Ngày 17/02/1979, bạn đang làm gì, ở đâu và bạn nhớ gì hoặc được nghe kể gì về ngày đó và những ngày tiếp theo ?
Để nhớ về một sự kiện lịch sử cách đây tròn 30 năm, xin các bác cùng có đôi dòng hồi tưởng về ngày đó.
Tôi từng là Trung sĩ biên phòng (năm 1979 gọi Công an nhân dân vũ trang), tăng cường cho biên giới phía Bắc từ ngày 10 tháng 2 năm 1979, thuộc đồn 125, đóng tại thị xã Lào Cai, ngay đầu bờ Nam cầu Hồ Kiều bắc qua sông Nậm Thi. Chính trị viên trưởng của đồn là bác Lê Văn Truyền. Đồn trưởng là bác Đèo Văn Tắng (sau sang làm ở Hải quan, nay đã mất). Chính trị viên phó là anh Vũ Văn Nhất, nhà ở phố Hàn Thuyên, Hà Nội,( nay cũng mất rồi). Thủ trưởng trực tiếp của tôi là anh Nguyễn Văn Nhật (trung đội trưởng trinh sát) và anh Quách Văn Rạng (trung đội phó trinh sát, hi sinh trong trận này và được phong Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Tôi tới Lào Cai ngày 10 tháng 2. Khi đó, cả thị xã cổ kính yên bình, chưa hề biết rằng chiến tranh đang cận kề. Tòa nhà Khách sạn Lào Cai cao 5 tầng được coi là niềm tự hào của cả tỉnh Hoàng Liên Sơn. Nhà máy nhiệt điện Lào Cai vẫn tỏa khói, cấp điện cho cả thị xã và cho cả thị trấn Hà Khẩu của Trung Quốc. Đầu cầu Cốc Lếu quãng gần cầu chui đường sắt có một thư viện nhỏ của thị xã. Vốn là dân mọt sách, đến thị xã là tôi tìm thấy ngay cái thư viện ấy và cô thủ thư là người dân thi xã đầu tiên mà tôi quen biết. Tuy ở miền núi như vào mùa Đông, Lào Cai cũng chỉ lạnh tựa như Hà Nội. Những hôm trở nồm thì còn nóng như mùa hè.
Hàng ngày, chúng tôi và những người lính biên phòng Trung Quốc vẫn chào nhau trên cầu Cốc Lếu. Không ai có thể ngờ được chỉ một tuần sau, chúng tôi đã trở thành thù địch với nhau. Ngày nay, khi nhớ lại những sự kiện từ tháng 2 đến tháng 4 năm 1979 ở Lào Cai, sao tôi thấy nó giống những sự kiện được mô tả lại trong cuốn sách "Pháo đài Brest" của nhà văn Liên Xô S. S. Smirrnov đến thế. Cũng khung cảnh hòa bình, cũng những buổi chiếu phim ngoài trời, cũng những lần đi câu cá trên sông Hồng, sông Nậm Thi. Tất cả đều diễn ra một cách hòa bình. Không ai có thể lường trước được đó là thứ hòa bình giả dối, man trá.
Mãi sau này, tôi mới đoán già đoán non rằng các cấp chỉ huy của tôi đã biết trước sẽ có chuyện xảy ra. Nhưng có lẽ vì bí mật nên các anh chỉ nhắc nhở chúng tôi một cách chung chung rằng hãy tăng cường cảnh giác, tỉnh táo khi gác đêm và tuần tra dọc tuyến biên giới dược phân công. Tịnh không một ai nói ra miệng về cuộc chiến sắp xảy đến. Trong một bữa cơm, có anh lính cũ bạo mồm hỏi thẳng bác Tắng:
- Bao giờ thì đánh nhau hả thủ trưởng ?
Bác ấy trừng mắt rồi nói:
- Chú mày thích đánh nhau lắm hả ?
Thế là không ai hỏi gì thêm nữa.
Là lính mới cho nên tôi tưởng đó là chuyện thường tình. Chỉ mãi đến sau khi chiến tranh nổ ra, anh Nhật, trung đội trưởng trinh sát mới bảo rằng anh đã cảm nhận được cái không khí ngột ngạt từ mấy tháng nay rồi.
Đêm 16 tháng 2 năm 1979 cũng là một đêm bình thường như khác. Xong ca gác lúc 9 giờ, tôi về doanh trại và leo lên tầng trên của chiếc giường 2 tầng. Tôi thích ngủ ở tầng trên vì không thích bị làm phiền, trong khi hầu như các cựu binh đều thích ngủ ở tầng dưới. Tôi nhớ hôm mới lên, thấy tôi xung phong nằm tầng trên, anh Nhật nháy mắt bảo tôi:
- Cậu sẽ được biết thế nào là "ăn trên, nằm chốc" !
Tôi chỉ cười khì vì không hiểu anh có hàm ý gì.
Quả nhiên, sáng sớm hôm 13, cả đồn báo động tập, tôi tìm mãi không thấy đôi giày vải nên ra tập trung muộn mất 2 phút. Thế là bị phạt đào 2 mét hào. Chậm một phút là đào một mét, chậm 5 phút đào 5 mét. Quy định của đồn là thế. Thế là từ hôm đó tôi "diện" nguyên đôi giày đi ngủ làm cả tiểu đội bò lăn ra cười. Ấy thế mà đến hôm 17 tháng 2, cái thói phòng xa kỳ quặc ấy lại cứu tôi khỏi cái chết trông thấy.
(còn tiếp)