Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 05:05:33 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Khối mây hình lưỡi búa  (Đọc 49922 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Tunguska
Global Moderator
*
Bài viết: 519



« Trả lời #20 vào lúc: 21 Tháng Mười, 2007, 09:52:44 am »

7 giờ 30 phút ngày 3 tháng 4 năm 1965 vùng trời sân bay Nội Bài nhiều mây, chân mây thấp,sương mù dày đặc, tầm nhìn chưa đến 5 ki-lô-mét. Khu vực Hàm Rồng tầm nhìn xa khá hơn, mây gần kín bầu trời. 8 giờ sáng, sĩ quan khí tượng Nguyễn Duy Phẩm cho biết, vùng trời Thanh Hóa mây đã tan. Ngay lúc đó tổng trạm phát hiện một tốp địch hai chiếc bay vào khu vực Lạch Trường- Hòn Mê, dọc theo bờ biển lên đến cửa sông Ninh Cơ. Sở chỉ huy không quân theo dõi sát tốp máy bay địch. Sĩ quan dẫn đường Trần Quang nhìn những khắc và con số cây thước tam giác đo ba đoạn đường bay, do người chiến sĩ tiêu đồ vừa vẽ, Trần Quang viết bằng bút chì dầu màu xanh bên cạnh đoạn đường bay V= 850. Anh ngước nhìn tư lệnh quân chủng, báo cáo:

- Đây là tốp trinh sát khí tượng, độ cao và tốc độ trung bình 850 km/giờ, chưa có triệu chứng đánh mục tiêu.

Tư lệnh quân chủng dáng bệ vệ, đầu hói, có thói quen vuốt những sợi tóc ít ỏi trên chiếc đầu hói của mình. Ông nheo mắt, chất vấn:

- Cậu căn cứ vào đâu để nói tốp 03 không phải là tốp vào đánh mục tiêu?

Trần Quang bình tĩnh đáp:

- Thưa Tư lệnh, trước trận đánh, bao giờ bọn Mỹ cũng bay trinh sát khí tượng, số lượng tốp này nhỏ, độ cao bay khá cao để nhìn được xa… Đó không phải là tốp mang bom.

Tư lệnh phòng không- không quân Phùng Thế Tài nổi tiếng là một sĩ quan kiên quyết trong hành động, táo bạo trong chỉ huy. Ông đã từng theo bảo vệ Bác Hồ từ những năm trước Cách mạng Tháng Tám. Và nghe đồn rằng ông là người được Bác Hồ giới thiệu vào Đảng. Là một cán bộ nhìn mọi việc bằng trực quan, cách suy nghĩ của ông không phức tạp, cụ thể, rất rõ ràng và chính xác. Ông chưa từng nghe phải dùng máy bay để trinh sát khí tượng. Nhưng, ông hiểu rất nhanh việc phải trinh sát khí tượng bằng máy bay là để bảo đảm trận đánh vào mục tiêu ở mặt đất có kết quả. Ông đã từng biết bọn Mỹ có vệ tinh khí tượng, có máy bay chụp ảnh mục tiêu. Có lẽ, trực tiếp nhìn bằng mắt bao giờ cũng chính xác hơn. Ông gật đầu, sau khi nghe Trần Quang báo cáo. Chắp hai tay sau lưng, không nhìn Trần Quang, ông nhìn tốp máy bay đang di chuyển ra xa, có lẽ nó trở về hạm tàu. Đại tá Tư lệnh vẫn đứng, bên cạnh ông Đại tá Đặng Tính, Chính ủy quân chủng đang nói chuyện bằng chiếc điện thoại màu nâu với Trung đoàn trưởng đoàn Sao Đỏ:

- Tốt, công tác chuẩn bị ở mặt đất càng kỹ thì lên trời sẽ tốt hơn. Anh truyền đạt cho anh em. Tôi và Tư lệnh đang ở sở chỉ huy không quân, chúng tôi sẽ theo dõi trận chiến đấu. Chúc các phi công của chúng ta chiến thắng, bắn rơi máy bay địch ngay loạt đạn đầu…

Đại tá Tư lệnh bước đến, Chính ủy nói:

- Anh Luyện, Tư lệnh nói chuyện với anh.

Đại tá Phùng Thế Tài cầm điện thoại, sửa tư thế theo thói quen. Đưa ống nghe lên tai, một tay chống lên bàn, ông nói:

- Luyện hả? Tôi đã lệnh cho các đơn vị pháo cao xạ vào cấp 1, bộ đội pháo cao xạ ở Hàm Rồng đã liên lạc với sở chỉ huy quân chủng trực tuyến. Không quân ta đến mục tiêu, pháo cao xạ sẽ đánh bằng mắt. Anh nhắc lại mệnh lệnh cho phi công phải chiến thắng… Tốt, tôi mong… tốt.

Tư lệnh đưa mắt nhìn Chính ủy. Cả hai không nói với nhau, dù hai ông vẫn đang nhìn nhau… Một biên đội Không quân Nhân dân Việt Nam sẽ bước vào trận không chiến đầu tiên với không quân Mỹ, hai ông biết rõ tất cả những gì sẽ xảy ra… Chính ủy nhìn rất lâu tư lệnh… Hai ông cùng nhìn vào tấm bản đồ chiến đấu của không quân… Đối với Chính ủy, ông là người đã gắn bó với không quân từ những ngày còn trong trứng nước, là vị chỉ huy đầu tiên, cục trưởng không quân thuở còn mang tên Cục Không quân. Ông, cũng chính ông là người khai sinh trung đoàn không quân vận tải đầu tiên và theo dõi từng bước đi của trung đoàn Sao Đỏ.

Chính ủy có gương mặt hiền, môi dày, miệng rộng, râu rậm, và nụ cười cởi mở… Chính ủy Đặng Tính bóp mạnh bàn tay Tư lệnh hồi lâu, nói:

- Anh Tài, hôm nay địch có đánh Hàm Rồng?

- Có chứ, chắc chắn bọn Mỹ phải đánh để ngăn sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam.

- Tôi cũng có nhận định như anh. Có điều là, chưa biết bọn Mỹ sẽ đánh như thế nào?

- Tôi cho là máy bay mang bom sẽ cất cánh từ hàng không mẫu hạm.

Đại tá Phùng Thế Tài bất ngờ hỏi sĩ quan dẫn đường Trần Quang:

- Theo cậu, bọn Mỹ sẽ đánh như thế nào?

Đại úy Trần Văn Thuyết, trưởng phòng quân báo, liếc rất nhanh Tư lệnh, đỡ lời:

- Thưa Tư lệnh, tôi nghĩ rằng, bọn Mỹ sẽ dựa vào các điểm kiểm tra nổi bật ở ven biển để tiến nhập.

- Thưa Tư lệnh, ven biển từ Thanh Hóa đến Nghệ An đều có các cửa sông và những hòn đảo. Đó là những điểm kiểm tra rất tốt, trước khi tiếp cận mục tiêu. Nhưng dù ở đâu, độ dài đường bay cần có để xác định chính xác mục tiêu và xử lý các động tác ném bom phải trên 40 ki-lô-mét. Như vậy theo tôi, đảo Nghi Sơn, Hòn Mê, cửa sông Mã là hai mục tiêu kiểm tra rất tốt.

Đại tá Phùng Thế Tài vuốt tóc, hỏi:

- Như vậy, chúng ta sẽ xuất hiện ở đâu nếu địch từ Hòn Mê tiến vào?

Trần Lạc trả lời:

- Chúng tôi đã bàn với phi công nhiều lần. Tôi đề nghị sẽ xuất kích dọc theo đường số 1, vào khu vực chiến đấu từ hướng Đông Bắc.

Ngay lúc đó, trên bàn tiêu đồ, chiến sĩ đánh dấu đường bay ghi một tốp phi cơ ở phía Đông đảo Hòn Mê 60 ki-lô-mét đang tiến vào. Trần Quang đứng lên báo cáo:

- Thưa Tư lệnh, đây là tốp tiêm kích, số lượng 4 chiếc, độ cao 4.000 mét. Đề nghị cho chuyển biên đội Phạm Ngọc Lan vào cấp 2. Biên đội Trần Hanh cấp 1.

Tư lệnh gật đầu:

- Đồng ý. Ý kiến Chính ủy?

- Tôi đồng ý.

***

Crommell ngồi trên chiếc F-8E, chiếc xe kéo nhỏ đặt cả ba bánh xe của chiếc phi cơ vào đúng băng chuyển động, chiếc F-8 thứ hai phía sau Crommell là Robert. Anh ta đã đóng nắp buồng lái, tay trái giơ lên, ngón tay cái xòe ra. Crommell vừa kịp nhìn Robert, đã thấy người điều khiển băng chuyền giơ cao lá cờ màu vàng phất xuống. Crommell đã khởi động, chiếc F-8E đang chuyển động ngược với băng chuyền, tốc độ ngày càng lớn. Thoạt đầu, tốc độ 30 dặm/giờ, chỉ 20 giây sau, đồng hồ tốc độ đã đạt 150 dặm. Trên tai Crommell nghe tiếng “Đi” của kỹ sư điều khiển, cảm giác bánh xe lăn trên băng chuyền nhẹ dần, chiếc F-8E rời hàng không mẫu hạm. 10 phút, sau khi Crommell cất cánh, đội hình tấn công đã tập hợp hoàn chỉnh, Robert ở biên đội hộ tống bên phải những chiếc máy bay mang bom.

Mặt biển sóng khá lớn, đội hình 36 chiếc lượn vòng thông qua đài định vị trên hàng không mẫu hạm, hướng vào đất liền. Crommell chỉ huy 4 chiếc F-8E bay ở phía trước những chiếc A-4 mang bom. Bên phải, bên trái mỗi bên 2 chiếc tiêm kích, ở phía sau 4 chiếc. Một đội hình an toàn, rất cơ bản của hải quân Mỹ. Robert mỉm cười. Cuộc đời cỡi mây, lướt gió đối với anh ta, chẳng qua như là một chuyến du lịch trên trời. Anh ta đã đi qua Nhật Bản, Philippines, nhiều ngày ở Thái Lan và Singapore. Cuộc căng thẳng ở eo biển Đài Loan, hàng không mẫu hạm của anh ta lập tức có mặt. Có thể nói, Thái Bình Dương bao la nhưng còn quá nhỏ so với tầm bay của những chiếc phản lực cơ hiện đại của không lực Mỹ. Bây giờ, trước mặt Robert là biển mênh mông, bên phải trải dài những con sóng tràn vào phía Tây, bên tay trái những chiếc A-4 treo đầy bom dưới cánh, mũi máy bay đang hướng vào bờ nhưng còn xa lắm, tầm của Robert chưa thấy đất liền, dù là một làn nhỏ mong manh. Trên tai Robert, tại hàng không mẫu hạm đang chỉ huy cho 30 chiếc nữa tập họp, chuẩn bị thông qua đài, tiến vào mục tiêu.

***

Sở chỉ huy phòng không liên tục phát ra những giọng truyền lệnh sang sảng, thông báo tình hình địch và các đơn vị đã sẵn sàng chiến đấu, trong lúc đó trạm radar 402 phát hiện nhiều tốp máy bay Mỹ từ biển tiến vào. Trên bàn chỉ huy, chiến sĩ tiêu đồ xoay liên tục cây thước màu trắng trong suốt, bàn tay phải thoăn thoắt chấm bên cạnh cây thước theo phương vị của đài radar, nối dài, tốp máy bay địch rõ dần. Tư lệnh quân chủng và Chính ủy đứng cạnh nhau, mắt của hai ông không rời những tốp địch đang tiến vào bờ… Ở phòng bên cạnh, sĩ quan phương hướng, sĩ quan tác chiến báo cáo rất to: “4 chiếc đánh cầu Tào”, “6 chiếc đánh cầu Đò Lèn”. Ngay lúc đó, sở chỉ huy phòng không reo lên : “Một chiếc bốc cháy bay về hướng 34”(hướng Đông Nam). Sở chỉ huy rộn rã. Tiếng báo cáo của sĩ quan tác chiến: “12 chiếc A-4 đánh cầu Hàm Rồng”.

Tư lệnh Phùng Thế Tài nóng ruột, tay phải giơ cao, đập mạnh xuống, nói lớn:

- Cho Trần Hanh cất cánh.

Chính ủy Đặng Tính  liếc nhìn sĩ quan dẫn đường Trần Quang đang lúng túng, anh so giờ, rồi cúi xuống dưới gầm bàn cấm “giắc” vào vị trí đối không, trong khi địch đang tiến vào, tình huống hết sức khẩn trương. Ông nói :

- Cậu hãy bình tĩnh, coi chừng nhầm.

Trần Quang đỏ mặt nhận ra “giắc” của tai nghe anh cắm vào ống nói, sau khi đã sửa chữa. Trần Quang liếc nhìn Chính ủy, nói :

- Cám ơn Chính ủy.

Lúc này, tốp đầu tiên của địch đã đánh xong đang bay ra. Trên vùng biển nhiều tốp đang bay vào… biên đội Trần Hanh đã cất cánh. Trần Quang bóp micro:

- Đông Đô gọi 01.

- 01 nghe rõ.

Trần Quang hỏi :

- Báo cáo tình hình khí tượng,

- 01 báo cáo, mây trên năm phần, tầm nhìn tốt.

Trần Quang bóp micro :

- 01 hướng bay 220 độ, xuyên mây, độ cao 4.000 mét.

- 01 nghe rõ.

Trần Hanh nhắc số 2 :

- 03 hướng 220, giãn ra, xuyên lên.

Tại sở chỉ huy trung đoàn Sao Đỏ. Đào Đình Luyện tay cầm cây bút chì màu đỏ, biên đội Trần Hanh đã tiến về hướng Nho Quan, sẽ lập khu chờ ở Cẩm Thủy để thu hút tiêm kích địch. Ông nói với Phạm Minh Nhân, sĩ quan dẫn đường:

- Tập trung radar đo cao sục sạo xung quanh biên đội Trần Hanh, không để bị đánh lén.

- Rõ.

Trung đoàn trưởng hết sức lo lắng. Hai biên đội được trung đoàn tung lên trời đều là những phi công giỏi, có ý chí chiến đấu cao. Ông biết rõ trách nhiệm của họ rất lớn, đây là trận đánh đầu tiên, hàng ngàn năm nay, bây giờ là thời cơ… Ông đang theo dõi cả hai biên đội. Trạm radar dẫn đường ở bên kia đường băng đang bám sát hai tốp quân ta, hàng chục cặp mắt dõi theo những chấm sáng di động trên màn hiện sóng, nhích dần, nhích dần tới khu vực chiến đấu. Đào Đình Luyện đứng lên từ lâu, ông chống hai tay lên bàn, cây bút chì đỏ trên tay ông bỗng sững lại. Biên đội Phạm Ngọc Lan đi vào vùng mù của radar. Hai phút liền, đường chì màu đỏ dừng lại ở phút 55. Địch đang tiếp tục tiến vào…
Logged
Tunguska
Global Moderator
*
Bài viết: 519



« Trả lời #21 vào lúc: 21 Tháng Mười, 2007, 03:56:10 pm »

Bọn A-4 đánh cầu Tào, cầu Đò Lèn và cầu Hàm Rồng không có kết quả.Crommell và Robert ở lại yểm hộ cho bọn mang bom đang tiến vào. Robert hết sức ngạc nhiên, gần 30 chiếc mang bom, đánh gần chục tấn bom, không có quả bom nào trúng cầu. Điều mà trong quá trình luyện tập không thể nào chấp nhận. Robert nhớ lại, tại một hòn đảo nhỏ ở vùng biển Hawaii, các phi công chỉ một lần bổ nhào, nhiều lắm là lần thứ hai, chiếc cầu nhỏ xíu, một mỏm đá diện tích vài mét vuông đã bị san bằng. Vậy mà,… tất cả hơn 30 lần chiếc bổ nhào, bom nổ rất xa cầu. Robert hậm hực nhìn những chiếc A-4 mỉa mai. Biên đội 2 chiếc F-8E của Robert tiến vào khu vực cầu Hàm Rồng, đạn pháo cao xạ bắn lên nổ trắng trời. Những cụm khói trắng bao quanh những chiếc máy bay trắng như những con chim biển của hải quân Mỹ làm cho bọn A-4 hốt hoảng. Chiếc F-8E của Robert phải liên tục cơ động. Trên tai Robert, tốp thứ hai vào ném bom đã đến điểm kiểm tra cuối cùng.

***

Đại tá Phùng Thế Tài tháo chiếc kính đeo mắt bỏ vào túi áo. Thời tiết dù còn lạnh, nhưng mồ hôi trên trán ông đã có những giọt rời thái dương chảy xuống má. Ông lấy bàn tay chùi ngang, mắt vẫn nhìn biên đội Phạm Ngọc Lan đã vượt qua dãy Tam Điệp đang tiến vào Hà Trung. Sĩ quan dẫn đường Trần Quang thông báo:

- Địch bên trái, 45 độ, 25 ki-lô-mét. 05 ném thùng dầu phụ.

Phạm Ngọc Lan phấn chấn :

- 05 nghe rõ. Chú ý, tất cả ném thùng dầu phụ, chuẩn bị công tắc quân giới.

- 05, hướng bay 130 độ, địch bên phải 15 ki-lô-mét.

Trần Minh Phương reo lên :

- 08 phát hiện bên phải 2 chiếc F-8. 05 thấy chưa ? Nó ở ngay trên mỏm núi bên phải 45 độ.

Phạm Ngọc Lan bình tĩnh :

- Tôi thấy rồi. Biên đội hai chiếc, tấn công.

Phạm Ngọc Lan nghiêng cánh, tốc độ góc rất lớn, ép mạnh cần lái sang bên phải, anh thấy hai chiếc F-8 đang bay ngang. Anh la lớn :

- 06 bám theo, tôi công kích.

Hai chiếc F-8 lúc này đã ra sát bờ biển. Lan tăng tốc độ tối đa, Phan Văn Túc bám đội rất chắc, anh nhắc :

- 05 công kích đi, tôi yểm hộ.

- 05 nghe rõ…

Lan kéo mạnh cần lái, lập tức cải bằng, chiếc F-8 đang ở trước mũi, anh cho chiếc số 1 vào vòng ngắm, cự ly hết sức thuận lợi, địch không phát hiện Mig, Lan ấn cùng một lúc ba khẩu súng, anh bắn một loạt dài, chiếc F-8 bùng cháy, Lan reo lên :

- Cháy rồi. 05 bắn rơi…

***

Crommell đang ở độ cao 3.000 mét. Trên tai nghe viên chỉ huy tốp A-4 vừa tiến vào “Triển khai đội hình ném bom”. Liếc ngang, Crommell thấy hai chiếc Mig-17 đang đè đầu Robert. Crommell hét lên:

- Robert, Mig ở 5 giờ (bên trái, phía sau).

Robert không kịp phản ứng, bị bắn một loạt đạn, máy bay bùng cháy. Crommell hét lên :

- Nhảy dù, Robert, nhảy dù ngay.

Đội hình bọn A-4 mang bom nhốn nháo, một số trút bom trên sông, tháo chạy. Crommell lao theo chiếc F-8E của Robert đang cháy ngày một to, biển mênh mông, Robert nhảy dù, phía dưới những chiếc tàu cứu nạn đang chạy dọc ngang. Crommell vòng trở lại mục tiêu. Trên tai Crommell lại những tiếng hốt hoảng: “Cơ động, cơ động, Mig, Mig…”.

***

Phan Văn Túc bám chặt Phạm Ngọc Lan. Ở bên kia sông Hồ Văn Quỳ và Trần Minh Phương lao vào một tốp A-4, bọn Mỹ hoảng hốt cắm đầu xuống dưới thấp lượn vòng bay thẳng ra biển. Trong khi đó, 4 chiếc F-8 lao vào, cắt ngang đội hình hai chiếc Mig. Thời cơ thuận lợi, Quỳ quyết định tấn công, ở phía sau Phương quan sát rất tốt, anh bao quát, quan sát toàn bộ đuôi của biên đội. Phương nói:

- 07, bình tĩnh, tôi ở phía sau.

- 07 nghe rất tốt. Tôi công kích.

Phương vừa quan sát địch, vừa nhìn động tác của Quỳ. Quỳ chỉnh mũi máy bay bắn đón chiếc F-8E đang cải bằng và tăng tốc độ. Chùm đạn trên chiếc Mig của Quỳ bắn ra đều rơi vào phía sau. Phương nhắc :

- 07, đạn rơi phía sau, chỉnh lại đường ngắm.

Hai chiếc F-8E phát hiện Mig-17 xạ kích, bọn chúng tăng lực, tháo chạy. Ngay lúc đó Phương phát hiện từ bên phải hai chiếc F-8E đang lao rất nhanh vào phía sau biên đội. Phương vừa báo cáo, vừa cơ động gấp :

- 07, phía sau bên phải có địch, tôi phản kích. 07 chú ý quan sát.

Phương vòng lại, lái chiếc Mig lao thẳng vào hai chiếc F-8. Quỳ vòng trở lại yểm hộ cho Phương. Đầu chiếc Mig-17 của Phương đâm thẳng vào hai chiếc F-8, khoảng cách ngày càng rút ngắn. Đòn cân não lần đầu người Mỹ giáp mặt với không quân nhân dân Việt Nam, bọn Mỹ hoảng loạn, buộc phải cơ động, né tránh. Phương trở lại tập hợp với Quỳ. Ở bên kia Phan Văn Túc phát hiện hai chiếc F-8E, Túc báo cáo :

- 05, bên phải có 4 chiếc F-8 đang lao tới.

Lan ra lệnh:

- 06 công kích, tôi yểm hộ.

Túc ép máy bay trượt cạnh sang phải, động tác khéo léo của Túc làm cho 4 chiếc F-8 ở ngay trước mũi chiếc Mig-17 của anh. Túc điều chỉnh góc ngắm, lúc này 4 chiếc F-8 tách đôi, hai chiếc vòng bên phải, hai chiếc vòng bên trái… Động tác hai chiếc vòng bên phải đơn giản, rất thuận cho Túc cắt bán kính vào phía trong. Phạm Ngọc Lan quan sát phía sau, không thấy có địch, anh lật máy bay nhìn xuống dưới, cũng không có địch, Lan bóp micro :

- 06 bình tĩnh, kiên quyết công kích.

- 06 nghe rõ.

Túc điều chỉnh góc đón, đẩy hết tay ga, tốc độ chênh lệch đã có, anh ấn cò ba loạt. Loạt đạn thứ ba trúng vào chiếc F-8 thứ hai, điểm nổ trắng ở một bên cánh và phía sau thân, chiếc F-8 lạng xuống dưới, bốc cháy. Túc hét to:

- Cháy rồi. 06 bắn rơi chiếc F-8 ở sát mép biển. Ôi,… hay quá!

***

Crommell lao vào khu vực mục tiêu ở độ cao 4.000 mét, đạn pháo cao xạ nổ, chấn động nhẹ chiếc F-8 nhưng hầu hết ở bên dưới. Bỗng Crommell nghe tiếng kêu thất thanh: “Chết tôi rồi…”, Crommell biết một chiếc F-8 nữa bị bắn rơi, tiếng la rất lớn nhắc nhở: “74, cố lao ra biển”. Biên đội 4 chiếc F-8E của Crommell có nhiệm vụ chặn Mig ở độ cao trên 4.000 mét, ông ta lái chiếc F-8 cùng với biên đội quần đảo liên tục trên vùng trời Hàm Rồng, cho đến kết thúc toàn bộ trận đánh.

Crommell hạ cánh, ông ta rời khỏi máy bay, xuống thang máy bước ra phòng giao nhiệm vụ. Sau khi báo cáo bằng giấy kết quả trận đánh, cùng với bản vẽ. Crommell đến bệnh xá trên hạm, người Crommell gặp đầu tiên là Robert. Robert lạnh lùng:

- Tôi thật là may mắn thoát chết. Lời tuyên bố của J.Paul hôm nào, “những chiếc Mig-17 cổ lỗ không đáng coi là đối thủ của không lực Hoa Kỳ”. Thiếu tá còn nhớ Đô đốc Black đã nói : “Với một nhúm nhỏ loại máy bay lạc hậu ấy, phi công chúng ta không cần phải đánh mà chỉ để chơi, như kiểu mèo vờn chuột, nó chỉ đáng để mua vui cho phi công ta”.                             

Crommell gật đầu, vỗ vai Robert:

- Chiến tranh, không phải là trò đùa. Đối thủ của chúng ta,…                                   

- Vâng, thưa thiếu tá, có lúc tôi cũng có ý nghĩ,… bây giờ, sau trận ngày hôm nay, tôi nhận ra một điều, những quả đạn của phi công Bắc Việt Nam bắn ra chẳng thể nào coi là trò chơi được. Bằng chứng là,… chúng ta đã mất hai chiếc phản lực cơ hiện đại…                       

Crommell và Robert nhìn nhau, thực tế trên chiến trường đã làm cho những ý nghĩ của họ gần nhau hơn. Robert thở dài, lần đầu tiên trong nhiều năm kể từ chiến tranh Triều Tiên, không lực Hoa Kỳ thua trắng tay. Không thể đùa với lửa ! Crommell lại có ý nghĩ khác. Ông ta không coi việc bị bắn rơi hôm nay là thua trận, mà là một bài học cho thói kiêu căng, coi thường đối thủ …         
Logged
Tunguska
Global Moderator
*
Bài viết: 519



« Trả lời #22 vào lúc: 21 Tháng Mười, 2007, 04:01:21 pm »

Hai biên đội, 6 chiếc Mig-17 đã về đến sân bay 5 chiếc, chỉ có chiếc Mig-17 của Phạm Ngọc Lan hết dầu, phải hạ cánh bắt buộc ở một bãi ngô bên dòng sông Đuống. Đào Đình Luyện ngồi ở bàn chỉ huy rồi bước ra bên ngoài, rút điếu thuốc lá, châm lửa. Ông hết sức lo lắng cho Lan, dù ông biết Phạm Ngọc Lan là một phi công giỏi, trình độ dẫn đường, xác định vị trí ở mặt đất rất chính xác. Nhưng, đời người lính bay, sự cố xảy ra, chẳng bao giờ lường hết nổi. Hạ cánh ở sân bay, nhiều khi vẫn có thể xảy ra tai nạn nói gì hạ cánh ở ngoài sân bay. Trung đoàn trưởng đoàn Sao Đỏ còn có những lo lắng riêng tư. Ông không nói ra với ai, kể cả với Phạm Ngọc Lan. Ông yêu mến Lan đặc biệt còn bởi Lan là một phi công dám nghĩ, dám làm, giàu trí tuệ và có tư duy độc đáo. Nhiều khi, những điều phát biểu của Lan gợi ý cho ông những suy nghĩ để hình thành cách đánh của không quân thuở ban đầu như thế này… Ông bước những bước ngắn bên ngoài sở chỉ huy trung đoàn… Tự nhiên, ông nghĩ rằng sẽ có tin của Phạm Ngọc Lan. Ông bước vào sở chỉ huy, ánh mắt của ông đảo nhanh các sĩ quan trực ban. Ông bước đến bàn bên trong, một sĩ quan tác chiến đứng dậy, tay vừa đặt chiếc ống nghe xuống bàn :

- Báo cáo Trung đoàn trưởng, đồng chí Phạm Ngọc Lan đã hạ cánh an toàn. Địa phương đã báo cho chúng ta. Tôi đã báo cáo với đồng chí tham mưu trưởng cho xe đi đón rồi…                                     

Đào Đình Luyện thở ra:

- Tốt quá, đồng chí triệu tập tất cả phi công và các bộ phận phục vụ, các sĩ quan tác chiến, quân báo, dẫn đường phải có mặt để rút kinh nghiệm trận chiến đấu hôm nay. Từ nay, sau một trận chiến đấu phải tổ chức họp rút kinh nghiệm chiến đấu ngay trong ngày.                                 

- Rõ!   

***

Cuộc họp rút kinh nghiệm trận chiến đấu trong ngày có đầy đủ biên đội tham chiến, rất đông cán bộ và sĩ quan của trung đoàn. Một đoàn cán bộ sở chỉ huy quân chủng cũng có mặt. Không khí vui tươi, phấn khởi, rạng rỡ trên gương mặt của tất cả những người dự họp. Đại úy Phan Thành xông xáo căng ngang trên sân khấu một khẩu hiệu dài “Nhiệt liệt chào mừng trận đầu chiến thắng vẻ vang”, nét mặt tỏ rõ trong chiến công ngày hôm nay anh ta cũng là người có đóng góp lớn. Thượng sĩ dẫn đường Văn Thành, chiếc áo quân phục hạ sĩ quan được cho vào bên trong quần, nơi chiếc thắt lưng màu nâu sậm, bước vào hội trường với lòng rạo rực niềm vui chiến thắng. Trung đoàn trưởng Đào Đình Luyện mặc chiếc áo bay mùa hè, tay cài nút, tóc mượt chải ra phía sau và cả phía trước, ông như trẻ ra gần chục tuổi. Đặc biệt nhất là biên đội Phạm Ngọc Lan, tề chỉnh trong bộ quần áo bay, ngồi ở dãy ghế đầu. Trần Hanh, ngồi ở đầu hàng ghế phía trên cùng. Phạm Minh Nhân, Đại úy Lê Liên chủ nhiệm dẫn đường quân chủng, Trần Quang và Long ngồi phía sau biên đội…

Đào Đình Luyện mở đầu bằng giọng nói đặc biệt của ông, ông bao giờ cũng rút ra nguyên nhân của thắng lợi và những bài học, ông không quên nhắc nhở những mặt non yếu:

- Chúng ta mở mặt trận trên không đầu tiên, biên đội Lan, Túc, Quỳ và Phương đã đánh thắng trận đầu rất vẻ vang. Qua trận chiến đấu hôm nay, chúng ta bộc lộ những mặt yếu, do chúng ta còn chưa có kinh nghiệm không chiến. Phi công bắn ở cự ly xa, chúng ta quen ước lượng bằng máy bay của ta, bây giờ địch to hơn, nên bắn ở cự ly xa, đạn tiêu hao nhiều, chúng ta đã bắn 686 viên đạn, trong đó, 160 viên 37 ly và 526 viên đạn cỡ 23 ly. Tiêu diệt được 2 chiếc F-8E. Như vậy cũng là tốt. Tôi đề nghị sĩ quan trực chỉ huy báo cáo tóm tắt, biên đội sẽ phát biểu về trận đánh sau.                       

Thượng úy Phi đứng lên, cầm que, chỉ vào sơ đồ, nói:

- Tình hình địch, ta, trung đoàn trưởng đã nói. Chúng tôi thấy trận chiến đấu hôm nay chúng ta giữ được bí mật, bất ngờ cho đến lúc xạ kích. Cấp trên hạ quyết tâm chiến đấu chính xác, cho máy bay cất cánh đúng thời cơ…                             

Mọi người chăm chú và ngưỡng mộ các phi công có công. Họ trình bày trận chiến đấu bằng mô hình những chiếc Mig-17 và máy bay địch. Những động tác trượt, vòng, cắt bán kính được trình bày một cách đầy thuyết phục. Dường như một trận đánh thắng mọi sai sót đều được khỏa lấp. Nói cho cùng với trận đánh đầu tiên thắng lợi, cả nước rộn ràng, đơn vị như bay bổng thì khó có thể chỉ ra khuyết điểm. Long và Lê Liên cùng hòa chung không khí của đơn vị. Ai cũng muốn phát biểu. Đại úy Phan Thành đứng lên:

- Trận đánh hôm nay, tôi thấy các đồng chí phi công có quyết tâm chiến đấu cao. Vận dụng tốt phương châm tác chiến của quân chủng, chúng ta đã tiêu diệt được địch, giữ gìn lực lượng ta. Từ người chỉ huy cho đến các bộ phận phục vụ, biên đội nghi binh đều hoàn thành tốt nhiệm vụ. Chúng ta đã quán triệt nguyên tắc tích cực, chủ động, cơ động, linh hoạt trong xử lý tình huống. Từ trận không chiến hôm nay, Không quân Nhân dân Việt Nam đã đánh thắng không quân đế quốc Mỹ. Rõ ràng Mỹ giàu, hiện đại nhưng không mạnh như chúng ta vẫn tưởng. Tôi đề nghị các đơn vị báo công để đề nghị lên cấp trên khen thưởng…

Cuối cùng, Lê Liên đứng lên xin phép Trung đoàn trưởng có ý kiến:

- Thắng thì rõ rồi. Tôi đề nghị trung đoàn nên từ thực tế, đối chiếu với những tình huống khác, nếu phức tạp hơn, chúng ta phải làm gì? Từ trận ngày hôm nay, tôi theo dõi và nghe trên đối không, chúng ta thấy là vì Mỹ bị bất ngờ. Trận đầu tiên ta chưa có kinh nghiệm, còn bọn Mỹ cũng lờ ngờ. Nước Mỹ, người Mỹ là một quốc gia có đầu óc. Tôi xin lưu ý, người Mỹ rút kinh nghiệm nhanh và biện pháp đối phó cũng rất nhanh. Chúng ta mừng vì thắng trận. Nhưng cuộc chiến đấu còn dài. Bọn Mỹ mạnh và đông chúng ta không thể coi thường.

Cuộc họp kết thúc khi Đào Đình Luyện nhận được lệnh từ Tư lệnh Nguyễn Văn Tiên chuẩn bị cho cuộc chiến đấu ngày mai …

***

Tướng Thomas Moorer, Tư lệnh lực lượng không quân Mỹ ở Thái Bình Dương nhận được điện từ Bộ trưởng Quốc phòng than phiền cuộc tấn công ngày 3 tháng 4 năm 1965 của hải quân và yêu cầu ngày 4 tháng 4 giao cho không quân đánh cầu Hàm Rồng. Tướng Moorer hiểu ý nghĩa của mệnh lệnh. Ông triệu tập các phi công, sĩ quan hành quân, sĩ quan quân báo tại căn cứ chỉ huy các liên đoàn, đóng quân trên đất Thái Lan, thuộc Bộ Tư lệnh Không quân Mỹ ở Thái Bình Dương, để phổ biến mệnh lệnh. Moorer nói :

- Tôi vốn coi thường Mig-17. Tôi đã từng bắn rơi nhiều chiếc Mig-15 và Mig-17 hồi chiến tranh Triều Tiên trong những năm 1950-1953. Nhưng với việc hai chiếc F-8E của hải quân bị phi công Bắc Việt Nam bắn rơi, chúng ta không thể coi thường. Bộ trưởng Quốc phòng đã gọi điện cho tôi ra lệnh. Vừa rồi, Tư lệnh Thái Bình Dương Đô đốc Sharp trực tiếp nói chuyện với tôi yêu cầu tổ chức đánh thật tốt cầu Hàm Rồng. Tôi yêu cầu, lực lượng không quân chúng ta tỏ rõ sức mạnh của mình, dứt điểm cầu Thanh Hóa bằng lực lượng tinh nhuệ nhất mà chúng ta có.

Moorer chỉ định Đại tá G. Anderson liên đoàn trưởng 303 đóng quân tại sân bay Cò-rạt chỉ huy đội hình lớn đánh cầu Hàm Rồng. G. Anderson là phi công cấp 1, có trên 4.000 giờ bay, lái F-105D. Trong kế hoạch hành quân, liên đoàn và tập đoàn không quân số 7 đã có phương án phối hợp yểm hộ, bảo vệ cho phi đội mang bom và phục vụ, bao gồm những chiếc máy bay cứu nạn, máy bay tiếp dầu và khu vực tiếp dầu đều được quy định chặt chẽ. Toàn bộ phi công làm nhiệm vụ ném bom được xem không ảnh quan sát địa hình trên bản đồ nổi…

Moorer gọi G. Anderson vào phòng làm việc của ông ta. Moorer và G. Anderson vốn cùng học trường đào tạo phi công ở bang Texas từ cuối những năm một chín bốn mươi. Họ đều tốt nghiệp loại xuất sắc, được phân công sang Châu Á và Thái Bình Dương. Moorer rót rượu ra hai chiếc ly cao, đưa cho Anderson, nói:

- Chúng ta đã từng chiến đấu ở Triều Tiên. Đại tá có suy nghĩ gì về cuộc chiến tranh này ?

- Tôi, hả?

Moorer biết Anderson ngại nói ra những điều bắt đầu, khi cuộc chiến chưa đến. Moorer nói :

- Làm một quân nhân, chắc Đại tá cũng có suy nghĩ như tôi.

- Tôi chưa hiểu.

Moorer chuyển đề tài :

- Đại tá, Maria khỏe không?

Anderson nghe đến vợ, bao e dè đều bay hết, trong đầu chỉ có hình ảnh của vợ và cô con gái đã lớn :

- Vợ tôi vẫn khỏe, đang dạy học ở quê nhà, con gái lớn của tôi sắp qua trung học. Tự nhiên, nhắc đến nàng tôi nóng ruột quá,…

Anderson nhìn Moorer thẳng thắn hơn :

- Tôi chỉ mong được về nhà... Tôi được chỉ định chỉ huy. Tôi không lo không quân Bắc Việt Nam, tôi rất lo lực lượng pháo cao xạ, bầu trời bao la, làm sao biết được chỗ nào, nơi đâu có đạn ?

Moorer tâm sự :

- Tôi muốn anh chỉ huy trận đánh quan trọng này. Đó là một cơ hội để anh có được một sao, vĩnh viễn bỏ cái omega với gạch ngang như chiếc barier ấy lại phía sau.

Moorer rót thêm rượu vào hai ly, đưa một ly cho Anderson. Moorer uống hết ly rượu, đặt ly xuống bàn nói tiếp :

- Ngày hôm nay hải quân trên hai hạm cất cánh trên 100 lần chiếc, đánh bốn đợt vào chiếc cầu khá lớn bắc qua hai mỏm núi, người Việt Nam đặt tên cầu Hàm Rồng. Tôi biết, văn hóa phương Đông nói về con Rồng. Đó là linh vật vào hàng số 1 trong bốn con vật thiêng: “long, lân, quy, phụng”.

Thấy Anderson chăm chú, nhưng có vẻ không hiểu, Moorer bèn giải thích:

- Lân, là con kỳ lân, là một con vật mang lại may mắn, nhưng không có thật ở trên đời. Cũng như con rồng là quyền lực, là vật trang trí của vua chúa. Con lân người ta đúc tạo ra một con vật mắt lồi, mũi to, miệng rộng, chân và cổ đeo lục lạc. Đi tới đâu, ở nơi nào có lân, đều có may mắn, có tiền bạc. Ước mơ đó, biến hai con vật không có thực trở thành quyền lực và tiền bạc là hai thứ mơ ước của con người, nó trở thành linh vật… Người phương Đông coi Hàm Rồng là một nơi linh thiêng. Người ta cố tìm nơi có mạch rồng (long mạch), để chôn cha mẹ, ông bà, mong sao, đường công danh, tiền bạc thênh thang… cho nhiều thế hệ sau này.

Moorer dừng lại, Anderson cười mỉm, nói :

- Vậy là, chiếc cầu ngậm hàm rồng là điều may mắn cho tôi, phải không Moo ? Tôi không tin sự may rủi. Tôi rất tin kỹ thuật của liên đoàn chúng tôi, họ là những phi công cừ khôi. Đó là những chuyên gia đánh cầu và mục tiêu điểm, mục tiêu đối với họ như kiểu tập a, b, c đã qua lâu rồi. Ngày mai, tôi nghĩ là ngày mai chúng tôi sẽ phá được cầu.

***

Tư lệnh không quân Nguyễn Văn Tiên gọi điện cho Trung đoàn trưởng Đào Đình Luyện. Cuộc đối thoại đó diễn ra vào lúc gần 11 giờ đêm ngày 3 tháng 4.
Thượng tá Nguyễn Văn Tiên :

- Anh Luyện, theo tin kỹ thuật, ngày mai, do cầu đánh chưa sập, bọn Mỹ sẽ đánh tiếp. Lực lượng thay đổi, bọn không quân ở Thái Lan sẽ đánh. Điều mà sự phân công các khu vực của bộ chỉ huy Mỹ ở Thái Bình Dương bị đảo lộn. Bọn Mỹ chuẩn bị kỹ lắm. Anh bàn với anh em cách đánh, ngày mai phải khác hôm nay.

Trung tá Đào Đình Luyện :

- Thưa anh, tôi hiểu. Chúng tôi vừa bàn xong. Chủ yếu trong cách đánh ngày mai, tiếp cận nhanh chóng, bắn mãnh liệt, thoát ly khỏi khu vực chiến đấu ngay.

Tư lệnh Nguyễn Văn Tiên :

- Anh trao đổi với anh em, có thể địch sẽ sử dụng tiêm kích rất đông, rất có thể chúng ta sẽ gặp tên lửa nhiệt và cả tên lửa có điều khiển, phòng tránh như thế nào ?

Trung đoàn trưởng Đào Đình Luyện :

- Anh em đã thảo luận nhiều lần, có cả đồng chí Phước ở quân chủng xuống phổ biến cho phi công, Tôi nghĩ…

Tư lệnh Nguyễn Văn Tiên cắt ngang :

- Chúng ta chưa có kinh nghiệm, anh Phước cũng chỉ nghe lại. Anh Luyện, tôi cho rằng với loại tên lửa, bất kỳ là tên lửa loại nào, đều không thể vòng theo máy bay ta. Cho nên, cơ động với tốc độ góc lớn là có hiệu quả. Anh thấy…

Trung đoàn trưởng Đào Đình Luyện :

- Tôi đồng ý với cách suy nghĩ của anh, tôi sẽ nói lại với anh em. Dự kiến biên đội ngày mai, biên đội nghi binh, gồm bốn phi công Lê Trọng Long, Phan Văn Túc, Hồ Văn Quy, Trần Minh Phương. Biên đội công kích gồm Trần Hanh, Phạm Giấy, Lê Minh Huân và Trần Nguyên Năm.

Tư lệnh Nguyễn Văn Tiên :

- Tốt lắm, ngày mai sẽ rất khác với hôm nay, địch đã biết có không quân ta xuất hiện, đã bắn rơi máy bay Mỹ. Nhất định bọn Mỹ sẽ hết sức đề phòng, không quân ta nhất định sẽ gặp sự đối phó quyết liệt. Nhưng bộ tư lệnh quân chủng cho rằng dù địch rất mạnh, tiềm lực lớn, cũng sẽ không kịp thay đổi lớn trong ngày 4 tháng 4. Bọn Mỹ vẫn còn sơ hở, chủ quan. Riêng ý kiến cá nhân của tôi, không quân khác rất xa với bộ binh. Nếu là bộ binh ngay ngày mai chưa kịp xoay xở lớn vì tính cơ động có hạn. Còn không quân, tính năng, sự linh hoạt, có thể có sự bố trí, cách thức yểm hộ và đối phó sẽ khác với hôm nay. Anh chuẩn bị tư tưởng cho anh em. Dù địch có thay đổi, thì thời cơ xuất kích, phương pháp tiếp cận, cách đánh nhanh cũng là yếu tố bất ngờ, ta cần khai thác. Trong cuộc họp tối nay, tư lệnh quân chủng quyết định, không quân đánh đợt 2, đợt 1 toàn bộ vùng trời cao xạ tự do đánh. Ý kiến anh thế nào ?

Trung đoàn trưởng Đào Đình Luyện :

- Tôi nghe rất rõ ý định chiến đấu của bộ tư lệnh quân chủng. Chúng tôi sẽ cho biên đội nghi binh cất cánh trước hai phút, bay ở độ cao 8.000 mét, khu vực bay ở Vụ Bản – Phủ Lý, nhiệm vụ của biên đội là thu hút sự chú ý của địch, thu hút tiêm kích, sẵn sàng chi viện cho biên đội công kích. Còn biên đội Trần Hanh cất cánh bay dọc đường số 1, đến Ninh Bình sẽ vòng ra hướng Đông Nam, tấn công từ ngoài biển vào…
Logged
Tunguska
Global Moderator
*
Bài viết: 519



« Trả lời #23 vào lúc: 21 Tháng Mười, 2007, 04:07:53 pm »

Rời bàn tác chiến nơi vừa nói chuyện với Trung đoàn trưởng đoàn Sao Đỏ, Tư lệnh Không quân dáng bệ vệ bước ra bàn chỉ huy. Long ngồi tính toán những số liệu sẽ sử dụng cho trận không chiến ngày mai. Phương án tác chiến đã được xác định. Trung úy Đào Ngọc, sĩ quan dẫn đường sẽ dẫn trận đánh vào ngày mai. Long phụ tá cho Ngọc. Họ là những sĩ quan trẻ, hồn nhiên. Ngọc hỏi Long :

- Theo cậu, bọn Mỹ ngày mai sẽ giở trò gì ?

- Theo tôi…    

Long chưa kịp trả lời Ngọc, Tư lệnh Không quân đến bên Ngọc, hỏi :

- Nếu địch sử dụng không quân thì khác gì so với trận đánh ngày hôm nay ?

Ngọc là một sĩ quan trầm tính, ít nói, ít có chính kiến rõ ràng, nhưng hiểu biết kha sâu và chịu nghiên cứu. Anh ta có một chiếc răng giữa chìa ra phía trước, miệng rộng, môi dày, mắt tròn, mặt vừa vuông, vừa tròn, khá đẹp trai. Ngọc đứng dậy, Tư lệnh ấn vai bảo :

- Cậu cứ ngồi, chúng ta trao đổi.

- Thưa Tư lệnh, không quân, chắc là ở Thái Lan. Thường, trong các tài liệu về địch nói, bọn không quân, đội hình khác với hải quân. Bọn hải quân yểm hộ trực tiếp trong đội hình. Còn bọn không quân, yểm hộ cả trong đội hình và yểm hộ khu vực. Cho nên, cách bố trí tiêm kích sẽ khác. Đó lá cái khó nhất đối với chúng ta.

Tư lệnh trầm ngâm :

- Đúng là, chiến đấu ở trên không, khi giáp trận hoặc trong quá trình địch hành quân ta mới phán đoán. Còn bộ binh, trước trận đánh, ta cử trinh sát mò vào tận nơi, dù sao cũng biết được địch trước khi nổ súng. Không chiến, khác hẳn, địch luôn cơ động, ta khó mà biết trước. Vấn đề là, mặt trận quá mới, chúng ta chưa có kinh nghiệm lại phải đương đầu kẻ địch hùng mạnh cả về thế và lực. Theo tôi, chúng ta chuẩn bị hai phương án.

Tư lệnh không quân từng là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 307, bộ đội chủ lực nổi tiếng ở Nam bộ, ông có thói quen, dường như ăn sâu vào đầu óc ông cách đánh của bộ binh, dù ông được đào tạo rất kỹ để chỉ huy không quân. Bao giờ ông cũng có nhiều phương án cho một trận đánh, ít nhất là hai phương án. Thói quen đó tạo cho ông xoay chuyển tình thế dễ dàng, ít khi ông bị động khi một phương án bị bế tắc. Tư lệnh nói tiếp :

- Phương án một, nếu địch tiến vào Hàm Rồng như hôm nay, chúng ta sẽ tấn công từ hướng Đông Bắc, điểm gặp địch tại cầu Hàm Rồng, chúng ta sẽ đánh đợt 2, đợt một pháo cao xạ tự do đánh. Phương án hai, địch tiến vào từ hướng Tây Nam, chúng ta sẽ tấn công từ hướng Bắc. Anh hết sức lưu ý. Do đã bộc lộ lực lượng, dù có thể vẫn còn yếu tố bất ngờ. Tôi cho là…

Tư lệnh là một sĩ quan cao cấp có ý thức kỷ luật rất cao. Trong phiên họp bộ tư lệnh, đa số cho là vẫn còn thời cơ, hầu hết đều cho rằng tuy tiềm lực Mỹ rất mạnh, nhưng địch không thể thay đổi lớn cách đánh và chiến thuật ngay ngày mai được. Chỉ có, ông cho là không chiến yếu tố bất ngờ là vô cùng quan trọng, nhưng yếu tố bí mật là nhân tố sẽ dẫn đến trận không chiến thắng lợi. Nay bí mật đã không còn, trận không chiến sẽ hết sức khó khăn. Ông cố gắng hết sức mình, tìm mọi cách để tạo thuận lợi cho bộ đội, giảm bớt khó khăn, ông hiểu rất rõ, không quân ta so với bọn Mỹ, nếu so sánh với bất kỳ cách nào cũng là khập khiễng. Chỉ có ý chí và trí tuệ Việt Nam mới có gan đánh Mỹ, vì vậy, mọi biểu hiện nảy sinh tư tưởng chủ quan mà trong chiến đấu ở trên không, chủ quan và đơn giản sẽ dẫn đến hậu quả khó lường trước. Ông nói với Đào Ngọc :

- Chúng ta cố gắng tạo bất ngờ cho biên đội, thời cơ đánh cũng là một yếu tố tạo nên bất ngờ. Đặc biệt trong không chiến, hướng tiếp cận, giấu được biên đội cho đến khi gặp địch cũng là tạo được bất ngờ. Các cậu nghiên cứu thật kỹ để dẫn cho biên đội đánh trận thứ hai. Tôi nghĩ rằng sẽ rất ác liệt và khó khăn.

Đào Ngọc đứng dậy :

- Rõ, thưa Tư lệnh. Theo tôi, người Mỹ ngoài sức mạnh về tiềm lực, họ còn có cả một hệ thống nghiên cứu về chiến tranh bằng các phương tiện hiện đại nhất thế giới.

Long rụt rè, nêu rõ chính kiến của mình :

- Thưa, tất nhiên, về yếu tố tinh thần, chúng ta không có gì phải bàn, phi công ta hừng hực khí thế lập công. Nhưng, đánh nhau với bọn Mỹ, chúng ta phải tính đến yếu tố kỹ thuật, trong đó kỹ thuật về điều khiển máy bay, kỹ thuật không chiến. Hiện nay, theo tôi, trình độ khoa học kỹ thuật chúng ta kém xa bọn Mỹ. Thưa Tư lệnh, tôi xin phép nói thật lòng … Chúng ta chấp nhận chiến đấu thì chúng ta cũng phải chấp nhận đối thủ. Bây giờ đã không thể có chuyện đổi đối thủ, mà là phải chấp nhận đối mặt với đối thủ, dù là một đối thủ khó chịu đến cỡ nào…

Long dừng lại đột ngột, anh cảm thấy tư lệnh khó chịu về cách nói như thuyết giảng của anh, điều mà anh biết không phù hợp trong lúc này. Tư lệnh cúi gầm mặt, hai hàm răng nghiến chặt, ánh sáng đèn rọi xuống mặt bàn, hất ánh sáng phản chiếu lên khuôn mặt khá lớn, da ngăm, đôi lông mày rậm, mắt to, cằm vuông, môi mím của ông. Ông nhận ra viên sĩ quan thấp hơn ông đến bảy cấp bậc nói những điều dễ gây nên khó chịu cho cấp trên. Ông biết rõ anh ta một người vốn bộc trực và thẳng thắn. Anh ta suy nghĩ và quan sát thế nào sẽ nói ra những điều mạnh mẽ, tự chủ, không dựa vào ý kiến của bất kỳ ai, nói cho cùng dù điều đó chỉ thiệt cho anh ta. Đối với ông, dù rất khó nghe, nhưng ông vẫn muốn biết anh ta có suy nghĩ gì mới.

Tư lệnh nhìn thẳng vào Long hỏi :

- Vậy, ý kiến của cậu về trận đánh ngày mai sẽ như thế nào, ta và địch ?

Long thẳng thắn :

- Thưa Tư lệnh, anh Ngọc đã nói rất rõ về địch. Tôi nghĩ ngày mai người Mỹ sẽ đánh khác hơn hôm nay. Về ta, hai phương án của Tư lệnh đã đủ.

Tư lệnh nhìn rất lâu vào ánh mắt của Long. Ông đọc được trong đó sự e ngại thường tình của một sĩ quan trẻ. Ông biết rất rõ, xu thế tư tưởng buộc chàng sĩ quan này, dù cho có trực tính, có dũng cảm đến đâu, cũng phải dè chừng. Ông ôn tồn nói với Long :

- Tôi biết cậu định nói khác với điều cậu nói vừa rồi. Nhưng, thôi, để ngày mai.
Long hiểu, trong câu nói lấp lửng của Tư lệnh, có một điều ông không muốn tranh luận bởi vì chúng ta chưa có thực tiễn. Ông băn khoăn có thể ý kiến của số đông sẽ đúng. Nhưng, cũng có thể mọi việc sẽ khác xa với những điều mà cả ông và Long cùng nghĩ. Việc bây giờ là phải làm tất cả những gì có thể để giảm đến mức thấp nhất những tổn thất có thể xảy ra trong cuộc chiến đấu ngày mai. Ông ngồi xuống bên Đào Ngọc :

- Trận chiến đấu ngày mai sẽ rất khó khăn, công tác chuẩn bị cần phải làm thật tốt. Việc gì có thể làm được hôm nay không nên để ngày mai.

- Rõ, thưa Tư lệnh. Mọi công tác chuẩn bị cho trận đánh tại sở chỉ huy đã làm xong.

Tư lệnh Nguyễn Văn Tiên gật đầu. Ông bước ra khỏi sở chỉ huy không quân với những bước dài, cả người ông như dồn về phía trước với bao suy tư về những vấn đề ông chưa từng gặp phải. Trong khi đó, Đào Ngọc và Long trải tờ giấy bóng mờ cỡ lớn, trên đó có vòng phương vị nơi đặt trạm radar bên trong sân bay Bạch Mai. Chiếc bút chì đen mềm loại HB được vót nhọn, cây thước tam giác có nửa vòng tròn với những khắc độ và cự ly được đặt sẵn trên bàn, chiếc đồng hồ giờ có kim giây màu đỏ ở góc bàn. Phía trong nơi đặt máy liên lạc với trên không, bộ máy ghi âm với những cuộn băng có đường kính gần ba tấc gắn liền với chiếc máy đối không, ghi lại tất cả những cuộc đối thoại ở trên không và ở trên không với mặt đất. Tất cả đã sẵn sàng cho cuộc chiến đấu ngày 4 tháng 4 năm 1965.

***

Anderson cất cánh, đường băng phi trường Tákli rất dài và rộng đủ để có thể cất cánh từng hai chiếc song song và bốn chiếc nối đuôi. Toàn bộ đội hình 36 chiếc F-105D chỉ bằng động tác kéo dài hơn cất cánh bình thường thêm một phút, vòng lại 180 độ thông qua phi trường là đã tập hợp xong, đội hình 9 biên đội trải dài khá xa… Anderson chuyển hướng bay về hướng hồ Nonghan và lên cao 4.500 mét. Anderson quan sát đội hình bằng mắt thường, từng bốn chiếc nối đuôi, hùng dũng lướt qua những cánh đồng lúa và rừng Thái Lan, xanh thẫm, ngút ngàn. Ông ta gọi trung tá Bennett đang bay ở cuối đội hình :

- 484, biên đội tốt chứ ?

Ben trả lời :

-Rất tốt, tôi vẫn nhìn thấy Đại tá.

- Tốt lắm.

Anderson đưa mắt quan sát bầu trời. Phía trước, bầu trời xanh, thi thoảng có những đụn mây như ngọn núi cao…. Theo quy định trong phương án tác chiến do viên sĩ quan hành quân phổ biến, toàn bộ đội hình mang bom của liên đoàn Anderson phải có mặt ở hồ Nonghan vào lúc 10 giờ. Bên trái theo hướng bay tới là sân bay dân dụng Chiang Khrua. Tại đó, biên đội của Anderson sẽ gặp 16 chiếc F-4H cất cánh từ sân bay Udon bay đến tập hợp vào đội hình của biên đội cường kích và nó sẽ yểm hộ trực tiếp trong đội hình cho đến mục tiêu. Anderson liếc nhìn chiếc đồng hồ giờ lấy theo giờ Hawaii gắn trên bảng đồng hồ, chiếc kim giây ở cuối đầu có đốm trắng để phi công có thể nhìn ban đêm. Nó đặt ở giữa. Phía trên, phía dưới, bên phải và bên trái nó hàng chục chiếc đồng hồ đảm nhiệm hàng trăm chức năng khác nhau, có chiếc chỉ độ cao, áp suất buồng đốt, nhiệt động cơ, chỉ vòng quay rồi chỉ tốc độ máy bay, chỉ độ nghiêng cánh, chỉ lượng bay lên, bay xuống, v.v… Đặc biệt nhất có lẽ là chiếc radar ngắm bắn là lớn hơn cả. Anderson còn được phổ biến, ngay trên buồng lái, phía bên trái có bốn máy gây nhiễu sóng điện từ, chỉ cần có lệnh mở máy, bốn công tắc được bật lên, tức khắc máy sẽ hoạt động và cả bốn máy sẽ là bức màn trắng hoàn toàn vô hiệu hóa radar đối phương, kể cả radar ở mặt đất và radar trên máy bay. Đồng hồ giờ đã nhích dần đến giờ quy định, đội hình hành quân của liên đoàn Anderson bay qua gần đến miền Đông nước Thái Lan, hồ Nonghan xuất hiện ở xa xa. Anderson liếc sang trái, ngay dòng sông đổ ra hồ, phi trường Chiangkhrua màu xám như một vệt bút chì đen giữa mảng màu xanh lá mạ. Anderson bấm micro :

- Gấu Mèo, Chim Ưng gọi. Tôi đã đến điểm “Zero”.

Tiếng Smith, trung tá chỉ huy phó liên đoàn 305, F-4D trả lời :

- Gấu Mèo nghe. Tôi đã nhìn thấy bạn. Tuyệt lắm. Chúng tôi đủ số lượng, bố trí như phương án “Báo Con”.

Anderson nhìn sang trái, 4 chiếc F-4 tập hợp vào đội hình, bên phải hai chiếc F-4 đi phía trước đội hình F-105. Ở phía sau Bennett báo cáo :

- Gấu Mèo, tôi thấy các anh ở phía sau và…

Magnusson chỉ huy 6 chiếc F-4 bảo vệ đuôi cho F-105, nói :

- Chim Ưng, các anh bay rất đẹp, như duyệt binh.

Anderson nói :

- Sắp qua đất đối phương, hãy nhớ tất cả những điều đã quy định. Yêu cầu Gấu Mèo chốt chặn những khu vực 1 và 3. Hôm nay chắc chắn sẽ có Mig, tôi vừa được thông báo từ ở nhà.

Bennett nhìn đội hình hành quân của F-105 và yểm hộ của liên đội F-4 bay qua đất Lào, thốt lên:

- Đẹp quá, chúng ta thật là vĩ đại.

Anderson nhắc nhở:

- Chỉ nói những điều cần thiết, không có gì đặc biệt, không được nói.

- Nghe rõ.

Anderson vô cùng sung sướng. Không ngờ người bạn Thomas đã tạo cho ông một cơ hội để được bay trên bầu trời đầy nắng, hồ, những con sông và mặt biển ở phía Đông như một bức tranh sơn thủy tuyệt đẹp. Moorer quả đúng khi nói :
“Những chiếc F-105 như những con thiên nga mang đến cho nước Việt Nam tự do và nhân đạo”. Anderson bỗng nhiên nhớ đến Maria và con gái. Chắc là giờ này mẹ con nàng đang quây quần chuẩn bị cho bữa ăn tối rồi đi ngủ. Bất giác, mặt trời phản chiếu từ dưới hồ hắt lên loang loáng, Anderson thấy rất rõ, bên dưới cánh của 36 chiếc F-105 là những quả bom MK-81 và MK-82 hết sức lợi hại, chỉ cần một quả trúng là chiếc cầu nối hai bờ trên mỏm núi Rồng sẽ vĩnh viễn gục nhào xuống sông … Những quả bom ấy mang đến tự do cho đồng minh và sự an toàn cho lính Mỹ ở Việt Nam.

***

Tại sở chỉ huy không quân, Ngọc và Long vừa thay tờ giấy bóng mờ khác. Tờ giấy bóng mờ dán tối qua, sau đợt đánh cầu lần thứ nhất sáng 4 tháng 4 đã chi chít đường bay Mỹ. Tờ mới trắng tinh dán lên phía trên tấm mica, bên dưới nó là bộ bản đồ 1/500.000 dùng để chỉ huy chiến đấu. Tư lệnh không quân xốc chiếc thắt lưng đã xệ xuống từ lúc bọn Mỹ cho hai chiếc F-8E của hải quân bay rất sâu vào đất liền vòng trái đi ra hướng Hòn Mê và liền sau đó bọn A-4 đánh phà Ghép, cầu Hoàng Mai và một phi đội F-105 của liên đội 67 cất cánh từ sân bay Korat đánh cầu Hàm Rồng lần thứ nhất. Đại tá Đặng Tính nhìn Thượng tá Tư lệnh không quân, ông mở rộng miệng cười, nói :

- Này, Tiên. Bọn Mỹ đánh kiểu này chừng một tháng, chắc là bụng anh nhỏ bớt ít nhất ba phân.

Nguyễn Văn Tiên miệng cười, tay vỗ vào bụng, nói :

- Tôi, tạng mập, hồi chín năm còn trẻ, chạy cùng anh em xung phong, tấn công địch chẳng thua cậu nào. Bây giờ rảnh rỗi tôi cũng chạy bốn cây số, tôi vẫn nói với anh em phải có sức khỏe để đánh nhau lâu dài với bọn Mỹ.

Đại tá Phùng Thế Tài chống hai tay lên bàn. Trên màn hình radar hiện lên cảnh Thái Lan một tốp trên 30 chiếc xuất hiện, ông nói :

- Anh Tiên, bọn Mỹ đang chạy marathon, kìa.

Dùng cây thước tiêu đồ màu trắng, chỉ tốp địch vừa xuất hiện, ông nói với Tư lệnh không quân :

- Theo đúng hợp đồng chiến đấu, tôi đã ra lệnh đợt này, không quân đánh. Ngày hôm qua, trung đoàn pháo cao xạ 234 hành quân từ Vinh về chi viện cho Hàm Rồng, sáng nay mới đến phà Ghép. Bọn Mỹ ập tới, đơn vị triển khai ngay lực lượng chiến đấu trên đường hành quân đã bắn rơi máy bay Mỹ, có chiếc rơi tại chỗ. Ngày hôm qua tại Hàm Rồng, theo tin của địch, ngoài hai chiếc F-8 do không quân ta bắn rơi, pháo cao xạ bắn rơi ba chiếc. Như vậy là một ngày đại bại của hải quân Mỹ. Cầu vẫn nguyên vẹn, chưa có thanh sắt nào bị bay, chỉ có chân cầu vài vết sứt không đáng kể.

Đại tá Phùng Thế Tài ngửa cổ cười lớn, Đại tá Đặng Tính nói :

- Pháo cao xạ đánh rất tốt, tôi đã chuyển lời khen của Tư lệnh đến các đơn vị, bộ đội không quân đã nhận được thư khen của bộ tư lệnh quân chủng. Cầu Hàm Rồng được giữ vững là một chiến công của quân và dân ta. Ở Nam Ngạn, đơn vị phòng không hầu hết là gái đã chiến đấu hết sức dũng cảm, xuất hiện Ngô Thị Tuyển vác đạn trong làn bom, trọng lượng hòm đạn gấp ba lần trọng lượng cơ thể của cô ấy, rất đáng khâm phục. Hôm nay, sở chỉ huy không quân, công tác chuẩn bị như vậy là rất tốt, cố gắng dẫn đường cho không quân ta đánh trận thứ hai thắng lợi. Không được chủ quan, Bác Hồ đêm qua đã gọi điện cho tôi biểu dương không quân, nhắc nhở không được chủ quan khinh địch. Ta còn yếu, mỗi trận đánh là một trận rút được một bài học về công tác tổ chức chỉ huy và chiến thuật không chiến.

Bọn Mỹ đã vượt biên giới nước Lào tiến vào vùng đèo Mụ Giạ của nước ta, tổng trạm radar liên tục phát hàng chục tốp lớn, nhỏ, những đường chì đen, chì xanh là những tốp máy bay địch kéo dài về phía Đông. Thượng tá Nguyễn Văn Tiên cầm chiếc que màu xám, bằng tre, chỉ một vệt dài từ Thái Lan qua đất Lào, ông dừng chiếc que ở Đinh Chùa, nơi có mỏm núi cao 230 mét ở phía Đông đèo Ngang. Như vậy, rõ ràngbọn Mỹ ở các căn cứ không quân, rải rác khắp nước Thái Lan, cùng phối hợp tiến đánh cầu Hàm Rồng. Ông bỗng nhớ tới câu nói gây khó chịu cho ông của Long, chàng sĩ quan trẻ đang ngồi ở đây, rằng: “Chúng ta chấp nhận chiến đấu thì chúng ta chấp nhận đối mặt với đối thủ”. Bây giờ anh ta đang hết sức tập trung theo dõi địch, làm nhiệm vụ người dẫn phụ cho Đào Ngọc. Anh ta tỏ rõ sự bình tĩnh đến ngạc nhiên. Ông thấy Long vẽ một đường chì ngang hòn Sơn Dương ở phía Đông huyện Kỳ Anh, nhỏ giọng nói nhỏ với Đào Ngọc: “Đã đến giờ cho biên đội Lê Trọng Long cất cánh”. Đào Ngọc gật đầu: “Ừ …”. Ngọc đứng dậy :

- Đề nghị Tư lệnh cho biên đội nghi binh cất cánh.
Logged
Tunguska
Global Moderator
*
Bài viết: 519



« Trả lời #24 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2007, 11:07:09 am »

Long thấy Thượng tá gật đầu và mệnh lệnh đó được truyền ngay xuống trung đoàn Sao Đỏ. Long quan sát ở phía Đông, không có tốp địch nào xuất hiện. Toàn bộ vùng biển từ đảo Bạch Long Vĩ cho đến phía Đông thành phố Huế, chỉ có vài tốp tiêm kích bay ở rất xa, có thể đó là những chiếc bảo vệ hạm tàu. Anh ghé vào tai Đào Ngọc :

- Như vậy, đối thủ của chúng ta là bọn không quân ở Thái Lan, dẫn theo phương án 2 của Tư lệnh, dù địch sẽ vào hướng Đông Nam. Phương án 2 có lợi thế hơn.

Ngọc nói nhỏ, dù rất nhỏ, Long vẫn nghe rõ và hiểu ý của Đào Ngọc : “Nếu chúng ta thay đổi phương án sẽ bị kỷ luật ngay trận đầu, làm sao có điều kiện để thực hiện tất cả những hoài bão”. Ngọc nói :

- Không được, phải theo đúng phương án của Tư lệnh đã chỉ thị. Nếu không…

Thượng tá Nguyễn Văn Tiên nghe được cuộc trao đổi của hai sĩ quan dưới quyền. Ông cảm thấy có điều gì đó không hoàn chỉnh trong cách suy nghĩ của ông. Nhưng, không còn thời gian để bàn cãi, bọn Mỹ đã tiến đến hòn Sơn Dương. Ông quyết định :

- Cho biên đội cất cánh theo kế hoạch, sau Lê Trọng Long, biên đội Trần Hanh cất cánh đi dọc theo đường số 1. Gần đến khu vực chiến đấu tùy theo trạng thái của địch, chúng ta sẽ quyết định.

Long hết sức ngạc nhiên. Anh nhìn Tư lệnh hồi lâu. Anh biết rõ đó là một quyết định rất thông minh, không phải ai trong hoàn cảnh này cũng có thể có một quyết định sáng suốt như vậy. Ở trên không, diễn biến rất nhanh, địch luôn cơ động và di động, mọi phương án đều có tính tương đối để chủ động trong suy nghĩ. Còn, người chỉ huy không chiến phải là một người biết sáng tạo và linh hoạt tùy theo tình huống và diễn biến ở trên không.

***

Anderson nghiêng cánh, bên dưới mỏm núi nhô ra, hai bên là mặt biển xanh, bờ biển thẳng lấp lánh sắc màu của một bờ biển đẹp, có lẽ nó giống… Anderson chợt nhớ bãi biển Pattaya của Thái Lan nơi ông ta vừa đi tắm tuần trước. Đó là bãi biển êm dịu, sóng vỗ nhẹ vào bơ, một bãi biển đẹp tuyệt và những thiếu nữ Thái rất xinh đẹp mặc áo tắm hai mảnh có những đường cong Châu Á trời cho, lăn xả vào các chiến hữu của ông ta một cách hết sức cởi mở và thoải mái. Anderson sung sướng tận hưởng và được thoả mãn tất cả những gì ông ta muốn… Bây giờ, từ trên độ cao 4.500 mét, cánh máy bay nghiêng, phi cơ lượn vòng, mũi máy bay hướng về mục tiêu là một hòn đảo nhỏ ở hướng Đông Nam chiếc cầu bắc qua hai bờ một con sông lớn. Ông ta nhìn xuống tờ bản đồ để ở trên đùi, cự ly còn chừng 80 km. Tai Anderson nghe đều những thông báo về những hoạt động của các căn cứ không quân Bắc Việt, tin tức về những radar điều khiển pháo cao xạ cỡ lớn. Điều Anderson quan tâm chính là những tốp tiêm kích yểm hộ khu vực đã vào vị trí các khu vực phía Bắc và phía Tây mục tiêu. Những tín hiệu thông báo từ chiếc EC-121 bay ở ngoài khơi cách bờ biển 60 km trải dài từ phía Đông đảo Hòn Mê cho đến phía Đông cửa Bà Lạt cũng được đưa đến tai. Anderson ra lệnh :

- Hướng 330 độ, điểm kiểm tra cuối cùng là Hòn Mê, các biên đội qua Hòn Mê, triển khai đội hình ném bom, ném một lần, không ném lần thứ hai, nếu bom không ra, được phép thả khẩn cấp sau khi ra khỏi mục tiêu.

Smith nói :

- Tôi và Gấu Mèo sẽ ở phía trên các bạn, độ cao 6.000 mét.

Anderson bóp micro :

- Tốt lắm, tôi thấy bạn rất tốt.

Smith hào hứng :

- Chúng ta sẽ hoàn thành nhiệm vụ, phá được cầu … Tôi sẽ đón đại tá ở “Kung Ren club”.

Tai Anderson chợt nghe EC-121 thông báo : “Mig cất cánh”. Ông ta giật mình nhưng chẳng ai biết. Anderson gọi Bennett :

- 841, tôi được thông báo Mig đã cất cánh.

Bennett trả lời :

- Tôi nghe rất rõ, tôi sẽ cẩn thận.

Đội hình những chiếc F-105 ổn định trên biển, hùng hổ tiến đến điểm kiểm tra cuối cùng. Anderson biết rõ nhiệm vụ mà ông ta phải thi hành và cuộc đời người phi công chiến đấu cũng đầy nguy hiểm, phi công ném bom còn nguy hiểm hơn. Anderson biết rõ ngay trong thời bình, bay huấn luyện cũng thường xảy ra tai nạn, mà tai nạn của phi công bao giờ cũng khốc liệt, còn chiến tranh nó có quy luật riêng, người phi công lại là người đối mặt với đối phương thực sự, sống chết cũng chẳng ai biết nó đến như thế nào. Nhưng, nước Mỹ hùng mạnh, phi công Mỹ phải là người tỏ rõ sức mạnh đó. Những chiếc F-105, F-4 là thành tựu mới nhất, chỉ để dành cho thế chiến. Vậy mà, nó được tung ra cho mục tiêu này, rõ ràng cấp trên đã có suy tính phải đè bẹp đối phương. Anderson tự bảo rằng, ông ta phải làm cho cả liên đoàn, cấp trên và … cao hơn, ở khu vực Thái Bình Dương phải biết ông ta có tài chỉ huy và đủ phẩm chất để thêm một ngôi sao vào ngay ngày hôm nay. Anderson bóp micro:

- Biên đội chú ý, phía trước, Hòn Mê, điểm kiểm tra cuối cùng…

Anderson nhìn xa xa, hòn đảo tròn, xanh, thấp thoáng trên biển ở trước mặt.

***

Biên đội Trần Hanh cất cánh. Đào Ngọc khoanh một vòng tròn trong cây thước tam giác anh đang cầm, tiếp tuyến với vòng tròn một chấm đỏ xuất hiện. Đào Ngọc bóp micro :

- 210 hướng bay 180 độ, chuẩn bị xuyên mây, độ cao 2.500 mét.

Trần Hanh trả lời :

- 210 nghe rõ, biên đội, chuẩn bị, xuyên lên …

Long quan sát động tác của Đào Ngọc. Ngọc hết sức bình tĩnh và chính xác, nét bút của anh dù vẽ theo dự đoán, biên đội Trần Hanh vẫn nằm trên đường kẻ của anh. Long nhìn vào đường bút chì màu đỏ. Anh hình dung động tác của biên đội. Bây giờ, trừ Trần Hanh giữ hướng thật chuẩn theo mệnh lệnh của sở chỉ huy, ba chiếc còn lại rẽ tách một góc độ nhỏ, bay một quãng thời gian ngắn theo hướng rẽ rồi trở lại theo hướng của sở chỉ huy vừa ra lệnh cho biên đội, xuyên lên. Đó là một yêu cầu nghiêm ngặt của kỹ thuật xuyên mây, nhằm đề phòng đối lưu của không khí trong mây, xô máy bay lại gần nhau, có thể gây tai nạn đâm vào nhau trên không.

Lớp mây mỏng. Ra khỏi Hà Nội chừng hai mươi ki-lô-mét, biên đội đã lên trên mây. Ở phía trước, biên đội của Lê Trọng Long đã tiến vào “khu chờ” nghi binh ở độ cao 8.000 mét. Bọn Mỹ đã ở phía Nam Hòn Mê, biên đội Trần Hanh đạt độ cao 2.500 mét, đã vượt qua thị xã Phủ Lý. Tư lệnh hết sức tập trung, ông luôn hỏi :

- Tốc độ của máy bay ta ?

Đào Ngọc trả lời :

- Báo cáo, hiện tốc độ của biên đội 750 km/giờ.

Đại tá Phùng Thế Tài đứng bên cạnh. Đại tá Đặng Tính theo dõi không quân chiến đấu tại bàn chỉ huy của không quân. Nét căng thẳng hiện rõ trên gương mặt vốn hiền lành của Đặng Tính. Ông liếc nhìn Thượng tá Nguyễn Văn Tiên rồi nhìn Đào Ngọc. Long hiểu, đối với Đại tá, mỗi trận đánh, mỗi con người của không quân đều gắn chặt với ông. Long có cảm giác ánh nhìn của Đại tá dường như muốn nói : “Tôi lúc nào cũng ở bên các anh, hãy cố gắng, làm mọi cách để giành chiến thắng”. Đào Ngọc chồm hẳn lên trên bàn, khu vực chiến đấu ở rất sâu, cánh tay anh đã chồm ra gần nửa bàn để đo tốc độ của địch, để phán đoán ý đồ sắp đến của bọn Mỹ. Tay trái Đào Ngọc cầm sẵn micro, đưa lên miệng :

- 210, mục tiêu phía trước 100 km, đội hình hàng dọc, cá sấu và hải cẩu.
phương án tiếp cận.

Trần Hanh phấn chấn trả lời:

- 210 nghe rõ.

Trần Hanh nhíu mắt, đuôi đôi lông mày cong lện, như vậy là biên đội của anh sẽ giáp mặt với bọn F-105 và F-4, loại máy bay mới nhất của không quân Mỹ, Trần Hanh liếc nhìn các chiến sĩ của anh, qua buồng lái. Phạm Giấy ở bên trái, hiền lành, chịu khó, dễ thương. Bên phải Lê Minh Huân, đẹp trai, bay giỏi, có duyên. Bên kia Huân là Trần Nguyên Năm, cần cù, kỹ thuật tốt. Trần Hanh tập trung quan sát phía trước. Bầu trời càng đi về phía Nam, mây càng ít, ánh nắng chói chang rọi chéo từ trên xuống in hình những chiếc Mig vút qua những đám mây trắng như bông. Trần Hanh quan sát không gian bao la ở phía trước. Anh biết cuộc chiến đấu sẽ rất gay go, biên đội của anh sẽ gặp đúng đối thủ mạnh nhất của bọn Mỹ. Tiếng động cơ rùng rùng nhè nhẹ, bầu trời Tổ quốc trong veo. Trần Hanh biết rõ trách nhiệm của mình với đơn vị. Anh bỗng nhớ lời Bác Hồ hôm đến thăm đơn vị : “Các chú hãy học tập Quân Giải phóng miền Nam, bám lấy thắt lưng địch mà đánh”. Anh nhìn các chiến sĩ đang hùng dũng bay thẳng đến mục tiêu. Ở phía trước bọn Mỹ, đối thủ của biên đội anh … Tại sở chỉ huy, Long chồm lên bàn bên cạnh Đào Ngọc. Anh thấy Ngọc vẽ hướng sẽ cho bốn chiếc Mig-17 ra phía Đông. Ngọc kéo một bên tai phía Tư lệnh, nói :

- Đề nghị cho thực hiện phương án 2. Địch đã từ Hòn Mê tiến vào phía Tây, chắc chắn bọn Mỹ sẽ bổ nhào ném bom từ hướng Tây Nam.

Tư lệnh gật đầu, nói :

- Đồng ý.

Đào Ngọc bóp micro :

- 210 hướng bay 160 độ, độ cao 4.000 mét.

- 210 nghe rõ, 160, 4.000.

- 210, mục tiêu ở bên phải, cách 60 km, thả thùng dầu phụ, lên đạn, chuẩn bị
chiến đấu.

Trần Hanh nhắc lại :

- Biên đội thả thùng dầu phụ, lên đạn, triển khai đội hình chiến đấu bên trái, 212.

Trần Hanh nhắc số 3 chuyển từ bên phải qua bên trái anh. Giấy chuyển sang phải và mở rộng biên đội để tập trung quan sát. Đại tá Đặng Tính bồn chồn. Đứng sát Thượng tá Nguyễn Văn Tiên, ông nhìn vào bản đồ lúc này những đường chì màu xanh và màu đỏ đã sắp gặp nhau.

***

Anderson bóp micro, tay phải ép cần lái sang trái, bàn chân trái đạp nhẹ vào bàn đạp, chiếc F-105D vòng trái một góc nhỏ, mũi máy bay hướng vào đập Nông Cống, Anderson lập tức cải bằng, nói:

- Điểm kiểm tra cuối cùng, mục tiêu, cầu Hàm Rồng bên tay phải, bổ nhào từ hướng Tây Nam, góc bổ nhào 40 độ, alpha so với cầu 30 độ, chuẩn bị công tắc ném bom.

Đội hình hành quân đã chuyển thành đội hình ném bom. Những chiếc F-105 từng hai chiếc, rẽ ra thành hai cặp rồi từng chiếc một. Những chiếc F-4 tiêm kích bay thẳng về phía Tây, tiếng EC-121 thông báo:

- Mig đang đi tới, cách mục tiêu chừng 20 km, Gấu Mèo chú ý, độ cao Mig 2.500 mét đang lên độ cao:

- Gấu Mèo nghe tốt, tôi đang triển khai …

Anderson đã đến điểm bổ nhào, chiếc số 2 của Anderson tiến vào bổ nhào đầu tiên. Chiếc F-105 vừa chúc đầu máy bay, nhiều chùm đạn pháo cao xạ bay lên nổ xung quanh. Chiếc F-105 chòng chành, bom rời máy bay nổ dưới dòng sông. Anderson bay lên phía trước một ít rồi lập động tác bổ nhào, đầu máy bay cắm xuống rất tiêu chuẩn, Anderson điều khiển chiếc F-105, vào ngắm giữa thân cầu. Vừa lao xuống bỗng Anderson nhìn thấy ngay trong vòng ngắm, nhiều ánh chớp ở mặt đất rọi thẳng lên, xỉa vào mắt. Bàn tay phải tự nhiên bẻ ngang, mũi máy bay chệch hướng, Anderson cảm thấy cái chết đang trong nháy mắt nếu không cơ động máy bay. Ngay lúc đó ông ta nhớ lời Moorer, bèn điều khiển máy bay, lập tức trở lại mục tiêu, vội vã cắt bom. Loạt bom của Anderson cũng không trúng mục tiêu. Magnusson bay ở tốp thứ tư tiến vào. Bây giờ, những đốm nổ trắng giăng khắp bầu trời, đạn pháo cao xạ nổ như những đám bông trắng, nhỏ, đuổi theo những chiếc F-105. Magnusson nhìn thấy tốp F-105 thứ ba tiến vào bổ nhào gần như cùng một lúc ở các độ cao khác nhau, bốn chiếc F-105 tạo thành một hàng lao xuống hùng hổ và rất có kỹ thuật. Bỗng, chiếc số 2 chòng chành, viên phi công không có bất kỳ động tác nào. Chiếc F-105 lao xuống rất nhanh, Magnusson bóp micro hét :

- Jean, nhảy dù, nhảy dù, Jean …
Logged
Tunguska
Global Moderator
*
Bài viết: 519



« Trả lời #25 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2007, 11:10:06 am »

Đào Ngọc bóp micro :

- 210 vòng phải, hướng bay 250 độ, cá sấu bên trái 30 độ 15 km.

Trần Hanh trả lời :

- 210 nghe rõ, hướng 250 độ.

Bốn chiếc Mig-17 đội hình chữ A từ hướng Đông Bắc cầu Hàm Rồng, vượt qua cửa sông Mã tiến vào, Trần Hanh nhìn rất rõ bên phải, chiếc cầu bắc qua đầu mỏm núi, xung quanh cầu, dưới dòng sông những chiếc tàu của hải quân nhả đạn và những cột nước dựng lên xung quanh cầu trắng xóa. Anh biết bọn Mỹ đã ném bom, nhưng biên đội chưa phát hiện được địch. Trần Hanh căng mắt quan sát, ở bên trái Trần Nguyên Năm vẫn bám chắc Lê Minh Huân. Năm dồn mắt về phía Nam, phát hiện một tốp bốn chiếc đội hình hai chiếc đang bay ra, anh gọi :

- 210 bên trái có bốn chiếc đang bay ra.

Trần Hanh trả lời :

- Tốt, tập trung quan sát, tìm tốp đang bay vào.

Lê Minh Huân báo cáo :

- 210, ở bên trái núi Nưa, bốn chiếc đang chuẩn bị bổ nhào. 212 xin phép công kích.

Trần Hanh bóp micro báo cáo về sở chỉ huy:

- 210 phát hiện bốn chiếc F-105, xin phép công kích.

Đào Ngọc trả lời ngay :

- Công kích, 210, chú ý biên đội, công kích xong bay về đài.

- 210 nghe rõ, 211 theo tôi.

Phát hiện bốn chiếc F-105 đang bổ nhào ngược chiều với hướng bay của anh và biên đội, Trần Hanh nhanh chóng lái chiếc Mig cắt ngang đội hình bọn Mỹ. Anh nhìn lại, ở đâu cũng có máy bay địch và hình như pháo cao xạ đang đánh, những ánh chớp đầu nòng, những cụm khói dày đặc bầu trời xung quanh cầu Hàm Rồng. Lê Minh Huân và Trần Nguyên Năm bám theo một tốp địch đang bay vào. Huân nhìn ngọn núi Nưa quen thuộc, đập Nông Cống ở bên trái. Hồi còn đi học, Huân đã từng leo lên đỉnh ngọn núi Nưa, nơi có đền thờ bà Triệu và tắm ở đập Nông Cống nhiều lần, nó đã trở nên một phần máu thịt của anh. Đảo mắt sang trái, anh thấy nhiều tốp đang bay vào. Bầu trời đỏ lửa, pháo cao xạ bắn dữ dội ở hướng Nam và Tây Nam cầu Hàm Rồng, quê hương anh đang trừng trị bọn Mỹ, tất cả mọi người đang ngẩng mặt… và nhả đạn…

***

Tại sở chỉ huy trung đoàn Sao Đỏ, chiếc loa phát ra liên tục những lời nhắc nhở nhau xạ kích và những mệnh lệnh từ sở chỉ huy không quân, mọi người đều hết sức chăm chú nghe. Đài chỉ huy K5 ở tuyến hạ cánh, tiếng loa vặn hết cỡ, nhiều người tập trung đứng ở xung quanh. Trên" khu chờ", biên đội Lê Trọng Long được sở chỉ huy trung đoàn Sao Đỏ theo dõi chặt chẽ. Long nghe rất rõ tiếng chỉ huy của Trần Hanh và diễn biến trận chiến đấu. Ở tất cả những nơi đóng quân của trung đoàn, bây giờ, hàng trăm trái tim đang hướng về biên đội chiến đấu với trạng thái lâng lâng, hồi hộp và lo âu. Trung đoàn trưởng Đào Đình Luyện, Chính ủy Đỗ Phụng theo dõi biên đội trên bản đồ chiến đấu của trung đoàn, những đường chì xanh đã cuộn lại và tách tốp, bọn tiêm kích Mỹ ở hướng Tây và hướng Tây Bắc… Đường chì đỏ qua thị xã Ninh Bình, phía Tây của Lạch Trường, bắt đầu tiến vào khu vực chiến đấu. Đường chì đỏ của biên đội Trần Hanh đã đến phía Đông thị xã Thanh Hóa, Đào Đình Luyện nghe rất rõ báo cáo của Năm phát hiện địch. Ông hồi hộp lạ thường. Vậy là các chiến sĩ của ông đã giáp mặt với bọn Mỹ, điều mà ông và những phi công của trung đoàn đang mong đợi …

***

- Chim Ưng, 484, Mig ở hướng 8 giờ, cơ động gấp.

Anderson sau khi trút hết bom, trên tai ông ta dồn dập tiếng hét. Chiếc F-105 đã ra đến bờ biển, Anderson cho vòng trở lại, bay trên mục tiêu độ cao 5.000 mét, bây giờ tốp thứ tư đang làm động tác bổ nhào. Anderson thấy Magnusson nghiêng cánh, đẩy mũi máy bay lật cánh thăng bằng lao xuống, bổ nhào vào mục tiêu, động tác của anh ta rất đẹp, chiếc F-105 nữa cắm xuống, bất ngờ hai chiếc Mig-17 xuất hiện cắt vào rất nhanh. Có lẽ Magnusson đã thấy, động tác trượt cạnh dài, cơ động ngang, bom đã rời khỏi máy bay, cách rất xa mục tiêu. Anderson bóp micro :

- 484, Mig ở bên trái, cơ động, cơ động gấp. Gấu Mèo vào ngay mục tiêu. Mig, Mig…

Chiếc F-105 tăng lực, ngọn lửa ở đuôi rất dài, nó tìm cách thoát thân. Anderson hét :

- 484 cơ động ngang, gấp, Mig…

Magnusson liếc nhìn bên trái. Hai chiếc Mig từ trên trời lao xuống, ở đầu máy bay Mig có một lỗ tròn như hai cánh mũi. Hai chiếc lao đến và chụp xuống. Magnusson cố gắng tối đa điều khiển cho chiếc F-105 lật ngang, độ nghiêng lớn nhất, mắt không rời khỏi hai chiếc Mig. Nhưng, … bỗng những ánh chớp lóe ra ở đầu chiếc Mig ở phía trước. Magnusson trợn trừng đôi mắt bất động, miệng há hốc :

- Ah, oh…

***

Trần Hanh nói to :

- 211 yểm hộ, quan sát, tôi công kích.

- 211 nghe rõ. Xạ kích đi 210, tôi ở phía sau.

Trần Hanh nói :

- Rất tốt, tôi xạ kích đây.

Chiếc Mig-17 số 1043 của Trần Hanh như con ngựa chiến chồm lên, nhảy vào.
Chiếc F-105 bổ nhào lưng chừng, chiếc Mig  đã nhảy phóc đè ngang lưng con chim sắt Mỹ. Trần Hanh đưa chiếc F-105  vào vòng ngắm. Giấy ở bên trái, anh lật máy bay quan sát phía sau. Giấy phát hiện rất nhiều những chiếc máy bay của bọn Mỹ. Anh hết sức bình tĩnh, tính toán… Bọn Mỹ rất nhiều, nhưng chưa có tốp nào có thể uy hiếp Trần Hanh. Giấy biết rõ cơ hội, để nâng cao thành tích của trung đoàn cũng là nguyện vọng của Giấy muốn góp phần vào chiến công chung của trung đoàn, Giấy động viên :

- 210, ngắm chính xác, tôi ở phía sau.

Trần Hanh tiến đến gần hơn, lúc này chiếc F-105 đã ném bom đang kéo lên, tốc
độ nhỏ. Anh kéo mạnh chiếc Mig-17, đặt chiếc F-105 vào vòng ngắm. Cự ly cho phép, anh kéo cò. Loạt đạn thứ nhất có vài viên trúng cánh liệng. Chiếc F-105 tăng tốc độ chạy ra biển, vừa chạy, vừa cơ động. Giấy nhắc :

- 210 tiến gần hơn, đạn ở phía sau.

Trần Hanh biết rõ, nhanh chóng kéo máy bay vào phía trong, chiếc F-105 trượt cạnh, anh cắt ngang vào phía trong. Chiếc Mig-17 ở độ cao này thật là tuyệt, điều khiển dễ dàng, tính năng cơ động nhạy và tỏ ra ưu thế. Anh bám chặt chiếc F-105, điều chỉnh góc bắn đón. Lần này Trần Hanh bắn cùng một lúc ba khẩu súng, một viên 23 ly trúng cánh trái chiếc F-105, nó khựng lại rồi trượt dài xuống bên dưới lớp mây trắng như bông, mất hút … xuống rất sâu, bên dưới là mặt biển. Trần Hanh hét to :

- 210 bắn.

Ngay lúc đó, chiếc Mig-17 của Giấy bốc cháy, bọn Mỹ lao đến, Trần Hanh liếc nhìn phía sau. Hai chiếc F-105 đang xộc đến, Hanh nghiêng cánh, cơ động thẳng xuống dưới lớp mây trắng  ở khu vực phía Nam cầu Hàm Rồng, nhìn lại tìm Giấy nhưng không thấy. Phía trên nhiều chiếc máy bay địch đang lượn vòng bọn Mỹ kéo đến rất đông, nhìn ở đâu cũng thấy máy bay Mỹ. Ở xa xa, phía cầu Hàm Rồng địch đang tiếp tục đánh phá. Ở đó có rất nhiều những chiếc F-4 tiêm kích và những chiếc F-105 sau khi ném bom đã vòng trở lại thành những chiếc tiêm kích dày đặc tại khu vực chiến đấu.

***

Tốp thứ 7 đã ném bom xong. Anderson ở trên cao quan sát. Cầu Hàm Rồng chưa trúng bom. Anderson lệnh:

- 492. Chim Ưng. Cố gắng ngắm chính xác.

Tốp thứ 7 cũng ném chệch mục tiêu. Lưới lửa cao xạ bắn rất mãnh liệt và chính xác, chiếc số 4 bị trúng đạn gãy đôi, phi công không kịp nhảy dù, cả chiếc F-105 cắm xuống dòng sông Mã… Cuộc chiến đấu hết sức căng thẳng. Thấy pháo cao xạ làm cho hiệu suất ném bom của không quân Mỹ không mang lại hiệu quả, Anderson giận dữ :

- 492 ngắm chính xác, ném cho trúng. Có thể xuống thấp để bom không bị lệch mục tiêu.

Bennett trả lời :

- 492 nghe rất rõ, tôi sẽ cố gắng.

Liền sau đó, Bennett nghiêng cánh làm động tác bổ nhào. Máy bay vừa cắm xuống, đạn lửa pháo cao xạ đỏ lừ vọt lên, những ánh chớp đầu nòng như ma quái. Bennett lách máy bay tránh luồng đạn bắn thẳng, một viên đạn sướt qua đầu cánh, chiếc F-105 như chạm phải một nhát búa tạ, rung động mạnh, Bennett hoảng loạn vội vã chụp khoen kéo dù. Ngay trong khoảng rất ngắn định giật khoen, thấy máy bay tiếp tục lao xuống nhưng ổn định, Bennett lắc cần lái, máy bay còn điều khiển được. Chiếc F-105 vượt qua cầu Hàm Rồng, Bennett bỗng thấy sừng sững hai chiếc Mig-17 như từ trên trời lao xuống đè đầu chiếc F-105 của Bennett. Anderson la lớn :

- Mig, 492, cơ động gấp, Mig…
Logged
Tunguska
Global Moderator
*
Bài viết: 519



« Trả lời #26 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2007, 11:13:54 am »

Lê Minh Huân và Trần Nguyên Năm quần với tám chiếc F-4 ở phía bắc cầu Hàm Rồng, bọn Mỹ bắn tên lửa liên tục vào hai chiếc Mig-17. Nhưng, chỉ với động tác cơ động với tốc độ góc lớn, hàng chục quả tên lửa đều bắn không trúng. Đang tập trung đối phó với bọn tiêm kích, Huân chợt thấy dưới cánh hai chiếc F-105 lướt qua, thời cơ rất tốt, Huân lật máy bay cho chiếc Mig lao xuống. Năm giật mình, nhưng rồi anh hiểu Huân tấn công chiếc F-105. Năm lật máy bay theo Huân :

- 212, tôi ở phía sau.

Lê Minh Huân bóp micro :

- Tốt lắm, cám ơn 213, tôi xạ kích.

- Bắn đi, 212.

Huân nói dồn dập :

- 213 cảnh giới, tôi vào gần chút nữa.

Năm nhìn lại phía sau, bốn chiếc F-4 tiêm kích đã bám theo anh và Huân, Năm gọi :

- 212 xạ kích đi.

Huân đưa chiếc F-105 vào vòng ngắm, anh nghiến răng bóp cò, ba khẩu súng rung lên, loạt đạn dài đã chui gần hết vào chiếc F-105. Nó bùng cháy. Năm hét lên:

- Tốt quá, 212 đã bắn rơi…

Huân nghe tiếng của Năm đứt đoạn, anh liếc nhìn lại chiếc Mig-17 của Năm cháy bùng đang lao xuống rất nhanh. Huân vòng lại, mãnh liệt, lao theo chiếc máy bay của Năm:

- 213 nhảy dù, nhảy dù. Năm, nhảy…

Huân lo lắng cho Năm, anh tập trung vào chiếc máy bay đang cháy. Anh hoàn toàn không biết có đến bốn chiếc F-4 đang ngắm bắn vào anh…

***

Tại sở chỉ huy không quân, những tình huống thông thoại của Phạm Giấy nhắc nhở cho Trần Hanh, tiếng của Năm và đặc biệt là tiếng hét rất to của Lê Minh Huân… Đào Ngọc, Long và Tư lệnh không quân nghe rất rõ. Tư lệnh lúc này mặt đã đỏ, đôi mắt của ông, toàn bộ tròng trắng đã biến thành màu hồng. Mắt của Tư lệnh long lên, ông hỏi Đào Ngọc :

- Như vậy…?

Đào Ngọc hai tai bịt kín không nghe Tư lệnh không quân hỏi, Long nói qua sau gáy của Ngọc, báo cáo với Tư lệnh :

- Năm đã bị bắn rơi.

Kéo tai nghe của Ngọc ra khỏi vành tai, Tư lệnh giọng gay gắt nói lớn :

- Ngọc, cho tôi biết, Trần Hanh, Huân, Giấy ở đâu ?

Đào Ngọc bóp micro :

- 210, Đông Đô gọi.                                 

Nghe tiếng của Trần Hanh rất nhỏ :
- 210…

Đào Ngọc giọng mừng rỡ :

- 210 bay về đài, hướng 340 độ…

Đào Ngọc tiếp tục gọi :

- 212, Đông Đô gọi.

Không có tiếng trả lời của Lê Minh Huân, Đào Ngọc gọi tiếp :

- 211, Đông Đô gọi,…

Không có tiếng Phạm Giấy trả lời. Đào Ngọc đưa tai nghe cho Long :

- Anh tiếp tục gọi, nghe được cho hướng bay về đài.

Ngọc nhìn người dẫn đường ghi chép, nhắc :

- Anh gọi cho radar, sục sạo độ cao thấp, thấy tín hiệu báo ngay.

Long kề tai Đào Ngọc :

- Anh đề nghị Tư lệnh cho biên đội Lê Trọng Long quay về.

Tư lệnh đã nghe, ông chỉ đạo cho sĩ quan tác chiến gọi Sở chỉ huy Trung đoàn Sao Đỏ dẫn biên đội Lê Trọng Long trở về hạ cánh. Lúc này bọn Mỹ lại tiếp tục tiến vào khu vực mục tiêu, nhiều tốp máy bay Mỹ quần đảo đến thị trấn Ngọc Lạc. Bốn chiếc Mig mất liên lạc, Long gọi liên tục suốt gần mười phút. Anh nói :

- Thưa Tư lệnh, giờ bay đã hết. Đến bây giờ dù cho biên đội còn thì cũng không thể bay về. Dầu đã hết từ lâu...

Đại tá Đặng Tính gật đầu. Đôi mắt ông lộ rõ đau đớn. Tư lệnh quân chủng rời khỏi phòng chỉ huy, đầu cúi xuống bước qua bậc ngăn cách giữa hai sở chỉ huy phòng không và không quân, ông trở về vị trí của ông. Tư lệnh không quân Nguyễn Văn Tiên hai tay chống trên bàn. Ông không tin điều khủng khiếp đã xảy ra, chúng ta mất cả bốn chiếc Mig-17, bốn phi công. Có điều gì đó đau lắm, bốn chiến sĩ trẻ măng… Ông nhìn mớ bòng bong, rối mù những đường bay của ta và bọn Mỹ xoắn vào nhau, không nói lời nào. Mắt mở trừng, ông như thấy lại trận đánh mới đây, tưng bừng và oanh liệt. Long nhận ra Tư lệnh đã rơi lệ, những giọt nước mắt nhỏ xuống trên tấm mi-ca trắng. Long hết sức ngạc nhiên, mắt ông mở to không chớp, những giọt lệ rơi từ khóe mắt xuống bàn. Long biết ông thương những phi công mới đánh trận đầu tiên đã hy sinh và ông đã khóc bằng tình yêu chân thật của ông. Đại tá Đặng Tính đến bên Thượng tá Nguyễn Văn Tiên vai ông dựa vào vị Tư lệnh không quân như muốn truyền nghị lực qua người sĩ quan cương trực, dũng cảm và trí tuệ của mình. Đặng Tính hiểu rõ Nguyễn Văn Tiên đến độ ông biết Nguyễn Văn Tiên thích ăn ốc luộc lá chanh với nước mắm gừng. Ông còn biết thuở Nguyệt Anh, vợ Nguyễn Văn Tiên đi làm "cải cách ruộng đất"ở Hưng Yên, bao phen đối mặt với những xử sự hóc búa, nàng phải chờ chồng đến để tham khảo trước khi xử lý một trường hợp mà, nếu qua loa, cẩu thả, một sinh mạng chính trị của cán bộ sẽ bị oan… Đặng Tính chống một tay lên bàn nói :

- Các đồng chí, tổn thất trong chiến đấu là chuyện không thể tránh. Biên đội của chúng ta hôm nay đã chiến đấu ngoan cường, bắn rơi máy bay Mỹ và đã anh dũng hy sinh. Tất nhiên, chúng ta rất đau. Nhưng, sự hy sinh của các đồng chí phi công hôm nay rất xứng đáng. Chúng ta  hãy biến đau thương thành sức mạnh, cụ thể, ngay ngày mai, chúng ta sẽ tổ chức rút kinh nghiệm. Tôi hy vọng, chúng ta sẽ tìm ra những nhược điểm để đánh thắng bọn Mỹ xâm lược. Hôm qua và hôm nay chúng ta mới chỉ đánh những trận đầu. Chúng ta còn chiến đấu lâu dài. Hãy đứng lên.

Tư lệnh không quân Nguyễn Văn Tiên ngước mắt nhìn Đại tá Đặng Tính. Ông đứng thẳng, đối diện với Chính ủy quân chủng, nói nhanh :

- Thưa anh, tôi xin hứa…

Long và Đào Ngọc cùng nhìn theo Tư lệnh không quân Nguyễn Văn Tiên và Đại tá Chính ủy quân chủng. Họ nắm tay nhau, bước ra khỏi sở chỉ huy không quân, vững tin…

***

Đào Đình Luyện suốt đêm không ngủ. Nằm xuống nhắm mắt lại, hình ảnh các chiến sĩ của ông xuất hiện, rõ mồn một, những chiến sĩ đó đã ăn sâu vào lòng ông những tình cảm thân thiết không sao mất đi được. Gần mười năm cùng bay, cùng tập, những buổi hội thảo, những ngày đi chơi cùng nhau. Mới đó, sáng nay, ông còn ngồi với phi đội, kiểm tra phương án chiến đấu, dặn dò những yếu tố chiến thuật, nhắc nhở kỹ thuật bay, kỹ thuật xạ kích. Ông nhớ rõ, tối hôm qua, sau buổi rút kinh nghiệm trận chiến đấu của biên đội Phạm Ngọc Lan, các phi công và chi bộ đại đội đã làm lễ kết nạp phi công Trần Minh Phương vào Đảng, trang nghiêm và cảm động. Ông nhớ… Lê Minh Huân sôi nổi:

- Đồng chí Phương đã nêu gương sáng cho chúng tôi. Về phía tôi, được chiến đấu trên vùng trời quê hương là điều tôi ao ước từ lâu. Cầu Hàm Rồng, Thọ Xuân, Lam Sơn, thành nhà Hồ, núi Nưa là những địa danh lịch sử, ông cha ta đã làm rạng danh núi sông. Tôi nghĩ rằng cầu Hàm Rồng hôm nay sẽ viết tiếp khúc oai hùng của ông cha. Cầu Hàm Rồng hôm nay nhất định sẽ đi vào lịch sử. Xin cám ơn anh Lan, anh Túc, anh Quỳ, đặc biệt xin cám ơn anh Phương. Tôi hứa sẽ chiến đấu dũng cảm và mưu trí,…

Đào Đình Luyện ngồi dậy. Ông bật đèn, rút bao thuốc, bật lửa. Ông nhìn đồng hồ đã hơn hai giờ sáng. Lòng ông ngổn ngang. Ông biết rõ lắm, cuộc chiến đấu nào cũng có hy sinh. Nhưng, trận đánh hôm nay dù chúng ta bắn rơi hai chiếc F-105 nhưng mất ba máy bay và ba chiến sĩ, đau lắm. Lúc trận chiến đấu dĩễn ra, ông nghe Năm bị bắn rơi, không nhảy dù, lòng ông đã quặn đau. Đào Đình Luyện không biết Giấy và Huân hy sinh, họ hy sinh mà không hề có một tin tức gì, còn Trần Hanh, không biết ra sao ? nhảy dù hay đã chết?… Điếu thuốc đã cháy gần hết. Đỗ Phụng gõ cửa. Đào Đình Luyện mở cửa. Đỗ Phụng nói ngay :

- Tôi không ngủ được, thương anh em quá! Bước ra ngoài sân, thấy phòng anh có đèn, tôi nghĩ chắc là anh cũng như tôi.

Đào Đình Luyện, rót nước trong bình trà nguội, mời Đỗ Phụng, ông nói :

- Tôi không sao ngủ được, trận chiến đấu thứ hai của trung đoàn, không ai trở về.

- Có, tôi vừa nhận được tin Trần Hanh hạ cánh bắt buộc ở một vùng núi thuộc địa phận tỉnh Nghệ An. Địa phương cho xe chở anh ấy về, chắc là mai sẽ về đến đơn vị. Bộ tư lệnh quân chủng đã cho cục kỹ thuật đi vào Nghệ An tháo chiếc Mig chở về.

Đào Đình Luyện mừng rỡ. Thoáng ông lại im lặng. Điếu thuốc trên môi hồng lên, ông đẩy bao thuốc lá đến trước mặt Đỗ Phụng, Đỗ Phụng rút một điếu châm lửa, nhả khói, nói tiếp :

- Anh Luyện, có lẽ, chúng ta phải chủ động, làm công tác tư tưởng cho anh em, tôi lo anh em hoang mang.

Đào Đình Luyện nhìn Đỗ Phụng tâm sự :

- Anh cứ làm, tôi nghĩ lúc này phải khéo, anh lưu ý Phan Thành, anh ta quá cứng rắn, tôi sợ phản tác dụng. Theo tôi, anh em chưa có biểu hiện hoang mang.

- Vâng, tôi sẽ lưu ý. Anh ta bị ảnh hưởng của thuyết cực đoan, đôi khi, nhất là trong chiến tranh cũng rất cần. Chỉ lưu ý phải khéo…

Đào Đình Luyện tâm sự :

- Anh Phụng, cuộc đời, nếu cực đoan quá sẽ không còn chỗ cho sáng tạo và có thể giết chết tài năng. Kinh nghiệm từ… Mà thôi, điều gì có lợi cho đơn vị anh cứ làm.

Đỗ Phụng vuốt tóc, mái tóc luôn hớt “cua” của ông, ở phía sau dựng lên như một bức tường tóc, làm cho bộ mặt vốn nhỏ của ông, được phô ra toàn bộ vầng trán hẹp, gợi lên trí tò mò của những người ở gần ông, suy đoán tính cách của ông. Đào Đình Luyện nhận thấy ở Đỗ Phụng một thái độ có trách nhiệm trong công việc, chân thành trong mối quan hệ giữa ông ấy và đồng cấp, cũng như giữa ông ấy và cấp dưới. Ông nói tiếp, sau khi rít một hơi dài điếu thuốc :

- Anh Phụng, anh suy nghĩ gì về trận đánh hôm nay?

- Anh Luyện à, tôi cũng như anh. Tôi rất xót xa bởi tổn thất ngày hôm nay. Nhưng với cách suy nghĩ của tôi, hôm nay phi công của chúng ta đã bắn rơi được loại máy bay mạnh nhất của Mỹ. Như vậy…

Đào Đình Luyện nhìn Đỗ Phụng, chặn ngang :

- Ý của anh, chúng ta thắng vì họ đã hạ con ngáo ộp F-105, F-4. Với Mig-17, chúng ta hoàn toàn có thể bắn rơi được chúng, chỉ cần có cách đánh, có chiến thuật phù hợp là chúng ta hoàn toàn đối đầu với đối thủ ? Đúng lắm, anh Phụng. Anh em hy sinh tôi đau lắm. Nhưng, sự hy sinh đó không uổng. Chúng ta đã rút ra được bài học, chúng ta sẽ có kinh nghiệm.
Logged
Tunguska
Global Moderator
*
Bài viết: 519



« Trả lời #27 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2007, 11:17:29 am »

Ngày 5 tháng 4 năm 1965 dồn dập có thư của Bác Hồ gửi khen bộ đội không quân. Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp và Thượng tướng Tổng Tham mưu trưởng quân đội Văn Tiến Dũng trực tiếp nghe báo cáo kết quả hai trận đánh ngày 3 và 4 tháng 4. Đặc biệt trong thư Bác có câu: “Nâng cao tinh thần quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Thắng không kiêu, khó không nản…”. Nguyễn Văn Tiên đọc thư Bác nhiều lần. Ông ngồi tại sở chỉ huy không quân, nhưng mắt ông nhìn vào bức điện của Bác, ông hiểu Bác động viên không quân. Quả thật, tổn thất đó nếu so với một quốc gia công nghiệp, tự chế tạo ra được máy bay chiến đấu, đã là nặng, còn chúng ta? Lực lượng chiến đấu của trung đoàn chỉ có chừng ấy, chưa tới ba mươi người, mới đánh hai trận đã bị tiêu hao hết một phần mười. Nếu cứ đánh như thế này, chỉ vài chục trận, chúng ta sẽ mất sạch. Lời Bác: “Khó không nản” đã đánh thức chính bản thân ông. Điều nhắc nhở của Đại tướng Tổng Tư lệnh và Thượng tướng Tổng Tham mưu trưởng cụ thể hơn về những trận đánh đầu tiên của không quân: “Là trận thắng đầu tiên của Không quân Nhân dân Việt Nam. Nó có giá trị rèn luyện bộ đội về nhiều mặt để mau chóng trưởng thành”và “phải quán triệt tư tưởng tích cực, chủ động, liên tục tiến công tiêu diệt địch, bảo vệ mục tiêu, giữ gìn và bồi dưỡng lực lượng ta để càng đánh càng mạnh”. Sau này, trong các cuộc họp, ông được nghe Tư lệnh quân chủng nói sau trận ngày 3 tháng 4, Tư lệnh quân chủng gọi điện bằng đường dây riêng báo cáo với Bác. Bác đã nói : “Không được chủ quan, say sưa với chiến thắng, mà phải tổ chức rút kinh nghiệm. Cần nhớ, đây chỉ là thắng lợi bước đầu. Bọn Mỹ sẽ dùng mọi thủ đoạn để đánh trả thù…”. Và về buổi gặp Bác của Tư lệnh và Chính ủy quân chủng tối ngày 4 tháng 4, Bác Hồ hết sức đau lòng về ba phi công hy sinh đến nỗi Bác không hút thuốc lá. Bác Hồ đã nói: “Chiến công của không quân ta là rất to lớn, rất đáng tự hào. Lần đầu tiên dân tộc Việt Nam ta từ bùn đen bay lên trời cao diệt địch. Các chú cần phải rút kinh nghiệm, đặc biệt là khuyết điểm của cấp chỉ huy…”.
 
Tối hôm qua, toàn bộ diễn biến trận chiến đấu Tư lệnh Nguyễn Văn Tiên đã có trong tay. Như vậy sau khi gặp địch, biên đội bị xé làm hai.

Trần Hanh còn sống và bay lạc hạ cánh bắt buộc ở bản Ké Tàm phía Nam cầu Hàm Rồng, cách khu vực chiến đấu gần trăm cây số. Phạm Giấy theo bảo vệ Trần Hanh, bị bắn rơi ở gần phà Ghép, cách Hàm Rồng trên bốn chục ki-lô-mét về phía Nam. Còn biên đội Lê Minh Huân, người dân địa phương cho biết không quân ta quần nhau ác liệt với nhiều máy bay Mỹ. Năm bị bắn rơi ở Đò Lèn, phía Bắc cầu Hàm Rồng trong khi yểm hộ cho Huân. Còn Lê Minh Huân đuổi theo bắn rơi chiếc F-105 ở bờ biển Sầm Sơn, quay lại bảo vệ cho Năm, anh đã bị bắn rơi khi vòng lại từ Sầm Sơn… Một trận chiến đấu ác liệt, tinh thần vì đồng đội, yểm hộ và chi viện lẫn nhau thật đáng khâm phục. Tư lệnh Nguyễn Văn Tiên dường như không muốn rời sở chỉ huy. Ông đứng rất lâu ở bàn chỉ huy, trận chiến đấu dù đã diễn ra buổi sáng, đối với ông nó như mới vừa xảy ra. Tai ông thi thoảng vẫn nghe tiếng nói, tiếng gọi của các phi công… Ông nhìn xung quanh, tai định hướng, ông phát hiện Đào Ngọc và Long đang mở máy ghi âm, nghe lại trận không chiến của biên đội Trần Hanh, ông bước vào, tiếng của Long :

- Anh Ngọc, như vậy khẩu lệnh của anh, số 1 có nghe được không ?

Đào Ngọc trả lời :

- Thì đây, cậu nghe lại đi.

Long chụp ống nghe vào hai tai, anh tập trung nhìn vào cuộn băng ghi âm đang từ từ quay, một bên nhả ra và một bên cuộn lại. Tư lệnh bước tới nhìn cuốn sổ tay của Long, ông đã đọc thấy những dòng ghi lại khá đầy đủ diễn biến trận chiến đấu… Ông đứng hồi lâu, tiếng nói của biên đội vẫn lọt ra khỏi tai của Long, ông chăm chú, bỗng ông quay gót rất nhanh. Tiếng nói của Giấy, của Năm, của Huân vẫn phát ra cho đến khi chỉ còn tiếng lào xào nhỏ của máy đối không. Long tắt máy, anh nói:

- Anh Ngọc, ngày hôm qua và ngày hôm nay?

Ngọc xị mặt, anh cứ nghĩ rằng để cho ba phi công hy sinh là lỗi ở anh, anh chực chảy nước mắt:

- Mình cũng không ngờ, chưa bao giờ chúng ta dự kiến một trận đánh không có người trở về, không có tiếng báo cáo xin phép hạ cánh. Một trận đánh mà mọi tin tức đều được các chiến sĩ lái máy bay mang theo.

Long phản đối:

- Không, chúng ta vẫn còn những tiếng nói ở trong cuộn băng này. Từ phút thứ 30 trở về trước, chúng ta còn lưu trữ đường bay. Từ phút thứ 30 cho đến phút 39, chúng ta có tiếng nói của các phi công, tôi nghĩ, chúng ta hoàn toàn có thể lập lại diễn biến trận chiến đấu.

Trên cuốn sổ tay của mình, Long vẽ những đường bay, trạng thái ta và địch theo lời của phi công từ khi phát hiện địch, nhắc nhở nhau công kích cho đến khi mất liên lạc hoàn toàn. Đào Ngọc được tin tức từ sĩ quan tác chiến do những cán bộ của không quân và địa phương báo về vị trí máy bay Mig rơi. Ngọc và Long cùng nhau vẽ lại trận đánh khá tỉ mỉ.

***

Ngày hôm sau, cuộc họp đánh giá kết quả và rút kinh nghiệm trận chiến đấu ngày 4 tháng 4 được tổ chức tại đoàn Sao Đỏ. Nhiều cán bộ ở cơ quan quân chủng đã được mời tham dự. Tất cả những người có liên quan đều có mặt. Trung đoàn trưởng vẻ buồn nhưng cố gượng, ông mở đầu bằng phân tích kết quả trận không chiến, đánh giá về công tác tổ chức chỉ huy và kỹ thuật không chiến của phi công, rút ra những bài học và nguyên nhân tổn thất. Ông chỉ ra những việc phải làm gấp nhằm tăng sức chiến đấu cho phi công…

Sau ngày 4 tháng 4 năm 1965, bọn Mỹ tiếp tục đánh phá giao thông từ Nam vĩ tuyến 20. Đánh liên tục bằng lực lượng nhỏ, đánh lén, đánh ban đêm nhằm tránh bị thiệt hại, mục tiêu đánh phá cũng thay đổi, bọn Mỹ chuyển sang đánh xe, trạm trung chuyển, các kho tạm ở dọc đường.

***

Ngôn và Thanh Cao đi dạo mát quanh nhà, gặp Sáu hối hả đạp xe đi ra hướng chiêu đãi sở. Ngôn gọi:

- Sáu, đi đâu vậy?

Sáu cong lưng đạp, tay gạt ngang, nói gấp:

- Chút nữa về, tao có việc.

Thanh Cao mỉm cười, nói với Ngôn:

- Kiểu đó, chắc là con Nguyệt lên thăm.

- Vậy hả? Hèn gì …

Ngôn ngưng đột ngột, kề vai Cao vừa đi, vừa nói:

- Hai hôm nay buồn quá, tôi thấy Trung đoàn trưởng gần như điếu thuốc không lúc nào rời tay, ông bỏ thói quen đánh bóng bàn vào buổi chiều. Nhìn ông thẫn thờ trước sân phòng ban chỉ huy, tôi thương ông ấy quá.

Cao rút điếu thuốc châm lửa. Hình ảnh ba phi công hy sinh không lúc nào sống động như lúc này. Mới hồi trưa, cô bé Hiền nấu ăn cho bếp bay, dọn cơm ở chiếc bàn vẫn ăn cơm của ba phi công, ba chiếc ghế được kéo ra một nửa, một bát gạo ở gần bàn để cắm nhang cho Huân, cho Giấy, cho Năm làm ấm lòng các chiến sĩ lái máy bay của trung đoàn. Cô bé nhìn vào cây nhang đang cháy, chắp hai tay, nói điều gì đó … thi thoảng ngọn gió nhẹ, kéo những làn khói bay lên, lan ra khắp gian nhà ăn. Cao ngồi gần chiếc bàn bé Hiền dọn cơm cúng. Anh nhìn Hiền, nhìn làn khói, Thanh Cao biết rõ tấm lòng cô bé dành cho các anh… Còn Cao, nhìn bé Hiền, anh nhớ lại mới hôm kia, nhà ăn dành cho phi công lúc nào cũng tràn ngập tiếng cười, vui tươi, hóm hỉnh. Nhiều phi công trong đó có Huân, có Năm chọc ghẹo bé Hiền đến đỏ mặt. Vậy mà, bây giờ, bàn ăn đã trống ba chiếc ghế, tự nhiên Cao như thấy vắng vẻ và chạnh lòng. Cao nói với Ngôn:

- Vắng ba phi công, như thiếu một cái gì đó ghê gớm. Cao bỗng nhỏ giọng… Nè, Ngôn, cậu có ngán?

- Tôi hả?

- Ừ, tụi mình với nhau, nói thật nghe coi.

- Tôi thì… không ngán, tụi Mỹ cũng là con người ngồi trên máy bay như chúng ta. Chỉ có vũ khí của nó, mình chưa hiểu lắm,chớ nếu,…

Thanh Cao bộc lộ:

- Tụi Mỹ đông hơn, điều đó ai cũng biết. Chúng ta vì sao bị bắn rơi?

- Theo tôi, chúng ta không quan sát kỹ, địch bám không biết, hoặc cơ động tránh tên lửa sai, nếu như cách tránh tên lửa ông Trần Thông trình bày hôm nay, trong cuộc giảng bình rút kinh nghiệm trận không chiến, thì Trần Hanh đã bị bắn rơi từ lâu rồi, may cho anh ấy…

- Tao đồng ý với cách lý giải của mày, tên lửa bay nhanh lắm, không phải lúc nào chúng ta cũng thấy tụi Mỹ phóng. Nếu nhiều động tác nhưng ở trên một mặt phẳng sẽ bị bắn rơi ngay. Chúng ta cần phải cơ động ngang với tốc độ gốc càng lớn, càng tốt.

Ngôn rất bình tĩnh, đôi mắt sáng lanh lợi và thông minh nhìn Cao, có điều gì đó đang thôi thúc… Cao hiểu lắm, Ngôn chưa được xuất kích vì cái tính ít nói, chẳng ai biết Ngôn nghĩ gì, anh ít khi bộc lộ với mọi người. Nhưng anh ta bao giờ suy nghĩ cũng chín chắn, lý giải hợp lý. Có điều, cái logic của Ngôn không hợp với những điều mà xu thế bây giờ đang suy nghĩ. Cao biết rất rõ. Ngôn là một học sinh, nhập ngũ vào bộ đội không quân, thời gian ở trong quân đội chưa nhiều, tư duy của anh ta rất lạ, không lệ thuộc, luôn độc lập trong cách lập luận, kể cả trong khi thảo luận chính trị và những buổi họp quân sự dân chủ bàn về cách đánh, cách tránh tên lửa, cách thoát ly… Bây giờ, sau trận đánh thứ hai, trong khi mọi người đi theo hướng của lãnh đạo thì anh ta quan niệm phải tìm ra sự thật, bởi vì sự thật mới là cách để thực hiện thực tế, mà, có hiểu được thực tế mới có biện pháp cụ thể để khắc phục những sai lầm. Ở trên trời, trong một trận không chiến, ta yếu hơn địch, hành động sai lại bị tư tưởng dối trá chi phối, sự hy sinh sinh mạng của người lái máy bay chiến đấu là không thể tránh, có khi phải trả cái giá rất cao. Cao hỏi:

- Nếu như Ngôn xuất kích trận ngày hôm kia, liệu cậu có trở về được không?

- Tôi cũng không biết, đâu có ai dám nói mình không bị bắn rơi.
Logged
Tunguska
Global Moderator
*
Bài viết: 519



« Trả lời #28 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2007, 11:19:58 am »

Cao nói:

- Tao biết, mày… Nhưng thôi, việc đó tính sau. Tao thấy quả thật, nếu là tao thì tao sẽ…

- Đấy, anh cũng lập lờ. Mà cũng phải thôi, chúng ta mới đánh có hai trận, chúng ta còn non nớt lắm, bắn rơi được tụi nó đã là… khá lắm rồi. Ta còn non, bọn Mỹ cũng lớ ngớ, tụi nó bắn rơi được mình là vì tụi nó đông, gấp sáu lần chúng ta. Tôi nghĩ, sắp tới mới là những thử thách thực sự của chúng ta…

Cao và Ngôn đi mãi ra đến cột cờ. Ông Tám đang xới những gốc hoa, đang lật những miếng đất nhỏ để xếp vào nhau. Cao đến gần:

- Ông Tám, ông đang nghĩ gì mà đăm chiêu dữ vậy? Có phải ông nhớ mẹ đĩ ở nhà?

Ông Tám quay lại thấy hai phi công đang đứng nhìn ông, ông ngước lên, vẻ khó chịu, nhưng rồi ông trở lại với vẻ mặt bình thường, ông nói:

- Bây giờ mà còn nghĩ đến vợ con thì có là…

Ông định nói con vật. Nhưng ông kìm lại được. Ngôn biết ông Tám giận, bèn ngồi xuống bên ông, nhỏ nhẹ:

- Ông Tám ơi, tôi nói điều này, nếu không phải ông bỏ qua cho, được không?

Ông Tám chăm chú, nói ngay:

- Nói đi, anh Ngôn, tôi không bao giờ giận các anh. Vừa qua, chẳng qua tôi buồn, anh Cao nói không hợp thời, chứ tôi có lúc nào mà không thương các anh? Ba anh đã đi không về. Mới hôm nọ, anh Giấy còn nói chuyện với tôi rằng, "ông Tám trồng hoa là điều rất tốt. Cuộc chiến đấu của chúng ta nhất định ác liệt, có hoa, đời sẽ tươi hơn. Hoa sẽ làm cho cuộc chiến đấu của trung đoàn vừa có sức mạnh của ý chí, nó vừa lãng mạn của tâm hồn". Nó nói nhiều lắm, đâu có ngờ những lời nói của nó là những lời trối trăn, thật là…

Ngôn nói ngay:

- Ông Tám ơi, có lẽ hoa sẽ làm cho những người lính của chúng ta bớt khô cứng, chúng ta trở lên mạnh mẽ và tâm hồn của chúng ta mới thanh cao trong cuộc chiến đấu một mất, một còn này. Tôi nghĩ nhớ vợ, nhớ con cũng rất tốt, chúng ta chiến đấu chính vì để hậu phương của chúng ta hạnh phúc, có gì sai đâu mà ông ái ngại. Tôi mới có người yêu, lúc họp, lúc tập, lúc trực bay thì thôi. Về nhà nhớ lắm ông à. Nhớ vợ, con đâu có gì trái với đạo đức, với phẩm chất người lính của chúng ta, tôi nghĩ như vậy, miễn là đừng để gia đình chi phối, làm cho chúng ta yếu đuối mà thôi.

Ông Tám ngắt lời Ngôn:

- Anh Giấy cũng nói với tôi như vậy. Các anh hay lắm. Tôi cứ tưởng phi công các anh chỉ là những người đi mây về gió. Bây giờ tôi mới hiểu phi công chúng ta cũng là những con người thật là người, có trái tim biết rung cảm với hoa, với thiên nhiên, với gia đình. Một đội quân như vậy nhất định sẽ thắng.

Cao ngồi bên cạnh ông Tám, nghe ông Tám nói, anh gật đầu thán phục, một cán bộ biết lý giải những góc cạnh của nội tâm phải là những con người có chiều sâu của nhận thức. Anh nhận ra, ở đời, nhiều khi cấp bậc cao, chắc gì đã có nhân cách cao.

***

Nguyệt mặc chiếc áo màu xanh công nhân, trên cổ thắt chiếc khăn quàng mỏng, đang đứng ở nhà chiêu đãi sở. Nàng nhìn vào bên trong, con đường đất đỏ từ nhà chiêu đãi sở dẫn vào doanh trại của trung đoàn không thấy Sáu… Nguyệt bước vào bên trong nhìn khắp gian nhà: các cây cột được làm bằng những cây luồng, nhà lợp tranh, vách cót, người ta ngăn ra từng phòng cho những cặp vợ chồng lính sau giờ trực chiến... Nguyệt hiểu, nơi đây dành đón tiếp vợ và gia đình quân nhân thăm chồng, con. Nhiều tiếng rì rầm, tâm sự nho nhỏ, thi thoảng bật lên những tiếng cười rúc rích. Nguyệt thẹn thùng, nàng vừa muốn nghe những tiếng động từ trong những gian phòng đó phát ra, nhưng lại sợ có người nhìn thấy, nàng bước ra sân mặt nóng bừng. Nguyệt nhìn con đường, một chiếc xe đạp loáng thoáng trong rừng bạch đàn, nàng hồi hộp, đúng rồi, xe đạp, người ngồi trên xe ngày càng rõ. Sáu, ôi, anh Sáu! Nguyệt vội vã bước ra góc sân, nơi có con đường nhỏ từ con đường đất đỏ dẫn vào nhà chiêu đãi sở của trung đoàn. Nguyệt luống cuống, nàng nhớ, sau buổi tắm đó, Sáu đã gởi thơ cho Nguyệt. Lần đầu tiên cầm thơ của người con trai, nàng run run mãi mới xé được bì thơ bằng chiếc kẹp cuốn tóc của nàng. Nguyệt sợ rách giấy bên ngoài bì thơ, nàng sợ mất chữ bên trong lá thơ,  nội dung mà Nguyệt cần biết, xem Sáu đã viết gì cho nàng. Cuối cùng, tờ giấy pelure gấp tư cũng được Nguyệt lôi ra. Nhưng, nó mắc lại, miếng cơm Sáu dán đã dính chiếc phong bì vào lá thư. Nguyệt nhìn vào bên trong, cho hai ngón tay vào khẽ gỡ lá thơ ra khỏi phong bì, nàng đọc:

Em Nguyệt thân thương!
Anh viết thơ cho em lần đầu, ngượng lắm, chẳng biết nói gì, anh cầu chúc cho em sức khỏe, trẻ mãi, học giỏi. Còn anh? Anh ráng bay xong các khoa mục để kịp về nước tham gia chiến đấu. Cho anh bắt tay em. Nhớ viết thư cho anh.
Sáu.

Nguyệt nhận được lá thơ thứ ba của Sáu, anh ấy chỉ đường kỹ lắm. Khỏi hỏi ai, cứ đi, tới cầu Đuống rẽ trái thấy cây đa to đầu đường, đi vài cây số có ngôi miếu bên phải, qua sông Cà Lồ rồi đến chiêu đãi sở này, Nguyệt chỉ hỏi có một lần… Nguyệt thấy Sáu xăm xăm bước lên dốc. Nhìn đôi bàn tay anh ấy, hôm bị ngất ở Đồ Sơn, tự nhiên Nguyệt đỏ rần hai má. Anh ấy đã đặt bàn tay ấy lên ngực trái của nàng, anh ấy ấn, rồi anh ấy đã đặt môi vào môi nàng mà thổi và hút. Nghe các bạn nói lại, Nguyệt lơ mơ hiểu rằng, cuộc đời nàng đã thuộc về anh ấy. Cho đến lúc này, tuổi trẻ của Nguyệt chưa có bóng dáng chàng trai nào chen vào…

Sáu đã bước lên, Nguyệt nhìn xuống, chỉ còn cách chừng mười thước, Sáu nhoẻn miệng cười, hỏi:

- Nguyệt, em có mệt không? Em lên đây bằng gì?

- Em khỏe, em đi xe đạp của chị Tư, em mượn. Còn anh?

Sáu đã bước lên đến sân chiêu đãi sở, mặt sáng rỡ. Nguyệt mắc cỡ, tay chân lóng cóng chẳng biết mở đầu như thế nào. Nàng và Sáu đứng hồi lâu, bỗng Sáu xòe tay ra, ý muốn bắt tay. Nhưng, Nguyệt không hiểu ý, bèn nói:

- Ngày chủ nhật, em lên đây thăm anh, thấy anh mạnh. Thôi em về.

Sáu lúng túng. Nguyệt nhìn Sáu rất lạ: anh ấy đẹp trai, khỏe, oai dũng với chiếc Mig bay vút lên trên mây làm cho bao người mơ ước và thán phục, bây giờ bỗng trở nên bối rối. Nguyệt đạp xe từ Hà Nội, vượt hơn 30 km đường dài, trời nắng, đâu phải gặp Sáu rồi về ngay. Vậy mà, anh chàng luống cuống không biết cách nào giữ Nguyệt ở lại. Nguyệt đã lỡ nói, ngần ngừ hồi lâu, vẫn đứng nguyên ở góc sân. Sáu giật mình:

- Em mới lên, vô nhà ngồi, anh đi lấy nước.

Chỉ chờ có vậy, Nguyệt thở ra, bước theo Sáu… Nhà chiêu đãi sở có một quân nhân già phụ trách, bình nước pha lúc nào cũng đặt sẵn trên bàn giữa nhà, Sáu rót nước, anh nếm:

- Nguyệt, em uống được nước vối?

- Được, được, anh. Ở trường tụi em chỉ uống nước lá vối, uống riết rồi quen.

Sáu tin ngay, bây giờ trừ những người lái máy bay và cán bộ cao cấp, hầu hết cán bộ và chiến sĩ đều uống nước lá vối thay trà. Vối là một thứ lá có nước màu nâu, vị nồng rất đặc biệt. Người ta nói rằng nước vối có thể tránh được bệnh tim mạch, huyết áp cao, đặc biệt là giảm được bệnh đái tháo đường, một thứ bệnh của nhà giàu. Tay cầm ly nước vối trao cho Nguyệt, Sáu nói:

- Anh nghe nói, vối là một vị thuốc quý.

Nguyệt mỉm cười:

- Ai nói với anh?

- Anh nghe những ông lang.

- Lang băm phải không?

Sáu vốn ít nói, không có khả năng tranh luận. Anh biết rất rõ, phụ nữ có những khả năng mà đàn ông không có, họ có thể cùng một lúc vừa nói chuyện với một người, lại có khả năng nghe một người khác nói. Sự nhạy cảm, tỉnh táo khi nói chuyện của phụ nữ cũng rất đặc biệt. Sáu thấy Nguyệt đã chịu ở lại, vui vẻ, Sáu mừng lắm:

- Nguyệt, em có thể ở lại, mai về được không?

Nguyệt nói ngay:

- Không, mai em còn đi học.

Sáu mạnh dạn:

- Vậy thì, tụi mình đi chơi, được không?

Nguyệt hưởng ứng:

- Được, đi đâu, anh?

- Đi vào rừng bạch đàn, ở đó mát lắm.

Sáu và Nguyệt dắt hai chiếc xe đạp ven theo con đường đất đỏ đi vào khu rừng bạch đàn của đơn vị mới trồng hồi tết trồng cây năm ngoái, đến nay cây đã lớn, tán cây đã khép, ở mặt đất lá bạch đàn rụng, cỏ không mọc được làm nên những thảm lá dày, cây che mát, lại kín đáo. Sáu dựng xe cho mình, xe cho Nguyệt cùng dựa vào một cây. Sáu lựa lời:

- Nguyệt, mình ngồi ở đây, được không?

Nguyệt thẹn, má ửng hồng, mắt long lanh, nói nhỏ:

- Được, anh.

Sáu gom lá tạo thành tấm thảm cho Nguyệt ngồi. Còn anh, ngồi xuống bên cạnh. Mặt đồi dốc, chỗ ngồi bên cạnh một cây bạch đàn khá to. Sáu ái ngại:

- Nguyệt, em tựa vào cây, cho đỡ mỏi lưng.

Nguyệt cười ý nhị:

- Em muốn mỏi lưng, em nhường cho anh đó.

Sáu ngồi, dựa lưng vào cây bạch đàn, xuôi hai chân theo chiều dốc. Nguyệt ngồi vững chắc, co hai chân, hai tay ôm đầu gối. Nàng nói:

- Ở đây đẹp quá, ở xa xa nơi kia hình như có hồ.

Sáu hăng hái:

- Phải rồi, hồ to lắm, nghe nói có thả cá .

- Cá, cá gì anh Sáu?

- Cá trắm, cá chép. Nghe nói có cả cá mè.

- Thích quá! Lần sau em lên thăm anh, tụi mình lại đó xem đi.

- Được. Anh sẽ đưa em đi.

Nguyệt giật mình quay nhìn phía sau lưng Sáu, tiếng con gà gô gáy, hình như nó ở gần đâu đây. Sáu cũng quay lại, vô tình ngực Sáu đụng vào vai Nguyệt êm ái. Cảm giác đụng chạm làm cho Nguyệt lâng lâng. Nàng vừa muốn ngồi xa ra, lại vừa muốn Sáu đụng vào nhiều hơn. Sáu hồi hộp, trống ngực đập loạn xạ … trong trạng thái mơ hồ, Sáu đưa tay nắm bàn tay Nguyệt. Nàng giật mình kéo nhẹ tay, muốn rút tay ra khỏi bàn tay của Sáu. Nhưng lại sợ tuột ra khỏi bàn tay chàng. Nguyệt kéo rồi lại đẩy để rồi vẫn tay trong tay. Sáu ôm vai Nguyệt, anh kéo người Nguyệt nằm gọn trong cánh tay dài và mạnh mẽ của anh. Nguyệt ngạc nhiên và tự nguyện, nàng úp mặt vào vòm ngực to lớn của Sáu. Lần đầu tiên, mùi người con trai tràn ngập mũi nàng. Nguyệt ngây ngất, ngay lập tức, tất cả các tế bào sinh học thức dậy và nghe ngóng. Sáu nâng mặt Nguyệt lên, từ từ cúi mặt mình xuống. Ánh nắng chói chang, Nguyệt nhắm mắt tránh ánh nắng dọi thẳng vào mắt mình, chờ đợi… và hồi hộp…
Logged
Tunguska
Global Moderator
*
Bài viết: 519



« Trả lời #29 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2007, 11:24:00 am »

Sau ngày 3 và 4 tháng 4 năm 1965 địch co lại, không đánh lớn. Nhưng, đêm 14 tháng 4 năm 1965 hải quân Mỹ sử dụng lực lượng nhỏ bằng máy bay A- 6 đánh lén cầu Hàm Rồng nhưng không trúng. Ngày 26 tháng 5 bọn Mỹ đánh Ninh Bình, đánh cầu Đoan Vĩ. Ngày 10 tháng 6 không quân Mỹ đánh Mộc Châu, Pa Háng. Ngày 15 tháng 6 đánh Sơn La, Điện Biên…

***

Maria dáng cao, tóc vàng uốn dài, mặt trái xoan, mắt to, môi hồng, dù đã xấp xỉ 40 tuổi nhưng dáng nàng vẫn còn trẻ, xinh xắn. Nàng khoác trên vai chiếc túi xách quai dài đựng đồ trang điểm và một va li quần áo có bánh xe kéo do người Nhật chế tạo đưa sang Mỹ. Nàng từ bang Texas, đáp chuyến máy bay của hãng America Airline đến sân bay Bangkok của Thái Lan, thuê chiếc xe tắc xi đến thành phố có phi trường Takli. Maria nóng ruột khi được tin Anderson bắt đầu tham gia không chiến ở Việt Nam. Nàng lo lắng và sợ hãi. Chiếc xe dừng lại ở cổng phi trường, nàng nói chuyện với người quân cảnh Mỹ:

- Tôi là vợ của Đại tá Anderson, xin ông nhắn ông ấy, tôi đang ở đây.                                     

Viên quân cảnh da màu cười, hàm răng trắng hếu nhe ra, lợi trên màu hồng lộ ra sau vành môi dày đen cũng nhe ra, hắn nói:

- Mời bà vào trong này.                                   

Hắn lấy chiếc ghế nhỏ, giơ tay:

- Mời bà ngồi, tôi gọi ngay, chắc là khoảng mười phút.

 - Vâng,… Cám ơn, tôi chờ.                                 

Maria bước vào bên trong hàng cự mã bằng dây thép gai chắn ngang bên trong chiếc cửa sắt. Nàng thấy rất rõ, ở Thái Lan, dù là đồng minh thân cận, quân Mỹ cũng hết sức cẩn thận, họ bố trí ba lớp bảo vệ cho máy bay và phi công. Ngoài cùng là hàng rào điện tử với bốn lớp dây thép gai, có mìn sát thương, phía bên trong sáu lớp dây thép gai loại mới, dẹp như chiếc lưỡi lam, sắc và nhọn có thể cắt đứt quần áo, thịt da, kẻ đột nhập nhất định phải để lại máu và nhờ hệ thống chống trộm hiện đại, những hàng rào dây thép gai biến thành chuông reo nếu có kẻ cố ý cắt hàng rào bằng bất kỳ loại kìm nào. Lớp trong cùng, loại hàng rào cao, phía trên là những cây sắt nhọn được hàn lại với nhau để bảo vệ khu nhà ở cho phi công. Maria quan sát theo con mắt đàn bà, nàng cảm thấy bực bội, nàng cho rằng ở như vậy chẳng khác gì bị gom vào trại tập trung, chẳng chút thú vị gì. Nàng tội nghiệp cho Anderson gian khổ và chịu đựng. Maria nhìn sâu vào bên trong, ở rất xa, có bóng dáng chiếc xe Jeep chạy ra. Trên xe có một người tiến gần đến vọng gác. Maria nhận ra không phải chồng nàng, anh chàng mang trên ve áo quân hàm thiếu tá. Viên thiếu tá thắng xe, đến trước Maria giơ tay chào, nàng đứng dậy chìa tay:

- Thưa ông…                                                           

Viên thiếu tá lễ phép:

- Bà chờ cho một lát.                                               

Hắn đến vọng gác. Người lính quân cảnh giập gót:

- Thưa thiếu tá?   

- Tôi đến đón bà Maria theo lệnh của Đại tá,…                                     

Viên quân cảnh giập gót:

- Vâng, xin mời!                                   

***

Trên mạng tình báo xa, xuất hiện một tốp hai chiếc máy bay ở độ cao rất thấp ở ngoài biển tiến vào cửa sông Ninh Cơ, qua Nam Định tiến vào Nho Quan thuộc tỉnh Ninh Bình. Radar dẫn đường ở sân bay Bạch Mai và sân bay Nội Bài đều không nhìn thấy. Trung đoàn trưởng Đào Đình Luyện ra lệnh cho biên đội vào cấp hai, ông trực tiếp gọi điện thoại cho sở chỉ huy quân chủng xin phép cho biên đội cất cánh, do trung đoàn chỉ huy. Trung tá Hoàng Ngọc trực chỉ huy, nghe lệnh báo động sở chỉ huy, ông bước vào, trực tác chiến trao điện thoại cho ông. Ông nhướng mắt nhìn lên trần băn khoăn hỏi:

- Anh Luyện, anh căn cứ vào đâu để cho biên đội cất cánh?                       

- Thưa, đến hôm nay, theo nhận định của tôi, bước leo thang của Mỹ chủ yếu ở khu vực Nam Định - Ninh Bình, nếu không cất cánh sớm sẽ không kịp đánh.                                     

Hoàng Ngọc trả lời:

- Đồng ý cho trung đoàn chỉ huy. Anh lưu ý, Tư lệnh quân chủng có chỉ thị về
phương châm tác chiến trong thời gian này.                           

Đào Đình Luyện trả lời:

- Tôi hiểu.                                   

Trung tá Đào Đình Luyện biết rất rõ, nếu co lại, không cất cánh, sẽ bảo tồn được sinh lực. Là một phi công, ông hiểu khía cạnh khác, nếu không chiến đấu không thể nào rèn luyện bản lĩnh cho bộ đội. Nhiều lần ông đề đạt nguyện vọng muốn được cọ xát với thực tế để có kinh nghiệm chỉ huy không chiến, ông nhận ra rằng, chiến đấu cũng là một cách để xây dựng và bảo tồn lực lượng một cách có hiệu quả, cũng là cách để rèn luyện bộ đội… Hơn hai tháng qua, Trần Hanh trở về rồi đi bệnh viện, dù sao ông cũng được nghe Trần Hanh báo cáo lại diễn biến trận chiến đấu. Ông nhận ra, ta và địch đều còn non nớt. Bọn Mỹ đã lâu chưa chiến đấu, dù máy bay và vũ khí rất hiện đại. Điều dễ thấy nhất là địch rất đông, ta chưa có kinh nghiệm, trình độ bay và kỹ thuật không chiến còn non, đặc biệt là tư duy chiến thuật trong đối phó với tên lửa Mỹ, nhiều vấn đề mới đặt ra chưa được các phi công luyện tập thành thạo. Hầu hết phi công chưa quan sát địch kỹ lưỡng. Sau hơn hai tháng nghiền ngẫm và kiên trì luyện tập, phi công và cán bộ chỉ huy đã tiến bộ về kỹ thuật và chiến thuật, bộ đội mong muốn chiến đấu và lập công. Đào Đình Luyện ra lệnh:

- Cho biên đội Lâm Văn vào cấp 1. Dẫn đường xác định thời cơ cất cánh.                                 

Phạm Minh Nhân nhẩm tính thời gian bay từ căn cứ Nội Bài đến khu vực chiến đấu, cộng với thời gian mở máy, lăn ra và cất cánh. Nhân đề nghị:

- Báo cáo một phút nữa cho biên đội mở máy, cất cánh.                           

Đào Đình Luyện cầm micro:

- Tam Đảo gọi 31.                               

Lâm Văn trả lời:

- 31 nghe rõ. 

- 31 lưu ý, chúng ta thực hiện phương án hoa hồng.       

- 31 nghe rất rõ.                                           

Đào Đình Luyện nhìn chiếc đồng hồ có kim giây màu đỏ đang quay tròn, nó cần mẫn và chính xác, chỉ còn 20 giây nữa, lệnh cất cánh sẽ được ban ra và lần đầu, trung đoàn chỉ huy biên đội không chiến trách nhiệm đè nặng trên vai ông. Ngay bây giờ ông có thể ra lệnh xuống cấp và phi công trở về nhà trực ban. Mọi việc sẽ do quân chủng chịu trách nhiệm. Và, như vậy sẽ cắt đi bao áp lực đè trên vai ông. Không, Đào Đình Luyện đã quyết tâm cùng với anh em xây dựng trung đoàn trở thành một đơn vị không quân chiến đấu đầu tiên, thiện chiến. Muốn như vậy, chỉ có cách “sắt cứng phải tôi trong lửa…”. Ông nhìn trên bàn chỉ huy chiến đấu, tốp cường kích và tiêm kích của hải quân Mỹ đã xuất hiện. Ông ra lệnh:

- Lệnh cho biên đội Lâm Văn cất cánh.

Đào Đình Luyện bất giác liếc nhìn tấm bảng đen đăng ký lực lượng trực ban. Ông
thuộc từng người. Lâm Văn bay giỏi, tiếng nói nhỏ nhẹ và hay lắp, một sĩ quan mang dòng máu Việt - Hoa… Thanh Cao, mặt tròn, da trắng, mắt to, tóc ngắn, khá đẹp trai, bay lì lợm, đáng yêu. Trọng Lê bay số 3 vốn là lính đặc công, kỹ thuật xạ kích tuyệt vời, dũng mãnh, mặt trái xoan , đẹp trai, mắt to, hơi buồn. Còn phi công bay số 4 Nguyễn Nhật, mặt vuông, dài, bay khỏe, tiếng nói lúc nào cũng như hụt hơi, hay kể chuyện tiếu lâm, thông minh … Ông liếc nhìn tờ lịch treo trên vách ngăn giữa bàn chỉ huy chiến đấu và bộ phận các sĩ quan phục vụ phía trong. Sáng nay, sĩ quan tác chiến vừa bóc đi tờ lịch ngày 16 tháng 6 năm 1965. Đào Đình Luyện hết sức tập trung. Ông đã nghe tiếng gọi của biên đội liên lạc với sở chỉ huy trung đoàn. Sở chỉ huy hết sức căng thẳng, mọi người đều dồn đến nghe ngóng, theo dõi. Phạm Minh Nhân cho biên đội những thông số đầu tiên. Trung tá biết rõ, bây giờ Lâm Văn đang chỉ huy biên đội tập họp, đội hình đã hoàn chỉnh và đang đưa mũi máy bay hướng đến mục tiêu. Tiếng gọi giữa các phi công với nhau đã xong, bây giờ, liên lạc giữa trên không và mặt đất tập trung vào biên đội trưởng Lâm Văn và sĩ quan dẫn đường, cuộc đối thoại đó kèm theo những mũi tên xanh và đỏ trên bản đồ. Minh Nhân đưa micro lên miệng:

- 31, hướng bay 190 độ, cao 4.000 mét.

- 31 nghe rõ, 190, 4.000.

Lâm Văn liếc nhìn số 3 và biên đội. Những chiếc Mig-17 lướt qua thị xã Hưng Yên. Anh nhìn xuống, bên dưới, dòng sông Hồng uốn lượn và hai bên, những thửa ruộng xanh cùng với con đường và những mái nhà ngói, nhà tranh thanh bình. Thi thoảng một đám mây trắng vụt qua rất nhanh dưới cánh. Lâm Văn nhìn về phía trước, đường chân trời hình thành một vòng cung, bên phải những dãy núi cao, thấp bạt ngàn như những con voi khổng lồ, con đứng, con nằm trải dài từ Bắc vào, xa xa thấp thoáng những mỏm núi cao vút … Biên đội lao nhanh về phía trước, những cánh đồng trải rộng, nhỏ dần, độ cao đã hơn 3.000 mét. Lâm Văn nghe thông báo:

- 31, Cá Sấu, Vịt Trời bên trái 30 độ, 80 km.

Lâm Văn trả lời:

- 31 nghe rõ.

***

Maria vào đến phòng ngủ của Anderson nhưng không thấy chồng. Nàng hết sức lo lắng, chưa bao giờ Anderson không ra đón. Nàng bồn chồn, giận dữ với viên thiếu tá:

- Xin ông cho biết, chồng tôi đang ở đâu?

Viên thiếu tá có tên Richard bối rối:

- Thưa bà, khi bà đến, Đại tá Anderson chỉ huy liên đoàn đi đánh một mục tiêu ở tuyến đường sắt Hà Nội- Lào Cai của Bắc Việt Nam. Ở đó không có gì nguy hiểm. Chắc là một giờ nữa Đại tá sẽ về đến phi trường. Xin bà yên tâm.

Maria gào lên:

- Tôi không thể yên tâm được. Ông hãy gọi ông ấy về với tôi ngay bây giờ!

- Vâng, thưa bà.

Để Maria ngồi trong phòng của Anderson, Richard đi ra. Maria từ từ đứng dậy, quan sát căn phòng của chồng. Trên bàn làm việc, lá cờ Mỹ bằng một tờ giấy trên cây nhôm tròn, đế bằng gỗ. Kế lá cờ là bảng tên “Đại tá Anderson”. Maria tò mò, kéo ngăn nhỏ, trong một bao thư, hơn hai mươi ảnh các cô gái Mỹ, Thái khỏa thân, chồng sách giải trí. Nhiều tạp chí ảnh Playboy. Maria lắc đầu, bà ta hiểu, những người lính Mỹ đến đây, đến với cuộc chiến tranh khốc liệt, ngày ngày họ bay đi, tối tối họ giải khuây bằng những hộp đêm, rượu và gái. Có lẽ Anderson của bà ta cũng không là ngoại lệ. Richard bất ngờ bước vào:

- Thưa bà, Đại tá đã hạ cánh, mười lăm phút nữa bà sẽ được gặp Đại tá.

Vô cùng mừng rỡ, Maria vội vã bước ra sân, hướng theo con đường sâu hun hút về phía tiếng động cơ đang gầm rú và tiếng cạ của bánh xe xuống mặt đường băng.

***

Lâm Văn quan sát phía trước, những lớp mây “ti” như những chùm tơ trên cao lướt qua đầu. Anh biết rõ, bọn Mỹ sẽ ở phía trước mũi máy bay của anh. Nhưng, hình thù và độ hung ác của chúng nó đến đâu, đến bây giờ anh cũng chỉ biết trên giấy. Lâm Văn, Cao, Lê và Nhật còn rất trẻ, các anh đều từ bộ binh, quen với súng trường, lưỡi lê và cận chiến. Từ ngày hành quân từ nước bạn về Tổ quốc, các anh miệt mài tập luyện và nghiên cứu địch … cho đến tận hôm nay mới có dịp tung cánh:

- 31, Cá Sấu đi từ trái sang phải, cách 50km.

Phạm Minh Nhân liếc nhìn chiếc đồng hồ để ở trên bàn, ngay trước mắt, chiếc kim đỏ mỗi lần chuyển một khắc, nó gật một cái chắc chắn. Nhân chưa hình dung toàn bộ một trận không chiến diễn ra như thế nào. Nhưng, nhiệm vụ của anh là tạo thế chiến thuật cho phi đội. Bàn tay thuận tay trái của anh, lúc này đã phát huy tác dụng. Tay phải cầm cây thước tam giác, chiếc bút chì trên bàn tay trái vẽ những vòng tròn, có bán kính khác nhau rất chuẩn cho biên đội của Lâm Văn, chuẩn bị tiếp cận, tốp máy bay địch lúc này đã vượt qua thị xã Ninh Bình đang hướng vào hướng Tây Bắc, phía trước tốp máy bay địch là thị trấn Nho Quan. Nhân cầm micro, báo cáo:

- Thưa, cho tiếp cận?

Đào Đình Luyện lập tức trả lời:

- Cho tiếp cận.

Nhân bóp micro:

- 31 thả thùng dầu phụ, chuẩn bị công tắc quân giới, mục tiêu bên phải 40 độ, 25 km.

- 31 nghe rõ, thả thùng dầu phụ, tốc độ 850, 33.

Lâm Văn vừa ấn nút thả hai thùng dầu phụ ở hai bên cánh, máy bay trở nên linh hoạt, nhẹ nhàng. Lâm Văn đảo mắt quan sát, anh bỗng phát hiện những chấm nho nhỏ phía dưới lớp mây “ti”. Văn bóp micro:

- Địch bên phải 20 độ, bên trái 45 độ, tất cả theo tôi …

Bốn chiếc Mig-17 lao vào hướng có địch xuất hiện, càng đến gần Lâm Văn nhìn thấy bọn F-4, bên phải xa hơn bọn A-4 mang bom đang tiến vào mục tiêu. Lâm Văn suy nghĩ rất nhanh“Không thể đánh tốp A-4”. Bọn tiêm kích Mỹ đang ở rất gần, những chiếc F-4 đã phát hiện Mig, sau đuôi làn khói đen ngoằn ngoèo. Bọn Mỹ đã tăng tốc độ, biên đội buộc phải đánh với bọn tiêm kích. Lê quyết liệt:

- 31, phía bên phải còn 8 chiếc F-4. Bên trái 4 chiếc, trước mặt 4 chiếc.

- 31 thấy rồi. 33 chú ý, biên đội hai chiếc, công kích.

Lâm Văn ra lệnh cho Cao:

- 32 theo tôi.

Ở bên kia Lê và Nhật lao vào tốp 8 chiếc, động tác nhanh, gọn gàng. Lê bắn rơi chiếc F-4 chỉ huy, lửa chiếc F-4 cháy rất to làm cho 7 chiếc còn lại nao núng. Nhật dũng mãnh kéo máy bay vào bên trong, tấn công chiếc F-4 số 3, bọn Mỹ nao núng dạt ra, đối phó. Nhật bám được một chiếc ở gần, anh tăng hết ga, tốc độ không tăng được bao nhiêu. Nhật quay lại quan sát, anh vừa kịp nhìn quả tên lửa lao đến rất nhanh. Nhật cơ động nhưng không kịp, anh bị bắn rơi. Lê đảo mắt thấy chiếc Mig của Nhật bốc cháy, chiếc dù trắng bung ra. Lê nổi nóng vòng lại, bọn Mỹ đã rút chạy, còn lại hai chiếc đang mắc kẹt trong vòng lượn của Lê… Ở bên trái, Lâm Văn và Cao lượn vòng quyết liệt với 8 chiếc F-4, bọn Mỹ phóng rất nhiều tên lửa. Nhưng, biên đội Văn và Cao giữ được thế không sơ hở. Bỗng, Lâm Văn thấy chiếc F-4 bên phải lỏng tay lái, ngay lúc đó trên tai Văn nghe tiếng của Lê báo cáo về  sở chỉ huy đã bắn rơi một chiếc F-4. Lâm Văn hiểu, Lê làm cho bọn Mỹ ở đây giật mình. Chớp thời cơ, Văn kéo mạnh máy bay tạo được góc đón vô cùng thuận lợi, cự ly rất gần, anh kéo cò. Ba khẩu súng cùng nhả đạn, viên đạn 37 ly bắn trúng lưng chiếc F-4, gần chục viên đạn 23 ly găm nát cánh phải, chiếc F-4 bùng cháy. Lâm Văn hét to:

- Cháy rồi, 31 bắn rơi chiếc F-4.

Lâm Văn nhìn phía sau, không thấy Cao, Văn gọi:

- 31 gọi 32, 31 gọi 32.

Lúc này ở khu vực chiến đấu của Lê, hai chiếc F-4 tìm cách thoát ly. Lê quan sát, chiếc F-4 ở phía bên phải lật ngang, phóng hai quả tên lửa. Lê cơ động góc và trượt cạnh, hai quả tên lửa bay vọt phía trước mũi máy bay, anh thấy bọn Mỹ lỏng tay lái, lượn vòng ngược làm cho Lê không cắt vào bên trong, hai chiếc F-4 trượt xuống và tháo chạy. Lê quan sát, chỉ có hai chiếc F-4 ở phía trước, anh quyết định đuổi theo Lê từ độ cao 3.000 mét. Bọn Mỹ cắm đầu xuống, vừa trượt, vừa lượn tạo khoảng cách không quá xa. Lê cắm máy bay xuống, tốc độ tăng nhanh chóng hy vọng có thể đuổi kịp. Phía trước là núi cao, có một khe rộng, hai chiếc F-4 hoàn toàn chủ động về tốc độ và có vẻ chậm, tốc độ tiếp cận đã khá. Lê nhớ, độ cao có thể biến thành tốc độ. Anh quyết định bổ nhào …. Bọn Mỹ biết, chiếc Mig-17 đang say, lao xuống. Lê đẩy cần lái, tốc độ lao xuống rất nhanh, cự ly giữa chiếc Mig-17 và hai chiếv F-4 ngày một ngắn, anh đã xuống sát ngọn núi phía trước. Bỗng, hai chiếc F-4 trượt xuống dưới khe núi và lượn vòng lách qua ngọn núi trước mặt Lê. Anh thấy trước mặt ngọn núi sừng sững, chiếc Mig đang đà lao xuống. Biết động tác của mình nguy hiểm, Lê bấm Micro gọi “31”. Anh vội vã buông tay ga, hai tay ghì chặt kéo cần lái sát vào bụng kéo chiếc Mig vọt qua được ngọn núi nhưng đuôi chạm vào đỉnh núi, chiếc Mig lật ngang cắm đầu xuống một yên ngựa … Lâm Văn nghe tiếng Lê gọi rồi đột ngột mắt hẳn. Anh vòng lại, lượn vòng nhiều lần trên khu vực chiến đấu. Văn phát hiện một chiếc dù trắng ôm trùm một ngọn cây. Anh biết, một phi công đã nhảy dù an toàn.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM