Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:19:20 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chiến tranh Việt Nam là thế đó 1965 - 1973  (Đọc 146324 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #140 vào lúc: 01 Tháng Tư, 2009, 01:08:44 pm »

Dưới đây là những hồi ức kiểu đánh phục kích của một chuyên gia quân sự Liên Xô đã làm việc trong nhóm này, Trung tá Alếchxanđrơ Iacốplép (người ghi là V. Surưghin, Đài chỉ huy số 27, ghi ngày 2-2-1990):

"… Các tiểu đoàn đã bí mật rút vào rừng. Tại đó họ triển khai trên các trận địa đã được chuẩn bị từ trước và... nằm im.

Trong vòng mấy ngày họ nghiên cứu tình hình bầu trời, các khu vực máy bay địch thường hoạt động, chuẩn bị các dữ liệu và chỉ sau đó mới thực hiện tác xạ.

Một chiếc máy bay Mỹ F-105 đã bay trên một thung lũng nhỏ kẹp giữa hai ngọn núi. Không mang theo bình xăng phụ, với trọng lượng nhẹ tối đa - nó là máy bay trinh sát và cũng là mồi nhử. Phía sau nó ở đâu đó có một tốp máy bay xung kích. Sau vài phút từ đám mây vọt ra một cặp máy bay "Con ma". Thế là cuộc "phục kích" lên tiếng. Quả tên lửa đầu tiên đã quật ngã chiếc máy bay đi đầu. Như một ngọn đuốc cháy rực chiếc máy bay ấy đã đâm vào cánh rừng. Chiếc máy bay đi theo nó gấp rút lượn vòng, tấn công vào trận địa giả và rơi vào hỏa lực của pháo cao xạ.

Loạt đạn ngắn của các khẩu pháo cao xạ đã cho nó một đòn chí mạng. Nó chỉ còn cách vỡ tan trong không trung và trở thành một đống mảnh vụn rơi xuống đất. Trên bầu trời trống không bật ra một chiếc dù. Mấy phút sau cả chiếc máy bay lên thẳng được phái đến cứu tên phi công cũng bị tiêu diệt nốt.

Nhưng một lúc sau trận địa tên lửa đã gánh chịu một trận bắn phá bằng tên lửa và bom của một tốp lớn các máy bay cường kích. Nhưng những quả bom ấy đã nổ ở chỗ trống vắng. Tiểu đoàn tên lửa đã trên đường hành quân rồi. Ở đây mọi chuyện được quyết định trong vài phút. Sau khi phóng tên lửa nếu như trong vòng 40 phút mà tổ hợp tên lửa phòng không và các khẩu đội chiến đấu của nó không rời khỏi trận địa thì trên thực tế nó không có cơ hội còn nguyên vẹn. Máy bay Mỹ ném bom rất chính xác.

Trung đoàn chúng tôi được sự yểm trợ của các khẩu đội pháo cao xạ và họ đã làm việc này một cách xuất sắc..."

Các chuyên gia quân sự Liên Xô tại Việt Nam sống trong những điều kiện không dễ dàng. Họ phải làm quen với khí hậu nhiệt đới rất khắc nghiệt đối với người châu Âu khi mà nhiệt độ không khí suốt ngày ở ngưỡng từ +35oC đến +40oC, Còn độ ẩm là từ 80% đến 100%. Họ sống trong những nhà lán làm bằng tre và lá cọ, hoặc trong những nhà bạt nằm ẩn trong rừng. Nhiều khi phải hành quân vào ban đêm băng qua những ngôi làng với những ngôi nhà bằng đất đã bị ngập nước mưa, dưới làn bom và các vụ bắn phá bằng tên lửa của địch. Vào những thời điểm tác chiến thì tình hình rất gian khổ. Trong các cabin điều khiển của bộ khí tài tên lửa phòng không nhiệt độ lên đến +70oC, vậy mà các khẩu đội lại phải có mặt liên tục nhiều giờ liền trong những hộp kim loại bị hun nóng ấy. Bộ quân phục của các quân nhân Liên Xô trong các cabin điều khiển ấy gồm mũ sắt trên đầu và chiếc quần đùi. Mồ hôi trên thân thể tuôn ra như suối. Ở phía dưới ghế ngồi của các trắc thủ vận hành thiết bị là những vũng mồ hôi không bao giờ khô.

Điều gây khó chịu và thậm chí còn làm hại sức khoẻ là một số lượng lớn các loại côn trùng khác nhau. Trong số đó có nhiều loài có nọc độc, còn một số loài côn trùng (chúng tôi gọi chúng là loài côn trùng "chứa chất phốt pho") khi rơi từ cây cối vào thân thể con người đã để lại những vết rộp trên da, chúng bắt đầu mưng mủ và trong thời gian dài không khỏi. Ở đâu đâu cũng thấy nhiều rắn độc gây ra những vết cắn chết người. Các bác sĩ quân y Liên Xô có vắc xin để tiêm cho người bị rắn cắn nhưng cách đó không phải lúc nào cũng có tác dụng.

Tại những điểm dân cư nông thôn, trong các ngôi làng dịch vụ y tế rất kém cỏi: Nước trong các giếng nước địa phương và trong các con sông thì rất bẩn và chứa nhiều loại vi trùng gây bệnh. Loại nước này hoàn toàn không thể sử dụng để uống và nấu ăn. Chỉ sau khi đun sôi rất lâu thứ nước ấy mới sử dụng vào việc nấu ăn được.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #141 vào lúc: 01 Tháng Tư, 2009, 01:10:05 pm »

Việc ăn uống của các chuyên gia quân sự Liên Xô làm việc trong các đơn vị quân đội Việt Nam được thực hiện thông qua tổ phục vụ của đơn vị gồm một số chiến sĩ Việt Nam. Sĩ quan quân vụ mua thực phẩm tại các hợp tác xã và của dân chúng địa phương. Các chuyên gia quân sự Liên Xô trả tiền cho việc ăn uống và số tiền ấy là không nhỏ. Trên thực tế phần lớn số tiền (hơn 60%) được nhận bằng đồng tiền nước sở tại - đồng Việt. Nam - đều chi vào việc mua thực phẩm. Thức ăn chủ yếu được nấu theo kiểu Việt Nam và rất giản dị.

Nói về sinh hoạt đời thường thì các chuyên gia quân sự Liên Xô ở trong hoàn cảnh khó khăn. Xin dẫn ra đây những hồi ức của Trung úy binh chủng tên lửa V. A. Bôrixencô: "Liệu có thể nói về một sinh hoạt đời thường không? Tám tháng ở trên xe, tự mình phải tác chiến, sau đó chúng tôi còn phải kèm cặp các bạn Việt Nam, cũng trong tư thế trên xe. Thông thường chúng tôi thu xếp chỗ ngủ qua đêm ở rìa các ngôi làng, trong các nhà chứa nông cụ. Chúng tôi ngủ trên những chiếc giường gấp hoặc trên những chiếc chõng có trải đệm, phía bên trên treo chiếc mùng chống các loại côn trùng chích đốt, cứ như vậy đến sáng. Không hề có tủ lạnh, không hề có quạt máy, vòi tắm - những thứ ấy chỉ có trong mơ. Khi chúng tôi ở trên các trận địa thì mỗi tuần người ta tổ chức tắm nước nóng một lần - đun nước nóng bằng lò".

Các chuyên gia Liên Xô rất nhớ nhà, nhớ gia đình, người thân và bạn bè, nhớ quê hương thân yêu. Về chuyện này có một bài hát do các quân nhân Liên Xô sáng tác tại Việt Nam.

Dò dẫm trong đêm trên các đầm lầy Việt Nam,
Trong rừng rậm sương mù dày đặc.
Trong những trái tim Nga, vết thương đang thổn thức,
Việt Nam ơi! Nỗi đau của Người có trong tim tôi.
Người thân yêu ơi, đợi anh về em nhé.
Anh gõ cửa nhà em một sáng tháng Năm trời đẹp,
Em dang tay cười đón lấy anh nơi bậc cửa,
Tặng anh nụ hôn cháy bỏng với rượu nồng.
Ta mong sao gặp ngọn gió hiền hoà,
Để vơi bớt những nặng nề trong hơi thở,
Ở mảnh đất nơi ta đang bảo vệ
Trên hành tinh bị Thượng đế đọa đầy..

Điệp khúc:
Cầu mong số phận để chúng tôi còn nhìn lại
Những cánh rừng, ngọn đồi và bầu trời nước Nga.
Số phận ơi xin đừng nghiệt ngã,
Cho chúng tôi sống trở về nước Nga
.

Thời gian có mặt của các chuyên gia quân sự Liên Xô tại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lại không giống nhau, tùy thuộc ngành chuyên môn và nhu cầu cần thiết. Thời gian ấy dao động trong khoảng từ vài tháng đến một năm. Thời hạn có mặt tại Việt Nam đến hai năm chỉ áp dụng đối với ban lãnh đạo Đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô tại Việt Nam: đối với Trưởng đoàn chuyên gia, Phó trưởng đoàn phụ trách công tác chính trị và Tham mưu trưởng của Đoàn chuyên gia.

Sau khi mãn hạn công tác ở Việt Nam các chuyên gia Liên Xô được đổi số tiền Việt Nam chưa tiêu hết thành các chứng phiếu của "Dịch vụ ngoại thương" có đường vạch mầu tím. Tại các cửa hàng "Bạch dương" có thể dùng các chứng phiếu ấy để mua một số mặt hàng. Những phiếu chứng nhận ấy có giá trị bằng đồng rúp trong nước, trong khi ấy ở những nước khác không có chiến tranh thì các chuyên gia Liên Xô nhận được các chứng phiếu có đường vạch màu vàng hoặc "không có vạch". Những phiếu chứng nhận ấy có trị giá cao gấp 5 lần và hơn thế so với đồng rúp ở Liên Xô. Ngoài ra, những mặt hàng khan hiếm và có chất lượng tốt nhất lại không thể mua được bằng chứng phiếu có vạch màu tím.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #142 vào lúc: 01 Tháng Tư, 2009, 01:11:18 pm »

Dưới đây là những hồi ức của Đại tá A. Đ. Iarôxlápxép là người đã phục vụ hơn một năm tại Việt Nam, đã đào tạo huấn luyện hai trung đoàn tên lửa phòng không của Quân đội nhân dân Việt Nam và đã trực tiếp tích cực tham gia trong các trận đánh - về việc sau ngày trở về Tổ quốc ông đã cố gắng sử dụng các chứng phiếu vạch màu tím được cấp tại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để mua những mặt hàng cần thiết.

“Từ Việt Nam tôi trở về Liên Xô vào tháng 1-1968. Lúc đó thời tiết lạnh cóng, mà tôi thậm chí không có áo măng tô, còn tất cả quần áo của tôi đã bị rách nát sau thời gian sống ở trong rừng rậm. Tôi phóng xe đến cửa hàng "Bạch dương" với hy vọng mua cho mình chiếc măng tô kha khá để khỏi mang dáng vẻ của một kẻ như vừa ra khỏi nhà tù. Trong cửa hàng "Bạch dương" có nhiều mặt hàng tuyệt hảo. Tôi rất thích chiếc áo măng tô bằng da, có lót bằng lông thú, hợp với khổ người tôi. Tôi đề nghị chị bán hàng cho mua chiếc măng tô ấy và cho đo thử. Chị ta hỏi:

- Bác có chứng phiếu loại nào ạ?

Lúc đó tôi chưa biết rằng có những chứng phiếu khác nhau. Tôi trả lời cô bán hàng:

- Sao lại có nhiều loại chứng phiếu? Tôi có loại chứng phiếu bình thường - rồi tôi rút ra những chứng phiếu có đường vạch tím .

Cô bán hàng nở nụ cười và nói:

- Chiếc măng tô này chỉ được mua bằng loại tiền tự do chuyển đổi hoặc bằng những chứng phiếu không có vạch.

Vậy là tôi không mua được chiếc măng tô mà tôi thích.

Nhưng trong khi đó các chuyên gia quân sự chúng tôi lại tự hào với nhiệm vụ quan trọng và khó khăn mà họ đã hoàn thành vẻ vang tại Việt Nam. Vì vậy mà tại đó đã ra đời những vần thơ sau đây:

Chúng tôi đã quen với những lần báo động và những trận bom,
Chúng tôi sẽ thấy buồn tẻ ở miền đất thân thương.
Chúng tôi không muốn đến Cuba và Aicập,
Chúng tôi chẳng thèm những đồng tiền có vạch mầu vàng
.

Ở nhà, gia đình của các chuyên gia quân sự Liên Xô nhận số lương của các sĩ quan và các hạ sĩ quan theo mức lương chức vụ sau cùng của họ tại Liên Xô.

…

Trong suốt nửa cuối của năm 1965 máy bay Mỹ đánh phá các mục tiêu khác nhau hầu như trên toàn lãnh thổ Bắc Việt Nam. Tại phần lớn các tỉnh của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, việc phòng thủ chống không quân địch nhằm bảo vệ các mục tiêu đóng trên phạm vi các tỉnh ấy đều được thực hiện bởi lực lượng pháo cao xạ, các máy bay tiêm kích thuộc lực lượng không quân của Quân đội nhân dân Việt Nam và một số tiểu đoàn tên lửa phòng không độc lập hoạt động ở "những ổ phục kích".

Việc chiến đấu với kẻ địch, nhất là với một kẻ địch như các phi công Mỹ sử dụng các máy bay chiến đấu hiện đại, được trang bị vũ khí mạnh, mang nhiều tên lửa các loại, kiểu "không đối đất", "không đối không", cũng như mang những loại bom khác nhau, công việc chiến đấu ấy, ngoài trình độ chuyên nghiệp cao và khả năng giỏi điều khiển các phương tiện kỹ thuật chiến đấu, thì còn đòi hỏi cả những phẩm chất tinh thần tâm lý cao, ý chí kiên cường như sắt thép.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #143 vào lúc: 01 Tháng Tư, 2009, 01:12:07 pm »

Dưới đây là những dòng mô tả tâm trạng bản thân trong quá trình diễn ra trận đánh, do Trung úy Binh chủng tên lửa phòng không V. A. Bôrixencô viết:

"Có lẽ tất cả anh em chúng tôi đều là những người được phúc tinh chiếu mệnh. Đã nhiều lần chúng tôi bị oanh tạc và bị ném bom, nhưng chỉ bị hoảng sợ và biến đổi sắc mặt, chứ không hề hấn gì. Thật là điều kinh khủng và khó chịu mỗi khi bom nổ làm cho tất cả ruột gan cứ trào lên tận cuống họng, còn tai thì ù tịt đi. Mọi thứ ở chung quanh đều bị bụi bao phủ, chẳng còn nhìn thấy gì, hoàn toàn mông lung. Thế là trong đầu vụt hiện lên những sự việc rời rạc trong cuộc đời và nhất là hình bóng người mẹ.

Tôi sẽ không bao giờ quên được trường hợp sau đây: có một lần còi báo động vang lên. Tôi bỏ bữa sáng, lao vào cabin điều khiển, ngồi vào vị trí chiến đấu của mình theo ca trực chiến. Dọc theo con đường có những hào giao thông. Trong những con hào ấy có các chiến sĩ Việt Nam ẩn nấp. Họ thuộc khẩu đội 2 (khẩu đội bệ phóng). Họ gọi tôi xuống hào giao thông để dùng súng tiểu liên bắn vào máy bay địch nhưng tôi không thuộc khẩu đội bệ phóng, vị trí của tôi là ở trong cabin điều khiển. Tôi vẫy tay cho họ báo cho họ biết tôi không xuống hào mà chạy tiếp vào cabin điều khiển.

Trong trận đánh này bọn Mỹ ném bom xuống trận địa của tiểu đoàn... Những cây cối chung quanh trận địa không còn một cọng lá. Thật là một cảnh tượng hãi hùng".

Ngày 12-4-1966 lần đầu tiên trên bầu trời Việt Nam Dân chủ cộng hòa đã xuất hiện những chiếc máy bay ném bom chiến lược hạng nặng 8 động cơ của Mỹ - những chiếc B-52 xuất phát từ căn cứ trên đảo Guam. Trước đó, bộ chi huy Mỹ chỉ sử dụng những máy bay ném bom kiểu ấy để ném bom xuống Nam Việt Nam.

Lúc đầu, các máy bay B-52 ném hàng trăm quả bom ở phía tây - nam lãnh thổ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, ở vùng biên giới với Lào. Ngoài loại bom phá thông thường, Mỹ còn sử dụng những quả bom nổ chậm cỡ lớn.

Ngày 29-4-1966 các lực lượng phòng không của Quân đội nhân dân Việt Nam đã bắn rơi chiếc máy bay Mỹ thứ 1000 trên bầu trời tỉnh Bắc Thái.

Vào thời gian ấy tại sân bay quân sự Nội Bài có các chuyên gia không quân Liên Xô làm việc. Đó là nhóm chuyên gia về loại máy bay MIG-17 do Thiếu tá Manxép đứng đầu, và nhóm chuyên gia về loại máy bay MIG-21 do Thiếu tá Anchiukhin đứng đầu.

Họ huấn luyện các chiến sĩ không quân Việt Nam nắm vững kỹ thuật hàng không và kỹ thuật lái máy bay. Đội ngũ phi công và đội ngũ kỹ thuật viên của lực lượng không quân Việt Nam đã từng học tại các trường không quân ở Liên Xô trong khuôn khổ các chương trình đào tạo rút ngắn. Còn khâu thực hành khai thác các máy bay chiến đấu và tác chiến trên không thì họ tiến hành tại Việt Nam trong quá trình chiến đấu chống không quân Mỹ.

Các kỹ thuật viên quân sự, các kỹ sư và các phi công Liên Xô đã giúp các chiến sĩ không quân Việt Nam kinh qua khâu thực hành này.

Hàng ngày họ làm việc 12 giờ và nhiều hơn thế. Các phi công Liên Xô thể hiện tinh thần anh hùng khi họ cất cánh trên những chiếc máy bay kiểu "Xpáccơ”: không được trang bị vũ khí. Bất cứ lúc nào sân bay Nội Bài cũng có thể bị phong tỏa bởi các máy bay Mỹ và những chiếc "Xpáccơ" có tốc độ chậm có thể bị bắn hạ. Nhưng những chuyến cất cánh như vậy là cần thiết cho việc huấn luyện các phi công Việt Nam. Chỉ trong một đêm miền nhiệt đới ngắn ngủi các phi công Liên Xô đã tìm cách thực hiện xoay vòng được 20 chuyến bay huấn luyện hoặc nhiều hơn thế.

Đầu tháng 5-1966, trong một chuyến bay đêm quanh sân bay do các Đại úy phi công Vlađimia Mikhailôvích Cavarin và Vlađimia Nicôlaiêvích Vaghin thực hiện (trước khi đưa các phi công Việt Nam "lên không" trên chiếc máy bay kiểu "Xpáccơ") một máy bay Mỹ đã truy đuổi chiếc "Xpáccơ” của họ. Các phi công Liên Xô đã phải hạ cánh thẳng xuống sân bay, không có các thiết bị định hướng.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #144 vào lúc: 01 Tháng Tư, 2009, 01:12:51 pm »

Nhóm chuyên gia kỹ thuật máy bay do Đại úy Mikhain Mikhailôvích Bêrêdơnhích đứng đầu gồm có các Trung úy Nicôlai Đimitơriêvích Xốtnhicốp, Paven Goócbunốp và Valentin Culêsốp. Họ huấn luyện đội ngũ kỹ thuật viên Việt Nam về bảo trì và sửa chữa các máy bay IL-28. Những chuyến bay đêm bằng máy bay IL-28 trên bầu trời Việt Nam do hai đội bay Liên Xô thực hiện, đó là các đội bay của Đại úy V. M. Cavêrin và Đại úy V. N. Vaghin. 

Ngay từ khi các tổ hợp tên lửa phòng .không Liên Xô bắt đầu hoạt động ở Việt Nam, phía Mỹ đã sử dụng rộng rãi các loại vũ khí rất nguy hiểm là tên lửa "Sraicơ" để triệt hạ các đài điều khiển tên lửa.

Tiểu đoàn tên lửa phòng không, do Trung tá Vaxili Grigôriêvích Sécnhexốp chỉ huy, là một trong số những đơn vị đầu tiên bị tên lửa "Sraicơ" oanh tạc.

Tháng 5-1966 các chiến sĩ Việt Nam của tiểu đoàn này đã tác chiến độc lập. Đa số các chuyên gia Liên Xô trong tiểu đoàn đã trở về nước hoặc được chuyển sang những trung đoàn tên lửa phòng không mới được thành lập của Quân đội nhân dân Việt Nam. Trong tiểu đoàn chỉ còn lại một tốp nhỏ chuyên gia quân sự Liên Xô, gồm bốn sĩ quan và một số chiến sĩ để giúp các quân nhân Việt Nam trong tác chiến và khắc phục những hỏng hóc. Trong thời gian chiến đấu, các chuyên gia quân sự Liên Xô trong tiểu đoàn đã có mặt cách trận địa hỏa lực 300 mét để sẵn sàng ngay khi cần thiết, khắc phục những hỏng hóc của các khí tài chiến đấu. Có một sĩ quan - Thượng úy Viachexláp Anđrêêvích Mancốp lúc ấy có mặt trong cabin điều khiển "U". Đúng lúc ấy máy bay địch bắn phá tiểu đoàn bằng tên lửa và cả ném bom nữa. Nhưng bom rơi không chính xác do tiểu đoàn này có được sự yểm trợ tốt của các chiến sĩ pháo cao xạ đã tạo một lưới lửa chặn đường các máy bay lao xuống tấn công. Các quả tên lửa từ máy bay phóng xuống đã nổ trên trận địa và ở gần trận địa, còn bom thì rơi ra ngoài trận địa. Bỗng nhiên trên không trung có tiếng rít, thế rồi ở trung tâm trận địa - nơi có cabin điều khiển "P" vang lên một tiếng nổ. 

Dưới đây là những lời mô tả của Trung úy V. A. Bôrixencô - người thuộc tiểu đoàn này về những gì đã xảy ra:

“Cảm thấy điều chẳng lành, chúng tôi đã chạy tới trung tâm trận địa và bắt đầu lôi ra khỏi cabin điều khiển những chiến sĩ Việt Nam bị thương. Tôi lập tức lao vào cabin "U", nơi có đồng chí Mancốp. Tôi nhìn thấy đồng chí ấy trong chiếc áo sơmi mầu sáng đẫm máu đang cùng với một chiến sĩ Việt Nam lôi một người nào đó ra khỏi cabin điều khiển.

- Anh Xlava, bị làm sao hả? Anh bị thương à?

- Vớ vẩn, tôi bị lấm bẩn thôi.

Nói không ngoa, lúc ấy đã có bao nhiêu người bị hy sinh và bị thương thì tôi không nhớ nhưng ở cabin điều khiển “A" thì tổn thất là 100%. Kỹ thuật viên người Việt ở hệ thống "K" bị mảnh tên lửa cắm vào bụng, đồng chí vận hành máy phát lệnh vô tuyến bị vào mắt, còn kỹ thuật viên ở hệ thống phát lệnh thì bị mất cánh tay trái vì mảnh tên lửa.

Hóa ra, tiểu đoàn chúng tôi bị tên lửa "Sraicơ" bắn trúng".

Sau này các chiến sĩ tên lửa Liên Xô và Việt Nam đã học được cách phát hiện thời điểm máy bay địch phóng tên lửa "Sraicơ" và hướng nó vào phía khác, chệch ra khỏi trận địa chiến đấu. Nhưng tất cả những việc đó không đơn giản và đòi hỏi phải có trình độ nghệ thuật chiến đấu cao của các trắc thủ vận hành ở tất cả các hệ thống của bộ khí tài tên lửa phòng không, cũng như đòi hỏi phải có sự nhịp nhàng ăn ý tuyệt vời của các khẩu đội, đặc biệt ở cabin điều khiển "U".

Để bảo vệ các cabin của đài điều khiển tên lửa thuộc bộ khí tài tên lửa phòng không khỏi bị thiệt hại do mảnh của tên lửa "Sraicơ", của bom bi và mảnh của các loại bom phá và sát thương thông thường khác, người ta che chắn khắp chung quanh cabin điều khiển ấy, trong khả năng có thể, bằng những tấm bện bằng rơm rất dầy để mảnh bom và mảnh tên lửa mắc lại ở trong đó.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #145 vào lúc: 01 Tháng Tư, 2009, 01:13:31 pm »

Năm 1966 trong quá trình huấn luyện các trung đoàn tên lửa phòng không mới được thành lập, cũng như các đơn vị khác của Quân đội nhân dân Việt Nam, Trưởng đoàn có vấn quân sự Liên Xô tại Việt Nam, Thiếu tướng G. A. Bêlốp và Tham mưu trưởng của Đoàn chuyên gia là Đại tá N. I. Vancôvích đã giữ liên lạc thường xuyên với Bộ Quốc phòng Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Họ cũng đảm nhiệm việc lãnh đạo chung đối với tất cả các nhóm chuyên gia quân sự Liên Xô tại Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Thiếu tướng A. M. Đdưda trực tiếp đảm nhiệm việc lãnh đạo các chuyên gia quân sự Liên Xô làm việc trong các đơn vị thuộc Binh chủng phòng không - không quân của Quân đội nhân dân Việt Nam. Ông cũng lãnh đạo nhóm chuyên gia tên lửa. Tháng 11-1966 ông đã được Thiếu tướng pháo binh V. X. Kixhanxki và Thiếu tướng không quân Tudốp thay thế. Đến cuối năm 1966 Thiếu tướng Tudốp đã được Anh hùng Liên Xô - Thiếu tướng không quân V. P. Xensencô thay thế.

Trong những năm 1965 - 1966 các chuyên gia quân sự Liên Xô gồm các tướng lĩnh, sĩ quan, hạ sĩ quan và những chiến sĩ bình thường khác đã có những đóng góp to lớn vào việc thành lập Binh chủng tên lửa phòng không của Việt Nam.

Từ tháng 12-1966 không quân Mỹ chuyển các cuộc bắn phá vào hướng đường số 5 Hà Nội - Hải Phòng. Bọn Mỹ đã nhiều lần tìm cách ném bom đánh sập cây cầu Long Biên bắc qua sông Hồng nối Hà Nội với vùng ngoại ô Gia Lâm. Cây cầu nổi tiếng ấy có chiều dài hơn 1,5 km do người Pháp xây vào năm 1903. Ở giữa cầu là con đường sắt, còn ở hai bên có đường cho ôtô và xe súc vật kéo (chiều ngang của mỗi đường bên không lớn, chỉ có thể đi thành một hàng xe mà thôi). Chiều xe chạy là ở phía bên trái cầu. Cây cầu này có ý nghĩa rất to lớn đối với cuộc sống của Việt Nam. Bầu trời phía trên cây cầu là khu vực hỏa lực cao xạ rất dầy đặc và bọn Mỹ đã không thể băng qua được lưới hỏa lực này.

Ở phía hạ lưu sông Hồng đã xây dựng những cầu phao chắc chắn để qua sông trong trường hợp cầu Long Biên bị phá hủy. Các cầu phao ấy là những bè mảng được kết nối với nhau từ những thân tre thả xuống nước. Về ban đêm những cầu phao ấy hoạt động hết công suất, còn ban ngày chúng được tháo dỡ ra và được bố trí dọc hai bờ và được giấu trong các bụi cây bên bờ sông.

Không quân Mỹ cố gắng cắt đứt giao thông trên đường số 5, nên chúng đã liên tục ném bom các khu vực trên con đường này. Phi công Mỹ thậm chí còn săn đuổi những chiếc ôtô đi lẻ, bắn đạn rốc két và thả bom bi nhưng giao thông trên con đường này vẫn tiếp tục hoạt động.

Tháng 7-1966 Bộ chỉ huy Liên Xô đã quyết định thành lập tại khu vực thành phố Đusanbe, một trung đoàn tên lửa phòng không gồm các chiến sĩ tên lửa Liên Xô, được đặt dưới quyền chỉ huy của Đại tá Alếchxây Đmitơriêvích Iarôxlápxép với mục đích sẽ đưa trung đoàn này sang Việt Nam.

Trung đoàn này gồm 4 tiểu đoàn tên lửa phòng không, một tiểu đoàn kỹ thuật, một đài chỉ huy và ban tham mưu của trung đoàn. Tất cả các đơn vị trực thuộc đều được biên chế với các chuyên gia được đào tạo rất tốt và có trình độ chuyên môn cao gồm các sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ thường.

Giữa tháng 9-1966 các khẩu đội chiến đấu thuộc đài chỉ huy, thuộc ban tham mưu, thuộc các tiểu đoàn tên lửa phòng không số 1 và số 2 và thuộc tiểu đoàn kỹ thuật (tổng cộng gồm 200 người) đã đáp các chuyến bay đặc biệt trên ba máy bay, bay theo lộ trình Đusanbe - Iếccút - Bắc Kinh - Hà Nội. Đến ngày 17-9 thì họ đã tới Hà Nội.

Nhóm chuyên gia quân sự thứ hai của Liên Xô gồm các khẩu đội chiến đấu thuộc các tiểu đoàn tên lửa phòng không số 3 và số 4 từ Liên Xô đã tới Hà Nội trên hai chiếc máy bay vào ngày 1-2-1967. Còn các phương tiện chiến đấu của trung đoàn thì được gửi đi bằng đường xe lửa.

Các đơn vị trực thuộc trung đoàn này đã được triển khai trong các khu rừng rậm của huyện Trại Cau thuộc tỉnh Bắc Thái. Tại khu vực triển khai, trung đoàn được cải tổ thành Trung tâm huấn luyện số 8 của Binh chủng tên lửa phòng không. Tại trung tâm này đã thành lập các khối huấn luyện cho các tiểu đoàn tên lửa phòng không, tiểu đoàn kỹ thuật và đài chỉ huy. Toàn bộ đội ngũ sĩ quan của các đơn vị trực thuộc trung đoàn này đều trở thành đội ngũ giảng viên, còn số hạ sĩ quan và binh sĩ thường thì trở thành các huấn luyện viên trực tiếp huấn luyện thực hành.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #146 vào lúc: 01 Tháng Tư, 2009, 01:14:41 pm »

Từ ngày 10-10-1966 mở đầu giai đoạn 1 của khóa huấn luyện chiến đấu với thời hạn 4 tháng. Trong giai đoạn này đã tiến hành khâu đào tạo - huấn luyện cá nhân cho các trắc thủ và tổ chức các khẩu đội chiến đấu (các phân đội). Giai đoạn này kết thúc vào ngày 8-2-1967. Trong quá trình huấn luyện ở giai đoạn 1 các vị đại diện của bộ chỉ huy Liên Xô và Việt Nam đã nhiều lần tới thăm Trung tâm huấn luyện này.

Ví dụ, ngày 8-10-1966 Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Đại tá Phùng Thế Tài đã đến thăm Trung tâm huấn luyện.

Từ ngày 11 đến ngày 15-11-1966 là thời gian làm việc tại trung tâm này của nhóm sĩ quan Liên Xô, đứng đầu là Trưởng đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô tại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Thiếu tướng G. A. Bêlốp. Còn tháng 12 là thời gian làm việc tại trung tâm của Phó Trưởng đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô phụ trách công tác chính trị, Đại tá M. E. Bôrixencô, trưởng nhóm chuyên gia quân sự Liên Xô thuộc Binh chủng tên lửa phòng không, Thiếu tướng pháo binh V. X. Kixlianxki, sĩ quan thuộc Bộ Tổng tham mưu các lực lượng vũ trang Liên Xô, Đại tá V. Ph. Bêliacốp .

Năm 1966 máy bay Mỹ đã thực hiện 47.910 lần chiếc, đánh phá Bắc Việt Nam và đã thực hiện 6.810 vụ bắn phá vào 5.596 cơ sở. Ngoài ra, máy bay Mỹ đã thực hiện hơn 600 phi vụ trinh sát 

Trong một năm đó các đơn vị Binh chủng tên lửa phòng không của Quân đội nhân dân Việt Nam đã có 376 trận đánh, tiêu diệt 221 máy bay địch. 

Tổng cộng từ ngày 1-1 đến 31-12-1966 các lực lượng phòng không của Quân đội nhân dân Việt Nam và dân quân tự vệ đã tiêu diệt 773 máy bay Mỹ và bắt làm tù binh nhiều phi công trên những máy bay bị bắn rơi.

Năm Mới 1967 đã đến - đó là năm con dê theo lịch phương Đông.

Theo truyền thống, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Hồ Chí Minh phát biểu chúc mừng nhân dân cả nước nhân dịp Năm Mới.

Các chuyên gia quân sự Liên Xô cũng nhận được các thiệp chúc mừng với những vần thơ ấy:

Xuân về xin có một bài ca,
Gửi chúc đồng bào cả nước ta
Chống Mỹ hai miền đều đánh giỏi,
Tin mừng thắng trận nở như hoa!

Xuân 1967
Hồ Chí Minh

Năm 1967 Mỹ tăng cường những hành động xâm lược chống lại Bắc Việt Nam. Không quân Mỹ ngày đêm tiếp tục bắn phá một cách có hệ thống trên lãnh thổ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Bộ chỉ huy Mỹ âm mưu qua hành động phá hủy cầu cống làm tê liệt giao thông đường sắt và giao thông đường bộ; bằng hành động ném bom phá hủy các nhà máy điện, đê điều và những công trình có tính chất chiến lược khác; phá hoại nền kinh tế của đất nước, gieo rắc sự hoảng loạn và nỗi khiếp sợ trong nhân dân Việt Nam.

Trong tháng 2, tháng 3, tháng 4-1967 các lực lượng phòng không của Quân đội nhân dân Việt Nam đã tiêu diệt 168 máy bay Mỹ.

Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #147 vào lúc: 01 Tháng Tư, 2009, 01:16:04 pm »

Ngày 9-5-1967 đã xảy ra cuộc bắn phá dữ dội. Ở vùng tây nam Hà Nội đã xuất hiện những tốp máy bay Mỹ đầu tiên, trong đội hình mỗi tốp có bốn chiếc. Những loạt đạn đã lên tiếng - đó là các đơn vị phòng không đã khai hoả. Đã nghe thấy những tiếng bom nổ, tiếng máy bay gầm rít, sau đó là những tiếng nổ inh tai của các tên lửa phòng không và các quả đạn pháo cao xạ. Chỉ trong nháy mắt đội hình chiến đấu của các máy bay Mỹ đã bị rối loạn bởi hỏa lực mạnh mẽ của tên lửa phòng không và pháo cao xạ do các đơn vị phòng không Quân đội nhân dân Việt Nam bảo vệ Thủ đô bắn lên.
Những loạt đạn cứ mạnh lên. Giữa bầu trời thành phố người ta trông thấy những tên lửa phòng không nổ, và thế là hai chiếc máy bay Mỹ bị lửa bao trùm rơi xuống, kéo theo những vệt khói đen kịt. Các máy bay địch phóng loạn xạ các quả tên lửa "không đối đất" vào các khu dân cư của thành phố. Một quả tên lửa như vậy đã nổ bên cạnh Sứ quán Trung Quốc.

Mấy giờ sau tại diễn ra cuộc oanh kích mới. Lại diễn ra trận đánh chống kẻ địch trên trời. Các máy bay Mỹ tìm cách ném bom phá hủy khu vực có nhà máy điện Hà Nội.

Trong ngày hôm ấy đã có 7 máy bay Mỹ bị bắn rơi trên bầu trời Hà Nội, nhưng thành phố cũng chịu nhiều thiệt hại. Đã có các ngôi nhà bị phá hủy, đã có người chết.

Vào những ngày tiếp theo còi báo động réo liên tục. Máy bay địch ném bom các tỉnh lân cận.

Ngày 21-5 lại xảy ra một cuộc bắn phá nữa: máy bay Mỹ đã ném bom nhà máy điện Hà Nội. Trong trận đánh trả cuộc tấn công này một chiếc máy bay F-105 bị tên lửa phòng không bắn hạ đã rơi xuống đường phố, ngay cạnh ngôi nhà ở của Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Liên Xô tại Việt Nam Dân chủ cộng hòa Ilia Xécghêêvích Sécbacốp.

Các cuộc bắn phá tiếp diễn suốt ngày hôm ấy. Hết đợt này đến đợt khác, máy bay Mỹ đã ném bom Hà Nội và các vùng phụ cận. Các tiểu đoàn tên lửa phòng không, pháo cao xạ và các máy bay tiêm kích của Việt Nam đã có những trận chiến đấu liên tục. Trong ngày hôm ấy đã có 9 máy bay Mỹ bị bắn rơi.

Ngày 10-2-1967 Trung tâm huấn luyện số 8 đã được thành lập. Tất cả các sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ thuộc trung đoàn đến từ Đusanbe đã được phiên chế về các tiểu đoàn tên lửa phòng không 41, 42, 43, 44 và tiểu đoàn kỹ thuật thuộc Trung đoàn tên lửa phòng không 263.

Những sĩ quan chỉ huy các đơn vị Liên Xô gồm có: Tham mưu trưởng trung đoàn, Trung tá Catusép; Kỹ sư trưởng trung đoàn, Thiếu tá E. I. Lêpikhốp; Phó chỉ huy trung đoàn phụ trách công tác chính trị, Trung tá V. A. Crúpnốp; chỉ huy Tiểu đoàn tên lửa phòng không 41, Trung tá I. V. Bônđarencô; chỉ huy Tiểu đoàn 42, Thiếu tá V P. Nôvicốp; chỉ huy Tiểu đoàn 43, Thiếu tá R. G. Iacubốp; chỉ huy Tiểu đoàn 44, Thiếu tá V. I. Gniđin; chỉ huy Tiểu đoàn kỹ thuật, Thiếu tá I. X. Philin. Các sĩ quan quân y của trung đoàn gồm có: bác sĩ trưởng của trung đoàn, Đại úy quân y Sicát; bác sĩ của trung đoàn, Thượng úy quân y V. V. Xpiranđê. 

Sĩ quan Việt Nam chỉ huy trung đoàn này là Trung tá Bùi Đăng Tứ (Бyн Дah Tы). 

Từ ngày 11-2-1967 trên thực tế đã bắt đầu công tác tổ chức thành lập các khẩu đội chiến đấu Việt Nam thuộc các tiểu đoàn tên lửa phòng không, sở chỉ huy và toàn bộ trung đoàn, cũng như công tác chuẩn bị cho các khẩu đội Liên Xô sẵn sàng chiến đấu.

Đến cuối tháng 4-1967 tất cả các tiểu đoàn tên lửa phòng không trong đó có tiểu đoàn kỹ thuật, đã tiếp nhận xong các khí tài chiến đấu mới vừa được gửi tới từ Liên Xô theo đường sắt qua lãnh thổ Trung Quốc.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #148 vào lúc: 01 Tháng Tư, 2009, 01:16:50 pm »

Từ ngày 21-4-1967 bắt đầu giai đoạn 3, giai đoạn kết thúc khóa huấn luyện. Trung đoàn nhận nhiệm vụ chiến đấu: triển khai đội hình chiến đấu tại khu vực phòng không Hà Nội để bảo vệ Thủ đô từ phía tây nam. Các tiểu đoàn tên lửa phòng không nhận nhiệm vụ chiến đấu và được triển khai trên các trận địa phóng tên lửa. Tiểu đoàn kỹ thuật đã triển khai quy trình kỹ thuật và bắt đầu chuẩn bị các quả tên lửa cho các tiểu đoàn tên lửa phòng không. Sở chỉ huy của trung đoàn đóng cạnh làng Lai Xá ở phía tây nam Hà Nội.

Các tiểu đoàn bắt đầu các phiên trực chiến và đã thực hiện các trận chiến đấu. Lúc đầu các trận chiến đấu được thực hiện bởi các khẩu đội chiến đấu Liên Xô, sau đó bởi các khẩu đội hỗn hợp Việt - Xô: từ ngày 21-4: ở Sở chỉ huy trung đoàn và ở Tiểu đoàn tên lửa phòng không 42, còn từ ngày 23-4: ở Tiểu đoàn tên lửa phòng không 44, còn từ đầu tháng 5-1967 thì ở các Tiểu đoàn 41 và 43.

Vào cuối giai đoạn 3 của khóa huấn luyện, các bộ khí tài tên lửa đã được hoàn toàn chuyển giao cho các khẩu đội Việt Nam. Các chuyên gia Liên Xô chỉ giúp đỡ họ khi cần thiết trong công tác chiến đấu và khắc phục những hỏng hóc phát sinh.

Ngày 25-4-1967 Tiểu đoàn 44 đã đánh trận đầu tiên, với 2 quả tên lửa đã bắn rơi một máy bay địch, và đến ngày 30-4, Tiểu đoàn 42 cũng với 2 quả tên lửa, đã bắn rơi một máy bay Mỹ nữa.

Trong thời gian huấn luyện và tác chiến, đa số các chuyên gia quân sự Liên Xô làm việc trong các khẩu đội thuộc các tiểu đoàn tên lửa phòng không đã thể hiện sự hiểu biết tuyệt vời về khí tài, sự tháo vát, tinh thần kiên cường, khả năng tìm lối thoát trong những tình huống khó khăn, lòng dũng cảm, chủ nghĩa anh hùng. Dưới đây xin dẫn ra một số ví dụ về điều này:

Ngày 5-5-1967 máy bay Mỹ thực hiện trận bắn phá dữ dội vào các mục tiêu ở ngoại thành Hà Nội, có sự yểm trợ của những phương tiện gây nhiễu mạnh bằng sóng âm và bằng các xung điện phản hồi. Sở chỉ huy trung đoàn trao nhiệm vụ cho Tiểu đoàn tên lửa phòng không 44 phải tiêu diệt các mục tiêu trên không đang tới gần. Sĩ quan chỉ huy tiểu đoàn này, Thiếu tá V. I. Gniđin, đã ra lệnh cho sĩ quan điều khiển tên lửa là Thượng úy L. P. Makhơlai tìm mục tiêu đã bị phát hiện.

Vào thời điểm ấy trên màn hình các máy tín hiệu xuất hiện một số điểm sáng cạnh các mục tiêu và có những đợt nhiễu âm thanh. Thượng úy Makhơlai đã phân biệt được trong tình huống phức tạp và thay đổi rất nhanh ấy trên màn hình các máy tín hiệu, chộp lấy mục tiêu để bám sát nó - đó là chiếc máy bay gây nhiễu bằng các xung điện phản hồi. Anh đã báo cáo điều này với sĩ quan chỉ huy tiểu đoàn. Viên sĩ quan điều khiển tên lửa người Việt ngồi bên cạnh đã báo cáo cho sĩ quan chỉ huy tiểu đoàn của mình rằng không phải mục tiêu bị chộp, mà đó là vật nhiễu.

Thượng úy Makhơlai một lần nữa kiểm tra tín hiệu phản hồi và báo cáo rằng điểm sáng đã bị chộp theo dõi là sóng phản hồi từ mục tiêu thực sự và có thể bắn vào mục tiêu này. Mặc dù điểm sáng bên ngoài mục tiêu hiện lên rất yếu trên nền những sóng nhiễu mạnh trên màn hình của các máy tín hiệu, nhưng các trắc thủ bám sát mực tiêu bằng tay là các binh nhất V. Đ. Riátnhanưi và M. P. Bôlétxki và binh nhì V. Ia. Cudơnhexốp đã thao tác rành mạch và tự tin để bám sát mục tiêu theo chế độ theo dõi bằng tay.

Chỉ có nghệ thuật cao, sự kiên định, những động tác đầy tự tin và rành mạch của người sĩ quan Liên Xô phụ trách thao tác dẫn đường tên lửa và của toàn thể khẩu đội chiến đấu thuộc đài chỉ huy của tiểu đoàn mới cho phép khai hỏa và tiêu diệt chiếc máy bay của địch, nghĩa là giành chiến thắng trong trận này.

Binh nhất V. M. Lixixki trong trận này đã thao tác khéo léo trong khi vận hành hệ thống điều khiển bệ phóng. Vào thời điểm căng thẳng nhất, khi sĩ quan chỉ huy tiểu đoàn tập trung sự chú ý vào phân tích tình hình trên không, thì các quả tên lửa đã được chuẩn bị đã kết thúc loạt phóng. Binh nhất Lixixki đã chủ động tự mình đưa loạt tên lửa thứ hai vào tư thế chuẩn bị sẵn sàng. Nhờ vậy tiểu đoàn đã có thể khai hỏa đúng vào thời điểm cần phóng tên lửa.

Khẩu đội trực đài trinh sát và chỉ thị mục tiêu cũng đã hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ chiến đấu trong tình huống phức tạp. Đài trưởng là Thượng úy M. I. Bôxắc hường xuyên thông báo cho chỉ huy tiểu đoàn về tình hình trên không, cung cấp các toạ độ chính xác và những nhận định chính xác về mục tiêu.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #149 vào lúc: 01 Tháng Tư, 2009, 01:17:32 pm »

Trong trận đánh này, chỉ huy bệ phóng là binh nhì V Ph. Máctưnốp đã thể hiện tinh thần quyết tâm và sự tháo vát. Sau khi phóng tên lửa đi rồi thì lập tức cần nạp quả tên lửa mới lên bệ phóng. Lúc này các chiến sĩ Việt Nam trong khẩu đội của Máctưnốp đã hành động thiếu tự tin do lo ngại địch tấn công vào trận địa tên lửa. Binh nhì V. Ph. Máctưnốp bằng tấm gương của bản thân và bằng lời động viên đã lôi cuốn theo mình các chiến sĩ Việt Nam, nhờ vậy kịp thời nạp tên lửa vào bệ phóng. Do đó Tiểu đoàn đã có thể tiếp tục chiến đấu.

Ở Tiểu đoàn tên lửa phòng không 44, trong trận đánh ngày 1-5-1967 trắc thủ vận hành máy bám sát mục tiêu bằng tay và phụ trách xác định góc phương vị, binh nhất V. V. Cudơmisép là người đầu tiên phát hiện ra tên lửa "Sraicơ" tách khỏi mục tiêu. Điều này đã cho phép sĩ quan điều khiển tên lửa có thể kịp thời điều khiển và hướng tên lửa "Sraicơ" đi chệch khỏi trận địa của tiểu đoàn. Khi các máy bay bổ nhào lần thứ hai để ném bom thì tiểu đoàn này đã phóng tên lửa vào chúng và bắn rơi 2 máy bay. Nhân sự kiện này mà khẩu hiệu chiến đấu nhan đề: "Tiểu đoàn chúng ta không sợ tên lửa "Sraicơ" mà chính Cudơmích của chúng ta lại là nỗi hiểm nguy cho tên lửa “Sraicơ" đã ra đời.

Ngày 19-5 Tiểu đoàn tên lửa phòng không 43 đã xung trận và đã bắn rơi 1 máy bay A-6, đến ngày 21-5 Tiểu đoàn 41 cũng bắn rơi một máy bay A-6. Đó là sự mở đầu những trận chiến đấu của Trung đoàn tên lửa phòng không 263 mới được thành lập.

Trong trận đánh ngày 21-5-1967 khẩu đội ở đài chỉ huy của Tiểu đoàn tên lửa phòng không 43 đã thể hiện nghệ thuật chuyên môn cao và tinh thần kiên định. Sĩ quan điều khiển tên lửa, Thượng úy I. A. Écsốp, các trắc thủ vận hành máy bám sát mục tiêu bằng tay là hạ sĩ V. D. Xubôtin và binh nhất A. N. Khơmađêép, trong tình huống phức tạp khi các máy bay địch sử dụng thủ đoạn gây nhiễu bằng xung điện phản hồi - vẫn tiếp tục theo dõi mục tiêu một cách tự tin.

Vào thời điểm tên lửa được phóng đi, máy bay địch còn sử dụng các hình thức gây nhiễu thụ động, tạo ra một đám mây nhiễu ở phía trước mục tiêu. Nhưng ngay cả trong tình huống gây nhiễu phức tạp ấy các chiến sĩ Liên Xô vẫn phân biệt được một cách tự tin mục tiêu thực trên nền những chấm mục tiêu giả, khai hỏa bắn rơi máy bay địch. 

Sau khi các quân nhân Việt Nam nắm khá vững những công việc tác chiến tại các vị trí của mình và đã có thể tác chiến độc lập (sau khoảng một tháng rưỡi tác chiến) các khẩu đội Liên Xô được cắt giảm. Vào cuối giai đoạn 3 của khóa huấn luyện, số lượng các khẩu đội Liên Xô tại các tiểu đoàn tên lửa phòng không đã được cắt giảm xuống còn 10-12 người trong mỗi tiểu đoàn. Đấy là những chuyên gia thuộc những chuyên ngành phức tạp nhất và quan trọng nhất.
Việc huấn luyện và đưa các trung đoàn tên lửa phòng không khác của Quân đội nhân dân Việt Nam vào chiến đấu cũng diễn ra đại thể như vậy.

Sau đây là thành tích chiến đấu của Trung đoàn tên lửa phòng không 263 kể từ ngày nó bắt đầu triển khai các trận địa phóng tên lửa - từ ngày 2-4 đến ngày 30-6-1967. Trong thời gian này trung đoàn đã thực hiện: 18 trận do các khẩu đội chuyên gia, 14 trận do các khẩu đội Việt - Xô tiến hành với 28 máy bay bị bắn rơi và 1 chiếc bị thương. Tổng cộng trung đoàn này đã đánh 32 trận, với 28 máy bay Mỹ bị bắn rơi và 1 máy bay Mỹ bị thương.

Đã có nhiều quân nhân thuộc Trung tâm huấn luyện số 8 được tặng thưởng các phần thưởng cao quý của Chính phủ vì tinh thần dũng cảm và chủ nghĩa anh hùng thể hiện qua các trận chiến đấu chống bọn xâm lược Mỹ.

Đại tá A. Đ. Iarôxlápxép đã được tặng Huân chương Cờ đỏ, Huân chương Sao đỏ được trao tặng cho: Trung tá I. V. Bônđarencô, Thiếu tá V. P. Nôvicốp, Thiếu tá V. I. Gniđin, Thiếu tá R. G. Iacubốp, Trung tá Catusép, Thiếu tá E. I. Lêpikhốp, Trung tá V. A. Crúpnốp, Thượng úy L. P. Makhơlai, Thượng úy I. A. Écsốp, Thượng úy V. A. Malôletốp, Đại úy Sicát.

Ngoài số những đồng chí nêu trên, đã có 15 người được tặng thưởng Huân chương Sao đỏ, 12 người được tặng Huy chương Dũng cảm, 4 người được tặng Huy chương Chiến công.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM