Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:55:09 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Một thủa - Tập truyện và ký - PHẠM ĐÌNH TRỌNG  (Đọc 33129 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
baogt
Thành viên
*
Bài viết: 771



« Trả lời #30 vào lúc: 05 Tháng Tư, 2009, 08:50:01 am »

RỆP CHIM

    Hiệp chạy ra đón chiếc bo bo sắp vào đảo. Có thêm sáu người nữa vào đảo cùng với bạt dựng nhà, tấm ván giường, súng lớn, súng nhỏ, những hòm đạn và một phuy dầu lửa. Chuyến bo bo thứ hai chở vào ba người cùng với gạo, củi, mắm, muối, xoong, chậu ... Bốc hết hàng, bo bo quay ra tàu thì những người ở đảo bắt tay vào dựng nhà bạt.

    Mãi nhá nhem tối, nhà bạt mùi dựng xong. Đói và mệt! Chuyến bo bo cuối cùng trong ngày mới chuyển vào đảo nồi cơm nấu từ trên tàu và chuyển cho Hiệp chiếc hòm gỗ quân nhu nhốt một đàn gà mới xuống ổ, một mẹ, mười lăm con. Ổ gà, cả mẹ và con đều sinh ở đảo Trường Sa. Mẹ là gà Trường Sa F2 và con là F3, đã thích nghi với cuộc sống Trường Sa. Ổ gà ấy tiểu đội cũ bên đảo Trường Sa cho Hiệp để anh gây giống cho đảo mới. Hiệp mang hòm gỗ chuồng gà lên để giữa đảo.

    Mọi người vội vã ăn bữa cơm tối đã quá muộn. Đói đến rủn cả người nhưng Hiệp chưa ngồi vào ăn. Anh ra chỗ đàn gà, mở hòm gỗ, thả gà ra. Gió thốc đến, thổi xù lông đám gà con. Hiệp trải mảnh giấy trên cát liền bị gió thổi bay đi. Anh phải kiếm mảnh giấy dầu đặt xuống  rồi lấy đá san hô chặn góc giấy và đổ vào đó một bát cơm. Nhưng gà mẹ cứ đứng một chỗ, xã cánh cho lũ gà con rúc vào tránh gió. Lũ con đông đúc chen nhau, đẩy nhau ra để được rúc vào sự che chở của mẹ và không ngớt la lối ầm ĩ như mách mẹ về sự tranh giành của chúng với nhau và như đòi hỏi, như hòn dỗi đối với gà mẹ. Đợi lũ con ngớt tiếng, gà mẹ mới khẽ khàng "Cục! Cục! giọng dịu dàng như dỗ dành, như khuyên bảo. Lũ gà con rồi cũng im tiếng, mỗi con đều tìm được một chỗ ấm áp dưới cánh gà mẹ. Yên ổn dưới đôi cánh mẹ, lũ gà con thỉnh thoảng chỉ còn khẽ kêu lên "Chíp! Chíp!" sung sướng và thỏa mãn. Tối rồi, chắc lũ gà không nhìn thấy cơm mà mổ, thôi, để sáng mai cho chúng ăn sớm. Hiệp lại cho đàn gà trở vào trong hòm gỗ và xách vào trong nhà bạt rồi mới đi ăn cơm. Xoong cơm đã nguội ngắt.  Đĩa thịt lợn đóng hộp, xoong canh loáng  thoáng mấy lát bí đỏ, ăn mãi thịt hộp đến chán ngấy. Hiệp chan canh bí đỏ vào cơm rồi lùa đủ ba bát cho xong bữa.

    Đã bắt đầu vào mùa mưa. Mưa có thể ập xuống bất cứ lúc nào, ăn cơm xong chưa kịp kiếm mảnh tre dạt lên đảo chẻ ra làm tăm lại phải hò nhau khuân hết súng, đạn, gạo, củi, ba lô:.. còn vất ngổn ngang trên đảo đưa vào trong nhà bạt vừa dựng. Làm xong đã hơn mười giờ đêm, mọi người mới tự thu xếp chỗ ngủ của mình. Mấy người chui vào nhà bạt, xếp lại những hòm đạn, những bao gạo, tạo ra những mặt bằng vừa một thân người nằm. Những người còn lại ngủ trên những tấm ván giường đặt ngay trên cát san hô ngoài trời. Hiệp và Sen cũng nằm trên những tấm ván đó. Nhưng giấc ngủ vữa chập chờn đến với Hiệp thì anh thấy nhoi nhói, lúc đầu chỉ nhoi nhói ở khoảng chân trần rồi râm ran, nhoi nhói khắp người. Hiệp lồm cồm bò dậy thì Sen cũng bật dậy ánh đèn gìn lóe lên. Trong quầng sáng đèn pin. Hiệp thấy những chấm nâu như hạt tấm bám đầy trên đùi. Trời ơi, rệp chim. Những hòn đảo còn của hoang sơ, của tự nhiên này, ban ngày là của đàn chim biển và ban đêm là của lúc nhúc lũ rệp chim. Người đến lấn đất của chim thì dễ, người và chim có thể chung sống với nhau một cách thân ái. Nhưng lấn đất của những con rệp bé như hạt cám thì không dễ. Ban ngày cát san hô bị mặt trời nung nóng và đàn chim cũng không còn ở đảo, lũ rệp chim phải chui sâu xuống cát san hô tránh nóng. Bây giờ đàn chim đã về kín đảo, lũ rệp bắt đầu bò lên chích máu chim đây. Lính trên đảo bị lũ rệp dựng dậy, nhốn nháo cả đảo. Tài tháo vát của lính đã được rèn luyện để vượt qua những khó khăn luôn bất ngờ xuất hiện bây giờ lại được bộc lộ.

    Sen nhìn thấy thùng phuy dầu lửa để bên đống củi. Anh đặt lại chiếc thùng phuy cho thật bằng rồi đặt tấm ván giường lên trên và leo lên nằm. Được đấy! Các loại sâu bọ đều sợ mùi dầu nên không dám bò theo thùng phuy lên giường. Nhưng chiếc thùng phuy quá nhỏ kê bên dưới giũa tấm ván giường, hai đầu tấm ván thùa ra ngoài thùng phuy quá nhiều, chiếc giường quá chênh vênh nằm bên trên chỉ lệch một chút là giường sập!

    Mấy người đi nhặt những đoạn tre dạt ngổn ngang trên đảo, buộc thành những cụm cọc choãi chân kiễng cắm xuống vũng nước trong chiếc ao nhỏ, tạo ra những chiếc cọc mắc võng. Những cánh võng giăng trên mặt ao như những con thuyền nhỏ bình yên trong ao làng. Công dụng đầu tiên của chiếc ao nhỏ trên đảo đó.

     Hiệp nhìn thấy chiếc xuồng cao su nằm trên bãi cát san hô. Anh đi đến, lật úp xuồng lại. Đáy xuồng bằng phẳng và khá rộng. Giường ngủ đây rồi! Cho chiếc giường hơi này nổi trên mặt nước thì lũ rệp trên đảo chỉ còn biết đứng nhìn mà khóc! Đẩy chiếc xuồng úp xuống thềm nước nông, cột sợi dây neo xuồng vào mỏm đá san hô, trải chiếu lên đáy xuồng, thế là có được cái giường nệm hơi êm ái, rộng rãi, mát mẻ, sạch sẽ và bồng bềnh trên sóng nước. Hiệp vừa nằm lên "giường" thì có tiếng Nhân gọi:

    - Hiệp ơi, còn chỗ không, cho mình nằm với?

    Sao bây giờ mới tìm chỗ ngủ?

    Bây giờ mới hết phiên gác.

     - Lên đây! Hai thằng nằm cũng rộng chán.

    Quá mệt sau một ngày đánh vật với sóng nước, quần quật chuyển hàng chục tấn trang bị từ tàu vào đảo, thời tiết ban đêm ở đảo lại nhẹ nhõm, mát mẻ quá, đặt mình xuống tấm nệm hơi êm ái lập túc Hiệp chìm vào giấc ngủ. Chiếc nệm hơi cứ bồng bềnh theo cơn sóng lắc ru trong tiếng sóng rì rầm sâu thẳm không dứt. Giấc ngủ của lính đảo được cả đại dương vỗ về hát ru. Về  khuya gió mang hơi lạnh thổi ào ào. Hiệp tỉnh dậy vì lạnh và vì ở mỏm đá rất gần có con chim bị gió thổi hất xuống nước, vỗ cánh phành phạch mãi mà không lên lại mỏm đá được té cả nước lên người Hiệp. Hiệp vào nhà bạt mở bòng lấy tấm vỏ chăn ra đắp cả cho Nhân.

     Sáng hôm sau thức dậy. Hiệp thấy đáy chiếc xuồng cao su tối hôm qua phẳng phiu, đầy đặn mà bây giờ bùng nhùng, dúm dó, chống tay xuống chỗ nào ở đáy xuồng cũng tụt luôn xuống sát đáy san hô, không thể phẳng trở lại. Hiệp và Nhân bị dồn xuống nằm sát đáy thềm san hô. Thì ra chiếc xuồng cao su bị xuống hơi, đáy xuồng chỉ còn là tấm cao su trải xuống đáy cát trong thềm nước. Cũng may túi hơi tròn quanh xuồng còn đủ hơi giữ cho chiếc xuồng không bị nước tràn vào.

    Cứ để Nhân ngủ, Hiệp bước nhẹ ra ngoài xuồng, chạy vào nhà bạt, xách đàn gà thả ra giữa đảo. Anh rải cho chúng một nắm gạo lên mảnh giấy dầu. Gà mẹ sốt sắng gọi lũ con. Đàn con nhảy xô lại nhưng thấy vẫn chỉ có gạo trắng như mảnh cát san hô mặn, mỗi con uể oải mổ vài hạt cho mẹ chúng khỏi nài ép rồi cứ đứng xơ rơ nghiêng đầu nhìn ngó, chờ đợi, dáng buồn bã, mỏi mệt.
Logged

Nhờ trời! Không yêu cầu cũng được ra
baogt
Thành viên
*
Bài viết: 771



« Trả lời #31 vào lúc: 05 Tháng Tư, 2009, 08:51:22 am »

KHÁT

    Hôm nay sóng còn dữ hơn hôm qua. Không thể nào đưa bo bo ra tàu để lấy nước ngọt vào nấu cơm được. Ngoài kia, con tàu cứ chạy vòng quanh đảo, tìm chỗ khuất sóng neo lại để đón bo bo từ đảo ra. Sóng dựng trùng trùng, chẳng có chỗ nào yên hơn chỗ nào. Trên đảo đã có đủ gạo. mắm, muối, thịt hộp, củi, dầu. Chỉ còn thiếu nước ngọt! Sơ suất quá! Đáng lẽ hôm qua phải đưa nước ngọt vào đảo trước. Bây giờ thế là nhịn! Không lẽ cứ ngồi chờ cơm? Việc đang ngổn ngang, ngồi không sao đành! Thôi, người nào việc ấy, đành nhịn đói mà làm, khi nào có cơm thì ăn sau!

    Theo kế hoạch, sáng nay ăn cơm xong, một số người tiếp tục chuyển nốt trang bị từ tàu vào, còn lại sẽ bắt tay vào sắp xếp tổ chúc cuộc sống trên đảo và công việc đầu tiên là đào hầm hào, dựng thêm nhà bạt, làm nhà bếp. Hiệp và Sen được phân công đào hào chiến đấu bao quanh đảo. Đảo đã thấp lại còn đào thấp xuống nữa! Cát tơi mịn, dễ đào đấy nhưng cứ đào hất lên thì cát lại chảy xuống. Dã tràng se cát và lính Trường Sa đào cát, có lẽ hai công việc ấy chẳng khác gì nhau! Hai công việc ấy đều nhọc nhằn, đều uổng phí, đều đòi hỏi sự kiên nhẫn, bền bỉ phi thường! Chỉ có điều khác là sự kiên nhẫn của dã tràng thì không có mục đích và hoàn toàn vô tích sự. Còn sự kiên trì của những người lính Trường Sa có mục đích rõ ràng và nhất định phải đi đến kết quả.

    Vừa sáng ra đã nắng gay gắt, rát rạt. Mồ hôi ròng ròng khắp người và Hiệp thấy khát nước ghê gớm. Lại thêm cái đói hành hạ. Đến lúc các cơ bắp của Hiệp dường như không co lại được nữa, Hiệp mới dừng tay ngồi nghỉ dưới nắng.

     Một đoạn hào tuy không sâu, chỉ đến ngang bụng, đã bao quanh một hướng đảo. Hiệp đưa mắt tìm  đàn gà. Đàn gà cứ đứng cụm lại ở giữa đảo chịu đựng  cái nắng đổ lửa từ mặt trời dội xuống và cái nóng ngùn ngụt từ cát trắng san hô hắt lên. Không tìm đâu được một bóng râm mà trú, con gà nào cũng rã cánh, há mỏ ra thở. Sen cũng không còn đủ sức hất xẻng cát lên nữa, liền buông xẻng, ngồi bệt xuống cát, ngó ra biển. Sóng chồm chồm dựng quanh đảo như mỗi lúc một lớn hơn. Kiểu này đến tối chưa chắc đã có cơm ăn! Trên đảo có thịt lợn hộp đấy nhưng thỉ nghĩ đến cái mùi thịt hộp đã ớn muốn ói. Hay là làm thịt con gà mẹ, rang lên, mỗi người một miếng cầm hơi? Hiệp nói ý định đó với Sen. Sen đánh mỗi thiếc quần đùi ngồi trên thành đoạn hào vừa đào, nắng dát sáng loáng trên làn da căng ướt đầm mồ hôi của anh. Sen ngắm đàn gà, nói:

     Giết gà mẹ thì đàn cơn còn lại cũng không sống nổi! Thế là chúng ta chén mất cả đàn gà quí! Uổng lắm! Không còn sức xúc cát thì báo cáo đảo trưởng cho vào nhà nằm nghỉ đợi cơm chứ đừng giết gà.

    Hiệp lại bàn:

    Bảo anh nuôi rang cho nắm gạo ăn tạm vậy!

    Sen kêu:

    - Trời ơi! ăn gạo rang cũng bằng ăn lương khô, khát nước chịu sao nổi. Đói còn có thể chịu đựng được vài ngày chứ trời nắng này mà thiếu nước thì không chịu nổi một ngày! Mình đang khát không chịu nổi nữa rồi! Phải làm tạm ngụm nước biển đây.

    Sen đứng lên, sải bước ra ngoài biển. Gần mép đảo, nước đục lờ, Sen lần ra xa, đến chỗ nước trong, khum tay vục nước đua lên miệng, nhấp một ngụm nhỏ. Không chịu nổi con khát khô cổ, Hiệp cũng đi theo Sen ra uống ngụm nước biển.

    Mãi đến khuya gió mới lắng xuống, sóng dịu lại và chiếc bo bo chở téc ra tàu lấy nước ngọt mới neo được vào cạnh tàu
Logged

Nhờ trời! Không yêu cầu cũng được ra
baogt
Thành viên
*
Bài viết: 771



« Trả lời #32 vào lúc: 05 Tháng Tư, 2009, 08:52:39 am »

TIẾNG ĐÀN

    Lần này tàu chở ra đảo một kĩ sư công binh cùng những khối bê tông đúc sẵn để lắp ghép công sự, hầm, hào. Rồi xi măng, sắt thép, tôn lợp nhà, gạch, đá, khung và cánh cửa sắt, lại có cả những bao cát vàng khai thác từ sông suối trong đất liền. Lính đảo lại một phe bị công việc cuốn đi không còn biết đến giờ giấc. Quần quật từ sớm đến khuya ngâm mình trong nước biển, chuyển những khối vật liệu nặng nề, kềnh càng từ tàu vào đảo. Tháo đôi găng tay bạt rách xơ vì bị cứa vào cạnh bê tông và cạnh sắt thép ra lại cầm lấy cái xẻng, cái bay, đánh hồ xây dựng công sự, nhà cửa. Những công sự bê tông đã chìm sâu trong cát san hô thì ngôi nhà mái tôn sáng loáng cũng nổi cao giữa đảo. Đó là ngôi nhà bốn gian nhỏ mỗi gian rộng dài chỉ bốn mét. Hai gian hai đầu nhà là phòng đảo trưởng và phòng chính trị viên đảo. Hai gian giữa không có tường ngăn cách là hội trường của đảo. Hội trường còn trống trơ, chưa có bàn ghế. Chỉ có lá Cờ tổ quốc căng chính giữa bức tường nhìn ra cửa. Sát tường, phía dưới lá cờ là chiếc tử nhỏ. Trên mặt tủ có chiếc đèn bão đặt cạnh chiếc máy thu thanh chạy pin.

    Buổi tối, có việc lên phòng đảo trưởng, Hiệp chỉ nghe từ chiếc máy thu thanh bán dẫn ở phòng họp nét nhạc quen thuộc mở đầu chuyên mục Kể chuyện cảnh giác. A, tối thứ bảy đây! Chiếc đài bán dẫn đã yếu pin, tiếng nói khào khào, bập bềnh chìm nổi khi trồi lên, khi chìm nghỉm trong tiếng gió lồng lộn đập ầm ầm trên mái tôn. Nghe đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam là cách giải trí. thư giãn và là sự tiếp cận thông tin duy nhất ở đảo nên từ khi chiếc máy thu thanh được đặt ở phòng họp của đảo, sau bữa com tối lính đều tập trung đông đúc quanh chiếc máy thu thanh. Chương trình tối thứ bảy của đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam lại có nhiều chuyên mục hấp dẫn với lính đảo thì tối thứ bảy lính tập trung càng đông. Nhưng tối nay chiếc máy thu thanh thều thào như người hấp hối, không còn ai ngồi với nó nữa.

    Rời nhà chỉ huy đảo, rời ánh sáng nhợt nhạt của ngọn đèn bão, Hiệp chìm ngay vào bóng đêm mịt mùng và lọt thỏm trong vòng tay quấn quít của những ngọn gió biển lúc nào cũng cuống cuồng, mạnh mẽ đến suồng sã. Mấy vì sao lẻ loi, xa tít như những lỗ thủng của vòm trời. Ban ngày trên biển đã hoang vắng, mênh mông. Đêm đến càng thăm thẳm, hư vô. Giữa biển đêm, con người càng thấy nhỏ bé, hoang mang. Cảm giác hoang vắng, trống trải xâm chiếm trong lòng, Hiệp trở về căn nhà bạt của mình, với lấy cây đàn ghi ta treo trên cây cột chống mái bạt. Anh thong thả rải vài hợp âm vừa để khởi động cho tay dẻo lại vừa để kiểm tra dây đàn. Dây mi hơi bị chênh. Hiệp căng lại dây đàn rồi chuyển thế ngón tay theo những hợp âm quen thuộc. Đã lâu lắm, đêm nay Hiệp mới được ôm cây đàn. Da tay nhợt nhạt vì hàng tháng trời dầm trong nước biển. Bàn tay trầy xước vì đá san hô, vì bê tông sắt thép. Ngón tay như cứng lại, thô ra vì những công việc nặng nề. Từ bàn tay, đó những âm thanh ngập ngừng, rời rạc rơi ra như những hạt mưa đầu trận mưa ngập ngừng rơi xuống mái nhà tôn. Mùa mưa ở đảo, mưa rào ập đến rất nhanh.

    Vữa thấy lác đác vài hạt mưa, lính chưa kịp rút quần áo phơi trước sân vào nhà thì mưa rào đã sầm sập trút xuống. Từ những âm thanh rời rạc, tiếng đàn của Hiệp nhanh chóng chuyển sang những họp âm dồn dập, cuồn cuộn tuôn chảy.

    Hồi Hiệp mới vào bộ đội, phụ trách quân y đại đội huấn luyện lính mới của Hiệp ở Quảng Yên là một chuẩn úy chuyên nghiệp có ngón đàn ghi ta rất cuốn hút. Những lúc rảnh, Hiệp thường vào phòng quân y nghe đàn. Khi chuẩn úy quân y rời đàn ra là Hiệp lập tức ôm lấy cây đàn, mò mẫm với những nốt, những phím, những thế tay, những gam, những hợp âm. Trong phòng quân y đại đội bên sân một quả đồi ở Quảng Yên, tay Hiệp đã bật những tiếng ghi ta đầu tiên và anh đã học được hết những bài đàn mà người y sĩ thường chơi. Quanh quẩn cũng chỉ có mấy bài. Dân ca thì có "Xe chỉ luồn kim", "Người ở đừng về". Nhạc nước ngoài có "Paloma", “Xan ta Lucia”. Nhạc Việt Nam có "Dư âm”, "Làng tôi", "Áo mùa đông", thế thôi!  Bài nào Hiệp cũng thích nhưng thích nhất bài “Áo mùa đông”, vì giai điệu nhạc rất đẹp, vì lời bài hát gợi cho Hiệp nhớ đến hình ảnh ông nội.

    Gió bấc heo may, xào xạc rung cây lá, lá bay. Một mùa đông bao người may áo... Bài hát gợi nhớ cánh rừng Việt Bắc mùa đông về, gió bấc lùa hun hút. Dưới mái lán đơn sơ, những người lính áo nâu phong phanh, chiếc mũ nan trên đầu, chiếc áo bông mỏng không có tay với những đường trần hình quả trám ôm gọn những vồng ngực mang trái tim tuổi trẻ đi đánh giặc giữ nước. Người lính vệ quốc đoàn thời kháng chiến chống Pháp đó. Ông  nội Hiệp đó. Chiếc áo  bông ấy được gọi là áo trấn thủ có từ Một mùa đông bao người may áo, mùa đông đầu tiên của cuộc kháng chiến chống Pháp, người lính vệ quốc đang thiếu thốn đủ bề và cuộc vận động may áo cho người chiến sĩ được phát động. Đó là Mùa đông binh sĩ đã đi vào trang sử đẹp của một cuộc kháng chiến được sách báo một thời gọi là cuộc kháng chiến thần thánh. Ông nội Hiệp đã mất từ mấy năm trước nhưng chiếc áo trấn thủ của ông vẫn được bố Hiệp nâng niu gìn giữ cùng với chiếc mũ tai bèo vượt Trường Sơn của bố. Bài hát đưa Hiệp về một thời như cổ tích, như huyền thoại. Những ngón tay Hiệp lại mềm mại nhấn nhá trên phím đàn và tiếng đàn cứ rạo rực như ngọn lửa bập bùng ấm áp trên bếp lửa nhà sàn trong đêm mùa đông.

    Chợt có tiếng nói nhỏ như thì thầm:

    - Chơi bài "Người ở đừng về" đi Hiệp ơi!

    Sen quát:

    - Im nào! Để cho nó đàn. Bài gì cũng được! Chơi tiếp đi Hiệp!

    Hiệp nhìn quanh, không hiểu mọi người vừa nói gì. Nhưng nhìn những ánh mắt, những gương mặt thờ đợi đang hướng vào anh thì anh hiểu. Hiệp lại cúi xuống cây đàn. Tiếng đàn lại như dòng suối rì rầm và bền bỉ chảy trong sâu thẳm lòng rừng. Dường như cả đảo đã có mặt trong căn nhà bạt bập bùng tiếng ghi ta. Những dáng người im lặng. Có người khẽ lắc lư theo tiếng đàn. Tiếng đàn như làn nước ngọt trong mát chảy tràn trên những làn da lạo xạo cát và trắng từng ngấn muối biển của những người lính đảo.

    Chợt có tiếng gọi từ trong góc nhà bạt:

   - Hiệp ơi, đến giờ liên lạc rồi! Vào mở máy đi!

    Nhận ra tiếng gọi của Nhân, Hiệp vội buông đàn đứng lên. Người ngồi bên cạnh liễn đỡ lấy cây đàn và tiếng ghi ta lại ngập ngừng, rời rạc vang lên.
« Sửa lần cuối: 05 Tháng Tư, 2009, 04:27:41 pm gửi bởi baogt » Logged

Nhờ trời! Không yêu cầu cũng được ra
baogt
Thành viên
*
Bài viết: 771



« Trả lời #33 vào lúc: 05 Tháng Tư, 2009, 04:30:14 pm »

Xao Xác Cánh Chim

Truyện ngắn
[/i]

    Đại tá Cao Ánh Đăng, lữ đoàn trưởng lữ đoàn 146 bảo vệ quần đảo Trường Sa vừa đến đảo Trường Sa Đông thì chiến sĩ quân báo Lê Văn Sinh đến báo cáo có một tàu lạ khá lớn của nước ngoài vừa ghé vào đảo Chim họ cho người lên đảo và còn đang ở đó. Người cán bộ chỉ huy lữ đoàn đã nhiều năm lặn lội ngoài biển Trường Sa ngạc nhiên hỏi lại:

    - Đảo nào? Đồng chí nói tàu nước ngoài đổ người lên đảo nào?

    Anh chiến sĩ trẻ nói chắc chắn:

    - Họ lên đảo Chim của ta đấy thủ trưởng ạ! Không hiểu họ làm gì ở đó mà chim nháo nhác cả lên!

    Lữ đoàn trưởng nhìn người chiến sĩ còn quá trẻ nên chưa tin những điều anh vừa nói:

    - Đảo Chim cách đây gần hai chục hải lí cơ mà. Sao đồng chí biết?

    Anh chiến sĩ chỉ tay lên trời. Từng đàn chim biển như những đám mây màu nâu nhạt từ phía tây trôi lại rồi lả tả táp xuống những mỏm đá nổi lên lổn nhổn quanh đảo. Anh giải thích:

    - Chim từ đảo Chim bay về đấy, lữ trưởng ạ! Có người lên đó phá, chim mới kẻo cả đàn về đây.

    Nhìn đàn chim vẫn đang lũ lượt bay về, lữ đoàn trưởng Đăng giật mình nhớ ra rằng từ lúc còn ở trên tàu ông đã thấy sự di chuyển bất thường của đàn chim nhưng ông lại bỏ qua. Với vẻ mặt chăm chú, ông hỏi người lính:

     - Ừ, Có lẽ đúng đấy! Đồng chí thấy hiện tượng này lâu chưa?

    Được lữ đoàn trưởng lắng nghe, anh lính quân báo nói tự tin:

    - Chúng tôi theo dõi thấy mấy lần có tàu lạ ngang qua đây đi về phía đảo Chim thì khoảng hơn một giờ sau là chim kéo đàn từ đó dạt về đây! Lần nào cũng vậy.

    Đại tá Đăng cũng vừa nhận ra rằng đàn chim bay về đây đều là chim trắng, loài chim thuần chủng cư ngụ ở đảo Chim. Chim ở quần đảo Trường Sa có nhiều loại, đông đúc nhất là hai loại chim trắng và chim đen. Chim nào bay theo đàn chim ấy và khi đậu chúng cũng đậu riêng thành từng vệt đen vệt trắng trên đảo. Đảo nào cũng có cả chim trắng và chim đen. Chỉ riêng đảo Chim chỉ có một loài chim trắng.

    Đặt tay lên vai Sinh, đại tá Đăng không gọi người lính trẻ theo điều lệnh là đồng chí nữa mà thân mật:

    - Nghe cậu nhận định và phân tích thấy cậu có nghề quân báo đấy. Nào đi với tôi sang đảo Chim để xem nhận định của cậu có đúng không.

    Đại tá Đăng dẫn Sinh vào nhà chỉ huy đảo gặp đại tá Bùi Ủy, tham mưu trưởng quân chủng Hải quân đang ở đó. Nghe lữ đoàn trưởng Đăng báo cáo hiện tượng chim bay từ đảo Chim về đây và ý kiến của Sinh, tham mưu trưởng quân chủng cũng thấy cần sang ngay đảo Chim. ông lệnh cho phái đoàn quân chủng đi theo ông trong chuyến khảo sát quần đảo ra tàu tiếp tục cuộc hành trình.

    Giữa màu xanh thăm thẳm của biển bỗng thấy một dải nước óng ánh nhiều sắc màu rục rỡ: non tươi sắc lá, đỏ nhạt da cam. vàng hoe chuối chín và sáng trắng ánh bạc thì biết rằng đã đến khu vực dải san hô của Thái Bình Dương rồi đấy. Dải nước óng ánh rực rỡ là sự khúc xạ màu sắc của thảm san hô đã nổi cao chỉ còn cách mặt biển vài mét nước. Trên thảm san hô nông, rộng dài hàng cây số đó sóng dồn vụn đá san hô lại thành đụn. Đụn cát san hô cao dần lên. thậm chập nhô khỏi mặt nước biển, tạo thêm cho quần đảo Trường Sa một đảo san hô trẻ. Nổi trên thềm san hô kéo dài hơn chục cây số, đảo Chim bé nhỏ nhưng nằm lọt giữa cụm đảo phía đông của quần đảo Trường Sa nên nó có vị trí rất quan trọng với cả cụm đảo.

     Con tàu quân sự nhỏ bé, cũ kĩ và chậm chạp chở những người anh bảo vệ Trường Sa mải miết chạy dọc theo dải san hô rực rỡ gần một tiếng đồng hồ mới nhìn thấy phía trước một vệt nhỏ trắng mờ như một con sóng bạc đầu lúc hiện lúc mất. Vệt trắng di chuyển trên biển thì là sóng bạc đầu. Vệt trắng nhỏ kia cố định một chỗ và đang lớn dần lên thì đó là đảo. Đứng trên đài chỉ huy tàu đại tá Đăng nhìn thấy con tàu lạ trước khi nhìn thấy hòn đảo nhỏ nhoi. Không chú ý đến con tàu, ông Đăng cứ đau đáu nhìn hòn đảo bồng bềnh trên ngọn sóng. Đã nhận ra một chiếc xuồng máy và một thiếc thuyền gỗ neo sát đảo. Trên nền san hô trắng chỉ còn mấy vệt nâu nhỏ ở mép đảo. Đó là nơi chim còn đậu lại. Mấy bóng người đi lại giữa đảo. Ở mép đảo phía khuất, chim biển nối nhau bay tóa lên. Có con đáp xuống những mỏm đá nổi lên trên thềm nước nông. Có con bay biết về hướng đông phía đảo Truồng Sa Đông. Còn một tốp người nữa đang xục xạo mé đảo khuất đó. Họ xục xạo gì vậy? Không lẽ họ lặn lội hàng trăm hải lí đến đây chỉ để bắt mấy con chim biển? Đã nhìn thấy cả một đoạn tre dài buộc chiếc áo thun sọc cắm ở giữa đảo. Không thấy tháp bia chủ quyền đâu cả!

    Mới Tết nguyên đán vừa rồi, đại tá Đăng có mặt trên con tàu đi vòng quanh quần đảo. mang quà Tết đến những đảo có bộ đội ta ở và dựng bia chủ quyền ở một số điểm nổi. Đấy là lần thứ ba ta dựng bia nhận đất. Hai lần trước bia được lữ đoàn đúc bê tông từ trong đất liền rồi chuyển lên tàu đưa ra đảo nên bia chỉ đúc vừa phải để chiếc bo bo bé nhỏ có thể chuyển được bia từ tàu vào đảo. Chuyến tàu trước đến đặt bia, chuyến tàu sau ra kiểm tra, bia đã không còn! Lần này bia được đúc bê tông ngay trên đảo nên bia khá lớn. Khối bê tông hình tháp cao hai mét rưỡi, sử dụng hơn ba mươi bao xi măng, hơn năm mươi bao cát và đá đưa từ đất liền ra. Rồi còn lõi thép bên trong, khung thép làm khuôn đế tháp. Bia nặng gần chục tấn, đế chôn sâu trong cát san hô. Bốn mặt bia đắp nổi lá cờ Tổ quốc, dưới lá cờ, hàng chữ Việt Nam nét đậm chìm vào bê tông. Khối bê tông lớn như vậy khó mang đi được, cũng khó đục xóa những đường nét trên bia? Thế mà bây giờ không thấy tháp bia đâu.

    Sáng hăm ba tháng chạp ông Táo về Trời, con tàu đi dựng bia mới ghé vào đảo. Giữa mùa biển động, chỉ một việc đơn giản là thả neo tàu cũng vô cùng khó khăn. Sóng dữ quá! Sóng đánh văng cả neo tàu! Neo chưa tới đáy biển, tàu đã bị đẩy đi xa tít! Chỉ băng sức người đưa hàng chục tấn vật liệu vượt qua con  sóng dữ ấy còn khó đến mức nào! Chuyển xi măng, sắt thép xuống chiếc bo bo mong manh như chiếc lá trên ngọn sóng lừng lững dựng thành, dựng vách. Rồi thành vách rùng rùng cuốn vòm cao ngất ngưởng ầm ầm đổ ụp xuống vực thẳm ở chân sóng. Chiếc bo bo bị xóa mất trên mặt nước sôi sục lại gan góc nhô lên trên đám bọt sóng trắng xóa. Sóng tưng lên, giật xuống, xoay tròn, dựng đứng muốn hất mọi thứ trong bo bo xuống biển và lật bo bo úp xuống. Những người lính trẻ vẫn bám bo bo, giữ thế cân bằng đưa bo bo vượt qua bức tường sóng. Họ phải đưa bo bo ra vào hàng chục chuyến hiểm nghèo như vậy mới chuyền hết vật liệu. Chiến sĩ công vụ Vũ Như Hưng cùng hai chiến sĩ đặc công nước hộ tống ông Đăng vào đảo trong chuyến bo bo cuối cùng, chuyến bo bo ít sóng gió nhất mà ông Đăng cũng thấy bải hoải. Lưng đeo chiếc bòng ni lông nhỏ, tay cầm cây tầm vông dài làm cán cờ, ông Đăng đến chỗ đặt bia chủ quyền, đôn đốc việc triển khai đổ bê tông bia. Kích thước, khuôn mẫu tháp bia đã có sẵn. Lính trẻ quần áo ướt đẫm nước biển người đào móng bia. người trộn hồ, người cưa gỗ đóng khuôn bê tông, công việc tăm tắp, trôi chảy, ông Đăng yên tâm liền trùm chiếc áo sơ mi lên đầu che nắng, ngồi bệt xuống cát mà thở.

    Mặc áo lính từ năm mười sáu tuổi vào giai đoạn cuối cuộc kháng chiến chống Pháp. Tập kết ra miền Bắc được đi học văn hóa rồi về Hải quân lại được sang Trạm Giang. Trung Quốc học sử dụng tàu thuyền. Đi qua suốt cuộc kháng chiến chống Mĩ là người lính giữ biển với chiếc tàu bé xíu, cổ lỗ phải đương đầu với máy bay tàu chiến hiện đại của Mĩ từ hạm đội bảy liên tục vào đánh phá của sông, cảng biển miền bắc. Đất nước thống nhất, đưa vợ con từ ngoài bắc về quê Khánh Hòa rồi lại mải miết với những chuyến đi biển ròng rã hàng tháng trời ngoài quần đảo Trường Sa. Cuộc đời người lính Cao Anh Đăng đó!

    Bây giờ gần sáu mươi tuổi rồi, ông Đăng thấy không còn đủ sức khỏe cho những chuyến đi liên miên, dài ngày và đầy sóng gió của biển Trường Sa nữa. Trước đây càng xông xáo ông càng ăn khỏe, ngủ khỏe, người càng chắc lại. Làm việc cật lực từ sáng đến tối, nghỉ tay, có cơm ăn no, đánh một giấc đến sáng, lại thấy khỏe khoắn như thường, lại lao vào việc. Bây giờ chỉ đi biển một ngày, ông đã thấy bải hoải, người phờ phạc trông thấy ăn đã chểnh mảng! Ngủ càng trằn trọc! Thế là cơ thể đã lên tiếng đòi phải được chuyển sang chế độ làm việc nhẹ nhàng hơn, cường độ thấp hơn, nhịp độ chậm hơn. Công việc nhẹ nhàng ấy là nhổ cỏ, tưới cây ở mảnh vườn con con sau nhà, là dạy con cách ứng xử ở đời sao cho có lễ nghĩa, trước sau ... tức là những công việc của một người già trong gia đình, làm được đến đâu thì làm, được chăng hay chớ. Không có mệnh lệnh, không có kế hoạch, chỉ tiêu nào thúc ép. Đấy là công việc của người nghỉ hưu!

    Ừ thì về nghỉ! Nào có ai ham hố gì! Chẳng ai có thể giỏi giang được mãi! Mỗi người chỉ có một thời. Cái thời của người lính Cao ánh Đăng đã qua rồi.  Cái thời  của thế hệ ông phải kết thúc để lớp người sau được nắm lấy được làm chủ cái thời của họ. Ta được giao một cương vị, một quyền hạn để thi thố, để bộc lộ mình, đấy chính là cái thời của ta, chính là lúc ta phải thể hiện hết mình. Thời của mình hết rồi thì thanh thản giao lại cho người khác. Mỗi thế hệ có một cái vạch giới hạn về cái thời của mình. Nếu cái thời của thế hệ này kéo quá dài thì cái thời của thế hệ sau sẽ ngắn lại, hoặc không có! Thế là thế hệ trước có tội với thế hệ sau! Bất hạnh lớn nhất của một kiếp người là biết làm việc mà không được làm việc, có năng lục mà không được thể hiện, không được thi thố. Con hơn cha là nhà có phúc. Cái thời của bố lấn hết cả thời của con, thế là nhà vô phúc! Cái vô phúc của một nhà ấy cũng là cái vô phúc của một quốc gia!
Logged

Nhờ trời! Không yêu cầu cũng được ra
baogt
Thành viên
*
Bài viết: 771



« Trả lời #34 vào lúc: 05 Tháng Tư, 2009, 04:36:44 pm »

  Đối với thế hệ của người lính Cao Ánh Đăng, nhiệm vụ lịch sử giao cho là đánh giặc.  Đánh tới bốn thằng giặc chứ đâu có ít nếu kể cả thằng giặc diệt chủng Pôn Pốt và giặc bành trướng! Thế là vẻ vang rồi! Thế là đã làm tròn sứ mạng lịch sử của mình rồi! Không phải hổ thẹn! Không phải ân hận! Cái thời ấy làm việc bằng sự tận tâm, tận lực, bằng sự chấp hành. Trên suy nghĩ, chỉ huy. Dưới chấp hành, thực hiện. Muôn người như một, thừa thắng xốc tới! Lúc ấy phải như thế, không thể khác được. Còn bây giờ chỉ tận tâm, tận lực chưa đủ. Mà lực thì ông Đăng cũng đâu có còn nữa! Cái tâm hăng say vẫn còn nguyên đấy, vẫn rất mong được làm những việc có ích cho đời đấy. Nhưng lực thì đã trống hụt rồi! Trước đây sự tham gia, sự có mặt của mình trong công việc của đất nước là cần thiết, là cách mạng, là tích cực. Nhưng bây giờ mình phải biết rút lui, phải biết vắng mặt mới là tích cực mới không cản trở sự phát triển của cuộc sống.

    Biết thế đấy nhưng vắng mặt bây giờ sao vẫn thấy băn khoăn. Băn khoăn không phải vì tiếc rẻ cái quyền lực đang nắm giữ. Quyền lực bao giờ cũng có sức hấp dẫn. Quyền lực càng lớn thì sức hấp dẫn càng lớn! Quyền lực lữ đoàn trưởng nhỏ nhoi thôi nhưng không phải không có sức hấp dẫn. Băn khoăn cũng không phải vì lo lớp người sau không đảm nhận được những công việc của lớp người trước để lại. Bây giờ là thời của những người lính trẻ kia. Thời của họ thì họ phải đảm nhận được. Ngay việc ông Đăng đưa họ ra đây nhận đất cũng đã như một việc bàn giao. Bàn giao cái gian nan, cái chịu đựng mà đã là người lính thì phải chấp nhận, không thể thoái thác. Nhưng lại bàn giao cả cái bất trắc, chông chênh, bàn giao cái không yên ổn, cái mong manh giữa ngập ngàn sóng gió cùng bao nhiêu cái đe dọa khôn lường... cho những người lính trẻ kia thì ông đại tá già Cao Ánh Đăng làm sao không băn khoăn cho được.

    Những núm cát li ti như đám bọt sóng chẳng giúp được gì cho cuộc kiếm sống vất vả hằng ngày của người đi biển. Vì thế, ngay những nhà nước ra đời trên những hòn đảo ở chung quanh cũng chẳng ngó ngàng đến nó trong suốt chiều dài lịch sử kiếm sống trên ngọn sóng của họ. Trong khi đó, nhà nước Việt Nam ngay từ khi ra đời ở châu thổ nhỏ hẹp sông Hồng đã mang khát vọng mở cõi như một định mệnh của dân tộc, như một sứ mệnh của lịch sử. Khát vọng ấy trở thành truyền thuyết dân gian Mẹ âu Cơ sinh ra bọc trăm trứng nở ra trăm con chia nhau đi mở cõi. Năm mươi con theo mẹ lên núi khai phá đất rừng phía tây. Năm mươi con theo cha xuống biển mở cõi phía nam và phía đông. Khát vọng ấy trở thành ca dao khắc vào thời gian nỗi buồn xa cách chia li của cô gái theo chồng đi đến miền đất mới: Chiều chiều ra đứng ngõ sau / Nhìn về quê mẹ ruột đau thín chiều. Khát vọng ấy trở thành ý chí kẻ làm trai: Làm trai cho đáng nên trai / Phú Xuân cũng trải Đồng Nai cũng từng. Khát vọng ấy trở thành hào khí của lịch sử, trở thành tình cảm công dân của người con nước Việt: Từ thuở mang gươm đi mở cõi / Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long. Vì thế từ thuở biển Đông còn hoang sơ và dữ dội người Việt từ dải đất  hình chữ S dưới chân dãy Trường Sơn hàng năm vẫn đi về Hoàng Sa. Trường Sa. Từ lúc nhà nước phong kiến Việt Nam còn nhỏ bé, những núm cát Trường Sa, Hoàng Sa giữa biển mù khơi đã được nhà nước đó quản lí chu đáo trong hệ thống tổ chức hành chính của các triều đại Việt Nam. Suốt mấy trăm năm dài dằng dặc thời kinh tế nông nghiệp thô sơ tự cấp tự túc chúng ta làm chủ Trường Sa, Hoàng Sa heo hút, có ai tranh giành với ta đâu?

    Thời công nghiệp phát triển, cả thế giới là một kho nguyên liệu và cả thế giới cũng là một cái chợ hàng hóa. Nước nào cũng phải mở cửa ra thế giới. Biển cả không phải chỉ cho mấy con cá, mấy hạt muối như trước nữa. Biển cả là giao thương. Biền cả là vóc dáng lãnh thổ. Biển cả là thế đứng của quốc gia trong trời đất. Biển cả là của nổi, của chìm, của ăn, của để. Của nổi là  không gian mênh mông, hải phận rộng dài. Của chìm là những túi dầu! tứi khí trữ lượng lớn rải rác khắp đáy biển. Thế là một loạt nước liền lớn tiếng nhận phần Trường Sa, Hoàng Sa là của họ rồi họ hối hả đưa tàu lớn tàu nhỏ đến đổ người lên những núm cát nhỏ nhoi.

    Mấy nước quanh biển đông làm điều đó, dù sao cũng dễ hiểu. Biển đông đã trở thành  mảnh sân lớn cạnh nhà họ. Nhưng một nước khác xa tít trên phương bắc chợt muộn màng nhận ra vị trí quá quan trọng của mấy dải cát san hô nhỏ bé, họ lại ráo riết và ngang nhiên cậy vào sức mạnh để có mặt ở vùng biển đảo vốn không phải là của cha ông họ để lại này. Công lý vẫn còn đó. Chúng ta có đủ lẽ phải, đủ chứng cứ lịch sử nói chuyện với họ, rồi họ cũng phải biết theo lẽ phải chứ?

….

    Đã có những người lính trẻ xong việc, rời tháp bia, đi xục xạo quanh đảo. Đại tá Đăng liền đứng lên đi lại chỗ đổ bê tông tháp bia. Chỉ còn những công việc cuối cùng. Người dừng bay xoa chỗ đỉnh tháp, nơi khuôn gỗ còn để trống để đổ nhưng xô bê tông cuối cùng. Người thu vét hồ dư dồn xuống hố chân tháp bia. Người san cát san hô lấp đầy chân tháp bia tạo ra quanh chân tháp một khoảng bằng phẳng, sạch sẽ. Chợt nhận ra trong con gió biển hoang sơ thoang thoảng mùi thom cơm nếp, Đại tá Đăng đưa mắt nhìn quanh và nhận ra sau gờ cát san hô nổi cao, dưới lõm thấp khuất gió, một ngọn khói mỏng bay lên và Vũ Như Hưng, chiến sĩ công vụ lữ đoàn đang lúi húi ở đó. Khá lắm, công việc vừa xong thì nồi cơm nếp cũng vừa chín, ông Đăng đi lại chỗ chiến sĩ công vụ Hưng. Chiếc xoong quân dụng đặt trên ba hòn đá san hô. Những đầu củi đã tắt lửa nhưng đống than dưới xoong vẫn chờn vờn sắc hồng, chốc chốc lại đỏ rực lên vì ngọn gió biển thốc đến. Từ đó, những sợi khói mỏng manh vừa bay lên đã tan ngay trong gió. Hưng ngồi trên bó củi khô mang từ tàu vào, mở vung xoong sêu mấy hạt cơm trên đầu đũa ăn thử. Ông Đăng bảo anh chiến sĩ:

    - Ngửi mùi thơm cũng biết nồi cơm nếp rất ngon! Gió thế này mà nấu được nồi cơm nếp dẻo, chín đều, cậu giỏi đấy! Chúng ta sẽ có một cái Tết ông Táo không thể nào quên ở đảo Chim. Nào, xới cơm ra đi!

    Hưng đứng lên, bắc xoong cơm nếp xuống, đặt xoong khác lên, đổ can nước ngọt vào, đun xoong nước sôi ông Đăng trở lại tháp bia mở bòng ni lông lấy lá cờ vải lồng cán tầm vông và cắm lá cờ cạnh tháp bia chủ quyền vừa đổ bê tông xong. Chiến sĩ công vụ Hưng trải tấm ni lông trước tháp bia chủ quyền và đặt lên một khay nhôm đầy lùm cơm nếp. Anh lại xúc cát san hô vào một vỏ lon thịt hộp, đặt trước khay cơm nếp. Ông Đăng lấy từ trong bòng ra bó nhang thơm, bật lửa đốt cả bó nhang. Những người lính trẻ tự về quây quần trước tháp bia. Ông Đăng chia cho mỗi người lính một cây nhang cháy đỏ. Mặt trời dội lửa ngay trên đỉnh đầu. Trong nắng chói chang, không thể nhìn thấy những chấm nhang cháy đỏ nhưng mùi nhang ngan ngát thì cứ bền bỉ quấn quít trong ngọn gió biển hoang sơ. Đứng giữa những ngươi lính trẻ, ông Đăng cầm ba cây nhang, hướng vào bia chủ quyền, vái ba vái và nói to:

    - Tổ quốc Việt Nam giao cho những người lính chúng tôi ra đây nhận đất nhận biển của cha ông giao lại. Ngày thiêng ông Táo về Trời, chúng tôi nhóm bếp lửa thiêng mời ông Táo đảo Chim chứng giám việc chúng tôi dựng lá cờ Việt Nam trên mảnh đất của tổ tiên Việt Nam.  Những người lính Việt Nam thành kính kính báo.

    Ông Đăng lại vái ba vái rồi cắm nhang vào cát san hô trong lon thịt hộp. Những người lính trẻ làm theo ông Đăng. Những nén nhang nghi ngút khói cắm đầy trong lon thịt hộp. Cây tầm vông thẳng tắp, cao vút nâng lá cờ cao vượt trên tháp bia, phần phật trải rộng theo chiều gió, màu đỏ cháy rực lên trong nắng. Mùi thơm từ khay cơm nếp còn nóng hổi và mùi nhang trầm như từ trong xa thẳm thoảng đến. Đợi cho những cây nhang cháy gần đến chân, ông Đăng vái tạ.

    Hưng mang khay cơm nếp đặt ra chỗ rộng rãi và đưa bịch ruốc bông ra. Lính trẻ chạy ào ra mép nước rửa tay trong nước biển rồi ào ào chạy về xúm quanh khay cơm nếp. Một tay nắm cơm nếp, một tay dúm ruốc bông, những người lính trẻ ăn ngon lành bữa cơm Tết ông Táo ở đảo Chim. Hưng chỉ mang vào đảo một cái bát và đôi đũa duy nhất cho ông Đăng. Anh đưa bát cơm nếp lèn đầy ruốc bông cho ông đại tá già. Ông Đăng cầm bát cơm đổ lại vào khay và cũng dùng tay bốc com ăn như những người lính trẻ. Cơm nếp nấu khéo ăn với ruốc bông, ngon quá! Dù ngon miệng ông Đăng chỉ ăn khoảng lưng bát rồi ngồi nhìn những người lính trẻ ăn ngon lành.

    Thấy ông Đăng ra mép nước rửa tay, Hưng vội bỏ nắm com đang ăn dở, chạy ra chỗ xoong nước sôi, lấy ca múc nước sôi rót vào bi đông đã có sẵn chè Thái Nguyên. Ông Đăng đến bên Hưng, cầm bi đông nước. Đinh lại mang bát ăn cơm của ông Đăng đi rủa rồi đưa bát cho ông Đăng rót nước. Đám lính trẻ giải quyết gọn ghẽ xoong cơm nếp và bịch ruốc bông thì ông Đăng đưa bi đông nước cho họ.
Logged

Nhờ trời! Không yêu cầu cũng được ra
baogt
Thành viên
*
Bài viết: 771



« Trả lời #35 vào lúc: 05 Tháng Tư, 2009, 04:39:24 pm »

     Hai mươi năm sống ở miền Bắc, ông Đăng đã quen với vị trà Thái Nguyên. Trở về miền Nam cuộc sống của ông cũng không thể thiếu được cái vị chát se đầu lưỡi, cái vị thơm và vị ngọt như không có thật mà cứ còn mãi trong cảm giác. Ngồi trên cát san hô bên tháp bia chủ quyền vừa dựng lên trên đảo Chim giữa sóng gió Trường Sa càng nhận ra rất rõ vị ngọt, vị thơm của lá trà đất rừng Thái Nguyên.

    Cái tết ông Táo ra đảo Chim dựng bia chủ quyền, cơm nếp ăn bốc, pha trà bằng bi đông và uống trà bằng bát ấy mới cách đây hơn ba tháng. Thế mà cái khối bê tông bia chìm sâu trong cát san hô và nặng hàng tấn ấy bây giờ không còn nữa!

    Con tàu chạy vòng quanh đảo Chim và dừng lại thả neo ở nam đảo. Chiến sĩ quân báo Lê Văn Sinh và chiến sĩ công vụ Vũ Như Hưng nhanh nhẹn thả chiếc xuồng cao su xuống biển và nhảy xuống theo. Giữ cho chiếc xuồng ổn định trên sóng rồi hai người lính trẻ đưa tay đón lữ đoàn trưởng Cao Ánh Đăng và tham mưu trưởng quân chủng Bùi Ủy bước xuống xuồng. Còn cách đảo vài thân xuồng đại tá Đăng đã nhảy ào xuống thềm nước nông, xăm xăm lội vào đảo. Sinh và Hưng bám liền sau ông.

     Chim biển bị đập chết ngổn ngang. Có con chưa chết hẳn, cứ phành phạch vỗ cánh cố lết trên cát. Đại tá Đăng đưa mắt tìm kiếm bia chủ quyền và lá cờ. Mặt đảo trống trơ. Giữa đảo,  không còn ngọn tháp nhô cao. Chỉ thấy từ chỗ đặt bia, một vệt cát bị cày lên, kéo dài đến tận mép nước. Theo dấu vết để lại thì tháp bia chủ quyền đã bị kéo ra đẩy xuống đáy biển rồi! Để kéo được khối bê tông lớn có móng bám sâu trong cát, chỉ mấy người đang xục xạo trên đảo kia không làm được! Họ phải dùng cả động cơ con tàu để lôi bằng được tháp bia chủ quyền của ta xuống biển! Mé đảo phía bên kia, tốp người đột nhập đứng nhìn về phía ông Đăng. Thấy ông Đăng phăm phăm đi về phía họ, họ liền vội vã chạy ra chỗ cột xuồng. Chiếc xuồng rồ máy, chở tốp đông người chạy ra tàu của họ. Còn lại hai người xách mấy con chim biển đi đến chiếc xuồng gỗ. Người đội mũ rộng vành, mặc áo thun sọc ngang trèo lên xuồng nhưng người đầu trần, mặc chiếc sơ mi trắng lốp ném mấy con chim vào xuồng lại quay lại lượm thêm mấy con chim nữa.

    Những lần trước bắt gặp người nước ngoài đột nhập lên các đảo của ta, đại tá Đăng đều lệnh cho tiểu đội lính đặc công nước to khỏe mang súng AK kiên quyết giữ họ lại và dẫn họ đến gặp ông. Bằng vốn tiếng Hoa có được từ thời được sang học ở Trạm Giang, Trung Quốc, ông nói chuyện với họ. Thật lạ, những người đột nhập lên đảo của ta, dù tự nhận là người Malaysia hay người Philippin nhưng họ đều hiểu được thứ tiếng Hoa còn sót lại trong trí nhớ của ông Đăng sau mấy chục năm trời không sử dụng. Ông Đăng nghiêm khắc nhắc nhở họ rằng đây là lãnh thổ Việt Nam, họ không được tự tiện xâm phạm rồi ông yêu cầu họ phải rời đảo ngay. Đổ người lên đảo vẫn là loại tàu đánh cá nhưng con tàu lần này khá đồ sộ. Những người đổ bộ lên đảo không phải chỉ toàn người trẻ như những lần trước mà có cả mấy người lớn tuổi và họ đã lên xuồng máy ra tàu của họ rồi. Hai người trẻ trên chiếc xuồng gỗ vẫn đang thong thả đẩy mái chèo. Người mặc áo sơ mi trắng lốp còn giơ mái chèo lên cao vẫy bốn người trên đảo như gửi lời chào tạm biệt.

    Ông Đăng đi lại chỗ đặt bia chủ quyền. Một rãnh rộng kéo dài từ chỗ đặt bia ra mép nước. Chỗ Hưng nhóm bếp nấu xoong cơm nếp, vẫn còn ba khối đá san hô ám khói đen lăn lóc. Vài cái chân nhang đỏ bầm như vết máu tươi vảy trên cát trắng. Trên cát san hô trắng loá những cụm chân nhang như những giọt máu tươi vừa đổ ra đang thấm nhanh vào cát. Ông Đăng cúi xuống cầm một nắm chân nhang và đi theo rãnh cát ra mép nước. Sinh và Hưng đã đứng ở đó. Họ chỉ cho ông Đăng thấy tháp bia chủ quyên còn cả khuôn đổ bê tông chưa kịp dỡ nằm dưới đáy thềm nước nông, trên nền san hô rục rỡ. Khối bê tông nặng vài tấn thì nằm đáy biển còn lá cờ vải với cán tầm vông dài thì ở đâu? ông Đăng lại bùi ngùi tiếc lá cờ có đường chỉ của con gái ông.

     Lá cờ mua ngoài cửa hàng được may để lồng vào cán sắt nên chỗ lồng cán cờ rất hẹp. Cán cờ sắt nhỏ xíu cắm vào vụn san hô lổn nhổn không thể đứng vững. Cây sắt nhỏ cán cờ cũng không thể dài! Hơn nữa sắt cắm vào vụn san hô no muối biển sẽ bị muối biển gặm đứt ngay. Ông Đăng phải tìm cây tầm vông dài làm cán cờ và phải đưa lá cờ về nhà nhờ vợ may lại chỗ lồng cán. Trước hôm tàu nhổ neo ra đảo, túi bụi với công việc, mãi khuya ông Đăng mới về nhà thì vợ con đã đi ngủ. Vợ bỏ quê Ninh Bình, bỏ cả công việc kế toán ở sở giáo dục Ninh Bình vào quê chồng. Xa quê. xa bà con họ hàng, đời sống tinh cảm chỉ còn trông vào bên chồng thì ngày tết chồng lại bỏ nhà ra biển! Thương vợ con, ông Đăng tìm kim chỉ định tự may lại cán cờ. Tìm thấy kiến chỉ nhưng nghiêng ngó mãi ông vẫn không luồn được chỉ vào kim thì vợ và con gái thức dậy. Đứa con gái lớn sinh ở Ninh Bình đã có gia đình riêng ở Nha Trang. Đứa con gái nhỏ sinh ở Nha Trang đang học đại học thủy sản ở ngay Nha Trang nên ngoài giờ học đều có mặt ở nhà với mẹ. Đứa con gái nhỏ đã tháo chỉ và khâu đường chỉ mới để ông lồng được cây tầm vông vào cán cờ và lá cờ đã bay cao trên tháp bia chủ quyền.

    Cây cờ bị ném xuống biển thì tầm vông khô sẽ nổi trên ngọn sóng và lá cờ có đường chỉ của đứa con gái nhỏ bây giờ đang trôi dạt trên biển! Cứ thế này rồi chúng ta sẽ phải đến đây đặt bia chủ quyền lần thứ tư, lần thứ năm, lần thứ bao nhiêu nữa? Nếu lần sau đến đây mà những người nước ngoài đã đứng đầy trên đảo với lá cờ của họ, với tháp bia chủ quyền của họ, với súng lớn súng nhỏ tua tửa thì sẽ ra sao? Tham mưu trưởng quân chủng, đại tá Bùi Ủy đi đến, ông  Đăng liền chỉ cho đại tá Ủy thấy tháp bia chủ quyền nằm dưới đáy nước nông và nói:

     - Tình hình này, phải đưa quân lên giữ đảo Chim thôi, anh Ủy ạ!

     Đại tá Ủy nhẹ nhẹ gật đầu:

     - Bộ tư lệnh quân chủng cũng thấy điều đó nhưng mùa bão biển đến nơi rồi. Mấy năm nay bão dữ quá, ở trong đất liền có nhà cửa chắc chắn mà còn tơi tả, nhà sập người mất, huống chi là trên núm cát trần trụi này! Cất được chỗ ở vững chãi ở đây phải hàng tháng trời! Vì thế phải đợi qua mùa bão này đã.

     - Không kịp anh ạ! Tình hình ráo riết lắm rồi! Tôi e rằng sau mùa mưa bão ta mới đưa quân ra đây thì chúng ta chỉ còn biết đứng trên tàu mà nhìn vào đảo thôi chứ không thể vào đảo được nữa đâu...!?

    Đại tá Ủy vẫn gật gật đầu:

     - Lữ đoàn cứ biên thế người cho đảo Chim đi! Tôi sẽ báo cáo bộ tư lệnh tình hình gấp gáp này. Sẽ có quyết định sớm! Vấn đề bây giờ chỉ còn là làm sao để bộ đội mình trụ lại được trên đảo trong bão táp Trường Sa thôi!

    Bỗng Hưng kêu to:

     - Chiếc xuồng bị lật!

    Mọi người nhìn theo hướng nhìn của Hưng và nhận ra chiếc xuồng gỗ nhỏ chở hai người nước ngoài đã bị lật ở chỗ gờ sóng dữ ngoài cùng bãi san hô. Chiếc xuồng bị sóng quăng quật, lúc trồi lên, lúc biến mất rồi bị đánh văng về phía đảo. Chiếc xuồng gỗ tênh hênh trên mặt nước, không còn người nào trong lòng xuồng! Gờ sóng trắng xóa không thấy tăm hơi hai người trên xuồng đâu nữa! Đại tá Ủy hỏi:

     - Còn chiếc xuồng máy nữa?

    Nó được cẩu lên tàu rồi!

    Trên con tàu nước ngoài, người đứng đầy trên mạn tàu nhìn chiếc xuồng bị nạn nhưng không thấy họ làm gì để cứu hai người của họ. Bốn người đứng trên đảo dõi ra chỗ gờ sóng, xăm soi từng đám bọt sóng nhưng không thấy một chấm màu nào khác ngoài màu trắng xóa. Chợt Sinh kêu:

    - Có một người bị sóng cuốn ra tít ngoài xa rồi! Mất rồi! Lại chìm mất rồi! Đó! Lại nổi lên đó!

    Theo hướng tay Sinh chỉ, mọi người đã nhìn thấy một mái tóc đen vật vờ, một mảng áo trắng lõa xõa, lúc nổi lúc chìm phía trong gờ sóng và đang bị cuốn nhanh về phía nam đảo, càng lúc càng xa con tàu nước ngoài nhưng gần lại chiếc tàu của ta. Khoảng biển chỗ đó không sâu, chỉ vài mét nước nhưng rất nguy hiểm. Lính đi biển gọi đó là vùng "nước sôi", nước quẩn theo chiều thẳng đứng có luồng cuộn từ dưới lên, có luồng bị hút từ trên xuống. Dưới đáy là những vỉa san hô lỏm chỏm sắc như cật nứa. Ở đảo Nam Yết có chiến sĩ trẻ mới ra đảo đi xuồng ra câu gần vùng nước sôi không may bị tật xuồng, bị hút ngay vào rốn "nước sôi". Những người bơi giỏi nhất chạy xuồng từ trong đảo ra cũng chỉ dám lượn xuồng tìm kiếm ở vòng ngoài, phía luồng nước cuồn cuộn bị đẩy ra từ vùng "nước sôi". Đến khi tìm thấy, vớt được người lên thì quần áo, da thịt đã bị rạch nát tơi tả. Một tình huống của lương tâm đặt ra với những người đứng trên đảo Chim. Lữ đoàn trưởng Đăng nói với tham mưu trưởng Ủy:

    - Trôi về phía nam thì trên tàu của họ không nhìn thấy được. Đấy họ vẫn đang ngóng cả vào chỗ xuồng bị lật. Nếu có nhìn thấy, họ đuổi theo cũng không kịp vì phải vượt qua gờ sóng dữ rất gay go và mất nhiều thời gian. Chỉ có ta ở đây ra là có thể kịp. Ta có nên ra tay cứu họ không?

    Tham mưu trưởng ủy nhìn Sinh và Đăng, hỏi:

     - Hôm nay sóng dữ quá! Hai đồng chí có thể cứu họ được không?

    Hưng nói:

     - Được ạ! Lính đặc công nước đã ở Trường Sa mấy năm rồi sóng nước này chúng tôi đã quen. Chỉ có điều là bọn này có đáng được cứu không thôi?

    Ông Ủy bảo ông Đăng:

     - Phải cứu họ, anh Đăng ạ! Có thể cứu được thì chúng ta phải cứu. Tất nhiên giữ an toàn cho quân mình vẫn phải trên hết.

    Ông Đăng lệnh cho hai người lính:

    - Hai cậu lên xuồng ra xem có thể cứu được họ thì cố cứu.

    Sinh và Hưng cởi chiếc áo lính hải quân đang mặc định ném xuống gò cát cao thì ông Đăng đưa tay đón. Chiếc xuồng cao su đã đưa họ vào đảo được đẩy xuống nước. Hai người hai mái chèo hối hả quạt nướ'c. Đúng là lính đặc công nước Trường Sa. Sóng ngất ngưởng. Gió ném bọt nước rào rào như mưa. Chiếc xuồng cao su nhẹ tênh lềnh bềnh trên ngọn sóng bị sóng và gió cuốn đi với lực rất lớn, rất khó cưỡng lại. Nhưng chiếc xuồng vẫn gióng hướng thẳng căng, lao vun vút, nhanh chóng rút ngắn khoảng cách giữa chiếc xuồng và người bị nạn.

     Chiếc xuồng Cao su dừng lại. Nhưng mái tóc đen và mảng áo trắng không còn thấy đâu nữa. Sinh rời xuồng lao xuống biển. Dáng người chắc nịch và mái tóc cắt ngắn gần như trọc của Sinh dù nhìn từ xa cũng không thể lẫn với người khác được. Cái đầu gần như trọc lóc nổi lên dập dờn trên sóng. Rồi cái đầu trọc lóc ấy cũng không thấy nữa. Sinh lặn hơi đầu tiên. Một. Hai. Ba. Ông Đăng nhẩm đếm thời gian. Đến giây thứ mười thì ông không đếm nữa. Nhìn mặt nước vắng ngắt, ông Đăng lại nghĩ đến bao nhiêu bất trắc, bao nhiêu đe dọa khôn lường của biển cả. Cá mập Trường Sa cũng thường lượn quanh gờ sóng dữ đón mồi. Vội ra cứu người, họ không  kịp mang phao cá nhân, không kịp mang cả vũ khí thống chọi với cá mập! Trần trụi lao vào sóng gió  Trường Sa thì làm gì có an toàn nhưng vì mạng sống của một đồng loại vẫn phải lao vào. Mặt nước chỗ Sinh lặn xuống vẫn hoang vắng đến lạnh người. Nước cuộn lên sùng sục, trắng xóa. Kia rồi, cái đầu trụi tóc đã nhô lên mặt nước. Ông Đăng thở phào nhẹ nhõm. Hơi lặn của lính đặc công nước từng trải đấy, khá thật! Sinh lại sải tay bơi. Động tác bơi mạnh mẽ, dứt khoát, quyết đoán thế kia là hắn vẫn hoàn toàn làm chủ tình thế. Sinh lại biến mất ở cuối luồng nước quẩn. Trên chiếc xuồng cao su, Hưng cầm mái chèo chống chọi với sức xô đẩy của những con sóng lừng lững, cố ghìm xuồng lại chỗ Sinh đang ngụp lặn để sẵn sàng ứng cứu cho bạn. Sau hai lần lặn, lần thứ ba Sinh vừa lặn nửa hơi liền thấy một thân người nằm ngang nổi bềnh lên mặt nước. Cái đầu trụi tóc của Sinh cũng nhô lên theo. Chiếc xuồng cao su liền áp đến chỗ Sinh thân người bất động được Sinh và Hưng đưa vào xuồng như đưa một khúc gỗ.
Logged

Nhờ trời! Không yêu cầu cũng được ra
baogt
Thành viên
*
Bài viết: 771



« Trả lời #36 vào lúc: 05 Tháng Tư, 2009, 04:41:51 pm »

      Chiếc xuồng lao mạnh vào bãi cát. Sinh vác sấp người bị nạn trên vai, nhảy ào xuống đảo và chạy thình thịch quanh một vòng tròn. Đầu người bị nạn thõng xuống đất, phía sau lưng Sinh. Bỗng từ miệng anh ta, nước ộc ra xối xả. Để cho nước chảy hết, Sinh cúi xuống đặt nhẹ người bị nạn trên cát, cởi phanh chiếc áo trắng của anh ta ra. Anh gắn chặt miệng mình vào miệng người bị nạn và hút mạnh hết hơi lạnh và không khí ngưng đọng trong miệng anh ta. Sau mấy lần ép ngực hít sâu và nhổ ra khá nhiều thứ nước nhầy từ miệng anh ta, Sinh chuyển sang tư thế ngồi quì, hai thân quì hai bên sườn anh ta, người đổ về phía trước, hai bàn tay xoè vừa xoa vừa dồn sức nặng toàn thân lên đôi bàn tay đè mạnh xuống khuôn ngực nở nang nhưng xám ngắt và giá lạnh.

    Động tác của Sinh mạnh mẽ, nhịp nhàng, đều đặn thành thạo và kiên nhẫn. Bỗng Sinh cảm thấy sau một lần nhấn hai bàn tay xuống lồng ngực, làn da giá lạnh dưới tay anh khẽ nảy lên rồi thoi thóp nhịp nhàng lên xuống. Mắt Sinh sáng lên. Không dồn sức ấn xuống lồng ngực  người bị nạn nữa, tay Sinh nhẹ nhàng xoa vỗ khắp cơ thể anh ta. Làn da giá lạnh dưới tay Sinh ấm dần lên. Sinh chăm thú nhìn gương mặt trẻ trung như đang sáng lên, sinh sắc lên. Đôi mắt anh ta đang nhắm nghiền bỗng từ từ hé mở và đôi môi khẽ mấp máy. Sống rồi! Sinh kêu to và ngừng xoa bóp. Anh ngồi phim xuống cát bên cạnh người bị nạn và thở một hơi thật mạnh. Đến lúc được chấm dứt sự gắng súc kéo dài liên tục Sinh mới thấy bải hoải. Sinh cũng thở hào hển nặng nề như người thanh niên vừa từ cõi chết trở về. Ông Đăng đưa cho Sinh chiếc áo của Sinh ông còn vắt trên vai:

     - Mặc áo vào đi kẻo cảm lạnh, Sinh ơi!

    Người bị nạn đã mở to mắt nhìn mấy người đang xúm quanh anh ta. Hưng đắp cho anh ta chiếc áo của Hưng. Bỗng có tiếng còi trầm vang kéo dài từ con tàu nước ngoài. Mọi người càng ngạc nhiên hơn khi thấy lá cờ đỏ sao vàng của Việt Nam tưng bay trên cột cờ cao chính giữa con tàu. Mọi con tàu đi biển đều dành chỗ đó để giương cao lá cũ của tổ quốc mình. Đến khi vào hải phận của nước nào thì chỗ đó phải thay bằng lá cờ nước thủ nhà. Con tàu này vì làm điều phi pháp nên giấu biệt quốc tịch, không dám trương cờ nước mình lên. Bây giờ lá cờ Việt Nam kiêu hãnh bay trên ngọn tháp chính giữa con tàu không quốc tịch.

     Từ trên tàu lại thả xuống biển hai chiếc xuồng máy. Năm, sáu người đứng ngồi lố nhố trong chiếc xuồng máy thứ nhất phóng thẳng vào đảo. Chiếc xuồng thứ hai lao đến chỗ Sinh đã cứu được người của họ.

     Chiếc xuống thứ nhất phóng xích vào bãi cát đảo. Một người trẻ nhanh nhẹn nhảy xuống, bắc tấm ván gỗ từ thành xuồng vào đảo Một người trạc ngoài năm mươi tuổi béo lùn, mái tóc điểm bạc, dáng đường bệ, bước lên tấm ván, đi vào đảo và tiến thẳng đến chỗ mấy người trên đảo. Nhìn gương mặt Á Đông gần gũi của người nước ngoài, ông Đăng đang nhẩm lại vốn từ ngữ tiếng nước ngoài mà ông được học mấy chục năm trước và ông chờ người nước ngoài lên tiếng. Nhưng ông Đăng đã thất vọng vì ông hoàn toàn mù tịt khi người nước ngoài phát ra những âm thanh lạ tai làm ông không hiểu đó là tiếng nói nào và ông chỉ hờ hững nắm bàn tay múp míp khi người nước ngoài chìa tay về phía ông. Người nước ngoài quay sang bắt tay đại tá Bùi Ủy và vẫn những âm thanh ấy nói với ông Ủy. Ông Ủy lên tiếng trả lời rồi hai người trao đổi với nhau thì ông Đăng biết rằng đó là tiếng Anh. Năm 1975 vào tiếp nhận Bộ tư lệnh hải quân của quân đội Sài Gòn, chàng thượng úy hải quân trẻ tuổi Bùi Ủy được làm chủ một tủ sách lớn toàn sách tiếng Anh ma chỉ nhìn lướt qua tranh ảnh hình vẽ trong sách cũng biết đó là sách về binh nghiệp lính biển: biển cả, tàu thuyền, tác chiến trên biển, công sự hầm hố phòng thủ bờ biển... toàn những kiến thức mới mẻ, cần thiết mà thượng úy Bùi Ủy thì mù tịt tiếng Anh. Thượng úy Ủy bèn mò mẫm tự học và anh đã đọc được những quyển sách rất quí kia. Sau này con gái Bùi Ủy học khoa tiếng Anh trường đại học ngoại ngữ, ông đã nhờ con gái uốn nắn cho về phát âm. Khi những người nước ngoài chuyển người bị nạn xuống chiếc xuồng máy đưa ra tàu của họ, ông Ủy liễn quay sang nói với ông Đăng về nội dung đối thoại của ông với người nước ngoài. Rõ ràng những người này ở một nước gần gũi với chúng ta nhưng họ lại dùng tiếng Anh nói rằng họ là một đoàn các nhà khoa học đi khảo sát biển. Họ rất cảm kích trước sự dũng cảm và tấm lòng nhân đạo cao cả của bộ đội Việt Nam đã cứu sống một thủy thủ của họ. Ông Ủy nói rằng người bị nạn đã tỉnh lại đang rất cần được hỗ trợ y tế nhưng ở đây không có thuốc men và cũng không có người biết nghề y. Cần đưa gấp anh ta về tàu chăm sóc.

    Chiếc xuồng chở người bị nạn nổ máy phóng ra biển. Người nước ngoài hết nhìn ông Ủy lại nhìn ông Đăng nói một thôi một hồi. Ông Ủy nói lại với ông Đăng rằng ông ta xin lỗi về việc đám thủy thủ đổ bộ lên đảo. Lâu ngày quanh quẩn trên con tàu nhỏ hẹp, những thủy thủ trẻ nhớ đất liền lên đảo để được chạy nhảy trên mặt đất. Đứng cạnh con người béo tốt, quần áo trau chuốt, trông ông Đăng càng gân guốc, khắc khổ và già nua nhưng cốt cách ông toát lên vẻ  nghiêm khắc, cúng cỏi. Lên đảo chỉ để được chạy nhảy sao lại phải nhọc công lôi cả tháp bia chủ quyền nặng vài tấn của người ta xuống biển? Nghiên cứu biển gì mà thảm sát chim biển, tàn phá đảo như giặc cướp? Chẳng cần lật tẩy sự quanh co của họ nhưng cũng là dịp tốt để ta chỉ cho họ thấy chứng cứ xác đáng chủ quyền của ta với quần đảo. Hơn chục năm làm tư lệnh đơn vị bảo vệ quần đảo Trường Sa đủ thời gian tho ông Đăng có khá đầy đủ tư liệu về lịch sử quần đảo và những tư liệu đó lúc nào cũng có trong chiếc cặp da ông Đăng đeo bên mình. Lấy ra quyển sổ lớn bìa cứng trong cặp. Ông Đăng mở sổ nói với ông Ủy:

     - Anh chỉ cho họ thấy chủ quyền của chúng ta ở quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa đã được chứng minh bằng lịch sử. Đây này, trang 7794 công báo của Cộng hòa Pháp viết: Năm 1470 vua Lê Thánh Tôn cho vẽ bản đồ nước Đại Việt thuở ấy có ghi cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Và đây, ngày 25 tháng bảy năm 1933 Tổng thống nước cộng hòa Pháp đã long trọng tuyên bố quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa thuộc lãnh thổ An Nam trong bán đảo Đông Dương. Rồi năm 1951, trong hội nghị 51 nước, có cả đại diện chính phủ Trung Quốc, kí hiệp ước hoà bình với Nhật Bản ở thành phố San Francisco nước Mĩ, đại diện Việt Nam lúc đó là bộ trưởng ngoại giao của chính phủ Bảo Đại đã long trọng tuyên bố Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam. Tất cả những tuyên bố về chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa ấy đều không có nước nào có ý kiến khác!

     Những điều ông Đăng nói đều được ông Ủy nói lại với người nước ngoài. Người nước ngoài chăm chú nghe rồi nói:

     - Rất tiếc, chúng tôi không được biết những điều đó. Chúng tôi là những nhà khoa học nghiên cứu biển, chỉ quan tâm đến thế giới tự nhiên của biển.

     Vừa nói, người nước ngoài vừa ngóng ra con tàu của họ. Nhận được người rồi muốn chuồn cho nhanh đấy hả? ông Đăng túc giận nhìn vẻ mặt lộ rõ sự sốt ruột của người nước ngoài. Đưa người bị nạn lên tàu rồi, chiếc xuồng máy đang phóng trở lại đảo. Lá cờ Việt Nam cũng không thấy trên con tàu của họ nữa. Nhìn chiếc xuồng máy đã vào gần đến đảo, người nước ngoài lại nói với ông Ủy và ông Đăng với giọng trân trọng:

     - Để tỏ lòng cảm kích của chúng tôi trước tấm lòng nhân hậu, độ lượng của các ông, chúng tôi xin kính tặng các ông một kỉ vật nhỏ.

    Sao? Một món tiền để trả công cứu người chăng? Sòng phẳng nhỉ! Sự sòng phẳng nhất là chấp nhận sự thật lịch sử, chấp nhận dải cát san hô này đã có chủ, đừng nhăm nhe nhòm ngó nữa! ông Đang nhìn ông Ủy, cái nhìn chờ đợi người cán bộ cấp trên lên tiếng. Ông ủy khẽ khàng:

      - Xin lỗi ông, chúng tôi không thể nhận quà của các ông khi chủ quyền của đất nước chúng tôi không được các ông tôn trọng.

     Người nước ngoài vẫn khẩn khoản:

     - Chúng tôi hiểu trước mặt chúng tôi là những người lính đã làm nên chiến thắng được cả thế giới khâm phục nên chúng tôi không dám lấy vật chất ra làm quà tặng. Kỉ vật của chúng tôi thỉ có chút giá trị về tinh thần. Nhưng điều quan trọng là tặng các ông kỉ vật đó là chúng tôi đã ghi nhận điều các ông nói về chủ quyền đối với quần đảo. Kỉ vật đó là lá cờ của các ông cắm trên hòn đảo mà thủy thủ của chúng tôi mang về tàu định giữ làm kỉ niệm một lần đến đảo. Các ông cứu được người của chúng tôi làm cả tàu chúng tôi xúc động và biết ơn, lập túc chúng tôi treo lá cò lên vị trí cao nhất trên tàu và kéo ba hồi còi chào lá cờ cao cả. Đó, chiếc xuồng mang lá cờ đang trở lại đảo đó. Chúng tôi xin trao lại các ông lá cờ như lời xin lỗi và sửa sai của thúng tôi.

     Nghe nhắc đến lá cờ, ông Đăng mừng quá vội chạy ra mép nước nơi chiếc xuồng sẽ dạt vào. Ông Ủy và người nước ngoài cũng đến đón chiếc xuồng. Người nước ngoài đón hộp giấy trên tay một người bước từ xuồng lên. Ông nâng chiếc hộp trên hai tay trao cho ông Ủy. Chuyển chiếc hộp cho ông Đăng. Ông Ủy nắm chặt tay người nước ngoài hồi lâu.

      Ông Đăng mở hộp lấy lá cờ ra và nhận ra ngay đường chỉ của con gái may chỗ lồng cán cờ. Ông Đăng lại nhớ đêm ấy mãi khuya ông mới về đến nhà. Con gái đang ngủ phải thức dậy may lại lá cờ và cái tết trong hòa bình mọi nhà đều đoàn tụ ấy nhưng vọ con ông ăn tết ở quê chồng, quê cha mà không có chồng..không có cha. Ông đã bỏ mặc ba mẹ con tự lo liệu, tự tổ chức lấy cái tết còn ông mang lá cờ ra Trường Sa. Nước mắt ông tụ nhiên ứa ra. Ông Đăng đưa lá cờ lên mặt như hôn lá cờ nhưng thực ra lấy lá cờ kín đáo thấm dòng nước mắt trào ra, kín đáo giấu đi sự mềm yếu, hay mủi lòng, dấu hiệu của tuổi già. May quá, người nước ngoài đang bắt tay và sôi nổi nói lời từ biệt ông Ủy và mọi người đều xúm quanh đó nên không ai thấy những giọt nước mắt của ông Đăng.

     Ông Đăng không biết rằng Lê Văn Sinh đã thấy tất cả. Lá cờ không làm anh xúc động bao nhiêu nhưng giọt nước mắt của người lính già cứ làm anh bùi ngùi. Anh đến bên ông Đăng. ông Đăng vòng tay ghì chặt vai Sinh vào ngực mình. Khá lắm, chính cậu đã giành lại lá cờ này đấy, Sinh ạ!

     Trên cát san hô sát mép nước, một con chim trắng lớn gần bằng con ngỗng bị đánh chưa chết hẳn, cứ đập cánh lết đi một đoạn lại nằm dính xuống cát há mồm thở. Lông chim rải dày trên đảo. Mỗi đợt gió mạnh lại cuốn lông chim tung lên trời mù mịt như bão tuyết, như mây mù che kín đảo. Sinh cúi xuống, hai tay nâng con chim bị thương lên như nâng một đứa bé. Con chim vùng vẫy quyết hệt, tuột khỏi tay Sinh, rơi bịch xuống cát, không lết đi được nữa, nó cố đập đôi cánh để cất mình lên nhưng không còn nhấc nổi đôi cánh nữa.

     Re...éc! Re... éc! Trên trời, đàn chim tiếp tục rời đảo bay đi, đánh rơi tiếng kêu khắc khoải xuống ngọn sóng đang lúc biển động. ông Đăng và Sinh cùng ngửa mặt nhìn đàn chim rồi ông Đăng đưa mắt tìm kiếm khắp đảo. Kia rồi, đoạn tre buộc chiếc áo sọc cắm giữa đảo. Ông Đăng đi đến rứt chiếc áo sọc ném đi, lồng lá cờ vào cây tre và cắm cây cờ vào đụn cát cao bên cạnh hố sâu của móng tháp bia chủ quyền để lại. Ông lại ngửa mặt nhìn trời. Đàm chim vẫn đang xao xác bay đi. Phía trên đàn chim là mặt trời xế trưa đang chói chang nắng.
Logged

Nhờ trời! Không yêu cầu cũng được ra
Trang: « 1 2 3 4   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM