Về một dự án đã bị hủy bỏ của KQ Mỹ.
Từ cuối thập niên 80, nhu cầu thay thế những chiếc A-10A Thunderbolt II, một máy bay chống tăng ra đời trong kỷ nguyên chiến tranh lạnh nhằm đối trọng với ưu thế vượt trội về số lượng xe tăng của Soviet tại châu Âu và được cho là quá chậm chạp để có thể sống sót trên chiến trường trong thời đại kỹ thuật cao, đã khiến KQ Mỹ tìm kiếm một loại máy bay mới không những cho nhiệm vụ chống tăng mà còn cho cả nhiệm vụ hỗ trợ bộ binh trên chiến trường / Close Air Support (CAS).
Một dự án của Lockheed Martin được đệ trình, đó là A-16 block 60 phát triển từ máy bay F-16. Đặc tính cơ bản của A-16 như sau:

1 - Kết cấu cánh được gia cố để có thể mang được các vũ khí chống tăng hoặc gun-pod (pod súng máy gắn ngoài)
2 - Trong vai trò mới này, máy bay phải thường xuyên bay thấp với rất nhiều nguy hiểm từ hệ thống phòng không của đối phương. Vì thế các vị trí thiết yếu như buồng lái, động cơ được gia cố, bọc thêm thép nhằm giúp máy bay có khả năng sống sót cao hơn.
3 - Gắn ở mấu cứng trung tâm 1 gun-pod GPU-5/A, chứa một súng 4 nòng quay 30mm Gau-13/A phát triển từ khẩu 7 nòng quay Gau-8/A 30mm gắn trên chiếc A-10A. Nó có thể bắn các loại đạn DU xuyên giáp API (Armor-Piercing Incendiar) hoặc đạn HEI (High Explosive Incendiary) với tầm bắn trên 1,250m. Sau đây là thông số của pod GPU-5/A
- Dài: 4.3 m
- Đường kính: 0.61 m
- Súng chứa bên trong: Gau-13/A 4 nòng quay 30 mm
- Tốc độ bắn (rate of fire): 2,400 viên / phút
- Sơ tốc đạn: 1,030 m / giây
- Độ xâm nhập thép (đạn DU): Tại khoảng cách 1,000 m là 38 mm, tại khoảng cách 500 m là 69 mm
- Số đạn chứa bên trong: 353 viên loại 30 mm x 173 mm
- Khối lượng toàn bộ pod: 841 kg.
Súng Gau-13/A

Gun-pod GPU-5/A


Tuy nhiên dự án đã trở nên vô ích khi tháng 11 năm 1990, KQ Mỹ nhận được chỉ thị là phải giữ A-10A lại hoạt động. Không một chiếc A-16 nào được đặt hàng.
Cùng thời điểm này, một cú bồi khác cho dự án A-16 là quyết định của KQ Mỹ gắn thêm cho hơn 400 máy bay F-16C/D block 30/32 đang hoạt động các trang thiết bị cho nhiệm vụ CAS (close Air Support / Hỗ trợ bộ binh trên chiến trường) và BAI (Battlefield Air Interdiction / Tiêu diệt và ngăn chặn lực lượng mặt đất của đối phương từ trên không). Các thiết bị gắn thêm bao gồm:
1 - Global Positioning System (GPS): Hệ thống định vị toàn cầu
2 - Digital Terrain System (DTS): Hệ thống dẫn đường theo địa hình
3 - System hardening: Gia cố bảo vệ các hệ thống
4 - Modular mission computer: Máy tính chuẩn hóa các nhiệm vụ
5 - Automatic Target Hand-off System (ATHS): Hệ thống chọn lựa mục tiêu tự động
Tuy nhiên KQ Mỹ (Lockheed Martin?) không dễ gì để dự án A-16 trôi qua. 24 máy bay F-16A/B đã được gắn gun-pod GPU-5/A và thiết bị tìm kiếm theo dõi tia laze Pave Penny pod, tương tự như A-10A. Nó được mang tên F/A-16 và thực hiện các thử nghiệm tại chiến dịch Bão táp sa mạc tại Iraq năm 91. Nếu các thử nghiệm thành công, ít nhất KQ Mỹ cũng thuyết phục được chính phủ hoán cải một số F-16 thành F/A-16.

Pave Penny pod tìm kiếm và theo dõi các mục tiêu đã được máy bay khác hay bộ binh trên mặt đấT đánh dấu chỉ điểm bằng tia laze

Pave Penny pod được gắn bên phải cửa lấy khí động cơ của F/A-16

Tuy nhiên các thử nghiệm đã thất bại. F/A-16 gặp các vấn đề sau:
1 - Tốc độ quá nhanh nên phi công không có đủ thời gian tiếp cận mục tiêu
2 - các mấu cứng gắn vũ khí không vững chắc được như A-10A
3 - Khẩu súng 4 nòng quay 30 mm Gau-13/A rung giật quá mạnh mỗi khi bắn khiến máy bay mất kiểm soát, gây rạn nứt khung và đạn đi thiếu chính xác
4 - Thiếu phần mềm CCIP (continuously computed impact point / Hệ thống được sử dụng để thả bom "câm": Phi công sau khi lựa chọn mục tiêu xong sẽ nhấn và giữ nút WPN REL. Hệ thống CCIP sẽ tự động dùng radar để đo lường và tính toán thời điểm cắt bom)


Dự án F/A-16 không thực sự bị quên lãng bởi KQ Mỹ vẫn giữ ý định thay thế A-10A bằng F-16. Tuy nhiên ý tưởng gắn gun-pod GPU-13/A 30 mm hoàn toàn bị loại bỏ
http://www.f-16.net/f-16_versions_article18.htmlhttp://www.f-16.net/f-16_forum_viewtopic-t-7309.htmlnguồn hình: militaryphotos.net - primeportal.net - modelci.5u.com - F-16.net