Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:45:33 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Ký Sự Chiến Tranh - Tập 2  (Đọc 65716 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #70 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2009, 04:26:37 pm »

31
NHỮNG NGÀY GIAN KHỔ

Ngày mười một tháng bảy, tiểu đoàn 81 đánh trận thứ tư và cũng là trận cuối cùng trên đất Vĩnh Linh. Theo các đồng chí có mặt trong cuộc kể lại, gần như cùng một lúc cả ta và địch phóng tên lửa. Nhìn trên màn hiện sóng, Nguyễn Hưng Thịnh thấy cả ba tín hiệu : máy bay địch, tên lửa ta đang lao tới mục tiêu và tên lửa địch cũng đang lao tới mục tiêu của nó là anh. Trong cuộc chiến đấu bằng kỹ thuật điện tử, những trường hợp như vậy không phải là hiếm. Ngay lúc ấy Thịnh có thể gạt phăng mối nguy hiểm một cách không khó khăn lắm : tắt máy hoặc quay ăng-ten sang hướng khác, tên lửa địch sẽ đi chệch. Làm như vậy cũng có nghĩa là bỏ rơi tên lửa ta, để mặc nó bay không điều khiển. Thịnh cân nhắc và quyết định rất nhanh : Tiếp tục điều khiển tên lửa diệt máy bay địch. Có thể anh hy vọng quả đạn của anh sẽ đến máy bay trước khi tên lửa địch đến anh. Nhưng anh tính không đúng. Một tiếng nổ, khói đen trùm kín trận địa. Xe chỉ huy vỡ tung. Khi các đồng chí xung quanh nhào đến, Thịnh đã tắt thở, trắc thủ Lê Xuân Mai bị thương nằm ngất lịm bên cạnh. Tiểu đoàn trưởng Sơn bị một mảnh đạn xuyên cánh tay, đại đội trưởng Huynh bị thương. Tôi choáng váng. Có lúc cảm thấy đầu óc tê dại đi.

Ngày 13 tháng 7 năm 1967, Mỹ đưa máy bay B52 ra đánh phá Vĩnh Linh. Trong cuộc đời chiến đấu của tôi, từ lúc là anh Vệ quốc đoàn đội mũ ca-lô, mặc quần soóc cho đến bây giờ, chưa khi nào tôi cảm thấy buồn bực, cay đắng bằng hôm ấy. Đưa tên lửa vào đánh B52, bây giờ B52 dội bom xuống đầu nhân dân, mình không còn gì để đánh, chỉ giương mắt nhìn. Còn gì cay đắng hơn! Xung quanh tôi bao trùm một không khí im lặng khác thường, có đồng chí khóc thút thít.

Mấy hôm sau B52 lại dội bom, rồi hôm sau nữa. Ngày nào chúng cũng bay ngạo nghễ giữa bầu trời Vĩnh Linh. Đây là giai đoạn căng thẳng nhất của trung đoàn trong những năm chiến đấu ở Vĩnh Linh. Một vài người không hiểu cho nỗi khổ của chúng tôi, họ nói cạnh nới khóe, tưởng chúng tôi dát, sợ B52 không dám đánh. Một đồng chí cán bộ ra họp ở Hà Nội về nói : "Ôi dào ngoài quân chủng họ bảo chúng mình là trung đoàn hai ba phá". Thực ra thì quân chủng chẳng bao giờ nhận định như vậy. Không biết thế nào mà chuyện đó lọt ra ngoài, đám chiến sĩ trẻ "sáng tác" thêm "hai ba túm" rồi "hai ba chán". Chỉ là chuyện đùa tếu nhưng trong hoàn cảnh đó, những câu nói vô tình ấy làm tâm trạng chúng tôi càng thêm bối rối.

Một thời gian dài trung đoàn không có chính ủy. Khi anh Bích đi bệnh viện có quyết định anh Thế Bưu về thay. Nhưng chờ mãi, chỉ có giấy chứ không có người, về sau lại có quyết định cử anh Trương Công Ngư. Anh đi được nửa đường, bị thương phải vào nằm bệnh viện. Giữa tháng tám tôi đi Quân khu họp, gặp anh Ngư vừa ra viện. Tôi rủ anh ra họp rồi về một thể. Đến Cự Nẫm bị trúng một quả rốc- két, cả hai chúng tôi đều bị thương phải vào nằm bệnh viện.

Vài hôm sau có tin hai tiểu đoàn 84 và 82 vào đến Vĩnh Linh.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #71 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2009, 04:31:03 pm »

32
DIỆT PHÁO ĐÀI BAY B52

Là máy bay ném bom hạng nặng trang bị cho lực lượng không quân chiến lược Mỹ, B52 có sải cánh dài 56,40 mét (gấp 5 lần F105D), thân dài 47,50 mét, được trang bị tám động cơ phản lực. Tốc độ lớn nhất : 1.050 km/giờ, thường bay với tốc độ 896 km/giờ. Độ cao lớn nhất : 16.000 mét, bay xa nhất 18.000 km, thời gian hoạt động 18 tiếng đồng hồ. Có khả năng tiếp dầu trên không. Trong chiến tranh xâm lược Việt Nam, Mỹ dùng máy bay B52 lần đầu tiên ở Hố Bò (Biên Hòa cũ) vào tháng 2-1965. Ngày 12-4-1966 lần đầu tiên B52 đánh ra miền Bắc (ở đèo Mụ Giạ, miền Tây Quảng Bình). Mỗi chuyến ném bom của một chiếc B 52 mất vừa đúng 1 triệu đô-la, ngang giá mua một máy bay F100. Bộ trưởng Bộ quốc phòng Mỹ Mắc Na- ma-ra từng đặt câu hỏi: "Thí nghiệm một triệu đô-la mỗi cuộc oanh tạc bằng B52, liệu chúng ta có thể thực hiện được những gì?”.

Tự ông ta trả lời: "Phá hủy kiểu này rất tốn kém nhưng không còn cách nào khác".

Dưới đây là đoạn trích một bài báo đăng trên tạp chí “Không lực Mỹ” (US Air Force) :

“Ngày 16-4-1952, khi chiếc máy bay mẫu YB-52 của hãng Boing cất cánh bay thử lần đầu tiên từ sân bay Oa- sinh-tơn không ai có thể nhìn trước được rằng sau đó hai mươi năm, máy bay ném bom chiến lược khổng lồ tám động cơ phản lực ấy lại đánh gẫy xương sống cuộc xâm lăng của cộng sản tại Nam Việt Nam bằng những chuỗi bom sắt. Lực lượng B 52 đã làm nghiêng hẳn cán cân, cung cấp cho phía đồng minh một sức mạnh không gì thay thế nổi. Một tốp bay ba chiếc B52 có thể tiêu diệt hoàn toàn một “ổ mục tiêu”. Muốn có cùng một hiệu quả như vậy, phải huy động từ 30 đến 90 máy bay cường kích và tiêm kích, trên thực tế, không thể nào tập trung một lực lượng máy bay đông như thế trên một diện tích hai kilômét vuông và khoảng thời gian dưới một phút...”.

*
*    *

Anh Nguyễn Huy, nguyên là trung đoàn phó trung đoàn 238 kể về đánh tiêu diệt chiếc B 52 đầu tiên trên miền Bắc.

Tháng 8-1967, anh Đặng Tính, chính ủy quân chủng phòng không không quân vào nằm lì trên xe với chúng tôi một tuần lễ. Sau đó, đến lượt anh Hoàng Khánh, phó tư lệnh binh chủng tên lửa vào. Các anh không nói rõ lắm nhưng cứ trong “ý tứ mà suy” chúng tôi hiểu rằng cấp trên dự đoán đến một lúc nào đó, địch có thể sẽ dùng B 52 đánh ra phía bắc. Vì thế, bắn rơi một chiếc B 52 lúc này là việc có tầm quan trọng chiến lược.
Cùng thời gian này Mỹ mở một chiến dịch đánh phá Vĩnh Linh rất ồ ạt, chúng tôi thưởng gọi là "trận càn quét bằng không quân". Chúng chia đất Vĩnh Linh ra thành các ô cho hàng trăm máy bay xuất kích, đánh lần lượt hết ô này đến ô khác. Cả khu vực núi phía tây không còn một chỗ nào không có hố bom. Sở chỉ huy chúng tôi cũng bị đánh tan nát. Anh Hoàng Khánh từ Hà Nội vào, vừa bước qua cửa hầm, một loạt bom nổ xung quanh, đất trùm lên nóc hầm. Anh hỏi :

- Thế nào các bạn, đi hay ở?

Tôi trả lời :

- Đi đâu nữa hả anh, đất Vĩnh Linh thì đâu chả thế này.

Hai tiểu đoàn 84 và 82 vào. Chỉ nguyên việc tìm chỗ cho tên lửa đặt chân đã khó. Tôi và anh Nhuận, phó chính ủy đến gặp Bộ chỉ huy quân sự địa phương. Vừa lò dò vào đến cửa hầm, đồng chí gì đó độp luôn cho một câu :

- Các cậu làm ăn thế quái nào ấy, B 52 đánh ầm ầm, tên lửa cứ im thin thít.

Hai anh em lặng người đi, một lúc sau anh Nhuận nói, vẫn cười nhưng giọng nói nghe như nghẹn ngào :

- Nếu mà chết được thì chúng tớ đã chết quách đi cho rồi.

Ngồi uống nước, nói hết đầu đuôi, các anh trong bộ chỉ huy bây giờ mới biết rõ tình cảnh chúng tôi. Anh Đưởm hỏi :

- Có cần gì không, mình bảo hậu cần xẻ cho các cậu một ít.

- Cơm gạo khi nào cần chúng tôi sẽ cắp rá đến các anh. Trước mắt chỉ nhờ các anh chỗ đứng - Tôi nói.

- Chỗ nào thì các ông chấm đi, chúng tôi sẽ huy động dân quân đào hầm giúp.

Tôi nhằm Rú Ma, một vùng đồi có cây lúp xúp thuộc xã Vĩnh Nam.

Anh Đưởm cười :

- Thế thì chẳng khác gì các cậu kê tên lửa lên lưng chúng mình mà bắn, nhưng... không còn chỗ nào tốt hơn à? Vậy cứ đến, chúng mình sẽ liệu.

Trên đường về, anh Nhuận bảo tôi :

- Đã vào đến đất này thì phải có gan, ta cứ ở ngay trên bãi bom ấy.

- Có khi thế mà lại hay đấy, thằng địch không ngờ. - Tôi nói.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #72 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2009, 04:32:38 pm »

*
*    *

84 kéo khí tài và đạn vào trận địa tối hôm trước thì sáng hôm sau bị đánh liền. Hai loạt bom tọa độ ba chục quả trùm lên trận địa. Một quả bom chui vào chân bệ phóng nhưng không nổ. Đuôi bom làm bệ kênh lên, nghiêng sang một bên. Cũng còn may là đài, đạn và máy nổ không việc gì.

Lại hì hục kéo khí tài đi sang trận địa khác. Đường cũ bị bom đào hết, phải mở một lối khác. Dưới trời mưa tầm tã cán bộ, chiến sĩ cởi trần trùng trục, đào đất, san hố bom, lát gỗ chống lầy.

Kéo hết mọi thứ đi rồi, đến cái bệ có quả bom nằm dưới chân mới gay. Không ai hiểu nó là bom gì, bom lép hay bom nổ chậm? Nếu là bom nổ chậm thì cho xe xích vào, chấn động mạnh chắc chắn nó sẽ nổ. Phùng Hải xin vào kéo. Anh chiến sĩ lái xe trẻ này có mặt ở trung đoàn ngay từ khi mới thành lập, xe anh đã đi an toàn 7.000 cây số trên đất Quân khu Bốn rực lửa. Trong đêm tối và mưa giăng mù mịt, chiếc xe xích rú máy ầm ầm, tiến về phía bệ phóng. Hải cho xe dừng lại cách bệ phóng chừng mười mét, anh phẩy tay bảo hai đồng chí Thành và Hinh, tiểu đoàn trưởng, tiểu đoàn phó lùi ra : "Nếu có việc gì một mình tôi hy sinh thôi" - Hải nói to. Anh cho xe tiến lên từ từ rồi dừng lại, móc bệ vào xe, kiểm tra cẩn thận và trở lại buồng lái... Một vài giây quyết định... chiếc xe rú máy... quay xích, chồm lên phía trước... bệ phóng rời khỏi công sự hàng trăm người cùng một lúc thở phào.

Đầu tháng Chín, tiểu đoàn 84 triển khai trận địa đánh B52 tại ngã ba Cờ Đỏ. Mười một giờ đêm được thông báo có B52 vào. Tiểu đoàn trưởng Thành ra lệnh mở máy. Vừa phát sóng đã bắt được mục tiêu ngay, tín hiệu to, rõ nhưng cự ly quá lớn, không bắn được. Trung đoàn lại thông báo hướng nam có B52. Thành cho quay ra-đa về phía đó. Tín hiệu nổi rõ trên màn hiện sóng, nhỏ hơn tín hiệu B52 và chỉ một chiếc. Thành chột dạ : “Khéo không lại bắt nhầm phải thằng F”. Anh hạ lệnh quay ăng-ten. Nhưng không kịp. Một tiếng nổ như sấm sét cắt ngang tiếng hô của anh. Quả rốc-két địch trúng phía đầu ca-bin, phá toang trần và quét một vệt theo chiều dọc. Năm đồng chí trong xe bị thương.

Đau đớn vô cùng nhưng phải nghiến răng lại mà chiến đấu. Còn cách nào khác hơn nữa! Trung đoàn ra lệnh cho tiểu đoàn 82 đang giấu quân ở khu đông, kéo khí tài, đạn sang khu tây để triển khai chiến đấu ngay. Đêm mồng bốn, 82 lên đường. Tôi, anh Cảnh, anh Nhuận thức để theo dõi cuộc hành quân. Mười giờ, chiếc xe xích kéo xe ăng-ten đang lò dò lên dốc "Sáu độ" ở gần Hồ Xá thì một loạt bom tọa độ chụp xuống...
Đảng ủy trung đoàn ngồi họp trong khi bom B 52 nổ rung chuyển đất. Mưa. Bầu trời xám xịt. Những cặp mắt trũng sâu vì thiếu ngủ cũng đầy vẻ u ám. Khoảng nửa đêm, tôi nằm cố ngủ nhưng vẫn không ngủ được, hai tay kê dưới đầu nghĩ ngợi miên man. Chợt thấy anh Cảnh mò sang.

- Ta ghép hai tiểu đoàn lại làm một được không? - Anh Cảnh nói.

Tôi đốt đèn lên. Còn một dúm cà-phê bột, tôi gói vào mùi xoa, "ninh" trong chiếc ca quân dụng. Anh Cảnh gật gù khen :

- A, ngon nhỉ, kém gì Thủy Tạ đâu!

Hai anh em nhấm nháp cà-phê và bàn. Thấy không đến nỗi tuyệt vọng. Chưa bắn được B52 nhưng qui luật hoạt động của nó, thủ đoạn của nó thì đã biết rồi. Những vấn đề hóc búa như khử nhiễu tránh Sơ-rai-cơ cũng đã giải quyết được một phần...

Sáng hôm sau tôi xuống 82, anh Cảnh xuống 84. Chiều hôm ấy chúng tôi về bàn với anh Nhuận và quyết định : xóc hai tiểu đoàn lại làm một, tiếp tục đánh B52.

*
*    *

Một tuần lễ làm việc cật lực để chuẩn bị cho trận đánh. Lái xe của hai tiểu đoàn bị ốm gần hết. Phùng Hải cùng với hai đồng chí còn lại gánh vác toàn bộ công việc của trung đội. Đại đội phó Nguyễn Chỉnh đang lên cơn sốt rét, tung chăn ngồi dậy đi chữa máy. Tay anh cầm mỏ hàn run lật bật. Đồng chí Viết ngồi lì trên xe, đến bữa anh nuôi mang tới cho bát cháo hay cốc sữa, lúc chữa xong khí tài cũng là lúc các đồng chí quân y đưa xe đến chở anh đi bệnh viện. Chúng tôi cũng không ở sở chỉ huy nữa, kéo tất xuống tiểu đoàn.
Đêm 14 tháng 9-1967, tiểu đoàn hỗn hợp 84 và 82 do đồng chí Phiên chỉ huy kéo đạn, khí tài vào trận địa ở nông trường Quyết Thắng. Như để thử thách thêm ý chí người chiến sĩ tên lửa, trời bỗng đổ xuống những trận mưa dữ dội chưa từng thấy. Rừng núi chìm trong tiếng mưa dội ào ào trời đất tối mù mịt. Các khe lạch biến thành suối, suối biến thành thác dữ cuộn ầm ầm. Nước tràn vào công sự lên mấp mé sàn xe. Trung đoàn phó, phó chính ủy, phái viên Mặt trận đều lên trận địa tát nước. Sĩ quan điều khiển và trắc thủ đáng lẽ lúc này nghỉ ngơi để dành sức cho chiến đấu cũng phải thức, người vớ chiếc xoong đựng cơm, người cởi mũ sắt, tát ì oạp suốt đêm. Chân tay dầm nước trắng bợt ra. Về sau một đồng chí trắc thủ tâm sự với tôi : “Hôm ấy nói thật với anh, tôi mệt quá chỉ muốn nằm xuống nhắm mắt một lát. Nhưng thấy các anh đã có tuổi mà các anh không ngủ, cứ thức để tát nước, tôi lại phải bò dậy”. Một trong những chiếc gàu tát nước hôm đó nay vẫn còn được giữ trong phòng truyền thống Trung đoàn.

Sáng 15, anh nuôi gánh cơm lên trận địa, đứng nhìn đồng đội rơm rớm nước mắt. Mở tấm vải nhựa ra : chỉ một chậu cơm, một đĩa muối và rổ rau má. Mưa to quá, tiếp phẩm chạy thức ăn mắc kẹt bên kia suối. Một trắc thủ vỗ vai anh nuôi : "Không việc gì, ăn cơm với rau má đánh B 52 Mỹ mới là tên lửa Việt Nam". Câu nói ấy trong hoàn cảnh bình thường nghe nó sáo, lúc này sao mà cảm động đến thế!

Ngày 16 khí tài lại hỏng. Nguyễn Chỉnh gượng gậy, húp bát cháo rồi khoác áo mưa, chống gậy đi chữa máy. Anh phải chống hai tay để trèo lên ca-bin.

Bảy giờ sáng ngày 17, cấp trên thông báo có B 52 vào hướng Quảng Trị. Mưa không ngớt, lại thêm gió nổi ào ào như một cơn bão nhỏ. Sáu giờ, bộ đội ăn mỗi người một nắm cơm nguội chấm muối lạc. Sáu giờ ba mươi phút lệnh báo động sẵn sàng chiến đấu. Tiểu đoàn trưởng, sĩ quan điều khiển, trắc thủ ngồi vào vị trí trong xe chỉ huy. Tôi bước lên xe định nói mấy lời động viên anh em nhưng nghĩ đi nghĩ lại thấy không cần thiết đành đứng yên nhìn các đồng chí chuẩn bị. Họ sống như thế, chiến đấu như thế, còn nói gì hơn nữa .
Người sĩ quan điều khiển, người sẽ bấm nút phóng đạn diệt pháo đài bay B 52 hôm nay là Lê Hỷ, một kỹ sư có trình độ, khá linh hoạt, thông minh và từng trải. Anh đã từng điều khiển tên lửa diệt năm máy bay địch và mấy lần gạt tên lửa Sơ-rai-cơ ra ngoài trận địa. Hỷ cũng vừa ốm dậy, gầy, hai gò má nhọn hằn lên, làm khuôn mặt trở nên khắc khổ. Bên cạnh anh là Nguyễn Văn Ngận, trắc thủ cự ly. Trần Hồng Thính, trắc thủ phương vị, và Lê Hữu Ngoạn, trắc thủ góc tà, những khuôn mặt trẻ, thông minh, trưởng thành trong nhà trường xã hội chủ nghĩa. Mười lăm giờ, đồng chí Phiên ra lệnh báo động cấp một và kiểm tra lại khí tài một lần chót. Tất cả các bộ phận đều hoạt động tốt.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #73 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2009, 04:34:26 pm »

18 giờ 30 phút đài dẫn đường bắt gọn được tín hiệu B 52. Trên màn ảnh hiện sóng nhìn vòng trước mắt tiểu đoàn trưởng, lẫn trong các giải nhiễu trắng xóa, chập chờn, những vệt sáng lớn, dài gấp đôi tín hiệu máy bay thường xếp theo đội hình bậc thang nổi lên lúc đậm, lúc nhạt.

- Mở máy! - Đồng chí Phiên ra lệnh.

Năm mươi cây số... bốn mươi lăm cây số... Trong lồng ngực tôi trái tim đập mỗi lúc một nhanh và rộn rã hơn. Tất cả chỉ còn trong khoảnh khắc. Bao mồ hôi, nước mắt, và máu của chiến sĩ, nhân dân... Những hy sinh, mất mát đã không phải là vô ích. Tín hiệu B 52 đang hiện lên trước mắt các trắc thủ, bất chấp mọi thủ đoạn nham hiểm của chúng hòng lẩn tránh, ẩn nấp. Qua hơn một năm vật lộn với địch trên chiến trường này, trung đoàn chúng tôi đã lớn lên vượt bậc. Tuy vẫn còn lo lắng, tôi tin là trận này nhất định sẽ đánh thắng.

Các trắc thủ lần lượt báo cáo cự ly, phương vị, góc tà. Tiếng Lê Hỷ đanh gọn.

- Mục tiêu ổn định.

Tiểu đoàn trưởng Phiên khẽ nhíu mày. Chỉ một vài tích tắc nữa thôi,... Thời cơ tiêu diệt địch đang đến, giây phút trọng đại của đời anh cũng đang đến... Anh mắm môi lại rồi đột nhiên trong khoảng không im lặng một cách căng thẳng và trọng thể của ca-bin chỉ huy, bật lên những âm thanh rắn rỏi chắc nịch.

- Cự ly... phương vị... độ cao... Quả một, phóng!

Ngón tay Lê Hỷ ấn nhẹ. Quả đạn đầu tiên phụt ra một luồng lửa đỏ rực lao vút vào khoảng trời vần vụ mây mưa. Mười giây sau, quả thứ hai rời bệ phóng. Một ánh chớp sáng lóe trên màn hiện sóng, báo hiệu chiếc máy bay B 52 đầu tiên bị tiêu diệt.

Lúc ấy là 17 giờ năm phút ngày 17  tháng Chín năm 1967

*
*    *

Ngày 20 tháng Chín chúng tôi nhận được thư khen của Bác Hồ. Mấy hôm sau Đảng ủy và ủy ban Hành chính khu vực Vĩnh Linh tổ chức một buổi họp mừng công ở Vĩnh Hòa. Không lễ nghi rườm rà, anh Trần Đồng nới mấy lời rồi bỗng quay lại ôm lấy anh Hội, rơm rớm nước mắt. Anh Hội cũng hết sức cảm động, nói ấp a ấp úng :

- Trên đường đi từ miền tây về, mấy anh em chúng tôi nồi với nhau : "chúng mình hôm nay về dự mừng công là con về nhà mẹ". Đến đây gặp các anh các chị, thấy quả đúng như vậy.

Anh Hoàng Đưởm cũng đứng lên nói mấy lời. Khi đọc câu thơ của Bác Hồ : “Đánh cho giặc Mỹ tan tành, Năm châu khen ngợi Vĩnh Linh anh hùng” có lẽ vì vui quá anh đọc nhầm ra là Vĩnh Linh ca ngợi Vĩnh Linh anh hùng. Thế là mọi người vỗ tay ôm lấy nhau cười ngặt nghẽo.

Bữa ăn liên hoan rất đơn giản, chỉ mỗi người một nắm xôi và một miếng thịt lợn, y như cỗ “việc làng” ngày xưa. Trước khi ăn anh Vũ Kỳ Lân nói :

- Đã là "con về nhà mẹ" thì ăn xong phải có phần đưa về. Hôm nay ủy ban cho nắm xôi to và miếng thịt cũng khá đây. Tôi đề nghị hai người ăn một suất thôi, còn nửa để các anh 238 đưa về cho anh em ở nhà. Không đủ cho cả trung đoàn nhưng cũng gọi là... chút quà của đảng ủy, ủy ban.

Nói xong, anh Lân chạy ra ngoài cửa hầm chặt một tàu lá chuối để gói xôi, thịt. Anh Hội phấn khởi quá, đứng lên hứa :

- Hai chiếc B 52 vừa rồi đánh trong điều kiện mưa to gió lớn, đồng bào không ai thấy. Chúng tôi sẽ cố gắng đánh những trận giữa ban ngày thật đẹp.

Trên đường về, tôi hỏi anh Hội :

- Ông hứa thế rồi không đánh được thì sao?

Anh Hội cười ha hả :

- Thì tớ hứa là sẽ cố gắng chứ tớ có nói chắc chắn là đánh được đâu.

Ngày 30 tháng mười vào lúc 10 giờ sáng, trung đoàn chúng tôi lại bắn rơi một pháo đài bay B 52. Hôm đó nắng đẹp và bầu trời rất xanh. Không những đồng bào Vĩnh Linh mà cả đến đồng bào Quảng Trị, các chiến sĩ Cồn Cỏ cũng trông thấy máy bay B 52 bốc cháy.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #74 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2009, 04:36:25 pm »

Phần thứ sáu
VƯỢT SÔNG BẾN HẢI


33
TIẾN RA PHÍA TRƯỚC

Bằng ngón tay trỏ xương xẩu, anh Hoàng Đưởm chọc một đường thẳng trên bản đồ suốt từ sông Bến Hải đến sông Cửa Việt sau đó, cùng với ngón tay ấy, anh chụp xuống, đè chặt lấy khúc sông Cửa Việt vẽ trên giấy.

- Chọc thủng vào đây - anh Đưởm nói, bịt chặt khúc sông này, không để bất cứ một chiếc tàu tiếp tế nào của Mỹ đi từ Cửa Việt đến Đông Hà.

Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 47 Trần Thà im lặng, anh đưa ngón tay gãi gãi trên má như định phủi một cái gì dính vào đó. Chính trị viên Trần Thanh Điệu chống hai tay xuống mặt bàn, hơi ưỡn về phía trước. Bốn con mắt nhìn dán vào bản đồ song tôi biết, họ đang nghĩ đến thực địa. Từ sông Bến Hải đến sông Cửa Việt, ngót hai chục cây số không thể chọc một cách dễ dàng như lướt ngón tay trên bản đồ. Trước hết phải vượt "hành lang lửa" dọc sông Bến Hải. Sau đó là tuyến phòng ngư dày đặc của địch : điểm cao 31, Nhĩ Trung, Nhĩ Hạ, Lâm Xuân, Hoàng Hà, Mai Xá... là đối mặt với lính thủy đánh bộ, với hải quân, với “giang thuyền Mỹ, ngụy”. Bịt sông Cửa Việt, có nghĩa là thít chặt cổ họng của hàng vạn quân Mỹ ở Đông Hà, Cam Lộ, Khe Sanh, chúng không thể ngồi yên, chúng sẽ phải quẫy mạnh.

- Bịt chừng bao lâu, thủ trưởng? - Trần Thà hỏi.

Anh Đưởm xòe cả hai bàn tay :

- Mười ngày, chỉ mười ngày là đạt yêu cầu.

Anh nhìn Trần Thà rồi lại nhìn sang Thanh Điệu, nói tiếp :

- Dĩ nhiên nếu bịt được lâu hơn thì càng tốt.

Thanh Điệu ngước lên nhìn anh Đưởm và tôi :

- Đề nghị các anh cho biết tình hình nhân dân ở vùng này.

- Nhân dân à - anh Đưởm gãi đầu, nói chung thì nhân dân ở đâu cũng tốt, cũng hướng về cách mạng, nhưng... cơ sở của ta ở đây còn yếu, địch vẫn coi vùng này thuộc loại A, tức là... an toàn đối với chúng nó.

Im lặng. Không ai nói, cũng không nhìn nhau, bốn bộ mặt cùng một vẻ nghiêm trang, đắm đuối. Trong cuộc chiến đấu ta vẫn thường gặp những khoảnh khắc yên lặng thế này đây. Không cần nói, chỉ đọc trong mắt nhau, đủ thấy trận đánh sắp tới sẽ khó khăn, ác liệt và cái gánh trách nhiệm đang chia nhau nặng đến mức nào. Tôi nhớ lại nét mặt anh Đàm Quang Trung và anh Nguyễn Xuân Hoàng hôm các anh giao nhiệm vụ cho tôi và anh Đưởm ở sở chỉ huy Mặt trận B5. Cũng đanh lại, cũng nghiêm trang, khác hẳn anh Trung, anh Hoàng lúc bình thường. “Mũi chặn sông này hết sức quan trọng” - anh Quang Trung nói chậm, dằn từng tiếng. "Nó sẽ góp phần quyết định vào thắng lợi của toàn mặt trận". Chúng tôi đã tính rồi, có thể trong mười ngày ấy 47 sẽ hy sinh một nửa quân số thậm chí hai phần ba. Đề nghị các anh nói rõ với chiến sĩ điều đó và để họ tự xác định lấy thái độ.

Tôi ngước nhìn Trần Thà, bất giác thấy yêu mến anh, thương anh một cách lạ lùng. Một cán bộ hàng chục năm rồi chưa biết đến nghỉ ngơi, lúc nào cũng lận đận, cũng đứng ở mũi nhọn của cuộc chiến đấu. Năm 1965, khi đảo Cồn Cỏ bị địch đánh phá dữ dội nhất, anh được cử ra đấy làm nhiệm vụ chỉ huy. Anh vừa ở đảo về tháng trước. Đáng lẽ phải có thì giờ để anh nghỉ ngơi nhưng chúng tôi không còn biết sắp xếp vào lúc nào nữa. Đặt chân lên đất liền hôm trước, hôm sau đi nhận nhiệm vụ tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 47, đơn vị bộ binh chủ công của Vĩnh Linh Và giờ đây, anh và đồng đội lại sắp lao vào một trận đánh chắc chắn còn ác liệt hơn Cồn Cỏ rất nhiều. Vợ Thà, chị Thu làm công nhân nông trường tận Quỳ Hợp (Nghệ An), gần biên giới Việt Lào. Vừa qua nhân tiện đi họp ở Hà Nội về tôi có ghé thăm. Một buổi chiều mùa đông mưa núi giăng mù mịt, ba mẹ con đang lúi húi nấu ăn trong bếp. Chị đứng sững sờ nhìn tôi một hồi lâu mới nói được: "Ba các cháu có gầy lắm không hả bác.?... "

Trần Thà đứng dậy :

- Báo cáo các thủ trưởng, chúng tôi xin chấp hành mệnh lệnh.

Tôi nắm chặt tay anh và Điệu :

- Cố gắng nhét Trận đánh sẽ hết sức ác liệt, mong rằng các đồng chí luôn luôn giữ vững vai trò chỉ huy và lãnh đạo của mình.

Tôi hiểu rằng những lời của tôi không đầy đủ. Nhưng biết nói gì hơn nữa? Cuộc đời, tháng năm chiến đấu của những con người đang đứng trước mặt tôi cao đẹp gấp nghìn lên so với bất cứ từ ngữ tốt đẹp nào tôi có thể chọn được.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #75 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2009, 04:38:46 pm »

*
*    *

Ngày 18 tháng Giêng 1968.

Trong lúc đại quân của Mặt trận đường Chín từ nhiều hướng đổ vào thung lũng Khe Sanh thì ở phía đông, bộ đội, dân quân tự vệ Vĩnh Linh được lệnh vượt sông Bến Hải cùng với lực lượng vũ trang và đồng bào Quảng Trị tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân. Bốn giờ chiều, giữa lúc mọi người đang hối hả, tất bật sửa soạn lên đường, anh M chạy đến tìm tôi. Vẻ mặt nghiêm trọng, anh nhìn trước nhìn sau rồi hạ thấp giọng, nói nhỏ :

- Tôi muốn báo cáo với anh một việc...

Tôi chột dạ, vội bỏ dở mấy thứ đồ đạc đang xếp, ngẩng lên.

- Báo cáo anh cậu D...

- Làm sao?

- Cậu D với cô X...

Anh M kể một thôi một hồi về những chuyện nhăng nhít giữa anh D.và cô. X. Sốt ruột quá, tôi phải lên tiếng cắt đứt câu chuyện.

- Thôi được rồi, tôi hiểu rồi.

Anh M hơi phật ý, đứng im lặng một lúc rồi nói tiếp :

- Tôi đề nghị anh để cậu D ở nhà để kiểm thảo đã, vấn đề này nghiêm trọng lắm.

- Không được, phải để cậu ta đi chiến đấu chứ.

- Đi chiến đấu ạ !...

Anh M có vẻ chưa thông nhưng không còn đủ thì giờ để nói thêm nữa, tôi vỗ vai anh :

- Thôi được mình chịu trách nhiệm về vấn đề này, cứ để cậu ta đi chiến đấu đã, sau này về sẽ giải quyết.
Điều rắc rối ấy làm phân tán tâm trí tôi mất một lúc. Kể cũng hơi bực. Tại sao đang sống giữa dòng thác vĩ đại của đất nước trong giờ phút lịch sử này mà có người vẫn không thắng nổi những dục vọng tầm thường. Đáng buồn hơn, anh D lại là một cán bộ có năng lực và dũng cảm. Nhưng rồi, tôi cố quên đi và tôi đã quên được. Chụp mũ sắt lên đầu, tôi khoác xà cột vào vai, bước ra khỏi hầm. Mặt trời sắp lặn. vài vệt nắng cuối cùng còn lưu lại trên nóc hầm, chập chờn, lay động như nhảy múa. Đứng ở cửa hầm bên kia, anh Đưởm đang nói chuyện với anh Phùng Bỉnh. Cả hai người cũng đều đã đội mũ, khoác súng sửa soạn lên đường. Trông các anh như trẻ hẳn ra. Từ một nhánh hào phía tay trái, cháu Tẩm con anh Lẹ lon ton chạy tới :

- Bác Lân đi mô cho Tẩm đi với. -Cháu nói, vẻ mặt nũng nịu.

Cơ quan tôi đóng trong khu vườn nhà anh Lẹ. Hầm tôi và hầm anh chỉ cách nhau vài chục mét. Ngày ngày cháu Tẩm vẫn sang chơi, có khi cháu ngủ lại cả đêm. Những buổi chiều rỗi rãi, ít bom pháo, tôi vẫn dắt cháu dạo chơi quanh quẩn trong đường hào, kể chuyện cổ tích cho cháu nghe. Tôi bế cháu lên và thơm vào bầu má phinh phính mát rượi của nó :

- Tẩm ở nhà để bác đi đánh giặc.

- Đi đánh giặc là đi mô? - Cháu hỏi, hai con mắt nhìn tôi đen láy như hai hạt nhãn.

Cháu mới lên bốn, đã hiểu thế nào là đánh giặc. Tôi muốn nói với cháu rằng : “Đi đánh giặc là đi giết những đứa đã có lần ném bom vào hầm cháu, suýt làm cháu chết ngạt đấy, cháu còn nhớ không? Là để cho cháu và các bạn của cháu sau này lớn lên chỉ còn biết có học hành, ca hát và lao động sáng tạo”. Bà cụ Lẹ từ trong hầm đi ra. “Tẩm ở nhà với mệ cho bác đi công việc”. Bà cụ vừa nói vừa đỡ lấy cháu trong tay tôi.

- Bác đi cho được mạnh giỏi.

Bà cụ nói, giọng khẽ khàng, hơi run run. Và trong đôi mắt ngước nhìn tôi, tôi thấy có một cái gì khác lạ, chưa từng có. Dặn dò, cầu chúc và nỗi lo lắng..., tất cả hòa lẫn trong cái nhìn ấy. Chắc chắn không ai trong chúng tôi nói với bà cụ về nhiệm vụ quan trọng sắp tới. Nhưng qua ánh mắt, tôi cảm thấy hình như bà cụ đã biết.

- Con đi mạ nhé.

Tôi chào bà cụ và quay đi, cố bước thật nhanh cho kịp anh Đưởm lúc ấy đã ra đến đầu xóm. Đôi mắt bà cụ cứ hiện lên, lấp lánh như hai vì sao trong khoảng không gian phía trước.

Tôi bước đi, lòng nghĩ miên man đến những bà mẹ. Giờ này... có biết bao bà mẹ trên đất Vĩnh Linh đang đứng trong chiến hào đưa cặp mắt tự hào chen lẫn nỗi lo âu nhìn theo đàn con ra trận. Và đôi mắt mẹ tôi từ những năm tháng xa xưa chợt hiện về...

Một chiều tháng Chín năm 1952, tôi đang hối hả sửa soạn cùng với một đoàn cán bộ Bộ tư lệnh quân khu Bốn đi vào vùng địch hậu Quảng Trị. Bỗng nhận được tin mẹ ốm nặng ở chợ Rộ (Nghệ An) . Sông Lam vào giữa mùa lũ lớn, nước bạc mênh mông, chảy cuồn cuộn. Tôi về đến nhà, thấy thần sắc mẹ kém lắm rồi. Những năm tháng long đong chạy giặc từ Hà Nội lên Việt Bắc rồi từ Việt Bắc vào khu Tư đã rút kiệt của mẹ tôi chút sinh lực cuối cùng. Mẹ nằm dán xuống giường, không cử động, chỉ có cặp mắt nhìn tôi tuy mệt mỏi nhưng vẫn âu yếm, hiền dịu như ngày xưa. Mẹ cầm tay tôi, nói : "Đẻ chưa chết đâu, con cứ đi đánh giặc đi". Ngừng một lúc, mẹ lại nói : "Nếu không gặp đẻ nữa, khi nào hết giặc, con cho đẻ về với thầy con ở cánh đồng làng ta...". Tôi ngồi với mẹ chừng nửa tiếng rồi đành gạt nước mắt ra đi. Chân bước mà cảm thấy đầu óc mình tê buốt. Sau này vợ tôi viết thư cho biết tôi ra khỏi nhà chưa được nửa tiếng đồng hồ, nghĩa là đang lênh đênh giữa sông Lam, ở nhà mẹ tôi tắt thở.

Bao nhiêu năm rồi, những bà mẹ Việt Nam vẫn chưa có một lúc nào thảnh thơi để hưởng trọn vẹn niềm vui của người mẹ bên cạnh đứa con...
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #76 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2009, 04:40:26 pm »

*
*    *

Từ các đường hào chi chít, ngang dọc khắp Vĩnh Linh, bộ đội, dân quân như những dòng thác lũ chảy ào ạt về phía trước. "Đi thưa ra... Đi thưa ra!". Tiếng những cán bộ chỉ huy gắt gỏng. Dòng người chùng lại, giãn ra được một lúc rồi lại xít vào, tựa như có một sức mạnh vô hình nào đó từ phía sau đang đẩy họ bước nhanh hơn. Lá ngụy trang lào xào lẫn tiếng cười, tiếng nói chuyện khe khẽ, rì rà rì rầm, tiếng vũ khí va chạm nhau lách cách. Đứng trên một gò đất, tôi lặng lẽ nhìn đoàn quân đi trong hoàng hôn. Mặt trời tắt, nhưng hồi quang rực rỡ từ phía tây rọi tới làm những khẩu súng trên vai chiến sĩ sáng lên lấp lóa. Nhiều bộ mặt quen thuộc : Túy của đại đội Hai, Thành, dũng sĩ diệt Mỹ xuất sắc của đại đội 24, Ninh, Diệm và tập thể tiểu đội Tám của đại đội Lê Hồng Phong, từng diệt gọn một đại đội chủ lực ngụy ở Lại An ngày 11- 7- 1967... Một người cao lớn tách khỏi hàng quân, tiến về phía tôi : Trần Thà. Bàn tay to, rắn như sắt của anh bóp chặt bàn tay tôi.

- Tôi vừa nhận được thư nhà tôi và các cháu.

- Bình yên cả chứ?

- Vâng, chỉ nhớ "ba Thà" thôi... Cô ấy gửi lời hỏi thăm anh.

Có tiếng một đồng chí chào tôi khe khẽ. Tôi nhận ra Ngọc Nhu và Hồ Thừa, hai phóng viên báo Quân đội nhân dân. Đi sau anh Thừa là đồng chí D, đầu hơi cúi, bước lặng lẽ. Có thể anh đang tránh cái nhìn của tôi. Trần Thà nói nhỏ :

- Cậu ấy buồn, chắc là hối hận.

- Nói với cậu ấy là cứ yên tâm mà chiến đấu - tôi bảo Thà. Đảng ủy và bộ chỉ huy vẫn đánh giá đúng thành tích đồng chí ấy. Không được vì chuyện đó mà ảnh hưởng đến ý chí chiến đấu.

- Tôi sẽ nói ngay bây giờ.

Thà bắt tay tôi lần nữa rồi chạy phóng lên, chiếc ba lô cắm đầy lá nhún nhảy trên lưng anh.

Tiểu đoàn 47 đi qua. Đến lượt các đơn vị súng cối, súng máy cao xạ, DKZ, B41, thủy lôi... Họ là những đại biểu ưu tú của lực lượng dân quân, tự vệ Vĩnh Linh có quân số và trang bị ngang với ba sư đoàn bộ binh chính qui. Đi cuối cùng là các tổ bắn tỉa. Trời đã tối mịt, chỉ còn nhận ra họ ở những khẩu súng trường dài một cách khác thường, trông như những con sào nhô lên khỏi vách hào. Đó là những chiến sĩ đánh giặc theo kiểu chiến tranh nhân dân. Họ bám làng, bám ruộng, chiến đấu và sản xuất trên quê hương, thỉnh thoảng sang bờ nam chiến đấu một thời gian. Với khẩu súng trường nòng dài có gắn máy ngắm, họ luồn vào tận sào huyệt giặc hay chẹn đường đi lại của chúng, rình bắn những tên ló ra khỏi công sự. Bọn Mỹ rất khiếp đội quân này. Họ chỉ làm ăn theo kiểu "cò con" như vậy nhưng hiệu suất chiến đấu rất cao. Có người như Võ Lý Tưởng ở Vĩnh Giang bắn 19 viên đạn diệt 18 tên Mỹ.

Tôi và mấy anh em ở cơ quan chính trị đi nối vào cuối hàng quân. Một cô gái bước chậm lại.

- Chào thủ trưởng.

- Cô Bưởi à?

- Dạ...

Bưởi là một chiến sĩ xuất sắc trong đội bắn tỉa của Vĩnh Tú. Có lần ở Cửa Việt cô bắn 12 viên đạn, diệt 11 tên Mỹ. Khuôn mặt Bưởi nhẹ nhõm, đôi mắt thông minh, miệng cười rất tươi.

- Thế nào, bà cụ cũng chịu cho con gái đi cơ à? - Tôi hỏi.

Bưởi cười rung rúc :

- Mạ ưng hung, mạ giơ cả hai tay thủ trưởng ạ.

- Rứa là mạ "hen-xấp" à? - Một anh chàng đi phía trước nói đùa làm những tiếng cười rộ lên.

Câu nói vô tình nhưng lại ngụ ý sâu xa. Mẹ Bưởi thương con nhưng rất khắt khe. Việc gì cụ đã không thích thì con cái đừng hòng mà ho he. Lần Bưởi sinh con, bà cụ bắt cô phải ở trong một căn hầm kín mít, chỉ được ăn cơm với muối rang, bắt kiêng cữ nhiều thứ rất vô lý. Anh Minh, chồng Bưởi khuyên mẹ không được đi phàn nàn với đồng chí Quách Sĩ Kha, phó chính ủy Quân khu Bốn. Anh Kha bảo : “Mày xoàng, để tao vào tao nói với bà cụ cho”. Nghe anh Kha nói bà cụ chỉ ậm ừ. Tiễn khách về xong, bà cụ quay lại con gái và con rể : “Ông nớ là tướng chỉ huy ngoài mặt trận còn trong gia đình ni tao là chỉ huy, tao vẽ chi bay phải nghe nấy, không được xớ rớ”.

Bưởi khoe :

- Bữa ni mạ tiến bộ hung. Lúc út đi mạ dặn đi dặn lại : "Đừng hấp tấp nghe út, bắn bung tao không biết chớ đi cấy đi cắt mi hấp tấp dữ..."

Những tiếng cuối cùng của cô gái dũng sĩ bị lấp đi trong tiếng pháo nổ ầm ầm...
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #77 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2009, 04:43:51 pm »

34
QUA ĐÒ TÙNG LUẬT

Một loạt pháo nổ. Tôi ngồi thụp xuống rất nhanh. Có thể động tác của tôi không nhanh bằng sức văng của mảnh đạn, nhưng chưa bao giờ tôi thấy mình phản ứng nhậy đến như vậy. Lại một loạt pháo nữa, lần này nghe như ở sát vách hào, khói xộc vào khét lẹt. Đồng chí Đạt đẩy tôi về phía trước. Một cái cửa hầm mở ra bên tay trái, ở trong có ánh đèn. "Vào đi, vào đi" nhiều người giục phía sau. Đây là hầm ngồi đợi trước khi qua đò. Tôi và Đạt chui vào “Giôn-xơn mần hung” - Đạt cười, nhe hàm răng trắng lóa. Trong hầm đã có mấy người, bộ đội và dân quân.

- Chào các đồng chí.

- Chào thủ trưởng ạ..

- Sao ngồi đông thế này?

- Dạ... kể thì cũng hơi đông nhưng... sắp qua sông rồi thủ trưởng ạ, ngồi tạm thôi mà.

Người vừa nói là một anh bộ đội rất trẻ, ôm cây súng B40 ngồi gần cửa hầm.

- Đồng chí quê ở đâu? - Tôi hỏi.

- Thái Bình ạ.

- Đất "ăn chơi" đấy thủ trưởng ạ - Một người ngồi phía sau tôi nói, giọng hóm hỉnh.

- Ăn chơi thế nào?

- Cậu ấy nói tào lao đấy thủ trưởng ạ - anh bộ đội quê Thái Bình nói.

Một người ngồi ở cửa hầm bên kia hỏi với sang :

- Thông ơi, còn tí "chất khói" nào không?

- Còn “thuốc chú bác” thôi - anh chàng vác B40 trả lời.

- Cũng được, làm tí cho thêm yêu đời.

"Thuốc chú bác" là tên bộ đội đặt cho loại thuốc lá tự trồng của đồng bào Vĩnh Linh. Hai tiếng "chú bác" thoạt nghe như đùa bỡn. Kỳ thực, với những ai đã ở Vĩnh Linh trong những năm chiến tranh, nó gợi một cái gì ấm áp, thân thuộc. "Cơm chú bác", “giường chú bác”, "phụ cấp chú bác". Bộ đội Vĩnh Linh là bộ đội “nửa A, nửa B” không được hưởng chế độ phụ cấp của chiến sĩ đi B. Nhưng họ sống với nhân dân, được nhân dân chăm bẫm, yêu mến. Anh em gọi đó là "phụ cấp chú bác" hay có khi là "bộ đội chú bác".

Anh bộ đội cầm B40 chìa gói thuốc về phía tôi :

- Mời thủ trưởng.

- Cám ơn, tôi không biết hút.

- Chắc thủ trưởng mới vào trong này.

- Vào lâu rồi chứ!

- Lâu rồi mà thủ trưởng vẫn cảm ơn à - Anh cười nói tiếp dạo mới vào tôi cũng hay nói câu cảm ơn. Có một hôm vào nhà ông cụ ở Vĩnh Chấp mượn con dao rựa. Thấy cụ đưa dao ra, tôi nói : “Cảm ơn bọ”. Thế là ông cụ rụt ngay lại và nói một cách cáu kỉnh : “Tui đưa dao để chú chặt gỗ làm hầm là phận sự của tui, tui không làm ơn, chú đừng nói rứa”.

Bốn năm điếu thuốc được đốt lên cùng một lúc, khói mù mịt đến nỗi nhìn một người bên cạnh chỉ thấy mờ mờ.

Một cô gái xạ thủ 12 ly bảy không chịu nổi mùi khói thuốc lá vội nhổm lên : “Mấy eng cho út ra, ngồi đây e chết mất”.

Anh bộ đội ôm B 40 vội đưa tay giữ hòm đạn của cô lại :

- Tội nghiệp út chưa, mấy “eng” xin lỗi, thôi tắt thuốc lá đi các cậu Ngồi đấy, ai lại thế.

Anh chàng vừa nãy hỏi xin thuốc lại lên tiếng :

- Hồi mới vào Vĩnh Linh... hì hì... nghĩ cũng lắm cái buồn cười. Thấy cái lều con con ở góc vườn, mình ngỡ là hố xí định mò vào. Ông bọ ở trong nhà vội hét lên : “Cái đôn (1) đó, không phải nhà tiêu mô chú ơi, nhà tiêu tê tê”. Nghe cứ líu ríu như chim, chẳng hiểu gì cả. Mình nhìn vào nhà, thấy gia đình đang ăn cơm, lại tưởng người ta mời mình, liền trả lời rất lễ phép : “Dạ, con mời bọ mẹ và cả nhà xơi ạ”.

Những tiếng cười rộ lên chưa dứt hẳn, người ngồi sau tôi đã kể câu chuyện khác.

- Tôi với cậu Bình vào nhà mẹ Chút ở Vĩnh Long. Bà cụ mang ra một rổ sắn luộc rất ngon. Thèm bỏ mẹ đi nhưng Bình ta cứ từ chối ngọt xớt : "Dạ cảm ơn mẹ, chúng con vừa mới ăn ạ". Nó nói vậy, chẳng lẽ mình ăn à, đành ngồi nuốt nước bọt. Thấy chúng tôi không ăn, bà cụ bưng rổ sắn cất đi rồi vác cuốc định ra vườn. Lúc bấy giờ Bình ta mới lên tiếng, vẫn rất ngọt : "Dạ... mẹ làm ơn để lại cho chúng con vài cân sắn". Mẹ Chút nói : "Mấy chú mua sắn mần chi?". Bình trả lời: "Chúng con luộc ăn ạ!". Bà cụ trợn mắt lên : “Răng tui mời các chú không ăn, thôi để khi khác, chừ đang mắc việc, muốn ăn thì ra vườn mà nhổ”. Hì hì... Ở Vĩnh Linh này mà làm khách thì chỉ có đói rã họng.

Một loạt bom "tọa độ". Căn hầm nảy lên như sắp sửa bị đánh bật đi nơi khác. Ngọn đèn tắt phụt, trong hầm tối om. Có tiếng người con gái hét to, dõng dạc :

- Ngồi mô ngồi đó không được chộn rộn.

- O Dậu đấy. - Anh chiến sĩ ôm B 40 nói.

Trong giọng nói của anh nghe có cái gì như sự cảm phục quý mến.

Tôi hỏi anh :

- Chắc đồng chí đã qua đò này nhiều lần.

- Dạ... cũng ít thôi thủ trưởng ạ... chỉ độ chục lần.

- Và lần nào cũng gặp o Dậu?

- Vâng... o ấy khỏe lắm thủ trưởng ạ. Có những đồng chí thương binh rất to, vậy mà o ấy cõng chạy băng băng.

Một anh dân quân nói :

- O Dậu là em ruột anh Quốc, trước phụ trách bến đò ni.

Quốc. Trong khoảng tối đen kịt trước mặt tôi bỗng hiện lên một người đàn ông, một anh dân chài cao lớn, vạm vỡ, da đen bóng màu đồng hun, tóc húi móng bò, có đôi mắt linh lợi, thông minh. Quốc là đại đội trưởng đại đội hỏa lực của dân quân Vĩnh Giang. Anh hy sinh tại bến đò này. Một quả bom tọa độ trúng hầm : tám người chết, trong đó có anh. Tôi đã gặp cô Dậu, nhưng riêng chuyện cô là em ruột anh Quốc thì nay tôi mới biết.

Bến đò Tùng Luật là một trong những bến vượt sông quan trọng nhất của Vĩnh Linh. Từ đây, bộ đội dân quân qua sông Bến Hải sang đánh địch ở khu đông Quảng Trị. Cũng từ đây, bộ đội thương binh liệt sĩ trở về trong lòng hậu phương. Kẻ địch không lạ gì điều đó. Chúng định dùng một khối bom đạn khổng lồ để lấp kín cái ngõ này lại. B 52 dội bom không biết đã bao nhiêu lần. Máy bay không cần bổ nhào cứ đến tọa độ đã chấm sẵn trên bản đồ là bấm nút vứt bom xuống. Pháo đã tính sẵn phần tử, chập tối bắt đầu bắn, và bắn mãi cho đến sáng. Có thứ vũ khí gì mới Mỹ đem dùng ở đây đầu tiên : bom bi nổ chậm, pháo bi, pháo nổ ra mũi tên, thủy lôi từ trường... Vĩnh Giang bị địch đánh ác liệt hơn bất cứ thôn xóm nào ở Vĩnh Linh cũng vì Vĩnh Giang có bến đò này. Anh bộ đội phía sau tôi lại nói, giọng anh bây giờ nghe không tếu như trước mà trở nên điềm đạm, sâu lắng :

- Các o chèo đò cứ khen bộ đội mình dũng cảm. Nhưng tôi thì... tôi nghĩ chưa biết ai dũng cảm hơn ai. Mình đi đây đi đó bom đạn dính được cũng còn xơi. Còn các o... một tháng ba mươi đêm thì cả ba mươi đêm có mặt ở đây. Thằng Mỹ nó lạ gì cái bến đò này, bom đạn nó đổ ào ào như đổ vỏ ốc...
Một ý nghĩ đơn sơ nhưng sâu sắc và cao đẹp biết bao! Trong cuộc chiến đấu, sự “cộng hưởng” của lòng dũng cảm là như vậy. Người này là tấm gương, là điểm tựa của người kia. Chính vì thế mà sự yếu hèn mới không còn chỗ để len vào tâm hồn.

Nhân dân Vĩnh Giang đặt tên con đường xuống bến đò là đường Cồn Cỏ. Nhưng chính những chiến sĩ lâu năm ở Cồn Cỏ khi đến đây đã lắc đầu : “Không, Cồn Cỏ không sánh nổi. Chúng tôi ở ngoài đó chỉ ác liệt từng lúc, ở đây, không giờ phút nào không có bom đạn”.

Lặng lẽ, âm thầm, người này ngã, người khác lên thay, con đò gỗ đơn sơ chưa lúc nào ngừng qua lại nối hai bờ nam bắc.

------------------------------------------------------
(14) Đôn : tủ bằng đất ở vườn để chống cháy.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #78 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2009, 04:45:15 pm »

*
*    *

- Xuống đò đi! - Tiếng o Dậu ra lệnh, lẹ lên mấy anh!

Tôi vọt khỏi hầm. Đêm tối như bịt chặt lấy mắt. Một chiến sĩ dân quân giơ tấm khăn trắng lên làm hiệu: "Đây, đây đi theo tôi!". Có nhiều người chạy trước tôi, lá ngụy trang lào xào súng đạn va lách cách, lộc cộc... Những tiếng rít ngang trời. Lại bom “tọa độ”.

- Không việc chi, xa, lẹ lên mấy anh! - Dậu nói giọng trầm tĩnh.

Có người ngã đánh uỵch. Lại tiếng cô Dậu :

- Cứ bình tĩnh! ngồi xuống đồng chí!

Một cô gái kêu ré lên vì bị người nào đó giẫm vào chân.

- Cha mẹ ơi!

- Xin lỗi o, tối quá!

Một đồng chí cán bộ điểm quân, cố nói khẽ nhưng vẫn nghe như gào lên : “Trường đâu” - “Có, tôi đây” - "Phú lên chưa?" - "Đây ạ"... "Hạo?" - "Có"...

Ba con đò rời bến. Một chiếc máy bay lao như xé gió trên đầu "Bụp". Nhưng chấm đỏ trông như cục than hồng bắn vọt ra khỏi máy bay. Đèn dù. Tiếng cô Dậu :

- Các đồng chí bình tĩnh nghe, không can chi hết.

Trời đất đang tối đen bỗng rựng lên rồi đột nhiên sáng trắng ra trong thứ ánh sáng sắc lạnh đến ghê người. Cô dân quân đứng đằng mũi như nằm rạp xuồng, đẩy chèo hối hả. Tôi quay nhìn lại. Hình ảnh cô Dậu, cô dân quân cầm lái con đò mới đẹp và hùng dũng làm sao! Cao lớn, dáng dấp như người anh ruột đã hy sinh, cô đứng thẳng, tay đẩy chèo nhanh nhưng không vội vã, hấp tấp, ngước nhìn bầu trời lóe sáng với đôi mắt to, lấp lánh. Cặp môi cô gái mím lại, vẻ cương quyết... Nhiều năm về sau, tôi vẫn chưa thể quên được tư thế và nét mặt người chiến sĩ chèo đò trong những đêm vượt sông Bến Hải ấy. Nếu mai đây ta dựng tượng đài trên bến đò để kỷ niệm những con người bất khuất đã chiến đấu bền bỉ và hy sinh ở đây tôi sẽ đề nghị các nhà điêu khắc lấy cô gái và con thuyền của cô làm mẫu.

Đò thúc mạnh vào bờ cát làm chúng tôi ngả về phía sau rồi lại chồm về phía trước, đụng cả vào nhau.

- Chạy!

Tôi bước xuống, theo các đồng chí đi trước vọt nhanh qua bãi cát trắng phau. Chân chúng tôi giẫm lên những thanh bê tông gãy vụn nằm rải rác giữa lối đi, có thanh dài, thanh ngắn, thanh cong cong... Nhiều thanh vỡ gần hết xi măng chỉ còn trơ cốt thép han gỉ.

Tiếng máy bay rít lên. Nó đang bổ nhào.. Nghe rờn rợn sau lưng tưởng như máy bay sắp đâm thẳng vào mình. Bom bi nổ dậy phía sau. Tim tôi như bị ai bóp chặt lại. Liệu cô Dậu, các đồng chí chở đò đã vào kịp trong hầm chưa?

- Chạy nhanh lên các đồng chí! Tiếng người dẫn đường gắt gỏng.

Mệt đến đứt hơi, tôi vẫn phải co cẳng chạy dấn lên cho kịp người đi trước.

- Dừng lại! - Tiếng hô khẽ

- Mời anh vào đây ạ - có người gọi tôi.

Một căn hầm mới làm sơ sài, bằng các thân cây dương liễu phủ cát. Tôi bấm chiếc đèn pin đã bịt kín mặt kính chỉ để lọt ra một tia sáng bằng hạt đỗ, nhìn đồng hồ : hai giờ 16 phút. Mười ba năm, bốn tháng, ba ngày, kể từ hôm 15 tháng chín 1954, ngày tôi từ giã chiến khu Ba Lòng (1) tập kết ra Vĩnh Linh. Lúc đó đứng bên bờ bắc cầu Hiền Lương, tôi đã ngoảnh mặt về phía nam hẹn với đồng bào, đồng chí sẽ trở về. Tôi hỏi đồng chí bộ đội dẫn đường :

- Lúc nãy ở bến đò tôi thấy có những thanh bê tông, nó là cái gì thế nhỉ?

- Khẩu hiệu của thằng ngụy ngày xưa đấy thủ trưởng ạ...

À tôi nhớ ra rồi. Năm 1956, ngụy quyền Ngô Đình Diệm xây dựng một hệ thống đồn bốt dày đặc trá hình dưới cái vỏ cảnh sát dân sự dọc bờ nam sông Bến Hải này. Trước đồn có những dòng khẩu hiệu lếu láo hướng sang bờ bắc, chữ đúc bằng bê tông, cốt thép, cao hàng thước. Chúng làm kỹ như vậy vì nghĩ rằng với bom đạn và đô la Mỹ, sông Bến Hải vĩnh viễn sẽ là một biên giới "bất khả xâm phạm". Chúng có ngờ đâu chỉ hai chục năm sau, những bàn chân dũng mãnh của đội quân cách mạng đang giẫm lên những đồn bốt, những dòng chữ “trường cửu” của chúng để tiến lên giải phóng miền Nam thân yêu.

- Đề nghị các anh cởi quần áo gói vào ni-lông. Chúng ta sắp vượt qua bầu Xuân Mỹ - người dẫn đường ra lệnh.

-----------------------------------------------------
(1) Căn cứ của Quảng Trị trong hồi kháng chiến chống thực dân Pháp.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #79 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2009, 04:48:33 pm »

35
CUỘC CHIẾN ĐẤU TRÊN BỜ SÔNG CỬA VIỆT

- Thủ trưởng - đồng chí Đạt gọi tôi. Cậu ta vẫn nằm trong màn nhưng đầu hơi nhổm lên.

- Đạt không ngủ đi - Tôi hỏi.

- Thủ trưởng cũng ngủ đi chứ, thức mãi thế này thì đau mất.

- Đau làm sao được. Đạt ngủ đi, thanh niên như cậu là cứ phải ngủ cho thật lực.

Đạt nằm yên được một lúc, lại nghe tiếng chăn cọ loạt soạt rồi cậu ta ló đầu ra ngoài màn.

- Sao lại mò dậy?

- Thôi, thức với thủ trưởng cho vui.

Tôi ngồi xếp bằng trên tấm bạt trải xuống cát, nhìn ra ngoài cửa hầm. Trước mặt, một mảng bóng tối loãng, đục lờ do các cồn cát trắng hắt lên. Bầu trời đen thẫm, không một vì sao.

Khắp bốn phía đều dậy lên tiếng pháo địch. Nóng ruột quá. Theo lệnh của Mặt trận, chậm nhất là mười giờ sáng ngày 20 tháng Giêng 1968 phải nổ súng chặn tàu địch đi từ Cửa Việt lên Đông Hà. Bảy giờ tối hôm qua, tiểu đoàn 47 bắt đầu hành quân tiến về phía sông Cửa Việt. Gần tám tiếng đồng hồ đã trôi qua mà vẫn chưa có tin báo về. Ba đại đội bộ binh và ba đại đội hỏa lực phối thuộc, tám trăm con người với bao nhiêu là súng đạn, liệu có giữ được bí mật đến phút chót không? Câu hỏi ấy cứ xoáy mãi vào tâm trí tôi.
Chợt có tiếng chân người chạy vội trên cát. Anh Phùng Bỉnh tham mưu trưởng cúi gập người chui vào cửa hầm.

- Có tin gì của Thà chưa?

- Chiếm Hoàng Hà rồi.

- Thật à? Tôi reo lên.

- Thật!

Anh Bỉnh chìa một bàn tay về phía tôi, tôi nắm chặt lấy hai anh em nhìn nhau. Thế là thắng một trận đầu quan trọng. Không chiếm được Hoàng Hà đêm nay, khó mà nổ súng trước mười giờ.

- Có diệt được bọn giang thuyền không? - Tôi hỏi.

- Có nhưng không gọn : chúng nó chạy mất một số.

Anh Bỉnh kẻo tôi ngồi xuống, trải rộng tấm bản đồ khu đông Quảng Trị ra trước mặt.

- Đây nó đây - Anh chỉ một chấm nhỏ trên bản đồ, chếch về phía gần biển. Huơ huơ đầu bút chì lên bản đồ, anh Bỉnh nói tiếp :

- Xê Hai nằm ở Hoàng Hà, bảo vệ cho DKZ và B41 vào đánh tàu. Xê Một chốt Nhĩ Hạ, chặn thằng ngụy ở điểm cao 31 xuống. Xê ba và xê 12 ly bảy ở đây, Lâm Xuân.

- Cánh thủy lôi ở đâu?

- Chỗ này, Xuân Khánh - anh Bỉnh chỉ một chấm đỏ khác bên bờ sông Cửa Việt. Thả thủy lôi xong nếu kịp, đám này sẽ rút ra phía sau.

Tôi nhìn đồng hồ. Đúng ba giờ sáng. Máy điện thoại đổ chuông. Một giọng nói to, khỏe khoắn ở phía đầu dây bên kia.

- Anh Lân đấy à?

- Vâng ạ.

- Tôi, Thái đây.

Anh Hoàng Văn Thái là phó chính ủy Mặt trận B5, phụ trách khu đông, hiện đang ở sở chỉ huy bên Vĩnh Linh. Trước lúc sang sông, tôi đã giao hầm của mình lại cho anh.

- Thế nào rồi? - Anh Thái hỏi.

- Báo cáo... cho đến nay mọi việc đều diễn ra đúng theo kế hoạch.

- Hoan nghênh... hoan nghênh. Tôi cũng thông báo với các anh một tin sốt dẻo : ta đã tiêu diệt Làng Vây và đang bao vây Tà Cơn...

- Sung sướng quá, tôi đặt máy xuống và chạy sang hầm anh Đưởm. Thế là trên toàn mặt trận đường Chín, ta vừa ra quân đã đánh thắng ngay từ trận đầu.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM