Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 10:14:43 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Các loại máy bay do Dassault thiết kế(1947 - 1986)  (Đọc 31182 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
trinhlenam_89
Thành viên
*
Bài viết: 155


« vào lúc: 08 Tháng Hai, 2009, 10:54:24 pm »

Nguồn thông tin được lấy chủ yếu từ aviastar.org (hoặc có thể kiểm tra từ link: http://www.aviastar.org/air/france/a_dassault.html ), trong quá trình dịch em có gì sai sót mong các bác chỉ giáo thêm  Grin
Logged

trên đe dưới búa, bầm dập chả lụa, méo mó bánh bao
trinhlenam_89
Thành viên
*
Bài viết: 155


« Trả lời #1 vào lúc: 08 Tháng Hai, 2009, 11:02:50 pm »

Dassault M.D.315 1947



Dassault M.D.315 Flamant (Flamingo) là loại máy bay huấn luyện và vận tải rất tiện dụng, nguyện mẫu của nó cất cánh lần đầu tiên vào ngày 10 tháng 2 năm 1947. Đây là thiết kế  M.D.303, và được đánh giá là rất thành công ở trung tâm d’Essais en Vol ở Bretigny năm sau đó. Việc sản xuất Flamants, bắt đầu từ tháng 1 năm 1949, chúng được dự định chủ yếu tham gia phục vụ với Aree de I’Air ở bên ngoài nước Pháp, và chúng được chuyển giao cho đội AOF (Afrique Occidentale Francaise) bắt đầu từ tháng 10 năm 1950. Có ba phiên bản chính: đầu tiên là M.D.311, mục đích ném bom, huấn luyện chụp ảnh và dẫn đường với 39 chiếc; máy bay vận tải 6 chỗ M.D.312 phục vụ mục đích thông tin/liên lạc và máy bay vận tải hạng nhẹ có 10 chỗ ngồi M.D.315 tiện ích. Tất cả các kiểu này được sử dụng trong khoảng thời gian dài bởi Armee de I’Air và kiểu M.D.312 sử dụng bởi Aeronavale. Có khoảng 200 chiếc vẫn còn phục vụ tới giữa năm 1960, không một chiếc nào hoạt động trong lực lượng vũ trang Pháp lúc đó. Nó có thể được hoán cải thành máy bay hành khách, chở hàng hóa hoặc phi cơ vận tải cấp cứu, có một số chiếc phù hợp đã phục vụ trong không quân các nước Cambodia, Madagascar, Tunisia và Việt Nam (quân ngụy).

Một chiếc M.D.315 chính là M.D.316, trang bị động cơ 611kW SNECMA 14X Super Mars, cất cánh vào ngày 17 tháng 7 năm 1952. Đấy là nguyên mẫu duy nhất, ngoài ra còn có M.D.316T, sử dụng động cơ 597kW Wright R-1300-CB7A1. Các kiểu mẫu mới này được dự định cho các hoạt động huấn luyện phi công và vận tải thương mại. nhưng cả hai đều ở trong tình trạng ''đắp chiếu''  Grin

Thông số kĩ thuật:
Dassault M.D.315

Động cơ: hai động cơ piston SNECMA-Renault 12S 02-201, 433kW
Trọng lượng:
Trọng lượng cất cánh 5800kg
Trọng lượng rỗng 4250kg
Kích thước:
Sải cánh 20.7m
Dài 12.5m
Cao 4.5m
Tiết diện cánh 47.2 m2
Tốc độ tối đa 380km/h
Tốc độ bình thường (tuần tra) 300km/h
Trần bay 8000m
Tầm hoạt động 1215km

« Sửa lần cuối: 08 Tháng Hai, 2009, 11:05:09 pm gửi bởi trinhlenam_89 » Logged

trên đe dưới búa, bầm dập chả lụa, méo mó bánh bao
trinhlenam_89
Thành viên
*
Bài viết: 155


« Trả lời #2 vào lúc: 09 Tháng Hai, 2009, 08:01:16 am »

Dassault M.D.450 Ouragan 1949



Dassault M.D.450 Ourgan là chiếc máy bay chiến đấu đầu tiên được phát triển bởi Avions Marcel Dassault và là chiếc máy bay chiến đấu phản lực đầu tiên của Pháp thiết kế đã giành được quyền sản xuất cả seri, M.D.445 Ouragan (Hurricane) thiết kế bởi các kĩ sư Deplant, Cabriere và Rouault. Động cơ chính là loại 2267kg Roll-Royce Nên Mk 102. Nguyên mẫu đầu tiên trong ba nguyên mẫu cất cánh vào ngày 28 tháng 2 năm 1949, nguyên mẫu thứ hai và thứ ba lần lượt vào ngày 20 tháng 7 và ngày 2 tháng 6 theo thứ tự. 12 chiếc (sau tăng them 14 chiếc) pre-series máy bay tiếp theo ‘’by 350 production Ouragans’’. Năm sau đó, 50 chiếc đầu tiên được hoàn thành với tiêu chuẩn tạm thời là loại M.D.450A, các máy bay sau bao gồm thêm các sự cải tiến nhẹ và trang bị có thay đổi với M.D.450B. Sự thay đổi bao gồm việc thay thế động cơ Nene 102 bằng Nene 104B, 2300kg. Trang bị vũ khí bao gồm bốn pháo 20mm, thêm vào đó là là 16 quả rocket T-10 Matra treo bên ngoài. Không quân Ấn Độ đã nhận được 71 M.D.450B vào ngày 25 tháng 7 năm 1953, sử dụng động cơ Nene 105A (2350kg) và phiên bản Mk V (VQ Anh) từ pháo 20mm Hispano-Suiza của Pháp. Toofani phục vụ trong không quân Ấn Độ (trong tiếng Hindi tương đương với Ouragan), là máy bay chiến đấu Dassault còn lại duy nhất được sử dụng cho tới năm 1967, thêm nữa 33 chiếc được sản xuất cho Armee de I’Air (bao gồm cả 20 chiếc nằm trong kho dự trữ chưa được sử dụng đến) vào tháng 3 năm 1967. Hai mươi tư chiếc M.D.450B được Israel mua tháng 1 năm 1955, nó được cung cấp từ trong kho dự trữ của Armee de I’Air vào tháng 10-11 và thêm 46 chiếc nữa (bao gồm một chiếc M.D.450A) được chuyển giao sau đó. 18 chiếc Ouragans được Israeli bán, chuyển giao cho El Salvador năm 1975, số còn lại vẫn tiếp tục phục vụ đến tận cuối những năm 80.

Thông số kĩ thuật: M.D.450
Động cơ phản lực Hispano-built Rolls Royce Nene Mk 104B, 2270kg
Trọng lượng cất cánh 7900kg
Trong lượng rỗng 4140kg
Sải cánh 13.16m
Dài 10.74m
Cao 4.14m
Tiết diện cánh 23.8 m2
Tốc độ tối đa 940km/h
Trần bay 13000m
Tầm hoạt động 920km
Trang bị vũ khí: bốn pháo 20mm, hai mấu treo dưới cánh mang 434kg bom
Logged

trên đe dưới búa, bầm dập chả lụa, méo mó bánh bao
trinhlenam_89
Thành viên
*
Bài viết: 155


« Trả lời #3 vào lúc: 10 Tháng Hai, 2009, 08:32:31 am »

Dassault M.D.452 Mystere II (1951)



M.D.452 Mystere là bản cải tiến được phát triển từ mẫu cơ bản M.D.450 Ouragan, nguyên mẫu đầu tiên Mystere I, cất cánh vào ngày 23 tháng 2 năm 1951. Nó được giữ lại phần thân, động cơ Nene và trang bị vũ khí từ M.D.450, các yếu tố phụ mới mẻ của nó là, có cánh cụp về phía sau máy bay (30 deg) và phần bề mặt đuôi được thiết kế lại. Sau đó còn thêm ba nguyên mẫu nữa, nhưng chúng lại không giống ở một vài điểm với mẫu ban đầu trước hết là ở động lực/vũ khí, chiếc thứ hai sử dụng Hispano-Suiza Tay 250 (2850kg) và chiếc thứ ba 2500kg Atar 101C. 11 chiếc thuộc seri Mystere II (sau giảm xuống còn 10 chiếc), được chuyển giao tháng 9 năm 1951, và trong đó, chiếc thừ ba và thứ năm được hoàn thành với động cơ tiêu chuẩn Tay – IIB, chiếc thứ ba sử dụng hai pháo 30mm. Chiếc thứ sáu và các chiếc tiếp sau đó được thừa nhận là trang bị vũ khí tương tự nhau, động cơ SNECMA Atar 101C-1,-3 và sau đó là động cơ D-1 hoặc -2 với việc xem xét lại thân máy bay và sắp xếp lại vị trí thùng nhiên liệu ở Mystere IIC. Sau đó người ta đã sản xuất thêm 90 máy bay chiến đấu Mystere IIC rồi chuyển giao cho Armee De I’Air, chúng đã cất cánh tháng 1 năm 1957. Các seri này đều có cánh xuôi về phía đuôi máy bay, pháo 30mm và động cơ phản lực 2800kg Atar 101D-2 hoặc D-3.

Thông số kĩ thuật:
Trọng lượng cất cánh 7460kg
Trọng lượng có tải 5730kg
Sải cánh 11.33m
Dài 12.24m
Cao 4.5m
Tiết diện cánh 30.28m2 
Tốc độ tối đa 1030km/h

« Sửa lần cuối: 10 Tháng Hai, 2009, 08:37:18 am gửi bởi trinhlenam_89 » Logged

trên đe dưới búa, bầm dập chả lụa, méo mó bánh bao
trinhlenam_89
Thành viên
*
Bài viết: 155


« Trả lời #4 vào lúc: 11 Tháng Hai, 2009, 10:55:57 am »

Dassault Mystere IVA 1952



Chỉ có vài điểm tương tự với Mystere II, Mystere IVA có những đường nét thô, thân máy bay hình bầu dục, cánh của máy bay cụp nhiều về phía sau máy bay và ‘’reduced thickness/chord ratio, và bề mặt đuôi được làm mới (new tail surfaces). Nguyên mẫu của IVA cất cánh vào ngày 28 tháng 9 năm 1952 với động cơ phản lực Tay 250A tương tự được sử dụng chơ Mystere IIA và IIB và trước đó vào tháng 8 đã có hợp đồng mua 225 Mystere IVA (cung cấp cho Mĩ và lực lượng NATO). Rồi sau đó còn có thêm một hợp đồng cung cấp cho chính quyền Pháp 100 máy bay. Seri đầu tiên của Mystere IVA cất cánh ngày 29 tháng 5 năm 1954, đợt ban đầu 50 chiếc giữ lại động cơ Tay 250A của nguyên mẫu, sau đó các máy bay khác dùng động cơ Hispano-Suiza Verdon 350 (3500kg). Vũ khí cơ bản bao gồm hai pháo 30mm. Mystere IVA được vận hành bằng động cơ 275 Verdon được sản xuất, 60 chiếc được cung cấp cho Israel, bắt đầu chuyển giao tháng 4 năm 1956, ngoài ra còn có hợp đồng 110 chiếc cho Ấn Độ, bắt đầu chuyển giao năm 1957.

Thông số kĩ thuật:
Động cơ phản lực Hispano-Suiza Verdon 350, 3500kg
Trọng lượng cất cánh 9500kg
Trọng lượng bình thường 5870kg
Sải cánh 11.12m
Dài 12.85m
Cao 4.6m
Tiết diện cánh 32.2m2
Tốc độ tối đa 1120km/h
Trần bay 15000m
Tầm hoạt động 915km
Trang bị vũ khí: hai pháo 30mm và các vũ khí treo trên các mấu trên cánh.
Logged

trên đe dưới búa, bầm dập chả lụa, méo mó bánh bao
trinhlenam_89
Thành viên
*
Bài viết: 155


« Trả lời #5 vào lúc: 12 Tháng Hai, 2009, 08:46:37 am »

Dassault M.D.453 Mystere IIIN 1953



Việc phát triển máy bay chiến đấu ban đêm dựa trên nền tảng cơ sở từ máy bay chiến đấu ban ngày M.D.450 Ouragan từ đầu, sau đó là bắt đầu phát triển từ mẫu máy bay hai chỗ ngồi M.D.451 Aladin. Nó được đề nghị lắp đặt radar đánh chặn Al Mk 17 hoặc APG 33 nằm ở bộ phận mũi máy bay, khe lấy khí được di chuyển sang bên thân. Seri thứ 11 Ouragan được hoàn thành với khe lấy khí bên thân cộng với pháo nòng đôi 30mm, và cất cánh vào ngày 24 tháng 1 năm 1952 với tên hiệu M.D.450-30-L (30 là kí hiệu của pháo 30mm và L là kí hiệu của cửa hút khí bên thân). Việc phát triển M.D.451 đã bị gián đoạn bởi sự thiên vị nhưng về bản chất thì nó giống với máy bay chiến đấu ban đêm của Mystere II với thiết kế M.D.453 Mystere IIIN, hoặc Mystere denuit. Với cửa hút khí trên thân máy bay  và động cơ Hispano-Suiza Tay 250 2850kg, một trong ba nguyên mẫu đã cất cánh vào ngày 18 tháng 7 năm 1952. Nó không được lắp đặt radar và chiếc nguyên mẫu thứ hai và thứ ba đã bị hủy bỏ. Nguyên mẫu Mystere IIIN hoàn thành 146 cuộc thử nghiệm bay vào tháng 12 năm 1953, vào lúc đó thì chương trình đã kết thúc, sau đó chiếc máy bay được sử dụng để thử nghiệm để phóng ghế phi công nhảy dù.

Thông số kĩ thuật:
Trọng lượng cất cánh 7335kg
Trọng lượng bình thường 5915kg
Sải cánh 11.62m
Dài 12.86m
Cao 4.47m
Tiết diện cánh 31.90m2
Tốc độ tối đa 1080km/h
Logged

trên đe dưới búa, bầm dập chả lụa, méo mó bánh bao
trinhlenam_89
Thành viên
*
Bài viết: 155


« Trả lời #6 vào lúc: 13 Tháng Hai, 2009, 11:04:06 am »

Dassault Mystere IVB 1953



Quá trình cải tiến về mặt khí động lực của Mystere IVA đã dẫn đến sự ra đời của Mystere IVB, trên thực tế, phần nhiều là ở cánh, nằm ngang với bề mặt đuôi và bộ càng đáp máy bay với kiểu ban đầu. Mystere IVB được dự định là sử dụng động cơ có thùng chất đốt phụ SNECMA Atar 101G. Thân máy bay đã được thiết kế lại trọn vẹn hoàn toàn. Nguyên mẫu đầu tiên cất cánh ngày 16 tháng 12 năm 1953 với động cơ Rolls-Royce Avon RA 7R khi có thùng chất đốt phụ thì sức đẩy lên tới 4330kg. Hai nguyên mẫu tiếp sau đầu tiên, một chiếc sử dụng động cơ Avon RA 7R, cất cánh ngày 18 tháng 6 năm 1954, và chiếc thứ hai sử dụng loại Atar 101F-12 cất cánh ngày 31 tháng 3 năm 1955. Bảy seri của Mystere IVB đều hoàn thành, hai cái đầu tiên dùng động cơ rocket SEPR 66 tăng thêm sức đẩy cho động cơ Atar 101F, và hai chiếc cuối cùng sử dụng động cơ Atar 101G-2 được phát triển với thùng chất đốt phụ tăng thêm sức đẩy lên 4500kg. Seri Mystere IVB còn sử dụng động cơ Atar 101G-31 với sức đẩy lớn nhất lên tới 4700kg với thùng chất đốt phụ, nhưng chương trình này đã bị hủy bỏ để dành cho việc phát triển một loại mới tiềm năng hơn là Super-Mystere B2. (hic... Huh bài này dịch chuối quá)

Thông số kĩ thuật:
Trọng lượng cất cánh 8300kg
Trọng lượng rỗng 6170kg
Sải cánh 11.12m
Dài 13.75m
Cao 4.55m
Diện tích cánh 32.0m2
Tốc độ tối đa 1180km/h
Logged

trên đe dưới búa, bầm dập chả lụa, méo mó bánh bao
trinhlenam_89
Thành viên
*
Bài viết: 155


« Trả lời #7 vào lúc: 14 Tháng Hai, 2009, 02:58:27 pm »

Dassault Mystere IVN 1954



Mystere IVN được phát triển với mục đích nó sẽ trở thành máy bay chiến đấu hai chỗ ngồi ban đêm và máy bay đánh chặn trong mọi thời tiết, sự phát triển của nó giống và có mối quan hệ với Mystere IVB, Mystere IVN khác ở điểm nó là máy bay chiến đấu hai chỗ ngồi cùng với vài điểm khác biệt khác. Phần thân máy bay được tăng thêm 1.4m về phía trước để cung cấp thêm một vị trí cho viên phi công thứ hai. Nó có một radar đánh chặn APG 33 nằm ở bên trong phần mũi máy bay với của hút khí động cơ nằm ở dưới. Động cơ Rolls-Royce Avon RA 7R với thùng chất đốt phụ tạo nên sức đẩy 4330kg, Mystere IVN được cung cấp hai pháo 30mm và  rocket không điều khiển không đối không 52mm hoặc 68mm (bộ phận chứa rocket có thể thụt ra thụt vào). Nguyên mẫu duy nhất cất cánh lần đầu vào ngày 19 tháng 7 năm 1954, sau một thời gian thì chương trình phát triển đã bị đình chỉ bởi nước Pháp gặp phải những khó khăn về tài chính, do đó đã không thể kéo dài Mystere IVN, và do đó cũng không thực hiện được dự định sử dụng radar APG 33.

Thông số kĩ thuật:
Trọng lượng cất cánh 10230kg
Trọng lượng rỗng 7140kg
Sải cánh 11.12m
Dài 14.92m
Cao 4.60m
Tiết diện cánh 32.0m2
Tốc độ tối đa 1030km/h
Logged

trên đe dưới búa, bầm dập chả lụa, méo mó bánh bao
trinhlenam_89
Thành viên
*
Bài viết: 155


« Trả lời #8 vào lúc: 15 Tháng Hai, 2009, 04:16:58 pm »

Dassault M.D.550 Mirage I 1955



Ban đầu người ta chỉ biết nó với cái tên Mystere-Delta, M.D.550 được thiết kế để đáp ứng các yêu cầu của năm 1954 với các đặc tính kĩ thuật vào thời điểm đó là máy bay chiến đấu đánh chặn trong mọi thời tiết, có khả năng đạt được độ cao 18,000m trong khoảng thời gian 6 phút và có thể duy trì được tốc độ vượt trên M=1.0 với mức độ bay chiến đấu. Đua tranh với Mystere-Delta là SE.212 Durandal và SO.9000 Trident. Động lực chính là hai động cơ phản lực MD 30R (Armstrong Siddeley) Viper sức đẩy lên tới 980kg với sự bổ sung của thùng chất đốt phụ với sức đẩy 1500kg bởi động cơ rocket SEPR 66, Mystere-Delta cất cánh lần đầu tiên vào ngày 25 tháng 6 năm 1955 (không có thùng chất đốt phụ và động cơ rocket bổ trợ). Với nguyên bản chính delta “vertical tail replaced by swept back surfaces” và lắp đặt động cơ rocket SEPR 66, M.D 550 được đổi tên thành Mirage I, và ngày 17 tháng 12 năm 1956, nó đã đạt được tốc độ bay M=1.3 khi không có động cơ rocket và M=1.6 với động cơ rocket. Nó được dự định trang bị vũ khí mang theo bên ngoài gồm Matra hoặc Nord AAM. Tuy nhiên, chương trình này đã chấm dứt bởi khả năng vũ trang của nó quá nhỏ, và phiên bản bổ sung quá yếu, cùng loại với nó là Mirage II đã được đề xuất sử dụng động cơ phản lực Turbomeca Gabizo. Sự đề xuất này cũng đã bị bác bỏ để giành cho một tham vọng mới Mirage III.

Thông số kĩ thuật:
Trọng lượng cất cánh 5070kg
Trọng lượng rỗng 3330kg
Sải cánh 7.30m
Dài 11.10m
Tiết diện cánh 27.10m2
Tốc độ tối đa 1700km/h
Động cơ: hai M.D. 30R (Armstrong Siddeley) Viper sức đẩy 980kg và động cơ rocket SEPR 66 cung cấp sức đẩy 1500kg.
Logged

trên đe dưới búa, bầm dập chả lụa, méo mó bánh bao
trinhlenam_89
Thành viên
*
Bài viết: 155


« Trả lời #9 vào lúc: 16 Tháng Hai, 2009, 09:55:52 am »

Dassault Super Mystere 1955



Lần đầu tiên ở các nước phương tây máy bay đã có khả năng bay với vận tốc vượt M=1.0 khi bay chiến đấu, nó đã được sản xuất với một số lượng lớn, Super Mystere đã đóng góp một phần không nhỏ vào số lượng đó được xem là nguồn gốc với seri máy bay chiến đấu Mystere. Nguyên mẫu đầu tiên của nó, thiết kế Super-Mystere B1 và động cơ Rolls-Royce Avon RA 7R với thùng chất đốt phụ tăng sức đẩy lên 4330kg, bay lần đầu vào ngày 2 tháng 3 năm 1955. Họ đã tiến hành sản xuất cung cấp cho Armee de I’Air, seri đầu tiên Super-Mystere B2 bay lần đầu ngày 26 tháng 2 năm 1957, và có khoảng 180 chiếc được sản xuất trong đó có 36 chiếc được mua bởi Israel năm 1958. Super-Mystere B2 sử dụng động cơ Atar 101G-2 hoặc -3 cung cấp sức đẩy 3375kg và cao nhất là 4460kg với thùng chất đốt phụ. Trang bị vũ khí gồm có hai pháo 30mm và rocket 68mm (bộ phận chứa rocket nằm ở bên trong có thể thụt ra thụt vào), giá treo bên ngoài bao gồm hai tên lửa AAM Sidewinder, hai bom 400-500kg hoặc rocket.
Hai mẫu Super Mystere B4 được hoàn thành vào năm 1958, sử dụng động cơ Atar 9B cung cấp sức đẩy 6000kg với thùng chất đốt phụ. Trong thời gian phục vụ ở Israeli, Super Mystere B2 sử dụng động cơ phản lực Pratt & Whitney J52-P-8A không có thùng chất đốt phụ cung cấp sức đẩy 4218kg. Năm 1977, 18 chiếc máy bay đã được Israel bán cho Honduras, Super Mystere đã rút khỏi thành phần vũ trang năm 1989.

Thông số kĩ thuật:
Trọng lượng cất cánh tối đa 10000kg
Trọng lượng thường 6932kg
Sải cánh 10.52m
Dài 14.13m
Cao 4.55m
Tiết diện cánh 35m2
Tốc độ tối đa 1195km/h
Trần bay 17000m
Tầm hoạt động 870km
Động cơ: một động cơ phản lực SNECMA Atar 101G-2/-3, đốt nhiên liệu hai lần tăng sức đẩy lên 4460kg
Trang bị hai pháo 30mm và 1000kg vũ khí.
Logged

trên đe dưới búa, bầm dập chả lụa, méo mó bánh bao
Trang: 1 2 3 4 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM