MiL Mi-24, Mi-25, Mi-35
MiL Mi-24 là một máy bay trực thăng vũ trang hạng nặng đồng thời có một chút khả năng chở quân bắt đầu hoạt động trong Không quân Xô viết từ năm 1976, sau này là tại các nước cộng hòa và hơn ba mươi quốc gia khác trên thế giới.
Tên hiệu NATO của nó là Hind và các biến thế được định danh với một chữ cái thêm nữa. Các phiên bản xuất khẩu, Mi-25 và Mi-35, được biểu thị là Hind D và Hind E. Các phi công Xô viết gọi loại máy bay này là 'Letayushiy tank' (Xe tăng bay). Một tên hiệu thường gặp khác là 'Krokodil' (Cá sấu), vì hình dạng ngụy trang và thân của nó.
Mi-24 Gunship attack helicopter

Mi-24 Hind A

Mi-24A Hind B Việt Nam

Mi-24D Hind D

Mi-24V Hind E

Mi-24P Hind F

Đội bay: 3 (phi công, sỹ quan điều khiển hệ thống vũ khí và kỹ thuật viên)
Chiều dài thân: 17.5 m (57 ft 4 in); Cả cánh quạt: 21.6 m
Đường kính cánh quạt chính: 17.3 m (56 ft 7 in); Số cánh: 5
Đường kính cánh quạt đuôi: 3.9 m ; Số cánh: 3 (ở Hind D) 4 (ở Hind E/F)
Sải cánh: 6.5 m (21 ft 3 in)
Diện tích: 235 m² (2.529,52 ft²)
Chiều cao: 6.5 m (21 ft 3 in)
Trọng lượng rỗng: 8.500 kg (18.740 lb)
Trọng lượng chất tải ngoài: 1500 kg (khi có vũ khí) 2500 kg (khi không mang vũ khí)
Trọng lượng cất cánh tối đa: 12.000 kg (26 455 lb)
Khoang chứa trong: Dài: 2.5 m, rộng: 1.2 m, cao: 1.5 m, chứa được 8 lính hay 4 người bị thương
Động cơ (cánh quạt): 2 Isotov TV3-117
Kiểu cánh quạt: tuốc bin
Công suất: 1.600 kW (2.200 shp)
Tốc độ tối đa: 335 km/h (168 mph), 295 km/h (bay trung bình)
tầm hoạt động: 450 km (280 dặm), 950 km (với bìng xăng phụ)
Trần bay: 4.500 m (14.750 ft)
Trang bị vũ khí:
súng máy 12.7 mm YaKB-12.7 Yakushev-Borzov 4 nòng, có thể bắn 4.500 v/p tầm xa 1500 m
2x 500 kg Bombs hoặc
4x 250 kg Bombs FAB-250
4× Tên lửa điều khiển chống tăng (AT-2 Swatter hay AT-6 Spiral)
4× 57 mm S-5 rocket (32 quả) hay
4× 80 mm S-8 rocket (20 quả)
2× 23 mm pháo hai nòng hoặc
2x 30mm đại bác hai nòng Gsh-30K, bắn 300, hoặc 2000 đến 2600 v/p tầm xa 4000 m (bắn đạn HEFI, HEI, APT, APE, CC)
4× bình nhiên liệu ngoài chứa được 500 lit
Bay lần đầu: 19-9-1969
Giới thiệu: 1972
Hãng sản xuất: Công ty Mil, liên bang Nga
Số lượng sản xuất: Khoảng 2000 chiếc
Quốc gia sử dụng: Nga và khoảng 30 nước trong đó có Việt Nam
Các biến thể:
V-24 (Hind) - Phiên bản trực thăng đầu tiên, gồm mười hai nguyên mẫu và một chiếc phát triển. Một mẫu đã được sửa đổi năm 1975 thành A-10 để thực nghiệm tốc độ cao (đạt tới 368km/h).
Mi-24 (Hind-A) - Một phiên bản ban đầu khác là một chiếc trực thăng vũ trang, có thể chở tám lính và ba thành viên đội bay. Nó cũng mang bốn thùng chứa rocket tại bốn mấu cứng dưới cánh, bốn tên lửa chống tăng 9M17 Falanga (AT-2 Swatter) dưới hai thanh treo cánh, bom rơi tự do cộng thêm hai súng máy 12.7-mm lắp trên mũi. Mi-24 (Hind-A) là phiên bản sản xuất đầu tiên.
Mi-24A (Hind-B) - Hind-A là phiên bản sản xuất thứ hai. Cả Mi-24 và Mi-24A đều bước vào phục vụ trong Không quân Xô viết năm 1973 hay 1974. Nó không được trang bị súng máy 12.7mm bốn nòng tại mũi.
Mi-24U (Hind-C) - Phiên bản huấn luyện không trang bị vũ khí.
Mi-24D (Hind-D) - Phiên bản thường thấy nhất, một loại máy bay chiến đấu đúng nghĩa hơn so với những phiên bản trước, loại đầu tiên được trang bị các hệ thống điện tử cho tên lửa điều khiển chống tăng 9M17 Falanga (AT-2 Swatter). Mi-24D có phần thân trước được thiết kế lại, với hai buồng lái riêng biệt cho phi công và sĩ quan điều khiển vũ khí. Nó được trang bị một súng máy 12.7-mm bốn nòng phía mũi. Mi-24D có thể mang bốn thùng rocket, bốn tên lửa 9M17 Falanga (AT-2 Swatter) chống tăng cộng thêm bom và các loại vũ khí khác.
Mi-24DU - Một số lượng nhỏ Mi-24D đã được chế tạo làm máy bay huấn luyện với hệ thống điều khiển kép.
Mi-24V (Hind-E) - Phát triển sau này dẫn tới loại Mi-24V, lần đầu tiên xuất hiện đầu thập niên 1980. Nó được trang bị những tên lửa điều khiển chống tăng thế hệ mới hơn, như (9M114 Kokon, AT-6 Spiral) với những ống phóng. Mười hai tên lửa được treo trên sáu mấu cứng tại cánh.
Mi-24P (Hind-F) - Phiên bản chiến đấu thay thế súng máy 12.7mm bằng pháo 30-mm.
Mi-24RKR (Hind-G1) - Phiên bản trinh sát, được thiết kế để phát hiện bức xạ, sinh học và hóa học. Loại Mi-24RKR xuất hiện lần đầu tại Thảm họa Chernobyl năm 1986. Cũng được gọi là Mi-24R, Mi-24RR và Mi-24RKh (Rch).
Mi-24K (Hind-G2) : Trinh sát quân đội, trực thăng quan sát pháo binh.
Mi-24VM - Mi-24V cải tiến với hệ thống điện tử hiện đại hơn cho hoạt động ban đêm, bộ phận đáp mới, cánh ngắn và nhẹ hơn, và những hệ thống vũ khí mới tương thích với các loại tên lửa Ataka, Shturm và Igla-V và một súng chính 23 mm. Bên trong cũng được cải tạo nhằm tăng tuổi thọ và tạo điều kiện bảo dưỡng dễ dàng hơn. Mi-24VM được cho là sẽ bước vào hoạt động năm 2015
Mi-24PM - Mi-24P cải tiến sử dụng các công nghệ như Mi-24VM.
Mi-24PN - Quân đội Nga đã chọn phiên bản Mi-24 cải tiến này làm máy bay trực thăng tấn công của họ. Phiên bản PN có một TV và một cameraFLIR nằm trong một vòm tròn phía trước. Những thay đổi khác gồm cánh quạt chính và đuôi từ Mi-28 và bánh đáp cố định. Quân đội Nga đã nhận 14 chiếc Mi-24PN năm 2004 và có kế hoạch nâng cấp toàn bộ Mi-24 của họ.
Mi-24PS : Phiên bản cảnh sát dân sự hay bán quân sự.
Mi-24E : Phiên bản nghiên cứu môi trường.
Mi-25 - Phiên bản xuất khẩu của Mi-24D.
Mi-35 - Phiên bản xuất khẩu của Mi-24V.
Mi-24W : Tên định danh Ba Lan cho loại Mi-24V.
Mi-35P - Phiên bản xuất khẩu của Mi-24P.
Mi-35U - Phiên bản huấn luyện không trang bị vũ khí của Mi-35.
Mi-24 SuperHind Mk II - Với những hệ thống điện tử phương Tây do công ty Advanced Technologies and Engineering (ATE) của Nam Phi chế tạo.
Mi-24 SuperHind Mk III/IV - Phiên bản cải tiến của Mi-24 với các vũ khí, hệ thống điện tử và phản công điện tử
Nguồn
http://vi.wikipedia.org/wiki/Mil_Mi-24 và
http://en.wikipedia.org/wiki/Mil_Mi-24 cùng
http://www.fas.org/man/dod-101/sys/ac/row/mi-24.htm, hình ảnh và video: Sưu tầm