôi vốn biết điều đó nhưng chị Chea là chị của chúng tôi mà. Chị sẽ không làm chúng tôi sợ đâu. Chị chỉ muốn ở gần để chăm sóc chúng tôi mà thôi. Tôi cãi lý, nhưng tôi chỉ làm cho chị Ra càng sợ thêm.
Chị Ra ngắt lời tôi “Chị không muốn nói chuyện này nữa. Chị muốn ngủ. Chị chưa chợp mắt kể từ khi chị ấy chết”.
 
“
Tôi thức giấc đột ngột, nhưng rất tỉnh táo. Trời đã tối trước khi tôi thiếp đi, nhưng bây giờ trời sáng và tôi đang ở giữa những đám mây. Nhẹ nhàng, người tôi bay bổng lên xuyên qua các lớp mây, hết lớp này đến lớp khác, đến nơi có lớp mây bằng phẳng như nền nhà toàn mây. Lạ thật, tôi nghĩ, nhưng nó giống như  sàn của một ngôi nhà, một ngôi nhà đặc biệt đứng đầy đàn ông và đàn bà mặc toàn đồ trắng. Lần lượt, mỗi người dang rộng tay đón chào một người khác. Rồi một chiếc thảm màu trắng trải ra trên sàn nhà. Mấy người đàn ông và đàn bà mỉm cười. Tôi nhìn lên một lớp mấy nữa, chợt thấy một phụ nữ đang bước xuống, chị Chea! Lưng chị quay về phía tôi. Những người kia đang đứng xung quanh tôi, rồi bỗng dưng nhỏ lại khuất dần sau đám mây. “Chị Chea! Đợi em với, chị Chea!”
“Athy, Athy ơi. Dậy đi em! Em vừa có một giấc mơ dữ đấy” chị Ry nói, vỗ về tôi.

Chú thích
[1] Tiếng La tinh có nghĩa là vào lúc lâm chung
[2] Tuổi này căn cứ trên cung Hoàng đạo, làm cho tuổi của chị lớn hơn tuổi thật. Theo lịch thông thường thì chị chưa đến hai mươi tuổi
[3] Bài thơ này rất có vần điệu, tiếc là khi dịch sang tiếng Anh, tôi không chuyển được nhịp điệu của nó
Logged
gicungduoc
Thành viên
*
Bài viết: 95


« Trả lời #57 vào lúc: 13 Tháng Mười Một, 2008, 01:56:47 pm »

Hành trình qua cánh đồng chết
________________________________________
CHƯƠNG 13
Chanrithy Him
Hành Trình Qua Cánh Đồng Chết
Dịch giả: Mịch La
CHƯƠNG 13
ĐÁM CƯỚI TẬP THỂ VÀ MỐI TÌNH BỊ CẤM
Vừa khi được ra khỏi trại thì anh Than cũng trở về nhà, quá muộn để chào vĩnh biệt chị Chea. Dù anh chấn động khi nghe tin chị chết, anh không có vẻ buồn lắm. Hoặc có thể anh đã tê liệt như chị Ry lúc Avy chết. Anh không chảy nước mắt hay có lẽ con trai có cách đau buồn khác với con gái.
Vào tuổi 15, anh Than đã được gửi đi nhiều nơi, nhiều đến nỗi tôi không thể nhớ nổi nữa. Có lúc tôi quên mất là tôi từng có một người anh trai. Khi anh về, tôi ngạc nhiên thấy anh, và tôi cũng nhẹ nhõm biết rằng anh vẫn còn sống.
Vào tuổi 13, con người trưởng thành mới nhú ra trong tôi đã nhận ra rằng Cambodia là một quốc gia chứa những người chết đang sống. Chung quanh tôi toàn là những con người lao động quá độ, đói khát và suy dinh dưỡng. Cái chết tràn lan, như một cơn bệnh dịch đổ xuống khắp làng xóm. Thế mà Angka chẳng hề quan tâm, chẳng làm gì để ngăn chặn nạn dịch này. Trong ba năm cuối trong cuộc đời tôi kể từ khi Khmer Đỏ nắm quyền, tôi đã mất đi một nửa gia đình, Pa, Vin, Avy, Mak và chị Chea. Cái chết giống như lá mùa thu, chỉ cần một cơn gió thoảng nhẹ chạm vào là sẵn sàng rơi xuống. Tôi tự hỏi không biết ai trong gia đình mình sẽ là nạn nhân tiếp theo đây.
Vì dân số đang thu nhỏ lại và có tin đồn rằng quân đội Việt Nam đang tiến vào Cambodia, Angka mới thức tỉnh. Trong các cuộc họp, Khmer Đỏ nhấn mạnh đến việc chamren pracheachun, nhu cầu tăng dân số cho Angka. Họ nhấn mạnh thanh niên phải lập gia đình và phải ở lại làng để hoàn thành mục tiêu này. Người nào vẫn còn độc thân sẽ được gởi lên tuyến trước, ra mặt trận.
Một chiều nắng chói, chị Ra trở về sau một cuộc họp bắt buộc. Đứng trước cửa, chị vẫy tay rối rít cho chị Ry, anh Than và tôi khi chúng tôi đang ngồi nhổ cỏ trước lều. Mặt chị sợ hãi và bối rối. Leo lên lều, tôi đã chuẩn bị cho điều xấu nhất.
Chị Ra nói "Chị phải kết hôn…Chị không muốn đến trại lao động…Chị không muốn chết…"
Kết hôn? Tôi chóang váng. Đột nhiên mọi người như rút sâu vào những suy nghĩ riêng của mình, lặng lẽ. Chị Ry, anh Than và tôi không nói một lời, đưa mắt nhìn chị Ra. Lúc đó mặt chị chỉ còn một màu trắng nhợt.
"Chị không muốn đi. Chị không muốn đi lao động" chị thốt lên "Chị không muốn chết, các em hãy hiểu cho chị, chị đã suýt chết nhiều lần rồi"
Trông chị thật là hoảng hốt. Chị sắp kết hôn với một ai đó, thế mà chị sợ hãi và bộ mặt của chúng tôi phản chiếu sự sợ hãi của chị. Chị bảo chúng tôi chị cần quyết định gấp vì Angka sẽ tổ chức ngay một đám cưới tập thể cho những ai ủng hộ việc gia tăng dân số.
"Nếu chị còn ở trong làng, chị sẽ có cơ hội sống sót, chị cũng có thể giúp đỡ, săn sóc các em, nhất là bây giờ chị Chea đã chết rồi".
"Nhưng chị sắp lấy ai vậy?" Chị Ry hỏi.
"Một người đàn ông địa phương" chị Ra buồn bã nói, mắt chị bộc lộ cái nhu cầu gay go là được chúng tôi đồng ý.
"Điều này thì tùy thuộc vào chị thôi" anh Than nói, không dứt khóat lắm. Chị Ry thì thì thầm một tiếng "ừ" nho nhỏ. Còn tôi, tôi giữ riêng suy nghĩ của tôi cho chính mình.
Tôi còn nhớ lần cuối cùng chị Ra chạm trán với cái chết và tôi có thể hiểu tại sao chị không muốn bị gởi đi đến trại lao động nào nữa. Chuyện này xảy ra khi tôi đang đi làm công việc đuổi chim ăn lúa còn chị Ra thì làm việc tại một trại gần khu 3. Chị cùng với các bạn bè, vì quá đói, nên đi liều sang vùng khác để tìm thức ăn. Họ bị bắt và bị buộc tội làm gián điệp cho Việt Nam. Họ bị dẫn đến một nhà giam đông đúc và bẩn thỉu, ở đó họ bị thẩm vấn và tra tấn. Nhưng thật may, người trưởng đoàn đến báo cáo họ bị lạc đường và đến lãnh họ ra.
 
*
Hai ngày sau là đến lễ cưới của chị Ra. Chị bảo tôi theo chị đến lễ cưới, được tổ chức ở làng Poi-Kdurg. Tôi bồn chồn và lo lắng cho chị. Tôi hy vọng người chị lấy không đến nỗi ích kỷ và thô bạo.
Trời nắng chói chang. Chúng tôi che đầu bằng khăn rằn, mặc đồng phục xám đen với quần vải bị co rút lại, lên quá mặt cá.
Chúng tôi bước vội vã, chân trần, trên những con đường đất bụi, không trao đổi với nhau một lời nào. Tôi hy vọng chúng tôi không đến trễ, vì chúng tôi đâu có đồng hồ. Chúng tôi dừng lại nơi một vựa lúa cũ, nơi hai cán bộ đứng ngoài cửa, cổ choàng khăn màu trắng đỏ. Súng đeo vai, họ đứng yên, nghiêm trang.
Chị Ra và tôi liếc mắt nhìn họ trong khi nhiều người đàn ông và đàn bà trong đồng phục màu đen bước vào bên trong vựa lúa. Cuối cùng chị Ra lấy hết can đảm hỏi một người phụ nữ đang sắp sửa bước vào. Bà ta cho biết đây chính là địa điểm tổ chức lễ cưới tập thể.
Bên trong vựa lúa tối om. Tôi nắm lấy áo chị Ra, đi theo phía sau chị như một đứa trẻ bị mù. Bên phía tay phải tôi, những bóng người đen thui, đứng sắp hàng thành dãy dài. Tôi choáng ngợp bởi cảnh tượng có nhiều người đến như vậy. Có đến hàng trăm. Chẳng lẽ tất cả họ đều đến để kết hôn hết cả sao?
"Mọi người lắng nghe gọi tên mình" một giọng đàn ông nghiêm nghị cất lên.
Họ bắt đầu gọi tên. Tôi chỉ thấy ngang qua vựa những bóng đen đứng dậy rồi khuất dần trong bóng tối. Mắt tôi dần dần quen với ánh sáng mặt trời xuyên qua kẽ vách hở như thể tôi cần nó để sống được.
"Athy, mình đi", chị Ra gọi nhỏ, tay đập nhẹ lên vai tôi. Tôi đứng lên, lê bước theo chị Ra, lòng đột nhiên cảm thấy lo lắng.
Ở ngay giữa vựa, chị Ra đứng, tôi ở bên cạnh. Trước chúng tôi là những sáu bóng đen của đàn ông. Cán bộ? Tâm trí tôi nhảy dựng lên khi trông thấy họ. Sao có quá nhiều cán bộ ở đây vậy?
Tay của những người này đang cầm súng, một tay dưới báng, tay kia đỡ lấy nòng súng. Họ tự xếp theo hình dạng một kim tự tháp. Rồi bất thình lình một bóng người đàn ông nhô lên từ phía bên tay trái của tôi. Anh ta đến đứng bên cạnh tôi. Thế là bây giờ tôi đứng giữa anh ta và chị Ra.
Chị Ra bèn nói nhỏ "Athy, đứng lui ra, đứng phía sau chị ấy"
"Đồng chí Ra và đồng chí Na" một giọng nói bật lên.
Trước khi tôi nghe hết câu, hai cán bộ đứng phía trước đã quay người, đối diện với nhau, giương súng lên.
"Khẩu súng sẽ là quan toà khi các đồng chí phản bội nhau hay vi phạm điều luật của Angka".
Trí óc tôi đông cứng lại. Điều tiếp theo mà tôi biết được là chị Ra đến nhà của "chồng" chị, một căn nhà gỗ được dựng trên cột, có cầu thang và hàng rào bao quanh. Phía trước sân, hàng bí leo phủ khắp hàng rào mắt cáo. Những ngọn lá xanh rộng chụm vào nhau lẫn vào đó là những nụ hoa vàng tươi. Cạnh dàn mắt cáo là những luống khoai sọ và ớt. Mọi thứ trông được chăm bón cẩn thận. Cách sống của những người ở đây xem ra vẫn nguyên vẹn, không giống như chúng tôi.
Bên trong, sàn nhà có màu gỗ sồi. Láng mướt, sạch sẽ, không có một hạt bụi. Ván sàn được xếp khít chặt vào nhau, rất khéo. Ở đây cũng đẹp gần bằng nhà của Kong Houng, dù nhỏ hơn nhiều. Tôi nhìn vách tường gỗ. Phòng này vẫn rộng hơn lều của chúng tôi, ít ra là gấp hai. Một giọng phụ nữ vang ra từ phòng bên cạnh "Mày muốn lấy thì cứ lấy, lấy hết đi!" Giọng nói già, thô và cáu kỉnh.
Tiếng bước chân làm rung mặt sàn gỗ, Na, chồng chị Ra, xuất hiện, tay ôm ba cái gối. Na cao bằng chị Ra, nếu so sánh với một số người đàn ông khác trong làng, trông anh vừa vặn với chiếc cằm nhô ra. Anh trông khoẻ khoắn và lành mạnh. Khác với những gì tôi đã tưởng tượng – xấu xí và gầy trơ xương. Anh ít nói và có vẻ dễ thương. Vì vậy bây giờ tôi cảm thấy dễ chịu, không còn thấy lo âu cho chị Ra như trước đây.
"Đây này" anh nói, giọng anh nhỏ nhẹ, mắt anh nhìn chị Ra. Chị Ra đưa tay đón lấy, mắt nhìn xuống gối.
Gối có bọc đàng hoàng? Tôi mở tròn mắt. Tôi chưa bao giờ thấy một cái gối kể từ khi gia đình tôi phải rời khỏi làng Year Piar.
Chị Ra đặt một chiếc gối gần cửa trước và đặt một cái khác ở gần đó. Còn cái thứ ba thì chị đặt xa ra, giữa căn phòng, gần phòng nơi phát ra tiếng bà già.
"Đó là gối của anh", chị chỉ vào chiếc gối ở giữa nhà. Rồui chị nằm xuống trên chiếc gối ở gần cửa ra vào, lưng quay vê chúng tôi.
Tôi đứng đó, bối rối  liếc nhìn anh ta. Anh chẳng nói gì. Tôi bèn nằm xuống bên cạnh chị Ra, quay mặt vào lưng chị.
Thế là chị Ra đem tôi theo ngủ với chị trong nhiều đêm liền. Phần lớn thời gian chị ở đây chị không để ý đến anh Na. Khi anh nói với chị, chị gắt gỏng, tức giận. Anh bối rối, chán nản.       
Sau đó phần lớn thời gian chị ở cùng nhà với chị Ry, anh Than, Map và tôi. Đôi khi chị còn đem từ nhà Na thức ăn về cho chúng tôi. Cơm và khoai. Dù không nhiều nhưng tôi cũng mừng. Dường như chị cố gắng đóng vai trò người mẹ vì chị Chea đã chết. Nhưng tôi lại sợ rằng chị đặt mình vào tình thế nguy hiểm bởi vì chị có bổn phận với Angka là ở với Na. Khi chị ở nhà suốt đêm với chúng tôi, tôi lại nhớ câu nói nghiêm khắc của người đàn ông trong vựa lúa tối đen.
"khẩu súng sẽ là quan toà khi các đồng chí phản bội nhau hay vi phạm luật của Angka".
Một hôm chị Ra và tôi trở về nhà Na.Khi bước lên thang chúng tôi chợt nghe tiếng rống giận dữ cất lên từ một giọng nói lè nhè "Vợ con kiểu gì vậy? Không bây giờ ở nhà với chồng? Cứ đến rồi đi tuỳ ý vậy hả?"
Chúng tôi nhìn lui, bên cạnh giàn bí leo là mẹ của Na, một người đàn bà thấp, tóc xám, giận dữ. Chị Ra trông đau lòng, tiếp tục bước lên thang, chị thở dài thườn thượt như đang cố trút bỏ lời trách móc.
Tôi bước lên theo, nhìn sau lưng chị, tôi thấy chị đã thay đổi biết chừng nào. Giận dữ, thù hận. Nhưng dù cho chị như thế, Na vẫn không bao giờ lớn tiếng với chị. Khuôn mặt anh chỉ biểu lộ niềm thất vọng chứ không giận dữ.
Nhìn thái độ căm ghét của chị Ra đối với Na, tôi khó nghĩ rằng Angka sẽ thành công trong mục tiêu gia tăng dân số của mình. Một cuộc hôn nhân được tổ chức theo một cách hung bạo như vậy sẽ không bao giờ ra hoa kết trái. Mặc dù còn nhỏ, tôi cũng có thể hình dung ra rằng các em bé sẽ không thể sinh ra được bởi những người đàn ông và đàn bà chỉ còn xương với da, những người mà hình thức bên ngoài nhắc cho ta nhớ đến những người chết đang sống. Nhiều tháng trước, Angka có thể tiết kiệm được một đứa bé cùng với cha mẹ của nó. Thay vì vậy, Angka đã giết chết họ.
 
*
Trời đã gần trưa, có lẽ vào tháng 11 năm 1975, khi Mak, các anh chị tôi và tôi cùng với hàng trăm người khác đến một nơi gần bệnh viện Preahnethe Preah. Đây là một khoảng đất rộng, chung quanh có cây cối to lớn che bớt nắng mặt trời. Đàn ông, đàn bà, trẻ em tụ tập nơi đây để chứng kiến cuộc xử án hai người mà theo Angka bảo, tội của họ là yêu nhau mà không được Angka cho phép. Như vậy họ là kẻ thù của tất cả chúng ta. "Khi Angka bắt được kẻ thù", một lãnh tụ đã tuyên bố trong cuộc họp bắt buộc trước đó, "thì Angka không giữ chúng, Angka sẽ huỷ diệt chúng".
Lần lượt, từng đứa trẻ được chọn trong đám đông để đứng sát hai cây cột để chúng có thể thấy Angka sẽ làm gì. Trông như chúng tôi có vẻ sắp được xem một vở kịch, một buổi trình diễn giải trí.
Phía bên tay phải của hai cái cột là ba chiếc bàn gỗ kê sát mép vào nhau làm thành một cái bàn dài. Sau bàn là các cán bộ Khmer Đỏ mặc đồ đen, tuổi chừng bốn mươi đến năm mươi, những người tôi chưa từng thấy bao giờ. Cổ họ, như thường lệ, quấn khăn sọc đỏ và trắng, hoặc xanh và trắng phủ ra ngoài áo. Họ được các cán bộ khác đeo súng trường đứng phía sau bảo vệ kỹ lưỡng. Mặt của các cán bộ bảo vệ rất nghiêm nghị, họ đứng yên, thẳng tắp như các cây cột kia. Một vài cán bộ Khmer Đỏ ngồi ở bàn nói chuyện nho nhỏ với nhau, đến lúc đó tôi mới nhận thấy có mấy cái mai, cuốc và xẻng dựng dựa vào cây cột chôn rất chắc trên đất.
Một chiếc xe một mã lực dừng lại. Hai người cán bộ rảo bước lại cạnh xe. Một người đàn ông bị bịt mắt, tay trói quặt ra sau lưng, được hướng dẫn bước ra khỏi xe. Sau lưng anh là một người phụ nữ cũng bị bịt mắt được một cán bộ khác giúp bước ra. Tay của cô cũng bị trói sau lưng. Bụng cô nhô ra. Lập tức cô bị trói vào cái cột gần chiếc xe. Người ta trói cánh tay trước, rồi đến mắt cá, bằng một sợi dây to cỡ bằng nửa cổ tay tôi.
Một phụ nữ trong đám đông thì thào, giọng hoảng hốt "Trời ơi, cô ấy đang có bầu!" Cánh tay của những đàn ông bị bịt mắt cũng bị buộc vào cột. Anh bình tĩnh đứng thẳng khi người ta buộc dây quanh mắt cá trói vào chân cột. Mặc quần dài và áo sơ mi bằng vải flanen, cánh tay áo xắn lên khuỷu, trông anh có vẻ thông minh, có học. Anh người cao. Dáng người anh cho thấy anh là một trong  số "dân thành thị". Giống như anh, người phụ nữ có thai trông lịch sự, có văn hoá từ cách ăn mặc. Trông cô khá điềm tĩnh. Chiếc áo sơ mi tay ngắn để lộ hai cánh tay nhẵn nhụi, không chai sần. Khuôn mặt một thời thanh lịch của cô cho thấy cô có một cuộc sống thật tốt đẹp trước đây.
Mỗi người cán bộ Khmer Đỏ ngồi ở bàn lần lượt đứng dậy phát biểu. Giọng họ dữ dằn, đầy thù hận khi họ kết tội cặp tình nhân "Những đồng chí này đã phản bôi Angka. Chúng đã đưa ra một ví dụ xấu. Vì thế chúng phải bị loại trừ. Angka phải xoá đi loại người như thế này".
Rồi một cán bộ Khmer Đỏ khác đột ngột đứng dậy khỏi bàn, kéo ghế tránh khỏi lối đi, bước ra phía trước bàn, nhặt cái cuốc lên, thử sức nặng của nó. Rồi hắn để cuốc xuống, nhấc một cái mai dài màu bạc lên, huơ huơ để thử sức nặng của nó. Xong hắn bước tới chỗ người đàn ông bị bịt mắt.
"Cúi đầu mày xuống!" hắn ra lệnh, rồi nhấc cái mai lên cao.
Người đàn ông vâng lời, cúi đầu xuống. Người Khmer Đỏ đánh xuống gáy anh nhiều lần. Thân hình anh sụm, đầu gối khuỵu xuống, một âm thanh nghèn nghẹn phát ra khỏi miệng. Người yêu của anh quay đầu đi chỗ khác. Kẻ hành quyết lại nện xuống gáy nữa. Thân thể anh bây giờ rũ ra. Kẻ hành quyết bèn chạy sang chỗ người phụ nữ mang thai "Bây giờ tới phiên mày cúi đầu xuống!"
Cô cúi đầu xuống. Chiếc mai giáng mạnh xuống gáy cô. Thân thể cô vặn đi. Không một âm thanh nào phát ra từ miệng cô. Chỉ cần hai cú đánh là cô đã chết. Kẻ hành hình bước đi, đưa tay chùi mồ hôi trên trán. Đột nhiên người ta nghe thấy tiếng thở nghẹn dài, bụng người đàn bà chuyển động, co giật. Mọi người quay mặt không dám nhìn. Có ai đó thì thào rằng đứa bé đang chết.

Có tiếng kêu rú từ đám đông. Kẻ hành quyết quay trở lại đánh vào thân thể người đàn bà cho đến khi cơn vùng vẫy trong bụng cô ngừng hẳn lại, yên lặng như cây cột bên cạnh.
 
                                       *
Đó là một bài học khủng khiếp. Từ đó tôi đã biết cái khía cạnh tăm tối nhất của Khmer Đỏ. Vì thế tôi sợ cho chị Ra vì chị tránh mặt Na, đó là một hành động thách thức chống lại Angka. Tôi sợ cuộc nổi loạn thầm lặng của chị sẽ bắt chị trả một cái giá nặng nề.
« Sửa lần cuối: 13 Tháng Mười Một, 2008, 02:04:20 pm gửi bởi gicungduoc » Logged
gicungduoc
Thành viên
*
Bài viết: 95


« Trả lời #58 vào lúc: 13 Tháng Mười Một, 2008, 02:05:29 pm »

Hành trình qua cánh đồng chết
________________________________________
CHƯƠNG 14
Chanrithy Him
Hành Trình Qua Cánh Đồng Chết
Dịch giả: Mịch La
CHƯƠNG 14
KHI MẢNH CHAI CHÌM XUỐNG
Cuối năm 1978, lúc đó là vào mùa gặt lúa và cũng là thời gian hy vọng có được khẩu phần ăn khá hơn. Đó cũng là lúc Angka lại đòi tôi, đưa tôi trở lại vào đoàn lao động thiếu nhi. May mắn thay, tôi được trở lại với trưởng đoàn Thore Meta. Từ sáng sớm bà dẫn chúng tôi ra ruộng lúa, rồi mang chúng tôi về lại trước khi mặt trời lặn.
Vào một buổi sáng trời trong và mát, đứng giữa đồng lúa vàng cuộn sóng nằm cạnh hồ nước, tôi hì hục gặt lúa, gập người xuống giữa những đứa  trẻ khác. Một tay vơ lấy thân lúa, tay kia cắt xoẹt bằng cái liềm. Đột nhiên có tiếng nói nhỏ "Coi kìa, có hai chhlop đang đến đó!"
Tôi thấy hai tên chỉ điểm bước nhanh về phía Thore Meta, lúc đó đang gặt phía trước chúng tôi. Một tên tiến lại gần, thì thào vào tai bà. Bà lùi lại, hoảng hốt. Người kia nói thêm điều gì đó. Thore Meta liếc nhìn về phía chúng tôi rồi nhìn về phía các ngôi làng xa xa. Bà nói gì đó với người trưởng nhóm, rồi vội vã chạy đi với hai tên chỉ điểm, rẽ nhanh qua ruộng lúa. Họ leo lên một chiếc thuyền nhỏ giống như canô đang đợi sẵn và bắt đầu chèo. Tôi nhìn theo bà cho đến khi chiếc thuyền còn lại nhỏ xíu trong khoảng xa. Tôi tự hỏi có phải điều chị Chea tiên đoán đã xảy ra: đó là các mảnh chai đang chìm xuống?
"Trở lại làm việc đi!" người trưởng nhóm nhỏ giọng ra lệnh, giơ tay vẫy ra hiệu, chúng tôi tiếp tục làm công việc.
"Xem, xem kìa, có người đang đến!" một cô bé la lên, cầm liềm chỉ về phía những người đang vượt qua hồ.
Vụ gặt dừng lại. Mọi người chạy ùa về phía những người phụ nữ vừa băng qua hồ.
"Họ bỏ chạy rồi,tất cả họ…họ đều bỏ chạy rồi…" Một người phụ nữ lắp bắp hụt hơi. Hai người kia đứng thở, vừa mỉm cười với nhau.
"Mae, mae (mẹ)…" một cô gái chạy nhào vào vòng tay người đàn bà.
Họ ôm lấy nhau, nhảy nhót, kêu lên những tiếng nghèn nghẹn giữa cánh đồng. Lần đầu tiên sau một khoảng thời gian dài, tôi thấy hạnh phúc trở lại. Tất cả chúng tôi mỉm cười khi nghĩ rằng không còn Khmer Đỏ nữa. Tim tôi nhảy múa trong lồng ngực, trí tôi hát lên tiếng "tự do" nhiều lần. Nhiều năm trước, tôi chỉ biết cách phát âm của từ này, nhưng bây giờ, vào tuổi 13, tôi mới thật sự hiểu có tự do nghĩa là gì, và đã bị tước bỏ nó khỏi mình như thế nào.
Sức nặng đè lên linh hồn, thể xác tôi bỗng tự nhiên bay lên. Phong cảnh chung quanh tôi đột ngột thay đổi – ruộng lúa vàng, những đám mây, những khoảng trời xanh bỗng đẹp lạ lùng.
Chúng tôi chạy đi báo tin cho những người còn lại của gia đình, đua nhau chạy ngang qua hồ. Chúng tôi cười khúc khích khi té nước vào nhau. Tiếng cười thật dễ chịu, tôi thấy mình trở lại là một đứa trẻ. Đứa bé gái trong tôi trở lại, và sự tò mò trong  tôi nổi dậy, có phải họ thật sự bỏ chạy rồi chăng? Tôi muốn biết.
Từ làng Poik Durng đến Daakpo tôi đều chạy, vừa cố kiểm tra ở các nơi khác nhau để xem vẫn còn dấu hiệu có Khmer Đỏ không. Nhưng mọi nơi ấy đều có vẻ bỏ không, nơi ở của bọn trẻ, các nhà tập thể, nhà xay lúa ở Daakpo. Ở đây, thúng mủng vứt lung tung trên mặt đất. Chiếc cửa gỗ vào nhà kho thóc bị phá vỡ, mở toang. Tất cả gạo đã xay xong đều biến mất. Các ngôi làng đều lặng yên như khi chúng tôi được mang đến đây ba năm về trước. Khi đó, chúng tôi có chín người. Nhưng bây giờ chỉ còn có năm. Chị Ra – hai mươi, chị Ry – mười bảy, anh Than – mười lăm, tôi – mười ba và Map – bốn. Còn bốn người kia – Mak, chị Chea, Avy và Vin – tất cả đều đã chết. Như Pa. Ra đi. Vĩnh viễn.
Logged
gicungduoc
Thành viên
*
Bài viết: 95


« Trả lời #59 vào lúc: 13 Tháng Mười Một, 2008, 02:06:24 pm »

Hành trình qua cánh đồng chết
________________________________________
CHƯƠNG 15
Chanrithy Him
Hành Trình Qua Cánh Đồng Chết
Dịch giả: Mịch La
CHƯƠNG 15
MỘT LÁ THƯ
Mặt trời chiếu sáng, bầu trời xanh ngắt. Khmer Đỏ đã chạy rồi. Trên con đường đất, các gia đình lũ lượt kéo đi như một dòng sông. Người ta bỏ lại cái nơi đã từng xiềng xích họ. Đi theo dòng người đó là gia đình chúng tôi. Chúng tôi là những đồ thừa mà "con ma" không muốn nên vất lại, như Mak trước đây thường nói. Vào ngày này, mọi người từ lớn đến nhỏ, từ đàn ông đến đàn bà đều có vẻ nhẹ nhõm hơn. Trên khuôn mặt vàng bủng, lõm sâu và cháy nắng mặt trời của họ, tôi thấy niềm hy vọng. Mắt họ loé sáng. Một vài nụ cười xuất hiện từ phía sau những khuôn mặt mệt nhọc. Tôi liếc nhìn những người đang cười. Tôi tự hỏi họ có trải qua cái cảm giác lớn lao của tự do mà tôi cảm thấy, cũng như cái xúc cảm không thể diễn tả đang bùng lên trong tôi không. Quả là một niềm vui phấn chấn vừa mới được phát hiện.
Một người đàn bà thấp, chắc nịch, nhăn răng cười mặc dù bà mang chiếc đòn gánh cong vòng xuống vì chất đồ quá nặng. Đôi chân trần của bà bước đi như gió, như thể được đẩy đi bằng chính tình cảm bên trong của bà. Cũng giống như nhiều người chúng tôi, mấy đứa con gái của bà đội soong, nồi, thức ăn trên đầu, còn vai thì mang đòn gánh. Khi chúng tôi rời Phnom Penh bốn năm trước, quang cảnh khác hẳn. Lúc đó có xe hơi, xe gắn máy, xe đạp, trên đó chúng tôi cẩn thận xếp áo quần và thực phẩm, và trẻ em cũng ngồi trên đó. Còn bây giờ thì mọi người đều đi bộ, chân trần, lòng bàn chân chai cứng, nứt nẻ.
"Tất cả mấy cháu đi đâu?" người đàn bà hỏi, mỉm cười với chúng tôi.
"Cháu cũng không biết, thưa ming (dì)" tôi trả lời, cười lại với bà, rồi đưa mắt nhìn chị Ra tìm câu trả lời. Nhưng tôi chỉ nghe thấy tiếng vọng của tôi mà thôi.
"Cháu cũng không biết, thưa dì" chị Ra nói, môi thoáng nụ cười mơ hồ với người đàn bà "Chúng cháu đi theo mọi người".
"Thế là chúng ta cứ đi theo người khác. Đi đến chỗ nào có thức ăn", bà nở nụ cười rạng rỡ.
 
*
Chiều muộn, chúng tôi dừng chân ở một ngôi làng để ăn và nghỉ ngơi, rồi sau đó đi kiếm thêm thức ăn dự trữ. Trong cánh đồng bên cạnh đường lộ, chúng tôi mót lúa, những hạt lúa rơi vãi mà thợ gặt bỏ lại. Chúng tôi theo đám người đã có mặt sẵn tại đó, bao và xô của họ đã được một nửa lúa hoặc gần đầy. Còn chúng tôi thì chỉ vừa mới bắt đầu.
Khi đi xuyên qua ruộng lúa để mót lúa, chúng tôi chợt thấy mấy người cô của mình cũng đang mót lúa, họ đang đưa tay tuốt các hạt lúa khỏi thân cây. Họ là em gái của Pa, cô Chin và cô Leng. Mặc dù bây giờ không làm việc dưới sự kiểm sóat của Khmer Đỏ nữa, các cô cũng không có thời gian để nói chuyện. Họ đều bận rộn. Bộ mặt trũng sâu của họ chăm chú điều khiển đôi bàn tay. Trông họ như những người lạ đôi với chúng tôi. Phải mất một lúc tôi mới nhận ra được họ là bà con thân thích. Ảnh hưởng của việc Khmer Đỏ xoá bỏ tình cảm gia đình dần dần mới trôi khỏi trí óc tôi và rồi ý thức về liên hệ gia đình mới dần dần trở lại thay thế vào chỗ đó.
Tay vẫn bận rộn, cô Chin nhăn mày, hất đầu ra dấu cho chúng tôi biết con cái cô đang ở cánh đồng kế bên. Rồi sau đó cô và cô Leng hỏi chúng tôi sau khi tạm trú ở làng này rồi sẽ đi đâu. Chị Ra trả lời chị không biết. Các cô bèn giục chúng tôi trở về Phnom Penh cùng với họ. Chị Ra đồng ý, trông có vẻ nhẹ nhõm.
Nhưng trước khi chúng tôi kịp xay xát đám lúa mót xong, cô Leng đã quyết định rằng cô, gia đình cô Chin, cô Cheng, Kong Houng và đứa con duy nhất còn sống sót của chú Surg phải đi và rời nơi đây trước. Cô dự định là chúng tôi sẽ đi theo họ khi nào xây xát lúa xong. Chị Ra yêu cầu họ đợi còn chúng tôi sẽ làm nhanh lên cho kịp nhưng cô Leng chỉ nói rằng họ sẽ đi chậm, như thế chúng tôi sẽ bắt kịp ở dọc đường. Chị Ra không nói gì nữa, mặt chị đỏ bừng lên khi tay vẫn mạnh mẽ tuốt lúa.
Chúng tôi khởi hành, không thấy dấu tích gì của các cô, các anh em họ hay Kong Houng cả. Tôi ao ước chúng tôi bằng cách nào đó gặp được các anh chị em còn lại của Mak, nhưng cũng không có dấu vết nào của họ. có vẻ như cả đại gia đình của chúng tôi đã bỏ lều chạy đi ngay khi bọn Khmer Đỏ biến mất. Thế là chúng tôi chỉ còn lại gia đình rêing của mình, năm anh chị em ở trên đường không có điểm đến. Chúng tôi chỉ còn biết trôi theo đoàn người, đi đến bất cứ nơi đâu có thể kiếm được thức ăn. Khi đêm xuống, chúng tôi quyết định nghỉ lại trong một ngôi làng gọi là Korkpongro, ngụ tại căn phòng trống của một căn nhà bằng gỗ bỏ hoang, như nhiều gia đình khác cùng đi với chúng tôi.
Sau đó trong đêm khuya, chúng tôi nằm ngủ cạnh nhau. Tôi nhanh chóng trôi vào giấc ngủ như thể có ai bỏ bùa mê vào người tôi, và chỉ thức giấc khi nghe thấy tiếng súng từ xa vọng lại, âm thanh quen thuộc chúng tôi đã từng biết quá rõ. Tiếng nổ rỗng, đục của trọng pháo cùng với tiếng khàn khàn của súng trường.
Tiếng trầm trầm của một người đàn ông vang lên trong đêm yên lặng "Cái gì thế?"
Tôi nhỏm dậy, cả anh chị tôi cũng thế.
"Cái gì, cái gì xảy ra vậy?" Chị Ra bật lên, hoảng hốt.
Những người nằm gần đó cũng thức giấc. một người đàn bà hỏi câu hỏi mà chúng tôi đều muốn biết câu trả lời. Ai đang đánh nhau? Khmer Đỏ? Người đàn ông lúc nãy nói, họ không ngạc nhiên nếu tiếng súng đó thuộc về Khmer Đỏ. Chỉ lúc đó tôi mới nhận thức được rằng chúng tôi chưa an toàn chút nào.
Sáng ngày hôm sau, mọi người trong gia đình tôi tiếp tục đi mót lúa, kể cả Map mới bốn tuổi, cũng đi giúp chị nó tìm các đám lúa còn sót dưới ánh nắng mặt trời nóng bỏng. Đi kiếm thức ăn thừa trên những cánh đồng vừa mới gặt xong, tôi không nghĩ đến gì ngoại trừ đến những khóm lúa vàng. Khi đêm đến, tiếng súng lại gầm lên từ xa xa. Tiếng nổ nghe lớn hơn đêm trước, như thể cuộc chiến chỉ cách đây một ngôi làng. Ba ngày kế tiếp nó vẫn tiếp tục, khiến chúng tôi thấy mình bị kẹt. Lo sợ, chúng tôi giãi bày với các gia đình khác ở gần chúng tôi. May thay, họ bảo chúng tôi có một lễ cầu kinh gần đó và giục chúng tôi tham dự.
Trên một sân khấu giống như boong tàu có mái che bằng gỗ, ánh nến soi sáng sàn gỗ và ảnh Đức Phật ngồi trong rừng. Sau hàng nến là các ông già bà già ngồi, đầu cạo nhẵn. Những người lớn tuổi này hẳn trước đây là ni cô và tăng lữ. Lòng kính sợ, tôi ngạc nhiên và dễ chịu khi thấy lai ánh nến sau chừng ấy năm, nhiều đàn ông, phụ nữ và trẻ em đã ngồi chung quanh nơi này, chân gấp lại gọn gàng trên mặt đât cát. Người lớn trong chúng tôi cất tiếng tụng kinh Phật. Những người biết kinh cất tiếng tụng theo, những lời kinh truyền thống bằng tiếng Pali. Lòng bàn tay họ ép vào nhau, đưa lên ngang cằm. Đúng là một buổi cầu nguyện thích hợp với cái đêm đáng sợ này.
Dầu đi cầu nguyện ban đêm, tâm hồn chúng tôi vẫn không bình yên được. Âm thanh của chiến tranh vẫn mạnh mẽ. Chúng tôi đàng phải rời Korkpongro. Nhiều gia đình cũng ra đi, mặc dù vẫn còn lúa để mót. Đã thu được một ít lương thực, chúng tôi quyết định đặt sự an toàn của mình lên trước hết.
Chúng tôi đến làng kế cận – Chhnoel, trước khi đêm xuống. Tại đây, đã có người đến dựng trại dọc theo ngã ba đường, cạnh các túp lều và các mái nhà tranh tại đó, dưới hàng cây dừa, xoài và cọ. Chỗ trú ẩn của họ thích hợp, làm bằng chăn màn, xà rông, vải dầu. Mọi người đều mệt mỏi, nhất là Map. Tôi biết nó đói, nhưng nó không khóc đòi ăn khi chúng tôi đang tìm chỗ cắm lều trên một ruộng lúa khô.
Ngày hôm sau, được các bà hàng xóm báo cho biết ở đây rất khó mót được lúa, phải đi bộ rất xa, chúng tôi quyết định để Map ở lại trong lều hoặc chơi bên ngoài với mấy đứa trẻ khác. Khi chúng tôi ra đi cùng với các phụ nữ, Map khóc, mắt nhìn theo chúng tôi. Phải sau vài ngày, Map mới làm quen được với sự vắng mặt suốt ngày của chúng tôi, và chịu chơi với những đứa  trẻ khác.
Sống cạnh lều chúng tôi là gia đình còn lại của bang Meng. Vốn chị và chị Ra cùng làm việc với nhau ở trại lao động. Chị, cô chị, các em gái và một đứa em trai nhỏ trước đây từng sống ở Daakpo. Chị tuổi chừng hai mươi, tuổi chị Ra, người thấp, mảnh khảnh, tóc đen thẳng dài đến ngang cằm. Cặp mắt và nét mặt nhẹ nhàng của chị cho tôi chị có dòng máu Trung Hoa. Chị có vẻ thông minh với cách xử sự điềm tĩnh của mình. Chị làm cho tôi nhớ đến chị Chea. Chỉ sau vài ngày, hai gia đình chúng tôi đã gần gũi, thân thiết nhau. Cả hai gia đình chúng tôi đều mất cha mẹ và đang học cách để tự bảo vệ mình.
Lúa càng trở nên hiếm hoi. Đã đến một tuần kể từ khi chúng tôi đến đây. Ngày hôm nay chúng tôi chỉ mót được đủ cho một bữa ăn trong ngày. Khi chúng tôi trở về, có tin chờ chúng tôi – một lá thư từ bon Khmer Đỏ bảo chúng tôi phải rời khỏi Chhnoel.
Có một đôi vợ chồng được trao một lá thư và bảo đọc cho mọi người nghe. Trong thư, người phụ nữ bảo, chúng cảnh cáo chúng tôi phải rời khỏi làng này. Nếu chúng tìm thấy chúng tôi ở đây, chúng sẽ không tha cho một ai. Chúng sẽ giết hết mọi người, kể cả đứa bé đang nằm trong nôi.
"Ồ, tôi không nghĩ chúng dám đến đây đâu" một người đàn ông nói, tay vung lên như để gạt đi sự sợ hãi "Chắc chúng nghĩ bộ đội Việt Nam ở đây và sợ không dám đến. Chúng chỉ muốn dọa chúng ta mà thôi. Đừng sợ".
Thế là ngày hôm sau chúng tôi lại đi mót lúa, để Map một mình ở lại lều. vì lúa còn sót lại rất hiếm hoi, nên chúng tôi phải chia ra, chị Ra và tôi đi về hướng bắc cùng với một nhóm phụ nữ trong khi chị Ry và anh Than thì cùng với những người khác đi về phía nam.
Ra và tôi làm việc rất nhanh, cố lấy được nhiều lúa người ta bỏ lại chừng nào hay chừng nấy. Nhưng bỗng từ xa tôi nghe một âm thanh trầm, đục. Tôi ngừng tay.
"Chị Ra, có tiếng súng! Chị có nghe không?" tôi nói lớn.
"Dì ơi, có tiếng súng! Từ phía này nè!" Chị Ra kêu lên, đưa tay chỉ. Chị ra hiệu cho những người phụ nữ gần đó đến chỗ chị.
"Ồ, tiếng súng ở xa mà" một người nói, cố gạt bỏ mọi lo âu của  chúng tôi "Tôi còn ở lại một lúc nữa". Bà ta quay lại làm việc. Tôi thì tim đập thình thịch. Tôi muốn bỏ về. Tiếng súng nghe lớn hơn. Tôi quay sang chờ chị Ra quyết định, nhưng chị lại nhìn mấy người đàn bà kia.
"Tôi cũng ở lại thêm một lúc nữa" một người nói, và mấy người kia đồng tình, trong đó có cả chị tôi.
Một tiếng nổ dội lại nghe gần hơn trước. Tôi gào lên "Chị Ra! Đi đi! Chị không nghe thấy sao? Tiếng nổ ngày càng lớn hơn đó!"
"Nhưng mọi người vẫn còn…" Chị chưa nói xong thì người đàn bà bên cạnh chúng tôi đã bỏ chạy.
Bà vừa chạy vừa la lớn "Tôi đi đây. Tôi không ở lại đâu, mấy đứa con tôi…"
Chị Ra nắm lấy bao lúa và cái thúng rồi chạy đi. Tôi lại theo sau chị, cùng với những người phụ nữ khác.
Những tiếng nổ vang dội càng ngày càng gần hơn về phía làng Chhnoel. Một trái nổ rơi gần bên chúng tôi, mọi người đều la thất thanh. Tôi thầm trách móc những người phụ nữ kia, và rất giận chị Ra vì chị đã không nghe tôi.
Ngang qua cánh đồng lúa gần Chhnoel, trẻ con, đàn bà, đàn ông đều chạy tán loạn, giống như một đàn kiến vỡ tổ. Các bà mẹ tay ẵm con, tay kia kéo sát những đứa còn lại vào bên người trong khi những kẻ khác đội đồ đạc lên đầu mà chạy. Một số người kéo tay trẻ con chạy băng băng. Những người khác mang thức ăn trên đòn gánh. Trẻ con chạy theo sau, lê lết trong đám đông. Trong khoảnh khắc ấy tôi chợt nhớ đến Map, bèn gào to với chị Ra.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM