Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 05:07:12 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chiến tranh Việt Nam là thế đó 1965 - 1973  (Đọc 146584 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #110 vào lúc: 27 Tháng Ba, 2009, 05:41:45 pm »

Tôi muốn nhớ lại với sự cảm ơn các chiến sĩ và hạ sĩ quan Liên Xô ngày ấy đã hoàn thành tốt các nhiệm vụ và không có một lời kêu ca nào về những điều kiện sinh hoạt. Những người đặc biệt gần gũi đối với tôi là những trắc thủ vận hành máy theo dõi mục tiêu bằng tay. Thao tác của họ quyết định rất nhiều: độ chính xác và tính chất nhịp nhàng trong thao tác bám sát mục tiêu, cũng tức là nghệ thuật dẫn đường cho tên lửa, tài khéo léo không để mất mục tiêu giữa những luồng sóng nhiễu, phát hiện và phản ứng trước sự cơ động của mục tiêu, phát hiện kịp thời việc máy bay địch phóng tên lửa "Sraicơ" chống ra đa và nhiều yếu tố khác.

Hạ sĩ Vlađimia Trécnencô, trắc thủ tính khoảng cách, mấy ngày trước hôm ra trận địa, đã bị con rết độc cắn vào chân. Chân của đồng chí ấy sưng vù, cho nên người ta đã phải đưa đồng chí ấy vào quân y viện. Chẳng có ai thay thế vào vị trí của đồng chí ấy. Chúng tôi chỉ có một khẩu đội, không có đồng chí ấy thì tiểu đoàn không thể phóng tên lửa được.

Vlađimia hiểu rõ điều đó và đã thuyết phục các bác sĩ chấp nhận cho anh chữa trị ngoại trú. Trong suốt 3 tháng trời bệnh tình của đồng chí ấy đã mấy lần kịch phát, nhưng cho đến ngày lên đường về Liên Xô đồng chí ấy đã không rời vị trí chiến đấu của mình, thao tác chính xác và làm tất cả những gì có thể để đạt thắng lợi trong các trận đánh.

Trắc thủ phụ trách điều chỉnh góc phương vị Misa Lôdốpxki, người Lêningrát, là biểu tượng của sự bình tĩnh. Có cảm tưởng rằng nói chung đồng chí ấy không thể mắc sai sót nào trong những tình huống hết sức căng thẳng. Và đúng là đồng chí ấy đã không mắc sai sót nào.

Trắc thủ phụ trách góc định vị V. Têrenchiép thì tính nết lại hoàn toàn trái ngược với các đồng chí của mình - dễ bị kích động, nhưng vị trí làm việc của anh ấy lại ở bên cạnh tôi, và nhờ cùng nhau làm việc nên chúng tôi đã tránh được các sai sót.

Chính phủ Liên Xô đã đánh giá cao lao động của họ trong chiến đấu. Tất cả các trắc thủ vận hành máy theo dõi mục tiêu bằng tay đều được tặng thưởng các huân chương và huy chương của Liên Xô: V. Trécnencô và M. Lôdốpxki đã được tặng thưởng Huân chương Sao đỏ, còn V. Têrenchiép được tặng Huy chương Chiến công.

Xin nói đôi lời về sự hợp tác giữa chúng tôi với khẩu đội Việt Nam trong chiến đấu. Phải nói rõ rằng vào thời kỳ đất nước còn nhiều gian khổ ấy, phía Việt Nam đã làm tất cả những gì có thể để đảm bảo sinh hoạt cho chúng tôi cũng như để chúng tôi hoàn thành thắng lợi các nhiệm vụ được đề ra tại trận địa.

Dần dần, nhờ kết quả công việc hợp tác với các đồng chí Việt Nam, nên thái độ của phía Việt Nam đối với chúng tôi đã thay đổi. Theo tôi nghĩ, thái độ ấy đã có bước ngoặt hoàn toàn do ảnh hưởng của một trường hợp tưởng chừng không quan trọng.

Như đã biết, chúng tôi phải thường xuyên thay đổi các trận địa hỏa lực. Nhiệm vụ này hoàn toàn do khẩu đội Việt Nam đảm nhiệm. Có một lần, vào ban đêm khi đã kết thúc công việc nặng nhọc là thu dọn bộ khí tài tên lửa, chúng tôi phát hiện thấy các đồng nghiệp Việt Nam đã mệt nhoài đang vây quanh chiếc rơmoóc chở bộ ăngten. Họ không thể nào đưa chiếc rơmoóc ấy từ trận địa ra đến đường. Lúc ấy khẩu đội của chúng tôi - cả sĩ quan, cả anh  em chiến sĩ gồm có 6-7 người đã nhất tề bắt tay vào và đẩy chiếc rơmoóc ấy, sau đó cùng với các đồng chí Việt Nam chúng tôi đã nhanh chóng sửa soạn khí tài để di chuyển địa điểm. Khi ấy chúng tôi thấy trong mắt họ ánh lên niềm ngạc nhiên và thái độ biết ơn về sự giúp đỡ. 

Không thể không nêu ra đây một chi tiết nữa. Trong lúc tiến hành thao tác chiến đấu tôi để ý thấy các học viên của tôi, các sĩ quan người Việt phụ trách dẫn đường cho tên lửa thuộc khẩu đội Việt Nam, đang tiến rất gần về phía tôi và do đó đã vô tình cản trở thao tác chiến đấu của tôi. Lúc đầu tôi tưởng rằng họ không nhìn thấy rõ tất cả, nên cố gắng đến gần tôi để nhìn rõ hơn. Về sau tôi mới hiểu ra rằng không phải thế - dĩ nhiên, tôi đã không giữ bí mật gì về các phương pháp thao tác. Tôi đã nhờ người phiên dịch làm rõ điều hiểu nhầm ấy. Sau đó mọi chuyện đã được làm rõ. Hóa ra, các học viên ấy đã được lệnh phải bảo vệ để không một huấn luyện viên Liên Xô nào bị nạn trong khi máy bay địch oanh tạc. Vì vậy trong thời gian diễn ra trận đánh họ đã lấy thân mình để bảo vệ chúng tôi. Còn ở tiểu đoàn bên cạnh thì trong thời gian máy bay địch oanh kích đã làm hư hỏng một bệ phóng tên lửa. Do vậy một trung sĩ huấn luyện viên Liên Xô đã lao vào sửa chữa chỗ hư hỏng. Khẩu đội Việt Nam đã đuổi kịp trung sĩ Liên Xô ấy và lấy thân mình che đỡ cho người trung sĩ kia. Đã có 5 chiến sĩ Việt Nam bị thương, còn trung sĩ Liên Xô ấy thì hoàn toàn không bị một vết xây xát nào.

Nói chung cần nêu lên tinh thần dũng cảm tuyệt vời và thái độ không hề run sợ của các chiến sĩ và sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam. Chính ý nguyện cháy bỏng của họ muốn bằng mọi cách bắn rơi máy bay địch ngay cả khi bản thân họ gặp nguy hiểm, - chính ý nguyện ấy nhiều khi đã giúp họ chiến thắng trong chiến đấu. Cuối cùng thì bằng những nỗ lực hy sinh quên mình của toàn thể dân tộc, Việt Nam đã bảo vệ được nền độc lập của mình và giành được chiến thắng đầy thuyết phục trước bọn xâm lược Mỹ, xua tan huyền thoại về sức mạnh quân sự không gì phá vỡ nổi của Hoa Kỳ. Tôi tự hào vì trong việc giành thắng lợi ấy đã có phần nhỏ sự lao động chiến đấu của tôi.
Mátxcơva, 2003

Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #111 vào lúc: 27 Tháng Ba, 2009, 05:43:30 pm »

THIẾU TÁ
SÊLÔMƯTỐP GHENAĐI IACỐPLÊVÍCH

Ông sinh ngày 9-3-1940 ở Crônstát.

Năm 1960 ông tốt nghiệp trường Kỹ thuật quân sự Pribantích của Binh chủng phòng không Liên Xô. Ông đã trải qua thời gian phục vụ trong quân ngũ tại Quân đoàn độc lập số 4 của Binh chủng phòng không, với chức vụ chỉ huy trưởng trung đội bệ phóng, về sau chỉ huy đại đội bệ phóng Trung đoàn tên lửa phòng không 250, Quân đoàn Brianxcơ thuộc Quân khu phòng không Mátxcơva.

Từ tháng 3-1966 đến tháng 4-1967 ông đã tham gia chiến đấu tại Việt Nam, trong đội ngũ trung đoàn tên lửa.

Năm 1972 ông tốt nghiệp Viện Hàn lâm quân sự pháo binh mang tên Đgiécginxki tại Mátxcơva và tiếp tục phục vụ tại trạm trắc đạc mặt đất thuộc Tổ hợp chỉ huy trắc đạc tại thành phố Iêccút. Từ năm 1976 đến năm 1990 ông là Kỹ sư trưởng Bộ môn thu tín hiệu quân sự thuộc Viện Nghiên cứu khoa học liên lạc vô tuyên.

Ông được tặng thưởng Huân chương Sao đỏ và 14 Huy chương, trong đó có Huy chương Hữu nghị của Việt Nam.

MỌI NGƯỜI ĐỀU CHO RẰNG ĐIỀU ĐÓ KHÔNG BAO GIỜ CÓ THỂ XẢY RA

Từ thành phố Brianxcơ, Trung đoàn tên lửa phòng không 260 thuộc Quân khu phòng không Mátxcơva của chúng tôi đã tới Việt Nam vào tháng 3-1966, nghĩa là 8 tháng sau ngày các bộ khí tài tên lửa phòng không của Liên Xô được sử dụng lần đầu tiên để bảo vệ lãnh thổ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trước đó, các máy bay Mỹ thực hiện các chuyến tập kích từ độ cao lớn cả ngày lẫn đêm, trong mọi thời tiết. Đối với các phi công Mỹ, những loạt tên lửa phòng không đầu tiên khai hỏa là một sự bất ngờ hoàn toàn. Các tên lửa đã buộc máy bay Mỹ bay gần mặt đất hơn, nhưng đến khi trung đoàn chúng tôi đến nơi thì các máy bay Mỹ cũng đã học được cách tác chiến:

1. Chúng bắt đầu bay ở tầm thấp và chỉ vào thời gian còn sáng trong ngày, vào tiết trời có nắng, bay sát vùng núi để khi thấy tên lửa được phóng ra thì kịp thời lẩn trốn sau các dãy núi. Tình hình này gây phức tạp rất nhiều cho việc xạ kích, vì các bộ khí tài tên lửa phòng không X-75 không có khả năng bắn vào các mục tiêu bay thấp, mặc dù trong quá trình sử dụng tại Việt Nam nó đã được cải tiến để có tầm bắn thấp hơn.

2. Trên các máy bay có bố trí hệ thống tín hiệu cảnh báo cho phi công biết đã lọt vào tầm phủ sóng của trạm theo dõi mục tiêu và dẫn đường cho tên lửa và về hoạt động của trạm phát sóng truyền lệnh sau khi tên lửa được phóng đi. 

3. Các máy bay Mỹ bắt đẩu sử dụng rộng rãi các tên lửa tự tìm mục tiêu "Sraicơ" bay theo hướng sóng phát ra tối đa, tức là hướng vào ăngten phát sóng của đài điều khiển tên lửa. Thông thường máy phát sóng này nằm ở trung tâm trận địa tên lửa phòng không.

4. Mỹ bắt đầu sử dụng bom bi nhằm mục đích sát thương hàng loạt.

5. Song song với việc sử dụng các loại bom phá thông thường, Mỹ còn sử dụng rộng rãi các tên lửa không được điều khiển "Bunpap".

6. Trong trường hợp phát hiện thấy trận địa tên lửa phòng không thì các phi công được quyền không thực hiện nhiệm vụ của cuộc oanh tạc đã định để thực hiện các đòn oanh kích từ trên không vào trận địa của tiểu đoàn tên lửa phòng không.

Nhiệm vụ của các chuyên gia quân sự Liên Xô (đó là tên gọi lúc bấy giờ của chúng tôi) là đào tạo và huấn luyện đội ngũ Trung đoàn tên lửa phòng không 274 của Quân đội nhân dân Việt Nam đủ khả năng độc lập đánh trả các cuộc tấn công của máy bay Mỹ vào lãnh thổ Bắc Việt Nam. Trung đoàn 274 chỉ vừa mới được thành lập. Người được bổ nhiệm làm sĩ quan chỉ huy của trung đoàn này là Thiếu tá Nùng (Hyhr). Đồng chí Nùng đã tốt nghiệp loại giỏi Viện Hàn lâm thông tin quân sự tại Lêningrát và nói thạo tiếng Nga.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #112 vào lúc: 27 Tháng Ba, 2009, 05:44:13 pm »

Sau khi đến Việt Nam, trong suốt 2 tháng chúng tôi đã lên lớp huấn luyện cho các khẩu đội Việt Nam nắm vững hoạt động của máy móc trong bộ khí tài. Đến thời điểm này các phương tiện chiến đấu cũng được chở từ Liên Xô đến. Chúng tôi đã triển khai các phương tiện kỹ thuật chiến đấu ấy để phục vụ tác chiến.

Các trận địa không được xây dựng theo bài bản kỹ thuật. Do vậy, về cơ bản đã phải triển khai khí tài chiến đấu trên những khoảnh đất nằm giữa các đồng lúa, ở rìa các ngôi làng và thị tứ, đôi khi trực tiếp trên những diện tích từng là nền các ngôi nhà đã bị các trận bom phá hủy. Nhiều khi chúng tôi không có khả năng triển khai tất cả 6 bệ phóng, vì chỉ đủ chỗ cho 3-4 bệ phóng mà thôi.

Trong suốt một tháng bản thân chúng tôi đã phải ngồi đằng sau các bảng điều khiển, còn các chiến sĩ Việt Nam thì ngồi bên cạnh và quan sát các thao tác của chúng tôi để tích luỹ kinh nghiệm khai hỏa trong chiến đấu. Sau đó, các đồng chí Việt Nam ngồi vào các bảng điều khiển, còn chúng tôi đứng phía sau lưng để kiểm tra các thao tác của họ. Công việc này tiếp diễn suốt 3-4 tháng liền.

Theo đà tích luỹ kinh nghiệm chiến đấu của các đồng chí Việt Nam, các chuyên gia quân sự Liên Xô, theo từng tốp nhỏ đã dần dần trở về nước. Sau cùng, trong trung đoàn này chỉ còn lại một tốp nhỏ của Kỹ sư trưởng Thiếu tá A. Ia. Pêtơrốp gồm 11 người. Trong nhóm này có các chuyên gia thuộc mọi hệ thống. Họ khắc phục những hỏng hóc mới phát sinh, hiệu chỉnh và kiểm tra các hệ thống sau khi thay đổi trận địa.

Chúng tôi luôn luôn sống trên xe. Các trận địa phải luôn thay đổi - sau. mỗi lần phóng tên lửa chiến đấu. Những trận địa bị các phi công Mỹ phát hiện thấy thì sang ngày hôm sau, có khi chỉ sau vài giờ, thế nào cùng bị ném bom ồ ạt. Vì vậy sẽ rất nguy hiểm nếu ở lại trận địa cũ.

Trong trung đoàn tên lửa phòng không, tiểu đoàn chúng tôi dưới sự chỉ huy của Thiếu tá I. V. Vôlôđin, là tiểu đoàn đầu tiên xung trận.

Sự việc này diễn ra vào tháng 5-1966 khi chúng tôi triển khai trận địa chiến đấu tại khu vực gần Hà Nội, để bảo vệ thành phố này chống lại những cuộc tấn công từ trên không. Điều kiện địa hình ở đó chỉ cho phép chúng tôi triển khai 3 bệ phóng.

Cuộc oanh kích bắt đầu diễn ra sau bữa ăn trưa. Lúc ấy trời nắng, không khí khô ráo, tầm nhìn rất tốt. Các trắc thủ vận hành các thiết bị đã kịp thời phát hiện trên màn hình những mục tiêu bay thấp. Khi các mục tiêu này lọt vào tầm bắn thì chúng tôi phát lệnh phóng 2 tên lửa. Vụ phóng tên lửa diễn ra cách dãy núi không xa. Vì vậy, sau khi thực hiện động tác cơ động tránh tên lửa, các phi công Mỹ đã kịp lẩn vào phía sau dãy núi. Thế là chúng tôi bị mất không 2 quả tên lửa. 

Sau khi tên lửa được phóng đi, phía sau đuôi của tên lửa hình thành một cột bụi cao tới 25 - 30 m. Đối với các phi công đây là vật định hướng rõ nhất để chúng ngắm vào mục tiêu khi thả bom. Thế là có 3 máy bay lao theo hướng này. Máy bay thứ hai thả 5 quả bom phá. Chiếc thứ nhất chắc hẳn đã điều chỉnh hướng ném bom cho những máy bay bay phía sau nó. Quả bom thứ nhất rơi đúng vào cột bụi, tạo ra một cái hố có độ sâu 7 - 8 mét, với đường kính khoảng 15 m. Những quả bom còn lại đã tạo thành một hố dọc có tổng chiều dài 75 m. Một khối lượng đất rất lớn bị hất tung lên không trung, rồi sau đó từ không trung đổ ập xuống chúng tôi. Đúng là cảnh tượng mà tôi đã có lần được nhìn thấy trong phim: một vụ nổ vào thời bình nhằm mục đích xây con đập của nhà máy thủy điện.

Vào đúng lúc ấy từ phía đài điều khiển tên lửa vang lên lệnh đưa tên lửa tới và nạp các quả tên lửa mới vào bệ phóng. Từ các ca bin điều khiển của đài không thể thấy được những gì đang diễn ra ở bên ngoài. Chỗ vốn là đường đã hình thành một cái hố lớn sâu hơn 7m. Để xe chở được tên lửa đến và nạp tên lửa vào bệ phóng thì cần làm mới một đoạn đường dẫn vào trận địa. 

Chúng tôi vẫn còn gặp may, vì gió đã kịp thổi cột bụi dạt sang phía khác, cách trận địa 50 mét sau khi các tên lửa được phóng đi, bấy giờ các phi công Mỹ mới phát hiện thấy cột bụi ấy. Nếu lúc ấy không có gió thổi thì có lẽ đã không còn chúng tôi và cũng chẳng còn phần vật chất nào của bộ khí tài tên lửa.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #113 vào lúc: 27 Tháng Ba, 2009, 05:46:33 pm »

Tại một bệ phóng đã xuất hiện một sự hỏng hóc. Phải khắc phục sự trục trặc này trong một hoàn cảnh căng thẳng. Có nguy cơ lặp lại cảnh tượng vừa xảy ra, vì trời còn sáng, các máy bay có thể quay trở lại bất cứ lúc nào và ném bom lần nữa. May thay, điều đó đã không xảy ra.

Sau khi quan sát các hố bom và nhận thức về mọi sự việc vừa xảy ra, chúng tôi nghĩ rằng cái chết đang ở gần kề chúng tôi, và điều có thể dễ xảy ra nhất là cái chết có thể đến với chúng tôi ngay sau khi tên lửa được phóng đi, khi chúng tôi không còn các phương tiện ngụy trang, để lộ mình ra và trở thành mục tiêu thực sự và rất hấp dẫn đối với các phi công Mỹ.

Ba giờ sau sĩ quan chỉ huy trung đoàn, Trung tá V. V. Phêđôrốp đến trận địa chúng tôi. Sau khi xem xét cảnh trận địa bị ném bom, ông bảo rằng chúng tôi đã gặp vận may.

Ở Việt Nam sau khi mặt trời lặn trời tối rất nhanh. Điều này có lợi cho chúng tôi - chúng tôi chuyển khí tài vào tư thế hành quân, rời khỏi trận địa và ngay đêm ấy di chuyển đến trận địa mới. Sau này, sau mỗi lần bắn tên lửa, chúng tôi nhất thiết phải thay đổi trận địa chiến đấu.

Về sau những lần phóng tên lửa tác chiến đối với chúng tôi - các quân nhân - đã trở thành công việc thường nhật thực sự. Bản thân chúng tôi cũng phải nếm trải những tên lửa tự tìm mục tiêu do các phi công Mỹ sử dụng, tên lửa kiểu "Sraicơ", loại chứa các mảnh, cũng như loại chứa các viên bi.

Trong tiểu đoàn tên lửa do Thiếu tá X. T. Vôrôbiốp chỉ huy, sau khi phóng tên lửa vào mục tiêu, trắc thủ bám sát mục tiêu bằng tay V. C. Mennhisúc đã phát hiện thấy trên màn hình có vệt "loé sáng" ở mục tiêu và một chấm di động tách khỏi mục tiêu. Đồng chí ấy lập tức báo cáo với chỉ huy:

- Tôi phát hiện thấy tên lửa "Sraicơ"? Nó lao về hướng chúng ta.

Trong khi người ta còn đang phải thông qua người phiên dịch giải quyết với ban chỉ huy Việt Nam vấn đề ngừng phát sóng thì quả tên lửa "Sraicơ" đã kịp bay tới đài điều khiển tên lửa. Lúc này sĩ quan điều khiển tên lửa, Trung úy Vađim Sécbacốp đã tự ra quyết định và chuyển sóng ăngten sang hướng khác. Chỉ sau có 5 giây đã phát ra một tiếng nổ. Trong cabin "P", nơi có cột ăngten phát sóng, sức nổ đã làm bật tung cánh cửa và mảnh tên lửa đã giết chết trắc thủ Việt Nam. Những cái cây mọc cạnh cabin này đã bị các mảnh của tên lửa "Sraicơ" phạt ngang như bị cưa đứt. Chiếc lều bạt mà trước đó là nơi ăn ngủ của cả đại đội thì chỉ còn lại những mảnh bạt bị xé thành những mảnh to bằng chiếc khăn tay. Các chuyên gia quân sự Liên Xô đã gặp may: tất cả họ đều không việc gì.

Trong trường hợp tên lửa "Sraicơ" có chứa các viên bi nổ tung thì những viên bi ấy bắn toé ra khắp trận đỉa tên lửa, cắm vào các tên lửa đang nằm trên các bệ phóng. Đầu đạn của tên lửa nặng 200 kg sẽ nổ cùng với phần thân chứa chất ôxi hóa và nhiên liệu, sức nổ sẽ kích nổ những quả tên lửa nằm trên các bệ phóng khác Tất cả những vật bằng kim loại sẽ biến thành những mảnh vụn méo mó giống như vỏ chiếc đàn phong cầm. Nhiên liệu trong tên lửa bén lửa và bốc cháy sẽ sinh ra hóa chất độc hại. Tôi xin thưa với độc giả rằng cảnh tượng ấy gây ra một cảm giác hoàn toàn không dễ chịu chút nào.

Chúng tôi cũng học được cách áp dụng những phương pháp đối phó với loại tên lửa "Sraicơ". Khi phát hiện thấy tên lửa "Sraicơ" mà cột ăngten phát sóng đang hoạt động thì chúng tôi hướng ăngten của cabin "P" về hướng khác hoặc hướng lên phía trên. Tên lửa "Sraicơ" bay theo hướng phát sóng tối đa, vì vậy nó cũng quay về hướng khác hoặc hướng lên phía trên. Sau đó chúng tôi lập tức chấm dứt phát sóng ở ăngten của máy phát trong đài điều khiển tên lửa. Thế là tên lửa "Sraicơ" bị mất tín hiệu để tự tìm mục tiêu. Những cánh điều khiển hướng bay của nó bị kẹt lại bởi bộ nhớ, nó cứ bay tiếp trong tư thế đó, giống như loại tên lửa bình thường không có điều khiển và rơi cách trận địa tên lửa từ 1,5 km đến 2 km hoặc ở một khoảng cách tương tự phía sau trận địa. Bằng cách ấy, tuy bảo vệ được tiểu đoàn, nhưng chúng tôi đã uổng phí những quả tên lửa đã phóng đi. Tự bản thân chúng tôi đã học được cách đối phó và huấn luyện cho các bạn Việt Nam cách đối phó với kẻ địch thực tế và có sức mạnh.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #114 vào lúc: 27 Tháng Ba, 2009, 05:58:07 pm »

Chúng tôi cũng từng nếm trải bom bi là thế nào. Có một lần máy bay Mỹ oanh kích ngôi nhà ở của chúng tôi. Chúng ném xuống một quả bom mẹ trong có chứa các trái bom bi. Ở độ cao 500 m cách mặt đất nó vỡ ra. Từ trong đó văng ra 300 "quả bom bi nhỏ" và rơi xuống mái nhà và xuống mặt đất chung quanh ngôi nhà. Khi rơi xuống đất, bị đập mạnh, những quả bom bi phát nổ, làm cho hàng trăm viên bi có đường kính 3-4 mm bắn tung toé về mọi  phía. Tất cả những người có mặt trong ngôi nhà lúc ấy đều nằm rạp xuống sàn nhà. Những quả bom bi tiếp tục nổ trong vòng vài phút. Các viên bi đập vào cửa sổ, cắm vào tường nhà và trần nhà. Những quả bom bi nổ trên mái nhà thì không gây thương tích cho ai cả, vì ngôi nhà này có hai tầng. Những người có mặt ở ngoài ngôi nhà thì đã kịp ẩn nấp đằng sau những cột nhà ở phía sau bức tường thấp của hành lang. Thùng đựng nước uống đặt phía trước cột nhà thì đã biến thành chiếc thùng tưới, từ đó luồng nước trong veo chảy toé ra tứ phía. Sau trận bom này, trên đầu viên Trung úy 24 tuổi Nicôlai Baculin - là người đã có mặt ở bên ngoài ngôi nhà lúc xảy ra trận bom - đã xuất hiện mảng tóc bạc.

Có một nửa quả bom mẹ vỡ ra, với chiều dài 2100 mm và có đường kính 300 mm, cắm thẳng xuống đất ngay trước cửa ra vào của ngôi nhà, mặt lồi ra của nó hướng về phía chúng tôi. Khi mọi chuyện đã lắng yên, chúng tôi bắt đầu bước ra bên ngoài. Khi trông thấy nửa quả bom này, chúng tôi chạy bổ vào trong nhà vì tưởng đó là quả bom chưa nổ.

Sau khi nhận ra đó là quả bom rỗng, chúng tôi quyết định đặt nó dưới đệm giường của viên chỉ huy tiểu đoàn để trêu đồng chí ấy. Đứng ở trận địa, viên chỉ huy tiểu đoàn đã nhìn thấy cấp dưới của mình bị ném bom như thế nào, và đồng chí ấy nghĩ rằng có thể nhiều người đã hy sinh. Nhưng, thật may mắn cho chúng tôi, mọi chuyện đã chấm dứt suôn sẻ. Khi viên chỉ huy tiểu đoàn từ trận địa về đến ngôi nhà, chúng tôi đã ra đón đồng chí ấy với bài hát: “Hãy còn sớm để chúng ta có thể chết, ở nhà chúng ta còn có nhiều việc cần làm...". Khi nhìn thấy "vật lạ" ở dưới đệm giường mình, vị chỉ huy ấy đã phá lên cười cùng chúng tôi.

Sau một lần bị oanh tạc như vậy, một viên sĩ quan của chúng tôi - anh Xasa Guxép - đã sáng tác một bài ca chiến đấu phỏng theo điệu của bài hát nổi tiếng "Trên điểm cao không tên" trong bộ phim "Yên tĩnh".

Tên lửa để lại một vệt trên bầu trời
Đã bao nhiêu lần rồi.
Những ai dù chỉ một lần
Nhìn thấy cảnh những chiếc F-105 thả bom. 

Những hố bom trông giống những lòng chảo
Ai cũng biết, không phải vô cớ
Chúng tôi đứng chân giữa cảnh đổ nát
Tại một cây cầu trên đất Thái Nguyên.

Chúng tôi đã nếm trải sức tàn phá của tên lửa “Sraicơ"
Những trái phá nổ ngay trên đầu
Nhưng điều đó chỉ khiến chúng tôi
Thân thiết nhau hơn, 

Vì không có tình bạn nào mạnh hơn
Tình bạn chiến đấu...
Không có tình bạn nào mạnh hơn
Tình bạn giữa những người lính,

Vì nó được tôi luyện như thép
Trong cuộc chiến chống bầy giặc Mỹ
Nơi cây cầu trên đất Thái Nguyên
Chúng tôi sát cánh cùng những bạn Việt Nam

Đứng vững trên con đường đó.
Bạn gọi tôi là “tavaris"
Còn tôi gọi bạn là “đồng chí"
Tình anh em đó chính là

Sự đảm bảo cho chiến thắng và cũng là ước mơ.
Các đơn vị thuộc trung đoàn Brianxcơ
Đã hun đúc nên niềm vinh quang
Tại cây cầu trên đất Thái Nguyên.


Lời của bài hát ấy đã nói lên tất cả. Bài hát này đã trở thành bài ca truyền thống của trung đoàn tên lửa chúng tôi. Bài hát ấy cùng chúng tôi có mặt khắp nơi, nó vang lên trong tất cả những cuộc hành quân và trong tất cả mọi cuộc gặp gỡ với các bạn chiến đấu thuộc các tiểu đoàn khác của trung đoàn.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #115 vào lúc: 27 Tháng Ba, 2009, 05:59:06 pm »

Vào thời gian ấy những cuộc bắn phá ồ ạt của không quân Mỹ vào các cơ sở chiến lược quan trọng của Bắc Việt Nam đã bắt đầu được tiến hành dưới sự yểm trợ của các loại hình thiết bị gây nhiễu bằng sóng vô tuyến. Những thiết bị này được đặt trên các máy bay chuyên gây nhiễu. Đó là những máy bay ném bom chiến lược hạng nặng kiểu B-47 và B-52. Khi bay đi bay lại dọc theo biên giới Việt - Lào và Việt Nam - Campuchia, chiếc máy bay ấy tạo nhiễu để gây cản trở khiến các trạm ra đa điều khiển tên lửa của chúng tôi không phát hiện được mục tiêu. Trong điều kiện như vậy các máy bay Mỹ có thể thực hiện các phi vụ của mình mà không bị trừng phạt.

Để làm thất bại các kế hoạch chiến thuật của bọn Mỹ thì cần phải tiêu diệt chiếc máy bay gây nhiễu. Để làm việc này, mùa thu năm 1966 chúng tôi cùng đội ngũ của một tiểu đoàn thuộc trung đoàn chúng tôi đã tổ chức cuộc phục kích tại phía tây nam đường biên giới Việt - Lào, để đón chặn chiếc máy bay này tại nơi nó không ngờ sẽ gặp chúng tôi. Chúng tôi di chuyển bí mật vào ban đêm tắt đèn pha để tránh bị địch phát hiện. Sau khi thực hiện chuyến hành quân gian nan kéo dài vài trăm kilômét trên những con đường núi đầy hố bom, chúng tôi đã triển khai tiểu đoàn tên lửa phòng không của mình trong rừng rậm. Chúng tôi ngụy trang kỹ lưỡng các khí tài và bắt đầu chờ đợi.

Vào một ngày nọ chiếc máy bay gây nhiễu đã xuất hiện. Đó là chiếc RB-47, được tháp tùng bởi 10 chiếc máy bay tiêm kích ném bom kiểu F-105 và những máy bay cường kích kiểu A-4D. Chiếc máy bay RB-47 chứa đầy ắp các thiết bị máy móc vô tuyến, với đội bay đông khoảng 15 người, có giá rất đắt. Vì vậy nó được bảo vệ rất cẩn thận. Chúng tuyệt nhiên không thể ngờ sẽ chạm trán với chúng tôi ở cách xa mục tiêu oanh tạc của chúng. 

Các trắc thủ tại đài điều khiển tên lửa đã chộp bắt được chiếc máy bay RB-47, sau đó đã phóng một loạt 3 quả tên lửa. Mục tiêu đã bị tiêu diệt. May mắn cho chúng tôi, trong cảnh hoảng loạn khi xảy ra trận đánh, các máy bay hộ tống bảo vệ chiếc RB-47 đã không phát hiện thấy chúng tôi, cho nên chúng đã thả bom xuống trận địa tên lửa giả của chúng tôi. Trận địa này đã được kịp thời nghi trang đầy đủ, để bọn phi công tưởng đó là trận địa thật.  Khi trời tối, chúng tôi đã thu dọn khí tài, đưa nó vào tư thế hành quân và lên đường quay trở về. 

Vào đúng lúc chúng tôi tiêu diệt được chiếc máy bay gây nhiễu thì cuộc oanh tạc ồ ạt ở khu vực Hà Nội nhằm vào các cơ sở chiến lược và tại những khu vực khác của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vẫn tiếp diễn. Các phi công Mỹ cho rằng mọi chuyện diễn ra theo đúng kế hoạch của chúng và chúng hoàn toàn được an toàn để tiến hành các phi vụ của mình mà không sợ các tên lửa phòng không nữa.

Thế là cả ở những khu vực này, do không còn có được sự yểm trợ của sóng gây nhiễu, nên chúng cũng đã tính toán rất sai lầm: các tiểu đoàn tên lửa đã hoạt động mạnh và trong ngày hôm ấy đã bắn rơi hơn một chục máy bay Mỹ. Sau những tổn thất nặng nề về người và của ấy, các phi công Mỹ đã buộc phải ngừng tác chiến trong mấy ngày.

Còn chúng tôi, sau khi thực hiện cuộc hành quân gian nan trở về đã triển khai trận địa mới để tiếp tục chiến đấu.

Như vậy đó, chúng tôi lúc ấy còn là những trung úy mới 20 - 25 tuổi, cũng như các binh sĩ và hạ sĩ quan còn trẻ hơn đang làm nghĩa vụ quân sự? đã dần dần trưởng thành và tích luỹ kinh nghiệm chiến đấu. Tự bản thân chúng tôi đã tham gia chiến đấu và huấn luyện các chiến sĩ tên lửa Việt Nam biết cách chiến đấu và chiến thắng kẻ thù trong mọi tình huống. 

Dần dần chúng tôi trở thành những người công nhân bình thường ngoài mặt trận. Ngay cả trong những tình huống rất khó khăn và phức tạp, chúng tôi cũng vẫn vui đùa, sáng tác và ca hát, và cũng không nghĩ tới khả năng sẽ không còn sống để trở về nhà, nơi người thân và bạn bè vẫn chờ đợi chúng tôi.

Vào thời gian ấy người thân và bạn bè không biết tường tận điều gì về nơi chúng tôi đang có mặt, còn mẹ tôi thì chỉ đoán biết lơ mơ mà thôi. Trước ngày lên đường sang Việt Nam chúng tôi được cảnh báo nghiêm ngặt rằng đây là nhiệm vụ rất bí mật. Cho nên trong một thời gian dài mọi người cho rằng điều đó không bao giờ có thể xảy ra. Nhưng tất cả điều đó đã thật sự diễn ra.

Trung đoàn tên lửa phòng không 260 của chúng tôi thuộc Quân khu phòng không Mátxcơva, đóng quân tại thành phố Brianxcơ, là trung đoàn duy nhất trong toàn Liên Xô được phái sang Việt Nam với đầy đủ quân số. Trong thời gian thực hiện nhiệm vụ đặc biệt được Chính phủ giao phó hoàn thành tại Việt Nam, trung đoàn chúng tôi đã thực hiện 43 lần phóng tên lửa chiến đấu và bắn rơi 25 máy bay Mỹ. Tất cả những khẩu đội chiến đấu khác của các trung đoàn (các trung tâm huấn luyện) đã được hình thành từ các thành phần hợp tuyển - một số người được tuyển lựa từ các trung đoàn khác nhau và các quân khu phòng không khác nhau từ mọi miền của Liên Xô và được tuyển lựa trong suốt thời gian diễn ra cuộc chiến tại Việt Nam. 

Đối với cá nhân tôi - sĩ quan chỉ huy đại đội bệ phóng thuộc Trung đoàn tên lửa phòng không 260 - chuyến công tác đặc biệt tại Việt Nam đã kết thúc vào tháng 4-1966, là khi một nhóm chuyên gia quân sự mới của Liên Xô gồm 11 người đến Trung đoàn tên lửa phòng không 274 của Quân đội nhân dân Việt Nam để thay thế nhóm chuyên gia chúng tôi và tiếp tục công việc của chúng tôi.
Tháng 7-1977


Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #116 vào lúc: 29 Tháng Ba, 2009, 01:28:07 pm »

ISENCO IVAN CÔNXTANTINÔVÍCH

Ông sinh ngày 10-9-1928 tại làng Gôlubi huyện Temriúc thuộc tỉnh Craxnôđa. Ông bắt đầu làm việc vào tháng 8-1943 trong các xí nghiệp đánh cá ở Biển Đen và Biển Adôp.

Từ năm 1953, sau khi tốt nghiệp khoa kinh tế của Viện Hàn lâm nông nghiệp Mátxcơva mang tên C. A. Timiriadép, ông trở thành kỹ sư trưởng nông nghiệp, rồi trở thành Giám đốc Trạm máy kéo và máy nông nghiệp ở tỉnh Tờ ve. 

Sau thời kỳ tiến hành cải tạo các trạm máy kéo và máy nông nghiệp, từ năm 1958 đến năm 1964, ông làm việc tại Bộ Nông nghiệp Liên Xô.

Từ năm 1964 đến năm 1972 ông làm việc tại Văn phòng tham tán kinh tế của Sứ quán Liên Xô tại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (chuyên viên, phó tham tán). Trong những năm tiếp theo ông làm việc tại ủy ban nhà nước về hợp tác kinh tế (Bộ Kinh tế đối ngoại) Vụ các nước Đông Nam Á, chủ yếu phụ trách mảng vấn đề Việt Nam (tổng cộng 25 năm). .

Ông được tặng thưởng Huân chương Hữu nghị giữa các dân tộc, Huy hiệu vẻ vang, Huân chương Độc lập hạng B của Việt Nam và 9 huy chương, trong đó có Huy chương Hữu nghị do Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tặng.

CỨU NGUY CHO MÙA MÀNG

Tôi đã có cơ hội được công tác một thời gian dài (các năm 1964 - 1972) trong cơ quan đại diện kinh tế trực thuộc Sứ quán Liên Xô tại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nhiệm vụ chủ yếu của chúng tôi là phối hợp hoạt động của các tổ chức Liên Xô và các tổ chức của Việt Nam trong việc xây dựng nhiều cơ sở kinh tế quốc dân tại Việt Nam với sự hỗ trợ của Liên Xô (các mỏ than và các mỏ lộ thiên, các nhà máy điện, các đường tải điện cao thế, các cơ sở vận tải, các công trình xã hội, nông nghiệp và nhiều cơ sở khác). Có thể nói chúng tôi là cầu nối trong lĩnh vực hợp tác kinh tế Việt Xô.

Đó là thời kỳ khó khăn - thời kỳ nhân dân Việt Nam triển khai trên quy mô rộng rãi công cuộc xây dựng cuộc sống mới nhưng cũng đồng thời buộc phải đánh trả cuộc xâm lược quân sự của Mỹ. Mỗi người dân Việt Nam, từ trẻ đến già, đều mang tinh thần yêu nước cao cả, lao động hoặc chiến đấu với tinh thần quên mình. Một lần nữa tôi nhấn mạnh cụm từ này - với tinh thần quên mình. Họ làm công việc gì, điều đó không quan trọng - làm công việc khai thác than, trồng lúa hay là đánh trả những cuộc oanh tạc của không quân Mỹ - mỗi người đều lập công trên vị trí của mình. Trong hành động của người dân Việt Nam không hề có chút phô trương nào cả. Mọi cái đều tự nhiên và đơn giản. Không cần phải thúc ép ai hoặc không phải thuyết phục về điều gì đó. Mọi người dân đều mang niềm tin sâu sắc về tương lai tốt đẹp và thắng lợi của dân tộc mình. Từng cá nhân và cả cộng đồng đều làm một việc là bảo vệ nền tự do và độc lập vừa mới giành được. Nếu nói một cách ngắn gọn thì đó là bầu không khí chung của xã hội Việt Nam trong những năm đó.

Do tính chất công việc, tôi thường hay có dịp đi nhiều nơi trên đất nước Việt Nam, gặp gỡ với các cán bộ Việt Nam. Mỗi chuyến đi công tác hoặc mỗi cuộc gặp gỡ ấy đều rất có ý nghĩa đối với bản thân tôi.

Tôi còn nhớ một trường hợp như sau. Vào một buổi sáng sớm của một ngày đầu tháng 7-1966 có một cán bộ của một tổ chức kinh tế đối ngoại thuộc Chính phủ Việt Nam đến cơ quan đại diện của chúng tôi. Đó là đồng chí Trần Lạc (Чaн Лак), cán bộ bên "Nhập khẩu thiết bị", một đồng sự với tôi. Với giọng lo âu đồng chí ấy cho biết ở tỉnh Hà Nam Ninh, tại trạm bơm Cổ Đạm - vào đêm hôm trước trạm bơm này được chuyển sang chế độ bơm nước ra khỏi các cánh đồng lúa - có một bơm dừng lại. Ba bơm còn lại đang hoạt động thì không kịp bơm nước ra khỏi các cánh đồng. Còn cụm máy bơm thứ năm, cụm sau cùng thì còn đang trong giai đoạn xây lắp.

Tôi xin giải thích với bạn đọc rằng trạm bơm Cổ Đạm là một trong số 5 trạm bơm đã và đang được xây dựng vào thời gian đó tại Việt Nam với sự hỗ trợ của Liên Xô. Những trạm bơm ấy có nhiệm vụ bơm nước từ dưới sông vào các kênh thủy lợi để tưới cho các cánh đồng lúa. Trong trường hợp mưa quá nhiều (ở Việt Nam không hiếm những trường hợp như vậy) thì các trạm bơm này có thể làm việc theo chế độ ngược lại, nghĩa là hút nước từ các đồng lúa và bơm ra sông. Đó là những trạm bơm có công suất lớn. Chỉ riêng một bơm của trạm này có khả năng bơm được 5 nghìn mét khối nước trong một giờ.

Vào những ngày ấy - tức là những ngày đang được nói tới - mưa như trút nước đã 3 ngày liền. Tại khu vực hoạt động của trạm bơm Cổ Đạm mực nước trong đồng lúa đã vượt quá mức cho phép - thân cây lúa gần như chìm hoàn toàn trong nước. Thực sự đã xuất hiện nguy cơ có thể làm cho lúa chết hoặc ít ra cũng làm giảm mạnh sản lượng thu hoạch. Cần phải có những biện pháp khẩn cấp nhằm đưa thật nhanh tổ máy bơm bị hỏng trở lại hoạt động.

Sau cuộc họp ngắn chúng tôi quyết định cử đến đó một nhóm chuyên gia Liên Xô và Việt Nam để bước đầu chí ít xác định cho được nguyên nhân gây ra sự cố. Tôi và đồng chí Trần Lạc đã cùng nhóm chuyên gia này đi đến đó.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #117 vào lúc: 29 Tháng Ba, 2009, 01:29:03 pm »

Cuộc tập hợp diễn ra một cách nhanh chóng, khẩn trương. Trên đường đi chúng tôi ghé vào khu Kim Liên - một khu chung cư nhỏ ấm cúng không xa trung tâm Hà Nội. Đây là nơi ở của các chuyên gia nước ngoài. Nhập vào nhóm chúng tôi còn có chuyên gia Liên Xô N. I. Maxlô đến từ thành phố Nôvôxibiếcxcơ, là nơi sản xuất ra các thiết bị điện trong những cỗ máy phức tạp ấy. Vị kỹ sư người Việt đã ngồi trong xe rồi.

Chúng tôi nhanh chóng phóng xe ra ngoài thành phố Hà Nội, vùng ven đô, rồi chạy theo con đường khá hẹp, hai bên đường là mênh mông những ruộng lúa chạy dài đến tận chân trời. Những ruộng lúa ấy ngập sâu đến nửa mét trong nước. Chỉ đôi chỗ mới nhìn thấy những bờ đất ngăn ruộng này với ruộng bên. Ngọn lúa chỉ nhô ra khỏi mặt nước không quá 5 centimét. Hiển nhiên là nếu không hút nước ra khỏi các cánh đồng lúa thì vụ thu hoạch sẽ bị mất trắng.

Chúng tôi hành động khẩn trương. Nhưng không thể cho xe chạy nhanh hơn được: cả hai phía đều có những chiếc xe đạp nối đuôi nhau thành hàng dài. Người lái xe của chúng tôi, anh Tuấn (Tyah) thực sự là tay lái cừ khôi, đã cho xe chạy ngoằn ngoèo đến chóng mặt để tránh và vượt lên trên những chiếc xe đạp ấy mà không tông hoặc quệt phải người nào cả.

Nhưng vào khoảng giữa trưa, từ phía trái, từ phía biển, có một đám mây xám rất lớn di chuyển về phía chúng tôi. Nó tạo thành hình cánh cung. Đám mây đen ấy sôi lên, mọi cái trong đó đảo lộn, những tia chớp không ngừng loé sáng, tiếng sấm vang rền. Đó là đợt đầu của cơn dông đang kéo đến - phần trực diện của nó. Ngay sau đó gió thổi mạnh, mưa trút xuống thành những luồng nước chéo. Mây mưa dữ dội và dầy đặc đến nỗi trong một nháy mắt chung quanh đã tối đen, không còn trông thấy đường đi nữa. Thậm chí cũng không nhìn thấy được biểu tượng con hươu đang phi ở phía trước mũi xe "Vônga" của chúng tôi. Từ trên trời nước tuôn xối xả; thật đúng là mưa như trút nước. Tất nhiên, không thể đi tiếp được nữa. Anh lái xe thận trọng đậu xe bên lề đường. Chúng tôi dừng lại và đóng các cửa kính của xe. Trong xe lại càng trở nên tối hơn và ngột ngạt như trong phòng tắm hơi tràn đầy hơi nước. Tình hình mưa như vậy kéo dài gần nửa giờ. Trong lúc chúng tôi đứng đợi tạnh mưa thì đồng chí Trần Lạc pha trò, bảo rằng cơn dông ập đến mà chẳng báo trước, rằng năm ấy mùa mưa đến sớm hơn thường lệ. Thông thường mùa mưa bắt đầu vào tháng 8 - tháng 9.

Sau trận mưa - nó chấm dứt cũng chớp nhoáng như lúc nó ập đến - chúng tôi nhìn thấy một cảnh tượng gây chấn động. Trên đoạn đường mà vừa mới trước đó còn đông đúc những chiếc xe đạp thì nay chẳng còn thấy một bóng người. Bất giác trong đầu nảy ra một ý nghĩ cho rằng cơn mưa vừa rồi đã quét sạch mọi sự sống khỏi mặt đường hiểu theo ý nghĩa thực sự, chứ không phải nghĩa bóng. Đâu đó trên mặt đường thấy vương vãi những thân cây bị gió quật đổ Còn những ngọn lúa trước đó còn thấy ló ra trên cánh đồng thì hầu như đã hoàn toàn bị chìm dưới mặt nước.

Chúng tôi im lặng nhìn nhau trong suy tư. Đồng chí Tuấn lái xe tì tay lên ngực, rồi chỉ vào biển nước bao quanh chúng tôi từ mọi phía mà nói: "Tôi không thể nhìn tiếp. Đau tim mất. Mùa vụ sẽ bị mất trắng, công lao động , cực nhọc của mọi người sẽ bị mất trắng". Đồng chí Tuấn nói ra những lời ấy bằng tiếng Nga rất rõ. Tiện đây xin nói, đồng chí Tuấn còn biết khá thành thạo tiếng Pháp và tiếng Trung Quốc. Còn bây giờ lại học rất có kết quả cả tiếng Nga nữa.

Vào khoảng 3 giờ chiều chúng tôi đã đi trên con đê chạy dọc theo sông. Ở xa xa đâu đó trên con đê này có trạm bơm. Sau cơn mưa trời lại quang mây, mặt trời lại ló ra. Không khí trở nên nóng bức và ngột ngạt. Thỉnh thoảng mới bắt gặp những chiếc xe đạp và những chiếc ôtô con đi lại chậm chạp. Ở phía dưới chân đê, sát phía ruộng lúa có những con trâu được chăn thả, các em nhỏ Việt Nam ngồi trên lưng trâu hoặc ngủ gà ngủ gật ôm lấy lưng trâu, những con vật hiền lành do chúng chăn dắt. Tóm lại, tất cả mọi vật chung quanh đều yên lành, đời thường, bình yên, không có gì báo trước về một thảm họa nào.

Bỗng nhiên chiếc "commăngca" chạy ở phía trước chúng tôi đột ngột dừng lại. Từ trong chiếc xe ấy có bốn binh sĩ cầm súng nhảy bổ ra, nhanh chóng tụt xuống phía sông và chuẩn bị bắn lên không trung. Những người đi xe đạp trên mái đê đã quẳng xe đạp và bỏ chạy xuống phía chân đê để tìm một nơi ẩn nấp nào đó. Chúng tôi liền hiểu ngay điều đó có nghĩa là gì, bởi vì, tiếc thay trước đó chúng tôi cũng đã gặp phải những tình huống như vậy. Đó là cuộc oanh tạc của các máy bay tiêm kích - ném bom "Con ma" của Mỹ.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #118 vào lúc: 29 Tháng Ba, 2009, 01:29:34 pm »

Chúng tôi nhảy ra khỏi xe và trông thấy ở phía bên phải có hai chiếc máy bay như thế. Chúng bay ở tầm thấp, và hình như bay với tốc độ chậm hơn âm thanh, nhằm thẳng hướng kho xăng nhỏ hiện ra ở phía trước chúng tôi, ở khoảng cách 2 âm, cách con sông không xa. Bỗng nhiên, không rõ từ đâu, có những loạt súng nổ inh tai nhức óc. Người ta bắn từ đủ các loại súng gì có thể bắn được: pháo cao xạ, súng trường, súng tiểu liên và thậm chí cả súng săn. Ở trên không trung là những quả đạn pháo nổ, còn những mảnh đạn thì rơi xuống đất, phạt đứt lá cây và cành cây.

Các phi công Mỹ thả những quả bom gây chết chóc, nhưng đã không chính xác. Những quả bom bị rơi chệch sang phía bên phải kho xăng chừng một kilômét. Rõ ràng là hỏa lực bắn chặn dầy đặc đã cản trở không để cho chúng ném bom chính xác hơn.

Cuối cùng thì lúc xẩm tối chúng tôi đã đến được địa điểm cần đến. Mọi người đã nóng lòng chờ chúng tôi từ lâu. Sau buổi uống trà nghi thức và tất nhiên có kèm theo những ý kiến trao đổi sôi nổi về các sự kiện đã xảy ra, mọi người đã bắt tay vào việc. Các chuyên gia đã nhanh chóng xác định nguyên nhân dẫn đến hỏng hóc của máy bơm. May thay, chỗ hỏng không phức tạp lắm. Có thể khắc phục chỗ hỏng hóc trong điều kiện của trạm bơm ấy, với những dụng cụ sửa chữa sẵn có của trạm bơm.

Công việc diễn ra sôi nổi suốt đêm. Đến lúc mặt trời mọc thì các chuyên gia đã vui mừng cho biết rằng mọi thứ đã sẵn sàng và có thể khởi động máy bơm cho nó hoạt động. Thao tác quan trọng ấy - khởi động tổ máy - đã được trao cho một chàng trai Việt Nam trẻ tuổi nhất. Anh thanh niên này vừa mới tốt nghiệp trường kỹ thuật và rất muốn thật mau chóng tinh thông những bí quyết trong cái nghề phức tạp và quan trọng của mình. Đứng lặng một giây lát tựa hồ như chuẩn bị xông vào giao chiến với con giao long vô hình, chàng thanh niên ấy, với vẻ dứt khoát đã tiến đến bàn điều khiển và ấn vào nút khởi động. Tất cả tòa nhà trạm bơm rung chuyển. Động cơ điện với công suất lớn đã bắt đầu từ từ tăng vòng quay. Thế là chẳng bao lâu sau từ cái miệng ống to lớn của máy bơm xuất hiện dòng nước sủi bọt. Dòng nước ấy bắt đầu được hút từ phía dưới, rồi khi lên đến độ cao ở phía trên thì ầm ầm đổ vào con sông.

Mặc dù suốt đêm không được ngủ, nhưng không có ai tỏ ra mỏi mệt. Mọi người vui vẻ chúc mừng nhau, với vẻ thỏa mãn họ lắng tai nghe tiếng ầm ầm, đều đều tự tin và làm yên lòng người của tổ máy khổng lồ đã cứu nguy cho vụ mùa.

Sau một lát nghỉ ngơi, với sự tuân thủ mọi biện pháp an toàn được khuyến cáo, chúng tôi lên đường trở về Hà Nội.
Tháng 2- 2004

Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #119 vào lúc: 29 Tháng Ba, 2009, 01:30:40 pm »

BÔNĐARENCÔ IGO VLAĐIMIRÔVÍCH

Ông sinh ngày 18-4-1928 tại thành phố Poóckhôvô thuộc tỉnh Lêningrát, trong một gia đình quân nhân.

Năm 1947 ông vào học Trường bộ binh số 1 mang tên X M. Kirốp. Sau khi tốt nghiệp trường này, từ năm 1949 đến năm 1959 ông phục vụ trong Sư đoàn bộ binh cơ giới cận vệ 70 thuộc Quân đoàn 38, với các chức vụ chỉ huy trung đội, chỉ huy đại đội, phó chỉ huy tiểu đoàn súng máy cao xạ.

Năm 1955 ông tốt nghiệp khóa học cao cấp của Binh chủng phòng không tại thành phố Éppatôria.

Từ năm 1959 đến năm 1961 ông phục vụ trong tập đoàn quân Liên Xô tại Đức, với chức vụ Tham mưu trưởng tiểu đoàn rồi Phó tham mưu trưởng lữ đoàn pháo cao xạ.

Sau khi trải qua khóa bồi dưỡng từ năm 1961 đến năm 1969 ông tiếp tục phục vụ trong lữ đoàn tên lửa phòng không thuộc Quân khu Trung Á, với chức vụ chỉ huy tiểu đoàn cao xạ, trưởng ban trinh sát, trưởng đài chỉ huy - phó tham mưu trưởng lữ đoàn, phụ trách công tác điều hành tác chiến.

Tư tháng 9-1965 đến tháng 8-1967 ông đã tham gia chiến đấu tại Việt Nam, với chức vụ chỉ huy tiểu đoàn tên lửa phòng không.

Từ năm 1969 đến năm 1981 ông phục vụ tại Bộ tham mưu Cục phòng vệ dân sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xôviết Cưrơgưxtan.

Ông đã được tặng thưởng Huân chương Cờ đỏ, Huy hiệu Chiến sĩ quốc tế và 10 huy chương, trong đó có Huy chương Hữu nghị của Việt Nam.

Ông mất ngày 5-11-2001.

TRẬN PHỤC KÍCH TRÊN DÃY TAM ĐẢO

Trước ngày được điều sang công tác tại nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tôi phục vụ trong quân ngũ tại một địa điểm cách ga xe lửa Aiagudơ 20 km thuộc tỉnh Xêmipalatin, là nơi đóng quân hồi ấy của lữ đoàn tên lửa phòng không của chúng tôi. Công việc phục vụ trong quân ngũ trên miền thảo nguyên Cadắcxtan thật khắc nghiệt và gian khổ. Ngày nào cũng vậy, đặc biệt vào mùa đông, phải giải quyết các vấn đề đảm bảo đời sống cho cán bộ chiến sĩ tiểu đoàn trong giá lạnh -40oC, gió thổi liên tục. Mùa hè thì nóng tới +40oC.

Đầu mùa hè 1966 người ta đề xuất cử tôi sang Việt Nam, là nơi mà lúc đó đang diễn ra một cuộc chiến tranh thực sự. Tôi đã lập tức đồng ý. Việc thành lập hai trung đoàn tên lửa phòng không, hay là theo cách gọi lúc bấy giờ hai trung tâm huấn luyện các chiến sĩ tên lửa Việt Nam, dưới sự chỉ huy của Đại tá A. Iarôxlápxép và Đại tá A. Vaganốp đã diễn ra bằng cách tuyển nhân sự từ Quân đoàn không quân Tasken tại thành phố Đusanbe. Từ đó đáp các máy bay kiểu IL- 18, bay qua Iếccút - Bắc Kinh để đến Hà Nội. Trung tâm của chúng tôi dưới sự chỉ huy của Đại tá Iarôxlápxép đã đến trước tiên vào ngày 16-9. Sau đó 5 ngày "quân của Đại tá Vaganốp" đã đến.

Sau cuộc họp huấn thị vắn tắt - điều khiển cuộc họp này là một người đàn ông đã có tuổi, dáng vẻ đường bệ, tự giới thiệu là thủ trưởng của chúng tôi, phụ trách binh chủng tên lửa phòng không trong Đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô tại Việt Nam, đó là tướng A. Đdưda - người ta đưa chúng tôi lên xe buýt, đi theo hướng Hà Bắc. Ngay đêm hôm đó chúng tôi đã hiểu rằng tại đây đang diễn ra cuộc chiến tranh thực sự với người Mỹ khi xe chúng tôi chạy qua thành phố Thái Nguyên. Đâu đó cách không xa nghe thấy những tiếng nổ, những loạt đạn cao xạ cỡ nhỏ vạch thành những vệt sáng trong đêm tối như mực của vùng nhiệt đới.

Chúng tôi lưu lại trong rừng Hà Bắc chỉ một tuần lễ: không quân Mỹ bắt đầu hoạt động mạnh ở khu vực này. Trận địa của tiểu đoàn kỹ thuật ở cách chúng tôi 4 km đã bị ném bom. Cột khói dầy đặc mầu nâu phát ra từ bình chứa axit nitric bị nổ bốc lên cuồn cuộn trên cánh rừng. Ban chỉ huy đã quyết định chuyển chúng tôi đến vùng ngoại thành Hà Nội, tức là đến vùng Hà Đông, để tránh nguy hiểm. Chính tại đây đã diễn ra những buổi lên lớp cho toàn đội ngũ của trung đoàn tên lửa phòng không của Việt Nam. Tôi được giao nhiệm vụ lên lớp về chiến thuật và môn xạ kích của binh chủng tên lửa phòng không.

Vào những buổi tối, trong giờ nghỉ ngơi hiếm hoi và ngắn ngủi chúng tôi hát những bài hát ưa thích. Việc làm này giúp rất nhiều trong việc giải tỏa tình trạng thần kinh căng thẳng và được các bạn Việt Nam rất hoan nghênh.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM