Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 08:19:20 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Hồi ký Winfred Burchett  (Đọc 29325 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #20 vào lúc: 25 Tháng Mười Một, 2008, 06:59:28 am »

Uyn-xơn đã phải chịu sự thất vọng thông thường dành cho tất cả những ai, bất kể họ ở cấp bậc cao như thế nào, dám gạt cuộc chiến tranh ra khỏi Lầu Năm góc. Nếu Ha-ri-xơn Xôn-xbơ-ri của tờ Thời báo New York có thể bị gièm pha vì đã tiết lộ sự thật về chính sách ném bom của Mỹ, thì sự căm giận hoàn toàn nhất định sẽ rơi vào đầu tôi, vì tôi đã tiết lộ rằng Hà Nội đã chuẩn bị đưa ra cho Johnson cái điều mà ông ta nói rằng ông ta muốn: đó là đàm phán hoà bình. Phần thưởng cho tôi về việc đã đưa hình ảnh hoà bình lên sân khấu là những hình thức mưu đồ phá hoại các giấy uỷ nhiệm của tôi và việc gây ra nghi ngờ liệu tôi có đủ khả năng diễn giải điều mà ông Nguyễn Duy Trinh thực sự muốn nói không. Trong những tờ báo đầu tiên xuất bản sự phỏng vấn, từ Thời báo, tờ Tuần tin tức in những ảnh của tôi mặc quần áo pi-gia-ma đen của Việt cộng và đội nón rơm hình chóp. Thời báo nhắc đến một “thay đổi nào đó trong không khí”, dựa vào những tiên đoán của thượng nghị sĩ Rô-bớt Ken-nơ-đi, người đã được biết rằng tính chất nghiêm chỉnh đề nghị của ông Nguyễn Duy Trinh. Tờ báo cũng nhắc đến điều trần của Ha-ri-xơn Xôn-xbơ-ri trước Uỷ ban đối ngoại của Thượng viên. Tờ Thời báo tiếp tục:
“Nếu sự lạc quan có gắn gì với sự việc thực tế thì đó là sợi chỉ mỏng manh của điều nói bóng gió mà Bộ trưởng Ngoại giao của Hà nội, ông Nguyễn Duy Trinh, đưa ra trong cuộc phỏng vấn của nhà báo Uyn-phết Burchett, một người cộng sản gốc Australia, đã từng là phát ngôn của những người cộng sản châu Á, nhưng lại hợp với đường lối của Moscow hơn là với đường lối của Bắc Kinh. Chìa khoá của lập trường của ông Trinh là câu rào đón rất kỹ của ông ta: “Chỉ sau khi chấm dứt không điều kiện việc ném bom và mọi hành động chiến tranh khác của Mỹ chống lại nước Việt nam Dân chủ Cộng hoà thì mới có thể có việc nói chuyện giữa Việt nam Dân chủ Cộng hoà và Mỹ”.
Tuy lời lẽ rất có điều kiện và ít hoà giải, nhưng nhiều Chính phủ có lãnh sự quán ở Hà Nội đã được những người cộng sản báo cho biết tuyên bố đó là “đầy tín hiệu”. Vì vậy, các chính phủ đó chuyển lại đến Oa-sinh-tơn lời ngụ ý rằng một cuộc ngừng ném bom của Mỹ có thể đưa lại cuộc nói chuyện hoà bình...
Việc ngoại trưởng đã nói có thể có (could be) chứ không phải có thể có (would be) hoặc sẽ có (will be) hội đàm đã được các nhà chuyên về ngôn ngữ của Bộ Ngoại giao và của báo chí coi như bằng chứng rằng ông ta không đề nghị một cái gì dứt khoát cả. Bằng hai trang dầy, tờ Tuần tin tức, phát triển đề tài đó:
Hai điểm trong lời tuyên bố đã làm cho các quan chức Bộ Ngoại giao suy nghĩ: một là Hà Nội dùng từ “could” (có thể) (từ này có thể xem như “might” (có thể) nhưng không chắc chắn), hai là Hà Nội không nhấn mạnh “bốn điểm” của họ (gồm có việc rút quân đội Mỹ khỏi Việt nam và thừa nhận Việt cộng là đại diện “duy nhất ở miền Nam Việt nam” làm điều kiện tiên quyết cho mọi cuộc nói chuyện hoà bình...
Về công khai, Bộ Ngoại giao thận trọng tránh việc xem tuyên bố của Hà Nội là một “sự thay đổi lập trường”. Tuy Johnson nhấn mạnh một cách kiên định rằng ông ta không biết gì về bất kỳ cố gắng nghiêm chỉnh nào của Bắc Việt nam nhằm chấm dứt chiến tranh, nhưng giọng của ông ta tỏ ra ôn hoà và hoà giải một cách có nghiên cứu”.
Dựa vào cùng một thông báo của Bộ Ngoại giao, rõ ràng đó ít nhiều là những phản ứng hợp lý. Những điều cho là chưa rõ ràng đối với việc dùng từ “could” có thể là một việc làm có dụng ý. Chẳng bao lâu thực chất của vấn đề đã lộ rõ ràng rằng chính thái độ của Washington chứ không phải việc dùng từ là vật chướng ngại. Không phải tất cả các báo Mỹ đều tán thành cách đặt vấn đề như 2 tờ Thời báo và Tuần tin tức về ý định của Hà Nội hoặc về chính những động cơ của tôi.
Thật vậy, tôi đã bị tấn công, bởi vì người ta cho rằng tôi đã cư xử không đúng đắn, thậm chí phản bội vì đã để cho ông Nguyên Duy Trinh gọi Tổng thống Johnson là người lừa gạt. Đáng lý ra tôi phải đủ trung thành với phương Tây và phải đủ tinh vi để nhận rằng Johnson và Ra-xcơ lừa gạt là vì lợi ích tốt nhất của nhân loại và không được làm gì để làm đảo lộn việc đó. Trên thực tế tôi đã khá khờ dại để tin rằng họ thực sự quan tâm đên việc tìm một cách đỡ mất mặt để thoát khỏi những tuyên bố bất cứ nơi đâu, bất cứ lúc nào của họ. Nếu Thủ tướng Uyn-xơn và Đại sứ Mỹ Đa-vít Bru-xơ cảm thấy rằng đòn ngoại giao của thế kỷ này có thể thành công được thì tôi cũng sẽ có đủ căn cứ để nghĩ rằng bằng cách dọi một tia ánh sáng vào “cuối đường hầm”, tôi phải nhận được một lờỉ ngợi khen về một sáng kiến của báó chí.
Cũng với cùng một lý do như vậy tôi cảm thấy rất khỏ chịu và vô cùng băn khoăn trước thái độ của Bắc Kinh, nhưng lúc đó tôi không thể xác định vấn đề một cách đúng đắn được bởi vì đất nước đó đang trong những cơn biến động của “Cách mạng văn hoá”. Tháng 4 năm 1967, tôi phải dụi mắt để nhận thức rằng tôi thực sự đang ở Bắc Kinh. Con đường lớn chạy từ đông sang tây trước khách sạn Bắc Kinh và ngang qua quảng trường Thiên An Môn chật ních những người nông dân mặc áo quần xanh. Những xe có gắn loa phóng thanh lách qua đám đông hô hào nhân dân hoặc ủng hộ hoặc tố cáo bên này hay bên kia. Mỗi một toà nhà từ dưới đất đến tầng cao nhất đều dán đầy báo chữ to, cũng hoặc là khích lệ hoặc là tố cáo. Từ cửa sổ phòng khách sạn, tôi thấy hai nhóm vác cờ đỏ tranh nhau một mái nhà. Hai bên xô đẩy nhau cho đến khi một bên đẩy được bên kìa rút chạy vào cầu thang cứu hoả. Ở các khu vực khác, trong các trường đại học và trong các nhà máy cuộc đấu tranh còn ác liệt hơn.
Vào giữa tháng 5, tôi đến thăm A-na Lui-đơ Xtrong một nhà văn Mỹ, hết lòng ủng hộ các cuộc đấu tranh cách mạng. Với tuổi 81, bà ta vẫn còn đầy sức sóng và thông minh.
Tôi hỏi điều gì đang xảy ra thì bà ta nói: “Mao đã thả âm binh ra khỏi chai, và tôi không chắc ông ta sẽ có thể thu trở lại được”.
“Còn Chu An Lai thì thế nào?”
“Kinh khủng. Ông ta ngày càng kiệt sức. Không ăn, không ngủ, luôn luôn đi lại 24 giờ một ngày. Dập tắt các đám lửa. Ông ta tự giết mình”.
Nói đến đó, bà ta đứng dậy, đi lại trong phòng rồi dừng lại và nói: “Vào giai đoạn này của sự việc, Chu sống sót sẽ quan trọng hơn là Mao” và thình lình ngồi xuống, vì đã nói ra điều mà đối với bà là một điều không chính thống nhất trong đời. Rồi bà ta tiếp tục mô tả một sự kiện xảy ra một vài ngày trước đó, khi sinh viên của Viện Ngôn ngữ nước ngoài tiến về Bộ Ngoại giao, trèo lên các tường vì cửa lớn đã bị đóng sầm lại trước mặt họ. Họ muốn đòi “tấm da” của Ngoại trưởng Trần Nghị, họ tràn vào các phòng làm việc, chiếm hồ sơ, gọi Trần Nghị phải tự ra để họ chất vấn.
Chính Chu Ân Lai đã ra gặp họ và nói rằng ông ta đã cấm Trần Nghị xuất hiện. Ông ta sẽ đến Viện của họ sau này để trả lời những câu hỏi của họ. Chu nói: “Nếu các anh có câu hỏi nào bây giờ, hãy nói ra cho tôi, nhưng tôi nhắc các anh là tôi nghe kém lằm. Tôi đã không được ngủ 24 giờ rồi”. Những sinh viên đó giải tán và la to: “Không... không, đề nghị Thủ tướng hãy nghỉ đi một lúc”. Ông ta nói với họ trở về Viện. “Nhưng trước khi đi, tôi muốn các anh hiểu rằng các anh đã cư xử một cách nhục nhã” - ông ta nói với theo họ khi họ bắt đầu giải tán.
Ngày hôm trước, một số sỉnh viên khá ngượng nghịu đã nói với A-na Lu-i-dơ tất cả về chuyện này và khi Trần Nghị đến Viện Ngôn ngữ thì Chu Ân Lai cùng đến với ông ta.
A-na Lu-i-dơ hỏi tôi nhiều về Việt nam, Bắc và Nam, rồi hỏi nếu tôi có muốn nói chuyện ở phòng bà ta đêm đó với một nhóm “những người tiến bộ trong cộng đồng ngoại quốc” không. Tôi nhận lời, và đó là một buổi gặp gỡ khá sinh động. Đề tài là Việt nam và sau những nhận xét mở đầu, là một loạt câu hỏi, chủ yếu đều dựa vào tiền đề rằng giới lãnh đạo ở miền Bắc đã “trở nên ôn hoà” đối với cách mạng và các lực lượng thực tế ở miền Nam, “tự mình chiến đấu” và sắp bị bội phản. Sự thật, chỉ có một chiến lược cách mạng duy nhất cho các mặt trận quân sự, chính trị và ngoại giao của Việt nam và một ban lãnh đạo thống nhất của chiến lược đó, nhưng việc nảy còn đang giữ bí mật. Khi tôi giải thích rằng cuộc đáu tranh có thể mở rộng ra lĩnh vực ngoại giao, bằng thương lượng, thì Xít-ny Rít-ten-be người Mỹ cố vấn tiếng Anh chính tại Đài phát thanh Bắc Kinh chỉ tay vào tôi và thét lên: “Anh không thương lượng với chủ nghĩa đế quốc, anh phải tiêu diệt nó”. Rồi anh ta đặt một câu hỏi lăng mạ đối với “tội” của tôi đã đưa ra công thức thương lượng của Nguyễn Duy Trinh. Khi tôi yêu cầu anh ta nói rõ điều anh ta thực sự muốn nói, thì anh ta la lên: “Có phải ông Hồ Chí Minh phản bội cách mạng Việt nam không?”. Đó là thực chất các câu hỏi lúc đó. Tôi hỏi lại: “Nó từ đâu đến thế? Có phải là chính sách chính thức của Trung Quốc không?”. Đến đây một người bạn Mỹ của tôi, tiến sĩ Gioóc-giơ Hây-ơn nay đã trở thành tiến sĩ Trung Quốc Ma Hai-ten, hích vào tay tôi và nói, đã đến lúc tôi phải trở về khách sạn.
Ngày hôm sau, tôi tìm cách gặp Kiều Quán Hoa lúc đó là Thứ trưởng Ngoại giao và chúng tôi ăn cơm tối với Cung Bành vẫn còn là Vụ trưởng Vụ Báo chí. Vào một lúc thích hợp tôi hỏi: liệu “với sự trôi qua của năm tháng, bây giờ người ta có xem ác cuộc thương lượng ngừng bắn ở Triều Tiên đã là một sai lầm không?”.
- Không. - Kiều Quán Hoa trả lời - Đó là điều duy nhất phải làm.
- Vậy thì tại sao lại coi giới lãnh đạo Việt nam gần như phản bội khi xét đến việc thương lượng để chấm dứt chiến tranh của họ.
- Chính người Việt nam có quyền quyết định - Kiều Quán Hoa nói - Tất cả điều chúng tôi mong muốn là họ phải thận trọng và không để cho phương Tây xỏ mũi như đã thường xảy ra trong quá khứ.
Hơn một năm sau, khi các cuộc thương lượng cuối cùng được bắt đầu, tôi được Sứ quán Trung Quốc ở Paris làm cho hiểu rằng rõ ràng những lời lẽ nói về cuộc nói chuyện đã thực sự được xem như một sự phản bội.
Trên đường về Phnompenh, khi ghé qua Hà Nội, tôi đề nghị được phỏng vấn ông Nguyễn Duy Trinh lần thứ hai nhắm “chữa lại thì của động từ” nhưng ông ta để từ chối. Ông ta nói: “Người Mỹ còn nghĩ rằng họ có thể dùng bom để bẻ gãy chúng tôi. Hãy ở cho họ làm điều tôgi tệ nhất. Chỉ khi nào họ nhận thức ra rằng họ đã thất bại thì lúc đó mới đáng thử làm lạ lần khác”.
Trong khi đó, số lượng bom thả hàng ngày đã tăng lên một cách thường xuyên theo chính sách leo thang của Lầu Năm góc.
Với kinh nghiệm của Bắc Kinh, tôi hỏi một người mà tôi tiếp xúc ở Bộ Ngoại giao xem có sự phản chiếu đến các cấp chính thức thái độ thù địch, đối với thương lượng đó không.
- Ở cấp chóp bu, đặc biệt với Chu Ân Lai, chúng tôi thấy không có vấn đề gì; ở các cấp thấp thì đầy rẫy các vấn đề.
Tôi được biết các nhà ngoại giao Việt nam trên đường về nước đã bị lôi ra khỏi tàu của họ ở Nam Ninh trước khi vào Việt nam và bắt phải đứng cúi đầu trên một bệ công khai để ăn năn về các “chính sách đầu hàng” của Hà Nội. Tôi cũng ở được biết các con đường xe lửa chở hàng cung cấp của Liên Xô Trung Quốc và các nước khác cho Việt nam thường bị bọn cực tả phá hoại để trừng phạt Hà Nội vì đường lối “xét lại” của mình.
Mặc dù sự thù địch bí mật của Bắc Kinh đối với thương lượng và mặc dù những ảo tưởng của Washington muốn bẻ gãy Hà Nội bằng việc leo thang ném bom tôi nhận thấy rằng giới lãnh đạo ở Hà nội rất hài lòng với khả nãng của mình trong việc đối phó với cuộc chiến tranh không quân ở miền Bảc và với những thắng lợi trên chiến trường ở miền Nam.
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #21 vào lúc: 25 Tháng Mười Một, 2008, 07:00:18 am »

10. Những cuộc du hành không có hộ chiếu
Việc không có hộ chiếu cho những chuyến du lịch thường xuyên của tôi đã trở thành một vấn đề. Giẩy thông hành của tôi trở nên dày cộm và xộc xệch với những trang giấy vở học trò gấp làm bốn, loại có thị thực ở mỗi trang. Chẳng có vấn đề gì nếu đi vào các nước xã hội chủ nghĩa, và các nước trung lập anh em ở châu Á mà tôi thường xuyên đến thăm. Nhưng khi tôi mạo hiểm đi xa vào phương Tây thì người sĩ quan kiểm tra hộ chiếu sẽ mở nó ra, kéo ra vài trang giấy và nói: “Cái gì thế này?”.
Tại Hội nghị nhà báo ở Berlin, nó đã bị lạc đi một lúc. Sau khi tim kỹ thì mới thấy được nó trong giỏ giấy vụn và được giải thích rằng vì nó bìa xanh nên có người nào đó tưởng là một vở học trò cũ và đã vứt vào giỏ rác. Tôi phải mất một đêm với các bạn ở Đông Berlin để là lại những trang bị nhàu nát và đóng lại từng trang..
Trong một dịp quá cảnh Paris trên đường đi Cuba. tôi đã thêm vào hộ chiêu 150 trang giấy trắng đóng lại thành một quyển với bìa bằng da dê thuộc đen. Để tránh nghe câu “cái gì thế này” mỗi khi đi qua các biên giới, tôi thuê in nổi những chữ vàng lớn “thông hành thay hộ chiếu” ở nửa phía trên của bìa trước và những chữ nhỏ hơn ở dưới “Việt nam Dân chủ Cộng hoà cấp”.
Nhờ tiền bản quyền tác giả thu được ở Tiệp Khắc và có vé máy bay Phnôm kênh - Pra-ha - Paris, cả gia đình tôi đi Paris. Đây là một dịp tốt cho trẻ con nghe tiếng pháp Paris và cho bố mẹ chúng hưởng không khí Paris.
Giấy thông hành vừa mới được đóng lại của tôi đã nảy ra một cảm xúc ở sân bay Habana. Nó quá dày và quá cứng không thể đưa qua khe cửa của các sĩ quan kiểm soát hộ chiếu. Một sĩ quan phải đi vòng ra ngoài để lấy. Khi anh ta trở vào bên trong, các bạn anh ta xúm lại xem vật hiếm có đó. Ngoài hình thức độc đáo của nó, hộ chiếu này có hai giá trị to lớn. Nó không phải là đồ giả vì nó được người bạn danh dự nhất của Cuba - nước Việt nam Dân chủ Cộng hoà - cấp. Và thị thực đó không phải là giả, vì nó đã được nhà văn đương thời danh dự nhất của Cuba ký. Nhà văn đó là A-lô-giô Cac-pen-tiê Y Van-mông (vào lúc đó ông ta kiêm chức vụ lãnh sự và tuỳ viên văn hoá tại phái đoàn ngoại giao của Cuba ở Paris). Hộ chiếu Bun-ga-ri hợp pháp của Vét-xa đã đủ làm cho chúng tôi được đưa vào phòng VIP (những nhân vật rất quan trọng - ND) và được uống nước giải khát mát, trong khi hộ chiếu quá cỡ của tôi được xem xét kỹ. Phải uống hết ba cốc nước giải khát, giấy tờ của tôi mới được giải quyết xong.
Vào lúc chúng tôi ăn cơm trưa với Fidel Castro ở Đào Thông (nay là Đảo Thanh niên) thì sự đồ sộ của giấy thông hành của tôi đã đến tai ông. Ông yêu cầu được xem nó, nhưng tôi phải giải thích rằng cỡ của nó không cho phép mang trong túi được, nên tôi đã để nó lại khách sạn Habana. Tôi cần có một hộp đặc biệt để mang nó theo người.
Sau một ngày tuyệt diệu với Fidel, ông cắt đứt mọi cuộc thảo luận các kỹ thuật về trồng mía và lai giống gia súc của Australia để nói: “Tôi đã nghĩ đến vấn đề hộ chiếu của bạn. Đi lại khắp thế giới với một hộ chiếu như vậy thật là bất tiện. Nếu bạn lầy một hộ chiếu Cuba, ít nhất là bạn có thể bỏ nó vào túi được. Như vậy sẽ có lợi hơn cho bạn. Mỗi bạn một hộ chiếu, nếu các bạn muốn” - ông nói thêm. Khi đã đến lúc phải đi Paris để theo dõi Hội nghị Paris về Việt nam tháng 5 năm 1968, tôi nhớ lại đề nghị của Fidel. Với một hộ chiếu Cuba, tôi không cần thị thực đối với Pháp. Tôi phát hiện ra rằng một hộ chiếu đã đợi chữ ký của tôi nhiều tháng nay tại Sứ quán Cuba ở Phnôm lênh.
Trong 4 năm tiếp theo, cho đến khi có một sự thay đổi Chính phủ ở Australia, đưa đến việc tôi được cấp lại ngay lập tức hộ chiếu Australia, tôi đã dùng hộ chiếu mà Fidel Ca-xtơ-rô cấp để đi lại, nhất là ở châu âu.
Hội nghị Tổ chức các nước Mỹ la-tinh đã được tổ chức theo yêu cầu của Chê Ghê-va ra đời “một, hai, ba hoặc nhiều Việt nam hơn nữa ở Mỹ la-tinh” một khẩu hiệu có ý thức tốt nhưng không thực tiễn, xuất phát từ lý tưởng thiết tha của Chê; không thực tiễn bởi vì nó vi phạm một nguyên tắc đã được thử thách từ lâu rằng bạn không thể ngăn chặn một dân tộc làm cách mạng nếu họ đã quyết định định làm như vậy, nhưng bạn cũng không thể buộc một dân tộc làm cách mạng nếu họ chưa sẵn sàng. Hội nghị là một Mée-ca (đất thánh của những người Hồi giáo - ND) của những nhà cách mạng toàn khu vực Mỹ la-tinh, và tôi rất ngạc nhiên khi nhận thấy mức độ hiểu biết của họ đối với những tác phẩm của tôi về Việt nam. Những đoạn trích của những sách in tiếng Tây Ban Nha phát hành ở Mê-hi-cô đã được sao lại và chuyển tay cho nhau khắp nơi, từ những vùng núi ăng-đơ trong các nước phía đông đến các Cộng hoà Panama ở miền Trung, mỗi khi có hoạt động chõng các chế độ độc tài. Cuba cũng phát hành những bản dịch tiếng Tây Ban Nha, vì những sách xuất bản đó đi vào những nơi xa xôi của các nước đọc được tiếng Tây Ban Nha. Đó là một hình thức thừa nhận tin tức của bạn được đánh giá cao nhất, và được bạn đọc ưa thích, nhất là những bạn đọc biết sử dụng tốt những tin tức đó.
Mọi người chờ đợi Chê sẽ đến Hội nghị nhưng ông ta đã tham gia vào một hành động nguy hiểm của “một Việt nam nữa” ở Bô-li-vi-a, mà kết thúc là cái chết của ông ta.
Điểm nổi bật nhất trong chuyến đi thăm của tôi là gần trọn một ngày sống với Fidel trên Đảo Thông Chúng tôi đi xe gíp quanh đảo. Fidel trực tiếp lái. Những người bảo vệ rất vất vả đuổi theo. Một người bảo vệ bất ngờ nói trong lần dừng lại đầu tiên: “Fidel ghét lái xe trong bụi của xe khác để lại”. Những lúc dừng lại như vậy thường xảy ra khi một công nhân ra hiệu cho ông dừng lại để nói một vấn đề này hay một vấn đề khác. Luôn luôn có người nào đó bên đường nhận ra người lái xe đặc biệt đó để ra hiệu đừng lại.
Ngồi chen nhau đằng sau xe gíp là Vét-xa; Rô-xa-na Rô-xan-đa, nôti tiếng ở Italy như là người đứng đầu phong trào Tuyên ngôn cánh cực tả, nhà văn kiêm nhà báo gốc Ba Lan, S. Carôn và tôi. Ngồi bên cạnh Fidel là thiếu tá Ri-na Va-lây, một trong những trợ lý thân cận của ông và một phiên dịch Tây Ban Nha - Anh. Trong những xe gíp theo sau là các Bộ trưởng có liên quan đến những vấn đề kinh tế. Fidel đang thực hiện một những chuyến đi tìm hiểu nhằm biến hòn đảo, bằng một chương trình phát triển đầy tham vọng, thành một đảo phát triển, với những cơ sở giáo dục kiểu mâu và một khả năng sản xuất đại trà loại chanh quả đặc biệt thích hợp với điều kiện đất và khí hậu ở đây.
Chuyến đi kéo dài nhiều giờ, trong đó chúng tôi thảo luận mọi thứ, từ tính “đẻ nhanh” của thỏ Australia để cho nhiều thịt đến việc chậm trễ của các ngành công nghiệp vũ khí ở các nước xã hội chủ nghĩa nhằm sản xuất vũ khí đặc biệt cho chiến tranh du kích, nhất là những vũ khí vác trên vai để chống máy bay lên tháng, xe tăng lội nước và những phát minh chính trong các hoạt động chống du kích.
Đến một lúc tôi không thể tự kiềm chế được, đã yêu cầu Fidel kể lại về cuộc xâm lược Vịnh Con Lợn, chẳng hạn như lúc nào là lúc hấp dẫn nhất? Trả lời của ông luôn luôn được điểm bằng những làn khói thuốc của một điếu xì-gà dài một phút Anh - (phút: đơn vị đo chiều dài Anh bằng 0,3048 m - ND) và bằng những cuộc dừng xe thường xuyên bên đường, là như sau:
“Nó bắt đầu ngày 17 tháng 4 năm 1961 sau khi đã tấn công các căn cứ không quân của chúng tôi vài ngày trước đó. Kế hoạch quét sạch lực lượng không quân nhỏ bé của chúng tôi đã thất bại. Nơi đổ bộ chính là Hi-rôn, gần một lạch nhỏ của Ba-bi-a-đờ Cô-si-nô (Vịnh Con Lợn). Nơi đổ bộ thứ hai là ở Plây-a Lác-ga (Bờ biển dài) ở phía đầu của lạch đó. Bọn xâm lược ngay lập tức rơi đúng vào nơi mà các lực lượng bảo vệ địa phương của chúng tôi đã bố trí sẵn và không thể đạt được các mục tiêu của chúng...
“Vào sáng sớm ngày thứ ba có tin rằng một hạm đội xâm lược thứ hai đã thả neo phía ngoài Hirôn. Chúng tôi có một vài pháo lớn Tiệp Khắc trong một trường huấn luyện nhưng những chuyên gia Tiệp khắc đánh giá học viên của chúng tôi chưa đủ khả năng sử dụng các súng lớn đó. Không để cho các chuyên gia đó biết, tôi ra lệnh đưa súng và số người được huấn luyện của chúng tôi vào vị trí nhằm thẳng vào hạm đội xâm lược, còn tôi thì chạy thẳng đến tận nơi. Có sự di chuyển quân đội quanh bờ biển, nhưng thình lình tôi nhận ra rằng bọn xâm lược rút ra khỏi đầm lầy để ra bờ biển. Đó là một Đoong kéc, chứ không phải một cuộc xâm lược thứ hai. (Đó là cuộc rút lui của quân Anh và Đồng minh châu Âu tại Đoong kéc (Pháp) cuối tháng 5-1940 trong chiẻn tranh thế giới thứ hai - ND) các tàu đã đến để nhặt quân còn lại của lực lượng xâm lược ban đầu. Nhưng chúng tôi phải chặn không cho chúng rút.
“Chúng tôi có một số xe tăng gần đó. Nhảy vào một xe đầu tiên, tôi nói: “Hãy theo tôi!” và toàn bộ đoàn xe chạy hết tốc lực ra bờ biển để ngăn bọn rút lui. Vừa lúc chúng tôi tới bờ biển, trọng pháo của chúng tôi bắt đầu bắn - nhưng lại bắn vào chúng tôi. Họ tưởng định đã lên được bờ biển với xe tăng. Khủng khiếp thật, tôi nghĩ. Vào lúc thắng trận thì chúng tôi tôi lại bị quét sạch bằng chính súng của mình.
“Trong những ngày đó, chúng tôi không có điện đài xách tay, không có liên lạc bằng radio. Tôi trưng dụng một xe gíp và lái hết tốc lực lên các vị trí pháo, may mà thoát được một ổ phục kích của dân quân chúng tôi để chặn bọn xâm lược. May là có người nào đó nhận ra tôi đúng lúc. Tôi tôi ra lệnh cho các tay pháo tăng tầm bán của họ lên và bắn vào các tàu “Đoon kéc”. Họ đã thực hiện rất tốt”.
Trong một buổi uống nước chè trước khi ăn trưa tại nhà khách mà Castro đặt trụ sở tạm thời của ông, tôi được biết qua một trợ lý kín đáo, khi Fidel đang tắm, rằng hôm đó kỷ niệm lần thứ 40 ngày sinh của ông. Nghĩ rằng tôi làm như vậy là đúng lúc, tôi nâng cốc chúc mừng khi ông xuất hiện trở lại. Nhiệt tình của tôi có phần tan biến khi ông trả lời: Tôi chưa bao giờ hiểu tại sao thêm một năm nữa vào cuộc sống lại là việc đáng ăn mừng”. Nhưng ông vẫn uống một cốc rượu và không tỏ ra quá khó chịu. (Về sau tôi biết rằng ông rất nhạy cảm với vấn đề tuổi tác và cảm thấy rằng thì giờ trôi qua nhanh đối với nhiều công trình quốc gia cũng như quốc tế mà ông đang có trong đầu óc).
Tại bữa cơm trưa sau đó, sự hăng hái và tính chất thực tế của cuộc đối thoại buổi sáng đã bị mất đi. Tôi cảm thấy như vậy và tôi nghĩ rằng Fidel cũng cảm thấy như vậy khi Ca-rôn Rô-xa-na chuyển cuộc nói chuyện sang lịch sử phong trào cáchi mạng thế giới. Rõ ràng là Fidel quan tâm thảo luận đến các vấn đề thế giới hiện nay hơn, mà trên hết là vấn đề Việt nam. Vào bất cứ lúc nào cuộc nói chuyện dừng lại dù là một tý. Ca-rôn lại muốn đề cập đến những vấn đề lịch sử. Cuộc nói chuyện chấm dứt với việc Fidel ngáp dài và muốn nghỉ.
Khi chúng tôi bay về Habana, ấn tượng mạnh mẽ nhất của chúng tôi là sự giản dị và thẳng thắn của Fidel, những quan hệ tự nhiên và hữu nghị với nhân dân đã được chứng minh qua cuộc đi quanh đảo vừa rồi. Sự quan tâm và tinh thần trách nhiệm đối với từng chi tiết của ông mà biểu hiện là sự chú ý đến hộ chiếu của tôi, đã để lại ấn tượng không thể phai mờ. Sức mạnh kỳ diệu đối với nhân dân của ông đã được chứng minh bằng sự chú ý say mê của hàng trăm nghìn người dừng dưới một mặt trời nóng bỏng ở nghe bài diễn văn 6 tiếng của ông tại Xan-ti-a-gô đờ Cuba kỷ niệm cuộc tấn công vào doanh trại Môn-ca-đa 14 năm trước đó. Điều kiện lương thực ở Cuba rất gay gắt, nhưng đám đông đã nhiệt liệt tán thành khi Fidel kêu gọi tiết kiệm để giúp Việt nam.
Chúng tôi nhận thấy rằng lòng tận tình đối với cuộc đấu tranh của nhân dân Việt nam rất sâu xa. “Đến giọt máu cuồi cùng” là đề tài được nhắc đi nhắc lại nhiều trong các áp-phích và quảng cáo trên khắp Habana và dọc theo tất cả các đường mà người ta đi qua. Đó là đề tài trung tâm thảo luận ở bất cứ nơi nào mà chúng tôi đến, và tin về Việt nam chiếm nhiều chỗ trên báo chí hơn bất cứ đe tài quốc tế nào khác.
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #22 vào lúc: 25 Tháng Mười Một, 2008, 07:00:47 am »

Chúng tôi đưa các con trở lại Phnompenh. Không lâu sau đó, tôi đi thăm lại Hà nội. Đó là vào lúc chiến dịch “Sấm rền” được thực hiện với toàn bộ sức mạnh của nó, nhằm phá huỷ mọi cơ cấu do con người làm ra ở phía bắc vĩ tuyến 17, trừ Hà Nội và Hải Phòng. Trong một cuộc nói chuyện khi ăn sáng với cụ Hồ Chí Minh, tôi hỏi liệu có dấu hiệu gì mới cho cuộc thương lượng bắt đầu không. Cụ hỏi lại: “Làm sao có thể thương lượng với một lão găng-xtơ?” và nhắc lại diễn văn Giôn-xon đã đọc và ngày trước đó tại Xan An-tô-ni-ô, Tếch-xát. Cụ tỏ ra đặc biệt tức giận với điều mà cụ xem là sự giả dối của những lời kết luận của Johnson:
“Tại sao không thương lượng bây giờ? Nhiều người hỏi tôi như vậy. Câu trả lời là chúng tôi và những đồng minh Việt nam của chúng tôi hoàn toàn sẵn sàng thương lượng đêm nay.
Tôi sẵn sàng nói chuyện với ông Hồ Chí Minh và các nguyên thủ quốc gia có liên quan khác vào ngày mai.
Tôi sẵn sàng để Bộ trưởng Ra-xcơ gặp các Bộ trưởng ngoại giao của họ ngày mai.
Tôi sẵn sàng cử một đại diện tin cậy của nước Mỹ đến bất cứ nơi nào trên quả đất để nói chuyện công khai hoặc riêng rẽ với một phát ngôn của Hà Nội... Mỹ sẵn sàng chấm dứt tất cả các cuộc ném bom và bắn phá bằng không quân và hải quân chồng lại Bắc Việt nam khi việc đó sẽ nhanh chóng dẫn đến những cuộc thảo luận có kết quả. Tất nhiên chúng tôi cho rằng trong khi các cuộc thảo luận được tiến hành thì Bắc Việt nam không được lợi dụng sự chấm dứt hoặc hạn chế việc ném bom đó.
Cụ Hồ Chí Minh mô tả: đoạn này là nhằm “lòe công chúng” và nói rằng tất cả điều mà một vài thăm dò ngoại giao đằng sau sân khấu đã tiết lộ rằng Johnson và Ra-xcơ đang đợi sự “đầu hàng hoàn toàn” làm một cá giá để chấm dứt việc ném bom và khái niệm đàm phán của họ là khái niệm “áp đặt những điều kiện đầu hàng”.
Sau những cuộc nói chuyện tiếp theo với ông Phạm Văn Đồng và ông Nguyễn Duy Trinh, tôi viết một bài cho báo Đoàn Kết trong đó tôi nói “Hà Nội không còn tâm trạng nhượng bộ hoặc mặc cả. Họ hoàn toàn không sẵn sàng đưa ra cái gì khác ngoài việc nói chuyện, để đổi lấy sự chấm dứt ném bom... Một khó khăn của các nhà ngoại giao nước ngoài trong việc thuyết phục Hà Nội có một cử chỉ hoà bình mới, đó là điều mà một trong các nhà lãnh đạo Hà Nội đã nhắc đến như là khoảng cách của sự tin cậy” giữa điều mà Tổng thống Giônxơn nói và những việc ông ta đã làm...”
Sau khi dự một phiên toà tại Rốt-xkin-đơ, Đan-mạch, của Toà án Quốc tế xét xử tội ác chiến tranh Béc-trang Rut-xen, tôi qua Paris trở về Phnompenh. trong tuần đầu của tháng 12 năm 1967 tôi bắt đầu làm việc với tư cách là một “tay chân chính trị nguy hiểm” đã được Giôn Đin, Bí thư thứ nhất của Sứ quán Mỹ ở Paris tìm hiểu. Một giấy mời đi dự ăn trưa tại nhà ông ta đã đến một cách thật bất ngờ. Đin là một con người thấp, dễ thương, giới thiệu tôi với một người khách khác, Hây-oát I-sam, một kiểu người học viện to lớn, rồi giải thích rằng anh ta là một thành viên của một đơn vị tác chiến đặc biệt của Bộ Ngoại giao Mỹ về Việt nam, chuyên trách theo dõi mọi điều có thể lộ ra về hoà bình hoặc thương lượng. Bữa ăn rõ ràng được tổ chức để thăm dò thêm về cuộc phỏng vấn với ông Nguyễn Duy Trinh và về cơ sở của một số bài viết của tôi cho báo Đoàn Kết.
Đối với tôi dường như đây là cố gắng nghiêm chỉnh nhất để phát hiện một cơ sở cho thương lượng. Phải đợi đến hơn 10 tháng kể từ khi có cuộc phỏng vấn với ông Nguyễn Duy Trinh, Washington mới đặt ra những câu hỏi như vậy Điều đó làm cho tôi thấy rằng sự thật bắt đầu đến với ít nhất một số giới ở Washington. Họ bắt đầu nhận ra sự thật rằng “thương lượng không phải là hành động cuối cùng” của Bắc Việt nam hoặc Mặt trận dân tộc giải phóng. Rõ ràng nội dung cuộc nói chuyện kéo dài của chúng tôi sẽ được chuyển trực tiếp đến A-ve-ren Harriman, người đứng đầu đơn vị tác chiến đặc biệt.
Bữa ăn trưa đó đã củng cố lòng tin của tôi rg có những tiếng nói hợp lý hơn và sáng suốt hơn ở Washington, chứ không phải chỉ những tiếng nói gây ồn ào nhất và để sản sinh ra những đầu đề lớn trên báo chí. Và cũng có những người có những ý kiến về những hoạt động và mục đích của tôi khác với những người đã tìm cách bêu riếu tôi sau cuộc phỏng vấn. Đin và I-sam chẳng hạn, chắc đã tin rằng họ có thể tin vào sự kín đáo của tôi. Điều này họ không hề nêu lên trong cuộc gặp.
Việc cho rằng có những tiếng nói sáng suốt hơn ở Washington, mà tôi ngờ rằng Harriman có trong số này là việc mà tôi rất khó làm cho những người bạn Việt nam của tôi chấp nhận, bởi vì cả ngày lẫn đêm số lượng bom ném xuống đất nước của họ mãi mãi tăng lên. Nếu tôi có vài hy vọng mong manh về những tiếng nói của lẽ phải ở Washington. thì những hy vọng của tôi về một trí thông minh cao hơn ở Hà Nội, còn to lớn hơn nhiều. Những hy vọng đó đã được chứng minh, và chẳng bao lâu sau cuộc họp Paris, tại một cuộc chièu đãi khách Mông cổ tại Hà Nội, ông Nguyễn Duy Trinh đã thay từ “could” (có thể) bằng từ will (sẽ) và vẫn nhắc lại gần như nguyên văn phần chủ yếu của cuộc phỏng vấn. Nhưng, như là một nhượng bộ cho sự thăm dò của I-sam về một chương trình nghị sự, ông Nguyễn Duy Trinh đã thêm “nói chuyện về tất cả các vấn đề liên quan”.
Tính khách quan trong việc thu thập và chuyển những sự kiện thực tế là rất quan trọng, nhưng không thể mở rộng ra bằng cách đặt những người bảo vệ đất nước của họ ngang hàng với những người tấn công họ được.
Điều này càng ngày càng được hiểu rõ ở Washington, các nơi khác của nước Mỹ và ở nước ngoài, nhất là về mặt dư luận công chúng.
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #23 vào lúc: 25 Tháng Mười Một, 2008, 07:01:22 am »

11. Việt cộng ở Paris
Sau chuyến thăm tháng 8 năm 1966 của tôi, tôi đã không đến các khu vực của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt nam vì chắc rằng Mặt trận đã có một phái đoàn Ngoại giao rất thông thạo ở Phnompenh, do ông Nguyễn Văn Hiếu, người Việt cộng đầu tiên mà tôi được tiếp xúc năm 1962 đứng đầu. Ngoài ra còn có “các bác” trên rừng mà nhiều người là Việt nam gốc Campuchia về nghỉ phép, thường xuyên đến Phnompenh. Ba Tư, người phiên dịch dũng cảm trong các chuyến thăm đầu tiên của tôi đã đến Phnompenh làm phóng viên cho cơ quan Thông tấn xã Giải phóng của Mặt trận dân tộc giải phóng. Vì vậy tôi nắm được đầy đủ tình hình trên mặt đất và có thể cười một cách thoải mái trước những đợt tiên đoán của tướng William C. Oét-mô-len, tư lệnh có uy tín của Mỹ vào cuối năm 1967. Nếu Washington vẫn còn không quan tâm đến các cuộc nói chuyện hoà bình thì cũng không có gì đáng ngạc nhiên lắm bởi vì “Oét-ti” bảo đảm với thế giới rằng Việt cộng đã bị đẩy lên vùng biên giới với Campuchia và không còn là một vấn đề nữa. Tình hình quân sự chưa bao giờ tốt hơn! Vì những bản đồ mà các sĩ quan tham mưu chuẩn bị cho ông ta ở Sài gòn rất khác với những bản đồ tôi thấy ở Phnompenh, cho nên chính ông ta, chứ không phải tôi đã sững sờ khi cuộc tấn công Tết Mậu Thân nổ ra đêm 30 - 31 tháng 1 năm 1968.
Trong quyển sách đầy đủ tư liệu của mình về cuộc tấn công Tết Mậu Thân, Đôn Đô-bơ-đốc-phơ, phóng viên của tờ Bưu điện Washington kể lại rằng khi tin nhanh đầu tiên đển Bộ Ngoại giao thì 4 bạn đồng nghiệp của anh ta ở tờ Bưu điện đã được thông báo rằng cuộc chiến tranh đang được tiến hành tốt như thế nào, với tập “tài liệu cộng sản bắt được” để chứng minh rằng Việt cộng đã đến “phút cuối cùng”. Sau khi một vài mảnh giấy đã được chuyển cho anh ta, người sĩ quan thông báo “với một nụ cười yếu ớt” báo tin đường như Việt cộng đang tấn công Sứ quán Mỹ ở Sài gòn. Có lẽ cùng vào giờ đó tôi được ông Nguyễn Văn Hiếu ở Phnompenh thông báo một cách đơn giản, ngắn gọn, đầy đủ sự kiện về điều đang xảy ra. Ông nói đó chỉ là ở một cuộc “tấn công chúng chứ không phải một cuộc tổng tấn công” và ông nói thêm “đừng quên rằng chúng tôi đánh giá kết quả của hành động quân sự bằng những tác động chính trị của nó.
Tác động chính trị đã được thấy 2 tháng sau lại buồng của tôi ở khách sạn Thống Nhất Hà Nội trong đêm 31 tháng 3 năm 1968.
Đối với Hà Nội, đây là một tập hợp hiếm có các nhân tài gồm có nhà văn, chủ bút và nhà báo Mỹ: các nhà văn Ma-ri McCarthy và Phăng Xsua-man nhà báo kiêm chủ bút Ha-ri Asơmơ và Uyn-liam Ba-gơ và phóng viên ngoài nước chính của hãng tin CBS, Sác-lơ Cô-Lin-út. Họ có mặt ở buồng tôi vì tôi có một đài thu thanh làn sóng ngắn tốt và Tổng thống Johnson sắp đọc một diễn văn quan trọng về chiến tranh Việt nam. Phần thiết yếu chiến tranh Việt nam là như sau:
“Không cần thiết trì hoãn các cuộc nói chuyện có thể đưa lại một kết thúc cho cuộc chiến tranh đẫm máu dài ngày này. Đêm nay tôi nhắc lại đề nghị tôi đã đưa ra trong tháng 8 để chấm dứt ném bom Bắc Việt nam. Chúng tôi yêu cầu các cuộc nói chuyện bắt đầu ngay tức khắc và chúng phải nghiêm chỉnh về mặt thực chất của hoà bình. Chúng tôi cho rằng trong khi có những cuộc nói chuyện đó, Hà nội sẽ không lợi dụng kiềm chế của chúng tôi...
“Đêm nay tôi đã ra lệnh cho máy bay và tàu hải quân của chúng tôi không được tấn công Bắc Việt nam, trừ khu vực bắc khu phi quân sự, là nơi mà lực lượng của địch vẫn tiế tục được xây dựng để đe doạ các vị trí tiền tiêu của đồng minh, và là nơi mà việc di chuyển quân đội và chuyên chở hàng cung cấp rõ ràng có liên quan đến việc đe doạ đó...
Bây giờ cũng như trong quá khứ, Mỹ sẵn sàng cử đại diện của mình đến bất cứ diễn đàn nào, vào bất cứ lúc nào, để thảo luận những biện phảp đưa cuộc chiến tranh này đến chỗ kết thúc. Tôi chỉ định một trong những người Mỹ ưu tú nhất của chúng ta, Đại sứ A-vơ ren Harriman làm đại diện cá nhân của tôi trong các cuộc nói chuyện như vậy...”
Ông ta tiếp tục nói về các vấn đề kinh tế, và vì A-sơ-mo và Ba-gơ đến chậm, nên có tiếng đòi tắt đài và so sánh những bản ghi chép của mọi người để bảo đảm đã ghi đúng tuyên bố đầy xúc cảm, mạnh mẽ đó của bất cứ Tổng thống nào về cuộc chiến tranh Việt nam. Chúng tôi kéo xuống quậy bán rượu uống mừng.
Sau khi uống đến lượt thứ ba, một bạn Việt nam vào hỏi chúng tôi nghĩ gì về quyết định của Johnson không ra ứng cử Tổng thống lại? Chúng tôi ngây người ra mà nhìn anh ta và nhận thấy mình đã bỏ lỡ mất tác động chính trị tối cao, vì đã tắt đài quá sớm.
Trong vòng vài ngày ông Nguyễn Duy Trinh đề nghị bắt đầu các cuộc nói chuyện ở cấp đại sứ ở Phnompenh. Mặc dù ông ta tuyên bố “bất cứ diễn đàn nào, vào bất cứ lúc nào”, Johnson đã bác bỏ thủ đô Campuchia vì ở đó thiếu các phương tiện liên lạc và vì Mỹ không có quan hệ ngoại giao ở đó. Hà Nội đề nghị Warsaw, là nơi mà cả hai bên đều có quan hệ ngoại giao và Mỹ đã thương lượng với Trung Quốc ở đó gần 10 năm. Warsaw cùng bị bác bỏ. Rồi Đin Ra-xcơ tiến tới việc làm trò cười cho thiên hạ bằng việc nêu ra tiêu chuẩn cho một địa điểm có thể chấp nhận được, và đưa ra những địa điểm vi phạm ngay chính tiêu chuẩn của ông ta: “Nó phải trung lập, ở đó cả hai bên đều có quan hệ ngoại giao và có các phương tiện liên lạc thích hợp”. Ông ta đề nghị 6 nước ở châu Á và 4 nước ở châu Âu mà Bắc Việt Nam không có quan hệ ngoại giao và trong một số các nước đó như Afganistan và Nê-pan, chẳng hạn, khả năng liên lạc là đáng nghi ngờ. Hà Nội đề nghị Paris; Raxcơ đối lại bằng việc chấp nhận một đề nghị của Indonesia dùng một tàu tuần dương và một tàu khách thả neo ở “vùng biển trung lập”. Có vẻ như Ra-xcơ có ý định tiến hành các cuộc nói chuyện ở nơi nào ít báo theo dõi nhất. Cuối cùng Ra-xcơ chấp nhận Paris.
Những bài xã luận trong một số tờ báo Mỹ phàn nàn rằng nước Pháp với phần diễn văn Phnompenh của Charles De Gaull, có thể không được xem là “trung lập” về cuộc chiến tranh Việt nam.
Cuộc họp toàn thể đầu tiên được định vào ngày 13 tháng 5 năm 1968.
Tôi đến Paris sớm hơn vài ngày với tư cách là cố vấn cho nhóm CBS có quyền lực cao chịu trách nhiệm theo dõi hội nghị. Đó là một sự sắp xếp kín đáo, không gây khó khăn gì cho việc hàng tuần tôi gửi tin cho tờ Người bảo vệ. Tôi giữ một buồng lại khách sạn Luy-tê-ti-a ở đường Ra-xpen là nơi mà nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Xuân Thuỷ, người đứng đầu phái đoàn Việt nam Dân chủ Cộng hoà và những đồng sự của ông đang ở. Như đã đồng ý trước với nhau tôi ăn cơm tối với Sác-lơ Cô-lin-út và vợ anh ta tại phòng ăn của Luy-tê-ti-a vào đêm tôi đến. Chúng tôi cố ăn và nói chuyện trong khí hơi cay lọt vào phòng qua mảnh kính vỡ của cửa sổ, bởi vì sinh viên đang đánh nhau với cảnh sát cách đó một vài khối nhà phía dưới đại lộ Xanh Giéc-manh.
Sau khi vợ chồng Cô-lin-út về, tôi tiến ra phía nổ lựu đạn hơi làm chảy nước mắt và những ánh chớp làm sáng bầu trời. Tại một góc của đại lộ Xanh Giéc-manh với phố Đô Lan-xiên Cô-mê-đi, tôi chạy vào một vật chướng ngại đầu tiên làm bằng những tảng đá và thân cây vừa mới hạ dọc theo đại lộ. Tôi bị hai người với vẻ mặt nghiêm khắc và mạnh khỏe chặn lại. Sau đây là cuộc đối thoại vời họ:
- Điều gì đang xảy ra thế?
- Anh có thể đọc báo và nghe đài!
- Tôi vừa mới đến Paris đêm nay. Đây giống như Việt Nam, chứ không phải Paris.
- Anh là ai?
- Một nhà báo - đây, giấy tờ để đến hội nghị về Việt nam đây!
- Đợi một phút!
Họ trở lại với một người đeo băng tay, chắc chắn là làm nhiệm vụ lãnh đạo.
- Anh là ai? Anh muốn gì?
- Tôi đưa ra một thẻ nhà báo.
- Anh là Burchett à? Người viết về Việt nam?
Tôi gật đầu:
- Vâng. Cũng cùng một tình hình như vậy. Chúng tôi là Việt cộng và chúng - anh nói, hất đầu về phía đang đánh nhau - là bọn Yan-ki. Hãy đi với tôi!
Anh ta hướng dẫn tôi đi sang vật chướng ngại thứ hai. Ở đấy chúng tôi phải tránh đường cho hai nhóm mang cáng cứu thương đang chạy đến trường Y, cách đây một vài trăm thước Anh. Nằm trên cáng là một thanh niên tay để trên đầu và máu rỉ ra giữa các ngón tay. Chúng tôi đến một vật chướng ngại thứ ba; vào lúc này nước mắt đã chảy xuống má tôi và tôi cảm thấy đau nhức trong cầu mắt. Ở đây xe hơi bị lật ngược để làm vật chướng ngại cùng với những cây sắt, những cửa sắt lấy từ các tiệm buôn và ngay cả những cột đèn cũng bị nhổ lên. Hoạt động ác liệt nhất xảy ra ngay gần đây, ngã ba giữa đại lộ Xanh Giéc-manh và đại lộ Xanh Mi-sen, người hướng dẫn tôi nói: “không thể đi xa hơn nữa. Phía trước kia thật là gay gắt”.
Tôi chệnh choạng đi trở lại, khăn tay áp trên mặt nóng bừng và chảy nước mắt. Người hướng dẫn tôi nắm cánh tay và đưa tôi trở về vật chướng ngại thứ nhất. Rồi anh ta lại làm nhiệm vụ chỉ huy để cho tôi tự dò dẫm tìm đường trở về.
Tôi rời “khu vực chiến đấu” để đến góc của phố Ptên-nơ, ở đây tôi chứng kiến một cảnh kỳ lạ. Một đống rác to tướng nằm bên bờ đường, công nhân vệ sinh đã đình công vài ba ngày rồi. Một nhóm thanh niên tranh luận với nhau liệu có nên đốt đống rác đó đi không. Khi cuộc tranh luận gay gắt đạt đỉnh cao thì một người có vẻ buồn rầu châm lửa vào đống rác bằng máy lửa của mình. Chỉ khi ngọn lửa bốc lên cao, những người đang tranh cãi nhau mới thấy là vấn đề đã được giải quyết xong xuôi. Còn người buồn rầu kia đã đi xa rồi, đám thanh niên cũng bắt đầu giải tán, vẫn còn tranh cãi nhau nhưng lần này có lẽ về những vấn đề có tính chất học thuyết... đây là một sự kiện không quan trọng nhưng nó tượng trưng cho sự hỗn loạn, thiếu lãnh đạo hoặc thiếu mục tiêu rõ rệt đối với các sự kiện tháng 5, về sau được gọi là như vậy.
Sáng hôm sau, người ta công bố rằng 60 chướng ngại vật đã được dựng lên trong đêm bạo động. 188 xe đã bị phá huỷ hoặc hư hại; 367 người chủ yếu là sinh viên đã bị thương và 160 người bị bắt. Cảnh sát trưởng Paris tố cáo sinh viên tiến hành “khiển tranh du kích thực sự”, nhưng công chúng có cảm tỉnh với sinh viên. Phải thừa nhận chung rằng cảnh sát đã hành động một cách tàn bạo quá mức. ểề làm cho tình hình rắc rối hơn nữa, hai nghiệp đoàn lớn nhất của đất nước đã tham gia tổ chức một cuộc đình công 24 giờ. Cuộc đình công này trùng hợp với việc khai mạc hội nghị. Ngay hôm đó, nước Pháp ở trong tình trạng không hoạt động. 10 triệu công nhân đỉnh công mà phần lớn là công nhân mỏ, xí nghiệp, cơ quan, tiệm buôn và các nơi làm việc khác. Cảnh sát Paris cũng đình công; sinh viên đứng ra hướng đẫn giao thông ở những điểm “nóng”...
Đối với những người muốn bóp nhỏ thực tế rằng nước Mỹ lại phải ngồi lại với những nông dân châu Á, từ một nước tương đối nhỏ lần này, để thương lượng cách thoát khỏi một thất bại, thì những sự kiện tháng 5 rõ ràng là một món quà quý giá của Chúa. Việc xảy ra một tình hình bùng nổ trong hàng ngũ sinh viên cũng như sự bất bình to lớn của công nhân là một điều chẳng bí mật và lạ lùng gì. Nhưng thời điểm mà các nhà lãnh đạo chính trị cũng như các nhà lãnh đạo nghiệp đoàn, từ cộng sản đến gô-lít, đểu không ngờ đến, đã vô tình trở thành một nhịp chống lại tính chất hấp dẫn của hội nghị về Việt nam. Hàng trăm nhà báo và hàng chục đoàn vô tuyến truyền hình đổ vào Paris để theo dõi hội nghị đã quay sang theo dõi những cuộc chiến đấu bán đêm trên đường phố ở khu La-tinh với những hình ảnh, những đề tài không kém phần hấp dẫn.
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #24 vào lúc: 25 Tháng Mười Một, 2008, 07:02:02 am »

Oan-tơ Crôn-cai-tơ và đoàn CBS của anh ta có quan điểm cho rằng báo chí phải có phần đóng góp vào việc đưa lại một giải pháp và vai trò của tôi sẽ phải bảo đảm rằng, CBS có thể nắm càng đầy đủ càng tốt các quan điểm của Việt nam Dân chủ Cộng hoà về các vấn đề sẽ được thảo luận. Việc họ có những phương tiện riêng của họ để nắm đầy đủ nhất những quan điểm của Mỹ là việc tất nhiên, không cần gì phải nói đến. Ngoại giao báo chí, mà Oan-tơ Crôn-cai-lơ chẳng xa lạ gì, sẽ đi song song với ngoại giao trên bàn hội nghị. Việc này phù hợp với khái niệm báo chí sáng tạo của tôi và làm cơ sở cho sự hợp tác của tôi với đoàn CBS trong gần một năm đầu của hội nghị.
Trong khung cảnh trách nhiệm của một nhà báo tham gia việc theo dõi vấn đề trang nghiêm nhất trong tất cả các vấn đề - vấn đề hoà bình hoặc chiến tranh - đúng hai tuần sau khi cuộc đàm phán tại Paris bắt đầu, tôi đã đến dự một bữa cơm trưa với A-vơ-ren Harriman, dẫn đầu đoàn đại biểu Mỹ, tại căn buồng của ông ta, ở khách sạn Cri-dông nổi tiếng và đắt tiền nhất. Những khách khác là Sác-lơ Cô-lin-út và một trong những trợ lý chính của Harriman là Đa-ni-ên Đa-vít-xơn. Đó là một dịp rất không chính thức một bữa cơm trưa trong một bầu không khí chủ nhật thoải mái, điển hình. Harriman mặc áo cộc tay với quần có dây treo, tự tay mời rượu và bắt đầu bằng việc cảm ơn tôi đã có những đóng góp nhất định vào việc xin thả một số tù binh khi ông ta được Johnson giao nhiệm vụ phải “làm một cái gì” đó trong lĩnh vực này. Ấn tượng đầu tiên của tôi về ông ta là thấy ông ta là một người nhiệt tình có thể dễ dàng nôi chuyện, và ấn tượng này về sau đã được chứng minh là đúng. Cô-lin-út một bạn thân của Harriman, đã sắp xếp cuộc gặp gỡ này, bởi vì trong một lân tâm sự, tôi đã nói anh ta về kết quả có ích của tình bạn giữa Đờ Gôn-dắc của tờ Nước Pháp buổi chiều về tôi trong nghị Giơ-ne-vơ năm 1954. Cô-lin-út nhắc rằng Harriman muốn mang lại cho sự nghiệp lâu dài và nổi tiếng của mình một vinh dự được góp phần vào cuộc thương lượng để đưa Mỹ ra khỏi cuộc chiến tranh đầy tranh chấp và không được lòng dân nhất này. Đó là một tham vọng đáng tán đương, đáng ủng hộ.
Harriman muốn biết quan điểm của tôi về các mục tiêu thương lượng của người Bắc Việt nam và những lĩnh vực thoả thuận thực tế.
Một số nhà báo đã bắt đầu xem tôi là “một phát ngôn của những người Đỏ Bắc Việt nam”, và tôi đã nói rõ ngay từ đầu rằng tôi không có quan hệ chính thức hoặc hữu cơ nào với người Bắc Việt Nam và bất cứ điều gì nói ra đều là ý kiến cá nhân tôi. Nhưng đó là một ý kiến có cơ sở bởi vì, tôi đã theo dõi chặt chẽ các công việc của Việt nam nhiều năm nay. Harriman chấp nhận điều đó. Ông ta chăm chú nghe khi tôi điểm lại một cách vắn tắt lịch sử lâu dài của cuộc kháng chiến của Việt nam chống bọn xâm lược nước ngoài. Tôi đã nhấn mạnh cho Harriman rằng người Việt nam đã bị đánh lừa khi kết thúc chiến dịch chống Pháp, do đó đủ cho Harriman có đến với thiện chí và sự chân thật, thì những sự nghi ngờ của người Việt nam, dựa vào những kinh nghiệm cũ, có thể vẫn còn làm vẩn đục không khí một thời gian. Điều tối thiểu mà họ muốn là điều đã được hứa trong hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954: độc lập với cách là một quốc gia riêng rẽ và thống nhất.
Về Việt nam nghi ngờ rằng nước Mỹ là một cường quốc mới muốn biến Việt nam thành thuộc địa của nó, là điều bình thường. Tuy nhiên Harriman nhấn mạnh rằng người Việt nam xem Mỹ là một cường quốc thực dân thì đó là một sai lầm. Mục đích sự can thiệp của Mỹ chỉ giới hạn trong việc ngăn cản miền Bắc chiếm miền Nam bằng vũ lực. “Chúng tôi không có ý định ghìm sâu vào đó đâu”.
Khi tôi nhận xét rằng quy mô và tính chất vĩnh viễn của các căn cứ Mỹ ở miền Nam Việt nam là cơ sở để người Việt nam ngờ vực Mỹ đã đến để ở lại, thì Đa-vít-xơn ngắt lời tôi, lần duy nhất, để nêu một điểm có giá trị: “Bạn chỉ cần nhìn vào loại căn cứ mà chúng tôi đã bỏ ở đây - trên nước Pháp, với cỏ mọc ở đường bay cao ba bộ Anh, để hiểu rằng quy mô của căn cứ không có quan hệ gì đến tính chất vĩnh viễn để ở lại”.
Harriman nói: “Khi giới quân sự của chúng tôi chuyển vào bất cứ nơi nào của thế giới, nọ đều đòi cái tốt nhất cho mọi thứ”. Rồi một đêm, ông ta cười và nói: “Nếu người Bắc Việt Nam có thể thuyết phục chúng tôi rằng họ không có ý định xâm chiếm miền Nam thì chúng tôi cũng có thể thuyết phục họ rằng chúng tôi không có ý đinh bám lấy miền Nam, lúc đó chúng tôi đạt được cơ sở cho một thoả thuận”.
Đó là điểm quan trọng nhất trong 4 giờ nôi chuyện về toàn bộ tình hình ở châu Á, trong đó tôi đã chỉ trích Mỹ luôn luôn gắn hy vọng của mình vào những lực lượng phản động và chống nhân dân nhất. Đến cuối cuộc nói chuyện, Harriman nhận xét rằng việc ông Xuân Thuỷ không thừa nhận có quân từ miền Bắc vào miền Nam đã làm cho các cuộc thương lượng trở nên khó khăn. Tôi giải thích rằng giới lãnh đạo Hà Nội rất linh động và nếu có triển vọng cho một hiệp định tốt thì sẽ không có quân miền Bắc ở miền Nam vào lúc nó được ký.
Đó là một cuộc nói chuyện dễ chịu, khích lệ và có ích. Rõ ràng đối với những vấn đề có tầm quan trọng như vậy không thể nào giải quyết được bằng những cuộc nói chuyện kiểu này. Nếu Harriman, đáng khen thay, muốn kết thúc đời ngoại giao của mình như là một người đưa lại hoà binh ở Việt nam, thì Johnson lại quyết tâm không chấm dứt sự nghiệp chính trị của mình như là một Tổng thống đã “mất Việt Nam”. Khá nhiều bùn đã bị vứt vào những ai coi như chịu trách nhiệm về việc “mất Trung Quốc” cho nên ông ta không muốn liều mạng để có một kiểu rút ra khỏi Nhà Trắng một cách không vinh quang như vậy. Và bóng đáng của chủ nghĩa McCarthy còn hiện ra đồ sộ, nếu không phải trực tiếp đối với những nhà thương lượng ở Paris thì ít ra cũng là đối với những người giật dây ở Washington. Trên thực tế Harriman và Van-xơ đã thành công trong việc không kéo dài các cuộc thương lượng và đã đạt được kiểu hiệp định mà Johnson đòi phải đạt được. Nhưng Johnson đã rút thảm dưới chân họ, bác bỏ chính đường lối của mình và do đó làm dễ dàng cho thắng lợi của Ri-sớt Nixon trong cuộc bầu cử Tổng thống tháng 11 năm 1968.
Việc Nixon đang đợi để tiếp quản Nhà Trắng sẽ làm tan biến khả năng chấm dứt nhanh chóng cuộc chiến tranh với những điều kiện thuận lợi mà Mỹ đã từng mong muốn. Bẳng lời lẽ ngoại giao, Harriman nói bóng gió đến điều đã xảy ra:
“Dường như đã rõ ràng, Thiệu (Nguyễn Văn Thiệu) tên độc tài được Mỹ ủng hộ ở Sài gòn đã được khuyên bằng mọi cách đợi cho đến sau cuộc bầu cử Mỹ.
Hắn được biết rõ ràng rằng đường lối của Nixon sẽ cứng rắn hơn Hămphrây nhiều và hắn được nhắc rằng nếu các cuộc thươmg làm mà bắt đầu thì Hăm-phrây sẽ trúng cử.
Tôi không nói gì về Tổng thống Nixon biết điều gì về việc đó... Nhưng một số người tin rằng nếu chúng ta đã bắt đầu những cuộc thương lượng thực sự trong tuần lễ trước ngày bầu cử, thì nó có thể đưa lại một việc khác tuy nhỏ nhưng quyết định trong kết quả của cuộc bầu cử. Nếu Hăm-phrây đã được bầu làm Tổng thống thì chúng ta sẽ rút ra khỏi Việt nam lúc đó...
Những khả năng chấm dứt sớm cuộc chiến tranh đã tan biến từ ngày công bô kết quả cuộc bầu cử. Mọi thứ tích cực đã đạt được đều bị xoá sạch. Khi tiến bộ đã đạt được trong cuộc đàm phán thì người Bắc Việt nam như một phần chính sánh của họ nhằm “làm dễ dàng” cho Harriman, đã bắt đầu rút nhiều quân khỏi miền Nam một cách lặng lẽ như tôi đã đoán trước. Họ vẫn tiếp tục rút, ngay dù cho giới quân sự Mỹ tại chỗ đã lợi dụng việc đó. Chính trong khái niệm toàn bộ cúa Cụ Hồ Chí Minh mà hoạt động quân sự có thể đánh giá chỉ bằng các kết quả của chính trị, và khái niệm đó được áp dụng cho việc rút quân cũng như việc tiến quân. Harriman và Van-xơ đều biết rằng Hà Nội có xu hướng lùi bước để đạt được hiệp định, nhất là trong thời kỳ giữa thắng lợi bầu cử của Nixon và việc ông ta thực sự vào Nhà Trắng. Harriman nói rõ như sau:
“Tôi không có tài nói tốt cho địch, những người Bắc Việt nam đã rút ra khỏi hai tỉnh phía bắc của Quân khu I, Đó là vùng đã từng đánh nhau đẫm máu nhất, lôi cuốn cả quân Mỹ ở Khe Sanh và những nơi khác. Bắc Việt nam có một lực lượng lớn ở đó. Họ đã rút 90% quân của họ ra, và một nửa số đó rút qua vĩ tuyến 20, khoảng 20 dặm lên phía bắc. Đó là một sự rút rất hoàn toàn...”
Ngay sau khi Nixon tiếp quản Nhà Trắng, Harriman từ chức và được thay bằng Henry Ca-bốt Lốt. Đối với nhiều người chúng tôi đang theo dõi hội nghị, Việc Lốt đến tượng trưng cho việc chấm dứt các cố gắng nhằm đạt được một giải pháp bằng thương lượng. Sự thiếu quan tâm và sự buồn nản phảỉ thương lượng của ông ta đã thể biện bằng một hình thức ngáp ngắn ngáp dài và thực sự ngủ ở bàn hội nghị. Các cuộc thương lượng Paris đã bị đầy lùi bằng một tình trạng băng giá sâu sắc. Cam kết về một “kế hoạch hoà bình” làm cho Ních-ơn thắng cử đã chuyển thành một kể hoạch tiếp tục chiến tranh bằng những biện pháp khác, bằng việc “thay màu da của xác chết” như En-xơ-uốt Bân-cơ, Đại sứ của ông ta ở Sài gòn đã nói. Nó được gọi là “Việt Nam hoá” chiến tranh, thảng nghĩa là rút quân Mỹ về thay bằng các đơn vị Nam Việt nam xây dựng theo hình ảnh quân Mỹ.
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #25 vào lúc: 25 Tháng Mười Một, 2008, 07:02:44 am »

12. Cuộc trở về của con người hoang toàng
Trong khi cuộc đàm phán Paris ở trong trạng thái buồn tẻ và cuộc chiến tranh tiếp tục diễn ra ác liệt ở Việt nam, tôi được dự một cuộc hội thảo khoa học ở Australia đề thuyết trình về: “Chiến tranh ở Việt nam trong những triển vọng lịch sử của nó”. Một vài tháng trước đó, tôi đã gây ra một xúc cảm tại sân bay Hi-thơ-rô của London bằng việc xuất trình vật quái dị đóng bìa da dê đen của tôi như là một giấy tờ đi đường có giá trị. Nó tạo ra cũng nhiều xôn xao như ở Ha-ba-na, những có ít sự quan tâm hữu nghị hơn. Vì tôi đến với lời mời của một Uỷ ban trong đó có nhiều đại biểu Quốc hội nổi tiếng nên cuối cùng tôi được phép đi. Việc đó đã được đăng một đoạn trong tờ Thời đại (London) dưới đầu đề Người vào mà không có hộ chiếu và tờ Người bảo vệ đăng một bức ảnh của tôi đang cầm quyền hộ chiếu nổi tiếng đó. Tôi sử dụng cuộc đi thăm để nộp đơn chính thức xin hộ chiếu lại hạ nghị viện Australia. Và người ta nói với tôi rằng vấn đề này phải được chuyển đến Ken-bơ-rơ. Khi lời mời thuyết trình đến, tôi gửi một bản sao cho sĩ quan phụ trách di trú tại Hạ nghị viện ở Australia, đề nghị rằng nếu không kịp trả lơi cho đơn xin hộ chiếu của tôi thì có thể cho một chứng nhận nhập cảnh tạm thời.
Ba tuần sau đó tôi nhận được một câu trả lời nhắn “tôi được chỉ thị để báo cho ông rằng ông sẽ không được cấp một hộ chiếu Australia hoặc một tài liệu thay thế như ông đã yêu cầu” Do đó, tôi không dự được cuộc hội thảo, nhưng tôi ghi âm phần đóng góp của tôi nói thêm rằng tôi muốn có mặt để tham gia các cuộc thảo luận, nhưng rất tiếc... và tôi gửi bưu điện băng ghi âm đó. Nhờ vậy, một số các nhà trí thức và nhân vật chính trị hàng đầu rất căm phẫn khi biết được những khó khăn về hộ chiếu của tôi (Vì tôi đã từng không có một hộ chiếu Australia trong 14 năm qua, nên tôi rất ngạc nhiên trước sự phản ứng đối với sự tiết lộ bất ngờ và ngẫu nhiên đó). Kết quả là ở bang Victoria, chính quán của tôi một “Uỷ ban hộ chiếu của Burchett” đã được thành lập, có một trong những nhiệm vụ chính là viết lời điều trần về vấn đề đó để chuyển cho Quốc hội liên bang. Chủ tịch Uỷ ban là ngài Ac-tơ Ô-gu-xtút Canuên, nguỵên Chủ tịch Công đảng, Phó chủ tịch toàn quốc cơ quan kỷ niệm Uynxơn Sớc-xin, được thưởng huân chương Xanh Grê-gô-ri vĩ đại (một huân chương đặc sắc của Va-ti-căng). Trong các thành viên có Phrăng-cơ Gan-ba-li luật gia về tội ác xuất sắc của Australia (tự nguyện đấu tranh cho vấn đề hộ chiếu mà không lấy tiền), có các đại biểu Quốc hội thuộc Công đảng, các nhà lãnh đạo nghiệp đoàn, các nhà văn, nhà báo và những người hoạt động trong lĩnh vực các quyền dân chủ.
Hoạt động của Uỷ ban đó đã gây ra sự giận dữ của một nhóm cánh hữu có quan hệ với hội Giôn Bơ-sơ ở Mỹ và cả tổ chức cùng loại. Những hoạt động chốig lại của chúng làm cho thế giới chú ý đến trường hợp này. Bắt đầu là báo chí ở Anh và rồi mở rộng ra các tổ chức quyên con người khác, các nhà văn, các nhà khoa học, các ngôi sao điện ảnh và những người khác. Những thành phần này đã ký vào bản điều trần để gửi lên Quốc hội Australia.
Sự ủng hộ trong nội bộ nghề nghiệp mà tôi đã tham gia gần 30 năm rất đáng khích lệ. Chủ tịch và tổng thư ký của cả hai tổ chức nhà báo thế giới, (Liên đoàn quốc tế nhà báo đóng ở Brúc-xen và tổ chức quốc tế nhà báo đóng ở Praha) đã ký vào bản điều trần. Hai tổ chức này đại diện cho gần tất cả các nhà báo có tổ chức trên thế giới. Liên minh nhà báo toàn quốc của Anh, liên minh của chính tôi, Hội nhà báo Australia và các tổ chức nhà báo từ Ấn Độ ở Châu Á cho đến Chi-lê ở châu Mỹ la-tinh và nhiều tổ chức khác đều ký vào bản điều trần. Các nhà triết học và các nhà nhân chủng học thuộc cỡ như Béc-tơ-răng Ru-xen và Giăng Pôn Xác-trơ cũng làm như vậy. Trong số những người ký tên có 8 nghị sỹ của hai viện, 8 người đã nhận giải thưởng Nô-ben, nhiều tổ chức chuyên về các vấn đề quyền con người cũng tuyên bố ủng hộ. Trong hàng ngũ các ngôi sao điện ảnh có Giên Phôn-da, Va-nét-xa Ét-grê-vơ, Me-li-na Mơ-cu-ri, trong các nhà văn có Graham Gri-nơ, Nóc-man Mê-lơ, và Ac-tơ Milơ, các nhà khoa học và các nhà triết học lớn nhất của thế giới những vị quý phái ở Uet-min Txtơ cũng bào chữa cho tôi. Chính ngài Ác-tơ Can-uên đưa bản điều trên cho Hạ nghị viện ở Can-be-ra. Bản điều trầ chứng minh rằng bằng việc không cho tôi hộ chiếu, Chính phủ Australia đã vi phạm các điều 13, 16 và 19 của bản Tuyên ngôn nhân quyền chung và kết luận:
Những người ký tên cầu mong một cách khiêm tốn nhất trong Hạ nghị viện ở Quốc hội phải hành động ngay để:
1) Bảo đảm cho Winfred Burchett và gia đình quyền tự do ra vào nước Australia phù hợp với những quyền công dân Australia;
2) Cho lại Winfred Burchett hộ chiếu Australia;
3) Hỏi ngài Tổng chưởng lý liệu có cho rằng ông Burchett có vi phạm luật nào của đất nước nây không, và nếu có thì luật nào. Và những người thỉnh cầu theo nhiệm vụ của mình hết sức mong những điều trên được giải quyết.
Thủ tướng Giôn Grây Goóc-tơn và những thành viên Nội các cánh hữu đã để ngoài tai tất cả mọi điều thỉnh cầu, vẫn tiếp tục cấm. Hội nghị nhà báo Australia kiên trì theo đuổi vấn đề này, đã gửi lời kêu gọi lên Uỷ ban nhân quyền của Liên hợp quốc để tố cáo Chính phủ Australia đã vi phạm hiến chương quyền con người về vấn đề hộ chiếu của tôi. (Nhiều năm về sau, tôi đã nhận được thư của các uỷ ban nổi tiếng là bất lực đó, nói rằng nó chẳng bao giờ có thể làm gì được về những trường hợp cá nhân của quyền con người).
Cầu khẩn, điều trần và kêu gọi chẳng đi đến đâu. Chính phủ vẫn cương quyết chẳng có hộ chiếu, và cũng chẳng xác định những việc gì mà họ cho là tôi đã làm không đúng. Vấn đề xác định những hành động sai trái của tôi là việc mà Hội nhà báo Australia nhấn mạnh nhất như dẫn trích sau đây của một bức thư được công bố trên báo chí Australia tháng 4 năm 1969 đã chứng minh:
Hội tôi đã cố gắng từ năm 1965 gây ảnh hưởng đến chính phủ qua Bộ trưởng Bộ nhập cư để cấp cho ông Burchett, một hộ chiếu Australia và vài tuần trước dây, chúng tôi đã yêu cầu ông Xnét đến gặp một doàn đại biểu Hội. Ông ta đã từ chối và sẽ không cho biết lý do vì sao chính phủ đã không chịu cấp hộ chiếu cho Burchett.
Nếu theo quan điểm của chính phủ, ông Burchett phạm tội phản bội hoặc vi phạm Đạo luàt về tội ác, chính phủ có đủ quyền lực để truy tố ông ta. chứ không được tước doạt những quyền con người cơ bản của òng ta để trở về, hoặc nếu ông ta muốn rời đất nước theo nguyện vọng của mình.
Vào lúc người ta đưa ra lời điều trần ông bố Gioóc- giơ của tôi đã 96 tuổi, già hơn tiêu chuẩn truyên thống tuổi của gia đình Burchett. Rõ ràng chúng tôi muốn gặp ông trước khi ông qua đời, nhưng chúng tôi đã nhất trí với nhau rằng việc yêu cầu trở lại Australia của tôi phải dựa vào nguyên tắc các quyền dân chủ của tôi chứ không thể dựa vào một hành động nhân đạo. Nhưng một sồ người khác thì lại nêu trực tiếp với Chính phủ và trên báo chí vấn đề phải bảo đảm tối thiểu quyền đi về ngắn hạn vì lý do nhân đạo. Công việc chẳng đem lại kết quả gì. Ông đã mất tháng 9 năm 1969, thiếu 2 tháng nữa thì đầy 97 tuổi. Giấy báo tử đã mô tả ông là “người già thanh niên nhất” của Australia. Ông đã có gắng một cách dũng cảm để đợi tôi, nếu tôi về.
Năm tháng sau, một vài giờ trước khi tôi rời Paris đi Phnompenh, chặng đầu của chuyến đi Hà Nội của tôi. Uyn-xtơn, anh tôi, gọi điện từ Men-buốc báo rằng anh cả Clai-vơ của chúng tôi sắp chết. chỉ vào khoảng vài giờ nữa thôi. Vài tuần trước đó, chỉ riêng hai anh tôi và luật sư Phrăng-cơ Gan-ba-li đã được báo rằng tôi đã định ngày và cho biết số máy bay để trở về Xít-nây bất chấp vìệc cấm vào. Tôi đã quyết định một cách đột xuất sau cuộc nói chuyện ngắn với Gan-ba-li, tiếp tục từ Phnôm Penh đi Australia và sẽ ghé qua Hà nội trên đường về. Lễ câu hồn cho Claivơ, một nhân vật rất đại chúng trong cộng đồng của ông, sắp được tổ chức và tôi phải dự lễ đó.
Khi được biết ý định thách thức với Chính phủ của tôi Phrăng-cơ Gan-ba-li khuyên tôi phải chuẩn bị một bản sao giấy khai sinh để xuất trình cho các sĩ quan nhập cư, và một trong những người anh của tôi sẽ có mặt tại chỗ để chứng nhận đúng là người mô tả trong giấy khai sinh. Gan-ba-li bây giờ phải theo dõi hành trình của tôi. Thành công sẽ phụ thuộc vào hoạt động ăn khớp và hoàn hảo của các chuyến bay.
Trong chuyến đi, do gặp rắc rối ở Cô-lôm-bô và ở Xinga-po nên tôi lại phải trở về Phnompenh đợi một chuyến khác. Tin về những khó khân của tôi ở Cô-lôm-bô và Xin-ga-po trên đường về nước đã được báo chi ở Australia in thành tít lớn. Gan-ba-li lại yêu cầu Thủ tướng Goóc-tơn cho phép ít nhất một chuyến thăm ngắn hạn để dự lễ cầu hồn của người anh tôi. Goóc-tơn trả lời với công thức quen thuộc “không có hộ chiếu, không có điều kiện kiện dễ dàng”.
Khi đến sân bay Numêa. hãng UTA được điện cảnh cáo sẽ bị “phạt nặng” nếu chở tôi, trừ khi tôi có hộ chiếu Australia. Ai ra lời cảnh cáo đó? “Tất nhiên là các nhà chức trách Australia” - một nhân viên hàng không trả lời. Tôi đề nghị mua vé khứ hồi để nếu không giải quyết được ở Xít-nây thì tôi sẽ bay trở lại bằng cùng hãng bay đó: “Bình thường ra thì chúng tôi chấp nhận những bảo đảm của ông, nhưng quyền hạ cánh của chúng tôi ở Australia rất mong manh nên chúng tôi phải chú ý đến những lời đe doạ như vậy”. Tôi vạch ra rằng còng ty của anh ta sẽ mắc vào một cuộc bê bối quốc tế nêu tôi công bố rằng công ty đó đã chịu sức ép của Chính phủ để vi phạm một hợp đồng của mình. Anh ta nhún vai và tỏ ra là “rất tiếc”. Hành lý của tôi bị trả lại và tôi đành quay trở về Numea qua những dãy núi Ních-kên xinh đẹp.
Trong những nhà báo cùng đợt với Phrăng-cơ Gan-ba-li và Uyn-xtơn ở sân bay Xít-nây có một số có hộ chiếu, vì vậy họ bay đi Numea với chuyến bay trở lại của UTA. Họ gồm có một toán vô tuyến truyền hình của Uỷ ban phát thanh Australia và một nửa tá nhà báo khác. Nào phim, nào băng ghi âm, nào bài báo hàng nghìn, hàng chục nghìn chữ được tuồn trở về. Các nhà vẽ tranh biếm hoạ, nhất là thành phố Melbourne quê quán của tôi, đã có một dịp rất tốt để hoạt động. Đầu tiên Chính phủ tìm cách phủ nhận việc mình đá gây sức ép với UTA. Nhưng một người quản lý việc bán vé ở Xít-nây nói đã bị Bộ Nhập cư đe doạ. Bộ trưởng nhập cư nói ông ta chỉ lặp lại tuyên bố của Thủ tướng sau sự kiện Cô-lôm-bô rằng “Chính phủ chẳng làm gì cả để cấp hộ chiếu cho Burchett hoặc làm dễ dàng cho chuyến đi của ông ta”. Vào lúc này Chính phủ đã tích cực cản trở chuyến đi của tôi và đã nói dối về việc đó.
Goóc-tơn bắt đầu bị báo chí chỉ trích. Tại sao văn phòng hãng bay Quan-tát của Chính phủ Australia ở Numea, nhân viên địa phương nói rằng anh ta đã được chỉ thị của viên lãnh sự Australia Đe-vít Uyn-xơn, không được bán vé cho tôi. Lúc đó một phóng viên của hãng Roi-tơ có mặt. Anh ta nhanh chóng đưa tin về việc này. Vào cuối ngày, Uyn-xơn ra một thông cáo rất buồn cười, chỉ dài một dòng rưỡi để cải chính rằng đã không đưa ra một chỉ thị nào cả. Những phóng viên khác thẩm tra lại nhân viên Quan-tat. Anh này vẫn giữ điều đã nói với tôi.
Các bức điện được tới tấp đánh tới từ các nghiệp đoàn, các tổ chức sinh viên, các nhân vật mà một số trong đó tôi có được biết còn một số thì chưa, cam kết ủng hộ và yêu cầu tôi tiếp tục đấu tranh. Đầu óc tôi không thể không nghĩ đến Igơn Iếc-uyn Ki-sơ và cuộc đấu tranh của ông ta 36 năm về trước. Nhưng phương tiện đi đã thay đổi. Tôi không thể nhảy từ máy bay xuống một nơi nào đó ở Australia. Gan-ba-li công bố một bức thư do anh ta viết cho Goớc-tơn vạch rõ ràng Chính phủ đã đi quá xa quyết định không cấp hộ chiếu. Với sự đồng ý của tôi, anh ta đòi một cuộc điều tra chính thức:
“Nhằm mục định xác nhận liệu Burchett trên thực tế, bằng hạnh kiểm của mình, có làm mất quyền công dân hay không... Khách hàng của chúng tôi cam kết tôn trọng bất kỳ những điều kiện hợp lý nào mà Chính phủ đề ra cho anh ta khi anh ta trở về. Anh ta cam kết sẽ rời đất nước khi chấm dứt cuộc điều tra như vậy và sẽ ra chứng minh và xem xét trước bất cứ toà án nào mà các ông lập nên vì mục đích đó. Thực vậy. Ông Burchett sẵn sàng có mặt ở Australia để trả lời các quan chức của Bộ có liên quan, theo những điều kiện mà Chính phủ đề ra.
Nếu có một cơ sở nào đó cho những luận điệu mà Chính phủ đã để lộ cho một số nhà báo chống lại tôi, thì đã là cơ hội để chứng minh những luận điệu đó. Nhưng Goóc-tơn đã bác bỏ. Trong những cuộc phỏng vấn hàng ngày trên vô tuyến truyền hình, trên đài phát thanh và với báo chí hàng ngày, tôi luôn luôn củng cố luận điểm: “Nếu tôi có tội về những lỗi lầm ghê tởm đến mức làm cho chính phủ phải có biện pháp chưa từng có là không cấp hộ chiều cho tôi, thì Goóc-tơn sẽ phải thay vui mừng nếu bắt được tôi chứ. Nhưng tôi lại là người đấu tranh để đi vào, trong khi Chính phủ lại đấu tranh để buộc tôi ở ngoài đất nước”. Nhiều máy bay tư nhân đề nghị đưa tôi vào; cũng có người chịu trả “tiền phạt nặng” mà người ta đã doạ UTA: cũng có kế hoạch định đưa lậu tôi từ Numea vào Niu Ca-xton bắng tàu chở than. Đề nghị nghiêm chỉnh nhất là của Goóc-dơn Ba-tơn lúc đó là chủ tờ Người quan sát chủ nhậti của Melbourne. Ông ta thương lượng với một công ty cho thuê tàu tư nhân để đưa tôi vào. Các nhà viết xã luận và trên tất cả, các nhả vẽ tranh biếm hoạ hàng đầu đã ủng hộ Gan-ba-li và buộc Chính phủ chấp nhận một công thức “không giúp cũng không cản trở” nghĩa là một bước rút lui. Theo công thức đó Bác-tơn và Gan-ba-li giành được phép của Bộ Hàng không dân dụng cho phái đoàn đặc biệt bay đi Niu Ca-lê-đô-ni-a và đưa tôi về Bri-xban (cách Nu- mê-a vài trăm dặm, gần hơn Xít-nây).
Trong tức đó, các quan chức Nu-me-a bắt đầu tự hỏi xem đây là loại “người liều mạng quốc tế” như thể nào mà họ đang phải gánh vác và đang làm bận rộn các cơ sở điện tín và điện thoại giữa Numea và Australia đến mức này. Tôi được “mời” đến trụ sở an ninh địa phương. Các quan chức ở đó lễ phép nhưng nghiêm nghị. Họ phát hiện rằng giấy thông hành của tôi không phải là một tài liệu thích hợp có thể đóng dấu nhập cảnh 10 ngày không cần thị thực. Nhưng họ vẫn dặn đi dặn lại rằng: “Không được qúa 10 ngày”. Lãnh sự Uyn-xơn đã tăng cường sức ép để trục xuất tôi.
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #26 vào lúc: 25 Tháng Mười Một, 2008, 07:03:45 am »

Bác-tơn, người trả tiền khách sạn cho tôi, đã bảo tôi cứ ở lại đây, huỷ vé trở lại Paris, Gan-ba-li sẽ đến Numea và vài ngày sau máy bay riêng sẽ đến. Chính phủ đã thay đổi chút ít lập trường của họ. Tôi trở lại giải thích với các quan chức an ninh rẳng tôi có thể ở lại quá thời hạn của thị thực một hoặc hai ngày được không. Sau vài phút chờ đợi, viên sĩ quan an ninh chính trở lại và nói “Tôi vừa gọi điện cho lãnh sự Australia và cũng có thay đổi gì cả. Ông không được phép vào Australia. Và ông cũng không thể ở đây sau khi hết 10 ngày”.
Tôi nói “tôi có một ý kiến mà tôi nghĩ sẽ giải quyết được cả hai vấn đề của chúng ta, và phù hợp với tập tục quốc tế. Tại sao không trục xuất tôi đến nước gốc của tôi?”.
Họ có vẻ ngạc nhiên một lúc rồi phá lên cười: “Chúng tôi không có ý định trục xuất ông đi đâu, thưa ông Burchett, ông chẳng làm gì sai trên lãnh thổ chúng tôi. Nhưng tốt hơn là không vượt quá 10 ngày”.
Phrăngcơ Gan-ba-li đã đến cùng với người cháu là luật sư Pi-tơ của ông ta, và chúng tôi đã có cuộc gặp gỡ lạnh lùng với lãnh sự Uyn-xơn, mà lúc kết thúc, tôi phải làm một đơn xin một chứng minh thư (một giấy đi đường có thể chấp nhận được đối với những kiều dân Australia trở về nước trong những trường hợp bất thường như mất hộ chiếu). Về vấn đề này cũng phải hỏi ý kiến Can-be-ra. Cuối buổi chiều hôm đó, Uyn-xơn gọi điện cho tôi và với sự hài lòng rõ rệt đọc trả lời của Can-be-ra: “Không có chứng minh thư” và “Mọi yêu câu thêm nữa đều phải được đưa thẳng đến Bộ Nhập cư”.
Bác cháu Gan-ba-li đi về, hạn 10 ngày đã qua, và tôi đến gặp nhân viên an ninh lần nữa. Vào lúc này một máy bay động cơ sáu chỗ ngồi Pai-pơ Na-vagiô đã đợi tôi ở sân bay Tôn-tu-ta. Goócđơn Ba-tơn cho rằng tốt hơn là tôi phải đợi một vài ngày nữa để có thể đến vào ngày thứ bảy, vì ngày đó dù có tin gì đi chăng nữa thì tín của tôi vẫn có thể được đăng đầu tiên vào tờ Người quan sát chủ nhật của anh ta. Cảnh sát Numea đồng ý rằng thêm một vài ngày nữa không thành vấn đề đối với họ nhất là đã có bằng chứng rõ ràng rằng tôi sắp sửa đi.
Bánh xe đã qua một vòng kỳ lạ: tôi phải trở về Australia bằng con đường gần giống với con đường khi tôi ra đi 3 năm trước đây. Chỉ khác là không phải bốn ngày trên chiếc Pi-e Lô-ti, mà là 4 giờ trèn chiếc Paip Na-va-giô với một hiệu điện tín là “Vích-to Brê-vơ Yanki”. Sau vài phút cầt cánh, chúng tô đã bay trên biển. Sau gần 4 giờ bay, đã nhìn thấy một vậl xám của đầt liền. Nhà báo Biil Grinơ của tờ Người quan sát chủ nhật cùng đi trong máy bay, mở một chai sâm-banh để mừng lúc hạ cánh.
Những bằng chứng duy nhất của hoạt động con người là khi máy bay chạy trên đường băng đến chỗ hành khách là những biểu ngữ “Burchett trở lại Hà nội”, “tôi phản bội” và, khi tôi bước xuống khỏi máy bay, có tiếng la phản đối cùng một vài tiếng hoan hô. Trong một khoảnh nhỏ có hàng rào chung quanh những nhóm đối địch chen chúc nhau, một số giơ quả đấm, số khác vẫy tay hoan nghênh. Trong số những người vẫy tay tôi rất vui mừng thấy Uyn-xtơn và Phrăng-cơ Gan-ba-li. Những người giơ quả đấm và la hét là những người do Phong trào những công dân vì tự do cực hữu tổ chức. Những người vẫy lay là từ các nghiệp đoàn sinh viên và các nhóm hoà bình. Tuy là một buổi chiếu thứ bẩy giữa mùa hè nhưng số lượng người tăng lên rất nhiều khi họ biết tin hoạt động của bọn cực hữu.
Sau khi vào cửa người ta hỏi giấy chứng nhận tiêm chủng. Rồi tôi phải điền vào một mảnh giấy xanh về nhập cư. Vào chỗ phải ghi chi tiết của hộ chiếu. Tôi ghi những tư liệu của giấy khai sinh. Người ta xem lại theo bản sao ảnh mà tôi mang theo rồi chuyển tôi sang phòng thuế quan. Sau khi xem kỹ tờ khai, họ liếc nhìn vào đài bán dẫn, máy chữ của tôi và mọi thủ tục coi như xong va-li của tôi cũng không bị mở.
Sau vài pliủl chào hỏi Uynxtơn, Gan-ba-li là một hình thức họp báo đơn giản nhất mà tôi chưa từng tham dự trước đó cũng như từ đó về sau. Những nhà báo nếu thật là như vậy, cắt ngang những câu hỏi của nhau và những câu trả lời của tôi, kèm theo những điều vô lý được họ hét lên rất to. Chân của máy thu hình, dây điện quấn quanh chân họ và có sự xô đẩy, len lỏi làm cho mọi người dễ trở nên bực tức. “Bây giờ anh đã vào rồi, vậy anh sẽ ra như thế nào? Đó là một trong những câu hỏi che giấu cuối cùng, không có một câu hỏi nào về các cuộc hội đàm hoà bình ở Paris hoặc bất cứ cái gì có tầm quan trọng thực sự.
Từ cuộc họp báo đó tôi đi tiếp trên một chiếc máy bay khảc đến sân bay Xít-nây và lại có một cuộc họp báo ngắn với một nhóm các nhà báo chuyên nghiệp, những người đang rất quan tâm tới các cuộc hội đàm hoà bình ở Paris. Tôi lại đi Melbourne. Ở sân bay Melbourne có rất nhiều cảnh sát và nhà báo. Đó là những nhà báo chuyên nghiệp. Cảnh sát theo sát tôi, đẩy tôi đến một chiếc xe và bảo tôi không được nói chuyện với nhà báo. Tôi khăng khăng đòi được nói vài câu với các nhà báo và với đám đông những người đến để hoan nghênh. Sau một hồi chen chúc và xô đẩy, tôi bị đưa đến một xe cảnh sát rồi không rõ điều gì sẽ xảy ra, nhưng tôi nghĩ là mình đã bị bắt giam. Khi đến trước cửa xe cảnh sát để mở sẵn, tôi hỏi Phrăng-cơ Gan-ba-li, luồn luôn không rời tôi, nên làm gì. Ông ta nói: “cứ vào đi”, Uyn-tơn và Bin Gri-nơ cũng cùng vào.
Một sĩ quan cảnh sát ngồi đằng trước quay lại và nói khá nhã nhặn: “Đến đâu ông Winfred?” Anh tôi đưa địa chỉ của anh ở Đông Melbourne, chúng tôỉ bắt đầu chuyển bánh trong sự hoan nghênh của những người đứng quanh xe. Đây là lần duy nhầt trong đời tôi đã dùng một xe cảnh sát như một xe tắc-xi. Người sĩ quan cảnh sát càu nhàu khi chúng tôi đang cho xe chạy: “Có quá nhiều trí thức ở quanh đây nèn tôi không thích lắm”.
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #27 vào lúc: 25 Tháng Mười Một, 2008, 07:04:16 am »

Sau khi gọi điện cho tờ báo của mình, Bin Grinơ báo cho tôi rằng có ai đó đã gọi điện nói rằng anh ta đã từ bỏ Uỷ ban Australia tự do của-Vich-to-ri-a khi được biêt 500 đô-la đã được trả “để giết Burchett”. Sáng hôm đỏ Uyn-xtơn cũng thấy trong thùng thư cúa anh ta một mảnh giấy nói rằng tôi sẽ bị “thủ tiêu” Gan-ba-li nhắc tôi phải cản thận, nếu đi bộ một mình...
Không có ngày “thứ bảy được yên tĩnh ở nhả” trong những ngày đầu của tôi ở Australia sau 19 năm xa cách. Các đoàn vô tuyến truyền hình thay phiên nhau lắp máy và tháo máy từ sáng đến trưa, xen vào giữa là những cuộc phỏng vấn của báo chí. Tôm Prai-ơ của tờ Tin ảnh mặt trời, người chăm chú nhất ở Numea, đã mang đến một bộ tranh biếm hoạ để tôi cho ý kiến. Vào lúc các anh em, các cháu gái, cháu trai và con cái của họ đến dự cuộc họp gia đình đầu tiên vào buổi trưa, tôi đã thực hiện được khoảng một tá các cuộc phỏng vấn vô tuyến truyền hình, đài phát thanh và báo chí. Thêm nhiều cuộc nữa kể cả một cuộc thảo luận bàn tròn truyền hình tại chỗ, đã được định cho đêm đó. Sáng hôm sau, tôi sẽ đi Can-bê-ra thực hiện một cuộc họp báo truyền hình lại câu lạc bộ báo chỉ toàn quốc. Chỉ đến thứ tư, ngày 4 tháng 3 năm 1970, 4 ngày sau khi tôi đến, tôi mới có thể về nông thôn, lên vùng núi Đan-đơ-nông. Trong chiều sâu của rừng với những màu sắc lộng lẫy đầu thu của nó, tôi mới cảm thấy đã trở về trong lòng Australia, Melbourne, có thể có ở khắp nơi trên thế giới, với tất cả những ngôi nhà mới làm cho nó hầu như không nhận ra được. Còn vùng núi Đan-đơ-nông giáp với quê Gíp-xtan của tôi, là chính nước Australia mà tôi đã biết. Uyn-xtơ mở đài thu thanh ở xe của chúng tôi và sự nghỉ ngơi thoải mái đã kết thúc. Đó là buổi phát hành tại chỗ phiên họp ngày thứ hai của quốc hội năm 1970. Và các nhà lập pháp đã thảo luận số phàn của tôi. Đầu tiên là câu hỏi của một thành viên của chính Đảng Tự do của Goóc-tơn:
- Tôi muốn hỏi Thủ tướng một câu về việc vào nước này của một nhà báo bị cho là đã giúp đỡ hai nước châu Á đang đánh binh sĩ Australia. Chính phủ có hồ sơ cho thấy rằng con người đó cô giúp đỡ những kẻ thù của Australia không? Nếu có thì anh ta đã vi phạm điều luật nào của chúng ta? Nếu anh ta giúp đỡ kẻ địch của đất nước chúng ta, nhưng không vi phạm luật pháp Australia thì có phải ý định của chính phủ muốn thay đổi luật pháp của chúng ta để có thể kết tội những hành động theo kiểu đó là một sự xúc phạm không?
Goóc-tơn: Về con người mà ngài nghị sĩ nói đến, chẳng phải nghi ngờ gì nữa mọi người đều biết rằng anh ta đã sống với kẻ địch vào lúc mà quân Australia tham gia cuộc chién tranh đó. Anh ta đã tham gia công tác tuyên truyền giúp cho kẻ định và cũng không nghi ngờ gì nữa anh ta đã thăm các trại tù binh của kẻ địch trong đó quân Australia đã bị giam hãm trong những điều kiện đối xử dã man nhất. Tôi cho rằng có bằng chứng cho thấy trong các cuộc đi thăm đó, anh ta đã thảo luận với quân Australia một cách có tính toán nhằm hạ thấp tinh thần và lòng tin vào sự nghiệp chiến đấu của họ.
Tình hình đó chứng minh cho việc Chính phủ này không cấp một hộ chiếu cho anh ta, và tôi thấy không có bất cứ triển vọng nào có thể thay đổi được thái độ này.
Sau những cố gắng của Chủ tịch Quốc hội bắt ông ta yên lặng, Tiền sĩ J. F “Gim” Kên-xơ, phó lãnh tụ Công đảng tìm cách đưa ra một câu hỏi về việc liệu tôi có thể yêu cầu một toà án điều tra để tìm ra những lý lẽ từ chối việc cấp hộ chiếu không?
Goóc-tơn:... Ông Burchett có yêu cầu một toà án điều tra để xác định những lời buộc tội chống lại ông ta. Không cần thiết phải có một toà án điều tra để xét xem Burchett có sống đằng sau bên giới của địch tng quá trình của hai cuộc chiếu tranh không...
E. G. Ut-lăm lănh tụ phe đối lập: Tỏi hỏi ông chưởng lý một câu. Ông có nghĩ rằng ông Burchett đã vi phạm điều luật nào đó của Liên hiệp Anh không? Bây giờ ông ta đã ở Australia, vậy có tiến hành cuộc điều tra nào để nắm chắc liệu ông ta có vi phạm điều luật nado đó của Liên hiệp Anh không?
Tổng chưởng lý Hiu-gơ: Tôi không đề nghị cho ý kiến liệu ông Burchett có vi phạm điều luật nào đó của Liên hiệp Anh hay không. Tuy nhiên, điều mà tôi sê nói là với tư cách cố vấn luật pháp chính của Nhà vua tôi không đề nghị, như đã biết hiện nay đưa ra bất cứ lời buộc tội nào chống lại ông ta về việc...
Tiến sĩ Ken-xơ: Ô!
Ông Hu-gơ:... Tôi không đề nghị đưa ra bất cứ lời buộc tội nào...
Xe tôi lướt nhanh qua các hàng cây dương xỉ lớn và những đồi cây khuynh diệp, nhưng lòng tôi quá buồn rầu nên không thể thích thú trước cảnh tượng đó. Trong 15 năm, tôi đã bị đặt ra ngoài vòng pháp luật, tên tôi đã bị làm nhục qua những lời bóng gió chính thức và những tiết lộ cho báo chí; những hoạt động nghê nghiệp của tôi đã bị cản trở nghiêm trọng; các con tôi bị mất quyền tự nhiên của việc ra đời. Có tất cả những bất công đó là vì những lý do mà Thủ tưởng và Tổng chưởng lý thừa nhận là họ không dám đưa ra để đối chiếu với luật pháp. Tôi có thể làm gì hơn nữa? Tôi đã hỏi Góoc-tơn lặp lại những lời buộc tội của ông ta ngoài phạm vi đặc quyền của Quốc hội. Ông ta đã từ chối. Điều rõ ràng là tôi sẽ không có một hộ chiếu như đã khẳng định trong một thư trả lời từ chối đơn xin chính thức của tôi vài ngày sau đó.
Nếu nước Mỹ, đồng minh chinh của Australia cũng áp dụng đúng những tiêu chuẩn như ông Goóc-tơn thì họ đã huỷ bỏ những hộ chiếu của Ha-ri-xơn Xôn-xbơ-ri; Sác lơ Cô-li-nút; Đa-ni-en Đơ-lu-xơ, phó tổng quản lý của hãng A-xô-xi-a-tel Prét-xơ và vợ ông ta, An-ma; tác giả Ma-ri Mc Carthy; và hàng tá những người Mỹ khác đã thăm Hà Nội trong chiến tranh, kể cả trên một chục người được đặc biệt phái đến để thu thập bằng chứng về những tội ác chiến tranh của Mỹ chống Việt nam. Còn nếu tiến hành những cuộc thảo luận với quân đội Australia... một cách có tính toán để hạ thấp tinh thần và lòng tin của họ vào sự nghiệp chiến đấu, bị xem là một tội ác, thì hộ chiếu của phần đông nghị viện Công đảng, của những đảng viên Công đảng và của các nhà viết xã luận trên nhiều tờ báo cũng sẽ phải bị lấy lại.
Ông Goóc-tơn và các bộ trưởng của ông ta có quyền có ý kiến về tôi, cũng như tôi có quyền của tôi đối với họ. Sự khác nhau là họ dùng quyền lực và đặc quyền của họ để trừng phạt tôi mà không có xét xử vì những lý do mà Tổng chưởng lý phải thừa nhận là không có cơ sở. Có những ý kiên khác về vai trò của tôi: ví dụ, ý kiến phát biểu trong tờ Thời báo London. Trong một bài xã luận lấy tên là Một người Australia đòi công lý, sau khi ghi chú rằng Goóc-tơn đã tăng thêm sai lầm trước kia của Chính phủ Australia đối với ông Winfred Burchett, bằng việc công bồ rằng “ông ta sẽ bị khước từ cấp hộ chiếu khi ông ta đã trở về quê hương của mình”, tờ Thời báo viết tiếp như sau:
Một số ít nhà báo phương Tây đã chứng kiến thái độ của ông Burchett từ phương Đông, không đánh giá sai về ông ta trừ việc cho rằng ông ta đã phấn khởi không đúng chỗ. Ông ta có cảm tình với Trung Quốc, đưa tin về cuộc chiến tranh Triều Tiên theo lập trường của Bình Nhưỡng và đến Hà Nội vào đúng lúc, nhưng những bài viết của ông ta cho thấy ông ta là một người chủ trương giảm căng thẳng chứ không phải là một kẻ thù cứng rắn có cam kết của phương Tây... Việc ông ta không tán thành Australia ủng hộ Mỹ ở Việt nam đã được một thiều số đáng kể người Australia trong nước đồng tình, mặc dù không biểu hiện một cách rõ ràng và tích cực.
Trong vòng hai tuần lễ, ngoài việc không xin được hộ chiếu các mục tiêu khác của tôi đều đã được hoàn thành. Điều quan trọng nhất là tôi đã đương đầu với những người buộc tội tôi và tôi đã thắng lợi. Trường hợp của tôi đã được đưa ra trước công chúng trong hàng chục cuộc phỏng vấn báo chí và các phương tiện thông tin khác. Tôi đã phát biểu tại một cuộc mít-tinh quần chúng đông đúc ở Toà thị sảnh Melbourne và đã được vinh dự ký trước tiên vào một tài liệu phát động đêm đó, về sau tôi được biết đó là của phong trào hoạt động đòi đưa quân Australia từ Việt nam trở về. Mười lăm ngày sau khi đến Australia, tôi đưa giầy khai sinh của tôi tại phòng kiểm soát hộ chiếu ở sân bay Xít-nây và sau một cuộc họp báo tạm biệt, tôi đi Numea, phần đầu của con đường trở lại Paris qua Phnompenh của tôi. Chủ bút của một tờ báo địa phương đang đợi tôi tại khách sạn. Anh ta hỏi có thật tôi là một quan chức chóp bu của cơ quan an ninh Australia không.
Làm thế nào anh ta có thể có một ý nghĩ như vậy? Anh ta cam đoan rằng đó là điều mà lãnh sự Uyn-xơn đã nói với anh ta và chiếc Pai-pơ Na-va-giơ đã chở tôi đến Bri-xbêm cũng vậy, đó là một chiếc máy bay không đánh sô của lực lượng không quân Hoàng gia Australia. Chắc chắn là Đê-vít Uyn-xơn không tính đến việc tôi lại ghé qua Numea. Sau đó không đâu, anh ta bị đổi đi nơi khác.
Sáng hôm sau tại sân bay, vào phút cuối cùng, hành khách mới được báo là hành trình đã bị thay đổi. Máy bay khỏng dừng lại Phnompenh. Điều đó làm cho tôi bối rối vì tôi dự tính sẽ qua đấy để lấy máy quay phim và một số đồ đạc khác và những ghi chép của tôi về tiểu sử cụ Hồ Chí Minh mà tôi để lại ở đó (thì giờ tiêu phí trong cuộc đi thăm Australia đã xoá bỏ khả năng tiếp tục đi Hà Nội của tôi.
Ngay khi bước vào cửa buồng ở Paris, chuông diện thoại lại réo gọi tôi Đó là điện của hãng BBC hỏi liệu tôi có thể đến ngay phòng phát thanh Paris của hãng đó để trả lời một cuộc phỏng vấn truyền hình về những sự kiện mới nhất ở Campuchia không? “Sự kiện gì?” tôi hỏi. Có một hơi thở mạnh ở phía bên kia dây nói tại London: “Anh, một chuyên gia lớn nhất về Campuchia lại không biết rằng Sihanouk đã bị phế truất hôm nay hay sao? Tiếng tăm của tôi đã được cứu vãn khi tôi giải thích rằng trong 30 tiếng đồng hồ vừa qua tôi ở trên máy bay từ Nu-me-a đến. Tôi vội vàng hôn Vét-xa và các con, rồi không cởi áo ngoài, tôi đến phòng phát thanh. Người phỏng vấn tìm mọi cách để lung lạc tôi, nhưng tôi chỉ bám vào 3 điểm: Sihanouk sẽ đấu tranh lại; Sihanouk sẽ được nhân dân ủng hộ; và cuối cùng ông ta sẽ thắng.
Vận mệnh đã từng chơi khăm tôi với nhiều mánh khóe xấu xa trong chuyến phiêu lưu ở Australia nhưng lần này đã đem may mắn lại cho tôi. Nếu chiếc máy bay UTA đỗ lại ở Phnompenh thì tôi đã dừng lại ở đó đúng vào ngày đảo chính để lấy đồ dùng của tôi. Vì tình hữu nghị của tôi với Sihanouk rất nổi tiếng, nên tôi chắc chắn sẽ bị rắc rối với những kẻ nổi loạn đang nắm chính quyền, nhất là tôi lại dùng giấy thông hành của Bắc Việt Nam.
Vậy tôi đã đạt được gì bằng cách phả cửa sau để vào Australia. Tôi đã chứng tỏ rằng việc di chuyển ra nước ngoài mà không có hộ chiếu không phải là một vấn đề đơn giản như một số nhân vật trong ngành báo chí đã rêu rao, nhất là tờ Người đưa tin buổi sáng Xít-nây. Quan trọng hơn nữa là, nói chung là người ta cho rằng một người Australia có thể vào đất nước anh ta bằng việc xuất trình một giấy khai sinh, thì tôi đã tạo ra một tiền lệ có ích là người ta cũng có thể rời Australia bằng việc xuất trình một giấy khai sinh. Do đó, hộ chiếu không phải là thứ can thiệp như một giấy phép ra nước ngoài. Tiền lệ đó đã được tạo ra, như sau đó tôi được biết, bởi vì chính phủ Goóc-tơn rất kinh sợ rằng tôi sẽ tổ chức một cuộc vận động toàn quốc chấm dứt sự tham gia của Australia vào cuộc chiến tranh ở Việt nam. Họ rất sung sướng khi thấy tôi ra đi. đến mức tôi nghĩ đáng ra có thể để lại một danh thiếp.
Tuy vậy, thành công chính là 6 tháng sau khi tôi rời Xít-nây, Pi-tơ, Gioóc-giơ và An-na đã nhận được hộ chiếu Australia. Cái đó chính là nhằm làm dịu dư luận công chúng, vì công chúng không thể chịu được tại sao những “lầm lỗi” chưa rõ ràng của người cha lại có thể đổ vào trẻ con được.
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #28 vào lúc: 25 Tháng Mười Một, 2008, 07:04:49 am »

13. Mặt đối mặt với Henry Kisinger
Ở Paris các cuộc đảm phán để chấm dứt chiến tranh cứ tiếp tục luẩn quẩn loanh quanh mà không có một tiến bộ hoặc một triển vọng tiến bộ nào. Cũng như năm 1969 Nixon đã từng tìm cách để thắng ở miền Nam Việt nam bằng việc ném bom miền Bắc Việt nam. Năm 1970, ông ta lại tìm cách xâm chiếm Campuchia để quét sạch “các đất thánh của Việt cộng” ở đó và phá huỷ “Lầu Năm góc” của họ sau khi lật đổ Sihanouk. Năm 1971, công thức thắng trong chiến tranh là xâm chiếm Nam Lào để “Cắt đường mòn Hồ Chí Minh” ông Ca-bốt Lốt hay ngáp và hay ngủ gật đã từ chức tháng 11 năm 1969 và dường như để nhấn mạnh việc hạ thấp các cuộc đàm phán Paris, Nixon đã không buồn tìm người thay ông ta trong nhiều tháng.
Chỉ sau cuộc náo động toàn quốc ở Mỹ về cuộc xâm chiếm Campuchia, mà điểm cao là việc giết chết bốn sinh viên tại trường Đại học Cen-tơ ngày 4 tháng 5 năm 1970, Nixon mới cử Đê-vít Bru-xơ đứng đầu phái đoàn ở Paris. Là một nhà ngoại giao chuyên nghiệp 72 tuổi, Bru-xơ (có dư luận) nuôi dưỡng tham vọng đáng hoan nghênh như A-vơ-ren Harriman. muốn đưa lại vinh dự cho sự nghiệp ngoại giao lâu dài của mình bằng việc gỡ Mỹ ra khỏi vũng lầy Việt nam. Không phải bà Nguyễn Thị Bình duyên đáng và thông minh, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời của miền Nam đã không khuyến khích một nguyện vọng như vậy. Tại một cuộc họp toàn thể bà đã đề nghị một kế hoạch hoà bình 8 điểm, mà thực chất là chi cần một tuyên bố đơn giản về ý định rút quân của Mỹ vào ngày 30 tháng 6 năm 1971 cũng sẽ đủ để chấm dứt các cuộc tấn công hơn nữa của Mặt trận Dán tộc giải phóng chống lại quân Mỹ. Rồi có thể có hội đàm giữa Chính phủ Cách mạng lâm thời với chế độ Sài gòn nhằm đạt đến một cuộc ngừng bản và tổng tuyển cử trong cả nước. Đó là một trong nhiều cơ hội để tạo ra nhưng điều kiện có thể là tốt nhất, xét về những lợi ích đã được tuyên bố của chính Washington mà phái đoàn Mỹ đà bác bỏ. Những cơ hội như vậy càng trở nên ít hấp dẫn một cách rõ rệt khi cuộc chiến đấu càng tiếp tục kéo dài.
Cuộc xâm chiếm Nam Lào với ý đồ cá đứt con đường mòn Hồ Chí Minh là một lai hoạ quân sự lớn nhất của quân đội Mỹ - Sài gòn cho đến lúc đó. Về sau này Sihanouk đã kể với tôi câu chuyện ông Võ Nguyên Giáp đã đánh giá chiến dịch đó như thế nào ngay từ những ngày đầu. Sihanouk ngẫu nhiên đến thăm Hà Nội ngày 8 tháng 2 năm 1971 vào đúng lúc mở màn chiến dịch. Trước khi ngồi vào bàn ăn tối với ông Giáp, ông ta đã nghe Nguyễn Cao Kỳ, phó tổng thòng của chế độ Sài gòn hung hăng khoe rằng, các lực lượng xâm chiếm sẽ ở lại Lào “cho đến hết mùa khô, vào cuối tháng 5” và “chúng tôi có thể tấn công trên bộ chống lại Bắc Việt nam”. Nghe lời khoe khoang của Kỳ, ông ta cảm thấy băn khoăn.
“Đến một điểm- Sihanouk nói - không còn tự kiềm chế được nữa, tôi phải nói với Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Thưa Đại tướng, tôi cảm thấy có lỗi. Tôi đã chiếm quá nhiều thì giờ của Đại tướng khi một cuộc chiến đấu to lớn như vậy đang xảy ra ở Nam Lào”. Tướng Giáp cười và trả lời tôi: “À, việc đó à, đã được chuẩn bị bị từ lâu rồi. Những đồng chí của chúng tôi tại chỗ đã có mọi thứ cần thiết để đối phó với tình hình. Tôi chẳng cần phải quan tâm gì đến việc đó cả... Theo đải phát thanh hôm nay, Thiệu nói rằng quân đội của hắn sẽ ở lại Lào cho đến tháng 5 hoặc tháng 6. Trên thực tế, sẽ quân còn lại của chúng chậm nhất là vào cuối tháng 3 sẽ bị đẩy ra”. “Và chúng đã bị đay ra thật”, Sihanouk nói, với đôi mắt đầy khâm phục. “Tên lính cuối cùng bị đẩy ra ngày 25 tháng 3. Ông Giáp là một thiên tài quân sự, chắc chắn là nhà chiến lược vĩ đại nhất của thời đại chúng ta và là một trong những nhả chiến lược vĩ đại nhất của tất cả các thời đại”.
Cuộc tháo chạy ở Lào đã chấm dứt mọi ảo tưởng về thắng lợi quân sự của các lực lượng Mỹ - Sài gòn ở miền Nam Việt nam. Ngày 1 tháng 7 bà Nguyễn Thị Bình đưa ra kế hoạch 7 điểm mới, đáp ứng các yêu cầu của cái mà Đê-vít Bru-xơ đang đề nghị tại các cuộc họp hàng tuần. Kẻ hoạch đó đề nghị một chính phủ lâm thời ba bên, bao gồm chế độ Sài gòn hiện tại, Chính phủ Cách mạng lâm thời (đã được thành lập tháng 6 năm 1969) và các thành phần của lực lượng thứ ba. Chính phủ đó sẽ tổ chức các cuộc bảu cử Quốc hội tái quốc. Miền Nam Việt nam sẽ cam kết theo đuổi một chính sách đối ngoại “hoà bình và trung lập, thiết lập quan hệ ngoại giao với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị và xã hội của họ, phù hợp với nguyên tắc cùng tồn tại hoà binh”. Để có những người hy vọng rằng cái đó sẽ khai thông cho việc đi đến một hiệp định, Bru-xơ đã có mọi lý lẽ để tự lấy làm hài lòng.
Rồi Kissinger đến Paris trên đường về nước sau cuộc đi thăm “bí mật” Bắc Kinh rất giật gân của ông ta. Có tin đồn rằng đã có cuộc tranh cãi giữa bản thân ông ta và Bruxơ. Vào cuối cuộc thăm ngắn này của ông ta, Kissinger công bố rằng Bru-xơ sẽ từ chức vì “sức khỏe kém”. Ngay tức khắc Bru-xơ báo cho một nhóm nhà báo Mỹ rằng sức khỏe của ông ta “rất tốt”. Và Bru-xơ đi Rô-ma hai tuần sau đó, Nixon đã có thể công bố rằng ông ta đã có trong tay một thư từ chức của Đại sứ Bru-xơ. Không có chiêu đãi tiễn đưa, cũng không có cuộc đi về Washington để trình bày báo cáo cuối cùng Bru-xơ đã nhận thấy ở Nixon, cũng như Harriman đã nhận thấy ở Johnson rằng những điều kiện chấm dứt chiến tranh như đã được tuyên bố trước dư luận công chúng và những chỉ thị cho các trưởng đoàn thương lượng có rất ít điều giống với những mục tiêu của chính sách thực sự, và trong trường hợp này thì đây là lệnh của chính Henry Kissinger. William Poóc-tơ thay thế Bru-xơ. Poóc-tơ đã từng là người thứ hai trong một thời gian dài tại Sứ quán Mỹ ở Sài gòn, và cuộc đàm phán Paris lại một lần nữa bị đẩy vào sự băng giá sâu sắc.
Tháng 9 năm đó, tôi đi Liên hợp quốc để theo dõi cuộc thảo luận về Trung Quốc cho Tạp chí châu Phi - châu Á ra hai tuần một lần, tờ Điểm tin chủ nhật Australia (kế tục tờ Người quan sát chủ nhật) và tờ Người bảo vệ New York. Có một ấn tượng rộng rãi rằng Mỹ bằng cuộc vận động khéo léo sau hội trường, đã tạo điều kiện cho Trung Quốc vào Liên hợp quốc năm đó. Chẳng ai là không biết rằng Mỹ và các động minh gần gũi nhất của Mỹ, nhất là Nhật Bản và Australia, đã chiến đấu gay gắt để ngăn cản việc Trung Quốc được nhận vào Liên hợp quốc. Mỹ vẫn tiến hành cuộc vận động hàng năm của mình bằng việc dùng hối lộ và đe doạ để giữ Trung Quốc ở ngoài. Theo chỗ tôi biết hai phóng viên duy nhất đã tiên đoán được việc Trung Quốc sẽ được công nhận vào Liên hợp quốc năm đó là Hăng-rì Tan-nơ của tờ Thời báo New York và tôi, bởi vì chúng tôi là những người theo dõi rất cằn thận tâm trạng thay đổi của các đại biểu.
Một vài ngày trước khi bắt đầu bỏ phiếu, chính xác là ngày 8 tháng 10, tôi nhận được điện thoại tại một nhà ở New York mà một người bạn của tôi cho tôi mượn.
- Tôi là một trợ lý của tiến sĩ Kissinger. Tiến sĩ được tin ông đang ở thành phố này và muốn biết ông có nhận ăn cơm sáng với ông ta vào ngày thứ ba tới không?
- Về nguyên tắc - đồng ý.
- Vậy thì vào lúc 9 giờ 30 phút tại Cánh Tây của Nhà Trắng.
- Tôi có một chút khó khăn.
- Ô cái gi vậy? - với giọng rất lạnh lùng.
- Sự đi lại của tôi bị hạn chế trong phạm vi 25 dặm của trụ sở Liên hợp quốc.
- Trong trường hợp đó, tôi chẳng biết nói gì? Tôi chẳng biết gì về việc đó.
- Trong hoàn cảnh này, vì một mục đích như vậy, tôi đề nghị làm ngơ hạn chế đó đi!
- Tôi đề nghị làm ngơ vì ông đã nêu vấn đề ra. Thế ông có đến chứ?
- Có. Vào 9 giờ 30 phút ngày thứ ba tại Cánh Tây.
Vì ngày thứ hai đó có sương mù, nên tôi đi Washington bằng tàu lửa chứ không dại gì mà đi máy bay, vì rất có thể chuyến bay sẽ bị huỷ bỏ. Tôi cân nhắc xem Kissinger muốn nói chuyện gì về Trung Quốc hay về Việt nam? Vào lúc nảy, giống như tất cả các nhà báo theo dõi các cuộc đàm phán Paris, tôi chẳng biết gì về những cuộc gặp bí mật giữa Kissinger và uỷ viên Bộ Chính trị Bắc Việt nam Lê Đức Thọ, “cố vấn cấp cao” của phái đoàn Việt nam Dân chủ Cộng hoà. tôi cũng suy nghĩ về những điều gì có thể sẽ xảy ra nếu có một sự kiểm soát khi tàu chạy nhanh đến Thủ đò, và phát hiện ra rằng tôi đã vi phạm điều hạn chê trong sự đi lại của tôi. Để tránh việc lính bảo vệ dương lưỡi lê chặn một “người Cuba” tìm cách vào Nhà trắng, tôi chỉ mang theo thẻ báo chí Liên hợp quốc của tôi.
Đủng 9 giờ 30 phút sáng thứ ba, tôi xuất trình những giấy tờ đó cho một lính thuỷ đánh bộ trong trạm gác và trong vòng vài giây, một lính thuỷ đánh bộ khác dẫn tôi đi vài chụx thước Anh đến Cánh Tây, ở đỏ một người nữ tiếp khách yêu cầu tôi đợi một lúc. Chính Kissinger mỉm cười đã xuất hiện.
Mới nhìn lần đầu, Kissinger làm cho tôi nhớ lại người thầy giáo hiền lành trong những ngày đi học của mình. Khi ông ta đưa tôi vào văn phòng bên cạnh phòng tiếp khách khác, ông ta tự bày tỏ là rất vui mừng được gặp tôi và cuộc nói chuyện bắt đầu. Kissinger nói trước.
- Tôi đã đọc các bài viết của ông trong một thời gian.
- Tôi cũng đã đọc một số bài của ông, tôi thấy rất thú vị.
- Cái gì, chẳng hạn?
- Trong số tháng 1 năm 1969 của Tạp chí Công việc đối ngoại về Việt nam. Và những tiểu luận về công việc đối ngoại, ở đó ông bàn về khái niệm nhiều cực trong các quan hệ quốc tế. Tôi thấy bài đó lý thú ở chỗ nó nói về sự xuất hiện của Nhật Bản như là một lực lượng mạnh tiềm tàng. Tôi nghĩ rằng người Trung Quốc cũng thấy bài đá là lý thú.
- À vâng, tôi quên rằng ông cũng có một kiến thức về Trung Quốc, Nhật Bản đã là một lực lượng mạnh rồi, và đã bắt đầu làm cho sức nặng của nó có tác dụng. Gần đây ông có ở Trung Quốc không?
Đền đây, một người bước vào với một cái khay và bày ra bữa ăn sáng. Khi chúng tôi ăn, Kissinger nói ông ta cho rằng cuộc nói chuyện của chúng tôi là “không chính thức”. Tôi trả lời rằng tôi không có ý định nhắc rằng nó đã xảy ra. Kissinger nói: “Cũng chẳng sao cho tôi nếu ở ngoài biết việc chúng ta gặp nhau”. Rồi tôi trả lời câu hỏi trước của ông ta.
- Vâng, tôi có ở Trung Quốc vào lúc bắt đầu chính sách ngoại giao bóng bàn, khi các đoàn bóng bàn Mỹ và các đoản khác đến. Tôi có mặt khi Chu Ân Lai tiếp họ.
- Ấn tượng của ông đối với Chu Ân Lai thế nào?
- Tôi luôn luôn thấy ông ta thẳng thắn và thật thà, nói điều ỏng ta nghĩ và làm đúng điều ông ta nói.
- Đó là ấn tượng của tôi. Tôi có ấn tượng sâu sắc với ông là và với những người chung quanh ông ta. Tất nhiên, tôi không biết những mục tiêu dài hạn của ông ta là gì? Ông ta là một nhà cách mạng, nhưng tôi có thể khâm phục những người đã dành cả cuộc đời của mình cho một mục đính, dù đó là một mục đích cách mạng. Nhưng tôi thực sự muốn nói chuyện với ông về Việt nam. Gần đày ông có ở Hà Nội không?
- Lần cuối cùng là tháng 5 năm 1970. Nhưng trước khi đi New York, tôi có ăn cơm tối với ông Xuân Thuỷ, người đứng đầu phái đoàn Việt nam Dân chủ Cộng hoà tại cuộc hội đàm Paris”.
- Ông ta nhìn công việc như thế nào trong những ngày này!
- Thoái mái và tin tưởng, rất hài lòng với sự ủng hộ mạnh mẽ của cả Liên Xô lẫn Trung Quốc đối với kế hoạch hoà bình 7 điểm của bà Bình. Đó là lần đầu tiên Liên Xô và Trung Quốc cùng đồng ý đối với một vấn đề có liên quan đến hội đàm. Ông Xuân Thuỷ cũng tin rằng Trung Quốc sẽ không làm gì trên đầu của Hà Nội trong cuộc đi thăm Bắc Kinh của Tổng thống Nixon.
- Người nào nghĩ rằng Trung Quốc sẽ làm như vậy chổng lại các bạn bè của họ ở Hà nội thì cần phải xem lại đầu óc của họ. Chúng tôi không có những ảo tưởng như vậy. Nhưng Hà Nội có thực sự muốn một giải pháp bằng thương lượng không?
- Có. Và họ tin rằng kế hoạch 7 điểm chứa đựng tất cả các nhân tố cho một giải pháp.
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #29 vào lúc: 25 Tháng Mười Một, 2008, 07:05:16 am »

- Tôi khâm phục người Bắc Việt nam. Tôi mong rằng họ ở phía chúng tôi. Họ là một dân tộc bền bỉ và kỷ luật, thậm chí đó là một dân tộc anh hùng. Họ có những đức tính vĩ đại, nhưng họ là những nhà thương lượng tồi. Họ phải chấm dứt cách nói “You must” (anh phải)... Nếu họ nói “you should” (anh nên)... thi sê còn tốt hơn.
- Có lẽ sẽ tốt hơn, nếu họ nói Let us... (Chúng ta hãy...)
- (Cười) Đó sẽ là tiến bộ thực sự. Ông thấy đó, có một số lời lẽ không thể dùng được đối với một cường quốc lớn như Mỹ nếu muốn gạt bỏ các trở ngại.
- Trở ngại lớn nhất phải gạt bỏ là gì?
- Hà nội muốn cái gì cũng xảy ra ngay tức khắc. Họ muốn người của họ tiếp quản miền Nam ngay tức thì. Họ muốn chúng tôi nhận mọi thứ họ đề nghị mà họ thì không có nhượng bộ nào.
- Họ và Mặt trận dân tộc giải phóng cho rằng họ đã có nhượng bộ lớn nhất ngay từ đầu, khi họ chấp nhận chưa thống nhất ngay tức khắc. Rõ ràng không có thống nhất trong tương lai trước mắt. Kế hoạch 7 điểm nói rõ điều đó nhất là điểm 5.
- Về nền trung lập?
- Không phải chỉ vấn đề trung lập. Chấp nhận viện trợ kinh tế và kỹ thuật của cả hai phía. Đề nghị tham gia các hệ thống của sự hợp tác kinh tế khu vực. Về các mối quan hệ tương lai với Mỹ, có những điểm làm cho một giải pháp trở nên để dàng chấp nhận đối với ông!
- Nói một cách thẳng thắn trong kế hoạch 7 điểm. Gắn việc rút quân với việc thả tù binh, vẫn là một điều chán ngắt.
- Bị bám vào một kiểu ché độ mà ông có ở Sài gòn mới thầt là một điều chán ngắt lớn hơn.
- Tôi không bình luận điều đó, những người Bắc Việt không đề cập đến bất cứ một cách thực tiễn nào để thay đồi chế độ đó. Họ không thể mong chờ chúng tôi vứt bỏ nó. Họ không đưa ra kế hoạch thực tề nào để thành lập chế độ liên hiệp của họ.
- Họ nghĩ rằng các ông chẳng làm gì để đưa lại một sự thay đổi của chế độ và đáng ra các ông không nên làm một số việc mà các ông làm để giúp chế độ đó tiếp tục nắm quyền.
- Nếu chúng tôi muốn duy trì vĩnh viễn chính quyền ở Sài gòn thì những chiến thuật của Hà Nội có thể đã làm dễ dàng cho nhiệm vụ đó của chúng tôi. Nhưng rất may cho Hà nội là chúng tôi không muốn như vậy. Họ quả ngờ vực. Họ không tin chúng tôi khi chúng tôi nói rằng chúng tôi đang rút ra.
- Lịch sử chứng minh những ngờ vực của họ.
- Tôi đồng ý với ông họ có mọi quyền để ngờ vực. Nhưng họ phải hiểu rằng đây là năm 1971, chứ không phải năm 1954 đó là lúc Đa-lét cố tình kéo chúng tôi vào Đông Nam châu Á... Chinh sách của chúng tôi hiện nay là ngược lại: rút ra. Nhưng chúng tôi không thể làm tất cả việc đó ngay tức khắc được. Hà Nội chẳng làm gì để giúp chúng tôi cả. Họ muốn mọi thứ ngay bây giờ. Chúng tôi đang rút ra. Họ nghĩ rằng chúng tôi muốn giữ các căn cứ. Khi chúng tôi tìm cách bình thường hoá quan hệ của chúng tôi với Trung Quốc, chúng tôi không thể để cho chiến tranh tiếp tục trong khu vực đó. Nếu họ nghĩ rằng chúng tôi bám vào các căn cứ, thì họ đã sai lầm. Chúng tôi muốn các căn cứ đó để làm gì? Chúng tôi cũng không muốn một Bắc Việt nam bị yếu đi về kinh tế và chính trị bằng việc tiếp tục chiến tranh, làm mồi cám dỗ cho một Nhật Bản có tư tưởng bành trướng. Chúng tôi đã biết rằng có thể có những quan hệ tốt với các nước cộng sản, khi mà các nước đó không còn là một khối thuần nhất nữa.
- Thế giới cộng sản cũng là thế giới nhiều cực.
- Chúng tôi không có bất hoà thực sự nào với Việt nam. Chúng tôi không nghĩ rằng các nhà lãnh đạo ở đó là xấu không đạo đức và phải bị trừng phạt. Vấn đề là phải tìm một cơ sở thực tiễn cho cách giải quyết.
- Họ nghĩ rằng 7 điểm đưa lại một khung cảnh thực tế và các cuộc nói chuyện riêng về những vấn đề đó giữa Chính phủ Cách mạng lâm thời và Mỹ một cách đầy đủ và chi tiết, có thể đưa lại một phương cách thực tiễn để rút ra khỏi cuộc chiến tranh.
- Tôi không chắc rằng đó là cách tốt nhất và duy nhất để giải quyết vấn đề. Điều rắc rối là Hà Nội không chịu đợi để cho các quá trình chính trị tự nó diễn ra sau khi chúng tôi đã hoàn thành việc rút ra khỏi chiến tranh.
- Họ muốn tương lai được giải quyết bằng các quá trình dân chủ phù hợp với các khái niệm triệt để nhất về dân chủ của Mỹ. Nhưng như ông đã thấy ngay Dương Văn Minh hoặc Nguyễn Cao Kỳ cũng không thể đương đầu với Thiệu, và các ông đã ủng hộ trò cười của cuộc bầu cử chỉ một người ứng cử.
- Hà nội cũng làm hỏng khả năng đó. Họ đã làm mọi điều sai.
- Tôi nhắc đến Dương Văn Minh vì tôi nghĩ rằng có thể tìm được những nhân vật và một chế độ có thể chấp nhận được cho tất cả các bên.
- Còn ông Lê Đức Thọ thì thế nào? Ông ta có thực sự quan trọng hơn ông Xuân Thuỷ không?
- Vâng, ông ta là một trong nửa tá nhân vật chop bu trong ban lãnh đạo của Hà Nội. Ông ta là một uỷ viên Bộ chính trị, ông Xuân Thuỷ là một uỷ viên Ban Chấp hành.
- Tôi rất cảm kích ông Phạm Văn Đồng.:.
- Ông ta rất uy nghi. Một nhà trí thức yêu nước, tận tuỵ và thẳng thắn, thật thà và chân thật. Trên thực tế giống ông Chu Ân Lai nhưng theo cách Việt nam.
- Giống Chu Ân Lai! Thật sao? Ông Chu Ân Lai là kỳ lạ.
- Ông Xuân Thuỷ đã hy vọng rằng việc Poỏc-tơ đến có thể có nghĩa là sẽ có một điều gì mới đó... Nhưng khi ông Xuân Thuỷ đề nghị Poóc-tơ ngồi xuống và thảo luận các chi tiết của 7 điểm với bà Nguyễn Thị Bình, thì ông ta lặp lại các phần đề nghị cũ rằng bốn bên gặp nhau trong các phiên họp hạn chế. Cả ông Xuân Thuỷ lẫn bà Bình chẳng thấy có điểm lý thú nào trong các phiên họp hạn chế với sự có mặt của phái đoàn Sài gòn.
- Ít nhất họ phải ngồi xuống với Sài gòn và xem lập trường thương lượng của Sài gòn là gì.
- Lập trường đó đã được biết rõ rồi. Thiệu đã công khai tuyên bố ý chí muốn một giải pháp quân sự. Nếu thương lượng thực sự được tiến hành mà có mặt các đại biểu Sài gòn thì không thể nào bàn đến các vấn đề bí mật cần thiết được. Ông Xuân Thuỷ cũng nói với tôi rằng vấn đề thả thêm phi công như là một cử chỉ thiện chí đã bị kết thúc rồi... Dù sao, thủ tục thả tù binh cũng được nêu trong kế hoạch 7 điểm.
- Chúng tôi muốn đi vào tất câ các vấn đề đó. Ông có thể chuyển các quan điểm của tôi cho các bạn Việt Nam của ông. Tôi không biết ông có biết không, chứ tôi đã làm mọi việc để các cuộc nói chuyện bắt đầu dưới chính quyền Johnson năm 1967. Thật là buồn cười nếu nghĩ rằng trong tình hình hiện nay tôi ít quan tâm đến việc làm cho chiến tranh chấm dứt. Chính việc tôi tiếp ông, đúng một tuần trước chuyến đi thăm Bắc Kinh khác của tôi sẽ thuyết phục các bạn Việt nam của ông về điều đó.
Trong khi chúng tôi nói chuyện, Tổng thống Nixon đã gọi điện đến về một thông cáo mà Kissinger phải dự thảo công bố rằng Nixon sẽ thăm Liên Xô tháng 5 năm 1972.
Kissinger hỏi tôi, trong khả năng không chắc chắn về việc Bắc Kinh lấy lại ghế của Trung Quốc ở Liên hợp quốc năm nay thì ai sẽ dẫn đầu phái đoàn của Trung Quốc. Để thử phản ứng của ông ta, tôi nói: “Có lẽ Chu Ân Lai”. Kissinger hầu như nhảy lên khi nghe câu đó.
- Không - ông ta nói - Chu Ân Lai sẽ không làm việc đó. Ông ta sẽ không đến Mỹ trước khi Tổng thống Nixon thăm Trung Quốc...
Để làm vừa lòng ông ta, tôi nhắc lại tuyên bố của Chu Ân Lai vài tháng trước đó, trong khi tôi có mặt, rằng ông ta sẽ không đi thăm nước ngoài dài ngày nữa, và nói rằng sẽ có thể là Kiều Quán Hoa. Tôi mô tả Kiều Quán Hoa như là một con người rất xuất sắc mà các nhà ngoại giao Phương Tây có thể dễ tiếp xúc.
Đến đây cuộc gặp gỡ kết thúc.
Tôi được biết từ một người bạn quen rằng vài giờ sau đó, Kissinger xen cuộc trao đổi của chúng tôi là có kết quả. Theo tôi phần lớn những điều mà tôi cảm thấy đạt được trong việc làm rõ cáo quan điểm của Hà nội đã bị giảm giá trị khi tôi được biết qua công bố đột ngột của Nixon trên vô tuyến truyền hình ngày 25-1-1972 rằng, Kissinger đã có 12 cuộc gặp bí mật, 7 với ông Lê Đức Thọ và ông Xuân Thuỷ và 5 với riêng ông Xuân Thuỷ ở Paris trong thời gian từ 4-8-1969 đến ngày 13-9-1971. Kissinger chủ động cắt đứt các cuộc hội đàm kể từ ngày đó, và thông điệp mà ông ta muốn tôi chuyển cho ông Xuân Thuỷ nói lên rằng ông ta vẫn còn quan tâm đến một giải pháp bằng thương lượng và Mỹ có ý định rút hoàn toàn ra khỏi miền Nam Việt nam.
Tôi rời Nhà Trắng với tin riêng trong túi: Kissinger sắp bay đi Bắc Kinh thăm lần thứ hai: Nixon sắp thăm Moscow (và cả hai sự kiện được công bố ngày hôm sau); Burchett đã có một bữa ăn sáng dài thảo luận với Kissinger. Kissinger đã được gì? Bằng sự ngây thơ của những câu hỏi và những đề nghị của tôi đối với việc nói chuyện riêng, chẳng hạn) ông ta có thể xác nhận rằng ông Lê Đức Thọ và ông Xuân Thuỷ đã tôn trọng nguyên tắc bí mật hoàn toàn đối với các cuộc nói chuyện riêng, và ông ta đã mở được thêm một con đường khác với “phía bên kia” ngoài con đường ngoại giao. Nhiều năm sau, khi tôi đọc quyển sách của người hoạt động CIA Phrăng-cơ Xnép (quyển Khoảng cách lịch sự) tôi bị ám ảnh với ý nghĩ rằng khi Kissinger fhăm dò tầm quan trọng tương đối của ông Lê Đức Thọ và Xuân Thuỷ là hầu như chắc chắn là ông ta chịu trách nhiệm về những kế hoạnh nhằm giết hoặc bắt cóc các nhà lãnh đạo Bắc Việt nam thuộc cỡ đó. Xnép tiết lộ:
“Trong lúc đó Kit xinh-giơ yêu cầu cộng đồng tình báo nghiên cức các tình huống để xàc định xem có thể có cách nào kéo người Việt nam ra khỏi chỗ bế tẳc. Một đề nghị mà CIA và Lầu năm góc cùng đưa ra đòi ám sàt hoặc bắt cóc một hoặc nhiều nhà lãnh đạo lãnh đạo Bắc Việt nam, trên cơ sở cho rằng làm như vậy sẽ gây rối loạn ở Hà Nội đên mức những người còn sống sẽ buộc phái đáp ứng những yêu sách của Mỹ. Khi các đồng sự của tôi và tôi được yêu cầu đánh giá kế hoạch đó, chúng tôi khó mà nén được buồn cười. Như cuộc tấn công của Mỹ năm 1970 vào trại tù binh Sơn Tây ở ngoại thành Hà Nội đã tỏ ra khá đau đớn, tình báo của chúng ta rõ ràng là không hiếu hết về cuộc sống và thì giờ của người Bắc Việt nam. Nếu chúng ta đã không thể xác minh chinh xác chỗ ở của một nhóm lớn tù binh Mỹ ở Thủ đô Bắc Việt nam thì làm thế nào chúng ta có thể hy vọng tim ra được chỗ ở và tấn công những thành viên có lựa chọn của ban lãnh đạo Đảng?”
Ý định ám sát kinh tởm đó đã dọi mọi ánh sâng mới vào lời hứa của Nixon tiến hành những cuộc tấn công thêm nữa theo kiểu Sơn Tây đẻ non. Người ta phải đi lùi xa vào lịch sử mới thấy rằng việc ám sát và bắt cóc đối phương trong một cuộc thương lượng là một kiểu ngoại giao có thể chấp nhận được. Kissinger với tư cách là người đứng đầu Uỷ ban 40, phụ trách lĩnh vực các “mánh khóe xấu xa” của chính sách ngoại giao Mỹ, chắc chắn là đã dính sâu vào công việc xấu xa đó. Hình ảnh của một “Thầy giáo hiền lành” đã phai nhạt từ lâu trước khi tôi đọc quyển sách của Xnép, nhưng những tiết lộ như vậy đã khẳng định tính chất bỉ ổi của các biện pháp của ông ta. Những kế hoạch với tính vô đạo đức và man rợ của “cuộc ném bom vào ngày Giáng sinh bằng B.52 ở Hà Nội tháng 12 năm 1972, tính thiên về lừa bịp trong ngoại giao, và sự bât lực không thấy được những giải pháp, khi những giải pháp đó đã nằm ngay trong tầm tay, đã làm cho một trong những người viết tiểu sử của ông ta, đồng thời cũng là một đồng sự cũ trong Hội đồng an ninh quốc gia Bôgiơ Mô-rít mô tả những biện phảp chấm dứt chiến tranh Việt nam của Kissinger là dã man cũng như tinh tế, thường là vô lý, hèn nhất, không thích hợp trong khi vẫn lịch sự.
Cuối cùng không còn chính sách nào khác, không còn thành tích nào khác trong sự nghiệp lâu dài và đầy tranh cãi của ông ta lại làm nhơ nhuốc việc Henry Kissinger tìm cách vươn lên tiêu chuẩn vĩ đại, đến như vậy”
Ấn tượng chính của tôi về nhân cách Kissinger là sự hài lỏng lấn át của ông ta về bản thân mình và đôi mắt nghiêm khắc, lạnh lùng làm cho nụ cườicủa ông ta khỏng còn vẻ ấm cúng nữa. Tôi rất khó chịu trước lời bác bỏ khiếm nhã của ông ta đối với kế hoạch 7 điểm của bà Bình mà ông ta xem là một điều “chán ngắt”. Đó là giải pháp tốt nhất mà Mỹ chưa bao giờ có thể hy vọng có được để bảo vệ lợi ích của chính mình và để chấm dứt chiến tranh Việt nam một cách hoà bình và “với danh dự”. Từ lúc Kissinger văng ra cái từ “chán ngắt” trong cuộc nói chuyện, tôi nghi ngờ sự thành thật của ông ta muốn đạt đến một giải pháp thực tế.
Khi lên chiếc máy bay đường ngắn trở về New York, tôi tự chúc mừng mình là đã vi phạm giới hạn đi lại mà không bị phát hiện. Một người đến chậm to béo, bước sát và đến ngồi ngay bên tôi. Anh ta kêu lên “Burchett, cậu làm gì ở đây?” Đó là Hăng-ri A-sơ-mo của Trung tâm nghiên cứu các thể chế dân chủ. Với nhiều con mắt nhìn về phía chúng tôi vi lời chào dạt dào của anh ta, tôi giải thích nhẹ nhàng rằng tôi đang theo dõi cuộc thảo luận về Trung Quốc với sự đi lại bị hạn chế, nhưng không thể cưỡng lại một chuyến đi Washington theo lời mơi khẩn cấp của những bạn cũ. Sẽ không tốt nếu việc này lan ra chung quanh. Anh ta hứa giữ kín và đã giú lời hứa. Không phải lỗi của anh ta hoặc của tôi khi tin về cuộc họp, chứ không phải nội dung, đã lọt ra ngoài và nhanh chóng lan về Australia. Do đó, dưới nhan đề “Tiến sĩ Kissinger nói gì với Winfred Burchett tờ Thời báo Melbourne đăng một tin của phóng viên ngoại giao của nó là Bruxơ Gran-tơ, mà dưới đây là một vài đoạn trích:
Ngày 19 tháng 10, nhà báo Australia Winfred Burchett mà dưới con mắt của Chính phủ Australia là một người ngoài vòng pháp luật đã bí mật gặp nhà kiến trúc chính sách ngoại giao của Mỹ Henry Kissinger. Cuộc họp đã được tổ chức theo lời mời của tiến sỹ Kissinger...
“Mặc dù ông ta chính thức là một người bị ruồng bỏ ở Australia, phóng sự của Winfred Burchett từ Đông Dương đã đưa lại cho ông ta một danh tiếng quốc tế như là một con người thông minh và thạo tin, mặc dù những thiên kiến chính trị của ông ta...
Đó là một loại hiểu biết chính trị mà Chính phủ Australia không được tiếp xúc trong nhiều năm nay.
Những tường thuật về cuộc gặp tuy khác nhau, nhưng đều tập trung vào một đề tài: một cách giải quyết chính trị ở Việt nam. Ngày 19 tháng 10 là ngày trước khi Kissinger đi thăm Bắc Kinh lần thứ hai, ông ta muốn nghe ý kiến của Burchett tại sao Hà nộii đã không đáp ứng những đề nghị của Washington nhằm đi đến một giải pháp”.
Con đường dài, buồn thảm và vô cùng đau khổ dẫn đến việc ký một hiệp định chấm dứt chiến tranh. và lập lại hoà bình ở Việt nam tại Paris ngày 27 tháng 1 năm 1973, cuộc chiến tranh tiếp tục ở miền Nam, cuộc tấn công chớp nhoáng quét sạch chế độ Sài gòn, dẫn đến sự thống nhất nhanh chóng đất nước, tôi đã mô tả ở chỗ khác. Thật là đúng đắn về mặt lịch sử khi nói rằng nếu Kissinger hành động như một chính khách, ngoại giao như đôi khi ông ta được mô tả như vậy, sẽ cứu được sinh mạng của hàng nghìn binh lính và dân thường, nước Mỹ sẽ duy trì được một địa vị tôn kính ở Đông Dương, những thảm kịch của những người chạy trốn bằng thuyền và thảm kịch của Campuchia sẽ được tránh khỏi, hoà bình và ổn định trong khu vực này của thế giới sẽ được duy trì.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM