CUỘC KHỞI NGHĨA NAM KỲ 1940
TẠI TỈNH SÓC TRĂNG
(tiếp theo)
...
Tình hình trên đã tác động mạnh đến các cơ sở của đảng được gầy dựng trong hàng ngũ địch và tinh thần anh em binh lính người Việt, họ thiết tha yêu cầu Đảng cho phép khởi nghĩa, vì nếu chậm trễ địch điều động binh lính ra chiến trường, cơ sở của ta sẽ bị đảo lộn trong khi anh em muốn được cầm súng chiến đấu vì độc lập tự do của Tổ quốc.
Trước tình hình bức xúc đó, Xứ ủy quyết định 0 giờ ngày 23-11-1940 tiến hành khởi nghĩa ở khắp các tỉnh Nam kỳ.
Nhưng khi lệnh khởi nghĩa được truyền đi thì sáng 22-11-1940 đồng chí Tạ Uyên bí thư Xứ ủy và đồng chí Nguyễn Như Hạnh bí thư Thành ủy Sài Gòn bị đich bắt.
Chiều ngày 22-11-1940, đồng chí Phan Đăng Lưu vừa về tới Sài Gòn liền bị địch bắt. Trong khi đó lệnh khởi nghĩa đã truyền đến các Đảng bộ dịa phương không còn cách nào hoãn lại được nữa. Cuộc khởi nghĩa Nam kỳ đã nổ ra.
II. KHỞI NGHĨA NAM KỲ Ở SÓC TRĂNG MÀ TIÊU BIỂU TẠI LÀNG HÒA TÚ (11-1940)
Theo kế hoạch, Xứ ủy chọn thành phố Sài Gòn làm trọng điểm của cuộc khởi nghĩa Nam kỳ nhưng do có kẻ địch chui vào hàng ngủ ta, nên kế hoạch và giờ khởi nghĩa bị lỗ. Chính quyền Pháp ra lệnh cấm trại, tịch thu vũ khícủa binh lính người Việt,thay dổi lính gác, tuần tra nghiêm ngặt những mục tiêu ta dự định đánh chiếm, vì vậy cuộc khởi nghĩa ở Sài Gòn không nổ ra được. Đồng thời dịch thông báo kế hoạch khởi nghĩa của ta đến bọn cầm quyền các tỉnh khác.
14 giờ ngày 22-11-1940, đồng chí Thường trực Ban cán sự Đảng tỉnh Sóc Trăng nhận được lệnh khởi nghĩa của Xứ ủy, lập tức lệnh khởi nghĩa được truyền đến các chi bộ và cơ sở Đảng trong tỉnh.
Mặc dù Sóc Trăng nhận được lệnh khởi nghĩa quá cận với thời gian khởi nghĩa, hơn nữa bọn địch ở Sóc Trăng do nhận được lệnh báo động , chúng tăng cường các biện pháp an ninh, tuần tra nghiêm ngặt, nhưng Đảng bộ và nhân dân Sóc Trăng vẫn kiên quyết khởi nghĩa đúng theo lệnh của Xứ ủy.
Toàn tỉnh Sóc Trăng sôi sục với khí thế nổi dậy của quần chúng cách mạng.
Tại tỉnh lỵ Sóc trăng, trong đêm 23-11-1940, dưới sự chỉ đạo của thường trực Ban cán sự tỉnh, cơ sở Đảng tổ chức rải truyền đơn, treo cờ và phá cầu. Nhưng do địch tăng cường tuần tra canh gác nên kế hoạch phá cầu không thực hiện được.
Ở quận Long Phú, chi bộ Trường Khánh huy động quần chúng phá lộ, đốn cây làm chướng ngại vật cản đường giao thông từ Sóc Trăng di Long Phú, rải truyền đơn và đốt cầu Xanh-ta(Saintard) khi có lệnh.
Quận Kế Sách, chi bộ huy động quần chúng dùng bao tải tẩm dầu đốt cầu Cái Trâm, làm hư hại nặng cầu Bến Đổi, tổ chức biểu tình thị uy ở An Lạc Thôn và gây rối nhiều nơi trong quận.
14 giờ ngày 23-11-1940, bí thư chi bộ Hòa Tú mới nhận được lệnh khởi nghĩa, như vậy Hòa Tú nhận được lệnh khởi nghĩa chậm 14 tiếng so với thời điểm khởi nghĩa chung của toàn Nam kỳ. Trước tình hình khẩn cấp đồng chí Văn Ngọc Chính triệu tập cuộc họp chi bộ bất thường để thảo luận đi đến quyết định ba vấn đề lớn : Một là cử liên lạc nhanh chóng xuống các ấp thông báo tập trung lực lượng tại đình làng chuẩn bị chiến đấu ; thứ hai : Phân công cụ thể từng đảng viên và cán bộ chủ chốt phụ trách các tổ chức phản đế, kịp thời xử lý những vấn đề phức tạp trong quá trình diễn biến của cuộc khởi nghĩa ; thứ ba là cho lệnh bắt ngay Giáo Vàng, Tuần Ngọ, Tuần Mai là những tên tay sai đắc lực của bọn tề làng, làm tê liệt sự phản kháng của địch, đồng thời chi bộ quyết định thành lập Ban chỉ huy khởi nghĩa gồm 6 đồng chí, đồng chí Văn Ngọc Chính làm trưởng ban chỉ huy. Cuộc hợp cũng quyết định thành lập các ban chuyên môn : Ban tuyên truyền, Ban tải thương, Ban hậu cần, tiếp tế, Ban ám sát.
Được lệnh của Ban chỉ huy khởi nghĩa, chiều 23-11-1940, lực lượng vũ trang đã bắt được 3 tên chỉ điểm : Giáo Vàng, Tuần Ngọ, Tuần Mai.
Cùng ngày 23-11-1940, vào lúc 18 giờ, hơn 100 quần chúng trong các tổ chức phản đế ở Rạch Rò, Trà Thê, Cây Gừa được trang bị gươm giáo, mã tấu,dao găm, gậy gộc… tập trung tại đình Hòa Tú. Trong không khí hào hùng trước giờ khởi nghĩa, đồng chí Văn Ngọc Chính tuyên bố thành lập Ban chỉ huy khởi nghĩa. Đồng chí nói : “Xứ ủy Nam kỳ quyết định lãnh đạo nhân dân Nam kỳ đứng lên giành chính quyền. Ở Hòa Tú trong đêm nay chi bộ sẽ cùng nhân dân đánh chiếm đồn Cổ Cò, bắt bọn tề và địa chủ gian ác, giành chính quyền về tay nhân dân, giành lại ruộng đất cho dân cày. Chúng tôi là những người cộng sản thề cùng nhân dân chiến đấu đến giọt máu cuối cùng và cương quyết hoàn thành nhiệm vụ của Đảng giao”. Khi đồng chí dứt lời, quần chúng đồng thanh hô vang lời thề quyết chiến đấu vì độc lập tự do của quê hương.
Sau cuộc mít-tinh, lệnh xuất quân được ban hành. Hơn 100 thanh niên nam nữ, tất cả đều tự trang bị vũ khí thô sơ, chia thành hai cánh quân tiến đánh đồn Cổ Cò và vây bắt bọn tề làng.
Cánh quân thứ nhất do đồng chí Tư Bối (cán bộ Liên tỉnh ủy được tăng cường cho Hòa Tú) và đồng chí Trần Văn Tấn chỉ huy tiến đánh nhà hương quản Tệt, một tên hương quản khét tiếng ác ôn. Để tránh đổ máu ta dùng tên Tuần Ngọ (bị ta bắt chiều 23-11-1940) kêu cửa nhà quản Tệt, báo tin “Cộng sản đang họp”. Nghe giọng nói quen, không nghi ngờ gì, tên hương quản ra mở cửa, ngay lúc đó quân khởi nghĩa ập vào bắt trói hắn. Ta tịch thu được hai khẩu súng và 10 viên đạn ở nhà hương quản Tệt.
Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, cánh quân thứ nhất kịp thời phối hợp với cánh quân thứ hai (do đồng chí Văn Ngọc Chính và đồng chí Hà Thanh Nguyên chỉ huy) tiến đánh đồn Cổ Cò, đây cũng là trụ sở của Ban hương chức hội tề làng Hòa Tú.
Nghĩa quân bao vây đánh mõ, hò hét… gây áp lực uy hiếp tinh thần bọn lính trong đồn. Sau nhiều lần kêu gọi giặc ra hàng, nhưng chúng vẫn ngoan cố không chịu đầu hàng. Trước tình hình đó đồng chí Văn Ngọc Chính hạ lệnh tấn công, nghĩa quân dũng cảm xông lên phá tung cửa tiến vào đồn. Trước khí thế tiến công của quân ta, bọn lính không dám chống cự, chúng hoảng sợ nhảy xuống sông Cổ Cò trốn thoát, ta bắt được tên bếp Nhành, tịch thu toàn bộ vũ khí, chiếm nhà việc của hội tề va thiêu hủy toàn bộ sổ sách, giấy tờ của giặc. Đúng vào 2 giờ khuya ngày 24-11-1940 cuộc khởi nghĩa kết thúc, ta giành được thắng lợi hoàn toàn. Lần đầu tiên cờ đỏ sao vàng tung bay trên nóc nhà việc làng Hòa Tú.
Sáng ngày 24-11-1940, quân khởi nghĩa tổ chức mít tinh công khai tại chợ Cổ Cò, trên 1.000 đồng bào tham dự, trong đó có nhiều đồng bào công giáo, linh mục Trần Quang Nghiêm ở nhà thờ Cổ Cò cũng tới dự. Ban chỉ huy khởi nghĩa tuyên bố trước đông đảo quần chúng “Chúng tôi, những người cộng sản và nhân dân khởi nghĩa đánh Pháp và tay sai cướp chính quyền, giải phóng dân tộc, chúng tôi tuyên bố xóa bỏ chính quyền cũ, đốt sổ sách hồ sơ, giấy nợ của tá diền với địa chủ. Chúng tôi kêu gọi đồng bào nhiệt tình ủng hộ cuộc khởi nghĩa và hăng hái gia nhập nghĩa quân giải phóng quê hương… ”.
Nhân dân Hòa Tú và các làng lân cận vui mừng phấn khởi, gia nhập nghĩa quân tham gia chiến dấu. Lực lượng nghĩa quân từ 100 người giờ đây tăng lên gần 500 người.
Với khí thế hào hùng, quân khởi nghĩa tiếp tục tiến đánh đồn điền Petrus Trương Vĩnh Khánh và đồn điền Nguyễn Tấn Lễ ở hai địa điểm Trà Thê và Tầm Lon. Hoảng sợ trước lực lượng khởi nghĩa, địa chủ Nguyễn Tấn Lễ lẩn trốn. Tại đồn điền Trương Vĩnh Khánh, tên Răng (Jean) và tên hương sư Trừ đánh trống mõ tập hợp tá điền định chống lại quân khởi nghĩa, nhưng được ta giải thích thuyết phục, tá điền đồng tình ủng hộ quân khởi nghĩa. Tên Răng (Jean) bị bắt, ta tịch thu được 4 khẩu súng, đốt hết sổ nợ tuyên bố xóa nợ cho nhân dân. Nhiều tá điền đã xin gia nhập nghĩa quân. Cuộc khởi nghĩa giành được thắng lợi trọn vẹn, đúng theo kế hoạch của chi bộ.
Trên đà thắng lợi, quân khởi nghĩa tiếp tục củng cố lực lương, họp rút kinh nghiệm tại xóm Ba Chùa, chuẩn bị cho đợt tấn công tối ngày 24-11 đánh vào thị tứ Nhu Gia, thị tứ Bãi Xàu và tỉnh lỵ Sóc Trăng.
Nhưng đến 12 giờ ngày 24-11-1940, chánh tham biện Sóc Trăng nhận được tin cấp báo, đã huy động hơn 100 lính (1/2 lực lượng quân đội của tỉnh Sóc Trăng) được trang bị vũ khí hiện đại, cấp tốc tiến vào Tầm Lon và Ba Chùa đàn áp cuộc khởi nghĩa.
Trước tình hình đó, Ban chỉ huy khởi nghĩa nhận định, về quân số địch ít hơn ta, nhưng lại là đội quân nhà nghề, được trang bị vũ khí tối tân, lực lượng ta huy động nhưng súng đạn quá ít, phần lớn chỉ được trang bị vũ khí thô sơ. Do đó, để bảo toàn lực lượng, Ban chỉ huy ra lệnh cho đại bộ phận rút lui, đồng thời bố trí một tổ nghĩa quân vẫn ở lại chiến đấu do đồng chí Văn Ngọc Chính trực tiếp chỉ huy. Mặc dù lúc này thực lực của địch mạnh hơn ta nhiều lần nhưng nghĩa quân vẫn bình tĩnh đợi địch đến gần mới bắn làm mộtsố tên bị thương. Khi giặc tràn tới, các nghĩa quân vẫn dũng cảm chiến đấu đến viên đạn cuối cùng. Anh Nguyễn Văn Lời, trước lúc hy sinh, đã dồn sức đập gẫy khẩu súng, vứt bỏ quy-lát (Culasse) không để súng lọt vào tay giặc. Trong tr6n5 này 2 đồng chí của ta đã bị bắt.
Để tiếp tục đàn áp cuộc khởi nghĩa, địch đóng quân tại ấp Rạch Rò, sau đó lập đồn ở đình Hòa Tú. Chúng ráo riết củng cố hội tề làng, liên tiếp mở các cuộc càn quét, lùng bắt quân khởi nghĩa, bắn bừa bãi vào nhà cửa của nhân dân các ấp : Ba Chùa, Rạch Rò, Cây Gừa, Ba Gia v.v… lập trạm gác sông, khám xét gắt gao không cho nhân dân Hòa Tú ra khỏi làng, đốt trụi nhà cửa của nông dân hai bên bờ sông ấp bờ sông ấp Rạch Rò, Ba Chùa, Cây Gừa (nay là ấp Hòa Trung A), hãm hiếp phụ nữ…
38 ngườ của ta bị địch bắt, sau khi đánh đập tra khảo, chúng đưa ra tòa xử tù khổ sai từ 5 đến 20 năm tù, 27 người bị đày ra Côn Lôn.
Dưới sự lãnh đạo của Liên tỉnh ủy, Ban cán sự tỉnh và sự chỉ đạo trực tiếp của chi bộ Đảng, cuộc khởi nghĩa Hòa Tú đã được tổ chức chu đáo. Với tinh thần luôn luôn sẵn sàng chiến đấu, cuộc khởi nghĩa đã nổ ra tha7ng1 lợi, giành được chính quyền xã, hoàn thành 4 mục tiêu chiến đấu theo đúng kế hoạch của Ban chỉ huy khởi nghĩa. Nhưng vì các nơi khác trong tỉnh bị địch theo dõi sát nên không đồng loạt khởi nghĩa như dự định, do đó Hòa Tú bị cô lập, kẻ thù dễ dàng tập trung lực lượng đàn áp cuộc khởi nghĩa.
Cuộc khởi nghĩa ở Sóc Trăng nói chung không giành được thắng lợi trọn vẹn, nhưng hơn lúc nào hết đã thể hiện tấm lòng yêu quê hương đất nước và căm thù gia7c5 sâu sắc của nhân dân, để lại cho lịch sử tỉnh niềm tự hào về truyền thống yêu nước cao quí của ông cha, tinh thần chiến đấu dũng cảm của các chiến sĩ cách mạng, góp phần cổ vũ toàn thể nhân dân đoàn kết chiến dấu quét sạch bọn cướp nước và bè lũ tay sai, giành lại quyền độc lập, tự do của dân tộc sau này.
Cuộc khởi nghĩa ở Sóc Trăng năm 1940 đã thể hiện tinh thần tổ chức kỷ luật cao của Đảng bộ Sóc Trăng, nghiêm túc thi hành nghị quyết khởi nghĩa của Xứ ủy và Liên tỉnh ủy, sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp cách mạng. Khởi nghĩa Hòa Tú đã gây tiêng vang trong cả nước, ảnh hưởng sâu rộng trong nhân dân, là bài học kinh nghiệm quí giá của Đảng bộ Sóc Trăng về lãnh đạo khởi nghĩa vũ trang và là cuộc diễn tập khởi nghĩa vũ trang đầu tiên, góp phần làm nên những thắng lợi của cách mạng tháng tám năm 1945.
Chú thích:
(1) Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương, Những sự kiện lịch sử Đảng tập 1 (1920-19455), Nhà xuất bản Sự Thật – Hà Nội 1976, trang 480.
(2) Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương, Những sự kiện lịch sử Đảng tập 1 (1920-19455), Nhà xuất bản Sự Thật – Hà Nội 1976, trang 483. Nguồn : “ Lịch sử Tỉnh Đảng Bộ Sóc Trăng tập 1 – Giai đoạn 1930-1954