Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 11:50:07 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Ký Sự Chiến Tranh - Tập 2  (Đọc 65695 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #20 vào lúc: 23 Tháng Mười Hai, 2008, 03:17:44 pm »

Một giờ sáng ngày 10 tháng Ba, ở Chỉ huy sở hầu như không còn việc gì để gọi hỏi đôn đốc, kiểm tra các cấp và các hướng. Tất cả đã sẵn sàng. Chỉ còn đợi giờ nổ súng. Trong sáu mươi phút nữa còn có gì sẽ xảy ra? Sẽ không thể có gì trái với dự tính xảy ra hết. Pháo mặt đất và cao xạ đi cùng các hướng đang qua sông. Còn một giờ nữa các đơn vị tăng và thiết giáp sẽ bật đèn, rú máy, nghiến đường ào ào chạy thẳng tới các mũi đã nổ súng. Các cụm pháo chiến dịch đã lên bảng bắn. Đêm nay sẽ là một biển lửa nhấn chìm các căn cứ quân sự địch trong thị xã và vùng ngoại vi. Còn năm mươi phút nữa! Còn bốn mươi phút nữa! Kể cả người chưa từng bao giờ hút thuốc cũng xòe tay xin một điếu. Không biết nên nghĩ gì? nên lo lắng cái gì? nên chờ đợi cái gì? Tất nhiên tất cả chỉ còn chờ đợi tiếng súng hiệp đồng của các lực lượng đặc công ở ba mục tiêu đã được chỉ định phải đánh trước. Có thể một đơn vị nào đó sẽ nổ súng đúng giờ, tức là 2 giờ sáng ngày 10. Còn các đơn vị khác có thể chưa vào được vị trí nhiệm vụ vì bị lực lượng tuần tra phát hiện từ phía ngoài, vì bị lạc còn đang phải tìm đường. Rất có thể là như thế. Nổ súng không đều nhau, thì kẻ địch sẽ có thời gian lần lượt đối phó, lần lượt huy động lực lượng, yếu tố bất ngờ bị mất, sức chống trả của chúng sẽ mạnh hơn, sức tiến công của ta sẽ bị chậm lại. Một mũi bị chậm lại sẽ ảnh hưởng đến các mũi khác. Rồi cũng ảnh hướng đến các đơn vị tiếp sau vì vị trí của người đến trước không phát triển. Lực lượng sẽ bị ùn, mục tiêu cũng bị thu gọn. Rồi bom, rồi pháo... Những giây phút trước giờ nổ súng của mọi cuộc tấn công từ xưa đến nay đều căng thẳng như thế cả. Kể cả những trận đánh đã cầm chắc cái thắng cả trăm phần trăm vẫn cứ căng thẳng. Vì vẫn cứ còn chút ít nghi ngại trong sự chuẩn bị của mình, trong các dự tính của mình, và những tình huống lạ lùng chưa từng bao giờ xảy ra nhưng lại xuất hiện đúng vào cái trận này, làm kinh nghiệm xương máu, có khi còn là kinh nghiệm đau đớn cho những trận sau, cho những người cầm súng tới sau. Trong những giờ cuối cùng của ngày 9 và những giờ đầu tiên của ngày 10, cách nửa giờ lại có điện từ Chỉ huy sở tiền phương của Bộ gọi xuống. Cũng vẫn những lo lắng, những băn khoăn hết sức giống nhau : Lực lượng tiềm nhập thế nào? Cầu phà thế nào? Đường sá thế nào? Việc tổ chức hiệp đồng giữa các hướng, giữa các binh chủng có gì trở ngại?

1 giờ 30... 1 giờ 40, chủ nhiệm pháo binh gọi điện xuống hai cụm pháo chiến dịch chỉ thị lại những mục tiêu chủ yếu phải bắn trong đêm. Phải uy hiếp và làm tan rã tinh thần hai cơ quan chỉ huy quân chủ lực và quân địa phương. Phải phá hủy ngay từ những loạt pháo đầu các trận địa pháo của địch trong thị xã và vùng phụ cận, hậu cứ trung đoàn 8 thiết giáp và khu trung tâm truyền tin. Hai cụm pháo chiến dịch của hai trung đoàn pháo trực thuộc Bộ tư lệnh chiến dịch đều có cái mạnh và cái yếu khác nhau. Cụm pháo phía bắc của trung đoàn 675 rất giỏi công tác tham mưu (tính toán và giải quyết bắn rất giỏi). Với cụm pháo này chỉ cần hạ khẩu lệnh về mục tiêu, thời gian bắn và số đạn. Nhưng với cụm pháo phía tây sông Sê-rê-pốc của trung đoàn 40 thì cơ động giỏi, bố trí trận địa chỗ nào cũng lọt, nếu cần thì tháo pháo khiêng vai, nhưng sự tính toán lại yếu. Với cụm pháo này phải lên bảng bắn giúp họ, mình hô bắn, còn anh em làm nhiệm vụ truyền đạt cho các trận địa. Nếu cả hai cụm cùng phát bắn một lúc, thì cũng phải tính toán với cụm phía tây trước, đến lúc hô cả hai cụm cùng bắn dập vào một mục tiêu cho trúng và mạnh. Cái sự đánh địch nó tỉ mỉ là thế, cẩn thận là thế, phải chu đáo đến thế. Các cán bộ được tham gia vào cơ quan chỉ huy chiến dịch hầu hết là cán bộ dưới đơn vị đưa lên. Họ đã từng chỉ huy bộ đội chiến đấu từ cấp trung đội, đại đội, tiểu đoàn suốt hai cuộc kháng chiến, nên đều dày dạn kinh nghiệm, biết thấu đáo cái nhọc nhằn, cái lo lắng của người chỉ huy cấp dưới. Mỗi lệnh đưa xuống bao giờ cũng kèm theo nhiều cách giải quyết mà cách nào cũng hết sức thiết thực, hết sức "lính" như anh em hay nói.

2 giờ ngày 10. Tư lệnh trưởng nhìn đồng hồ, nhấc ống điện thoại. 2 giờ 5 phút, lực lượng đặc công ở các hướng đã nổ súng. 2 giờ 10, được lệnh của Chỉ huy sở tiền phương của Bộ và Bộ tư lệnh chiến dịch, chủ nhiệm pháo binh hạ lệnh phát hỏa. Từ lúc này chủ nhiệm pháo binh là nhân vật trung tâm của Chỉ huy sở. Chiều ngày 8, cả mọi người lo lắng đến thắt ruột vì chưa tìm ra dấu vết các xe đạn và xe tăng; tối ngày 9 thì dõi theo gần như nín thở lực lượng công binh khai triền “đồ nghề”; và bây giờ là các mục tiêu mà lực lượng pháo binh có nhiệm vụ uy hiếp hoặc san phẳng. Cách bắn pháo trong đêm vào một thành phố cũng đã được tính toán cẩn thận. Chủ yếu là cách sử dụng các loại đạn. Lực lượng bắn trong đêm gồm có pháo ĐKB, hỏa tiễn H.12, cối 160 ly và cối 82 ly. Hỏa tiễn bắn đêm để dễ quan sát, áp đảo được tinh thần quân địch, sát thương cũng rất lớn. Cối 82 để kiềm các trận địa pháo địch, khẩu nào nhấp nháy là diệt luôn. Cối 160 ly bắn vào các khu vực chỉ huy, tiếng nổ lớn, đào sâu, khoét rộng như loại bom cỡ nhỏ. Sau loạt bắn đầu, các đài quan sát đã đưa tin về Chỉ huy sở rất tỉ mỉ. Đèn trong thị xã vẫn sáng, đường đạn lại càng sáng nên nhìn điểm rơi rất rõ. Cả năm trận địa pháo của địch trong và ngoài thị xã đều bị pháo ta áp đảo trong đêm. Ba mươi tư khẩu vừa pháo 155 ly và pháo 105 không nhả lại được một phát đạn nào. Có thể một số khẩu đã bị hủy diệt, nhưng chắc chắn là đám pháo thủ đã không dám rời khỏi chỗ trú nấp ra trận địa. Trong đêm và trước khi bộ đội ta tiến vào, hai cụm pháo chiến dịch đã rót xuống tiểu khu Đắc Lắc 890 viên đạn và căn cứ sư đoàn 23 : 850 viên đạn. Ngót ngàn viên đạn trút xuống một căn cứ địch trong đêm, rõ ràng không phải là ít.

5 giờ 30 sáng ngày 10, các lực lượng của ta đã tập hợp đầy đủ tại các vị trí xuất phát tấn công. Tư lệnh trưởng đứng dậy, xoa tay: "Chúng ta đã chắc thắng tới chín chục phần trăm rồi!".
Tình hình tác chiến trong ngày 10, gần đúng với tính toán trên phương án. Trong ba mục tiêu chủ yếu bên trong thị xã ta đã đánh chiếm được tiểu khu Đắc Lắc và sân bay trinh sát cơ L.19. Chỉ còn lại căn cứ của sư đoàn 23. Anh em thì báo cáo đã chiếm được rồi, nhưng những lực lượng tản mát còn lại vẫn còn kháng cự theo một hiệu lệnh thống nhất. Tức là cơ quan chỉ huy vẫn còn. Chiều ngày 10 bộ phận thông tin của ta xác nhận vẫn bắt được tín hiệu chỉ huy ở nhiều khu vực, và có cả lệnh điều động liên đoàn 21 biệt động quân ở Đạt Lý tiến vào thị xã đánh phản kích. Có nghĩa là ta vẫn chưa đánh chiếm được căn cứ 23. Nhiều mũi cùng đánh, nhưng mũi nào, thuộc đơn vị nào đã làm chủ thì báo cáo còn chưa rõ ràng. Vả lại nhận mục tiêu trên bản đồ khác, mà trong thực tế lại khác. Nhiều khu nhà xây cất giống nhau, đường đi lối lại chưa quen thuộc, ngay đến phương hướng cũng rất dễ nhầm lẫn. Rồi quân ta đuổi, quân nó chạy, đơn vị này, đơn vị kia, rồi khói đạn, khói bom, bụi đất mịt mù, phân biệt được khu nào là tiếp liệu, khu nào là truyền tin, khu nào là căn cứ sư bộ quả nhiên là rất khó. Ngay trong đêm 10, Bộ tư lệnh đã phái trợ lý tác chiến cầm bản đồ xông vào các nơi, xác định lại từng vị trí, rồi tổ chức lực lượng tại chỗ, trong ngày 10 phải giải quyết bằng xong.

8 giờ sáng ngày 10, hai đại đội thuộc các trung đoàn 95B và 24 cùng một mũi tăng đánh vào căn cứ 23 từ phía tây tiểu đoàn 7 của trung đoàn 149 ép lại từ phía đông. Đến 11 giờ thì quân ta làm chủ hoàn toàn căn cứ này, bắt sống được tên Vũ Thế Quang, đại tá tư lệnh phó sư đoàn 23 cùng tên tỉnh trưởng tỉnh Đắc Lắc. Cùng vào giờ đó trong toàn thị xã Buôn Mê Thuột im bặt mọi tiếng súng kháng cự. Đó là thị xã đầu tiên được giải phóng trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975.

Phòng ngự vững chắc và tổ chức phản kích thật mau lẹ là hai phương thức chiến thuật cơ bản của địch. Trong trận đánh Buôn Mê Thuột, ta đã phá vỡ các tuyến phòng thủ của nó trong có hai đêm và một ngày rưỡi. Và chúng ta cũng sẽ bẻ gãy mọi cuộc phản kích, nới cho đúng là tiêu diệt các lực lượng phản kích cũng chỉ trong vòng có mấy ngày. Sau khi đã phá vỡ hai món bửu bối cuối cùng của quân đội nguy, quả nhiên cục diện chiến trường lập tức biến đổi, dẫn đến những thay đổi hết sức lớn lao về thế trận chung.
21 giờ ngày 10 tháng Ba tại Chỉ huy cơ bản. Sau khi cử phái viên tác chiến đi thẳng vào thị xã, trực tiếp kiểm tra và tổ chức lại lực lượng đánh chiếm căn cứ sư đoàn 23, thì trận đánh vào Buôn Mê Thuột coi như là xong. Công việc của các trợ lý trong cơ quan chỉ huy lúc này là điều các đơn vị bộ binh, pháo binh, công binh sang hướng nhiệm vụ mới, tổ chức đánh quân phản kích.

Sáng ngày 9 tháng Ba, khi hướng Đức Lập báo cáo đã đánh xong hai căn cứ Núi Lửa và 23, Chỉ huy sở tiền phương của Bộ đã chỉ thị cho Bộ tư lệnh chiến dịch điều luôn một tiểu đoàn của trưng đoàn 24, là lực lượng dự bị của sư đoàn 10 sang phía đông-bắc thị xã. Ngày 10 tháng Ba, khi đã đánh xong quận ly Đức Lập, lại điều động tiếp trung đoàn 66 và một bộ phận của sư đoàn bộ đi tới vị trí nhiệm vụ tiếp theo. Ngày 11 tháng Ba, lại đưa nốt trung đoàn 40 pháo binh, Trung đoàn 24 còn lại và cả Bộ tư lệnh sư đoàn 10. Tuyến vận tải chiến lược đã phục vụ cho cuộc hành quân này một ngàn chiếc xe. Từ ngày 9, lực lượng dự bị của Bộ tư lệnh chiến dịch mới ngày một tăng thêm, cho tới ngày 15 tháng Ba đã là hai sư đoàn bộ binh và hai trung đoàn pháo chiến dịch.

Ngày 11  tháng Ba, quân địch hãy còn ở hậu cứ trung đoàn 53, phía nam sân bay Hòa Bình; hậu cứ trung đoàn 45, đông-bắc sân bay Hòa Bình; Buôn Hồ, đông-bắc thị xã Buôn Mê Thuột và hệ thống ấp chiến lược bao bọc vòng ngoài thị xã. Chỉ huy sở tiền phương của Bộ và Bộ tư lệnh mặt trận đã nhận định :
- Lực lượng phản kích chủ yếu sẽ là hai trung đoàn 44 và 45 của sư đoàn 23 bộ binh nguy.
- Địa điểm để tổ chức lực lượng phản kích chỉ có thể là khu vực đông-bắc thị xã, vì còn hai căn cứ lớn là 45 và 53, lại có thể dựa vào tỉnh lộ 21 nối liền với vùng đồng bằng.
- Phương tiện chuyển quân sẽ là loại trực thăng vận tải vì muốn dùng C.130 để mang theo pháo và tăng thời phải có sân bay, mà sân bay Hòa Bình hiện giờ ta vẫn đang chiếm giữ một nửa.
- Thời gian đổ quân sẽ là ngày 14 hoặc 15, vì còn phải thăm dò đối phương và tổ chức lực lượng.
Ngày 11 tháng Ba, cụm pháo chiến dịch phía tây- bắc thị xã chuyển sang hướng đông-bắc, tầm pháo có thể với tới Phước An trên đường 21. Cụm pháo phía tây sông Sê-rê-pốc chuyển xuống phía nam thị xã, tầm pháo với tới quận lỵ Lạc Thiện.

Ngày 12, trung đoàn 24 đánh chiếm căn cứ 45 và trung tâm huấn luyện của sư đoàn 23 từ 6 giờ 25 đến 8 giờ 35 là xong.
Cùng ngày ta cũng đánh chiếm luôn Buôn Hồ, rồi đánh sang Chư Pao, Đạt Lý. Thế là hai bàn đạp quan trọng để tổ chức phản kích của địch đã bị quân ta chiếm giữ cả.

Ngày 14 tháng Ba, một trung đoàn của sư đoàn 316 đánh vào khu hành chính sân hay Hòa Bình. Ngày 15 tiếp tục đánh Đêm ngày 16, lại thêm lực lượng của trung đoàn 66 (sư 10) cùng hiệp đồng tấn công, sáng 17 thì dứt điểm, bắt sống được khoảng 500 tên.

14 giờ ngày 14, đúng như ta đã dự kiến cả về thời gian lẫn địa điểm, địch đổ quân bằng trực thăng xuống đông-bắc sân bay Hòa Bình, một tiểu đoàn của trung đoàn 45. Ngày 15, lại đổ tiếp xuống một tiểu đoàn nữa, cũng của trung đoàn này. Ngày 15, trung đoàn 24 của sư đoàn 10 bao vây luôn lực lượng đổ bộ ở cao điểm 581. Ngày 16, ta tấn công tiêu diệt đại bộ phận, bọn còn lại liền theo đường 2 1 rút chạy về Phước An. Trong hai ngày 15 và 16 địch cũng đổ xuống Phước An trung đoàn 44 thiếu cùng với sư bộ nhẹ 23. Khi hậu cứ của trung đoàn 53 nguy sau ba ngày kháng cự đã bị mất, địch không có hy vọng gì để tổ chức phản kích cả. Hướng đông-bắc thị xã ta đã quét các vị trí Buôn Hồ, Chư Pao, Đạt Lý. Hướng bắc đã đánh xong bản Đôn, Chư Nga. Hướng tây đã quét sạch các chốt điểm trên đường 14 và quanh cầu Sê-rê-pốc. Hướng nam đã với đến quận lỵ Lạc Thiện. Quân địch chỉ còn có ngả đường 21. Mà lực lượng ta trong những ngày 14, 15, 16 là rất mạnh. Một sư đoàn bộ binh ngụy nhảy vào thế trận này là hành động tự sát. Tại sao chúng vẫn nhay xuống? Nhảy xuống thì dễ, nhưng rút chạy sẽ rất khó. Vậy là thế nào. Một là, chúng muốn giữ lực lượng ta ở khu vực này để Plây Cu có thời gian tổ chức lại lực lượng đối phó. Hai là, thị xã Buôn Ma Thuột không thể để mất. Có thể bỏ Công Tum, bỏ Plâycu nhưng phải giữ Buôn Mê Thuột. Phải giữ tỉnh Đắc Lắc. Nếu tỉnh Đắc Lắc không còn, thì ba tỉnh Quảng Đức, Tuyên Đức, Lâm Đồng cũng sẽ trước sau không còn. Địch đã nhận ra sự mất mát quá lớn của chúng trong tháng Ba. Còn tháng Tư và tháng Năm? Khó mà lường đoán trước được. Sự sống còn của về sau là trông dựa vào sự cố giữ lấy một phần tỉnh Đắc Lắc, giam chân bộ đội ta tại Đắc Lắc, nếu có thời cơ sẽ tái chiếm Buôn Mê Thuột. Sài Gòn có thể tính toán như thế. Nhưng nhưng cơ hội, may mắn thật đã không còn nữa. Cái “vận đỏ” đã rời bỏ chúng mà đi rồi.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #21 vào lúc: 23 Tháng Mười Hai, 2008, 03:19:46 pm »

Ngày 17 tháng Ba, hai trung đoàn 24 và 28 của sư đoàn 10 tiến đánh Phước An. Tàn binh của các trung đoàn 45, 44 ngụy cùng sư bộ nhẹ 23 chạy về Chư Cúc. Ngày 18 tháng Ba, hai trung đoàn đã tấn công Phước An lại tiếp tục tấn công vào Chư Cúc, cùng với trung đoàn 25 đã ếm sẵn, tiêu diệt gần như toàn bộ. Những tên sống sót thì chạy vào rừng. Tư lệnh sư đoàn 23 nguy nhảy lên trực thăng trốn mất. Sư đoàn 23 coi như bị xóa sổ. Cái gì sẽ xảy ra sau khi hai phương thức chiến thuật cơ bản của địch đã bị hoàn toàn bẻ gãy? Xin bạn đọc trở lại Chỉ huy sở cơ bản trong đêm 15 tháng Ba. Chiều ngày 11  tháng Ba, Chỉ huy sở tiền phương của Bộ đã chỉ thị cho Bộ tư lệnh mặt trận là phải nghĩ tới phát triển chiến dịch hoặc sang hướng đông, giải phóng Cheo Reo, Phú Bổn, hoặc ngược lên hướng bắc, giải phóng Plâycu, Công Tum. Có khả năng giải phóng toàn bộ Tây Nguyên trước mùa mưa vì sức lực quân ta sau chiến dịch nam Tây Nguyên vẫn dư thừa.

Tối ngày 15 tháng Ba, anh Hiền ở Chỉ huy sở tiền phương của Bộ gọi điện xuống : "Có hiện tượng địch chuẩn bị rút khỏi Plâycu và Công Tum". Ngày 13 tháng Ba ở Chỉ huy sở tiền phương cũng đã nhận được điện của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương : “... Nên nghĩ đến khả năng địch buộc phải rút lui chiến lược”. Trong ngày, đài kỹ thuật báo : bọn không quân ngụy hỏi nhau chúng bay rút cuối cùng có thấy gì ở Plâycu không? Chiều ngày 15, các loại máy hay ngừng hoạt động trên vòm trời Buôn Mê Thuột, hướng đường bay về Nha Trang. Anh em trinh sát mặt đất của sư đoàn 320 báo cáo có nhiều gia đình gánh chở đồ đạc đi theo liên đoàn 23 biệt động quân xuống Cheo Reo. Có nhiều tiếng nổ và cột khói trong thị xã Công Tum. Cũng chưa ai nghĩ được là địch đã phải rút khỏi Công Tum và Plâycu. Lực lượng của chúng ở Tây Nguyên vẫn còn sáu liên đoàn biệt động quân. Chúng ta còn đang đánh địch ở căn cứ 53. Các đơn vị của hai trung đoàn ngụy 44 và 45 vẫn lần lượt đổ quân xuống để tổ chức phản kích. Đang còn hy vọng tái chiếm, cớ sao lại rút bỏ tất cả? Hoặc giả chúng rút bỏ Plâycu, đưa lực lượng về Nha Trang, rồi từ đó theo đường 21 mở một cuộc phản kích đại quy mô. Nhưng lực lượng của chúng sẽ về Nha Trang bằng cách nào? vào lúc nào? Bằng đường bộ thì chỉ có tỉnh lộ 7, từ lâu địch đã không thể dùng. Lực lượng cơ động của quân khu II còn sư đoàn 22, nhưng hai trung đoàn của nó đang mắc kẹt ở phía đông đường 19. Sư dù, lực lượng dự bị chiến lược vẫn nằm chết ở vùng 1 và vùng 3. Vào tháng này quả thật không thể đưa bất cứ lực lượng nào ra khỏi vị trí phòng ngự của nó cả. Nơi nào cũng có thể bất thần bị tấn công. Lực lượng của giải phóng đã ếm sẵn mọi nơi chúng đều biết cả. Họ chỉ còn chờ cái cơ hội thay quân, rút quân là vươn tay ra mà vồ chộp. Thế trận của toàn miền Nam trong vòng có nửa tháng đã trở nên ác hiểm lạ thường. Mới giữa tháng Ba, tức là mới bị tan vỡ có một mảng nam Tây Nguyên, nhưng nhìn vào đâu cũng thấy rất sổng sểnh. Bởi rằng quân địch không thể ngồi im mãi, mà phải vận động, phải di chuyển trong khu vực để tiếp cứu những vị trí bỗng chốc ở vào cái thế bị uy hiếp. Và càng tiếp cứu thì càng dễ sơ hở từ nhiều phía, càng thấy cần phải dồn quân để tiếp cứu thêm nữa.

Căn cứ vào nhận định của Chỉ huy sở tiền phương của Bộ, Bộ tư lệnh chiến dịch kết luận :
- Địch có thể phải rút lui khỏi Plâycu và Công Tum, vì tình thế buộc chúng phải dồn lực lượng để chống giữ có hiệu quả những nơi hiểm yếu.
Cho nên:
- Lực lượng đánh căn cứ 53 phải giải quyết xong trong ngày 16, chậm lắm là sáng 17.
- Lực lượng bao vây quân đổ bộ cũng phải tiêu diệt chúng thật gọn trong mấy ngày tới, chậm nhất là ngày 18. Nếu tiêu diệt được sư đoàn 23 bộ binh nguy trong chiến dịch nam Tây Nguyên thì có thể nhanh chóng phát triển lên hướng Plâycu (nếu địch chưa rút), hoặc đánh sang Cheo Reo (nếu địch cụm chốt ở đó).
- Lực lượng hậu cần chuẩn bị xe và xăng, súng đạn và lương thực sẵn sàng đưa bộ đội tới hướng nhiệm vụ mới bất cứ lúc nào.

Tối ngày 16 tháng Ba, điện của Chỉ huy sở tiền phương của Bộ báo tin : Địch ở Công Tum và Plâycu đã rút về hướng Cheo Reo. Lệnh cho bộ đội chuyển sang hướng Cheo Reo, tiêu diệt quân địch rút chạy ở khu vực đó. Vậy là chiến dịch nam Tây Nguyên đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của nó, giải phóng được toàn bộ tỉnh Đắc Lắc. Và trong một ngày nó đã phát triển thành chiến dịch toàn Tây Nguyên.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #22 vào lúc: 23 Tháng Mười Hai, 2008, 03:21:45 pm »

Chương V

MỘT ĐỘI QUÂN ĐÃ BỊ RỮA RA

Trước khi thuật sang chuyện những chiến sĩ đánh địch rút chạy ở Cheo Reo - Củng Sơn và dọc con đường 7 trong bảy ngày đêm, từ 11 giờ trưa ngày 17 tháng Ba đến 16 giờ 45 ngày 24 tháng Ba, tôi xin giới thiệu một số bản phúc trình của những sĩ quan cấp cao nhất của quân đội ngay tại quân khu II để bạn đọc có điều kiện hiểu rõ nội tình của họ trong tháng Ba một cách khách quan nhất. Vì những bản phúc trình này được gửi lên các cơ quan cấp trên ở Sài Gòn để thẩm định, nên cái tư cách của đương sự có ít nhiều được tô vẽ. Dẫu là vậy, cái tâm lý trốn tránh trách nhiệm, trút bỏ tất cả vẫn hết sức rõ. Lại nữa, nhân theo chân bộ đội ta vào Sài Gòn vừa được giải phóng, tình cờ nói chuyện với mấy người lại có quan hệ bạn bè với một vài vai chính và phụ trong tấn thảm kịch ở Tây Nguyên và đường 7, cũng tiện đây mà kể lại luôn. Với những căn cứ còn nghèo nàn nhưng xác thực, ít nhiều chúng ta cũng hiểu được cái lẽ sâu xa của một đội quân vốn được Mỹ và đồng minh coi là thiện chiến chỉ trong vòng nửa tháng đã hóa ra một lũ người hoảng loạn.

Trong cuộc rút chạy khỏi Plâycu tôi có được nghe một câu chuyện khá bi đát về một người tên gọi là Tạc, trung tá Tạc, tiểu khu trưởng tiểu khu Plâycu. Tạc nguyên là liên đoàn trưởng khóa sinh ở trung tâm huấn luyện Quang Trung. Sĩ quan nhà trường, con đông, vợ dại, lại ở Sài Gòn nên cuộc sống nó khốn nạn quá. Nằm ở Sài Gòn mà nghe tụi bạn bè "trấn sơn bình ải" ở những miền đất xa xôi, tiền kiếm dễ như củi lụt, nghĩ mà thèm. Đã đành ở những nơi hóc hiểm ấy là phải dấn thân. Nhưng cái chết đâu có dễ. Hàng ngày chưa chắc đã phải chạm trán với nó, còn ở đây từng giờ từng phút đều phải chường mặt với cái nghèo. Ở cái xứ sở chiến tranh chưa bao giờ dứt, lại có lính Mỹ, lính đồng minh, có hàng viện trợ, có buôn và bán ma túy quả thật không thiếu gì cơ hội để làm tiền. Lại là một quân nhân, một sĩ quan cấp tá, thì cái cơ hội để kiếm tiền lại càng nhiều lắm. Nhưng phải có quan thầy, có phe cánh, có băng, nếu không, cửa sinh không đến lại chui đầu vào cửa tử thì cái thân còn không bằng con chó. Vì anh chàng Tạc này thuộc loại người kém tháo vát, nói cho đúng là nhát sợ những chuyện phiêu lưu. Muốn sống sướng, sống ngoài đồng lương mà lại nhát thì cứ nên cam chịu cái phận nghèo. Có một thời đã định chạy sang Bộ tư lệnh cảnh sát, xin một chân cảnh sát quận thì cũng là một chỗ ngồi rất dễ chịu. Nhưng từ ngạch quân đội xin chuyển sang ngạch cảnh sát lại phải được bộ quốc phòng biệt phái sang bộ nội vụ. Dĩ nhiên không thể trình bày ý nguyện trong một lá đơn, rồi đút cái lá đơn tội nghiệp nọ vào guồng máy hành chính mù mịt, rối rít, đợi ngày có quyết định phê chuẩn. Mà là phải đi ngõ sau, phải được người thân tín của mấy ông lớn dắt tay bày vẽ những thủ tục phải làm. Nhưng muốn được những người có uy quyền ghê gớm ở hậu trường hạ cố nắm tay thì hai bàn tay của kẻ đến nhờ việc phải được bọc bằng vàng, vàng ròng. Lại có người mách, nhiều anh sĩ quan đói nghèo, nhưng được mấy ông người Hoa giàu sụ ở Chợ Lớn tài trợ nên đã có cái cơ hội được đo bạc bằng thước sau một hai năm thực thi công vụ tại quận 5, quận 6 đô thành. Nhưng người tài trợ cũng không dễ kiếm. Họ có thể tung ra vài chục triệu để mua một anh quận trưởng cảnh sát, nhưng phải là mặt hàng họ đã biết và muốn mua. Còn cái thằng trung tá Tạc, sĩ quan huấn luyện, thì nào ai được biết? Nó có tài nghệ gì? Nó là chân tay của phe cánh nào? à, nếu nó chẳng có một chút gì đáng giá thì mua sao được, vài chục ngàn cũng không thể mua. Rồi, vẫn là do bạn bè xui mách, thử chạy đến cửa đại tá Quý xem sao? Đại tá Quý là chánh văn phòng của trung tướng Đặng Văn Quang. Quang lại là cố vấn an ninh của Thiệu. Qua Quý mà đến Quang. Nhưng cái ông xếp sòng CIA bản xứ này cũng là trùm buôn bạch phiến luôn. Dẫu ông ta có yêu ông đại tá Quý cũng không thể vì cái người quen biết của cấp dưới mình mà ra ơn suông được. Bởi rằng cũng cái ơn ấy mà đem cho một người khác còn được lại quả vài tệp ngân phiếu mà vẫn được tiếng là người thi ân. Ông ta tuy là người của giới quân sự, nhưng còn là người của giới thương mại tất phải có tính đến cái chuyện đó. Vẫn là rất khó, nhưng cứ nên thử xem sao? Quý là trung tá, mới lên cấp đại tá vào dịp "ngày quân lực" năm 1974. Đầu năm 1974, nhân gặp nhau tại nhà một người bạn, thấy Quý vận âu phục, thắt cà vạt Tạc còn hỏi đùa : "Mày vẫn là trung tá hay đã thăng đại tá để tao còn chào?". Quý cười : "Đã gì mà đại tá?". Trả lời thế tức là sắp làm cấp trên người ta rồi. Quả nhiên giữa năm y được thăng trật đại tá thật. Cũng là một kiếp người, cũng là một kiếp lính, nhưng cái anh chàng Denis Nguyễn Văn Quý kia mới tốt số làm sao? Hắn đã thoát ra khỏi cái cảnh ngộ chung và sống một cuộc đời bồng lai tiên cảnh bên trong cái vỏ áo lính. Cậu ấm vốn là dân Tây, lại là con trai duy nhất của một gia đình giàu có. Hồi Quý còn là đại úy công tố viên tòa án quân sự tại Nha Trang, một tháng hai lần cha mẹ từ Sài Gòn đáp máy bay ra Nha Trang thăm con và đưa tiền. Hai cụ không cho phép con trai về Sài Gòn vì sợ tai nạn dọc đường. Đi xe thì sợ mìn, sợ đâm xe, đi máy bay thì lo rớt, lo trục trặc. Từ ngày Quý về Sài Gòn làm người thân tín của trung tướng Quang thì cái thằng Tạc khốn khó chỉ đứng nhìn cũng đủ nhỏ dãi. Đã có lần, Tạc nói rất chua chát với người bạn được số phận quá cưng chiều : "Thôi, mình sẽ xin giải ngũ, làm sốp-phơ lái chiếc Von-va-ghen cho cậu. Vừa là lái xe, vừa là hộ sĩ, bằng lòng không?". Quý có ý muốn giúp đỡ người bạn cũ thật. Chỉ mách một nước đi thôi, có vẻ như phiêu lưu, nhưng kỳ thật hết sức chắc chắn, tức là nên xin về quân khu II với thiếu tướng Phú, vì Tạc vốn là đàn em của Phú, thời Phú còn làm chỉ huy trưởng trung tâm huấn luyện Quang Trung. Quý bảo Tạc : "Ông Phú sống hảo hán lắm, rất hợp với tính cậu. Chịu khó về khuông phò ông ấy ít lâu lên được cái lon đại tá mình sẽ nói với ông Quang gọi cậu về Sài Gòn". Thế là trung tá Tạc xách hành lý, từ giã vợ con và cái đô thành luôn luôn nhăn nhó với kẻ túng thiếu theo chàng Phạm Văn Phú hào hoa, mã thượng ra đất Quân khu tìm đường mưu sống. Quân khu II đóng tại Plâycu, nên Phú liền bổ nhiệm đàn em của mình làm tiểu khu trưởng tiểu khu Plâycu. Cuộc đời coi như đã được Thượng đế an bài lại, hy vọng rằng một năm nữa sẽ đeo lon đại tá, từ giã quan thầy, trở lại Sài Gòn với một cuộc sống hoàn toàn khác trước. Trước khi rời Sài Gòn, Tạc có đến chơi nhà người bạn mà tôi mới có dịp được quen biết. ông này làm nghề thầu khoán. Nghề thầu là cái nghề cho phép người ta được biết tất cả. Tạc hỏi ông thầu khoán : "Lên vùng cao nguyên liệu có gì làm ăn ngoài được không?". Ông này liền mách cái cách thức ăn tiền đăng ký lộ trình của các xe đò từ Plâycu đi Quy Nhơn, ngược Công Tum hoặc xuôi Buôn Mê Thuột. Nhà xe muốn xin đường cho xe đò chở khách trước hết phải đút tiền cho tư lệnh vùng, rồi cho các tỉnh trưởng các tỉnh có con đường xe chạy. Đó là những món tiền to, còn những món tiền nhỏ hơn thì đưa cho ty cảnh sát, ty công chánh và tiểu khu trưởng (nếu tỉnh trưởng không kiêm nhiệm) để đảm bảo an toàn cho lộ trình. Có tiền đưa một lần, có tiền đưa hàng tháng, lại có tiền đưa từng chuyến nếu chuyến đó có chở hàng lậu. Tạc có ý chê vì nó vặt vãnh mà lại nguy hiểm nhưng ông thầu đã đưa ra một dẫn chứng mà cả Sài Gòn đều biết là vụ chuẩn tướng Thọ. Năm Thọ còn làm tỉnh trưởng Bình Định, ăn tiền quá nhiều nên bị báo Dân luận tố cáo. Tỉnh trưởng có quyền cấp giấy phép đại lý bán gạo, các môn bài đặc biệt, cho lộ trình xe và một trăm thứ có thể kiếm tiền dễ như vốn nó đã ở sẵn trong két rồi. Đàn em làm rồi đưa về nộp chứ ông tỉnh trưởng không cần dúng tay. Hai tay ông vẫn có thể sạch. Vợ Thọ nhận đỡ đầu cho một hãng xe đò lớn chạy đường Quy Nhơn - Sài Gòn và Quy Nhơn - Đà Nẵng - Huế, mỗi năm cũng được cầm tay từ một đến ba triệu. Đó là vợ làm chứ không phải chồng làm. Lúc báo chí ở Sài Gòn khui chuyện ra, vợ Thọ liền phái một sĩ quan cấp tá tới tận tòa báo đưa lót một triệu để họ im đi cho. Nhưng tờ báo vì nhờ vào cái vụ tố cáo tham nhũng này mà có bạn đọc, in được nhiều số, nên không muốn nhận tiền đút, cứ tiếp tục viết bài tố cáo. Kết quả thế nào? Thọ tuy không được ở Bình Định, nhưng được thăng cấp chuẩn tướng, được nhận một trách nhiệm còn thơm tho hơn cả thời làm tỉnh trưởng. Ông thầu khoán nhân đấy mà khuyên ông trung tá là đã muốn được sống hơn người thì đừng có sợ. Vả lại, đâu phải tội lỗi một riêng ai. Giả thử trưởng ty cảnh sát có đưa tiền cho tiểu khu trưởng thì đừng nên chối. Nó tha lính quân dịch, tha hàng lậu, cho phép đánh bạc, mãi dâm, mở nhà hàng ca nhạc là thu về hàng chục triệu trong nháy mắt. Giá thử một người nào đó bị tố cáo thì vẫn có thể hoàn toàn yên tâm. Một người bị lôi ra, vậy những kẻ khác thì sao? Ngay đến tướng vùng cũng có dính líu ít nhiều. Một tỉnh mà tỉnh trưởng làm tiền, trưởng ty cảnh sát làm tiền, tòa án cũng làm tiền thì còn lấy ai tố cáo? Mà dẫu có bị tố cáo thì ai sẽ đứng ra thi hành pháp luật? Cứ yên trí mà làm ăn, làm tới tới lên, nhưng chớ có tham quá, của thơm tho nếu biết cách chia hưởng thì còn được thơm lâu. Ở Plâycu cũng còn một món tiền rất dễ kiếm là các nhà thầu khai thác gỗ. Muốn khai thác gỗ phải có giấy phép của tướng vùng, của nha thủy lâm, nhưng cái anh tiểu khu trưởng nắm lực lượng quân địa phương cũng không thể bỏ qua được. Trong rừng có lực lượng của Giải phóng lại có cả lực lượng của tiểu khu. Anh em Giải phóng thì không có gì phải sợ, nhưng lực lượng của địa phương lại rất nên sợ. Chúng sẽ túm lấy anh mà la làng là chân tay của Việt cộng thì anh kêu ai? Cứ phải đấm vào miệng mấy thằng la dăm ba chục ngàn chúng mới chịu ngậm lại. Tất nhiên tiếng la to nhất, có uy thế nhất phải là của thằng tiểu khu trưởng. Đấy, chỗ làm tiền và cách làm tiền là như thế đấy. Trước khi giã từ, ông thầu khoán còn mách thêm một cách làm tiền khác nữa là tổ chức một đội chuyên bắn hổ nấu cao xương. Tôi sẽ giới thiệu mặt hàng cho anh, hổ cao nguyên xương tốt nấu cao phải biết là lời".

Tạc lên Plâycu vào ngày 1 tháng Ba năm 1975. Nửa tháng sau, ngày 15 tháng Ba, bộ tư lệnh quân đoàn hạ lệnh rút lực lượng về Nha Trang để nghĩ mưu tái chiếm Buôn Mê Thuột. Chiều 15 tháng Ba, Phú triệu tập tỉnh trưởng Plâycu, trưởng ty ngân khố và chuẩn tướng Tất, chỉ huy trưởng lực lượng biệt động của quân khu II, để đốt ba mươi triệu bạc vì không thể mang theo được. Có thể mang theo tất cả lên máy bay riêng của thiếu tướng tư lệnh, nhưng lại không thể mang được ba mươi triệu bạc? Sĩ quan tham mưu của tiểu khu chạy về bảo Tạc : "Mấy ông lớn bay rồi, trung tá ơi! Mà xem ra họ có một chuyện gì mờ ám lắm". Sự thật thì không có chuyện đốt bạc. Có phúc trình lên trên là đã đốt bạc, với sự hiện diện của quý ông A, quý ông B, quý ông X, nhưng đến một cắc cũng không đốt. Các vị tai to mặt lớn đã chia nhau bỏ túi làm tiền lộ phí. Ơ hay! Vì cuộc tấn công này chúng tôi cũng mất bao nhiêu là của cải, chẳng lẽ không có quyền lấy đi vài chục triệu gọi là có chút ít đền bù. Sự ly kỳ vẫn chưa hết. Phú liền mách nước cho trưởng ty ngân khố phun xăng vào cánh tay phải rồi châm lửa cho cháy bỏng lượt da ngoài có nghĩa là vì đốt bạc mà bị bỏng. Thật là chứng cớ rõ ràng nhé. Không khéo còn được gắn huân chương vì đã hết lòng vì công vụ. Diễn xong tấn kịch che mắt thế gian, lập tức cả bốn người đều lên máy bay đi Nha Trang. Theo luật mà nói thì tư lệnh quân khu và chỉ huy trưởng biệt động có quyền rút về Nha Trang trước cùng với bộ phận nhẹ của quân khu, nhưng tỉnh trưởng và tiểu khu trưởng không được bỏ dân, bỏ lính đi di tản. Luật là như thế, nhưng ông tỉnh trưởng đã bỏ rồi, cả cái ông trưởng ty ngân khố vô danh tiểu tốt cũng được leo tót lên chiếc C.47, ngồi bên cạnh ngài tư lệnh. Vậy thì... vậy thì bọn ta cũng chuồn cho lẹ thôi! Ông tiểu khu trưởng liền bí mật tổ chức một nhóm di tản thật gọn nhẹ và thân tín gồm mười hai người trong cơ quan tham mưu, mang theo điện đài, địa bàn, bản đồ và súng M.16 trong đêm 15 tháng Ba rời khỏi thị xã Plâycu, chiếu hướng đông-nam mà đi tới. Họ tránh đường 7 vì đó là tử lộ, tránh luôn cả đường 21, cứ cắt rừng mà băng ra biển theo hướng thị xã Nha Trang. Đi mười ngày đêm trong rừng, uống nước bằng cách liếm hạt sương đọng trên mặt lá, liếm đến tứa máu ở đầu lưỡi mà vẫn chưa dịu được cái khát. Đói thì nhai lá vang, một loại lá chua mọc bên những gốc cây lớn. Lúc nào mệt thì nằm nghỉ, đỡ mệt lại dắt díu nhau kéo đi, không tính là đêm hay là ngày. Đến ngày thứ mười hai thì bọn họ ra khỏi cửa rừng, nhìn trên bản đồ đã là phía đông đèo Mơ Đrắc. Họ đi bộ đến quận Ninh Hòa. Rồi từ đó lên xe về Nha Trang gặp Phú. Nhìn ông trung tá quyết dấn thân để thay đổi cảnh ngộ, ai cũng phải thương. Râu tóc dài cợp, quần áo rách tung, mặt và hai bàn tay đã nề phù. Tạc chỉ còn kịp hét to trước mặt cấp trên của anh ta là anh vẫn còn sống nhăn, anh chưa thể chết được, anh chưa muốn chết rồi ngã ra bất tỉnh. Phú cho Tạc một bộ quần áo thay và hai chục ngàn. Nhân nỗi bất hạnh của một đội quân thua trận, ông chỉ huy đã kiếm ngon lành một chục triệu, nhưng cũng chỉ có thể thí cho không đàn em có hai chục ngàn! Sau này về Sài Gòn, Tạc đã thuật lại một cách uất ức với bạn bè như thế. Ở lại Nha Trang được vài ngày thì tuyến phòng thủ của lữ dù 3 ở đèo Mơ Đrắc bị vỡ, xe tăng Quân giải phóng tràn vào trung tâm huấn luyện ở Dục Mỹ, rồi tiến vào Ninh Hòa. Thế là Nha Trang lại chạy. Lại đến gặp Phú xin một chỗ máy bay về Phan Rang. Phú lại ra ơn lần thứ hai, cho ngồi cùng chuyến máy bay đưa Phú và cả trung tướng Thuần, chỉ huy trưởng trường hạ sĩ quan Đồng Đế về Phan Rang. Đến Phan Rang lại thấy mọi người thu xếp hành lý rục rịch chạy nữa. Chạy đi đâu? Hoặc vào Bình Thuận, hoặc đi Vũng Tàu, hoặc chạy tuốt vô Sài Gòn rồi bóc lon làm dân. Miễn là còn đem được cái xác về cho vợ con dẫu làm gì cũng được. Nhưng Thuần và Phú đã biến mất! Tất cũng biến mất! Lý, tham mưu trưởng quân khu cũng mất luôn! Xin ai được một chỗ lên máy bay hay xuống tàu biển bây giờ? Đang thương thân trách phận thế nào lại gặp một thằng đàn em cũ, nay là đại úy phi hành. Chưa kịp nới gì, nó đã hỏi : “Có muốn về Sài Gòn không?”. “Chú em ơi, anh có thể lạy chú một lạy vì cái ơn cứu mạng”. Chú em này đưa một chiếc C.47 ra Phan Rang với một trọng trách : Đón các ông chú, bà thím của tổng thống về Sài Gòn. Chỗ ngồi đã đủ, nhưng có thể ngồi lên thảm trải ở đằng đuôi. “Dầu tao có phải treo người dưới cánh, tao cũng đi. Mày cho đi là cảm ơn mày rồi”.
Trung tá Tạc đã đem cái xác nề phù vì đói khát, vì lo sợ vì uất ức về đến đất Sài Gòn vào ngày 5 tháng Tư, rồi nằm mê man trên giường cho tới ngày 30 tháng Tư. Vợ con đã phải cầm bán những thứ có thể cầm bán để chạy thuốc cho chồng. Xem chừng cái cảnh ngộ của cặp vợ chồng đông con này về lâu về dài cũng chẳng thể sáng sủa hơn những ngày đã qua. Làm sao được! Ở đâu cũng thế, một chế độ chính trị do đội quân xâm lược tạo dựng nên, khi sụp đổ không khỏi đè bẹp, nghiền nát hàng triệu con người đã bị lừa đảo từ đầu đến cuối.

Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #23 vào lúc: 23 Tháng Mười Hai, 2008, 03:28:39 pm »

*
*    *

Niềm vui của một người nhân “thời thế có tao loạn” mà được cầm gậy chỉ huy :
Chúc mừng của hội ái hữu cựu sinh viên sĩ quan khóa Cương Quyết 2 - Thủ Đức hân hoan mừng :
Bạn Phạm Duy Tất
Được danh dự vinh thăng đặc cách chuẩn tướng nhiệm chức tại mặt trận nhân dịp tạo nhiều chiến thắng vẻ vang tại chiến trường khu tây bắc cao nguyên Ban Mê Thuột ngày 13 tháng 3 năm 75.
Và cái nỗi buồn của một vinh quang đến quá muộn :

Phúc trình
Của chuẩn tướng Phạm Duy Tất chỉ huy trưởng Biệt động quân - Quân khu II về giai đoạn triệt thoái từ Pleiku về Nha Trang.

(Trích đoạn)
...Tối ngày 11/3 tôi được lệnh về trình diện Bộ tư lệnh quân đoàn II để được gắn cấp bậc chuẩn tướng và dự buổi hội do thiếu tướng tư lệnh quân đoàn chủ tọa, hiện diện gồm : chuẩn tướng Cẩm phụ tá hành quân, chuẩn tướng Sang, tư lệnh sư đoàn 6 không quân, đại tá Lý, tham mưu trưởng quân đoàn II. Thiếu tướng cho lệnh rút các lực lượng ở Kontum, Pleiku theo hướng liên tỉnh lộ 7 để tái chiếm Ban Mê Thuột, chỉ thị chuẩn tướng Cẩm và đại tá Lý thiết lập kế hoạch rút quân, sợ bị tiết lộ quyết định dùng mật lệnh chỉ thị từng giai đoạn rút lui.

Kế hoạch rút lui
a) Kế hoạch của lữ đoàn kỵ binh số 2.
Tăng phái Lđ 23/bđq (4) và Lđ 6/bđq cho lữ đoàn 2 kỵ binh để an ninh lộ trình và yểm trợ công binh làm đường từ ngã ba Mỹ Thạch đến quận Sơn Hòa. Bộ tư lệnh Lđ 2/kỵ binh đặt tại thị xã Phú Bổn. Bộ chỉ huy Lđ 23/Bđq tại phi trường Phú Bổn. Tiểu đoàn 11/bđq an ninh đèo Chư Pao. Tiểu đoàn 24/bđq chặn phía tây Phú Bổn. Lđ 6/bđq giữ an ninh cho công binh từ Cà Lúi (trục 59) đến tây bắc quận Sơn Hòa (trục 76), đoạn đường còn lại do các tiểu khu Phú Bổn và Phú Yên đảm trách.
b) Kế hoạch rút lui Kontum.
Ngày 16 tháng 3, chuẩn tướng Cẩm chỉ thị tiểu khu Kontum rút Lđ 22/bđq và tiểu đoàn 222 Bđq về Pleiku bằng xe. Không đủ xe nên tiểu đoàn 22 phải đi bộ từ Chư Pao đến ngã ba Mỹ Thạch. Lđ 22/bđq đến Pleiku để giữ an ninh từ ngã ba Mỹ Thạch đến đèo Chư Túc.
c) Kế hoạch rút lui tại Pleiku
Trong khi rút quân tại Kontum, Lđ 25/bđq bị sư đoàn 968 tấn pháo. Tiểu đoàn 67/bđq tổn thất nặng. Ngày 15 tháng 3 bị đánh bạt khỏi đèo Thanh Bình. Địch tấn pháo tiểu đoàn 98 và 90/bđq tại phía tây và tây nam Thanh An, pháo dữ dội vào bộ chỉ huy liên đoàn, xâm nhập chi khu Thanh An. BCH/Lđ đã xin không quân yểm trợ nhưng không được đáp ứng. Pháo binh của ta hoàn toàn bị hủy diệt.
Đêm 16 tháng 3, tiểu đoàn 1 6 được lệnh rời Pleiku và căn cứ 711 để án ngữ ngã ba Phù Mỹ, ngã ba Hòn Rồng, nhiệm vụ tiếp đón liên đoàn khi rút quân.
Theo kế hoạch dự trù, BTL/QĐ II sẽ cấp xe cho các đơn vị biệt động quân ới chuyển. Phút chót không có xe nên phải dùng phương tiện cơ hữu và thiết giáp. Riêng Lđ 25/bđq phải đi bộ từ Thanh An về Phú Bổn.

2. Diễn biến cuộc rút quân.
a) Giai đoạn từ Kontum - Phú Bổn.
Lđ7/bđq ưu tiên rời khỏi vùng trách nhiệm để án ngữ từ phía đông Phú Bổn đến đèo Tuna. Lúc đó BCH/Bđq/QK II do đại tá Uy chỉ huy phó chỉ huy rút đến giữa ngã ba Phù Mỹ và Mỹ Thạch lập hệ thống liên lạc với các đơn vị tại đó Lđ 25/bđq từ Thanh An rút bộ sau cùng, bị tấn công dọc lộ trình.
Đêm 14 ngày 15 tháng 3 - Sư đoàn 6 không quân liên tục không vận quân nhân và gia đình. Có thể dân chúng đoán biết cuộc rút quân nên hoang mang. Thị xã Pleiku hỗn loạn. 17 giờ ngày 17 tháng 3, đài tiếp vận của BCH/Bđq/QK II tại đỉnh Hòn Rồng triệt thoái sau khi các đơn vị đã rút khỏi Pleiku.
Ngày 18 tháng 3 - Lđ 7/Bđq phối hợp với lữ đoàn kỵ binh giải tỏa chốt. Trong lúc đang có tiến triển tốt thì phi tuần khu trục oanh tạc lầm, gây thiệt hại nặng cho một tiểu đoàn của liên đoàn 7 và một số xe thiết giáp. Hành quân tạm ngừng. Lúc đó địch pháo kích vào thị xã Phú Bổn, người Thượng tràn vào cướp đồ xe cộ tranh giành nhau lưu thông.
- 17 giờ 5 phút ngày 18 tháng 3 - Thiếu tướng tư lệnh LĐ II và chuẩn tướng Cẩm chỉ thị nỗ lực diệt chốt. Các đơn vị phá hủy chiến cụ nặng và rút khỏi Phú Bổn.
- Lđ 23/bđq vẫn đối đầu với sư đoàn 320 thường xuyên bị tấn kích. Các đơn vị phải băng rừng vì trên đường lực lượng địa phương quân đã rút bỏ. Dân chúng tháp tùng các đơn vị gây hỗn loạn.
b) Giai đoạn Củng Sơn - Tuy Hòa.
Lđ6/Bđq ở khu vực ấn định, nhưng không bảo vệ công binh, mà đánh địch ở phía sau. Từ 20 đến 24 tháng 3, Lđ6/bđq bị tấn kích liên tiếp. Đến bến phà sông Ba, công binh cho biết qua dễ dàng, nhưng vượt sông bị trở ngại vì cát lún, dùng chinook (5) cẩu, vì sắt PSP lót cát không được. Xe ùn lại.
Tại Nha Trang, các đơn vị biệt động quân chỉ còn thành phần khung của các liên đoàn và các đơn vị hành chính công vụ không có vũ khí, chỉ có một đại đội thuộc Lđ22/bđq còn nguyên vẹn, nhưng phải phân tán cấp tiểu đội để giữ an ninh thị xã, kiểm soát nút chân và yếu điểm : đèo Rù Rì, hải cảng, cổng phi trường, nhưng không có máy liên lạc.
Ngày 30 tháng 3, quân dân các nơi di tản tới, gây hỗn loạn thị xã. Ngày 31 tháng 3, địa phương quân giữ an ninh trung tâm cải huấn bỏ chạy, quân phạm thoát ra phá phách, quân trấn Nha Trang không duy trì được trật tự vì nhân viên công lực bỏ trốn, biệt động quân hết lực lượng.
Ngày 31 tháng 3, tư lệnh quân đoàn II giao phó cho tôi nhiệm vụ phụ tá hành quân. Ngày 1 tháng 4, tư lệnh quân đoàn II giao chức vụ chỉ huy trưởng Bđq/qk II cho đại tá Đại chỉ huy trưởng trung tâm huấn luyện biệt động quân Dục Mỹ.
c) Giai đoạn di tản tại Nha Trang
13 giờ ngày 1 tháng 4, tôi đang ở tại BTL/QĐ II, thiếu tướng tư lệnh bảo làm cơm ăn thì nhân viên bộ tham mưu quân đoàn tự động phân tán lên xe chạy, chỉ còn vài nhân viên tùy tùng. Lúc đó trung tướng Thuần đến. Tư lệnh quân dân chỉ thị cho tôi dùng trực thăng liên lạc với các đơn vị, đặc biệt là tiểu đoàn 34/bđq tại đèo Cả. Cả buổi chiều không liên lạc được với ai. Phi trường hỗn loạn. Phi công giành giật phi cơ để bay. Về Phan Rang đổ xăng, tướng Phú bảo tôi lấy phi cơ C.47 về Nha Trang liên lạc nữa, nhưng không có kết quả. Trở lại Phan Rang, tư lệnh quân đoàn lại bảo tôi lấy trực thăng trở ngay lại Nha Trang tìm cách liên lạc một lần chót. Tại Nha Trang, tôi cho bay thật thấp nhưng không bắt liên lạc được với một đơn vị nào hay biệt động quân cả. 17 giờ 30 ngày 1 tháng 4, tôi trở lại Phan Rang báo cáo với tư lệnh quân đoàn. Sau đó cùng tư lệnh quân đoàn trở lại phi trường Nha Trang gặp chuẩn tướng Oánh và chuẩn tướng Lượng. 20 giờ 30 ngày 1 tháng 4, tư lệnh quân đoàn II về Phan Rang nghỉ đêm.
Ngày 2 tháng 4
, 8 giờ - chuẩn tướng Sang tư lệnh sư đoàn 6 không quân cho biết tư lệnh/qđ II và tiểu khu trưởng Ninh Thuận vừa rời Phan Rang không biết đi đâu. Đến chiều gặp thiếu tướng Lành tư lệnh phó không quân, và đại tá Phước, tư lệnh phó sư đoàn nhảy dù tại sư đoàn 6 không quân. Chuẩn tướng Sang cho biết kể từ sáng nay lãnh thổ quân khu III được nới ra đến Phan Thiết, riêng Phan Rang thuộc quyền chỉ huy của tư lệnh sư đoàn 6 không quân.
Sau hai ngày ở lại Phan Rang không có chỉ thị gì của cấp chỉ huy và đã nhiều lần liên lạc với bộ chỉ huy biệt động quân quân lực Việt Nam cộng hòa nhưng hệ thống bị gián đoạn nên lúc 8 giờ ngày 3 tháng 4 tôi đã dùng phương tiện của sư đoàn 6 không quân về Sài Gòn trình diện thiếu tướng chỉ huy trưởng Bđq/QLVNCH.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #24 vào lúc: 03 Tháng Hai, 2009, 10:29:51 am »

*
*    *

Theo bản phúc trình của Tất, thì khi về tới Nha Trang chỉ còn có một đại đội thuộc liên đoàn 22 biệt động quân là còn nguyên vẹn. Tính ra đã có hàng ngàn người không đến đích. May mắn thì họ được Quân giải phóng bắt làm tù binh, nghĩa là vẫn còn sống. Còn sống thì có ngày lại được gặp vợ, gặp con, nghĩ lại chuyện tháng Ba năm nào như một cơn ác mộng. Nhưng sẽ có nhiều người phải nằm lại dọc con đường 7, nằm lại ở các dải rừng. Tên tuổi họ, thân phận họ nào ai được biết, có chăng chỉ còn những người thân là nhớ đến. Ngay đến người thân cũng không thể nhớ tới họ mãi mãi, rồi cũng có lúc phải quên ới. Xương vùi trong đất, lá rừng phủ lên đất, cuối cùng là thời gian che phủ lên tất cả. Cũng là một kiếp người mà sao đau đớn đến thế, vô ích đến thế. Đáng thương hơn là đáng giận. Họ đâu có muốn thế. Họ đâu được biết cộng sản là gì mà bảo căm ghét. Những kẻ căm ghét cộng sản thật ra chỉ có rất ít và cái đám rất ít ấy mỗi ngày một tàn lụi mãi đi. Họ chỉ mong được sống sung sướng, sung sướng hơn đồng loại chút ít càng hay, và ai ai cũng muốn chạy vọt lên để được hưởng cái may mắn hơn những người khác. Trong một nước bị xâm lược, có quân đội nước ngoài tới chiếm đóng, lại có một đám người đứng ra xin thay mặt kẻ xâm lược mà cai trị lại dân, nhưng dân không lấy làm tức, lại còn muốn được sống yên phận, sống sung sướng hơn đồng loại? Mà muốn sống sướng hơn đồng loại thì không thể không cam chịu một nửa non sông đã bị bán đi, cái thân phận của mình đã bị bán đi. Cam chịu có nghĩa là sẽ cộng tác : Có cộng tác thì mới có cơ hội sống sướng hơn kẻ khác được. Lâu dần cái gốc gác của một cuộc sống sung sướng ngay cả trong chiến tranh cứ bị che lấp mãi, khiến người ta chỉ còn nhìn thấy có ông A giàu, bà B sướng, thằng X dại, thằng Y khổ. Thói thường ai chẳng muốn noi theo ông A, bà B. Tại sao lại làm thế? Chỉ vì bọn tôi muốn được sống khá hơn một chút. Vì muốn được sống khá hơn mà xin ra trấn thủ tại những chiến trường xa. Ở chiến trường xa thì dễ thăng trật, dễ kiếm chác. Chứ không phải vì ở đó được đối mặt hàng ngày với cộng sản, có cơ hội “uống máu ăn gan” họ. Những đứa thật sự muốn moi gan uống máu người cộng sản hầu hết nằm ở phía sau cả. Cuối cùng... cuối cùng là những nấm đất hiu quạnh trên một nẻo đường rừng nào đó ở một góc núi nào đó, ở một vùng quê nào đó. E rằng đến một nắm đất cũng không thể có. Chính là những quan niệm thiển cận và ích kỷ về mưu sống đã giết chết họ, đã ném họ vào những cạm bẫy hiểm ác của một cuộc chiến tranh do Mỹ xúi giục, Mỹ phát động, Mỹ nuôi dưỡng, nhằm phục vụ những ý định dài lâu của người Mỹ. Có một người bạn ở Sài Gòn đã nói với tôi : "Giá hàng ở Sài Gòn đắt hơn bất cứ nơi nào trên thế giới, vì phải trả bằng máu người". Không có máu người Việt Nam chịu đổ ra cho Mỹ, người Mỹ sẽ không bao giờ chịu đổ của ra để bù lại. Người Mỹ chỉ hào phóng khi họ có lợi. Nhưng máu đổ ở mãi ngoài xa, vết máu lại chóng khô nên người ta không dễ nhìn thấy. Còn hàng hóa và bảng giá thì lại được trưng bày, được rọi điện, được quảng cáo nên cứ ngỡ là giá rẻ. Họ có biết đâu trên bảng giá đã có vết máu của chồng con. Nói cho đúng, cũng còn nhiều người dầu đã được dẫn giải vẫn không thể tìm ra vết máu, bởi chưng những người ruột thịt của họ đều đã được sống rất sung sướng, rất an toàn. Cùng lắm trong giá hàng họ chỉ thấy có máu của người khác. Đồng tiền là của mình, còn máu là của người khác nên giá hàng vẫn cứ là rẻ.

Tôi xin thuật lại một câu chuyện cũng vẫn là không vui về một cặp vợ chồng muốn được sống sướng hơn xung quanh một chút trong cái cảnh ngộ khốn khó của một phần đất chưa bao giờ vắng bóng những tên lính xâm lược. Người chồng tên là Nguyễn Tất Biên, trung tá liên đoàn trưởng liên đoàn 23 biệt động quân và người vợ có cửa hàng nhỏ ở Gò Dầu Hạ, buôn hàng lậu từ Nam Vang đưa sang. Năm 1974 và trước đó, Biên làm ở bộ tham mưu biệt động quân quân khu III, ở Biên Hòa. Một sĩ quan rất điển trai, đã được bạn bè gọi đùa là Biên tây lai, cấp bậc cũng khá, lại an tọa ở một chốn không thể có tên bay đạn lạc, trừ phi... trừ phi anh ta muốn tự bắn vào đầu mình. Cô vợ lại chẳng phải người chịu ngồi ăn không, cũng chân nọ tay kia, buôn vào bán ra, trăm vạn thì khó, chứ trăm ngàn khi nào cũng sẵn. Đã có thể cảm tạ trời phật vì cái số phận hết sức dễ chịu rồi. Khốn nỗi, họ lại còn muốn được sống sướng hơn thế, được gia nhập vào cái giới thượng lưu ở Sài Gòn. Ví như bước thăng vận của một người bạn rất thân với gia đình là trung tá Phú. Phú trước ở cục quân huấn, về sau đổi đi Đà Lạt làm giáo viên trường đại học quân sự, đói rách quanh năm. Vợ sống ở Sài Gòn khi cầm bát họ, khi chạy hàng xách, nói chuyện với ai cũng xưng em, nước mắt ngắn dài, thê thảm tang thương hết chỗ nói. Người chồng ở Đà Lạt may mắn thế nào lại được một đại tá tên là Thường trong bộ chỉ huy tiếp vận 5 đóng ở Nha Trang, xin cho được chuyển sang tổng cục tiếp vận, đi học một lớp sĩ quan tiếp vận, rồi cũng vẫn là ông đại tá cứu tinh ấy cử đến Cam Ranh trông coi việc nhận và phân loại hàng phế bỏ của Mỹ đưa về cho quân lực Việt Nam cộng hòa. Kể ra anh chàng trung tá này cũng là người có bản tính lương thiện. Sống trong một quân đội mà từ anh hạ sĩ trở lên đều biết cách làm tiền, nhưng ông trung tá vẫn hoàn toàn ngơ ngác về những ngọn nguồn để muốn có tiền. Cho nên được quan thầy cho ngồi giữa một đống tiền mà lại than phiền rằng vất vả quá. Cô vợ cũng lại dại dột nốt, liền tong tong chạy đến than thở với bà đại tá về nỗi khổ của chồng mình. Bà kia phải phì cười mà bảo rằng : "Của ngon đã đưa đến tận miệng mà còn chưa biết ghé răng vào cắn ư? Cái bãi rác của Mỹ ở bán đảo Cam Ranh quả là thiên đường cho tất cả những ai muốn làm giàu. Một cái ghế xoay chỉ mất có cái vít, coi như của bỏ, bán theo ki-lô, khoảng mươi đồng một kí. Đem về, tra một cái vít đã hóa thành vài chục ngàn. Giường lò xo, tủ áo, máy lạnh đều thế cả, cứ xếp lại từng đống hoặc gọi nhà thầu đến bán ki- lô hoặc chuyển sang kho của tiếp vận là tùy ở sĩ quan đảm nhiệm việc phân loại. Lại như, khuân về tiếp vận năm mươi cái tủ lạnh, thì cứ lấy đại là một trăm, năm mươi cái thừa kia sẽ tung ra thị trường. Cũng không cần đến tay anh phải gọi mối mua mà đã có một đội ngũ đàn em hết lòng phục dịch. Ông trung tá cứ ngồi nguyên một chỗ, mỗi ngày cũng phải được cầm tay vài chục ngàn. Lương tháng có dăm chục ngàn, nay mỗi ngày tiền lót tay xấp xỉ với lương tháng, thì cửa thiên đàng thật ra cũng không đến nỗi quá hẹp. Trong vòng có một năm, cặp vợ chồng này đã gửi vào ngân hàng tới năm triệu bạc. Đồ đạc trong nhà cũng được thay cũ đổi mới hết, mà không phải tiêu ra đến một cắc. Rồi tậu nhà, rồi sắm xe hơi, mượn lái xe, thuê bồi bếp. Mỗi lần ông trung tá từ Nha Trang về Sài Gòn nghỉ ngơi hoặc có công vụ, bà vợ lại mở tiệc mời bạn bè tới ăn nhậu, nhảy nhót, vui vẻ không biết chừng nào. Anh chồng mặt mũi vẫn đen đủi, thân hình vẫn còm nhom, nhưng cô vợ thì thay đổi hoàn toàn như đã được lột xác. Mà cách ăn nói, cách đi đứng cũng mới quí phái, mới đài các làm sao, dường như bà ta biết cách sai khiến mọi người từ thuở còn nằm nôi bú mẹ. Cái cảnh sống bồng lai dưới hạ giới ấy kéo dài được năm rưỡi thì ông trung tá bất thần phải đổi về buya-rô (1) làm nghề phát bông xăng, cũng vẫn được ăn, nhưng chỉ tém lẻ cấu vặt, không thể bì được với chỗ ngồi giữa đống rác sắt thép của Mỹ thải. Cả hai vợ chồng lúc ấy mới ngã người ra tự giận mình đã ngu quá. Họ kiếm được bạc triệu mỗi tháng, giả dụ thế, thì cũng phải biết cách đưa lên quan thầy hộ mạng năm trăm ngàn. Bởi rằng quan thầy cũng phải hàng tháng đưa quà lên xếp sòng là trung tướng Đồng Văn Khuyên, tổng cục trưởng tổng cục tiếp vận. Hoặc là họ ngu quá, hoặc là họ tham quá nên đã bỏ lỡ một cơ hội làm giàu rất hiếm có. Nhưng cái tấm gương thất bại ấy lại rất kích thích lòng ham muốn của cặp vợ chồng trung tá Biên. Họ chỉ cần khôn hơn những kẻ đi trước một chút là tất cả sẽ êm thấm. Nhưng tìm được ai làm quan thầy trong tổng cục tiếp vận bây giờ? Đành phải chạy vòng một chút vậy, Biên liền xin với Phú vốn là cấp trên trực tiếp thời cả hai còn ở lực lượng đặc biệt, được về quân khu II, với hi vọng một năm sau nhờ sự che chở của đàn anh sẽ được lên một cấp nữa. Đeo lon đại tá rồi, hoặc trở về Sài Gòn, hoặc tìm cách sang tổng cục tiếp vận cũng chưa muộn. Vả lại vợ Biên có quen một người bà con với trung tướng Khuyên. Qua người này tìm đến quan thầy mới xem chừng cũng chẳng khó khăn gì. Miễn là được lên một cấp, cái ấy mới khó. Trước tết Ất Mão một tháng, trung tá Biên về làm liên đoàn trưởng liên đoàn 23 biệt động quân đóng ở Công Tum tức là đã được bổ nhiệm vào chức vụ đại tá. Mấy ngày tết vợ đưa các con lên Công Tum ăn tết với chồng. Cái tết ở một thị xã trên cao nguyên có cái lãng mạn, thơ mộng của nó, mà lại rất lạnh, lạnh hơn ở Sài Gòn nên có vẻ tết hơn ở Sài Gòn. Tết ra, mọi sự vẫn rất bình an. Cái mộng cố gắng ở nơi nguy hiểm một năm để rồi sẽ được sống sướng hơn cả mọi người mãi mãi chưa có triệu chứng gì là không lành cả. Qua được tháng Hai, qua được mươi ngày đầu của tháng Ba. Rồi có tin Buôn Mê Thuột thất thủ. Các báo đăng tin ông Viucent Nguyễn Ngọc Vy, phó tỉnh trưởng Đắc Lắc tử nạn ngày 10 tháng Ba tại Buôn Mê Thuột. Rồi lại có tin ông đại tá tỉnh trưởng cũng bị tử thương chiều ngày 11 tháng Ba, còn ông Vũ Thế Quang, tư lệnh sư đoàn 23 phòng thủ Buôn Mê Thuột thì bị "cộng quân" bắt sống. Nghe xung quanh họ đồn đại thế, chứ tin chính thức của chính phủ vẫn quả quyết rằng Buôn Mê Thuột chưa mất, trong thị xã có quân của cả đôi bên. Rồi lại có tin "chúng ta" đã tái chiếm. Rồi lại có tin tướng Phú cùng bộ tư lệnh quân khu đã rút về Nha Trang. Rồi lại có tin cải chính là không phải, chỉ có tướng Phú đi, còn tất cả vẫn ở lại Plâycu. Điện từ Sài Gòn đánh đi không nhận được điện trả lời. Không có một ai được trả lời. Cái nơi ấy như đã thuộc về một thế giới khác. Bao giờ lại được thấy anh hơi cúi đầu bước vào căn phòng nhỏ hẹp của chúng ta? Bao giờ em lại được nói với các anh : "Rượu khai vị các anh thích uống Martell hay Gin? Hai vợ chồng mình cứ sống như xưa kia chẳng đã hạnh phúc lắm sao? Còn mong muốn gì hơn nữa? Chao ơi! Em dại dột quá! Bây giờ có hối cũng đã quá muộn rồi. Chỉ cầu nguyện rằng sẽ không có chuyện gì xảy ra với anh. Có thể xảy ra với ông Vy, ông Quang, ông Luật, với những người khác nhưng sẽ không phải là anh. Có thể xảy ra với mọi gia đình nhưng sẽ không bao giờ là gia đình mình. Mới hôm qua chị muốn gia đình chị phải được sống sung sướng hơn cả mọi người, và hôm nay chị lại cầu xin gia đình mình sẽ ít chịu đau khổ hơn cả mọi người!
Nó đau đớn là thế. Mà cũng ngu dại là thế!


-----------------------------------------------------
(1) Bàn giấy.

Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #25 vào lúc: 03 Tháng Hai, 2009, 10:31:49 am »

*
*    *

Ngày 14 tháng Ba, khi Thiệu ra Nha Trang gặp Phú, tư lệnh quân khu II nghe thuyết trình tình hình quân sự trong quân khu, và hạ lệnh rút quân khỏi Tây Nguyên, kịp thời bố trí lại lực lượng vùng duyên hải miền Trung, lập tức bị cả mọi người trong phe cánh lên tiếng chỉ trích. Đành rằng phải bỏ cái không thể giữ được để cố giữ cái có thể giữ nhưng nếu lại bỏ hẳn cả vùng cao nguyên trung phần thì sẽ không thể giữ lại những cái còn có thể giữ. Họ dẫn chứng : Ba tỉnh Tây Nguyên vẫn là cái vòm trần của miền Nam Việt Nam. Na-va thời Pháp và Oét-mo-len thời Mỹ dầu có bị đánh thua ở Điện Biên Phủ hoặc vùng đồng bằng sông Cửu Long vẫn cố sức giữ mấy tỉnh này. Vì mất nó có nghĩa là mất hết. Lại có một loại dư luận phân tích việc Thiệu cho rút khỏi Tây Nguyên như sau : một là, vùng đồng bằng sông Cửu Long hiện đang bị áp lực của Cộng quân quá mạnh; hai là, muốn bi đát hóa tình hình Nam Việt Nam để lôi quân Mỹ nhảy vào chiến cuộc một lần nữa; ba là, âm mưu chia đôi miền Nam, từ Quảng Trị đến Đắc Lắc là của mặt trận Giải phóng, từ Đà Lạt đến An Xuyên là của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu. Nhiều tờ báo Mỹ đã bắt đầu than thở cho công lao của Mỹ trong bấy nhiêu năm, nay vì những quyết định rồ dại của Thiệu bỗng chốc hóa ra tay trắng. Nước Mỹ, cách xa xứ sở Việt Nam vừa nửa vòng trái đất, không có quan hệ gì với nhau về địa lý, về lịch sử, về chủng tộc và cả về chế độ chính trị nữa (cái chế độ chính trị do Mỹ lấy từ máu thịt của mình mà ghép vào, thật ra chẳng ăn nhập gọi với cái cơ thể của đất nước này, nếu không có máu mới, thịt mới từ Mỹ đưa sang lập tức có cái miếng ghép kia héo quắt lại và rớt ra), vậy mà đã có tới 2 triệu 50 vạn quân nhân Mỹ đã từng phục vụ ở Việt Nam, 30 vạn người bị thương, còn 5 vạn 6 ngàn người thì vĩnh viễn nằm lại ở một vùng sình lầy của châu Á. Rồi danh dự của một đất nước, uy tín của một số chính khách, tiếng tăm của một đội quân cũng vì cái mảnh đất xa lạ kia mà hóa ra nhem nhuốc. Họ kết luận : chúng ta đã từng có mặt ở Nam Việt Nam một nửa triệu quân đã tiêu tốn ở đây những một trăm năm mươi tỷ bạc và cả một thế hệ Mỹ còn lòng tin và hăng hái. Rút cuộc chúng ta vẫn cứ phải ra đi dầu được gọi là có danh dự. Vậy thì những gì đang xảy ra ở đấy trong những ngày này, nước Mỹ chỉ còn nên chấp nhận và hãy cố gắng mà quên đi. Có nghĩa là khi quân ta đã giải phóng hoàn toàn vùng cao nguyên thì tất cả mọi người đều thấy rõ : Chính quyền Thiệu không thể tồn tại được, cái chế độ chính trị do Mỹ gây dựng nên không thể tồn tại được. Nhưng... tôi xin nêu ra một giả thiết để bạn đọc phán xét vào lúc ấy hình như Thiệu vẫn còn tin rằng hắn sẽ có cách để tồn tại, hắn có thể tồn tại được. Vì, trong mấy năm nay, Thiệu như đã trót quên mất cái gốc gác của y, cái thân phận của y. Cũng như người dân thì nghĩ rằng mình đã là người tự do của một quốc gia đang bước vào một kỷ nguyên của tự do, kẻ cầm đầu của cái quốc gia đã bị mua đó cũng có thể nghĩ rằng y đã là một "chiến sĩ yêu nước", đã là một "lãnh tụ đang đấu tranh cho sự nghiệp tự do"? Vì đã tự cho mình là một chiến sĩ của tự do thì không dễ gì bị chinh phục, bị thua bại. Có thể tạm thời phải triệt thoái, phải cam chịu sự mất mát của bộ phận này hay bộ phận kia, nhưng cái toàn thể chắc chắn sẽ được cứu gỡ. Cho nên Thiệu mới khuyên quân đội của y là nên đánh giặc theo lối con nhà nghèo, nên dùng chiến thuật phân đội, nên hành quân bằng đôi chân chứ không nên dùng xe hoặc máy bay. Cho nên Thiệu mới khuyên các tướng tá của y là phải can đảm, phải tiếp xúc với binh sĩ, phải tử thủ với mỗi thước đất của quê hương. Rồi chính Thiệu trong cơn hoang tưởng nhất thời đã trịnh trọng tuyên bố dầu ở cương vị nào cũng sẽ chiến đấu đến cùng, chiến đấu như một chiến sĩ.

Nhưng... chỉ trong vòng có một tháng Ba, hai quân đoàn I và II đã mất tong. Các vị tướng kiêu hùng Ngô Quang Trưởng và Phạm Văn Phú còn chạy trước cả cơ quan tham mưu. Cơ quan tham mưu thì chạy trước cả binh lính. Còn cái đám binh lính đã mất đầu thì bắn lẫn nhau để thoát thân, bắn vào dân chúng để cướp của, và trong nháy mắt chỉ còn có cái quần cộc thất thểu chạy về nhà. Vậy là hết!

Cũng trong tháng Ba này những người bạn lớn ở bên Thái Bình Dương họ đang làm gì? Họ bàn cãi là có nên cho ông Thiệu thêm tiền hay không nên cho nữa? Cũng chẳng đi đến một kết luận nào cho rành rẽ là cho hay không cho. Câu chuyện tuy rất nghiêm trang và khẩn cấp đành để bỏ dở. Vì ông tổng thống Pho đã cùng gia đình đáp máy bay về nơi an dưỡng ở bang Ca-li-pho-ni-a nghỉ lễ phục sinh khoảng một tuần. Ông ngoại trưởng Kít-xinh-giơ cũng cùng đi với ông ta. Vì các nghị sĩ hầu hết đã trở về những khu vực bầu cử. Thậm chí đến ông thái thú của miền Nam là ngài Gra-ham Ma-tin cũng đang chơi nghỉ tại bang bắc Ca-ro-li-na sau khi mổ hàm. Có nghĩa là họ chỉ nghĩ đến họ và những công việc riêng của họ mà thôi. Tháng Ba đã qua đi, tháng Tư cũng đã sắp qua đi, Quân giải phóng thì tràn ngập tận cửa ngõ của Sài Gòn rồi. Hỏi người Mỹ, họ chỉ đáp : "Chúng tôi muốn quên đi cái quá khứ". Hoặc là : "Chúng tôi đã chán quá, đã mệt quá". Hoặc với cách nói sỗ sàng hơn : "Các ông tài nghệ đã kém, lại tham nhũng, lại buôn lậu mà còn thích huênh hoang, dầu có chết cũng là phải". Đến lúc ấy, phải đến cái lúc ấy, người "chiến sĩ đấu tranh cho tự do" kia mới chợt nhớ ra cái thân phận vốn dĩ của mình. Có thể ông ta quên, nhưng người Mỹ vẫn không quên, và chân tay của ông ta lại càng không thể quên rằng ngài tổng thống vốn xuất thân là một tên lính trong đội quân xâm lược của thực dân Pháp. Tức là một kẻ hầu bàn của các đội quân nước ngoài như "chúng ta". Nhưng có cái may mắn hơn "chúng ta" là được người Mỹ chọn làm tổng thống. Lúc duyệt binh, đọc tuyên thệ, gắn huân chương, chia bổng lộc thì tất cả dễ quên đi cái gốc gác, cái xuất xứ của mình và của người khác. Nhưng khi lâm trận, có gian nguy, có thử thách thì mọi người lại chợt nhớ đến cái cội nguồn. Nhớ như thế để được an ủi, để khỏi phải chịu trách nhiệm. Vì ông tổng thống cũng là phường bán nước cầu vinh, như nhiều người, hà tất mình lại phải lấy cái chết để đền đáp. Mình phải cứu lấy cái mạng của mình trước đã. Phải chạy thôi! Ai có cơ hội chạy được thì cứ nên chạy? Sau trận này, nếu Mặt trận chưa thắng hẳn, thì người Mỹ cũng sẽ tìm ra một ông tổng thống khác. Chắc chắn là thế. Chính Nguyễn Văn Thiệu vào những ngày cuối cùng hình như cũng đã nghĩ được : "Nếu cả mọi người đều đổ riệt cho tôi là tay sai của nước ngoài, vì tôi mà chiến tranh không thể chấm dứt, thì tôi sẽ xử sự theo đúng cái cung cách của những tên tay sai". Tức là xin rút lui, xin ông chủ cứ việc thu dụng người có tài có đức hơn tôi, nhưng tôi dám thách ông chọn được ai đấy, còn tôi xin đem vợ con ra nước ngoài, sống cuộc đời “nhà yêu nước bị lưu vong”.

Tôi không muốn suy diễn một cách gượng ép đâu, cũng không phải là mình đã thắng thì muốn chửi ai cũng được, muốn gán cho ai là bán nước là tay sai cũng được. Đều đã có chứng cớ cả. Thiệu tuyên bố sẽ sống chết với các chiến hữu trong trận này rồi lại xách khăn gói chuồn trước các chiến hữu tới cả tuần là một chứng cớ. Thiệu hạ lệnh cho tướng lĩnh phải lấy máu mà bảo vệ từng thước đất, không cho phép rút mãi nữa, nhưng các tướng lĩnh vẫn cứ tháo thân mà chạy, có khi chưa bị đánh cũng đã chạy, cũng là một chứng cớ. Trước khi rút lui, Thiệu đã đọc một bài diễn văn từ chức, chửi Mỹ, giận thân, hờn dỗi với đời, bộc lộ rất bất ngờ cái tâm lý của một kẻ đã được mua, đã được trả giá đắt, bỗng dưng bị hất bỏ, cũng lại là một chứng cớ. Nếu bạn đọc hãy còn nghi ngại thì xin đọc thêm mấy tài liệu sau đây :

Một là, hai bức công điện của Thiệu gửi tư lệnh các quân khu và binh chủng, hạ lệnh phải tử thủ phần đất còn lại. Hai là, bản đệ trình của tướng Phú tư lệnh quân khu II về giai đoạn rút lui từ Plâycu vào Phan Rang, có lời phê của Thiệu. Ba là, phiếu trình của Lý Bá Phẩm, đại tá tiểu khu trưởng tiểu khu Khánh Hòa gửi Cao Văn Viên, tổng tham mưu trưởng. Chỉ như thế thôi, theo tôi nghĩ cũng đã đủ.

Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #26 vào lúc: 03 Tháng Hai, 2009, 10:35:04 am »

Thượng khẩn             CÔNG ĐIỆN MẬT

Nơi gởi: Tổng thống Việt Nam cộng hòa

Nơi nhận:
- Các tư lệnh quân khu
-Các tư lệnh quân binh chủng
- Tư lệnh biệt khu thủ đô
- Các tư lệnh sư đoàn
- Các tỉnh trưởng kiêm tiểu khu trưởng
- Tư lệnh cảnh sát quốc gia


Bản văn số. 013 - TT/CĐ/M.

Công điện này của tổng thống Việt Nam cộng hòa đặc biệt dành riêng cho cá nhân quý vị :

A- Đất nước hiện đang trải qua một cơn thử thách rất nghiêm trọng. Tình hình hiện tại rất dễ gây hoang mang trong quân đội và dân chúng. Tôi đã giải thích sơ lược tình hình chung trong ngày 20-03-75. Từ đây, tôi sẽ còn nhiều dịp nói chuyện với dân chúng về tình hình đất nước. Hôm nay tôi thấy cần lưu ý thêm quí vị về các sự kiện sau đây :

Thứ 1- Nhân danh tổng tư lệnh tối cao quân lực, tôi rất hãnh diện về tinh thần chiến đấu anh dũng của toàn thể chiến hữu các cấp trong thời gian qua.

Thứ 2 - Những việc làm của chính phủ và quân đội trong những ngày qua là do những quyết định can đảm được hội đồng an ninh quốc gia ban hành sau khi đã cân nhắc kỹ lưỡng. Để bảo toàn lực lượng ta, hầu đủ khả năng giữ vững những vùng đông dân cư và trù phú của đất nước. Tôi đã nhấn mạnh ngày 20-03-75 là tất cả những phần đất còn lại sẽ được bảo vệ đến cùng.

Thứ 3 - Mọi tin đồn và suy diễn bừa bãi trái với các sự kiện nêu trên đều nằm trong kế hoạch của cộng sản toan dùng chiến tranh cân não để phá hoại tinh thần chiến đấu của quân dân ta.

B - Trong giai đoạn này nhiệm vụ cứu quốc của quân đội có được chu toàn hay không là do nơi quí vị. Do đó tôi ân cần nhắc nhở quí vị lưu tâm thi hành các điểm sau đây :

Thứ 1 - Phải luôn luôn bình tĩnh trước mọi tình hình phải đối phó, có kế hoạch trong phạm vi trách nhiệm.

Thứ 2 - Phải luôn luôn đề cao cảnh giác. Sẵn sàng đừng để bị bất ngờ.

Thứ 3 - Lệnh chiến đấu và giữ đất bảo vệ dân phải cương quyết và phải được triệt để thi hành.

Thứ 4 - Phải duy trì kỷ luật tối đa. Những hành động hèn nhát trước mặt địch quân phải được trừng trị nhanh chóng và mạnh mẽ để làm gương.

Thứ 5 - Phải tích cực tiếp xúc với cấp dưới để tác động tinh thần hầu hun đúc ý chí bất khuất và lòng can đảm của chiến sĩ các cấp đúng với truyền thống quân đội.

Thứ 6 - Phải giữ vững tinh thần của anh em binh sĩ, để binh sĩ đừng nản lòng trước nghịch cảnh và khó khăn.

Thứ 7 - Phải bảo vệ tối đa quân dụng và chiến cụ. Toàn dân đang đặt hết tin tưởng vào quí vị và chiến hữu các cấp.

Sài Gòn ngày 21-3-1975
Tổng thống đã ký

Chánh văn phòng
Võ Văn Cầm

Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #27 vào lúc: 03 Tháng Hai, 2009, 10:40:49 am »

Hỏa tốc          CÔNG ĐIỆN

Nơi gởi : Tổng thống Việt Nam cộng hòa

Nơi nhận : Quí vị tư lệnh quân khu I, II, III và IV, tư lệnh biệt khu thủ đô

Bản văn Số 015TT/CĐ.

Dành riêng cho các tư lệnh quân đoàn và quân khu I, II, III, IV và tư lệnh biệt khu thủ đô.

Tiếp theo công điện số 013-TT/CĐ ngày 21-3-75, sau đây là nghiêm lệnh của tôi.

Thứ nhất: Tất cả những tỉnh, những phần đất hiện còn đến ngày hôm nay, 25 tháng 3 năm 75, phải được tử thủ bảo vệ đến cùng.

Tại mọi nơi phải nỗ lực tiêu diệt tối đa địch, chặn đứng đà tiến quân của địch, củng cố phòng thủ, sử dụng mọi sáng kiến và phương tiện để phản công.

Thứ hai: Các vị tư lệnh quân đoàn và quân khu chịu trách nhiệm chỉ thị hướng dẫn và kiểm soát mọi cấp chỉ huy đơn vị và chỉ huy lãnh thổ thuộc quyền chấp hành tuyệt đối nghiêm lệnh này.

Sài Gòn ngày 25-3-1975
Tổng thống đã ký

Chánh văn phòng
Võ Văn Cầm.

*
*    *

Diễn tiến những biến cố quan trọng trên chiến trường quân khu II từ ngày 10-3-75 đến ngày 02-4-75.

Tóm lượt đệ trình của Phạm Văn Phú tư lệnh quân đoàn II và quân khu II (kèm theo lời phê của Nguyễn Văn Thiệu).

Ngày 09-3-75 được tin lực lượng cộng quân gia tăng tại Ban Mê Thuật và Quảng Đức, tôi đã tới thanh sát tại chỗ và đã chỉ thị :

- Đại tá tư lệnh phó sư đoàn 23 bộ binh làm tư lệnh chiến trường. (1)
- Kiểm soát hệ thống phòng thủ thị xã.
- Phân phối và phân tán kho xăng, kho đạn.

Đêm 09 rạng 10-3-75 quân số địch gấp 5, 6 lần quân ta, có chiến xa, đại pháo tấn chiếm Ban Mê Thuột. Lực lượng phòng thủ đã đẩy lùi nhiều đợt tấn công, tiêu diệt nhiều chiến xa, đặc biệt tại phi trường Phụng Dực. Ngày 11-3-75, lúc 08 giờ không quân ném hai trái bom làm sập trung tâm hành quân sư đoàn 23 bộ binh và bộ chỉ huy tiểu khu Darlac. Bị mất liên lạc với tư lệnh chiến trường và tiểu khu nên tình thế rất nguy ngập.

Ngày 12 và 13-3-75, theo lệnh của tổng thống và đại tướng tổng tham mưu trưởng đã cho tăng viện để giải tỏa Ban Mê Thuột gồm trung đoàn 44. trung đoàn 45 do tư lệnh sư đoàn 23 chỉ huy. Các đơn vị vẫn tiếp tục đánh gồm : trung đoàn 53, liên đoàn 21 biệt động quân, quận Buôn Hồ và Phước An. Tôi đã bay ra lệnh và khích lệ.

Áp lực địch quá mạnh đẩy lui dần ta ra khỏi thị xã, phía quốc lộ 21.

---------------------------------------------------
(1) Tức là Vũ Thế Quang đã bị bộ đội ta bắt giữ trong trận tấn công vào căn cứ sư đoàn 23 tại Buôn Mê Thuột ngày 11 tháng 3.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #28 vào lúc: 03 Tháng Hai, 2009, 10:48:00 am »

Trước tết âm lịch biết tình hình Ban Mê Thuột nặng đã dự trù đưa sư 23 về, lý do không thi hành để khi bị tấn công tăng viện không kịp?

Ngày 14-3-75, hồi 11 giờ tôi được thuyết trình tình hình quân đoàn II với tổng thống, tham dự có đại tướng, trung tướng Quang và đại tá Đức.

Lực lượng địch:
Đã biết được sư đoàn 320, sư đoàn 10 và các đơn vị địa phương. Mới phát giác sư đoàn 316, hai trung đoàn đặc công và một trung đoàn pháo.

Tình hình các mặt trận:
Kontum: Địch cố đẩy trung đoàn 45, liên đoàn 21 biệt động quân về hướng Thanh An. Nhờ một tiểu đoàn thuộc trung đoàn 45 tăng viện nên sư đoàn 968 của địch không chọc thủng được phòng tuyến.

Trung đoàn 28 (công binh) tiếp tục tấn công liên đoàn 23/bđq tại Kontum, quân số phòng thủ có thể chặn được địch tại thị xã.

Pleiku: địch hoạt động mạnh tại phía đông và tây. Phi trường Cù Hanh bị pháo kích liên tục ba, bốn ngày. Không có lực lượng tăng viện, cố gắng cho phi trường hoạt động để tiếp tế nhiên liệu, và đạn dược hàng ngày.

- Phía đông quốc lộ 19, trung đoàn 95 của cộng sản đánh liên đoàn 4/bđq (quân số giảm 50 phần trăm) và thiết đoàn 3 kỳ binh (bị cháy 12 trên 13 chiếc).

Bình Định: Các trung đoàn 141, 2, 12 nỗ lực từ phía đông để chiếm phi trường Phù Cát. Tin tưởng sư đoàn 22 có thể giữ vững được.

Trình bày xong tổng thống cho biết không có quân tăng viện và hỏi : “Đứng trước sự việc như vậy anh nghĩ sao?”. Tôi nói xin giữ Ban Mê Thuột bằng mọi giá, nên đã tăng viện hai trung đoàn 44 và 45 (sư 23) cho Ban Mê Thuột. Được bộ tổng tham mưu tăng phái trực thăng của quân đoàn I đến chuyển quân nhưng phải mất ba ngày mới chuyển được một trung đoàn (1.500 quân), trực thăng bị hư hại nhiều nên đến ngày thứ tư mức chuyển quân sút kém phải mang hai liên đoàn biệt động quân ở Kontum về tăng cường cho mặt trận phía đông và tây, chuẩn bị chiến đấu đến cùng.

Sau đó tổng thống chỉ thị : quân viện bị cúp, thiếu đạn và tiền, địch đánh mạnh hơn năm 1968 và 1972. Kontum, Pleiku người ít, kinh tế không có, rút quân về cứu Ban Mê Thuột và giữ vùng duyên hải.

Lộ trình rút được chấp thuận là liên tỉnh lộ 7.

- Cuộc rút được thiết kế ngày 14-3-75 của các giới chức : thiếu tướng Phủ, chuẩn tướng Cẩm (1) (phụ tá hành quân), chuẩn tướng Sang (sư đoàn 6 không quân), chuẩn tướng Tất (tư lệnh mặt trận Kontum, Pleiku) và tham mưu trưởng quân đoàn. Tất cả đều long trọng bảo mật. Ngày 15 và 16 tháng 3 diễn biến tốt. Ngày 17-3 (2) Bộ tư lệnh nhẹ quân đoàn di chuyển từ thị xã Pleiku về phi trường hỗn loạn, kế hoạch đã bị tiết lộ một phạm vi do gia đình của một số sĩ quan cấp nhỏ.

Pleiku về Phú Bổn tốt đẹp.

Ngày 18-3 sư đoàn 320 (cộng sản) đánh cắt ngay vì lý do :
- Báo cáo cuộc chuyển quân bị tiết lộ.
- Lính Thượng nổi loạn.
- Khoảng gần 100 cây số đường rừng trên liên tỉnh lộ 7 nhiều cầu cống bị hư.
- Cộng quân đóng chốt.

Ngày 25-3-75 đoàn xe về đến Phú Yên, lực lượng bị thiệt hại nặng (quân số, chiến cụ).
Bình Định, Khánh Dương nguy ngập. Đến 24 giờ chỉ liên lạc được với tỉnh trưởng Bình Định, mất liên lạc với các trung đoàn 41, 42, và 47 (sư 22).

Biết liên tỉnh lộ 7 cầu cống hư, nhất là phà Củng Sơn (qua sông Ba Lài) không ước tính cho công binh chuẩn bị đem theo phương tiện làm cầu hoặc một lực lượng khác từ Tuy Hòa lên làm, để đoàn xe đến Củng Sơn chiều ngày 19 bị kẹt, bốn ngày sau mới qua sông được (vì phải cho phương tiện làm cầu từ Cam Ranh lên)?

Việc rút lui khỏi cao nguyên có được thiết kế một cách chủ đắc không? Có lực lượng đón tiếp và an ninh nào từ Tuy Hòa lên không?


Ngày 01-4-75, lúc 07 giờ chuẩn tướng Cẩm báo cáo Phú Yên bị tấn kích nguy ngập. Lúc 8 giờ 15 phút, tôi bay chỉ huy Phú Yên, Bình Định. Mất liên lạc với bộ tư lệnh nhẹ quân đoàn và chuẩn tướng Cẩm. Tỉnh trưởng Phú Yên bị thương. Lúc 9 giờ 30 phút, chỉ liên lạc được với phó đề đốc Minh, tư lệnh hải quân quân khu II vừa được trung ương chỉ định làm tư lệnh chiến trường Bình Định. Phó đề đốc Minh báo cáo địch tràn ngập thị xã, dầu tăng viện vài trăm quân cũng vô ích.

Sáng 01- 4, tướng tư lệnh quân đoàn bay liên lạc với Phú Yên, Bình Định và sư 22 hay trưởng phòng 3 quân đoàn?

Lúc 10 giờ 30 phút về Nha Trang được tin tuyến dù đã vỡ tôi liền triệu tập tư lệnh sư đoàn 2 không quân, chuẩn tướng Tất, phó đề đốc Châu và tham mưu trưởng quân đoàn II tìm biện pháp đối phó và cho các chỉ thị bảo vệ thị xã. Lúc 11 giờ 45 phút phi cơ phát hiện Dục Mỹ và Ninh Hòa bị địch tràn ngập.

Khi biết lữ đoàn 3 dù bị đánh bật khỏi phía bắc Dục Mỹ, tư lệnh có liên lạc ra lệnh cho biệt khu Dục Mỹ tổ chức chiến đấu không?

Quân nhân thuộc trung tâm huấn luyện Lam Sơn, biệt động quân, trường hạ sĩ quan cũng bỏ chạy. Hai nghìn quân phạm thoát ra cướp súng, bắn pháo (xin hỏi đại tá Đàm, cảnh sát quốc gia).

Khi các thị xã nhất là Nha Trang bị rối loạn, quân đoàn có ra lệnh giới nghiêm 24 giờ trên 24 giờ để vãn hồi trật tự không?

Lúc 12 giờ 30 phút trung tướng Thuần đến gặp tôi. Quân nhân phòng thủ bộ tư lệnh và tham mưu bỏ chạy hết, chỉ còn khoảng 20 người, thuộc toán hộ tống (xin hỏi trung tướng Thuần).

------------------------------------------------------
(1) Cẩm bị bộ đội ta bắt chiểu ngày 1 tháng 4 tại sân bay Tuy Hòa cùng với một sĩ quan tham mưu và một công vụ.
(2) Sự thật là Phú chạy khỏi Plây Cu từ chiều ngày 15.

Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #29 vào lúc: 03 Tháng Hai, 2009, 10:52:15 am »

Trưa 1-4, các trưởng phòng vẫn ở bộ tư lệnh và khi tư lệnh ra đi có ra lệnh gì cho những người này không?

Lúc 12 giờ 55 phút tôi ra lệnh chuẩn tướng Lượng (sư đoàn 2 - không quân) đóng cửa phi trường vì hỗn loạn, dùng biện pháp mạnh giải tỏa và giúp đỡ bộ tư lệnh thu hẹp của quân đoàn. Liền bay chỉ huy, ra lệnh trung đoàn 40 và lực lượng dù bảo vệ thị xã. Tư lệnh sư đoàn 2 không quân có thái độ vô lễ.

Lúc 13 giờ 10, tôi cùng trung tướng Thuần bay chỉ huy nhưng không liên lạc được với các cánh quân, ngoại trừ lữ đoàn 3 nhảy dù, ra lệnh cho đơn vị này bảo vệ bộ tư lệnh quân đoàn.

Lý do bay đi chỉ huy và liên lạc lại có kèm tỉnh trưởng Pleiku và tướng Thuần? Tại sao khi rút lại không bảo nơi sẽ đặt bộ tư lệnh cho các đơn vị khi cần?

Lúc 13 giờ 55 phút, tôi đến Phan Rang lấy phi cơ C.47 cùng trung tướng Thuần bay chỉ huy, nhưng mất ba tiếng đồng hồ cũng không liên lạc được với quân bộ.

Lý do về sự có mặt của tướng Thuần tại BTL/QĐ? Có phải ông ta liên lạc với tư lệnh quân đoàn để xin cho di tản không? Tướng Phú có biết giờ phút nghiêm trọng cần sự hiện diện của cấp chỉ huy tại đơn vị không? Và tại sao lại cho trung tướng Thuần đi Phan Rang bỏ mặc các cấp trường hạ sĩ quan tự lo liệu là gây tan rã cho đơn vị không?

Từ 17 giờ 30 phút đến 20 giờ tôi gặp hai chuẩn tướng Oánh và Lượng tại bộ tư lệnh sư đoàn 2 không quân. Chuẩn tướng Oánh vừa được bổ nhiệm tư lệnh chiến trường Nha Trang. Hai vị tướng này đều có thái độ hỗn xược. Tham khảo ý kiến tướng Oánh và tướng Lượng về khả năng, lực lượng. Hai tướng này đều nói cần một sư đoàn tăng viện mới giữ được Nha Trang. Tướng Lượng dằn giọng : “Tôi cứ tiếp tục di chuyển”. Còn tướng Oánh nói : "Di chuyển về Phan Rang vẫn là đất của mình". Rời căn cứ không quân Nha Trang, tôi bảo tướng Oánh có toàn quyền hành động trong cương vị tư lệnh chiến trường.

Khi di chuyển vào phi trường nói là để lập sở chỉ huy nhẹ có phải tư lệnh đã tránh không cho các sĩ quan tham mưu theo vô không? Có phải sau khi liên lạc với Sài Gòn, tướng Phú đã ra lệnh cho sư 2 không quân di tản và sẽ chịu trách nhiệm nếu thượng cấp hỏi tới không?


Ngày 1-4-75, Tuyên Đức mất liên lạc. Thiếu tướng Lâm Quang Thơ chỉ huy quân di tản đến Phan Rang. Bộ chỉ huy 5 tiếp vận được lệnh Sài Gòn phá hủy các cơ cấu và cùng bộ tư lệnh hải quân quân khu n di chuyển đêm 1-4-75.

Ngày 2-4-75 tôi cùng tư lệnh sư đoàn 6 không quân và tỉnh trưởng Phan Rang thảo kế hoạch phòng thủ Phan Rang. Hồi 5 giờ sáng tỉnh Phan Rang trình tỉnh bị hỗn loạn vì tình đánh cướp kho bạc. Bay đến Cam Ranh thấy vắng người, không có liên lạc. Tôi ra lệnh cho tư lệnh sư đoàn 23 tập trung quân số còn lại điều động đến Phan Rang.

Lúc 14 giờ 00, thiếu tướng Nguyễn Văn Hiếu, tư lệnh phó quân đoàn III đến Phan Thiết cho biết phần đất còn lại của quân khu II được lệnh sáp nhập quân khu III. Tướng Hiếu, tướng Thơ và các sĩ quan tham mưu cùng khuyên tôi về trình diện trung ương.

Tôi xin trinh bày là ở cương vị tư lệnh quân đoàn II đã làm tất cả cố gắng nhưng bị thất bại vì :

- Việc rút cao nguyên gặp hỏa lực mạnh của địch, gây thiệt hại cho quân dân nên bị hỗn loạn...

- Lực lượng địch quá đông. Ta không có lực lượng tổng trừ bị, quân số phải phân tán nhiều mặt trận.

- Dân chiến nạn từ quân khu I đến tạo nên sự hỗn loạn, làm sai kế hoạch của quân khu. Đã trình phó thủ tướng Đán (1) nhưng không được giải quyết.

- Trung ương chỉ định trực tiếp các chức quyền địa phương làm quân khu bị tê liệt.

- Quân trú phòng Nha Trang mất tinh thần khi lữ đoàn 3 nhảy dù bị chọc thủng phòng tuyến.

- Dân chúng hoang mang vì các lời đồn đại và các cơ sở Hoa Kỳ di chuyển.

Tôi xin đại tướng tổng tham mưu trưởng thẩm định.

Ngày 7 tháng 4 năm 1975

------------------------------------------------------
(1) Phan Quang Đán, phó thủ tướng, là chủ tịch "ủy ban cứu trợ nạn nhân chiến cuộc" được thành lập ngày 20-3.



« Sửa lần cuối: 03 Tháng Hai, 2009, 10:54:28 am gửi bởi hoi_ls » Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM