Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 11:10:24 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Vọng cổ về người lính  (Đọc 72001 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
tuaans
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 3774


« Trả lời #20 vào lúc: 24 Tháng Mười Một, 2008, 04:48:42 pm »

(Sưu tầm trên mạng)

Để nghe 1 bài vọng cổ

Vọng cổ

Đàn và ca vọng cổ là điệu phổ thông và được thưởng thức nhất ở miền Nam sau này cho đến nổi mà đối với một số người Bắc mới vào Nam và có một số người Nam thế hệ trẻ, cổ nhạc miền Nam là vọng cổ và chỉ có vọng cổ. Kỳ thực thì cổ nhạc miền Nam có nhiều bài cùng điệu vọng cổ (điệu oán) mà hay hơn vọng cổ rất nhiều như các bài Tứ đại, Văn thiên Tường, hay là Trường tương tư, nhưng các bài ấy vì khó đàn khó ca nên sau này bị lãng quên mà chỉ còn có vọng cổ được tồn tại phổ thông vì dễ đàn và dễ ca.

1. Lịch sử :

Một số người Nam cho rằng vọng cổ phát xuất từ người Chàm ở miền Nam Trung phần (nhớ tiếc thuở xa xưa). Nhưng thuyết ấy không có chứng minh. Dù sao, đến cuối thập niên 1920, hồi thời " máy hát quay tay hiệu con chó có cái loa " (La voix de son maitre), thời dĩa hát hiệu " con gà " của hãng " Pathé ", hồi đời " Thầy Năm Tú ở tại Mỹ Tho ", đời mà khi diễn xong một tuồng hát, thì toàn ban ra trước sân khấu hát bài " Ma-Đờ-Long " (Madelon) để từ giã, thì trong Nam đã có bản nhạc " vọng cổ hoài lang ", 20 câu, mỗi câu có 4 nhịp ; đến đầu thập niên 30, lối năm 1935, 36, thì có nhóm nhạc sĩ ở Bạc Liêu đàn bản vọng cổ này mà kéo dài ra mỗi câu có lẽ 16 nhịp, nên lúc ấy trong Nam gọi là " vọng cổ Bạc Liêu " (hay là vọng cổ nhịp 16). Kể từ đó và suốt hết thập niên 40 là " thời kỳ vàng son " của vọng cổ với trọn 20 câu, mỗi câu có 16 nhịp, với các nghệ sĩ lừng danh trong cả Nam kỳ như các nhạc sĩ Sáu Tửng (đàn kìm), Chín Kỳ (đàn tranh), Hai Phát (đàn cò), các nam ca sĩ Năm Châu và Bảy Nhiêu, các nữ ca sĩ Cô Hai Đá, cô Ba Bến Tre, cô Tư Sạng, và nhất là cô Năm Phỉ (trong tuồng cải lương " Xử Án Bàng Quý Phi "). Các nhạc sĩ và ca sĩ trên còn đàn và ca được những bài Oán khác như Tứ Đại, Văn Thiên Tường, và trường Tương Tư). Đến những thập niên 1950, 1960, tân nhạc Việt Nam theo lối nhạc Tây phương tràn ngập vào miền Nam và cổ nhạc miền Nam, nhất là những bản nhạc khó đàn và khó ca, bị lu mờ dần rồi bị lãng quên hẳn, chỉ còn có vọng cổ, rút ngắn lại còn có sáu (6) câu đầu, với nam ca sĩ " ăn khách " nhất là ông Út Trà Ôn, và nữ ca sĩ " ăn khách " nhất là cô Thanh Nga.

2. Nghe đàn và ca sáu (6) câu vọng cổ.
Khởi đầu cuộc trình diễn thì các nhạc sĩ " Rao " (rao điệu Oán : xem ở đoạn trước). Rao một lúc thì ca sĩ bắt đầu " nói lối " trong lúc nhạc sĩ vẫn rao ; khi nói lối gần xong thì nhạc sĩ ngừng rao, chờ cho ca sĩ xuống giọng để vô nhịp Hò đầu (của câu 1) thì nhạc sĩ " bắt " nốt Hò đó để vào bản nhạc và tiếp tục đàn luôn. (Thường thường nếu ca sĩ xuống giọng để " vào nhịp Hò " ấy mà nghe êm tai, mùi mẫn lại ăn khớp với tiếng đàn " bắt " nốt Hò đó thì khán giả vỗ tay rầm rầm).

(còn tiếp)
« Sửa lần cuối: 24 Tháng Mười Một, 2008, 04:53:46 pm gửi bởi tuaans » Logged
tuaans
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 3774


« Trả lời #21 vào lúc: 24 Tháng Mười Một, 2008, 04:51:41 pm »

Ca đến hết câu 1 thì " xuống nhịp Cống ", cho nên bài ca vọng cổ nào chữ cuối cùng của câu 1 cũng là một chữ có dấu sắc, hoặc có khi dấu hỏi hay dấu ngã, mới " ăn " với nốt " Côôống)

Cuối câu 2 thì " xuống nhịp Xang ", cho nên bài ca vọng cổ nào chữ cuối cùng của câu 2 cũng là một chữ không dấu mới " ăn " với nốt Xàãang. (miễn cưỡng lắm mới dùng chữ có dấu huyền thì phải đọc lờ đờ như là không dấu).

Câu 3 và câu 4 đều " xuống nhịp Hò " thì bài ca thường thường cuối câu 3 và cuối câu 4 là một chữ có dấu huyền mới " ăn " với nốt Hò (miễn cưỡng lắm mới dùng một chữ không dấu).

Cuối câu 5 thì " xuống nhịp Xề " nên trong bài ca chữ cuối của câu 5 nhất định phải là một chữ có dấu huyền, mà đọc phải gằng giọng và kéo dài để cho "ăn" với nốt " Xềêê ".

Cuối câu 6 thì xuống nhịp Hò (như 3 và 4) mà phải đọc nhẹ để chấm dứt bài ca cho êm tai.

Hồi xưa nếu còn tiếp tục ca nữa thì đặc biệt đến câu 9, xuống nhịp " Xự ", thì trong bài ca chữ cuối cùng của câu 9 phải là một chữ có dấu nặng mới " ăn " với nốt " Xưựư ".

Trong suốt thời gian đàn và ca thì có một nhạc sĩ vừa đàn vừa " cầm canh " nghĩa là giữ nhịp cụ để " chấm nhịp " thì phải gõ nhịp nghe một tiếng " cóc " ở nhịp thứ 12 và nhịp thứ 16 của mỗi câu (trừ câu 1 thường thường chỉ có 12 nhịp, vì cho rằng " Rao " đã mất hết 4 nhịp, nên phải gõ nhịp ở nhịp 8 và 12). Đến câu 6, ở nhịp thứ 12 thì phải gõ vào nhịp cụ hai lần (nghe cóc cóc) để báo hiệu rằng còn 4 nhịp nữa hết câu thì sẽ stop, ngưng đàn và ca. Thì nhạc sĩ bắt đầu đàn lơi lơi và chậm lại dần (theo nhạc Tây phương là Rall hay Rallentando) và ca cũng hơi chậm chậm lại cho đến cuối câu nghe nhịp một cái " cóc " nữa là ngưng đàn và ca.

Hồi xưa khi còn đàn và ca vọng cổ đủ cả 20 câu, thì đến đây không nghe nhịp hai cái cóc cóc thì nhạc sĩ và ca sĩ không đàn và ca chậm lại và hết câu 6 thì đi luôn qua câu 7.

Sau này còn có cái lối không đàn và ca luôn hết sáu câu, mà đến hết câu 3 thì :
 - Hoặc ngừng rồi rao, nói lối, rồi xuống giọng để trở vô nhịp Hò đầu của câu 4, rồi đàn và ca luôn đến hết câu 6 ;
 - Hoặc ngừng rồi rao, ca đệm vài câu của bản " Xuân Tình " hay bản " Chuồn Chuồn " rồi nói lối và xuống giọng để vô nhịp Hò đầu của câu 4 rồi đàn và ca luôn đến hết câu 6.

Trên đây là những điều cơ bản có thể nói những “quy luật” khi sang tác và ca một bài ca vọng cổ. Tỷ như khi ca sĩ khi xuống giọng  bắt nốt “Hò” mà “mùi” thì khán giả vỗ tay tán thưởng, mà nếu có không được mùi lắm thì cũng vỗ tay khích lệ. Điều này làm cho vọng cổ có sức ...

(còn tiếp)
Logged
tuaans
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 3774


« Trả lời #22 vào lúc: 24 Tháng Mười Một, 2008, 06:29:30 pm »

sức hấp dẫn đặc biệt. Khi đã nghe quen rồi,  mình biết được ca sĩ ca tới câu nào, câu nào,  sắp xuống nhịp nào, và nhất là lắng nghe xem ca sĩ xuống nhịp có “ăn” không.  Để minh họa, tôi xin gửi các bạn bản vọng cổ “ Bạch Thu Hà” của soạn giả Viễn Châu. Xin nói thêm là nếu ở thể loại Tân Cổ giao duyên thì thay vì Nói bằng các câu thơ như đã nói ở trên, nhạc sĩ có thể sáng tác vài đoạn tân nhạc, hay mượn vài câu của một bài tân nhạc nào đó. Võ Đông Sơ, Bạch Thu Hà là hai bản vọng cổ rất nổi tiếng của Viễn Châu. Bản Võ Đông Sơ do Nghệ sĩ Minh Cảnh ca, còn Bạch Thu Hà thì Lệ Thủy ca vào những năm sáu mấy, bảy mươi thì thiệt là cầm lòng không đậu.

Bạch Thu Hà Tân nhạc :

Trong khói hương mơ màng tung bay
Đêm tóc tang u buồn nhớ ai
Nửa chừng duyên kiếp chia phôi
Ai đi cách mấy phương trời
Duyên trúc mai vĩnh viễn xa rồi.

Ai biết đâu một lần chia tay
Riêng thiếp cam chịu nhiều đắng cay
Mối sầu bao thuở cho nguôi
Ly tan nhớ tiếc muôn đời
Bao đắng cay than chẳng nên lời.

Câu 1

Lối : Võ lang ơi đôi ngã sâm thương uyên ương rã cánh, thiếp đành cam gãy gánh chung ... tình.(HÒ)
Gió kép mưa đơn, thiếp thui thủi một mình. (HÒ)
Chàng hy sinh đền ơn xã tắc Thiếp nghẹn ngào tím ruột bầm gan. (XÊ)
Rảo bước theo đám quân canh đến trước tùng đình Thiếp ngập ngừng chưa dám bước vào trong. (XANG) Bởi thiếp đây đâu dám ngờ rằng Võ đông Sơ đã ra người thiên cổ. (CỐNG)

Câu 2 :
Đàn đứt dây rồi phím đã long
Làm sao dạo được bản tương phùng. (HÒ)
Thiếp gởi niềm đau theo giọt lệ ly tình. (HÒ)
Trống thành tây mấy dùi khoan nhặt
Lòng thiếp hãi hùng như tiếng trống tàn canh. (XÊ)
Bẽ bàng thay tuổi đầu xanh
Đầu xanh vương lấy nợ tình mà chi. (XANG)
Để rồi chịu cảnh chia ly
Một buổi phân kỳ lệ hận trào tuôn. (XANG)

Nói:
Lỡ giấc mơ tình giữa tuổi xuân
Lầm than gió bụi biết bao lần
Thiên thu điệp mộng hồn trinh nữ
Vạn cổ tình hoài vọng cố nhân

Câu 4 :
Lối :
Thiếp muốn xé tan áng mây trên tầng cao diệu vợi, để hỏi thử cao xanh ông ghét ghen chi mà để tội kẻ chương ... đài. (HÒ)
Một kiếp quần thoa lận đận biết bao ngày. (HÒ)
Nhưng mảnh kiên trinh thiếp nguyền vẹn giữ
Cho trọn lời đoan thệ cùng ai. (XÊ)
Thôi rồi đá nát vàng phai
Cầu Ô lỡ nhịp mộng đời dở dang. (XANG)
Nhìn lên trướng rủ màu tang
Chàng đi để thiếp khóc than một mình. (HÒ)

Câu 5 :
Ánh nguyệt mới nhô lên đã bị phủ che bởi vầng mây xám.
Cũng như đời thiếp vừa thoát cơn khổ nạn
Đã đành cam vắng bạn chung tình. (HÒ)
Quấn mảnh khăn tang thiếp quỳ trước tùng đình. (HÒ)
Chàng ra đi muôn đời không trở lại
Chén rượu đào thiếp đưa tiễn ai đây. (XÊ)
Rượu sanh ly dưới làn hương khói
Trước linh sàng thiếp thổn thức từng cơn. (XANG)
Rượu đôi chung, lễ người thiên cổ
Tiễn đưa ai đi mãi không về. (XỀ)

Câu 6
Võ lang, Võ lang, Trời ơi  thiếp đã gào lên mấy lượt
Sao chàng vẫn im lìm trong cỗ áo quan. (CỐNG)
Bạch lạp lờ mờ như đổ lệ sầu than
Như khóc cho đời thiếp bẽ bàng duyên hương lửa. (XANG)
Lời đoan thệ đã bay theo ngọn gió
Thì còn tiếc chi thân của Bạch Thu Hà. (XỀ)
Võ lang ôi, thiếp mượn lưỡi báu đao phủi rồi nợ thế. (XANG)
Để nơi miền âm cảnh, Bạch Thu Hà hội ngộ Võ đông Sơ. (HÒ)
Logged
Đinh Phạm Kiều
Thành viên
*
Bài viết: 32


Dù rằng đời ta thích hoa hồng...


« Trả lời #23 vào lúc: 24 Tháng Mười Một, 2008, 11:10:07 pm »

Bài viết
TẢN MẠN QUANH BÀI VỌNG CỔ…

“Từ là từ phu tướng
Bảo kiếm sắc phán lên đàng…
Vào ra luống trông tin nhạn
Đêm năm canh mơ màng…”
(Dạ cổ hoài lang – Cao Văn Lầu)

Bài vọng cổ từ lâu đã là một thứ văn hoá không thể thiếu trong đời sống người dân Nam bộ. Ở các miền quê sông nước đồng bằng sông Cửu Long, hình như nhà nhà, người người ai cũng đã từng nghe và biết ca vọng cổ. Mê vọng cổ nhưng mấy ai đã biết nó có từ đâu?
   
   Câu vọng cổ, đến bài vọng cổ từ bấy lâu nay đã ngự trị trong đời sống. Ai là người có công đầu trong việc “soạn thảo” ra bài vọng cổ? Chắc là đã có nhiều người biết: đó là ông Cao Văn Lầu, còn gọi là Sáu Lầu…nhưng để có sự phong phú của bài vọng cổ trên sấn khấu cải lương ngày nay, không thể không nói đến bài “Dạ cổ hoài lang” (đêm nghe tiếng trống nhớ chồng). Bài “Dạ cổ hoài lang” này được ra đời như thế nào là cả một câu chuyện dài - một câu chuyện tình đầy nước mắt, éo le, trắc trở của chính người đã viết ra nó – Đã có cuộc hội thảo khoa học đầu tiên trong cả nước về đề tài này, khi mà “Dạ cổ hoài lang” đã sống trên 2/3 thế kỷ (1917 – 1994).Và nếu tính cho đến nay, “Dạ cổ hoài lang” đã có 91 năm tồn tại và phát triển.

   …Nghe rằng, miệt Cà Mau ruộng đất phì nhiêu, lúa chín vàng đồng, cá tôm đầy sông, làm chơi ăn thiệt, nên ông Chín Giỏi - một tá điền siêng năng nhưng luôn sống trong cảnh nghèo hèn - quyết định đưa vợ và 5 đứa con về miệt thứ. Dù trong lòng tái tê, tan nát bởi phải xa lìa làng quê Thuận Mỹ - Tân An (nay là Vàm Cỏ - Long An). Năm ấy, Cao Văn Lầu - người con thứ của ông Chín - mới vừa tròn 4 tuổi…Dừng chân ở đất Bạc Liêu, gia đình ông Chín Giỏi cảm thấy đời sống có phần dễ thở hơn. Ông già lại sửa sang cây đàn kìm đã một thời gắn bó khi ông còn làm Hương nhạc. Cao văn Lầu lúc đó đã biết giữ bộ gõ bên cạnh cha mỗi khi có đám, có các cuộc vui trong làng…Thấy gia cảnh nhà ông Chín Giỏi có phần cơ cực, có người thủ toạ ngỏ ý muốn nuôi nấng, dạy dỗ Sáu Lầu…Từ đó, Sáu Lầu ngày ngày học chữ, kinh kệ và làm các việc nhẹ trong chùa Vĩnh Phước, nơi ông Thủ toạ trụ trì. Thời gian cứ mãi miết trôi, Sáu Lầu đã lên 9 tuổi, đi học chữ quốc ngữ và được các thầy đờn trong làng dạy dỗ thêm…Chẳng bao lâu, cậu nhỏ đã thành chàng trai, lại đàn ca giỏi có tiếng cả một vùng. Ông Nhạc Nhị -  một thầy đờn có tiếng - có ý gả con gái cho Sáu Lầu, bởi nghe chừng “hai đứa thương nhau…”. Quả đúng như vậy: Sáu Lầu và cô Thân – con gái ông Nhạc Nhị - đã có ý với nhau từ lâu, một ngày không thấy nhau là buồn thương, mong ngóng…Nhưng, lấy vợ thì phải có tiền! Nhà nghèo, tiền đâu mà cưới vợ? Thế rồi, Sáu Lầu đành cách mặt với người thương, anh đi xa làm mướn, và để khuây khoả nỗi buồn Sáu Lầu quy tụ một số bạn bè, lập ban nhạc tài tử, chỉ một thời gian ngắn, ban tài tử này đã nổi tiếng khắp cả vùng Bạc Liêu – Cà Mau. Ngày cô Hai Thân - người yêu cũ của Sáu Lầu – đi lấy chồng, anh cùng ban nhạc tài tử cũng đến gọi là góp vui, nhưng vui sao được bởi mối tình đầu vẫn còn vấn vương trong lòng người nhạc sĩ tài hoa! Tiếng đàn, lời ca của Sáu Lầu đêm ấy chỉ là những khúc bi thương, đứt ruột của phận nghèo…Rồi Sáu Lầu cũng lấy vợ, người con gái Bạc Liêu này cũng xinh đẹp và giỏi giang như bao người con gái khác ở vùng đất nổi tiếng “làm chơi, ăn thiệt” này. Những tưởng dòng đời cứ vậy mà bình lặng trôi, nhưng nào ngờ giông bão ập xuống đầu đôi vợ chồng trẻ, từ chính cái điều mà lúc ấy ai cũng nghĩ chính là nguyên nhân của những bất hạnh: người vợ trẻ qua ba, bốn năm trời vẫn…không có thai! (Ngày nay khoa học lý giải được, nhưng hồi đó ai cũng cho là số kiếp) Nàng dâu gần như bị xua đuổi ra khỏi nhà chồng, nàng quyết định từ giả cuộc đời, nhưng Sáu Lầu luôn luôn ở bên cạnh khuyên răn, an ủi…Cuối cùng, nàng trở về nhà cha mẹ ruột với tất cả nỗi đau của một người vợ hiền phải xa chồng. Hai nhà cách nhau chẳng mấy xa xôi, nhưng lề thói xưa đã là nghìn trùng xa cách. Cao Văn Lầu buồn thương, khắc khoải, những câu đầu của bài “Dạ cổ hoài lang” ra đời trong hoàn cảnh ấy: “Từ là từ phu tướng…” tất cả nói lên nỗi đau của người vợ! Nhưng trong quá trình hình thành nên cung bậc của lời ca, cũng là quá trình những hình ảnh bi thương của số phận những người nghèo khổ, những cảnh đời nhục nhằn hiện lên trong tâm trí Cao Văn Lầu. Đêm đêm, tiếng trống của chùa Vĩnh Phước vọng tới căn lều rách nát của người nghệ sĩ, tiếng trống chùa nhưng nghe như tiếng  gõ của trái tim người vợ, hoà cùng nhịp đập trái tim của người chồng. và trong sâu thẳm trái tim người chồng, còn có cả âm ba của tiếng trống xa, tiếng trống nhắc người lính trận nhớ về một miền quê hiền hoà, nhớ về hình bóng những người yêu thương, tiếng trống gọi người đi giữ gìn quê hương, tổ quốc. Bài “Dạ cổ hoài lang” hoàn thành cũng là khi vợ chồng Sáu Lầu tái hợp! Có người đã gọi dạ cổ hoài lang là bản “vọng cổ” - tiếng trống xa vọng về - Cũng có người gọi đó là “Bản vọng cổ Bạc Liêu”, bản này đã trở thành bản chủ yếu trong các đêm diễn của giới đờn ca tài tử Bạc Liêu. Suốt trong thời gian một năm (1917 – 1918); có người cho rằng: bài “Dạ cổ hoài lang” ra đời từ năm 1920! (đúng, sai thế nào kẻ hậu sinh nào dám lạm bàn) đâu đâu người ta cũng học, cũng hát Dạ cổ hoài lang. Thấy nó quá được yêu chuộng bởi thực sự Dạ cổ hoài lang có vị trí trong đời sống, một số nghệ sĩ, nhạc sĩ cùng chính tác giả của nó đã có sáng kiến kéo thành nhịp thoải mái hơn, bay bổng hơn và cũng mang bản sắc đời thường hơn. Có một tình tiết rất “có hậu” như bản thân bài Dạ cổ hoài lang trở thành nguồn gốc của bài vọng cổ - đó là người vợ sau ngày “Kiều tái hồi Kim Trọng” – đã có thai! Đứa cháu chờ đợi bấy lâu của ông, bà nội, đứa con chờ mong của đôi vợ chồng trẻ,  của bạn bè người nghệ sĩ được chào đón trong âm hưởng và sự thành công của bài Dạ cổ hoài lang! Cậu bé được mang tên là Cao Kiến Thiết. Có người nói vui (nhưng cũng rất có lý) rằng: “Con của thầy đờn chỉ chịu chào đời khi ba của nó viết xong bản nhạc”
Bài vọng cổ, mà tiền thân là Dạ cổ hoài lang cũng lắm thăng trầm từ khi nó được các nghệ nhân tài tử chỉnh lý lại. Từ vọng cổ nhịp 8 qua vọng cổ nhịp 16 là một khai phá mới, độc đáo, nó làm cho bài “Dạ cổ hoài lang” xưa trở nên mượt mà hơn. Rồi từ vọng cổ nhịp 16 qua vọng cổ nhịp 32, từ vọng cổ 20 câu đến vọng cổ 6 câu là đỉnh cao của sự biến thiên, chỉnh lý và hoàn thiện bài “dạ cổ hoài lang”. Nhưng cũng tiếc thay, từ bài ca vọng cổ sáu câu, với “nói lối” mùi mẫn - qua ngòi bút tuyệt vời đầy lãng mạn và sáng tạo của nghệ sĩ Viễn Châu (Bảy Bá) - mà cư dân đồng bằng một thời đã say mê qua giọng ca của các Nghệ sĩ: Út Trà Ôn, Minh Cảnh…từ từ chỉ còn lại bốn câu! Rồi “Tân - cổ giao duyên”, rồi vọng cổ có thêm các bài bản vắn, dài…và gần đây, các nghệ sĩ trẻ chỉ còn ca bài vọng cổ với…ba câu - thậm chí có lúc chỉ hai câu! – còn lại trong một bài vọng cổ là những bản tân nhạc, những bài bản tài tử khác được “đâm” vào, làm người nghe rất khó chịu! Đó không phải là “sáng tạo” mà là “phá vỡ” tinh túy của bài vọng cổ!. Nên dần dần bài vọng cổ xưa cũng mất đi cái tính độc lập, độc đáo và độc tôn của nó! Nên chăng, các nhà quản lý sân khấu, các soạn giả, thầy tuồng và những nghệ sĩ còn tâm huyết với “Dạ cổ hoài lang”, với “sáu câu” vọng cổ nên có một cuộc “hội thảo” khoa học, nhằm đưa bài vọng cổ - dạ cổ hoài lang - về đúng vị trí của nó trên sân khấu cải lương và trong các buổi đờn ca tài tử!

   Sinh năm 1892 tại Long An, mất ngày 13/8/1976 tại Bạc Liêu. Nghệ nhân Cao Văn lầu rất xứng đáng là người được ghi công trong ngành nghệ thuật sân khấu. Xứng đáng được nhiều tài tử, ngôi sao cải lương thành đạt nhờ bài ca vọng cổ nhớ ơn…Tên ông cùng với bài ca mở đầu, khai phá cho vùng đất sân khấu cải lương sinh sôi, trù phú – bài “Dạ cổ hoài lang” năm xưa và bài vọng cổ hôm nay - sẽ sống mãi cùng năm tháng.

Đinh Phạm Kiều
Đoàn nghệ thuật tổng hợp Tiền Giang
« Sửa lần cuối: 24 Tháng Mười Một, 2008, 11:14:05 pm gửi bởi Đinh Phạm Kiều » Logged
Đinh Phạm Kiều
Thành viên
*
Bài viết: 32


Dù rằng đời ta thích hoa hồng...


« Trả lời #24 vào lúc: 24 Tháng Mười Một, 2008, 11:12:55 pm »

Bài viết

   VÀI SUY NGHĨ
      VỀ CÁC BÀI BẢN    
            TRONG MỘT VỞ CẢI LƯƠNG

   Cải lương, vốn hình thành từ rất lâu. Không ai biết người đã nghĩ ra cách dàn dựng thành một vở cải lương là ai? Nhưng, có lẽ từ hình thức “ca ra bộ” đầu tiên xuất hiện trong làng ca nhạc tài tử, mà người ta đã nghĩ ra cách kết cấu các bài, bản lại mà thành ra một vở cải lương chăng? Vì trong cấu trúc một vở cải lương, người xem có thể nhận thấy rất nhiều bài bản vắn, những câu vọng cổ được bố trí, phân chia một cách hợp lý. Có thể nói nội tâm nhân vật hay cao trào, thắt nút, mở nút trong một vở cải lương đều được soạn giả (thầy tuồng ngày xưa) bố trí các thể loại: Bi, Hùng, Hài, Oán…phù hợp. Tuỳ theo tâm trạng, tính cách nhân vật mà soạn giả đặt bài ca, thế nên xem một vở cải lương (xưa) ta thấy bàng bạc trong đó là những bài bản vắn, những câu vọng cổ rất hay. Khi vui có : “Khốc Hoàng Thiên” (chứ không phải “khóc”); “Xang xừ líu”; “Đăng sơn lãm thuỷ”; “Ánh nắng”; “Ánh trăng”…Khi buồn có “Phụng hoàng” (8 câu – 12 câu); “Nam Ai”; “Nam ai (mái); “Trường tương tư”; “Tứ đại oán”; “Song cước”; “Hoài tình”; “Lý giao duyên”…Khi giận có “Xàng xê”; “Ngựa ô bắc”…đại khái là như thế, không thể nào kể hết trong khuôn khổ một bài  viết! Riêng câu vọng cổ, từ lâu được xem là “Bà Chúa của cải lương!” Thế nên, soạn giả (ngày xưa) rất cân nhắc, đắn đo khi lựa chọn thời điểm thích hợp để “đưa” bài vọng cổ vào. Và trước khi “vô” vọng cổ phải có “bài dẫn” (nói lối, rao Nam, rao Bắc, hay các bài bản vắn), ngày trước bài bản vắn được đưa vào “dẫn” cho vọng cổ thường là “Hướng mã hồi thành”, “Phong nguyệt”; “Thủ phong nguyệt”…Và sau khi dứt bài vọng cổ, bài tiếp theo phải là bài bản gì để nuôi mãi cái dư ba bài vọng cổ lắng đọng trong lòng người nghe! Rất khó, thế mà xem các vở cải lương, viết theo kiểu “mì ăn liền” người xem (hoặc nghe) sẽ không còn tìm đâu ra cách sắp đặt bài bản hợp lý như xưa nữa! Cứ mỗi (lớp) diễn viên xuất hiện là có ca, bất kể đó là tâm trạng vui hay buồn. Và những bài ca có khi cũng chưa được “đắt” lắm! Có người nói vui: “Cải lương bây giờ là viết theo kiểu…kịch nói “đâm” bài ca! Nói vui mà sao nghe như có chút gì đó chua xót trong lời lẽ! Nhưng, có lẽ cũng đúng như vậy, cải lương mà hát vọng cổ tự nhiên, khơi khơi từ ngoài chạy cái “ào” vô vọng cổ liền, nghe nó kỳ kỳ sao ấy! Có người lại nói “vọng cổ phải hát như vậy mới là cải lương”?! Nếu nói vậy, thì tại sao Cố nghệ sĩ Út Trà Ôn đã làm cho bao trái tim thổn thức khi nói lối: “Tôi còn sống đây! Tôi đang đứng trước mặt của mình đây! Tôi đứng đây mà ngỡ như đứng trên bờ sông Mỹ Thuận. Khi mình quay xuồng tách bến trở lại với hai con…Bờ cây xa mờ nhạt bóng hoàng hôn. Con nước lớn lục bình trôi rời rạc…(vô vọng cổ) Chiều đã xuống mặt trường giang bát ngát, mà bóng người thương cứ lần khuất giữa…sông…dài…” nghe thật thiết tha, thật êm đềm lời dẫn cho bài vọng cổ! Nói lối để dẫn câu vọng cổ là rất tuyệt, người nghe dễ dàng chấp nhận. Hoặc như nghệ sĩ H.C trong vai Hoàng Nhan Liệt, trong vở cải lương “Anh hùng xạ điêu” đã hát lớp “Hướng mã hồi thành” để vào câu vọng cổ: “Một là ta để cho nàng ung dung bước vào con đường tội lỗi. Hai là ta giết chết nàng đi để xem con tim phản bội kia có mấy nẻo…ân…tình” nghe đã vô cùng, đúng không? Còn bây giờ, nhiều khi đang trao đổi, cãi lẫy với nhau thì “đột nhiên” vô…vọng cổ! Người nghe bị hụt hẫng ngay thôi. Thêm một “vấn nạn” của cải lương nữa là “nói” thay vì “ca”, nhiều soạn giả có lúc đã than: “Viết được một bài ca vất vả vô cùng, thế mà khi vào lớp nó lại không “ca” mà chỉ “nói”! Thế có chết không? Biết vậy mình viết văn nói cho nó nói, đỡ phải “nặn đầu, rớt ruột, trích cú, tầm chương” để đặt lời ca”. Lời của soạn giả kia nghe rất chí lý, nghệ sĩ bây giờ ca cải lương thường hay “nói” lời của bài ca chứ không có “ca”! Hình như “nói” dễ hơn “ca” hay sao ấy? Có lẽ đúng, bởi vì “nói” trong nền nhạc cổ không sợ bị “rớt” nhịp!! Đây là một sự thật đáng buồn cho sân khấu cải lương hiện nay.
Đạo diễn bây giờ đa số là người “ngoại đạo” với cải lương, chỉ thiên về kịch nói. Nên trong dàn dựng cải lương chẳng cần biết cái gì là “cao trào”, “thắt nút” hay “mở nút” họ sẵn sàng cắt bỏ không thương tiếc các bài bản và các câu vọng cổ mà họ cho là “lê thê”! Đem yếu tố tâm lý kịch nói đi dàn dựng cải lương, trách gì cải lương ngày càng…xuống dốc thê thảm!
Nếu nói về cách cấu tứ, viết bài bản và bố trí hợp lý cho từng vở cải lương, chắc có lẽ phải đến…giao thừa sang năm! Người viết bài này chỉ muốn cải lương ngày càng thăng hoa từ kịch bản đến bài ca, từ sáng tác đến dàn dựng. Mong sao một ngày mai sáng sủa, cải lương lại chen vai góp mặt với đời, như cái thời hoàng kim rực rỡ xưa kia!

Đinh Phạm Kiều
Đoàn nghệ thuật tổng hợp Tiền Giang

( Nhớ diễn đàn quá đi thôi, vừa đi diễn về là mình chui ngay vô quán "Nét", thủ sẵn cái USB và "phọt" lên ngay he...he...)
« Sửa lần cuối: 24 Tháng Mười Một, 2008, 11:16:25 pm gửi bởi Đinh Phạm Kiều » Logged
tuaans
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 3774


« Trả lời #25 vào lúc: 25 Tháng Mười Một, 2008, 11:34:49 am »

Bác Kiều chia bài viết ra từng đoạn cho dễ đọc bác ạ!
Anh em miềng già cả hết rồi. Nhâm nhi từng đoạn nó mới đã chớ!  Grin
Logged
Đinh Phạm Kiều
Thành viên
*
Bài viết: 32


Dù rằng đời ta thích hoa hồng...


« Trả lời #26 vào lúc: 26 Tháng Mười Một, 2008, 10:38:50 pm »

Vọng cổ
NỖI ĐAU MÀU DA CAM

                        Của Hoàng Đức

         Thơ
Đau đớn lòng cha, ai có hay!
Nỗi đau nào vượt nỗi đau nầy?
Sinh con, ba đứa không toàn vẹn
Biết trách trời hay biết trách ai?

Câu 1: Các con ơi! Đêm nay nữa không biết là đã mấy ngàn đêm cha suy tư, trằn trọc…Khi từng đứa con lần lượt chào đời với hình hài không nguyên vẹn, trong tình cảnh đau thương vì gia cảnh…
VỌNG CỔ
      …cơ…cầu…
   …Cha cố cắn răng nuốt tủi, ngậm sầu…
Người ta nói “ Vì không có phúc nên sinh con dị tật” Tiếng bấc, tiếng chì đau xé ruột gan cha! (-) Vì sao trời nỡ bắt tội cha, muốn có một gia đình ấm êm mà không trọn vẹn? Những đứa con chào đời là hạnh phúc của mẹ cha, nhưng hạnh phúc rồi cũng nhạt nhòa theo năm tháng…

Câu 2: Khi đứa lớn sinh ra chẳng cười, chẳng nói. Thân thể quắt queo tay xụi chân còng…
   …Cứ ngỡ là tại phước, do phần…
Tất tả ngược xuôi chạy thầy chạy thuốc, chồng chất nợ nần mà bệnh con chẳng giảm thuyên! (-) Khi mẹ con mang thai đứa thứ hai cha cầu nguyện ngày đêm, mong sao cho nó không tật nguyền như anh nó! Hởi ơi, muốn có một đứa con nguyên lành mà sao quá khó. Nước mắt cứ âm thầm chảy ngược vào trong!




      Nói lối
Trở lại quá khứ một thời đánh Mỹ
Những bước chân hùng xẻ dọc Trường Sơn
Một thời chiến tranh gian khổ đã đi qua
Nhưng hậu quả vẫn còn trên thân người lính!

Câu 5: Giặc Mỹ đã đem chất độc màu da cam rãi xuống những khu rừng xanh hòng hủy đi mầm sống. Rừng cháy, lá khô, từng dòng suối nhỏ cũng thôi róc rách ngày đêm vì tội ác của...
VỌNG CỔ
      ...quân...thù...
   ...Đường Trường Sơn khói lửa mịt mù...
Giặc trút xuống đất đai nầy hàng triệu tấn bom hủy diệt, nào bom tấn, bom đìa, thêm chất độc màu da cam (-) Hậu quả chiến tranh để lại trên thân thể người dân, cả những người lính ở hai đầu trận tuyến. Chiến tranh đã qua đi, nhưng nỗi đau còn in dấu trên thân thể con tôi “Nó không được làm người! “

Câu 6: Chúng tôi là những người lính đi bảo vệ quê hương, giữ nguyên vẹn hình hài của non sông gấm vóc. Đất nước hòa bình, nhân dân hạnh phúc sao người lính Trường Sơn vẫn còn mang nặng vết thương (-) Nỗi đau nào rồi cũng qua đi, nhưng NỖI ĐAU MÀU DA CAM mãi vẫn còn âm ỹ. Hỡi những ai còn chút lương tri nhân loại hãy vì chúng tôi mà đòi hỏi sự công bằng.

   Năm năm...mười năm, rồi cả trăm năm sau. Nỗi đau màu da cam sẽ hằn sâu trên lương tâm kẻ gây tội ác.
   Nhưng những đứa con người lính là nỗi đau hiện tại, các con tôi sinh ra không trọn kiếp con người ./. 

      Đinh Phạm Kiều
Logged
Đinh Phạm Kiều
Thành viên
*
Bài viết: 32


Dù rằng đời ta thích hoa hồng...


« Trả lời #27 vào lúc: 27 Tháng Mười Một, 2008, 11:17:53 am »

Phiếm luận – Nhàn đàm:
         NHỮNG BẤT CẬP TRONG CA TỪ …
Chắc hẳn quý vị khán, thính giả yêu nhạc không còn xa lạ gì với những ca khúc một thời đã gieo vào lòng ngừoi những ngọt ngào, xúc động. Những bài hát đã đi vào tâm tư, tình cảm của mỗi chúng ta có lẽ đến suốt cuộc đời, như: CHIẾC KHĂN TAY ( Xuân Hồng ) NHẠC RỪNG ( Hoàng Việt ) CÔ GÁI SÀI GÒN ĐI TẢI ĐẠN ( Lư Nhất Vũ )..v…v. Mỗi bài hát đều có cái hay, cái cảm riêng…Nhưng, có lẽ trong lúc cao hứng sáng tác, các tác giả đã không chú ý đến cách đặt lời ca cho lắm, thế nên trãi qua bao nhiêu tháng năm ca từ của những bài hát nầy đã ăn sâu vào lòng người, và cũng bấy nhiêu thời gian người nghe không để ý tới những cái bất cập, vô lý trong từng ca khúc…
Như trong bài CHIẾC KHĂN TAY của cố nhạc sĩ Xuân Hồng có đoạn :
“ …Chỉ vàng thêu một cành mai, cùng đôi chim én lượn bay trên cành...”
Cành là chổ để đậu chứ không phải để lượn bay…đúng không? Nếu lượn bay thì phải ở…trên trời!
Bài NHẠC RỪNG của cố nhạc sĩ Hoàng Việt thì có đoạn: “…Róc rách, róc rách…gió lùa qua khóm trúc…Lá rơi, lá rơi xoay tròn nước cuốn trôi…”. Cụm từ “ róc rách “ là từ tượng thanh ( để chỉ tiếng nước chảy ) chứ không phải tiếng gió thổi, sao lại là gió lùa qua khóm trúc? Đúng ra phải là “ nước luồn qua khóm trúc” mới đúng chứ! Và có như thế mới phù hợp với câu sau “…lá rơi, lá rơi xoay tròn nước cuốn trôi…”Có nước luồn qua khóm trúc rồi sau đó lá trúc rơi xuống, để cho dòng nước xoay tròn mà cuốn đi...!
Bài CÔ GÁI SÀI GÒN ĐI TẢI ĐẠN của nhạc sĩ Lư Nhất Vũ thì lại có hình tượng cô gái vác quả đạn, qua ca từ: “…quả pháo ơi! Sao mãi yêu như đứa trẻ, suốt đêm ngày ta bế trên vai!...”Vai, là chổ để gánh, vác chứ không phải là chổ để  bế! Nếu bế thì phải bế trên tay mới đúng chứ!
Và, gần đây nhất là bài CHUÔNG GIÓ của nhạc sĩ Võ Thiện Thanh, thì lại có  lời : “…tiếng chuông thoang thoảng, thoang thoảng…” Thoang thoảng là từ chỉ những cái ta cảm nhận được bằng khứu giác ( mũi ) chứ không bằng thính giác ( tai ) Ví dụ như :… “mùi hương hoa Hồng thoang thoảng…” Còn nếu như nghe từ xa vọng lại thì phải là “văng vẳng” chứ! Đúng không? ( thế mà bài nầy lại đạt giải…gì đấy! )
Như đã nói ở tiêu đề của bài viết, đây chỉ là…phiếm luận & nhàn đàm nên chỉ nói để…cho có nói vậy thôi. Chứ những ca khúc kháng chiến - người ta gọi là “ Nhạc đỏ “ - đã trở thành bất tử và bất hủ rồi, cho dù có sai…vài từ cũng được người nghe chấp nhận và nó sống mãi với thời gian. Còn những bài hát sáng tác gần đây thì tôi không dám bàn, bởi ca từ quá “siêu”  – thậm chí người hát, lẫn người nghe - không biết bài hát muốn nói gì cơ mà!
 Hy vọng những bậc tiền bối cao minh,  nếu có xem thì hãy cười “khà” một tiếng, và tha thứ cho kẻ  “hậu sinh” lắm chuyện nầy !
            
PHẠM KIỀU

Logged
Đinh Phạm Kiều
Thành viên
*
Bài viết: 32


Dù rằng đời ta thích hoa hồng...


« Trả lời #28 vào lúc: 26 Tháng Mười Hai, 2008, 11:08:15 pm »

Xin kính chào ban quản trị trang web và tất cả các anh em trên diễn đàn!
Tôi là người lính, đã từng khoác áo lính và đã tham gia chiến đấu. Bây giờ là cựu binh. Tình cớ phát hiện ra diễn đàn, thấy vui vui lại đầy chất lính nên tham gia và đâm mê luôn tới bây giờ!
Từ ngày tham gia diễn đàn, tôi cũng chưa từng xúc phạm ai, cũng chưa từng làm điều gì phương hại đến diễn đàn cả. Chỉ trao đổi thư từ qua lại, gửi những bài viết mà theo tôi, nó chứa đầy kỷ niệm của một thời bộ đội...Nhữgn câu chuyện kể của tôi đều là sự thật dĩ nhiên là với cách hành văn thì ít nhiều gì cũng có "thêm thắt", chứ! Nhưng tôi đã trải lòng ra với các bạn. Không hề vụ lợi gì trong này.
Nay, các bác lại moi móc chuyện đời tư của tôi trên website cailuongvietnam...ra mà làm đầu đề đàm tiếu, tôi buồn lắm, ở đới ai cũng có hoàn cảnh, vợ tôi bị bệnh kín của phụ nữ hơn 10 năm rồi, bác sĩ chẩn đoán là tiền ung thư, tôi đưa đi TP điều trị, nay đã thuyên giảm nhiều nhưng tóc đã rụng hết rồi, chỉ còn lại cái đầu trọc lóc thôi! Bù lại, sức khỏe của cô ấy đã khá lên nhiều, tôi rất mừng. Chuyện anh em trên web...cailuong giúp đỡ cho vợ tôi có tiền trả nợ và trị bệnh, nghĩ lại cũng đâu có ảnh hưởng gì tới diễn đàn quansu.vn! Thế mà các bác đem cái chuyện buồn của tôi là làm trò cười...Buồn lắm chứ!
Thế thì, tôi xin chào tạm biệt các bác, bác dongadoan, bactqNam, bac daibangden, bac Haanh, bác tuaans...trung sy 1...tôi lúc nào cũng kính trọng các bác, chuyện buồn vui gì tôi cũng tuôn ra hết cho các bác xem, thế mà các bác độc ác đến mức đem chuyện nhà của tôi ra mà cười cợt! Thế mà cũng gọi là những người lính ư?
vậy tôi xin rút khỏi diễn đàn này, nếu mai kia, mốt nọ có bác nào về Tiền Giang, nhớ ghé thăm tôi tại căn cứ đoàn NTTH.TG, tôi sẽ tận tình địa chủ với các bác, sẽ đưa các bác đi thăm thú TG quê tôi!
Còn bây giờ, mong các bác hãy xem những bài vọng cổ mà tôi bỏ cả đời ra viết tặng các bác như là một kỷ niệm đẹp của cuộc "bình thủy tương phùng" này!
Chào tạm biệt!
Logged
Lizzy
Moderator
*
Bài viết: 83


Phái viên của Tư lệnh


« Trả lời #29 vào lúc: 26 Tháng Mười Hai, 2008, 11:56:52 pm »

nếu mai kia, mốt nọ có bác nào về Tiền Giang, nhớ ghé thăm tôi tại căn cứ đoàn NTTH.TG, tôi sẽ tận tình địa chủ với các bác, sẽ đưa các bác đi thăm thú TG quê tôi!

Em xuống chỗ bác rồi mà bác k biết đó chứ Smiley

Logged

Who can say where the road goes
Where the day flows?
Only time...
Trang: « 1 2 3 4 5 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM