Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 07:47:06 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Một thủa - Tập truyện và ký - PHẠM ĐÌNH TRỌNG  (Đọc 33090 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
baogt
Thành viên
*
Bài viết: 771



« Trả lời #10 vào lúc: 05 Tháng Ba, 2009, 12:27:38 pm »

    Trưa ngày mười ba, tàu lượn quanh đảo Song Tử Tây ở ngoài xa. Đợi trời tối hẳn, tàu tắt máy thả trôi vào gần đảo. Cuối tuần trăng, mặt trăng mỏng manh, mòn vẹt vừa mơ hồ hiện ra trên cao đã biến mất. Trên tàu không một ánh đèn. Chỉ nhận ra những con sóng trắng lờ mờ sát thân tàu. La bàn và hải đồ giúp con tàu gióng hướng về phía đảo và xác định vị trí hòn đảo còn chìm sâu ba cây số trong đêm đen.

    Chợt từ trong bóng đêm phía trước vạch lên trời đêm những đường sáng trắng. Đường sáng bùng vỡ ra thành quầng sáng leo lét treo lơ lửng trong không trung. Từ nơi vừa vọt lên những quầng pháo sáng ấy lại rạch ra những đường lửa đỏ lừ. Lẫn trong tiếng sóng đã nghe được cả nhũng tiếng nổ lục bục. Địch trên đảo Song Tử Tây đang bắn pháo sáng và vãi đạn ra biển. Vẫn biết đảo Song Tử Tây ở đó nhưng lục lượng địch trên đảo như thế nào, chúng còn ở lại đảo hay đã bỏ chạy thì ta không biết. Bây giờ, sự giật mình hoảng loạn vãi đạn ra biển kia đã nói rõ tất cả. Bọn giặc trên đảo còn đang nơm nớp chờ đợi sự định đoạt sẽ đến với chúng.

    Con tàu lại lảng ra xa. Những chiến sĩ trong phân đội của đại đội trưởng Quế đang giấu mình dưới hầm tàu được lệnh lên hết trên boong. Từng người bò theo bậc thang sắt đi lên. Nhung lên đến boong tàu, đang trong trạng thái ngất ngư, lơ lửng vì sóng lắc, lại không có chỗ tựa, đỡ, nhiều người không đứng vũng được, cứ ngã dúi dụi. Họ lại phải dìu nhau ngồi quanh đại đội trưởng Quế nghe phổ biến quyết tâm giải phóng đảo Song Tử Tây, hòn đảo cực bắc trong quần đảo Trường Sa. Đại đội trưởng Quế ngồi trên gót chân, quì gối xuống nóc hầm hàng, một tay cầm đèn pin chiếu vào tấm bản đồ. một tay chỉ bản đồ, xác định hướng đột nhập lên đảo của tùng mũi và tín hiệu nhận ra nhau. Ba mũi trên ba chiếc xuồng cao su bí mật tiến vào đảo từ ba hướng.

   Mũi trưởng của Cách là Hống và mũi Hống lên đảo từ hướng tây bắc, chính giữa đảo, có nhiệm vụ phải bắt liên lạc với hai mũi ở hai đầu đảo. Mệnh lệnh đồng loạt nổ súng là tiếng nổ của khẩu ĐKZ ở mũi phía bắc của đại đội trưởng Quế. Nhiều tình huống được đại đội trưởng Quế đặt ra, ngay cả tình huống xấu nhất là địch phát hiện được tàu ta từ xa, chúng tập trung hỏa lực ngăn chặn, xuồng cao su không vào đảo được thì chúng ta vẫn xác định sẽ rời xuồng bơi  vo vào, bám đảo chiến đấu. Cách nghe những điều đại đội trưởng Quế nói một cách lơ mơ, bồng bềnh. Cách thỉ nghe rõ được mỗi câu: Các đồng chí rõ chưa? khi đại đội trưởng Quế hạ câu cuối cùng. Muốn hét to lên "Rõ” nhưng họng Cách khô cứng lại không nói nổi thành tiếng. Anh cũng chỉ nghe lác đác vài tiếng yếu ớt hưởng ứng lời đại đội trưởng Quế. Thì ra phần lớn chiến sĩ vẫn còn đang lử lả. Bên cạnh Cách, Nguyễn Văn Quyền còn bò ra sàn tàu mà nôn. Dù sao Cách cũng thấy người đang tỉnh dần lại.

    Trong lúc con tàu tắt máy thả trôi vào gần đảo thì từng bộ phận làm công việc chuẩn bị. Mỗi người được phát một túi mì ăn liễn. Một thùng nước sôi được thủy thủ trên tàu khiêng ra. Mọi người múc nước sôi đổ vào ca mì của mình và sì soạp húp. Không khí xôn xao, chộn rộn dần lên. Không còn ai nằm bẹp hoặc ngồi xỉu một chỗ. Những ca mì ăn liền nóng hổi đã làm dịu lại nỗi cồn cào, lử lả của những người lính đã quen bơi vo hàng ngày trên biển nhưng chưa quen ngồi tàu. Cách ăn hết ca mì thì Quang lại kiếm ở đâu được một quả chanh đưa cho Cách. Cách bóc vỏ chanh, đua cho Quyền hai múi, bảo:

    - Này, vi ta min xê đấy, ăn đi sẽ đỡ mệt ngay!

    Cách chia cho mấy người chung quanh, mỗi người một múi chanh. Chưa bao giờ Cách được ăn một múi chanh ngon đến thế. Vị chua dịu làm cho họng anh hết khô đắng, hết cứng ngắc. Miệng cũng hết khô, môi mềm lại và như đang chuyển từ màu tái nhợt nhạt sang màu hồng hào vốn có hằng ngày. Cảm giác trống trếnh và hốc háo mất đi. Đi nhận thêm trang bị, Cách thấy người chỉ còn hơi hiu hiu vì cảm giác đầu nặng, chân nhẹ nên bước đi chưa vững. Được nhận thêm lựu đạn, thủ pháo, phao bơi, mọi người bắt đầu nai nịt. Quần đùi. áo ngắn tay. Chân đất. Đầu trần. Dao găm, lựu đạn bên hông. Yếm bơi quàng trước ngực. Hai tay ôm khư khư một túi ni lông căng phồng như nhện ôm trứng đứng bên mạn tàu đợi đến lượt xuống xuồng cao su. Bên trong túi ni lông là súng, đạn, tăng, võng, lương khô, túi cứu thương cá nhân, dép cao su... Chợt Quang đập tay xuống vai Cách:

    - Mình đi trước nhé!

    Chuyển khẩu cối 82 xuống xuồng rồi Quang bám thang sắt bước xuống. Chiếc xuồng nhanh chóng mất hút vào bóng đêm. Cách xuống xuồng thứ ba, xuồng cuối cùng. Mặt biển tối thẫm. Tiếng sóng ầm ào. Con tàu lúc dềnh lên, lúc hụp xuống. Chiếc xuồng cao su lúc bị giằng ra xa, lúc bị hất đứng đứng lên như úp sát vào thành tàu. Đây là lúc xuồng rất dễ bị lật. Xuồng lật, người bị hất xuống biển còn có thể bơi lên xuồng nhưng vũ khí đã tuột khỏi tay thì đành gửi lại đáy biển. Một ngọn sóng hắt nước vào mặt làm cho Cách tỉnh táo hẳn lại. Hình như lính đặc công nước cứ xuống nước là khỏe ra. Bảy người đã ngồi yên trong lòng xuồng, làm cho chiếc xuồng đằm lại thăng bằng hơn. Sợi dây neo chiếc xuồng vào tàu được thả xuống xuồng. Chiếc xuồng tách khỏi con tàu hướng vào đảo. Còn một keo sống còn với sóng nữa ở chỗ bắt đầu thềm san hô nông. Đã nhìn thấy gã sóng trắng trước mặt. Nó đấy! Đảo nổi lên ở giữa thềm san hô rộng và nông như hạt vừng giữa chiếc bánh đa. Những con sóng đang ầm ầm xô vào đảo, bất ngờ húc phải thềm san hô nông, sóng chồm lên, vỡ tung ra. Con sóng sau chồm đến. Con sóng trước bị chặn lại, dựng lên, sôi sục không ngừng. Ban ngày ban mặt vượt qua được gờ sóng này đã trần ai. Chỉ sơ xảy một tí là bị sóng nuốt chửng, xuồng bị lật, người bị hất ra khỏi xuống, bị quật vào những vỉa san hô ngầm sắc như dao thợ cạo và bị cuốn đi mất tăm tích. Ban đêm mò mẫm lại càng không biết đâu mà xoay xở. Xuồng của mũi Cách chèo chống an toàn qua gò sóng hung dữ, lướt êm trên thềm san hô. Thềm san hô nông dần và những mỏm san hô nổi lên lô xô cũng san sát hơn, không thể bơi xuồng được nữa. Tháo hơi, dìm xuồng xuống vũng nước sát mép đảo. Cả mũi đi khom qua bãi lắp xắp nước rộng hơn chục mét thì gặp ngay vạt cỏ cao tới trên đầu gối. Lá cỏ khô ráp và thom như cỏ mật. Mấy con chim ngủ rúc trong cỏ thấy động chợt bay vù lên kêu "kéc" “kéc" trên cao và lại xào xạc táp xuống ở vạt cỏ liền đấy.

    Một tổ ba người được mũi trưởng Hống cử vào trinh sát. Thông thường mọi trận đánh, trước khi đánh, trinh sát ta đều đã ra vào căn cứ địch nhiễu lần, đếm ứng hàng rào, sờ từng mục tiêu, lấy gang tay đo cả bề dày bức tường lô cốt. Rồi trinh sát dụng lại mô hình căn cứ giặc bằng đất cho cả đơn vị nghiên cứu. Người chỉ huy cũng phân công mục tiêu, phân công huống đánh cho các mũi trên mô hình đó. Nhưng trong trận này, trước khi đánh chiến sĩ ta chưa ai một lần nhìn thấy đảo. Vì gấp gáp trên tàu ra đảo chỉ huy đơn vị mới xây dựng quyết tâm chiến đấu và quyết tâm đó được truyền đạt đến chiến sĩ chỉ bằng tấm bản đồ ngay trên sàn tàu trước lúc chiến sĩ rời tàu vào đảo.

    Nằm trên tấm thảm cỏ êm ái, Cách lại có cảm giác tròng trành như đang ở trên tàu. Lính đi biển gọi đấy là trạng thái "say đất". Gió biển mơn man mát rượi. Cơn buồn ngủ ập đến và Cách thiếp đi. Cách choàng tỉnh dậy bởi những tiếng thét thất thanh rộ lên trong đảo "Việt cộng? Việt cộng". Tán dừa, ngọn phi lao, chòi quan sát cột ăng ten hiện lên trong quầng pháo sáng. Trong quầng pháo sáng rờ rỡ, Cách cũng nhận ra mình và cả mũi chiến đấu nằm lồ lộ trên mặt cát. Đám cỏ tưởng rậm rạp nhưng chỉ có mấy bụi lơ thơ. Thế này thì lộ mất thôi Rồi rầm rầm tiếng nổ của các cỡ súng. Đạn rạch những đường đỏ lừ, thẳng căng cắm xuống bãi san hô phía sau khá xa. Tổ trinh sát bị lộ hay hai mũi kia đụng địch? Tán dừa, ngọn phi lao um tùm thế kia chắc đảo khá rộng. Thế mà lực lượng của ta lên chiếm đảo chỉ có ba mũi, hai mươi mốt người! Trời lại sắp sáng đến nơi rồi!
Logged

Nhờ trời! Không yêu cầu cũng được ra
baogt
Thành viên
*
Bài viết: 771



« Trả lời #11 vào lúc: 05 Tháng Ba, 2009, 05:42:59 pm »

    Bọn giặc vừa hốt hoảng la vừa xối xả vãi đạn nhưng không thấy động tĩnh gì, chúng lại im phắc. Hòn đảo lại lịm đi trong giấc ngủ thấp thỏm và mệt mỏi về sáng. Thì ra bọn giặc biết số phận của chúng đã như cá nằm trên thớt nên trong đêm đã mấy lần chúng thấy Cộng sản tấn công trong tưởng tượng. Sắp sáng rồi! Bây giờ hẳn bọn chúng yên chí rằng đã qua được một đêm bình yên nữa! Im ắng quá! Nghe rõ được cả tiếng rào rạo rất khẽ và đều đều như tiếng cào cào đang gặm cỏ lá tre. Giữa lúc im lặng đến căng thẳng ấy thì tổ trinh sát trở về. Tổ trinh sát vào đến căn nhà chìm, nền nhà tụt sâu thấp hơn mặt đảo tới gần một tầm người. Trinh sát ép mình vào bờ tường thấp đến ngang ngực qua khoảng trống giữa tường và mái nhà tôn, họ đưa mắt nhìn vào trong nhà. Một ngọn đèn dầu vàng vọt đặt trên chiếc bàn sắt ở giũa nhà. Trên hai dãy giường, bọn lính nằm ngổn ngang. Đứa cởi trần. Đứa để nguyên cả bộ đồ lính trận, hai chân còn mang cả giày để thõng xuống đất. Tất cả có mười ba tên. Súng ống chúng cũng để lộn xộn. Khẩu trung liên để trên bàn sắt. Khẩu M79 treo trên tường. Khẩu 12,7 li và mấy khẩu AR15 còn gác ở giá súng Một khẩu AR15 đặt ngay cạnh tên lính còn mang giày nằm ngủ. Tổ trinh sát bấm nhau định đi tiếp thì lại có tiếng thét hết hoảng “Việt cộng!" cất lên từ chòi quan sát. Pháo sáng và các loại súng lại xối xả nhả đạn nhưng bọn lính trong nhà chỉ có hai tên nhổm dậy, nghe ngóng, chửi thề một câu rồi lại nằm xuống tranh thủ ngủ bù cho một đêm thấp thỏm sắp hết. Bọn lính đảo đã quá mệt mỏi vì mấy tên lính gác thần hồn nát thần tính. Đợi im ắng, tổ trinh sát ròi căn nhà chìm.
Sau căn nhà là bia chủ quyền, rồi đến lòng chảo. Sang bên kia lòng chảo đã thấy lờ mò những ngọn sóng trắng ở nước. Đã sang đến mép đông nam đảo là đã đi hết khu vực của mũi.

     Tình hình địch đã nắm chắc. Còn phải đi bắt liên lạc với hai mũi kia để xác định mục tiêu từng mũi khỏi bỏ sót hoặc đánh trùng lại nện phải nhau. Cách xin đi bắt liên lạc với hướng của mũi trưởng Thông phía nam đảo mũi có Quang tham gia.

    Lui ra sát mép nước, Cách đi khom lẫn vào những món san hô nhấp nhô. Vừa bước lên dải cát san hô thoai thoải Cách nhận ra những vệt lõm trên cát từ mép nước vào trong đảo. Dấu chân! Địch đi tuần? Cách cúi sát mặt xuống cát. Chi chít dấu chân. Sao địch đi tuần nhiều thế Sao lại đi tù biển vào? Không phải! Dấu chân mũi của Quang để lại và cả mũi đã vào đảo. Cách yên tâm lần theo những dấu chân trên cát. Trên nền cát phẳng trắng mù, Cách đã nhìn thấy những gờ tối thẫm nổi cộm lên trong vạt cỏ trước mặt. Đúng dáng nằm của lính đặc công rờn Cạm. Cạch? Cạch! Cách gõ báng AK tín hiệu liên lạc. Cạch! Cạm! Trong đám cỏ có tiếng đáp lại. Cách lướt vào đám cỏ gặp mũi trưởng Thông.

    Mũi của Thông vào đến gờ sóng bị lật xuồng. Khẩu cối tám hai do tổ Quang giữ bị biển nuốt mất. Bảy người cũng bị sóng nuốt chửng lại vùng vẫy thoát được nhưng trang bị mỗi người chỉ còn hai quả lựu đạn đeo bên sườn. Bảy người hút nhau còn đầy đủ rồi bơi vo vào đảo. Cách đưa thêm cho Quang hai quả lựu đạn của mình. Cách về đến mũi của anh thì ở phía bắc đảo, chỗ mũi của đại đội trưởng Quế bỗng rộ lên một loạt tiểu liên. Lại pháo sáng. Lại ầm ầm những tiếng nổ, tiếng la hét, cả tiếng đập tấm tôn. Hòn đảo như một có thể đang cơn sốt cao. Sau cơn mê sảng vật vã, nó lại nằm chết lịm. Lượng đi liên lạc với mũi phía bắc trỏ về cho biết con co giật vừa rồi là do hai tên lính đi tuần soi đèn pin đúng vào mặt mũi trưởng Quế. Tên lính cứng người lại, miệng ú ớ, chiếc đèn pin rơi bịch xuống đất. Mũi trưởng Quế bật dậy định dùng võ đặc công hạ êm tên giặc nhưng tên đi sau đã kẻo một loạt tiểu liên và hai tên giặc bỏ chạy vào căn nhà chìm.

    Trong nỗi nom nớp bọn lính trên đảo nhiều lần tưởng tượng đã nhìn thấy những người quyết định số phận chúng xuất hiện. Đến lúc họ xuất hiện thật, hai tên lính đã tận mắt nhìn thấy họ, nhờ may mắn chạy thoát chui được vào hầm nói lại điều vừa chứng kiến thì bọn lính lại không dám tin. Thì đó, chúng đã phản ứng, đã vãi đạn kín quanh đảo, có thấy gì đâu! Những điều hai tên lính đi tuần vừa thấy chỉ là do thần kinh chúng quá căng thẳng mà tưởng tượng ra. Bị ám ảnh bởi cái gì sẽ tưởng tượng ra cái đó. Suốt một tuần nay, đêm nào chả có vài đứa tưởng trong ra bóng dáng Việt cộng hiện ra trên đảo? Xiết cò đến mỏi tay vẫn không có gì khác thường thì cũng phải nghỉ. Hòn đảo lại trở về yên tĩnh.
Logged

Nhờ trời! Không yêu cầu cũng được ra
baogt
Thành viên
*
Bài viết: 771



« Trả lời #12 vào lúc: 05 Tháng Ba, 2009, 05:49:22 pm »

    Cách và hai chiến sĩ nữa bò đến ém sát căn nhà chìm. Bốn người còn lại giấu mình trong đám cỏ khô như rơm đợi tiếng súng ĐKZ ở hướng bắc nổ mở màn trận đánh.

    Ngày ở trên biển đến rất sớm. Trời đã ràng rạng. Bọn lính như yên tâm rằng đã qua một đêm hãi hùng nên rũ hết thấp thỏm, thả mình vào giấc ngủ sâu muộn màng. Đúng lúc ấy, một chớp lửa nháng lên. Ầm! Tiếng nổ quá lớn. Cách giật mình tưởng tiếng đại bác. Bọn giặc trên đảo có cả đại bác cỡ lớn? Tiếng thét "Xung phong" rộ lên Cách mới biết rằng tiếng nổ vừa rồi là tiếng ĐKZ ở hướng đại đội trưởng Quế. Cách giật kíp quả pháo trong tay rồi thả vào trong nhà. Ba anh lính đặc công đồng loạt đánh hết pháo tay mang theo. Trong nhà liên tiếp lóe lên những chớp lửa. Những tiếng nổ trộn lẫn vào nhau. không phân biệt được tiếng nổ nào do mũi mình đánh, tiếng nổ nào của hướng khác. Cát bụi bay rào rào. Căn nhà hầm biến mất trong khói đen đặc. Từ trong đám mịt mù đó, một bóng người lao ra lập tức bị mũi trưởng Hồng quật ngã. Lạ thật ba cân thuốc nổ dành cho một cái nhà chìm con con mà tên lính vẫn còn lành lặn! Tên lính ngụy được mũi trưởng Hồng khai thác ngay. Anh bắt nó chỉ lô cất, hầm ngầm, hầm chỉ huy. Thấy bộ đội ta chỉ có mấy người, vẻ mặt ai cũng bình thản không có gì căng thẳng quyết liệt nên nó bình tĩnh thưa:

    - Thưa thày Hai, trên đảo không có lô cốt, hầm ngầm. Chỉ có hai nhà hầm. Nhà chỉ huy ở gần giữa đảo nhưng lui về phía nam.

    Hồng lại hỏi quân số trên đảo và người chỉ huy. Tên lính khai đảo có 53 lính do một thiếu úy và một chuẩn úy chỉ huy.

Nhà chỉ huy chính là căn nhà chìm ở gần giữa đảo, mục tiêu của mũi Quang. Bọn địch ở đó vẫn đang bắn ra quyết liệt. Sau khi đã xục xạo kĩ khu vực ta đã làm chủ, Hồng phân công người canh gác và sẵn sàng chiến đấu. Anh bắt tên lính ngụy lại gần căn nhà chỉ huy, gọi những tên trong nhà ra đầu hàng sẽ được bảo đảm mạng sống. Đứng trước họng súng lăm lăm của Hồng, tên lính ngụy cất giọng run run:

     - Tôi là trung sĩ Thành xin có lời trình thiếu úy đảo trưởng. Quí thầy ...a ... a ..., quí anh giải phóng đã làm chủ đảo. Thiếu úy đảo trưởng ra hàng sẽ được an toàn. Nếu chống cự, quí anh giải phóng thả lựu đạn vô nhà, không thoát khỏi chết uổng mạng. Thưa thiếu úy đảo trưởng…

    Đáp lại lời gọi hàng, tiếng súng từ trong nhà bắn ra càng rát rạt hơn. Đạn mười hai li bảy cày tung cát. Phóng  lựu M79 rũ mảnh rào rào. Đạn ARI5 quất tới tấp như mưa. Trong lúc địch chống trả điên cuồng và ta đang chuẩn bị đánh đòn quyết định thì từ cửa ngách ở góc nhà mé bên kia, nơi ta không có người khống chế, một tốp lính vọt ra, chạy ra bãi dừa. Đến lúc này ta mới nhận ra cạnh mấy gốc dừa mé nam đảo có mấy phi xăng và một chiếc ca nô nhỏ nằm giũa đám cỏ lá tre. Chiến sĩ đặc công Nguyễn Văn Quyền liền rượt theo. Hai tên lính Sài Gòn đã chạy đến nấp sau ca nô, xả súng bắn lại. Quyền lăn đến một gờ cát san hô. Gờ cát liền bị một loạt đạn quất tới. Quyền nảy lên, tay buông khẩu súng ra, ôm lấy bụng. Quang liên tung liên tiếp hai quả lựu đạn lại chiếc ca nô. Khẩu AR15 ở đó câm bặt. Lại một tốp lính Sài Gòn chạy ra ca nô. Quang rượt theo, bằng tay không liên tiếp quật ngã hai tên đi sau. Bỏ lại tên lính vừa bị hạ, Quang đứng lên. Một loạt AR15 từ chiếc ca nô quất tới. Quang đứng sững lại rồi đổ sụp xuống. Lúc ấy là năm giờ sáng ngày mười bốn tháng tư năm một ngàn chín trăm bảy mươi nhăm.
***
Logged

Nhờ trời! Không yêu cầu cũng được ra
baogt
Thành viên
*
Bài viết: 771



« Trả lời #13 vào lúc: 05 Tháng Ba, 2009, 05:53:30 pm »

    Nguyễn Hữu Cách ngừng lời đã lâu. Cả Cách và tôi cứ ngồi lặng nhìn ra biển. Mấy cánh chim từ biển bay về lượn vòng rồi xà xuống đảo. Một đôi chim từ trên đảo vọt bay lên. Tôi nhìn tấm bia liệt sĩ Tống Văn Quang, hỏi Cách:

    - Trên đảo chỉ có một tấm bia liệt sĩ Tống Văn Quang. Như vậy giải phóng đảo ta chỉ hi sinh một người thôi phải không?

    Cách cúi xuống nhìn đăm đăm những mầm cỏ mới nhú trên mặt cát và nói:

    - Ta mất hai người anh ạ ! Cả Quyền nữa ! Nguyễn Văn Quyền quê ở Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Quyền bị thương rất nặng ở bụng, đã được y sĩ đi theo đại đội cấp cứu bước đầu rồi đưa ngay xuống tàu chợ gấp vào đất liền. Nhưng không kịp. Mộ Quyền ở Đà Nẵng nên ở đây chỉ có mộ Quang.

    Ngoài khơi xa, những con sóng trắng ngẩn ngơ lang thang vô định trên mặt biển đang tối sẫm dần. Bóng đêm sập xuống. Gió thổi xiết, cuốn cát bay rào rào. Cách lại nói:

    - Cây dừa cụt ngọn ở giữa đảo kia là do bị trúng đạn trong trận đánh giải phóng đảo đấy anh ạ! Còn hai cây dừa bị đổ ở cuối đảo là bị gió quật ngã trong mùa mưa năm ngoái. Đào hào chiến đấu, chúng tôi gặp nhiễu gốc dừa lớn đã chết vùi sâu trong cát san hô. Có cây chỉ còn là một vệt đất mùn tơi xốp với vài mảnh thân dừa, vài sợi rễ chưa phân hủy. Có cây bộ rễ đồ sộ, bền chắc của nó vẫn còn nguyên vẹn bám sâu trong cát. Chúng tôi đã trồng thêm cho đảo hơn năm trăm mầm dừa non. Những thơ có đất mùn của xác dừa, mầm dừa non lên xanh tốt nhanh lắm.
Logged

Nhờ trời! Không yêu cầu cũng được ra
baogt
Thành viên
*
Bài viết: 771



« Trả lời #14 vào lúc: 05 Tháng Ba, 2009, 06:11:51 pm »

Tiếng gà gáy trên biển

    Hai hướng gió chính đắp đổi, gối nhau là gió đông bắc và gió tây nam đã vuốt cho những hòn đảo trong quần đảo Trường Sa có một hình dạng giống nhau là thon dài như những con tàu đang bơi trong sóng gió và đều chênh chếch theo hướng đông bắc - tây nam, hướng gió mải miết thổi. Đảo nào cũng nằm trên một thềm san hô rộng và nông. Mỗi lần ngồi xuồng lướt qua bãi san hô đối với chiến sĩ ta như một cuộc đi dạo ngắm thủy cung kì thú. Dưới làn nước trong vắt, loang loáng như tấm kính là thảm san hô rực rỡ đủ màu. Những đàn cá hình thù đa dạng, màu sắc lộng lẫy tung tăng bơi lượn.

    Những buổi tối nước xuống, chiến sĩ trên đảo thường đốt đuốc, lội ra bãi san hô, nước chỉ còn đến ngang gối, soi cá. Một người tay cầm đuốc là một đoạn cây ở đầu buộc nắm rẻ tẩm dầu, tay xách một lon dầu lửa. Ngọn đuốc cháy đùng đùng rà trên mặt nước. Một người tay cầm dao, tay xách một túi đụng cá, đi lò dò sau ngọn đuốc, mắt nhìn cắm xuống mặt nước. Dao là một cây sắt đánh mỏng, nhỏ và dài như một cây kiếm. Ban đêm, cá chỉ khẽ động đậy vây giữ thăng bằng để đứng yên một chỗ, lim dim ngủ. Cá nhỏ cỡ ba ngón tay trở xuống nhiều vô kể. Loại đó chỉ toàn vảy với xương, bỏ qua. Lưỡi dao lăm lăm trong tay chỉ phập xuống khi gặp loại cá mú to hơn bàn tay, lưng xám đen, thịt chắc hoặc loài cá khoai da non như lươn, to cỡ cổ tay và dài trên dưới nửa mét. Con cá còn đang giãy liễn bị tóm cho vào túi vải. Hai người chỉ lội ra bãi san hô một lúc chập tối là hôm sau đảo thừa cá ăn.

    Những ngày nước xuống thấp, thềm san hô phơi ra. Chiến sĩ đi dép Trường Sa ra bãi san hô lỏm chỏm, lật đá, bắt cá trong những hang hốc lắp xắp nước. Những chiếc dép nhựa xốp, hai quai, xanh, đỏ, trăng, đen đủ màu, trôi dạt vào đảo được lính đảo gọi tên là dép Trường Sa. Dầm nước biển, dép cao su và giày vải quân đội cấp phát đều chẳng chịu đựng được mấy nả. Nay biển trang bị cho lính dép Trường Sa. Tất nhiên những chiếc dép dạt vào đảo đều đã trôi nổi trên biển hàng trăm cây số nên chẳng bao giờ có đủ đôi đồng bộ! Thế là dép của lính đảo cứ cọc cạch chiếc xanh chiếc đỏ, chiếc lớn, chiếc bé! Dép Trường Sa nhẹ, dai, bền. có độ bám tốt cứ đạp vô tư trên những mỏm đá san hô có cạnh sắc lẻm. Mang dép Trường Sa đi lại trên cát đảo cũng tiện. Chỉ những hôm xếp hàng đội ngũ, tập bắn bia hoặc họp hành quan trọng như đại hội thi đoàn và chào cờ sáng thứ hai phải đi giày nghiêm chỉnh. Còn đi soi cá, đi tắm giặt, đi dạo hoặc các sinh hoạt thông thường khác lính Trường Sa cứ dép Trường Sa mà diện. Từ tháng một đến tháng ba có sương mù là mùa bắt cá mực.
Mùa này mực vào thềm san hô khá nhiễu, bám quanh những tảng san hô hoặc nằm nghỉ ngơi tĩnh lặng trong những vũng nước yên ả.
Chiến sĩ đeo kính lặn, ngồi xuồng, mặt cúi xuống sát nước, tay cầm xiên là một cây sắt sáu, một đầu vuốt nhọn, xẻ ngạnh. Thân mục đổi màu theo màu san hô rất khó phát hiện. Thấy mực liền phóng xiên vào giữa thân, lôi lên.

    Những ngày trở trời, từng đàn cá heo hàng vài chục con bơi quanh đảo. Lung chúng đen trũi, lững lững như như hạm đội tàu ngầm đang nổi lên. Có lúc hứng chí chúng liên tiếp phóng vọt lên khỏi mặt nước như một đám trẻ chơi nhảy lò cò.

« Sửa lần cuối: 05 Tháng Ba, 2009, 06:16:59 pm gửi bởi baogt » Logged

Nhờ trời! Không yêu cầu cũng được ra
baogt
Thành viên
*
Bài viết: 771



« Trả lời #15 vào lúc: 05 Tháng Ba, 2009, 06:25:07 pm »

    Buổi sớm, chiến sĩ đảo Phan Vinh ra mép đảo tập bắn bia. Bệ bắn sát mép đảo. Bia cắm trên bãi san hô nước triều đang xuống. Mặt biển đang phẳng lặng bỗng thấy chỗ mỏm san hô nhô cao phía ngoài bia số bảy nổi sóng khác thường, bọt nước bắn tung tóe như có người đang vùng vẫy. Lại thấy một mảng đen thoáng nhô lên khỏi mặt nước. Xao động một lúc mặt nước lại phẳng lặng nhưng có gọn sóng cuộn lên chuyển động hướng vào đảo đến mỏm san hô khác và mặt nước nơi đó lại nổi sóng tung tóe. Cá mập! Đó! Đó! Có nhìn thấy cái đuôi nó vừa nhô lên không? Đó, cái đuôi đen đó! Một chiến sĩ kêu lên. Đúng rồi, cá mập! Đến lúc này mọi người đều nhận ra một con cá mập khá lớn từ ngoài biển vào bãi san hô rúc đầu vào hốc đá bắt cá con. Ngoài hốc đá đuôi mập quật nước tung tóe. Khi con cá mập rúc đầu vào hốc san hô gần bia số bảy, anh chiến sĩ phát hiện ra cá mập liền lội ào ra, tóm đuôi cá, lôi lên khỏi mặt nước. Con cá mập đen và to như con lợn nuôi trên đảo cố vùng vẫy và quay lại xỉa rách áo anh chiến sĩ nhưng anh vẫn nắm chặt đuôi nó, vừa quay tròn vừa đi vào đảo

    Vùng biển ấm và sẵn cá này cũng là nơi quần tụ những đàn cá mập đến săn mồi. Gặp được hốc san hô kín đáo, lũ cá bé nhỏ tưởng đã tìm được nơi yên ổn nghỉ ngơi! Nhưng luật biển cũng như luật rừng, làm gì có nơi yên ổn cho kẻ yếu! Vùng biển Truồng Sa cũng là ngư trường khá hấp dẫn đối với tàu đánh cá các nước quanh vùng. Tàu hải quân ta trực chiến ở đây đã phải thường xuyên xua đuổi hoặc bắt giữ tàu nước ngoài đến đánh cá hoặc mượn cớ đánh cá để cố tình đến xục xạo trong quần đảo.

    Từ tháng năm đến tháng mười là mùa gió tây nam thổi mạnh và cũng là mùa mưa ở đảo. Dịp này, những đêm trăng sáng, vích thường bò lên đảo, bới cát, đẻ trứng. Giống như rùa nhưng vích nặng tới trên một tạ. Thịt vích tuy có mùi tanh nhung mềm như thịt gà và đậm ngọt như thịt trâu. Hằng năm mỗi đảo nhỏ đều được vài chục con vích. Vích chưa lớn hết cỡ, khoảng năm mươi cân trở lại, bộ đội ta có gặp cũng không nỡ bắt.

    Tháng năm năm 1978, bộ đội đảo Song Tử Tây bắt được chú vích trên mai có hàng chữ Nam Yết 5.1977. Thì ra con vích này năm ngoái chiến sĩ ở đảo Nam Yết đã bắt được lại thả ra. Mà đảo Nam Yết cách đảo Song Tử Tây tới 75 hải lí, tức là gần 150 kilomet. Gặp những con vích đã thật lớn bò lên đảo, chiến sĩ ta chỉ bắt khi đợi nó đẻ hết trứng. Vích lấy chân bới cát thành hố đẻ trứng vào rồi lại bãi cát lấp lại. Trứng vích trắng bong tròn như quả bóng bàn nhưng lớn hơn một chút, ăn ngon như trứng gà. Những ổ trúng vích được chiến sĩ ta coi sóc cẩn thận như coi sóc ổ trứng gà ấp, trong đàn gà tăng gia ở đảo. Ô trứng vích vùi trong cát, được mặt trời sưởi nóng, chỉ một tháng sau là có một đàn hai, ba trăm vích con ra đời. Vích con vừa thoát ra khỏi vỏ, bốn chân run rảy liền vội vã đạp cát lao xuống biển. Trong ầm ào sóng biển, bao nhiêu đe dọa đang trục thờ những con vích non yếu ớt mà sao chúng phải hối hả lao xuống! Giữa đảo Trường Sa Đông có một hồ nhỏ, chiến sĩ ở đó đã có dự kiến sẽ cải tạo thành hồ nuôi vích để có nơi yên lành bảo toàn đàn vích con non nót.

   Chim biển cũng đẻ trứng vào giũa mùa mưa. Mọi mỏm san hô nổi lên mặt nước, ban đêm đều có chim trú ngụ nhưng khi đẻ trứng chúng phải tìm những đảo cao ráo khi nước triều lên cũng không ngập. Hồi đảo mới có quân lên ở, ban đêm đi tuần tra, chiến sĩ phải lựa bước chân để khỏi đạp phải trứng chim lăn lóc khắp đảo. Đảo nào cũng nhiều chim. Chim ở Trường Sa có nhiều loại đông đúc nhất là hai loại được gọi tên theo màu lông của chúng: chim đen và chim trắng. Chim đen nhỏ nhắn, chỉ khoảng nửa cân, khi đậu trông giống như chim bồ câu. Toàn thân đen. Chỏm cánh và đuôi đen thẫm hơn. Đỉnh đầu có chỏm lông trắng. Mỏ nhỏ và dài. Mắt nhỏ đen, có vành lông trắng chung quanh. Chim trắng khá lớn nặng tới hơn hai cân, cánh sải ra dài cả mét. Lưng và phía trên cánh có màu nâu nhạt, còn lại đều màu trắng. Mỏ to màu vàng nhạt. Giữa các ngón chân có màng da căng ra như chân vịt. Chim nào theo đàn chim ấy và khi đậu thúng đậu riêng thành vệt đen, vệt trắng trên đảo.
« Sửa lần cuối: 05 Tháng Ba, 2009, 06:27:52 pm gửi bởi baogt » Logged

Nhờ trời! Không yêu cầu cũng được ra
baogt
Thành viên
*
Bài viết: 771



« Trả lời #16 vào lúc: 06 Tháng Ba, 2009, 01:56:53 pm »

    Chim đen bay ra biển kiếm ăn sớm hơn và cũng về sớm hơn. Tử mờ sáng bãi chim đen đậu đã vắng ngắt không còn một con. Mặt trời lên, chim trắng cũng bay đi hết. Từ bãi đậu, cả đàn bay tung lên hướng về phía bắc rồi mới vòng xuống phía nam, kẻo thành vệt dài như một đám mây rợp cả một khoảng trời. Trên đường bay, chúng tách dần ra từng cặp, từng tốp, bay là trên ngọn sóng kiếm mồi, có lúc chúng táp xuống nước, bơi một lúc mới lại vụt bay lên. Chim chỉ hoàn toàn vắng bóng trên đảo một lúc buổi sáng. Khoảng chín giờ đã có từng đàn chim bay trữ về, bay lượn trên đảo. Đàn này bay về đàn khác bay đi. Khoảng bốn giờ chiều, chim đen đã về đỗ kín bãi. Tắt nắng, chim trắng bay về, lượn vòng dập dìu trên cao. nhá nhem tối mới táp xuống đảo.

    Ở những đảo mới có bộ đội ta lên ở, anh chiến sĩ đứng gác, chim xà xuống, đậu trên vai, anh cứ đứng im chỉ khẽ cọ má mình vào lông chim một cách trình thú. Nếu không có những cánh chim xập xè, ríu ran, những chiều tắt nắng ở đây sẽ không khỏi hiu hắt, ảm đạm! Coi đàn chim biển vừa là tài sản vật chất, vừa là tài sản tinh thần của đảo, các đảo dù rất nhỏ bé đều dành một phần đảo cho chim sinh sống.

    Lẫn trong vụn đá san hô trắng lóa là thứ đất vàng xám, mịn màng được tạo thành từ phân chim. Cây cỏ hiếm hoi tự nhiên có được ở một số đảo cũng nhờ thứ đất phân chim này. Cỏ lá tre. Cây bão táp. Sâm đất. Dừa. Mù u. Bàng quả vuông. Rau sam. Rau muống biển. Thế thôi không còn một loại cây gì khác. Ngoài năm mươi tư cây dừa cao vút, xanh tươi đang thả bóng mát xuống đảo chiến sĩ đảo Song Tử Tây khi đào hào còn gặp nhiều gốc dừa lớn đã chết mục trong cát san hô. Cơn người mới có mặt ở Trường Sa từ hơn thế kỉ nay nhưng dừa đã bám rễ ở đây từ bao trăm năm trước. Từ những bãi dừa ven biển Bến Tre, Khánh Hòa, Bình Định... có những quả dừa già rụng xuống biển, lênh đênh trên ngọn sóng rồi dạt vào những đảo cát san hô. Nhờ có thứ đất phân chim mà những mầm dừa bén rễ bám được vào đảo, gan góc vươn lên trong nắng gió, đem đến cho đảo màu xanh sự sống. Và Trường Sa là nơi duy nhất trên đất nước ta có ba loài cây lạ: cây sâm đất, cây bàng quả vuông và cây phong ba. Sâm đất thân cỏ bò lan trên đất như cây rau má, lá hình tim nhỏ bằng cúc áo, dày, mọc đối, mặt trên xanh, mặt dưới trắng mốc. Hoa mọc từ nách lá thành chùm lấm tấm trắng như hạt tấm. Củ nhiều và to như củ khoai lang, có củ dài như củ sắn, nặng tới cả cân. Nước uống hằng ngày của chiến sĩ ta ở đảo Song Tử Tây là nước sâm đất. Củ sâm đất thái mỏng, phơi khô. Mỗi bữa nấu cơm, anh nuôi của đảo đều nấu một thùng nước sâm. Cho nửa cân sâm đất khô vào thùng rồi đun một nồi quân dụng nước sôi đổ vào. Uống nước sâm. trong người thấy khoan khoái, ăn khỏe, ngủ ngon lạ thường.

    Bàng quả vuông, lính trên đảo còn gọi là cây bàng biển. Thân gỗ mọc cao. Lá như lá bàng nhưng to hơn, rậm hơn, xanh mướt hơn. Cành lá sum suê từ gốc và cả cây bàng biển là một khối màu xanh rậm rì. Cuối mùa khô từ tháng ba đến tháng năm cây thay lá, khối lá xanh thưa thoáng dần. Tháng sáu vào mùa mưa, lá non bung ra và những chùm hoa rủ xuống, cây lại xanh rì. Hoa bám quanh một cọng dài thành chùm như chùm hoa bàng nhưng chùm hoa bàng biển dài hơn, hoa cũng to hơn, giống như hoa chè và to bằng bát ăn cơm. Hoa nở vào ban đêm, thả mùi thom hắc vào ngọn gió biển, năm cánh gốc cánh hoa đỏ, nhạt dần đến giữa cánh hoa trở đi màu trắng. Nhị hoa khá nhiều, cuống nhị trắng, phần trên vàng. Hoa nhiều nhưng rất ít đậu quả. Quả có vỏ cũng như vỏ dừa có bốn cạnh phẳng vì thế cây mang tên bàng quả vuông.

   Cây phong ba dáng như cây đại, cành nhánh nhiều, mọc từ gốc, gấp khúc từng đoạn ngắn cong queo. Lá dày, nhiều lông nhám và cũng có mùi hăng hắc như lá thuốc lá nhưng nhỏ hơn nhiều, bằng lá xoài loại vừa. Thiếu thuốc lá lính nghiện thuốc lấy lá  phong ba phơi khô thái nhỏ, cuốn giấy hút. Lá phong ba cũng có mùi thơm hấp dẫn như thuốc lá nhưng hút nóng và nhẹ tênh. Hoa nhỏ, trắng, cụm thành chùm, nở quanh năm và nở nhiều nhất vào tháng sáu mùa mưa. Tán lá phong ba tạo thành vòm như chiếc dù che nắng cắm trên đảo.

   Nhưng không phải đảo nào cũng có màu xanh của cây cỏ. Trong số các đảo có bộ đội ta ở chỉ có bốn đảo có cây xanh tự nhiên. Dừa, phi lao, cỏ lá tre, sâm đất ở đảo Song Tử Tây. Bàng quả vuông, mù u Ở đảo Son Ca. Cây bão táp ở đảo Nam Yết. Dừa, sâm đất, rau sam, rau muống biển xanh tết ở đảo Trường Sa. Trường Sa còn là đảo duy nhất có giếng nước ngọt. Thật kì lạ là đảo dài rộng mỗi chiều chỉ vài trăm mét, cao hơn mặt nước biển chỉ hơn một mét, dúm cát san hô trộn với phân chim nổi lên giữa mênh mông nước mặn, cách đất liền gần năm trăm cây số biển sâu hàng ngàn mét thế mà giếng đào ở chỗ nào trên hòn đảo ấy cũng ăm ắp nước ngọt mát như nước mưa. Nước giếng cũng đầy vơi theo nước triều lên xuống như là giữa giếng và biển không có gì ngăn cách mà nước giếng lúc nào cũng ngọt lịm.
Logged

Nhờ trời! Không yêu cầu cũng được ra
baogt
Thành viên
*
Bài viết: 771



« Trả lời #17 vào lúc: 06 Tháng Ba, 2009, 08:53:47 pm »

    Điều kiện phát triển của cây xanh cũng mỗi đảo một khác. Mùa mưa đến, ở đảo Song Tử Tây có thể trồng được mọi loài rau xanh. Gieo hạt bí xanh, bí đỏ, cải thìa, cải bẹ, cải củ, rau muống, rau dền xuống đất phân chim, không cần bón phân, cây vẫn lên tết bời bời. Bí cho quả nhiều và to có quả bí xanh tới hai mươi bốn cân. Khẩu đội pháo tám người thu hoạch tới bốn tấn bí. Mùa mưa, lợn nuôi cũng mau lớn hơn. Không có thức ăn tăng trọng, ngoài nước gạo và cơm thừa, lợn chỉ ăn cỏ lá tre và sâm đất tháng cũng tăng mười hai. mười ba cân. Cách đảo Song Tử Tây chỉ gần một trăm hải lí, mà mùa mưa ở đảo Son Ca chỉ trồng được một loại rau xanh là bí đỏ. Bí đỏ lên được cũng chỉ để lấy lá, rất ít quả. Hết mùa mưa, quả bí bằng nắm tay, chưa già, cây bí đã chết. Lợn nuôi ở đây cũng chậm lớn. Lợn nái đẻ, rất ít sữa. Con mới được hai tháng. lọn mẹ đã hết sữa, lăn ra chết. Lính lại phải lấy sữa hộp nuôi đàn lợn con. Đàn gà con mới nở, lần lượt bị liệt chân rồi chết. Đàn gà sau. lính phải lấy tiêu chuẩn thuốc vitamin B1 của mình cho gà ăn, đàn gà mới sống sót.

    Ngoài bốn đảo trên, ngày nay, bộ đội ta đã mang màu xanh diệp lục đến với nhiều đảo khác. Những chuyến tàu hải quân từ căn cứ Cam Ranh chở hàng tiếp tế cho các đảo vào đầu mùa mưa, ngoài lương thực, thực phẩm, thư từ, sách báo còn có những bao đất màu của đất liền và những trái dừa đã bật mầm, những bàu phi lao non, những túi hạt giống bạch đàn, hạt giống rau. Đất màu từ đất liền cho ra bổ sung thêm cho những đảo đã có cây xanh và tạo lên một lớp đất của sự sống cho những đảo mới nổi chỉ rào rạo cát san hô.

    Tháng năm năm 1978, bộ đội ta tiếp tục triển khai lên đảo Phan Vinh. Màu xanh của cải, của bí, của rau muống. của dừa, của phi lao cũng theo bộ đội lên đảo từ đó. Sáu tháng mùa khô, nguồn nước ăn của đảo phải trông vào các bồn chứa nước dự trữ trên đảo. Những năm mùa mưa đến trễ, giáp tết, tàu hậu cần hải quân phải chở nước ngọt từ đất liền ra đảo. Gian nan lắm mới đưa được giọt nước ngọt từ tàu vào đảo. Téc chứa nước bằng hợp kim cứng, nhẹ và không rỉ của quân Mỷ để lại trong đất liền được đưa ra đảo đặt trên chiếc bo bo cặp sát tàu. Nước ngọt được bom từ tàu vào téc. Hai chiến sĩ trên chiếc bo bo bám sợi dây cáp giăng từ tàu vào đảo đưa bo bo vào mép đảo. Những tấm tăng che mái võng được lính mang ra, túm lại, chứa nước ngọt vác từ téc vào bể.

    Mỗi buổi sáng, mỗi người chỉ được một ca nước ngọt vừa đánh răng vừa rửa mặt nhưng chiến sĩ vẫn chắt chiu dồn góp được những giọt nước ngọt hiếm hoi tưới cho cây. Gió ném cát san hô rào rào quật nát lá, thổi trơ rễ rau và nhổ bật cây rau lên ném đi. Lại phải huy động mọi vật liệu có thể huy động quây bốn phía mảnh vườn nhỏ bé giữa đảo. chắn gió bảo vệ mầu xanh mong manh của đảo. Suốt sáu tháng nắng như táp lửa, gió thổi làm biến dạng cả hòn đảo và không một hạt mưa rơi xuống đảo nhưng những luống cải, luống bí trong mảnh vườn được quây kín vẫn lên xanh.

    Hòn đảo nhỏ nhoi trần trụi đã xanh sắc lá nhưng suất đêm ngày chỉ có tiếng sóng biển ầm ào thì hòn đảo vẫn cô đơn, hoang vắng. trống trải quá. Ở đảo, ban mai đến sớm và bóng tối đến muộn nhưng đêm thâu cũng dài dằng dặc. Tối sập xuống chỉ còn biết chui vào nhà, có họp hành, sinh hoạt đơn vị cũng chóng vánh rồi lên giường chờ giấc ngủ. Những đêm thăm thẳm, những sáng tinh mơ, trưởng đảo Phan Vinh thèm được nghe một tiếng gà gáy đến bồn chồn. Một buổi tối anh bảo cơ yếu viết một bức điện rằng người lính biển chơ vơ trên hòn đảo nhỏ bé như con kiến trên chiếc lá lênh đênh sóng nước. Đời sống tinh thần của họ rất nghèo nàn, thiếu thốn. Tiếng sóng bủa vây đêm ngày làm cho người lính đảo luôn cảm thấy cô đơn. Vì thế ngoài đảo rất cần có những âm thanh của cuộc sống làng quê thân yêu, xóa đi sự độc chiếm của tiếng sóng đơn điệu, buồn tẻ. Xin lữ đoàn dùng kinh phí chính trị hoặc kinh phí câu lạc bộ mua và gửi ra cho đảo Phan Vinh đàn gà con và một con gà trống choai. Với người lính trên đảo, tiếng gà gáy là âm thanh, là hơi thở quê hương đất nước luôn ở bên họ. Vì thế tiếng gà gáy cũng có ý nghĩa chính trị rất lớn. Ngay trong đêm bức điện được chiến sĩ báo vụ vô tuyến điện chuyển về lữ đoàn.

    Rồi chuyến tàu từ Cam Ranh cặp đảo giáp tết năm đó ngoài bánh kẹo, gạo nếp, đậu xanh, lá dong rừng, lạt giang, cây mai rục rỡ hoa vàng, nhang thơm, bia, nước ngọt trái cây giò lụa rất nhiều thư, sách báo và thư chúc tết của chủ tịch nước, của tư lệnh quân chủng, của chính ủy lữ đoàn, đảo Phan Vinh còn nhận được hai lồng gà một lồng chín con gà con đang mọc lông măng và một lồng nhốt hai chú gà trống tơ đã trổ mã trông dáng điệu rất hùng dũng. Thư chính ủy lữ đoàn giải thích rằng hai con gà trống gửi cho đảo, một con theo yêu cầu của đảo trưởng và một con để đảo liên hoan đêm giao thừa. Đúng rồi. mâm lễ cúng trời đất lúc giao thừa phải có con gà trống tơ vì tiếng gà trống gáy mọi ban mai, mọi đêm thâu là âm thanh của sự sống, là phát ngôn về sự có mặt của sinh vật trong trời đất. Nhưng tối giao thừa đảo trưởng không cho làm thịt con gà nào cả. Cả hai con gà trống đều được giữ lại nuôi. Cúng trời đất đêm giao thừa đầu tiên mới đặt chân lên đảo thôi xin khất thiếu con gà trống là thiếu sự sống của động vật và cũng vì mới lên đảo , bận rộn quá, mâm lễ thiếu cả li rượu gạo là thiếu mất cái tinh túy nhất của sự sống thực vật chỉ có xôi, chè, giò và bia! Đàn gà con lớn lên, khỏe mạnh, sinh sôi và công việc củng cố đảo bớt gấp gáp thì giao thùa năm sau sẽ có đủ gà trống tơ và li rượu gạo có đủ sự sống động vật và sự sống thực vật cúng trời đất

    Thức đón giao thừa năm đó, chiến sĩ đảo Phan Vinh đã được nghe tiếng gà gáy sang canh. Tiếng gà như từ trong xa thẳm dội đến dồn dập, lăn theo ngọn sóng đi xa mãi. Sáng tinh mơ mồng một Tết, cả đảo bừng thức dậy trong tiếng gà gáy náo núc. Tiếng gà oai nghiêm hùng tráng như gọi mặt trời thúc dậy, gọi ánh sáng bừng lên. Tiếng gà đầm ấm lay động như kéo hòn đảo bơ vơ xích gần lại với đất liễn tổ quốc.

Logged

Nhờ trời! Không yêu cầu cũng được ra
baogt
Thành viên
*
Bài viết: 771



« Trả lời #18 vào lúc: 06 Tháng Ba, 2009, 09:05:57 pm »

Buổi trưa ở đảo An Bang

An Bang là một đảo nhỏ ở cực nam quần đảo Trường Sa. Trên đảo, sau ngôi nhà lớn ở trung tâm là một hàng dương ngọn đã cao vượt lên trên mái nhà. Sau hàng dương là một giếng nước, tuy nước còn hơi mặn nhưng rất trong mát. Những buổi trưa nắng, bóng dương thả rợp quanh giếng. Lúc đó ở giếng thường không ngớt tiếng ào ào xối nước tắm giặt. Nhưng trưa nay giếng nước vắng lặng. Đấy là một điều bất thường. Điều bất thường ấy bắt đầu từ lúc đảo biết tin có tàu từ đất liền ra. Đối với những người lính Trường Sa, mỗi lần có tàu từ đất liền ra là một sự kiện quan trọng, một ngày vui lớn như ngày tết đối với trẻ con. Thường ngày lính đảo phải ăn cá biển, thịt hộp, rau sấy khô, ăn mãi cá biển cũng chán, ăn thịt hộp đến ngày thứ tư thì không nuốt nổi nữa! Tàu ra mang đến cho đảo rau xanh, thịt tươi. Quí hơn nữa, tàu còn mang đến cả lương thục, thực phẩm của đời sống tâm hồn chiến sĩ. những thứ mà người lính ở đây còn thèm khát, mong đợi hơn cả rau xanh. thịt tươi. Đó là sách báo và thư.

    Mờ sáng tàu đã cập đảo. Cả buổi sáng toàn đảo hối hả chuyển hàng tù tàu vào. Đến trưa, lùa vội bát cơm rồi mỗi người tàn một chỗ yên tĩnh lấy thư ra đọc. Có người đã tranh thủ đọc ngay thư từ sáng khi vừa nhận được bây giờ cũng lấy thư ra đọc lại. Ở căn nhà mái tôn của ban chỉ huy đảo, cái nóng hầm hập từ mái tôn dội xuống. nắng lóa từ cát san hô trắng xóa hắt vào. Trong căn nhà rộng nhất đảo và cũng nóng nhất đảo ấy lúc này lại có khá đông người vào uống nước. mời nhau hút thuốc và kháo nhau chuyện gia đình vừa được biết qua những lá thư nhà vừa đọc xong.

    Trung úy đảo tưởng Nguyễn Văn Ngát ôm chiếc võng vải ra hàng dương, mắc võng vào một khoảng râm giữa hai cây dương xanh tết nhất. Nằm thoải mái trên võng rồi Ngát mới móc ở túi áo ngục ra hai lá thư. Thư của vợ là lá thư anh vẫn mong đợi còn thư của Đào Minh Thu đảo truồng cũ của An Bang thì hoàn toàn bất ngờ đối với Ngát. Cả hai thư Ngát đều đã đọc qua. Bây giờ anh đọc lại thư vợ trước. Thư vợ mang đến cho Ngát toàn những tin vui. Bố mẹ già vẫn khỏe. Đứa con gái ba tuổi đang bi bô học nói, hễ có ai hỏi bố đâu nó đều nói: Bố Trường Sa! Hỏi bố tên gì, nó cũng nói: Bố tên Trường Sa! Cuộc sống tuy còn vất vả nhưng không đến nỗi thiếu ăn! Có đúng thế không Ngát băn khoăn tự hỏi. Những người mẹ, người vợ bộ đội thường hay giấu những khó khăn thiếu thốn của gia đình để đời sống tinh thần của người lính khỏi nặng nề vì trách nhiệm và công việc hằng ngày của họ đã quá nặng nề rồi. Làm sao có thể đủ ăn được khi một lao động nông nghiệp phải nuôi tới bốn miệng ăn! Thời chiến tranh điều ấy còn có thể, vì lúc ấy còn có chế độ ưu tiên đối với những gia đình có người đi chiến đấu ở xa, gia đình thiếu ăn, hợp tác xã sẽ cân đối sản lượng, bán thêm thóc cho đủ ăn. Bây giờ là khoán. Nhà có nhiều lao động mới được nhận nhiều ruộng. Một mình cô ấy chỉ có thể làm được bốn sào ruộng của hợp tác xã cộng với hơn sào ruộng năm phần trăm của nhà là đã kiệt súc rồi. Vụ nào thuận, không bị sâu phá, không bị lụt. hạn, rét, nắng thất thường, thì thu hoạch bốn sào ruộng khoán sau khi trừ thuế và các khoản chi phí rồi cũng còn được hai tạ thóc, cộng với hơn tạ thóc của ruộng phần trăm là hơn ba tạ thóc. Hơn ba tạ thóc, bốn người ăn trong sáu tháng làm sao đủ được! Nhẩm tính như thế, Ngát cũng biết rằng những điều vợ viết trong thư chỉ để cho anh yên tâm mà thôi!
Logged

Nhờ trời! Không yêu cầu cũng được ra
baogt
Thành viên
*
Bài viết: 771



« Trả lời #19 vào lúc: 06 Tháng Ba, 2009, 09:15:05 pm »

    Ngát bần thần gấp thư vợ lại rồi mở thư Đào Minh Thu ra. Thượng úy Đào Minh Thu đã làm đảo trưởng ở đây hơn hai năm cho đến lúc Ngát ra thay cách đây hơn một năm. Sau khi công việc bàn giao giữa Thu và Ngát xong, buổi chiều Thu dẫn Ngát ra mép đảo, chỉ vào một khối đá mà Ngát phải nhìn kĩ mới biết đó là một khối bê tông. Những mặt phẳng với những góc cạnh bằng phẳng, ngay ngắn của khối bê tông chìm gần hết trong nước, chỉ còn phần đế gồ ghề, xù xì lộ trên mặt nước như mọi mỏm san hô. Thu nói:

    - Khi bọn tôi mãi lên đảo, cả đảo là một bãi rác lớn. Cành cây, tấm ván, quả dừa khô, tấm xốp, đồ nhụa, dép mũ, cả quần áo, không biết từ đâu trôi đến, bị sóng dồn vào đảo. Rồi phân chim, xác chim chết, cá do chim bắt về cho con ăn không hết. Ở giữa đảo, tôi thấy mấy vỏ bao xi măng còn mới nguyên, một vỏ bao vẫn còn một phần xi măng đã chết cứng. Ít ngày sau, trong chuyến tàu đầu tiên chở hàng ra đảo chúng tôi nhận được hơn năm chục cây phi lao non. Đào lỗ trồng hàng phi lao ngay sau ngôi nhà định giữa đảo. thúng tôi phát hiện ra khối bê tông này đổ chìm dưới cát. Mặt trên của khối bê tông gắn tấm kim loại không rỉ hình vuông mỗi cạnh hai mươi mốt xăng ti mét. Trên tấm kim loại có hai hàng chữ khắc chìm. Hàng trên là chữ PULAN KECHIL AMBOYNA. Hàng dưới, chữ to, đậm hơn, khắc tên một nước trong khu vục này. Bốn mặt chung quanh của khối bê tông cũng có hàng chữ viết tay tên nước đó. Tấm biển kim loại còn sáng loáng và những vỏ bao xi măng cũng còn mới kia chứng tỏ khối bê tông mới được đổ chưa lâu chỉ trước lúc bọn tôi lên đảo vài tuần.
Thu dẫn Ngát về chỗ hàng cây ở giữa đảo, chỉ chỗ lính mình đã đào lên khối bê tông. Đó là chỗ gốc cây phi lao ngay cạnh giếng. Thu lại lôi Ngát ra chỗ bia chủ quyền của ta ở ngay trước cổng đảo. Cạnh tấm bia ta mới dựng lại hồi năm 1978, có tấm bia cũ của chính quyền Sài Gòn, trên ghi: QUẦN ĐẢO TRUÒNG SA THUỘC TỈNH PHƯỚC TUY. PHÁI BỘ QUÂN SỰ THỊ SÁT ĐẾN VIẾNG QUẦN ĐẢO NGÀY 22 THÁNG 8 NĂM 1956 DƯỚI SỰ HƯỚNG  DẪN CỦA HẢI QUÂN VIỆT NAM.

    Chỉ tấm bia cũ, Thu nói:
 
     - Tuy là bia do ngụy quyền Sài Gòn dựng nhưng các cậu cũng đừng phá, dù sao nó cũng là vật chứng của lịch sử. Những người dựng bia dù là thuộc chính quyền ngụy nhưng họ cũng là người Việt Nam. Người Việt Nam đã công khai đến đây dựng bia chủ quyền, nhận đất nhận đảo từ rất lâu trước những kẻ lén lút đến đổ khối bê tông giấu trong cát kia để cãi chày cãi cối rằng hòn đảo đã có chủ quyền của họ.

   Ngồi xuống bệ tấm bia chủ quyền. Thu thậm rãi

     - Chúng ta không thể sống được trên hòn đảo trần trụi. Ỏ đây mới có một chút bóng mát của cây xanh. Còn bóng mát của lịch sử thì trống trải quá! Dịp Quốc khánh năm ngoái, chi đoàn thanh niên của đảo tổ chức diễn đàn "Tự hào tổ quốc Việt Nam”, họ mời tôi nói về lai lịch quần đảo Trường Sa mà tôi không có đủ tư liệu để nói. Đó là thiếu sót lớn của người chỉ huy đảo. Đất liền đã gửi ra cho đảo từ ngọn rau xanh. Lính đảo hàng ngày được ăn no và dinh dưỡng cũng tạm đủ. Nhưng bữa ăn cho đời sống tâm hồn họ thì chưa có gì hết! Hiểu biết của chúng ta về lịch sử quần đảo còn nghèo nàn, thiếu thốn quá! Điều này làm tôi rất băn khoăn những ở tịt mãi ngoài này. sách vở thiếu thốn nên đành chịu!

    Thượng uy đảo trưởng Đào Minh Thu vào đất liền đến nay đã hơn một năm. Tưởng rằng anh đã quên nỗi băn khoăn khi ở đảo. Không ngờ hôm nay Ngát lại nhận được thư anh. Bóng mát của hàng cây anh đã để lại cho đảo Bức thu này là cái bóng mát của lịch sử anh gửi ra cho đảo đây. Thư Đào Minh Thu viết:

    Kính gửi anh Ngát và các anh đang có mặt trên đảo An Bang thân yêu

    Vào đất liền, việc bề bộn quá, việc đơn vị, việc gia đình, việc nào cũng không thể gác lại được. Nhớ đảo, nhớ điều mong đợi của đảo mà đến nay tôi mới viết thư cho đảo được vì đến nay tôi mới làm được một chút việc cho đảo. Hơn một năm nay tôi đã để ý tìm đọc sách báo viết về dải cát san hô xa tít ngoài biển đông đất nước ta. Sợ rằng một mình tôi tìm thì việc tìm kiếm sẽ phải kéo dài quá lâu, lại không đầy đủ, làm sao tôi có thể tìm đọc được hết các sách báo viết về Trường Sa, nên tôi đã nhờ mấy đứa cháu là sinh viên và đứa em vợ giữ thư viện của cơ quan tìm thêm. Đến nay tôi đã có một số tư liệu về lịch sử chủ quyền của chúng ta đối với dải cát san hô mà tôi đã để lại những năm tháng cuộc đời ở đó. Đến bây giờ chắc chắn đảo đã trồng thêm được nhiều cây xanh. Bóng mát của cây rồi sẽ phủ kín đảo. Nay tôi xin gửi ra đảo một chút bóng mát khác còn cần hơn cả bóng mát cây xanh. Đó là những hiểu biết của chúng ta về lịch sử chủ quyền của Việt Nam đối hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Logged

Nhờ trời! Không yêu cầu cũng được ra
Trang: « 1 2 3 4 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM