Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:59:20 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chiến tranh Việt Nam là thế đó 1965 - 1973  (Đọc 146344 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #30 vào lúc: 14 Tháng Ba, 2009, 08:43:02 am »

Đặc biệt cần kể về chuyến đi đến thành phố Nam Định. Chúng tôi khởi hành từ Hà Nội ngày 27-3-1967, đi trên 2 chiếc ôtô, có đội bảo vệ đi theo. Thật ra xe đã phải chạy suốt đêm, mặc dù quãng đường đến Nam Định chưa đến 100 km. Theo lộ trình, chúng tôi phải đi qua thị xã Phủ Lý. Chung quanh khu vực này có các khẩu đội pháo cao xạ bảo vệ bầu trời Hà Nội. Cho nên Mỹ đã ném bom đặc biệt tàn khốc khu vực này. Nhật ký ghi như sau: "Phủ Lý là địa danh Liđixe (tên một thành phố bị tàn phá khủng khiếp trong Chiến tranh thế giới thứ hai - BT.) ở Việt Nam. Hiện nay trong thị xã này không còn một bóng người. Mọi nhà cửa đã bị phá huỷ. Tất cả dân cư đã rời khỏi thị xã. Anh tài xế trên xe chúng tôi kể rằng Mỹ đã ném bom Phủ Lý suốt mấy ngày liền".

Chúng tôi không được phép đi ngang qua thị xã Phủ Lý, vì theo lời của các chiến sĩ bảo vệ chúng tôi thì tất cả các cây cầu trong thị xã này đều đã bị phá hủy và đi qua thị trấn ấy vào ban đêm là không an toàn. Khi xe chúng tôi đến gần Phủ Lý thì chúng tôi bị kẹt trong cuộc tập kích dữ dội. Sự việc xảy ra như sau: Chúng tôi đi trên con đường nham nhở hố bom, nắm chặt vào tay vịn trên xe và bám chắc vào nhau để không văng ra khỏi xe. Cả lúc này, cả trong những lần sau đó đến Việt Nam trong thời chiến, tôi đều rất ngạc nhiên trước tài năng của các chiến sĩ lái xe Việt Nam. Họ có thể lái xe trong bóng tối của đêm miền nhiệt đới, với ánh sáng tối thiểu của một đèn pha - ít khi cả hai đèn sáng - có chụp đèn che kín.

Dọc đường, phía bên dưới các hàng cây, thường lập loè ánh sáng le lói của những con đom đóm. Có người trong phái đoàn nói rằng trong rừng nhiệt đới có nhiều loài côn trùng phát ra ánh sáng. Nhưng trong trường hợp này không phải là những con đom đóm, mà đó là những đội tuần tra thanh niên trực đêm. Họ được trang bị bằng những cây đèn dầu bé nhỏ được làm từ vỏ đạn súng máy cỡ lớn. Những chàng trai và những cô gái đi tuần tra dọc suốt con đường.

Đến gần Phủ Lý họ buộc chúng tôi dừng xe và cho biết không thể đi tiếp vì sắp đến giờ máy bay địch oanh tạc. Ngay lúc ấy chúng tôi nghe thấy tiếng ầm ầm của những chiếc máy bay đang đến gần. Đột nhiên, ngay phía trên đầu chúng tôi vụt sáng lên một quả pháo sáng do máy bay thả xuống. Chắc chắn tôi sẽ không bao giờ quên được thứ ánh sáng trắng bệch, chói lòa làm đau nhức mắt, chỉ muốn lập tức vùi đầu vào nền đường. Cả hai chiếc xe của chúng tôi đã rẽ ngoặt - một cách kỳ lạ, gần như ngay tại chỗ - và lập tức ẩn dưới rặng cây. Các chiến sĩ trong đội tuần tra chộp lấy tay chúng tôi và lôi vào ẩn nấp dưới tán cây.

Ngay vào giờ phút ấy đã mở màn "buổi hòa nhạc" trong đêm. Một cây cầu nhỏ, cách chúng tôi không xa, mà lẽ ra chúng tôi phải vượt qua đó, đã bay tung lên không trung. Đã nghe thấy những tiếng nổ, xa hơn một chút đã xuất hiện những vầng lửa, làm nổi lên đám khói dầy đặc. Bầu trời bừng sáng với những đường đạn bay lên từng loạt, với những loạt rốc két và đạn pháo cao xạ nổ. Đâu đó rất gần đã nghe thấy những mảnh đạn quen thuộc rơi ào ào xuống những ngọn cây quanh chúng tôi. Sau một hồi "buổi hòa nhạc" kết thúc. Trở lại im lặng hoàn toàn. Sự im lặng ấy đặc biệt thật nặng nề trong bóng tối mù mịt. Phải một lúc sau, sau những ánh sáng chói loá, những con mắt mới lại nhận biết trong bóng tối.

Sau đó chúng tôi lại lên đường, vòng phía sau Phủ Lý. Con đường chạy ngoằn ngoèo trên một địa hình bằng phẳng. Lần đầu tiên tôi đi trên một con đường như thế, và dĩ nhiên, tôi ngạc nhiên nhìn vào những hàng cây hùng dũng được trồng ven đường. Đó là những cây bạch đàn. Có thể giấu cả đàn trâu dưới tán lá một số cây bạch đàn ấy. Chúng tôi đi được chừng 30-40 km tôi thì mải suy nghĩ về bức tranh hòa bình, tôi ngước nhìn lên bầu trời tối đen về đêm và trông thấy vầng trăng đỏ như bị nung chảy. Trên cánh đồng lúa chạy dọc con đường là nhũng con đom đóm bay lập loè ánh sáng xanh lam hoặc ánh sáng xanh. ánh sáng của những chiếc đèn pha được che đậy thỉnh thoảng lại làm lộ rõ trong bóng đêm những tốp thanh niên đứng bên đường, hoặc bóng một cô thôn nữ trở về nhà sau một ngày lao động, hoặc một con trâu. Tất cả đều tạo thành bức tranh yên bình và hòa bình, tựa hồ như chưa diễn ra cuộc bắn phá vừa rồi, tựa hồ như chưa xảy ra những cuộc bắn phá của máy bay và đạn pháo của Mỹ trên mảnh đất yên lành này.

Tôi bừng tỉnh khỏi trạng thái yên bình ấy khi nghe thấy giọng nói khe khẽ của người lái xe. Hình như anh ta cũng đang suy nghĩ điều gì đó rồi nhìn lên vầng trăng, nói to:

- Ngày trước các cụ già của chúng tôi thường nói: gấu ăn trăng và coi đây là điềm xấu. Khi tôi hỏi điều đó có nghĩa là gì thì người lái xe trả lời rằng có thể thời tiết sẽ xấu hoặc sẽ xảy ra điều bất hạnh. Các cụ bô lão đã giải thích như vậy.

Câu chuyện ấy đưa tôi trở lại hiện tại. Tôi nghĩ, họ làm tất cả những cái đó để làm gì? Vì điều gì mà ngày mai phi công Mỹ phải bay đến nơi này và ném bom xuống mảnh đất xa lạ đối với người phi công ấy, một mảnh đất đang đem lại nước uống và thức ăn cho một dân tộc tốt bụng, dũng cảm và yêu chuộng hòa bình? Vì sao mà các em bé hiện đang đứng bên đường và tò mò nhìn theo xe của chúng tôi, nhưng ngày mai chúng sẽ lại phải ẩn nấp trong hầm trú ẩn khi có báo động? Vì sao và trên cơ sở luật pháp nào mà tên phi công Mỹ ấy lại có thể cướp đi tuổi thơ và cuộc sống của các em đó?
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #31 vào lúc: 14 Tháng Ba, 2009, 08:43:45 am »

Chúng tôi đã bắt đầu thấm mệt, trong xe mọi người không còn chuyện trò nữa. Khi đến gần Nam Định, một đồng chí Việt Nam ngồi cạnh tôi hỏi xem trước kia tôi đã có lần nào đến thành phố này chưa? Tôi trả lời rằng đã đến đó vài lần, đã đến thăm Nhà máy dệt Nam Định nổi tiếng trên toàn Việt Nam. Đáp lại, đồng chí ấy bảo: Vậy thì anh đã biết khách sạn lớn của thành phố này. Khách sạn này được xây dựng từ những năm 30 của thế kỷ XX. Chúng ta sẽ nghỉ tại đó, tắm rửa, ăn sáng và sẽ nghỉ ngơi. Sau bữa trưa chúng ta sẽ tham quan nhà máy dệt.

Tôi nhớ lại khách sạn cổ duy nhất và khá tiện nghi của thành phố này. Quả thật ở khách sạn này có thể nghỉ ngơi tốt. 
Đến rạng sáng chúng tôi tới thành phố Nam Định. Chỉ còn cách thành phố ấy khoảng 3 - 5 km thì bỗng nhiên nghe thấy còi báo động rú lên và một đội tuần tra của thanh niên bước ra từ bụi cây và dừng xe chúng tôi lại. Trong khoảnh khắc xe của chúng tôi đã ngoặt vào bóng cây chúng tôi được đưa đến một căn nhà tranh tuềnh toàng. Đấy là nhà khách địa phương ở nơi sơ tán. Bên trong là một căn phòng lớn có chiếc bàn lớn đặt ở giữa. Dọc theo tường là những chiếc giường được sắp đặt gọn gàng.

Bất giác tôi muốn trở lại những dòng nhật ký cũ. Những dòng ấy ghi như sau: "... tôi viết những dòng này nhờ ánh sáng đèn dầu của nhà khách ở nơi sơ tán. Nhà khách này tọa lạc trong một hợp tác xã nông nghiệp". Chúng tôi đã ngạc nhiên không ít khi nhìn thấy dưới bàn có một đường hào khá sâu. Có thể đi theo cái hào ấy để nhanh chóng rút ra khỏi đó và chạy đến một hầm trú ẩn cách đó không xa.

Nhân thể xin nói thêm rằng cả phía bên dưới chiếc giường mà người ta dành cho tôi để nghỉ ngơi cũng có một cái hầm cá nhân. (Theo lời của người cán bộ đại diện cho tỉnh ủy đón tiếp chúng tôi thì một người phải mất nửa ngày mới đào xong chiếc hầm cá nhân có ống thông hơi. Nói cách khác, trong một ngày lao động một người có thể đào được hai cái hầm trú ẩn cá nhân. Theo lời người cán bộ ấy, năm 1966 đã có hơn 100 héc ta được dùng vào các công trình quốc phòng. Việc đó được thực hiện trong điều kiện diện tích ruộng đất cày cấy rất có hạn ở Việt Nam Dân chủ Cộng hòa!) Chung quanh nhà khách ngẫu nhiên ấy của chúng tôi có những cây anh đào Nhật Bản, với thân cây mảnh mai vươn lên cao. Mùi hương thoang thoảng của hoa anh đào gợi cho tôi nhớ đến ngôi nhà của chúng tôi ở Xibiri. Tại đó hồi còn thơ ấu tôi đã cùng mẹ tôi trồng vài bụi tử đinh hương.

Khi chúng tôi ngồi vào bàn ăn, mỗi người đều được phát một hộp nhỏ chứa những thức ăn đơn giản - gà rán, khoai tây luộc cả vỏ và mấy quả trứng. Giống như thể chúng tôi đang ngồi không phải cạnh thành phố bị tàn phá, đến đó thật nguy hiểm, mà giống như là một cuộc du ngoạn dã ngoại ra ngoại thành. Nhưng chúng tôi không muốn ngồi lỳ trong căn nhà tranh ấy. Chúng tôi bước ra ngoài, bất chấp những lời can ngăn của các vị chủ nhà và ngồi dưới tán lá cây quan sát cuộc oanh tạc của không quân Mỹ vào thành phố này (về sau người ta cho chúng tôi biết rằng đến thời điểm ấy thành phố Nam Định đã bị đánh phá 68 lần và gần một nửa thành phố này đã bị phá huỷ. Còn các công trình thuỷ lợi của tỉnh Nam Định thì bị đánh phá gần 170 lần).

Khi quan sát cuộc bắn phá, tôi bỗng nhớ lại cuộc trò chuyện trước đó không lâu tại Hà Nội rằng Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đề ra những biện pháp bảo vệ sức khoẻ của bà mẹ và trẻ sơ sinh. Báo "Nhân Dân" số ra ngày 5-3-1967 đã đăng tin cho biết tỉnh Quảng Bình đã được ủy ban bảo vệ sức khoẻ bà mẹ và trẻ sơ sinh Trung ương thưởng Cờ đỏ luân lưu và bằng khen về hoạt động tốt trong lĩnh vực này. Vâng... tình hình là như thế đó. Có những người tìm mọi cách tiêu diệt cuộc sống, nhưng có những người khác lại tìm cách bảo vệ và duy trì cuộc sống.

Cuộc oanh tạc thành phố Nam Định đã nhanh chóng kết thúc. Máy bay Mỹ đã bay đi. Thế là chúng tôi lại lên xe và đi tiếp. Dưới ánh sáng ban ngày, những khuôn mặt của các đồng chí Việt Nam tháp tùng chúng tôi như thể được tạc từ loại cẩm thạch xám, không còn những dấu vết của những nụ cười ngày hôm qua. Họ chỉ nhìn vào con đường, và có cảm giác là họ không nhìn thấy chúng tôi. Tâm trạng của chúng tôi cũng u sầu hết chỗ nói.

Chúng tôi vào thành phố giữa làn khói. Chung quanh hai bên đường các ngôi nhà vẫn cháy, đâu đâu cũng nghe thấy những tiếng la hét và nước mắt. Về sau chúng tôi được biết là do cuộc oanh tạc xảy ra vào sáng sớm, khi mọi người sửa soạn đến nơi làm việc, cho nên có nhiều thương vong. Khi chúng tôi tới gần nhà khách thì thật ra chúng tôi chỉ thấy đống đổ nát - khách sạn ấy đã bị phá huỷ nghiêm trọng. Anh bạn Việt Nam mới hồi tối hôm trước còn mơ mộng nói đến khả năng chúng tôi nghỉ tại khách sạn ấy thì nay đã bước ra khỏi xe, lánh sang một bên và hoàn toàn im lặng hồi lâu. Anh bạn ấy nghĩ gì thì chỉ có Thượng đế mới biết. Nhưng khi quay trở lại xe, anh ấy đã trở nên già đi rõ rệt.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #32 vào lúc: 14 Tháng Ba, 2009, 08:44:26 am »

Chúng tôi được đưa đến một nhà khách khác. Tại đó chúng tôi nghỉ ngơi chút ít và ăn sáng. Sau đấy theo chương trình, chúng tôi đến thăm Nhà máy dệt Nam Định. Đến đây tôi lại muốn trở lại một đoạn viết tay trong nhật ký. Đoạn nhật ký này có đầu đề "Bông màu đen" và được tôi ghi lại mấy ngày sau khi thực hiện chuyến đi nêu trên: "Trên tay tôi là một vốc những sợi bông bị cháy sém. Tôi không biết nó được chở từ đâu đến nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - từ Liên Xô hay là từ Cộng hòa Ảrập thống nhất. Vả lại, đó không phải là điều chủ yếu. Điều quan trọng là những sợi bông ấy được sản xuất ra bởi những bàn tay cần cù của người nông dân và được các thuỷ thủ Liên Xô chở tới hoặc được một con tầu của nước khác chở tới để những người thợ dệt Việt Nam có thể cung cấp cho nhân dân nước mình những thước vải đẹp.

Nhưng lần này những thợ dệt đang thận trọng lựa chọn những đống bông đã cháy sém còn đang nóng bỏng. Họ gỡ những sợi bông đã cháy sém và cố cứu vãn phần còn lại của kiện bông. Họ chẳng cần có thêm ánh sáng, ánh sáng như vậy đã đủ ánh sáng đến từ nguồn sáng chung - mặt trời, ánh sáng ấy đã dễ dàng xuyên qua những mái nhà bị phá huỷ để chiếu rọi cho họ. Những phần mái nhà còn sót lại nằm vương vãi trên sàn nhà, đôi chỗ những mảnh mái nhà ấy đã che đỡ cho những đường hào được đào ngay giữa phân xưởng.

Tưởng chừng như phân xưởng bị phá huỷ và trơ trọi ấy, với những chiếc cột cô quạnh của mình, đã cầu xin mọi người hãy giúp nó che đậy sự trơ trọi của nó. Thế nhưng những người nữ công nhân ngồi quanh những kiện bông lớn đã bị cháy sém thì tuồng như họ không cảm nhận thấy những sự bất tiện ấy và hồ hởi làm việc bằng đôi tay của mình". Tuy nhiên, tại nhà máy dệt này, cũng như ở khắp nơi tại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, giờ đây phần lớn công nhân là phụ nữ. Đã có nhiều bài viết về chủ nghĩa anh hùng của họ. Tuy vậy, tại đây, tại nhà máy này tôi lại nghĩ suy về gánh nặng to lớn mà chiến tranh đã trút lên những bờ vai mảnh mai ấy. Thật ra, đã có lần tôi thử kiểm tra độ bền của những đôi vai ấy, khi tôi quẩy trên vai chiếc đòn gánh với hai thúng lúa. Ối chao ôi? Quả thật rất bất tiện. Nhưng tôi phải công nhận rằng tôi đã không thể di chuyển một cách dễ dàng và uyển chuyển với tải trọng nặng gần 60 kg như một phụ nữ có tuổi đã làm, người mà tôi đã yêu cầu để tôi gánh hộ.

Song điều tôi muốn nói lại hoàn toàn không phải như vậy. Kiện bông bị cháy sém đã làm trỗi dậy trong tôi những ký ức hoàn toàn khác. Trước mắt tôi là những phân xưởng bị phá huỷ của Nhà máy dệt Nam Định, nơi đã lộ ra bầu trời xám xịt ảm đạm được chiếu rọi qua những mái nhà bị tàn phá. Nhân thể xin nói, nếu bầu trời xanh thì có nghĩa là hãy chuẩn bị chờ đợi sự có mặt của những vị khách không mời...

Không lâu trước ngày chúng tôi đến thăm thành phố Nam Định, tại trung tâm thành phố này đã dựng đài tưởng niệm những nạn nhân của khu tập thể công nhân. Chúng tôi đứng cạnh đài tưởng niệm này. Ngước nhìn tấm bia khiêm tốn ấy tôi nghĩ rằng cũng như ngày hôm nay, tại đài tưởng niệm ấy những đóa hoa thể hiện tình thương yêu và quý trọng của nhân dân sẽ đời đời xanh tươi và lấp lánh trong ánh mặt trời nhiệt đới. Nhưng, như dòng nhật ký ngày ấy của tôi đã ghi, tôi không tin chắc rằng sẽ có những bông hoa trên mồ tên phi công Mỹ đã theo mệnh lệnh của các viên tướng của mình đến oanh tạc và ném bom thành phố này. Dĩ nhiên, đã mấy chục năm qua đi từ sau sự kiện ấy, giờ đây tôi đã có những suy nghĩ khác, bình thản hơn. Trong trường hợp này tôi quyết định không đụng vào những dòng ghi trong cuốn nhật ký ngày xưa. Hãy để cho bạn đọc phán xét xem những suy nghĩ của chúng tôi lúc đó có đúng hay không.

Tôi có ấn tượng đặc biệt về chuyến đến thăm một bệnh viện sơ tán ra khỏi thành phố và được đặt dưới lòng đất, cách thành phố Nam Định không xa. Chỉ có vài phòng nhỏ, nếu có thể gọi như vậy về những căn buồng ấy dưới lòng đất. Tại một phòng như thế, dưới ánh sáng của bóng đèn điện phía trên chiếc bàn, đã diễn ra cuộc phẫu thuật. Chúng tôi không vào đó mà chỉ nhìn vào qua tấm phông màu trắng. Ở trong một phòng khác, còn nhỏ hơn, có một ông trung niên, vã mồ hôi, ngồi trên một chiếc xe đạp và guồng pêđan làm quay đinamô phát điện cho phòng mổ. Phái đoàn chúng tôi không thể lưu lại đó lâu được. (sau đó nhiều năm tôi nhớ lại bệnh viện ấy khi tôi có mặt tại khu tam giác thép" Củ Chi cách Sài Gòn không xa. Tại đó tôi đã xuống những ngách hầm địa đạo để xem trước kia các du kích Nam Việt Nam đã sống và chiến đấu như thế nào.)
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #33 vào lúc: 14 Tháng Ba, 2009, 08:45:04 am »

Tôi không thể không dẫn ra đây một đoạn ghi chép nữa trong cuốn nhật ký: "Chu Thị Hoa - cô gái thuộc một gia đình theo đạo Thiên Chúa. Trước kia cô vẫn đều đặn đến nhà thờ và là một giáo dân mẫu mực. Giờ đây cô ấy là chỉ huy phó của đội dân quân, đã nhiều lần tham gia chiến đấu chống không quân Mỹ.

Sau khi trở về Hà Nội chúng tôi được mời tới dự buổi trình diễn văn nghệ. Buổi văn nghệ này diễn ra tại Nhà hát thành phố và giữa những hồi còi báo động phòng không và tiếng máy bay từ xa vọng lại. Nhưng hội trường vẫn đông nghịt người và không một khán giả nào muốn xuống hầm tránh bom ở bên cạnh. Trong cuốn nhật ký có ghi lại một số tiết mục mà tôi thích. Ví dụ, ca khúc hát về người nữ anh hùng dân tộc của Việt Nam Võ Thị Sáu, do nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn sáng tác. "Phải nghe giai điệu của bài hát này mới hình dung được đầy đủ tinh thần bất khuất của người nữ anh hùng, nỗi đau mất mát và lòng khâm phục trước chiến công của người nữ anh hùng ấy". Đã có nhiều bài ca và điệu múa được trình diễn trong buổi văn nghệ ấy. Tất cả những tiết mục ấy đều ngợi ca tinh thần dũng cảm và chủ nghĩa anh hùng của nhân dân trong cuộc đấu tranh chống bọn xâm lược ngoại bang, ca ngợi vẻ đẹp thiên nhiên của Việt Nam.

Buổi biểu diễn văn nghệ hôm ấy phục vụ những đại biểu tham dự hội nghị cán bộ ngành vận tải của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngày 29-3-1967 tờ báo thanh niên "Tiền Phong" đã viết như sau: "Ngày 27-3 đã có hơn 600 đại biểu của đội quân 100 nghìn nam nữ thanh niên công tác trong ngành vận tải về Hà Nội tụ hội để kỷ niệm 36 năm ngày thành lập Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam".) Trong quyển nhật ký có đoạn viết: "Tôi không biết tại sao, nhưng tôi ví buổi biểu diễn văn nghệ ngày hôm nay với cuộc trình diễn lần đầu bản giao hưởng số 7 hoặc số 9 của Sôxtacôvích tại thành phố Lêningrát lúc ấy đang bị bao vây.

Có thể sự so sánh ấy là không đạt cho lắm, nhưng trong lúc diễn ra buổi biểu diễn văn nghệ trong tôi đã xuất hiện một cảm giác đúng là như vậy. Nên nhớ rằng một nửa miền Bắc Việt Nam đã bị phá huỷ một cách căn bản, vẫn đang diễn ra cuộc chiến tranh ác liệt. Vậy mà tại đây, tại Hà Nội, lại đang diễn ra buổi biểu diễn văn nghệ tràn đầy tinh thần lạc quan. Chúng tôi xem vở vũ ba lê của Thuý Quỳnh - phiên bản Việt Nam của vở "Hồ Thiên nga". Sau đó nam ca sĩ nổi tiếng của Việt Nam Trần Hiếu đã hát bài hát Liên Xô mà chúng ta đã quen thuộc "Đất nước tôi bao la" đã có thời được nam ca sĩ Mỹ nổi tiếng Pôn Rốpxơn trình bày. Giai điệu Nga êm đềm ấy đã vang lên dưới bầu trời nhiệt đới của Hà Nội".

Sau đấy lại diễn ra những cuộc hội đàm, thường bị cắt ngang do những cuộc báo động phòng không và do phải xuống hầm trú ẩn. Tiện đây xin nói rằng trong hầm trú ẩn không khí thật nóng bức và ngột ngạt. Vì vậy, tuy có sự phản đối của các đồng chí Việt Nam, chúng tôi vẫn đứng ở cửa hầm thôi. Chúng tôi không nhịn cười được khi thấy anh chàng phóng viên Nhật Bản, với chiếc micrô giơ xa ra phía trước, cứ chạy quanh chiếc hầm trú ẩn để ghi lại toàn bộ "cuộc trình diễn" trận chiến đấu trên bầu trời Hà Nội.

Ngày 30-3-1967 đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã tiếp phái đoàn chúng tôi. Trong cuộc trao đổi với phái đoàn chúng tôi, đồng chí Lê Duẩn cho biết: Báo chí Việt Nam đưa tin rộng rãi về các chuyến viếng thăm của các đoàn Việt Nam sang Liên Xô và các đoàn Liên Xô sang thăm Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đồng chí nói: "Chúng tôi cố gắng làm sao để nhân dân chúng tôi biết rõ về sự giúp đỡ mà Liên Xô dành cho chúng tôi trong cuộc đấu tranh chống cuộc xâm lược của ngoại bang. Hiện nay, khi đất nước chúng tôi đang trải qua thời kỳ rất khó khăn, ở đất nước chúng tôi đã phổ biến rộng rãi các sách báo của Liên Xô kể về cuộc Chiến tranh vệ quốc vĩ đại, về Cách mạng tháng Mười. Chúng tôi giáo dục nhân dân, đặc biệt giáo dục thanh niên, thông qua những truyền thống anh hùng của nhân dân Liên Xô và của các lực lượng vũ trang Liên Xô. Chúng tôi biết rằng trong những năm Chiến tranh vệ quốc, Liên Xô đã chịu những tổn thất lớn lao. Vì vậy chúng tôi nói với nhân dân nước mình rằng nền độc lập của chúng tôi giành được có sự đóng góp, khích lệ bởi những hy sinh và chiến công của nhân dân Liên Xô".

Tôi thiết nghĩ, hồi đó đồng chí Lê Duẩn đã trình bày một suy nghĩ thú vị. Đồng chí nói rằng các sinh viên Việt Nam, khi theo học ở Liên Xô, không những thu nhận kiến thức, mà còn hấp thụ nền văn hóa Xôviết mà họ có nhiệm vụ phải truyền lại cho nhân dân nước mình và qua đó góp phần phát triển các quan hệ văn hóa giữa hai nước chúng ta.

Ngày hôm sau chúng tôi rời Hà Nội. Sau khi trở về Mátxcơva, đã có không những báo cáo chính thức, mà đã diễn ra nhiều cuộc gặp gỡ, nhiều buổi trao đổi kể về cuộc chiến tranh tại Việt Nam, về hoạt động của các chuyên gia quân sự và dân sự Liên Xô ở đó.

Vào những năm tiếp theo đã có nhiều chuyến công tác đến Việt Nam trong thời chiến. Những chuyến công tác ấy đã để lại những kỷ niệm sâu sắc trong ký ức tôi. Tôi sẽ không viết về tất cả những chuyến công tác ấy. Nhưng tôi cần phải kể về một chuyến công tác. Tôi muốn nói về chuyến công tác hồi tháng 9-1969 của phái đoàn Liên Xô, do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô A. N. Côxưghin dẫn đẩu, đến Hà Nội dự tang lễ của người con vĩ đại của dân tộc Việt Nam, một chiến sĩ quốc tế xuất sắc - Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hồi đó các đoàn đại biểu từ khắp thế giới đã đến Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sau này tôi đã không có dịp nào được chứng kiến một sự hội tụ các vị khách cao cấp ngoại quốc đông như vậy. Tôi cũng không có dịp nào được nhìn thấy một sự tập trung đông đảo như thế của dân chúng trong thời gian tang lễ. Tưởng chừng như cả nước đã về Quảng trường Ba Đình lịch sử để vĩnh biệt lãnh tụ của mình. Sau này cũng tại quảng trường này và cũng với một số lượng người rất đông đã tiến hành buổi lễ khánh thành Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Cơ duyên là như vậy đó: tôi cũng có cơ hội chứng kiến tại Hà Nội ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam Việt Nam vào mùa Xuân năm 1975. Nhưng đó là một mùa Xuân khác biệt - mùa Xuân Đại thắng, chiến thắng đó đã thật sự hiện diện trước ngưỡng cửa của mỗi gia đình Việt Nam. Chiến thắng ấy đã rọi ánh sáng rực rỡ lên tất cả những sự kiện trong cuộc sống của chúng tôi ở Hà Nội, trong đó ngày kỷ niệm đầy ý nghĩa đối với quan hệ song phương của hai nước chúng ta - đó là Lễ kỷ niệm 25 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao (tháng 1-1975). Chiến thắng ấy đã đem lại sắc thái đặc biệt, tràn đầy không khí ngày hội cho những sự kiện ấy.

Người Hà Nội yêu mến thành phố của mình (cũng giống như chúng tôi yêu mến thành phố Mátxcơva của chúng tôi). Ngay cả vào thời kỳ ấy, vào thời kỳ chiến tranh gian khổ, người ta đã cố gắng tô điểm cho Hà Nội đẹp hơn và sạch hơn. Đó là lý do tại sao tôi muốn kết thúc những dòng ghi chép về quãng đời của tôi sống ở Hà Nội ngày xưa bằng những câu thơ của nhà thơ trứ danh Tế Hanh được đăng từ lâu lắm trên báo "Nhân Dân".

Hà Nội ơi! Trong trái tim mỗi người chúng ta
Người bừng lên ngọn lửa không bao giờ tắt.

Mátxcơva, năm 2003

Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #34 vào lúc: 14 Tháng Ba, 2009, 08:46:47 am »

ĐẠI TÁ
CÔNXTANTINỐP VLAĐIXLÁP MIKHAILÔVÍCH


Ông sinh ngày 14-11-1939 tại thành phố Upha.

Năm 1958 ông vào học trường Kỹ thuật quân sự mang tên Ăng ghen, thuộc binh chủng phòng không, và tốt nghiệp trường này vào năm 1961. Cuộc đời binh nghiệp của ông được tiếp tục với các chức vụ: kỹ thuật viên trưởng, phó chỉ huy khẩu đội số 1 của tiểu đoàn tên lửa phòng không.

Từ tháng 4-1955 đến tháng 4-1965 ông là sĩ quan điều khiển tên lửa của Tiểu đoàn tên lửa số 63 thuộc Trung đoàn tên lửa phòng không 263 (Trung đoàn đầu tiên) của Quân đội nhân dân Việt Nam. Đã tham gia trận chiến đấu đầu tiên của Tiểu đoàn tên lửa phòng không ở ngoại ô Hà Nội diễn ra vào ngày 24-7-1965.

Sau khi từ Việt Nam trở về nước, ông là sĩ quan chỉ huy khẩu đội số 1 của tiểu đoàn tên lửa phòng không, là học viên của Học viện sĩ quan chỉ huy thuộc binh chủng phòng không mang tên Giucốp ở Calinin. Sau khi tốt nghiệp Học viện này vào năm 1972 ông được bổ nhiệm làm tham mưu trưởng của tiểu đoàn, chỉ huy trưởng của tiểu đoàn, trưởng khóa học cán bộ chính trị pháo binh bộ đội phòng không. Năm 1990 ông kết thúc thời gian phục vụ trong quân đội.

Ông đã được tặng thưởng Huân chương Cờ đỏ, Huân chương Sao đỏ, Huy hiệu vẻ vang, 12 Huy chương của Liên Xô và Huy chương Hữu nghị của Việt Nam.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #35 vào lúc: 15 Tháng Ba, 2009, 06:04:13 pm »

HỒI ỨC VỀ NHỮNG NGƯỜI BẠN CHIẾN ĐẤU

Thời gian càng lùi sâu vào lịch sử thì ta càng hiếm sâu sắc hơn và càng thấy ý nghĩa quan trọng của những sự kiện lịch sử mà chúng tôi đã tham gia vào những năm 60 của thế kỷ XX, nhưng vào thời kỳ ấy thậm chí đã không ngờ đến điều đó.

Trước thời điểm đó chúng tôi - các binh sĩ và sĩ quan đã tập trung tại thành phố Xvéclốp. Tại đấy trên cơ sở Quân đoàn độc lập số 4, thuộc binh chủng phòng không, đã hình thành đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô đầu tiên để thực hiện chuyến công tác biệt phái. Người ta đã kiểm tra kỹ càng những người được dự tuyển, người ta đã nghiên cứu và trao đổi hỏi han nhiều với chúng tôi. Cùng lúc chúng tôi đã có nhiều buổi tập luyện với bộ khí tài tên lửa phòng không X-75. Bản thân chúng tôi cũng tìm hiểu nhau cũng như tìm hiểu những binh sĩ và các hạ sĩ quan có thể sẽ là những người dưới quyền của mình.

Không một ai được biết cụ thể về mục đích chuyến công tác về đất nước chúng tôi đến và về vai trò của mình trong chuyến đi này. Chỉ đến đầu tháng 2 - là khi mỗi người chúng tôi được trực tiếp triệu tập đến gặp một trong số các ủy viên hội đồng quân sự của quân đoàn - thì chúng tôi mới được biết đất nước sẽ đến là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và được biết rất đại thể về nhiệm vụ và mục đích của chuyến công tác. Sau đó hình thành một nhóm sĩ quan với nhiệm vụ đặt ra là: đến thành phố Ba cu để tiếp nhận tại đó tại kho vũ khí", một bộ khí tài tên lửa phòng không huấn luyện kiểu có 6 cabin điều khiển. Sau đó có kế hoạch bắn thử loại tên lửa này tại bãi bắn thử Capuxtin Iarơ. Chỉ sau đó bộ khí tài này mới hoàn toàn thuộc quyền chi phối của chúng tôi.

Nhóm sĩ quan ấy gồm:

1. Thiếu tá N. A. Mêscốp - trưởng nhóm. Đồng chí ấy là kỹ sư trưởng của Trung đoàn Magnhitôgo.

2. Đại úy Ruđônphơ Nicôlaiêvích Ivanốp - chỉ huy đại đội kỹ thuật vô tuyến.

3. Thượng úy Vlađimia Sêlêxtốp - kỹ thuật viên hệ thống định vị.

4. Thượng úy Bôrít Ivanôvích Côlêxnhích - kỹ thuật viên hệ thống phát lệnh.

5. Thượng úy Valentin Tôđôrascô - kỹ thuật viên máy phát lệnh vô tuyến.

6. Thượng úy Valentin Puxtôvôitốp - kỹ thuật viên cabin thu - phát vô tuyến.

7. Thượng úy Vlađixláp Mikhailôvích Cônxtantinốp - sĩ quan điều khiển tên lửa.

Cùng với các sĩ quan của "kho vũ khí", chúng tôi đã tham gia lắp ráp và kiểm tra bộ khí tài, chuyển và bốc xếp nó lên xe lửa và chuyển đến bãi thử ở Capuxtin Iarơ. Tại đó đã có các đại diện đến từ Mátxcơva. Bộ khí tài tên lửa được kiểm tra thêm và cuối cùng chúng tôi đã thực hiện hai lần bắn theo các thiết bị phản chiếu góc. Cả hai lần bắn ấy đều đạt kết quả. Bộ khí tài đã được chuyển giao cho chúng tôi. Việc này đã được thực hiện vào cuối tháng 2- 1 965.

Sau khi bốc xếp bộ khí tài tên lửa lên các toa xe lửa chuyên dụng, chúng tôi đã lên đường đến thành phố Sêliabinxcơ. Tại đó các thành viên khác trong nhóm chuyên gia đã nhập vào đoàn chúng tôi. Một số đoàn xe lửa chuyên dụng khác cũng đã hình thành thêm.

Thoạt đầu đoàn tầu chuyên dụng của chúng tôi đã đến Bắc Dabaican, và sau đấy đi băng qua lãnh thổ Trung Quốc đến biên giới Việt - Trung. Đến hạ tuần tháng 4 chúng tôi đã tới biên giới. Chúng tôi chuyển khí tài sang các toa xe chuyên dụng khác và đến ngày 16-4-1965 thì tới Hà Nội. Sau đó chúng tôi bắt tay vào thành lập Trung tâm huấn luyện đầu tiên. Chỉ huy Trung tâm này là Đại tá Mikhain Nicôlaiêvích Xưgancốp. Phó chỉ huy, phụ trách công tác chính trị là Trung tá Mikhaỉn Phêđôrôvích Bácxusencô, Thiếu tá Êgôrốp được bổ nhiệm làm quyền tham mưu trưởng, Thiếu tá N. A. Mêscốp được bổ nhiệm làm kỹ sư trưởng. Từ cuối tháng 4 Trung tâm huấn luyện này bắt đầu công việc huấn luyện.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #36 vào lúc: 15 Tháng Ba, 2009, 06:05:13 pm »

Theo nghiệp vụ chuyên ngành của mình, mỗi chuyên gia Liên Xô nhận nhiệm vụ huấn luyện cho một tốp các đồng chí Việt Nam. Chúng tôi soạn các chương trình huấn luyện, đề cương kế hoạch từng buổi lên lớp. Công việc khó khăn nhất là đào tạo phiên dịch cho các buổi lên lớp. Thời gian biểu trong ngày rất kín: dậy vào 5 giờ sáng, sau đó ăn sáng và lên lớp từ 6 giờ đến 12 giờ; sau 16 giờ: là lúc bớt oi bức, lại lên lớp cho đến 19 giờ. Buổi tối: từ 20 giờ, theo lịch làm việc, chúng tôi đến khu vực tự huấn luyện cho đến 22 giờ thì kết thúc.

Các bạn Việt Nam của chúng tôi đã phải chịu một cường độ làm việc lớn. Chương trình đào tạo huấn luyện được dự tính trong 4 tháng. Nhưng cuộc sống thực tế và tình hình trên bầu trời đã buộc phải có những thay đổi bổ sung. Thời gian đào tạo bị cắt giảm xuống còn 2,5 tháng. Tôi nghĩ, nguyên nhân của điều này là phải nhanh chóng trừng phạt những hành động của không quân Mỹ. Cần phải ngăn chặn các hành động ấy.

Kết quả là vào thượng tuần tháng 7-1965 chỉ huy của Trung tâm huấn luyện đã triệu tập hội nghị sĩ quan và công bố quyết định tập thể của ban chỉ huy là chuẩn bị 2 tiểu đoàn để đưa ra trận địa chiến đấu. Nhiệm vụ này trở nên phức tạp chủ yếu vì các bộ khí tài tên lửa đều là những bộ khí tài dùng cho huấn luyện. Chúng đã được sử dụng trong thời gian dài với mục đích huấn luyện. Nhiều thông số đã rất không phù hợp với những tiêu chuẩn quy định. Thêm vào đó, cùng thời gian này, phía Trung Quốc đã cắt giảm mạnh số lượng các đoàn tầu chuyên dụng của chúng tôi chạy qua lãnh thổ của họ. Chúng tôi chỉ còn biết trông cậy vào bộ ZIP (bộ linh kiện dự trữ và dụng cụ chuyên dùng) tồn tại duy nhất vào lúc đó ở Việt Nam.

Nhưng quyết định đã được thông qua. Hai tiểu đoàn (tiểu đoàn 63 và Tiểu đoàn 64) của Trung đoàn tên lửa phòng không số 236 đã được thành lập và có đầy đủ quân số Chúng tôi bắt tay vào chuẩn bị khí tài. Tất cả các chuyên gia của trung tâm huấn luyện đều tham gia vào công việc này. Nhiệm vụ quả là rất phức tạp. Chúng tôi đã thực hiện những loại công việc mà trong điều kiện ở nhà thì chỉ có thể thực hiện được trong các xưởng đặc biệt hoặc với sự tham gia của ngành công nghiệp. Ví dụ, trong cabin tín hiệu chúng tôi đã thay thế một số cụm cơ khí trong phần theo dõi mục tiêu bằng tay. Cả thảy đã phải mất một tuần lễ cho việc chuẩn bị các bộ khí tài. Chúng tôi đã làm việc không kể ngày đêm. Làm việc vào ban đêm thậm chí thuận tiện hơn vì không bị máy bay Mỹ quấy rầy, và cũng bớt nóng bức.

Vậy là trong những ngày 20 của tháng 7, cả hai tiểu đoàn đã sẵn sàng ra trận địa chiến đấu.

Chỉ huy tiểu đoàn thứ nhất là Trung tá Bô rít Ivanôvích Môgiaép.

Chỉ huy tiểu đoàn thứ hai là Trung tá Phêđo Pavlôvích Ilinức.    

Thành phần tiểu đoàn thứ nhất gồm có:

1. Chỉ huy khẩu đội kỹ thuật vô tuyến là Đại úy Valentin Xécghêêvích Bruxnhikin.

2. Chỉ huy khẩu đội bệ phóng là Đại úy Êđua Ivanôvích Vôrônin. 

3. Kỹ thuật viên cabin "P" là Valentin Puxtôvôitốp.

4. Kỹ thuật viên của hệ thống định vị là Thượng úy Vlađimia Sêlêxtốp.

5. Kỹ thuật viên của hệ thống phát lệnh là Thượng úy Bô rít Ivanôvích Côlêxnhích.

6. Kỹ thuật viên máy phát lệnh vô tuyến là Thượng úy Valentin Tôđôrascô.

7. Kỹ thuật viên cabin tín hiệu là Thượng úy Vlađixláp Mikhailôvích Cônxtantinốp.

Các trắc thủ vận hành máy bằng tay gồm có: binh nhất Iuri Papusốp, hạ sĩ Anatôh Bônđarencô, binh nhất Vlađimia Tinsencô, nhân viên vận hành đài trinh sát và chỉ thị mục tiêu là binh nhất Víchto Cubusép.

Chỉ huy đại đội kỹ thuật vô tuyến trong tiểu đoàn thứ hai là Đại úy Ruđônphơ Nicôlaiêvích Ivanốp. Thượng úy Anatôli Bônđarép chỉ huy khâu điều khiển tên lửa.

Đêm ngày 22 rạng ngày 23 tháng 7 chúng tôi bắt đầu hành quân. Chúng tôi di chuyển phần nhiều vào ban đêm. Đến rạng sáng ngày 24-7 chúng tôi đã lập xong trận địa. Trận địa này chưa hoàn chỉnh đầy đủ. Các cabin điều khiển được bố trí lộ thiên. Trong 6 bệ phóng chỉ triển khai được 3 bệ. Cách trận địa của chúng tôi khoảng 10 - 15 kilômét là trận địa của tiểu đoàn thứ hai. Đại tá M. N. Xưgancốp chốt tại sở chỉ huy của trung đoàn.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #37 vào lúc: 15 Tháng Ba, 2009, 06:05:55 pm »

Ngay lần phát sóng đầu tiên chúng tôi đã phát hiện được nhiều mục tiêu. Lúc đầu rất khó định hướng. Đôi khi các mục tiêu tiếp cận vùng phóng tên lửa, nhưng chúng tôi ở trong những điều kiện không thuận lợi để phóng tên lửa. Chúng tôi không được phép bắn trượt mục tiêu, vì vậy chúng tôi phải phóng tên lửa thật chính xác. Không khí trong các cabin điều khiển thật sự không thể chịu nổi vì nóng bức. Hơn nữa lại có 2 khẩu đội cùng ngồi trong mỗi buồng như vậy.

Thời gian cứ trôi đi như thế cho đến bữa trưa. Đại tá M. N. Xưgancốp xuất hiện. Ông thăm hỏi anh em và tình hình đơn vị. Các khí tài hoạt động rất tốt. Sau khi vị chỉ huy ra về, chúng tôi lại vận hành khí tài, và sau ít phút chúng tôi phát hiện thấy 2 chấm đen mục tiêu. Sau đó, khi các tên lửa nổ, chúng tôi đã hiểu ra rằng mỗi chầm gồm 2 máy bay "Con ma", vì chúng bay sóng đôi, y như trong cuộc duyệt binh, chúng không ngờ tới điều gì sẽ xảy ra vào những giây phút tiếp theo.

Vào lúc 14 giờ 25 phút, cách nhau 15 giây, tôi đã ấn nút "Phóng" ở cả hai kênh. Quả tên lửa thứ nhất bắn trúng mục tiêu đi đầu. Nó bắt đầu tách ra. Trắc thủ trực tiếp vận hành thiết bị theo dõi mục tiêu xác định góc định vị - Iuri Patusốp - đã báo cáo rằng mục tiêu hạ thấp góc định vị. Quả tên lửa thứ hai trên thực tế đã bắn trúng mục tiêu đang rơi. Tôi dùng hệ thống liên lạc nội bộ để báo cáo với Trung tá Môgiaép và toàn thể đồng đội biết rằng mục tiêu đã bị tiêu diệt. Chúng tôi ngồi trong các ca bin tín hiệu của mình để theo dõi tiểu đoàn thứ hai phóng tên lửa và điều khiển đường bay cho các tên lửa của mình. Họ đã bắn hạ chiếc "F-4C" thứ ba.

Như vậy là, trong số 4 chiếc "Con ma" tham gia oanh tạc đã có 3 chiếc bị tiêu diệt. Có 2 phi công bị bắt làm tù binh và cung cấp lời khai. Trong số các chuyên gia của chúng tôi chỉ có Thiếu tá trinh sát Nicôlai Xtêpanôvích Xôlômatin đã có mặt tại chỗ máy bay rơi. Đồng chí ấy đã mô tả cho chúng tôi về những gì đã tận mắt chứng kiến trong cánh rừng. 

Tại tiểu đoàn thứ hai, hạ sĩ Piốt Dalípxki, binh nhất Valeri Malưga, - còn người thứ ba thì tôi không nhớ tên, - ngồi sau các cần điều khiển thiết bị luôn bám sát mục tiêu

Sau trận bắn hạ máy bay, chúng tôi đã nhanh chóng thu dọn khí tài và đưa khí tài che giấu trong những hầm gần nhất. Đến đêm, trên đường hành quân của đơn vị, Đại tá Xưgancốp đã đến thăm. Ông tỏ ra hài lòng về kết quả trận đánh và chúc mừng tất cả chúng tôi nhân chiến thắng đầu tiên. Có thể thấy ông đã gánh vác trách nhiệm như thế nào. Vả lại, chúng tôi cũng vậy.

Ngày hôm ấy - ngày 24-7-1965 đã đi vào lịch sử của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và lịch sử của các lực lượng vũ trang của đất nước ấy. Theo sắc lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, hàng năm ngày này là Ngày truyền thống của Binh chủng Tên lửa phòng không của Quân đội nhân dân Việt Nam. Toàn thể Tiểu đoàn tên lửa phòng không đầu tiên của Việt Nam đã được tặng thưởng các Huân chương và Huy chương của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tiểu đoàn này đã được tặng thưởng Cờ Danh dự, họ đã trải qua con đường chiến đấu vẻ vang, được nhận nhiều hình thức tuyên dương. Sau này Tiểu đoàn tên lửa này đã được phong danh hiệu "Anh hùng".

Về sau này chúng tôi đã có dịp cùng với Tiểu đoàn này thực hiện một trận phục kích rất phức tạp nữa. Còn tạm thời vào thời điểm sau ngày 24-7, chúng tôi đã triển khai ở ngoại ô Hà Nội và chiếm lĩnh trận địa. Vào thời điểm ấy không quân Mỹ không oanh kích Hà Nội, vì chúng sợ tên lửa. Tuy vậy, còi báo động vẫn thường xuyên vang lên. Và trạm ra đa vẫn đều đặn được khởi động và hoạt động vào ban ngày. Chúng tôi đóng quân ở ngoại thành Hà Nội gần 10 ngày. Trong thời gian ấy chúng tôi bảo dưỡng khí tài và sẵn sàng thực hiện các nhiệm vụ tiếp theo.

Vào thời gian ấy sự kiện nổi bật nhất là những chuyến viếng thăm của các nhà lãnh đạo nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đến trận địa chúng tôi. Trong suốt thời gian ấy tiểu đoàn chúng tôi được đón tiếp Thủ tướng Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Phạm Văn Đồng, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Lê Duẩn, và cuối cùng là Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Hồ Chí Minh. Tất cả các vị lãnh đạo đã đánh giá rất cao các hoạt động chung của các chuyên gia chúng tôi và các chuyên gia Việt Nam. Cũng vào thời gian ấy các Tiểu đoàn số 3 và số 4 thuộc Trung đoàn tên lửa phòng không số 236 đã được thành lập. Các đơn vị này cũng đã thu được thắng lợi trong những trận đánh đầu tiên.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #38 vào lúc: 15 Tháng Ba, 2009, 06:06:30 pm »

Trong mười ngày đầu tháng 8 tiểu đoàn chúng tôi đã nhận được một nhiệm vụ chiến đấu mới. Phải thực hiện cuộc hành quân theo đường số 1 (dài khoảng 270 km) và triển khai đơn vị tại tỉnh Thanh Hóa. Ở khu vực này của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa máy bay Mỹ ngang nhiên hoạt động dữ dội. Ít ra thì đó cũng là ý kiến phát biểu của các nhà lãnh đạo tỉnh trong cuộc gặp gỡ sau khi chúng tôi mới tới. Tiểu đoàn đã di chuyển trong suốt 3 ngày, đến ngày thứ ba tiểu đoàn chúng tôi đã triển khai tại trận địa với đầy đủ đội hình.

Mục tiêu thì không thiếu. Chỉ huy tiểu đoàn chúng tôi quyết định phóng tên lửa vào những mục tiêu đầu tiên lọt vào tầm bắn. Tiểu đoàn chúng tôi đã phóng 5 quả tên lửa: phóng 3 quả vào tốp mục tiêu đầu và phóng 2 quả vào tốp mục tiêu thứ hai. Cả hai loạt đạn diễn ra với khoảng cách thời gian ngắn. Còn lại một quả tên lửa để dự phòng.

Cả hai đợt phóng tên lửa đều trúng: đã có 2 chiếc máy bay cường kích A-6D của hải quân Mỹ bị hắn hạ. Có 2 phi công bị bắt làm tù binh. Trong số tù binh ấy có tên chỉ huy phi đội và viên phó của y trên tầu sân bay "Mítuây". Theo lời kể của các đồng chí Việt Nam, bọn chúng đã khai rằng theo tin tức tình báo của chúng thì trong khu vực này không thể có các bộ khí tài tên lửa Liên Xô. Chúng đã bay rất ngang nhiên và xấc xược. Đó là lần thứ hai chiến thuật dùng tên lửa phục kích đã tỏ ra là đúng.

Sau trận phục kích ấy, chúng tôi đã nhanh chóng thu dọn khí tài và ẩn nấp trong các lùm cây rậm. Tất nhiên, ban lãnh đạo của tỉnh này đã tổ chức khao quân. Điều khiến cho các đồng chí Việt Nam đặc biệt vui mừng là nhân dân trong tỉnh đã chứng kiến các tên lửa được phóng lên và hạ máy bay như thế nào. Trong trận chiến đấu này các khẩu đội Việt Nam tựa hồ như đã trải qua kỳ sát hạch để có thể độc lập đảm đương công việc tại các vị trí chiến đấu vì lần ấy họ đã ngồi đằng sau những chiếc cần điều khiển của thiết bị dẫn đường tên lửa.

Sau khi thực hiện cuộc hành quân trở về, tiểu đoàn chúng tôi lại triển khai trận địa ở ngoại thành Hà Nội. Đến mùa thu năm ấy, chỉ còn một tốp nhỏ các chuyên gia Liên Xô, dưới sự chỉ đạo của Thiếu tá Mêscốp, ở lại tại Trung đoàn tên lửa đầu tiên. Nhóm chuyên gia này, trong hoàn cảnh chiến đấu, đã trợ giúp trong những trường hợp nảy sinh những trục trặc nào đó hoặc trong những tình huống bất thường khác. Còn chúng tôi được cử sang trung đoàn thứ hai. Trong suốt 3 tháng trời chúng tôi đã huấn luyện trung đoàn này cũng theo cùng một chương trình và cùng một phương pháp như đã huấn luyện trung đoàn thứ nhất.

Tháng 12-1965, cùng với một tiểu đoàn trong số các tiểu đoàn thuộc trung đoàn thứ hai, chúng tôi đã chiếm lĩnh trận địa ở ngoại thành Hà Nội. Trong suốt tháng 1 và một phần tháng 2, chúng tôi luôn luôn thay đổi trận địa để bảo vệ Hà Nội. Trong thời kỳ ấy chỉ huy trưởng tiểu đoàn chúng tôi là Đại úy R. N. Ivanốp. Cũng trong thời kỳ ấy đã thành lập những trung tâm huấn luyện khác, đào tạo cho những trung đoàn mới. Chúng tôi đã tới một số trung đoàn ấy để trao đổi kinh nghiệm.

Mùa đông năm ấy đã diễn ra những sự kiện rất quan trọng. Tháng 2-1966 đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ Liên Xô, do A. N. Sêlêpin và Đ. Ph. Uxtinốp dẫn đầu, đã có chuyến viếng thăm nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đoàn đã đến thăm trận địa của tiểu đoàn chúng tôi ở ngoại thành Hà Nội. Trong buổi gặp mặt với toàn tiểu đoàn, Đoàn đã nồng nhiệt khen ngợi công việc của chúng tôi và đánh giá cao lao động của các chuyên gia Liên Xô trong chiến đấu. Ngoài ra, Đoàn còn trao các Huân chương và Huy chương cho chúng tôi theo Sắc lệnh không công khai của Đoàn Chủ tịch Xôviết tối cao Liên Xô ngay trước thềm năm mới.

Điều cần nói là vào thời điểm ấy không quân Mỹ đã thay đổi hẳn chiến thuật của mình và đã phát hiện ra những mặt yếu của chúng tôi: kẻ địch bắt đầu sử dụng những phương pháp gây nhiễu khác nhau, hạ thấp độ cao khi bay và bay ở tầm thấp: đã gia tăng đáng kể số lần đánh phá vào trận địa của các tiểu đoàn. Đã có những tổn thất. Trong lúc máy bay địch đánh phá trận địa của tiểu đoàn tên lửa phòng không, vị chỉ huy khẩu đội bệ phóng đã ở lại bệ phóng để khắc phục một trục trặc vừa xuất hiện. Ông đã bị tử thương.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #39 vào lúc: 15 Tháng Ba, 2009, 06:07:12 pm »

Từ nửa cuối tháng 2 đến cuối tháng 4-1966 tiểu đoàn của chúng tôi đã làm nhiệm vụ bảo vệ Hải Phòng và thường xuyên thay đổi trận địa dọc theo bờ biển vịnh Bắc Bộ. Đúng vào thời gian đó bộ chỉ huy quân sự của Việt Nam đã chủ trương dùng tên lửa phòng không để bắn vào tầu sân bay, thông qua việc sử dụng các thiết bị nổi. Đến thời điểm đó đã nghiên cứu được phương pháp bắn tên lửa vào các mục tiêu trên mặt đất. Nhưng trong hoàn cảnh lúc đó nếu áp dụng phương pháp ấy để bắn vào các mục tiêu trên biển sẽ là điều không thực tế. Thật là tốt khi cuộc "thử nghiệm" ấy đã không diễn ra!

Và đây là một trong những tình huống tác chiến diễn ra vào tháng 3 - tháng 4-1966. Ngoài vịnh lúc ấy có sương mù dầy đặc (xin nói thêm rằng, nó đã cứu chung tôi rất nhiều, vì đảm bảo được sự ngụy trang tự nhiên và đáng tin cậy). Trạm ra đa đã được khởi động, nhưng chúng tôi nghe rất rõ tiếng động cơ máy bay. Tất cả đều nhanh chóng vào các ca bin chức năng, khởi động trạm ra đa và đã trông thấy mấy tốp mục tiêu. Rõ ràng những máy bay ấy đang làm nhiệm vụ. Chúng tôi đã đón bắt mục tiêu và phóng 2 quả tên lửa: Mục tiêu đã bị bắn hạ và rơi xuống vịnh. Đáng tiếc là đã không khẳng định được bằng mắt việc máy bay bị bắn hạ do tầm nhìn không tốt và do không có các trạm quan sát ở gần bờ. Nhưng đối với chúng tôi thì trường hợp này không phải là điều bất ngờ. Sự cố này cũng đã xảy ra trước đó với những tiểu đoàn khác.
Đến cuối tháng 4-1966 nhóm chuyên gia quân sự Liên Xô sang Việt Nam trong tháng 3 đã đến thay thế cho đa số nhóm chuyên gia chúng tôi. Đã đến lúc phải chia tay với các bạn Việt Nam của chúng tôi.

Chúng tôi được tiễn đưa một cách trọng thể, ấm áp tình hữu nghị: Đến thời điểm ấy, trong thành phần tiểu đoàn thứ nhất ở Việt Nam chỉ còn lưu lại 5 sĩ quan Liên Xô. Bàn ăn trong nhà khách đã được dọn ra. Lần đầu tiên sau suốt một năm công tác biệt phái chúng tôi mới được ăn món penmen (món ăn của Nga, tương tự như các viên mằn thắn). Đại tá Phùng Thế Tài, Tư lệnh Binh chủng phòng không của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã đến dự buổi liên hoan chia tay. Chúng tôi được tặng thưởng các huy chương Hữu nghị của Việt Nam, những huy hiệu kỷ niệm, bằng khen của Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và các vật lưu niệm. Tháng 5 năm ấy chúng tôi về đến Mátxcơva bằng máy bay, quá cảnh Bắc Kinh.

Còn một kỷ niệm nữa. Đó là Tổ quốc - mà đại diện là Bộ trưởng Quốc phòng Liên Xô, Nguyên soái Liên Xô R. Ia. Mahnốpxki - đã chúc mừng tất cả các chuyên gia quân sự Liên Xô nhân dịp năm mới 1966. Mỗi người chúng tôi đều nhận được thiệp chúc mừng cá nhân và túi quà trong đó có mọi thứ cần thiết để đón mừng năm mới một cách đàng hoàng khi xa người thân trong gia đình. Trong túi quà có hai chai rượu vốtca, chai sâm panh, đồ nhắm và một món ăn quý nhất - một ổ bánh mì đen và cá trích muối. Chúng tôi đã cùng với các bạn chiến đấu Việt Nam vui vẻ đón chào năm mới. 

Đến những năm 80 tôi lại có dịp nhớ đến Việt Nam lần nữa. Sự việc là thế này. Anh Lã Đình Chi nguyên là học viên Việt Nam đầu tiên do tôi hướng dẫn, là sĩ quan điều khiển tên lửa của Việt Nam, cũng mang quân hàm Đại tá và đến thời điểm ấy đã trở thành chỉ huy Trung đoàn tên lửa, đã sang Liên Xô theo học khóa đào tạo chỉ huy quân sự tại Học viện sĩ quan, mang tên Nguyên soái Giucốp: thuộc binh chủng phòng không. Tiếc thay, chúng tôi đã không có cơ hội gặp nhau.
Về sau, thông qua một sĩ quan Việt Nam theo học lớp sĩ quan tuỳ tùng của Học viện này hồi năm l981: tôi đã gửi một lá thư cho người bạn chiến đấu của mình và quà lưu niệm. Đáp lại cũng thông qua viên sĩ quan kể trên, tôi đã nhận được thư của Lã Đình Chi và quà lưu niệm. Anh bạn chiến đấu Việt Nam của tôi đã kết thúc thời gian phục vụ quân ngũ với chức vụ sư đoàn phó. Tôi dẫn ra đây lá thư của người bạn chiến đấu ấy và mong mọi người coi đây không phải là những dòng trao đổi thư từ cá nhân, mà như là bằng chứng về lòng quý trọng của những bạn Việt Nam đối với sự lao động chiến đấu của tất cả các chuyên gia quân sự Liên Xô đã từng giúp đỡ nhân dân Việt Nam trong những năm chiến tranh.

Trong lá thư này anh bạn của tôi cho biết, trong những năm chiến tranh anh đã có gần 100 lần phóng tên lửa và đã bắn hạ được 32 máy bay Mỹ, trong đó có 12 phi công Mỹ bị bắt làm tù binh.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM