Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 03:36:36 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chiến tranh Việt Nam là thế đó 1965 - 1973  (Đọc 146542 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #160 vào lúc: 03 Tháng Tư, 2009, 01:20:33 pm »

Ngày 21-4-1968, tại Mátxcơva tôi được Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Liên Xô kiêm Tư lệnh Binh chủng phòng không Liên Xô là Nguyên soái Paven Phêđôrôvích Batixki tiếp. 

Tôi đã báo cáo tỉ mỉ về diễn biến chiến sự tại Việt Nam và về hoạt động của các chuyên gia quân sự Liên Xô tại đó. Trong buổi báo cáo của tôi còn có mặt một số tướng lĩnh thuộc các Tổng cục của Bộ Quốc phòng Liên Xô. 

Vị Tư lệnh Binh chủng phòng không Liên Xô cũng đã được nghe những đề nghị về việc giải quyết một số vấn đề liên quan đến hoạt động của các chuyên gia quân sự Liên Xô tại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, cũng như những kiến nghị về việc sử dụng kinh nghiệm của cuộc chiến tranh Việt Nam vì lợi ích của các lực lượng vũ trang Liên Xô. Nguyên soái Batitxki trả lời rằng tuy ông là Thứ trưởng Quốc phòng Liên Xô, nhưng ông không thể giải quyết nhiều vấn đề đã đặt ra, vì trên thực tế không có khả năng tìm ra một giải pháp cho những vấn đề ấy ở cấp lãnh đạo cao nhất của Bộ Quốc phòng. 

Ngày 23-4-1968 tôi đã trình bày bản báo cáo chi tiết về cuộc chiến tranh Việt Nam tại Bộ Tổng tham mưu các lực lượng vũ trang Liên Xô trước một nhóm đông đảo các tướng lĩnh - Thủ trưởng các Tổng cục của Bộ Tổng tham mưu và những sĩ quan khác. 

Đã xảy ra trường hợp rất đáng nhớ với tôi khi tôi đề đạt nguyện vọng được đi nghỉ tại nhà nghỉ. Sau cuộc kiểm tra y tế tại Trung tâm khám bệnh đa khoa số 1 của Bộ Quốc phòng Liên Xô, tôi nhận được kết luận rằng đối với tôi việc nghỉ ở bờ biển phía nam tại Crưm là điều chống chỉ định. Tôi tìm cách giải thích rằng tôi từ một nước nhiệt đới là Việt Nam về nước để nghỉ ngơi, rằng ở Việt Nam đang có chiến tranh và sau kỳ nghỉ tôi sẽ trở lại đó. Nhưng người ta thậm chí chẳng muốn nghe tôi trình bày. Chỉ sau khi có sự can thiệp của Cục trưởng Cục quân y Bộ Quốc phòng Liên Xô tôi mới có cơ hội nhận giấy chứng nhận đến nghỉ tại nhà nghỉ "Alusta". Đó là một ví dụ về bệnh quan liêu mà chúng tôi thường hay gặp phải.

Cuối tháng 5-1968, sau kỳ nghỉ tôi trở lại Việt Nam để tiếp tục công tác với chức danh Tham mưu trưởng Đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô tại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Ngày 8-6-1968 chiếc tàu biển "Pôrônaixcơ" đã đưa một nhóm các chuyên gia quân sự Liên Xô cập cảng Hải Phòng. Đó là những chuyên gia về kỹ thuật ra đa, có nhiệm vụ đưa ra những biện pháp nâng cao hiệu quả của các bộ khí tài tên lửa phòng không trong điều kiện địch sử dụng các biện pháp gây nhiễu vô tuyến điện tử và các tên lửa chống ra đa kiểu "Sraicơ".

Trên đường đi trong vùng biển Nam Triều Tiên tàu “Pôrônaixcơ" đã gặp phải các tàu chiến của Hạm đội 7 Hải quân Hoa Kỳ, trong đó có tàu sân bay "Intơprai". Những chiếc trực thăng cất cánh từ tàu sân bay này đã tìm cách kiểm soát lộ trình của con tàu "Pôrônaixcơ".

Trưởng nhóm chuyên gia vừa tới là Đại tá Víchto Xécghêêvích Kixêlép, nhóm chuyên gia này gồm có: các Trung tá V. V. Nôvicốp, Iu. A. Xápsencô, Ô. V. Xapôrốpxki và Đại úy L. P. Xamôđurốp.

Sau một thời gian chuẩn bị kỹ lưỡng, nhóm chuyên gia này cùng với các chuyên gia quân sự Việt Nam đã đến nơi làm việc. Vị trí được chọn làm đài quan sát đã cho phép quan sát hoạt động của không quân Mỹ thông qua các phương tiện vô tuyến điện tử và quang học, cũng như bằng mắt thường. Toàn bộ các máy móc của nhóm chuyên gia này được ngụy trang cẩn thận và thường xuyên tiến hành ghi nhận các cuộc phát sóng vô tuyến và những cuộc đàm thoại vô tuyến của không quân Mỹ hoạt động tại khu vực này.

Nhờ kết quả sự hợp tác, các chuyên gia Liên Xô và Việt Nam đã thu thập được những dữ liệu quan trọng và rất nhiều tư liệu thực tế để trên cơ sở đó đưa ra những khuyến cáo hữu hiệu nhằm tăng khả năng của các bộ khí tài tên lửa phòng không chống lại các thủ đoạn gây nhiễu xét về phương diện chiến thuật, cũng như về phương diện kỹ thuật. Ngoài ra còn đề ra những biện pháp bảo vệ các tổ hợp tên lửa phòng không chống lại các tên lửa chống ra đa như kiểu tên lửa "Sraicơ". Không những thế, các phương tiện sử dụng sóng vô tuyến để làm giả mục tiêu và đáp trả đã được sử dụng để bảo vệ các cơ sở công nghiệp, trong đó có Nhà máy điện Uông Bí.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #161 vào lúc: 03 Tháng Tư, 2009, 01:21:27 pm »

Các lực lượng phòng không của Quân đội nhân dân Việt Nam tiếp tục đánh trả bọn xâm lược Mỹ bằng tất cả các phương tiện phòng không có trong tay. Ngày 25-6-1968 trên bầu trời tỉnh Quảng Bình người ta đã bắn rơi chiếc máy bay Mỹ thứ 3000.

Tháng 7-1968 Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã quyết định lập ra Huy chương "Vì tinh thần đoàn kết chiến thắng giặc Mỹ xâm lược". Huy chương này được trao tặng cho các chuyên gia Liên Xô thay cho Huy chương Hữu nghị sau khi họ mãn hạn công tác tại Việt Nam. Cũng vào thời điểm ấy đã có quyết định trao tặng các huân chương chiến đấu của Việt Nam cho các chuyên gia quân sự Liên Xô đã có những công lao đặc biệt.

Từ ngày 1-11 đến 31-12-1968 đã bắn rơi thêm 16 máy bay Mỹ các loại. Trong năm 1968 tổng cộng đã có 557 máy bay Mỹ bị bắn rơi, trong đó các máy bay tiêm kích của Việt Nam đã bắn rơi 47 chiếc và tên lửa phòng không đã bắn rơi 119 máy bay địch.

Trong thời gian từ ngày 5-8-1964 đến ngày 1-11-1968 không quân Mỹ đã thực hiện xuất kích 168.156 lần chiếc và đã tiến hành 29.200 cuộc ném bom và bắn rốc két vào 23.989 cơ sở của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đã thả hơn 3,5 triệu tấn bom.

Cũng trong thời gian đó, lực lượng phòng không - không quân của Quân đội nhân dân Việt Nam đã bắn rơi 3.243 máy bay Mỹ, trong đó có 3 máy bay tối tân F-111A và 6 chiếc máy bay ném bom chiến lược B-52.

Đồng thời, Binh chủng tên lửa phòng không của Quân đội nhân dân Việt Nam đã tiến hành 1.988 trận đánh, tiêu diệt 1.044 máy bay Mỹ, trong đó có 6 máy bay B-52 và 1 chiếc F-111A.

Các máy bay tiêm kích của Quân đội nhân dân Việt Nam trong thời gian ấy đã thực hiện xuất kích hơn 3.000 lần chiếc, tiến hành 327 trận không chiến giữa các tốp máy bay và các trận đánh riêng lẻ và đã tiêu diệt được 251 máy bay Mỹ. Kết quả các trận không chiến trong những năm 1967 - 1968 đã dẫn đến tỷ lệ tổn thất là 1:3 (4) cho không quân của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Cũng trong thời gian kể trên các lực lượng pháo cao xạ và các khẩu đội súng máy phòng không đã tiêu diệt hơn 1500 máy bay. Qua đó thấy rằng nếu được sử dụng đúng cách thì pháo cao xạ cũng là một sức mạnh đáng sợ ngay cả đối với các máy bay phản lực hiện đại và nếu được phối hợp với bộ đội tên lửa phòng không và không quân thì pháo cao xạ có thể gây ra những tổn thất rất nghiêm trọng cho các máy bay trong lúc chúng tấn công.

Khi nói đến kết quả các trận đánh của bộ đội phòng không Quân đội nhân dân Việt Nam, cần nêu rõ rằng đã diễn ra những trận đánh chống lại một kẻ địch rất mạnh. Bộ chỉ huy của Mỹ đã sử dụng những kiểu máy bay hiện đại nhất đã được trang bị cho không quân và hải quân Hoa Kỳ, trong đó có các máy bay chiến lược B-52, các máy bay F-111A, các máy bay trinh sát SR-71 cũng như các loại bom và tên lửa tối tân. Bộ chỉ huy Mỹ đã tổ chức tác chiến một cách rành mạch và có bài bản.

Các phi công được đào tạo cực tốt, đặc biệt các phi công thuộc lực lượng hải quân. Trong quá trình thực thi nhiệm vụ được đặt ra, các phi công ấy đã thể hiện tinh thần kiên trì, luôn luôn thay đổi chiến thuật tác chiến và đã thường xuyên sử dụng các thủ đoạn gây nhiễu để đối phó với các phương tiện phòng không của miền Bắc Việt Nam.

Nhưng bất chấp tất cả sự hùng hậu và sức mạnh của không quân Mỹ, các đơn vị Binh chủng tên lửa phòng không, không quân Việt Nam và pháo cao xạ, cũng như binh chủng kỹ thuật vô tuyến của Quân đội nhân dân Việt Nam, với sự tham gia của các chuyên gia quân sự Liên Xô, đã giành được nhiều thắng lợi và gây ra những tổn thất to lớn cho kẻ địch về máy bay và về lực lượng phi công.

Tháng 12-1968, sau khi mãn hạn công tác, Trưởng đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô tại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Trung tướng không quân Vlađimia Nikitôvích Abramốp đã trở về Liên Xô. Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã tặng thưởng ông Huân chương Chiến công hạng nhất, Huy chương “Vì tình thần đoàn kết chiến thắng giặc Mỹ xâm lược" và Huy hiệu "chiến thắng trận đầu tiên - 5-8". Trung tướng pháo binh Bôrít Alếchxanđrôvích Xtônnhicốp được bổ nhiệm và đã đến Việt Nam đảm nhiệm chức vụ Trưởng đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô tại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Từ năm 1971 đến năm 1973 Thiếu tướng Nicôlai Cônxtantinôvích Mácximencô đã đảm nhiệm chức vụ này. Từ tháng 12-1972 đến năm 1975 Trưởng đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô tại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là Thiếu tướng Anatôli Ivanôvích Khiupênen.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #162 vào lúc: 03 Tháng Tư, 2009, 01:22:08 pm »

Tháng 2-1969, tôi cùng với một sĩ quan trong Ban tham mưu của Đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô là Thiếu tá L. N. Ôtơriakhin và phiên dịch viên Việt Nam - Thiếu úy Lộc đã đi trên hai chiếc xe, do các chiến sĩ Việt Nam lái, để thực hiện chuyến kiểm tra Quân khu 4 của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trong chuyến đi này chúng tôi đã đến các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Quảng Bình, vùng bờ biển Đông. Chúng tôi đã có mặt tại các thành phố Nam Định, Vinh, huyện Vĩnh Linh. Ở đâu chúng tôi cũng nhìn thấy những hậu quả nặng nề của những trận bom và bắn phá của máy bay Mỹ, một số lượng rất nhiều hố bom và hố tên lửa do máy bay bắn xuống các đồng ruộng, xuống các khu dân cư và vùng phụ cận. Có nhiều làng mạc và thị trấn bị phá hủy hoàn toàn, các đồng ruộng không thể cày cấy được nữa, phải mất vô cùng nhiều công sức mới khôi phục lại được.

Chúng tôi cũng đi qua cây cầu huyền thoại Hàm Rồng. 

Cây cầu này bắc qua con sông Mã bị kẹp giữa hai bờ dốc đứng. Cầu này kết nối một trong số những tuyến vận tải quan trọng nhất của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chạy từ Hà Nội về phía nam, về phía Vĩ tuyến 17. Không quân Mỹ đã ném nhiều bom và phóng hàng nghìn quả rốc két xuống cây cầu này. Các tầu thuộc Hạm đội 7 của Mỹ cũng từ biển bắn phá cây cầu này. Khắp giàn cầu lỗ chỗ vết đạn. Nhưng cây cầu này vẫn đứng vững và hoạt động. Các đội sửa chữa của Việt Nam, chỉ trong vài giờ sau cuộc oanh kích, chủ yếu vào ban đêm, đã khắc phục xong những chỗ hư hại và bị phá hủy trên cây cầu. Người ta đã phong danh hiệu "Anh hùng" cho cây cầu này. Hỏa lực ngăn chặn mạnh mẽ của các khẩu pháo cao xạ đã không để cho các máy bay Mỹ thả bom chính xác vào cây cầu ấy.

Ngày 18-7-1965 tên phi công Mỹ sừng sỏ, Trung tá Đantơn, đã nhận lệnh trực tiếp của Bộ trưởng Quốc phòng Mắcnamara phá hủy bằng được cầu Hàm Rồng. 27 phút sau khi cất cánh, máy bay của Đantơn đã bị bắn rơi, còn bản thân y đã nhảy dù và bị bắt làm tù binh cách cây cầu này không xa.

Chúng tôi đã đến thăm trận địa của đơn vị pháo cao xạ của Quân đội nhân dân Việt Nam. Đơn vị này được trang bị các khẩu pháo cao xạ 100 mm của Liên Xô. Ngoài ra chúng tôi còn đến thăm khẩu đội cao xạ có cỡ nòng nhỏ được bố trí trên đỉnh một lèn đá cao bên bờ sông, ở gần cây cầu. Chúng tôi chúc các chiến sĩ cao xạ Việt Nam giành được thắng lợi trong các trận đánh bảo vệ cầu Hàm Rồng.

Chúng tôi đến thăm làng Kim Liên quê hương vị lãnh tụ của nhân dân Việt Nam - Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Hồ Chí Minh. Ngôi làng này nằm ở phía nam tỉnh Nghệ An.

Đây thật sự là vương quốc nhiệt đới. Một ngôi nhà khiêm tốn, mái được lợp bằng lá cọ. Tại ngôi nhà này Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng sống cùng với người thân trong gia đình. Bài trí trong nhà rất khiêm tốn. Một chiếc giường to bằng gỗ mà trên đó thời thơ ấu Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ngủ cùng với người cha của mình - một thầy giáo. Trên các kệ giá có những cuốn sách: các sách về địa lý, những sách giáo khoa cổ. Chúng tôi đã chăm chú ngắm nhìn mọi thứ, trao đổi với những cán bộ của bảo tàng này, ghi cảm tưởng trong sổ dành cho các vị khách danh dự. Tại đây, một lần nữa chúng tôi nhận thức được rằng nhân dân Việt Nam rất trân trọng lịch sử của mình.

Tháng 4-1969 thời hạn công tác của tôi tại Việt Nam đã kết thúc. Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã trao tặng cho tôi Huân chương Chiến công hạng II, Huy chương “Vì tinh thần đoàn kết chiến thắng giặc Mỹ xâm lược" và Huy hiệu "Chiến thắng trận đầu - 5-8". Đại tá Xécgây Alếchxanđrôvích Métvêđép đã đến Việt Nam thay thế tôi và được bổ nhiệm vào chức vụ Tham mưu trưởng Đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô. Năm 1971, Đại tá Van Iacốplêvích Titatrúc đã thay thế Đại tá Métvêđép trong chức vụ kể trên.

Cuối cùng phải nêu rõ rằng trong tất cả các giai đoạn của cuộc chiến tranh, các chuyên gia quân sự Liên Xô đã dành sự giúp đỡ to lớn cho Quân đội nhân dân Việt Nam. Họ đã làm việc trong những điều kiện vô cùng gian khổ, không tiếc sức khoẻ và sinh mạng mình. Họ đã hoàn thành một cách mẫu mực nghĩa vụ quân nhân của mình và đã có đóng góp quý giá vào sự nghiệp của nhân dân Việt Nam đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #163 vào lúc: 03 Tháng Tư, 2009, 01:23:05 pm »

Với sự giúp đỡ của các chuyên gia quân sự Liên Xô, hệ thống phòng không hiện đại, hùng mạnh tại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã được xây dựng. Hệ thống này gồm có: Binh chủng tên lửa phòng không, pháo cao xạ, các phi đội máy bay tiêm kích, Binh chủng kỹ thuật vô tuyến, hệ thống các đài chỉ huy và các phương tiện liên lạc.

Lực lượng phòng không của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã được hình thành trong quá trình diễn ra những trận chiến đấu phòng thủ chống các cuộc tấn công của lực lượng không quân và hải quân Hoa Kỳ.

Đã có những cố gắng đặc biệt to lớn trong việc xây dựng hệ thống phòng không ở các khu vực Hà Nội và Hải Phòng.

Trong suốt thời kỳ chiến tranh, đặc biệt trong thời kỳ không quân Mỹ hoạt động mạnh nhất vào những năm 1967 và 1968, tại các khu vực này đã xây dựng được lực lượng phòng không mạnh nhất. Đã có nhiều ý kiến nhận xét về sức mạnh của lực lượng phòng không Việt Nam của các phi công Mỹ đã từng tham gia đánh phá Bắc Việt Nam, cũng như của Bộ chỉ huy quân sự và báo chí Mỹ.

Qua những lời khai của các phi công Mỹ bị bắt làm tù binh chúng tôi được biết chúng rất sợ thực hiện các phi vụ đánh phá tại khu vực Hà Nội, vì tại đấy lực lượng phòng không đã gây cho chúng những tổn thất rất lớn.

Khu vực này được ghi là "khu vực số 6" trên không đồ địa hình của không quân. Các phi công Mỹ gọi các phi vụ bay đến khu vực này là khu vực "quan tài" (“6 tấm").

Tờ "Thời báo Niu Oóc" đăng bài cho biết các sĩ quan Mỹ đã đánh giá lực lượng phòng không của Bắc Việt Nam bao gồm các tên lửa phòng không, pháo cao xạ và các máy bay tiêm kích là hệ thống phòng không phức tạp nhất, có lẽ là hữu hiệu nhất mà họ chưa từng thấy.

Những so sánh sau đây đã nói lên sức mạnh của hệ thống phòng không của Bắc Việt Nam. Theo các số liệu chính thức của Mỹ thì trong cuộc chiến tranh Việt Nam không quân Mỹ bị tổn thất 1 máy bay trên 60 lần chiếc xuất kích, trong khi ấy trong chiến tranh Triều Tiên không quân Mỹ bị tổn thất 1 máy bay trên 750 lần chiếc xuất kích.

Có thể phân kỳ hoạt động của các lực lượng phòng không của Quân đội nhân dân Việt Nam thành những giai đoạn như sau:

Năm 1965 và 1966 là những năm xây dựng hệ thống phòng không hùng hậu và mạnh mẽ của Việt Nam trong quá trình đánh trả các cuộc bắn phá ngày càng gia tăng của các máy bay thuộc lực lượng không quân và lực lượng hải quân Hoa Kỳ;

Những năm 1967 và 1968 (đến ngày 1-11) là những năm dồn sức căng thẳng nhất trong quá trình đánh trả những cuộc tấn công dữ dội với số lượng lớn của không quân Mỹ. Năm 1967 là năm làm phá sản các kế hoạch xâm lược của Hoa Kỳ.

Cuối năm 1968, những năm 1969 - 1971 là những năm đối phó với hoạt động trinh sát trên không của Mỹ và giáng trả các cuộc đánh phá của không quân Mỹ vào các tỉnh phía nam của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Năm 1972 là thời gian đánh trả những cuộc bắn phá của không quân Mỹ vào các cơ sở của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trong đó có thành phố Hà Nội và Hải Phòng, với việc sử dụng số lượng lớn các máy bay ném bom chiến lược B-52.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #164 vào lúc: 03 Tháng Tư, 2009, 01:23:53 pm »

Các số liệu tham khảo

Theo các số liệu chúng tôi nắm được thì trong thời gian chiến tranh - từ ngày 5-8-1964 đến ngày 31-12-1972 trên lãnh thổ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã có 4181 máy bay Mỹ bị bắn rơi. Trong số đó, pháo cao xạ bắn rơi 2568 chiếc (60%), không quân bắn rơi 320 chiếc (9%), tên lửa phòng không bắn rơi 1293 chiếc (31%) trong đó có 54 máy bay ném bom chiến lược B-52.

Năm 1965 các lực lượng phòng không của Quân đội nhân dân Việt Nam bắn rơi 834 máy bay chiến đấu.

Năm 1966 - 773 chiếc, trong đó có 221 máy bay bị tên lửa tiêu diệt.

Năm 1967 - 1067 chiếc, trong đó lực lượng tên lửa phòng không bắn rơi 435 chiếc, không quân của Quân đội nhân dân Việt Nam bắn rơi 129 chiếc, pháo cao xạ bắn rơi 503 chiếc.

Năm 1968 - 557 chiếc, trong đó tên lửa phòng không bắn rơi 119, không quân Việt Nam bắn rơi 47 chiếc.

Năm 1969 - 71 chiếc

Năm 1970 - 43 chiếc.

Năm 1971 - 56 chiếc.

Năm 1972 - 922 chiếc, trọng đó có 34 pháo đài bay B-52, 90% trong số đó do tên lửa bắn rơi.
Thành phố Mátxcơva, ngày 25- 12- 1994

Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #165 vào lúc: 03 Tháng Tư, 2009, 01:24:37 pm »

ĐẠI TÁ
MÔIXÊÉP ANATÔLI PÊTRÔVÍCH

Công dân danh dự của Thành phố Hà Nội.

Ông sinh ngày 12-6-1926 tại tỉnh Oóclốp. Bắt đầu tham gia công tác từ năm 1942.

Gia nhập Hồng quân từ tháng 4-1943.

Ra mặt trận từ tháng 10-1943 cho đến khi kết thúc chiến tranh: là trắc thủ - khẩu đội phó Khẩu đội 242 thuộc Trung - đoàn pháo cao xạ của phương diện quân Bêlarútxia.

Từ tháng 4-1950 đến tháng 4-1952 là học viên Trường sĩ quan pháo cao xạ Gitômi - Cờ đỏ. Sau khi tốt nghiệp Trường sĩ quan ông được cử về công tác tại trung đoàn tên lửa phòng không cận vệ 235 Putilốp - Kirốp mang tên Lênin. Tại đây ông tiếp tục phục vụ với các chức vụ: cán bộ kỹ thuật, trạm trưởng, tiểu đoàn phó tiểu đoàn kỹ thuật về trang bị tên lửa.

Từ tháng 9-1967 đến tháng 8-1968, ông đã tham gia chiến đấu ở Việt Nam với chức vụ Trưởng đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô trong các tiểu đoàn kỹ thuật thuộc binh chủng tên lửa phòng không Quân đội nhân dân Việt Nam.

Từ năm 1970 đến năm 1977 ông là kỹ sư trưởng thuộc Tổng cục 4 Bộ Quốc phòng Liên Xô.

Từ tháng 1-1975 đến tháng 1-1977 làm chuyên gia tại Li bi.

Ông đã được thưởng Huân chương Chiến tranh vệ quốc hạng II, Huân chương Sao đỏ và 15 huân, huy chương khác, trong đó có Huân chương Chiến công và Huy chương Hữu nghị vủa Việt Nam.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #166 vào lúc: 03 Tháng Tư, 2009, 01:25:21 pm »

CUỘC THÍ NGHIỆM Ở HÀ NỘI

Tháng 9- 1967, các đoàn tầu hỏa chở khách Mátxcơva - Bắc Kinh và Bắc Kinh - biên giới Việt - Trung, sau khi bị lưu lại hai tuần tại Thủ đô Bắc Kinh, đã đưa 14 sĩ quan tên lửa, trong đó có tôi, đến nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tôi lúc đó mang quân hàm thiếu tá, nguyên là tiểu đoàn phó kỹ thuật ngành công trình tên lửa thuộc Trung đoàn tên lửa phòng không cận vệ 236 Quân khu phòng không Mátxcơva được bổ nhiệm chức Trưởng đoàn chuyên gia của tiểu đoàn kỹ thuật thuộc các trung đoàn tên lửa phòng không Quân đội nhân dân Việt Nam. Chức trách của tôi là kiểm tra và giúp đỡ cán bộ chiến sĩ các đơn vị trong việc sử dụng, vận hành tên lửa, thiết bị công nghệ tiếp nhiên liệu, lắp ráp tên lửa, kiểm tra thiết bị trục nâng, thành phần nhiên liệu và các xe máy vận chuyển nạp tên lửa. Chúng tôi thuộc biên chế của Trưởng đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô bên cạnh bộ đội tên lửa phòng không Quân đội nhân dân Việt Nam.

Lúc đó Liên Xô đã đưa sang giúp Việt Nam các bộ tên lửa phòng không. Các bộ khí tài tên lửa phòng không đó là vũ khí tuyệt vời trong cuộc chiến đấu với không quân Mỹ.

Trong các cuộc đánh phá các mục tiêu ở miền Bắc Việt Nam thường có hàng trăm máy bay ném bom và máy bay tiêm kích cùng tham gia. Mục tiêu chính của chúng là triệt tiêu nền kinh tế của Việt Nam và từ đó buộc Việt Nam phải đầu hàng.

Một dẫn chứng là trong tháng 10-1967, không quân Mỹ đã thực hiện 4.830 lần chiếc máy bay và đã đánh phá 158 mục tiêu, trong tháng 11 -3.100 lần chiếc cất cánh, ném bom 90 mục tiêu. Hàng ngày chúng đã tiến hành các chuyến bay trinh sát: ban ngày chúng dùng máy bay SR-71, ban đêm - máy bay A-6 của hải quân. Đặc biệt ngày nào chúng cũng ném bom đánh phá thành phố Hà Nội và các vùng phụ cận, cảng Hải Phòng, các tuyến đường sắt và đường bộ chiến lược Hà Nội - Hải Phòng và Hà Nội - biên giới Việt – Trung, các con đường đó đã đưa hàng quân sự và kinh tế vào Việt Nam.

Mùa thu năm 1967 chúng đã ném bom và đánh phá vùng ven đô - khu Kim Liên, trường Đại học Bách khoa do Liên Xô giúp xây dựng, Bộ Tư lệnh phòng không - không quân và các khách sạn, nơi có một bộ phận chuyên gia chúng tôi ở. Do có sự uy hiếp lớn đến tính mạng của các chuyên gia quân sự Liên Xô nên Chính phủ Việt Nam đã quyết định cho chúng tôi sơ tán vào các khu dân cư ở trong rừng, cách Hà Nội 20 - 25 km (khu B).

Về cơ bản phi công Mỹ đã hoàn thành nhiệm vụ được giao đối với việc hủy diệt các mục tiêu, nhưng chúng cũng bị những tổn thất rất lớn. Nhằm giảm bớt tổn thất cho chúng và làm giảm hiệu lực của việc sử dụng khí tài tên lửa phòng không của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, người Mỹ đã áp dụng các biện pháp đánh khác nhau như: gây nhiễu chủ động và nhiễu thụ động, dùng các loại tên lửa tự dẫn "không đối đất" ("Sraicơ") đánh vào các đài điều khiển tên lửa của các tiểu đoàn tên lửa, đánh bom vào các trận địa của các tiểu đoàn kỹ thuật.

Nhưng trong sự hiệp đồng với các chuyên gia quân sự Liên Xô, các cán bộ chiến sĩ tên lửa Việt Nam đã học được cách sử dụng có hiệu quả vũ khí mạnh mẽ của mình và tiếp tục gây cho không quân Mỹ những tổn thất lớn. Ví dụ, chỉ riêng trong tháng 10, trong 212 trận đánh, không quân Việt Nam đã bắn rơi 88 và bắn bị thương 39 máy bay địch. Bộ chỉ huy Việt Nam hàng ngày đã công bố số lượng máy bay địch bị bắn rơi. Tại các thành phố, sau mỗi trận đánh đều đăng tải trên các bảng thông tin đặc biệt những số liệu chiến thắng ngày một tăng.

Nhưng người Mỹ vẫn tiếp tục hoàn thiện những phương thức chiến đấu chống tên lửa phòng không của chúng ta. Một trong những phương thức đó là nghiên cứu và áp dụng các biện pháp gây nhiễu tích cực đối với kênh vô tuyến ngắm mục tiêu của tên lửa. Vấn đề là ở chỗ trong ruột của quả tên lửa là một khối FR-15 có hai kênh: vô tuyến điều khiển và vô tuyến ngắm mục tiêu. Kênh này cho phép liên tục “thông báo" bằng tín hiệu trả lời về tọa độ của tên lửa đối với tín hiệu hỏi của đài chỉ huy điều khiển, nhờ đó đài điều khiển đưa ra và phát lệnh điều khiển tên lửa.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #167 vào lúc: 03 Tháng Tư, 2009, 01:26:05 pm »

Ngay trong tháng 9 - tháng 10, khi chiến đấu, trên các màn hình của các đài điều khiển tên lửa của ta đã phát hiện thấy những trường hợp cá biệt xuất hiện nhiễu tích cực cường độ yếu của địch đối với kênh vô tuyến ngắm mục tiêu. Nhưng khi đó chúng ta chưa thực sự quan tâm đến hiện tượng đó: bởi vì các chuyên gia - đại diện của các tổng công trình sư cho rằng, về lý thuyết, việc sử dụng các dạng nhiễu này đánh vào kênh vô tuyến ngắm mục tiêu là có thể, nhưng xác suất thực tế của việc gây các loại nhiễu dó là không đáng kể. Và trên thực tế, đến tháng 12, không thấy xuất hiện các loại nhiễu đó.

Đến tận bây giờ tôi vẫn còn nhớ tới cái ngày 15-12-1967, mọi sự đã đảo lộn. Trong ngày hôm đó một tốp lớn máy bay Mỹ bay trong đội hình như thể đi diễu binh, đánh phá Hà Nội và các vùng lân cận. Khi chúng bay vào vùng hỏa lực có hiệu quả của các tiểu đoàn tên lửa phòng không của ta, như thường lệ, ta đã phóng tên lửa để tiêu diệt chúng. Ta đã phóng đi 29 quả tên lửa, thì một số quả đã tự rơi do các trạm điều khiển không bắt được các tên lửa, bởi vì người Mỹ lần đầu tiên đã sử dụng ồ ạt một phương thức mới - gây nhiễu đối với kênh vô tuyến ngắm mục tiêu. Kênh này đã bị khống chế hoàn toàn và do vậy các đài điều khiển "đã bị mù”, các đài này không nhìn thấy các tên lửa của mình, còn kênh thứ hai - kênh vô tuyến điều khiển - đã không thể điều khiển được đường bay của các tên lửa, vì không có tọa độ của tên lửa. Các tên lửa mất điều khiển có động năng rất lớn đã rơi xuống đất. 

Sự kiện này đã gây tổn thương tới tinh thần của cán bộ chiến sĩ tên lửa Việt Nam và nhân dân địa phương. 

Nhân có sự kiện trên, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã đề nghị Đại sứ quán Liên Xô giúp đỡ. Đại sứ Liên Xô tại Hà Nội I. X. Sécbacốp đã lập tức họp với các chuyên gia quân sự chúng tôi về vấn đề này. Chỉ có một số người rất hạn chế tham gia cuộc họp này. Trung tướng V N. Abramốp, Trưởng đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô, Thiếu tướng N. I. Cunbacốp, Trưởng đoàn chuyên gia tên lửa phòng không, A. M. Elixép, đại diện Tổng công trình sư đài chỉ huy tên lửa và một số chuyên gia khác.

I. X Sécbacốp đã thông báo rằng, sau khi báo cáo Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng về tình hình đã diễn ra, lãnh đạo nhà nước đã chỉ thị cho ngành công nghiệp Liên Xô phải có những biện pháp cấp thiết nhằm khôi phục lại khả năng chiến đấu của các bộ khí tài tên lửa phòng không ở Việt Nam. Sau đó đại sứ nói rằng Mátxcơva đã giao cho đại sứ đồng thời chỉ đạo các chuyên gia đang công tác tại Việt Nam (tùy theo khả năng của mình) tiến hành các công việc và biện pháp bổ sung cần thiết nhằm làm thất bại các biện pháp chống trả của không quân Mỹ đối với các bộ khí tài tên lửa phòng không của Liên Xô.

Trong quá trình bàn luận kéo dài và căng thẳng, chúng tôi đã đi đến kết luận rằng trong những điều kiện lúc đó có một lối thoát duy nhất là tự tiến hành các thí nghiệm nhằm chỉnh lại các tần số làm việc của đài điều khiển tên lửa và các thiết bị phản hồi, đồng thời nâng cao công suất các máy phát tín hiệu phản hồi của tên lửa.

Khi phát biểu, A. M. Elixêép, đại điện Tổng công trình sư đài điều khiển tên lửa nói rằng, việc chỉnh lại tần số của đài điều khiển tên lửa có thể không có khó khăn gì đặc biệt và có thể hoàn thành trong một thời gian tương đối ngắn - vài ngày.
Để xác định thí nghiệm về các thông số lượng và chất và những khả năng chỉnh khối điều khiển tên lửa, tôi đã đề nghị mở riêng các khối tên lửa FR-15, sau đó ghi thành văn bản những kết quả thu được.

Đồng chí đại sứ quan tâm hỏi: "Làm việc đó để làm gì và cần bao nhiêu thời gian?"

Tôi đã báo cáo rằng muốn thu được những số liệu thí nghiệm cần: lấy ra từ bộ phụ tùng dự trữ 15-20 khối FR-15, một trạm kiểm tra thử nghiệm di động để tiến hành kiểm tra từng phần và tổng hợp cho các tên lửa và các khối của tên lửa, một máy phát điện di động và ba ngày làm việc.

Mặc dù các đại diện của Tổng công trình sư phản đối quyết liệt việc mở khối FR-15 (với lý do là khối này tuyệt mật), nhưng đồng chí đại sứ I. X. Sécbacốp đứng ra nhận toàn bộ trách nhiệm về việc tiến hành cuộc thí nghiệm sắp tới

Đồng chí nói: "Cần gì phải bí mật nữa? Người Mỹ đã khám phá ra bí mật đó rồi, họ đã sử dụng nhiễu và đã dùng nhiễu phá các tần số điều khiển tên lửa của ta. Tôi cho phép tiến hành các thí nghiệm này".
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #168 vào lúc: 03 Tháng Tư, 2009, 01:26:52 pm »

Nhờ có được sự thỏa thuận trong cuộc họp nên đã có một quyết định sơ bộ: lập tức bắt tay vào công việc và cố gắng đưa tần số đã chỉnh lớn hơn 3 mêgahéc.

Ngay sau cuộc họp, đoàn chúng tôi gồm Đại tá I. Séctôbitốp, Đại uý V. Gôncharencô, các Thượng uý B. Axlamốp, V. Béclốt, A. Gôncharencô, N. Chirơcốp v.v. đã bắt tay vào công việc. Chúng tôi đã làm việc liên tục, không ngủ, không nghỉ ba ngày đêm ở trong rừng. May thay, trong các khối FR-15 đã có dự phòng một chút độ tự cảm và dung lượng nên đã cho phép chỉnh được tần số và tăng được công suất của máy trả lời. Nhưng dải tẩn số của việc chỉnh các khối có sự khác nhau. Vì vậy, sau khi kết thúc công việc thí nghiệm, tại cuộc họp tiếp sau chúng tôi đã quyết định: một số bộ khí tài tên lửa phòng không ở các trung đoàn sẽ được chỉnh tần số dưới 3 mêgahéc, một số được chỉnh 1,5 mêgahéc, số còn lại không thay đổi gì.

Quyết định đó cho thấy rằng, việc có ba dải tần số khác nhau đã làm cho người Mỹ trong một thời gian nhất định bị lầm lẫn và giúp chúng ta trong một thời gian ngắn tổ chức được một bộ khí tài tên lửa phòng không đã được chỉnh cùng một cơ số đạn tên lửa phục kích tại khu vực Hà Nội. Nhiệm vụ đó đã được thực hiện trước khi đón năm Mới. Nhưng do thời tiết xấu nên không quân Mỹ đã tạm dừng các cuộc đánh phá.

Đầu tháng 1-1968 thời tiết khá hơn và Mỹ đã quyết định tiếp tục đánh phá Thủ đô Hà Nội có sử dụng tất cả các loại nhiễu phá kênh vô tuyến bắt mục tiêu. Nhưng lần này chúng bị thất bại cay đắng. Chúng ta đã sẵn sàng chờ chúng. Tất cả các đài chỉ huy điều khiển của ta làm việc ở ba chế độ. Các bộ khí tài tên lửa phòng không chưa chỉnh sẽ không phóng tên lửa.

Ngay từ loạt phóng đầu tiên, bộ khí tài đã chỉnh 3 mêgahéc nằm trong đội hình phục kích đã bắn rơi chiếc máy bay dẫn đầu của địch. Bọn phi công Mỹ rất bất ngờ trước sự đổi thay đó. Đội hình bay của chúng bị hoảng loạn và chúng bay tháo thân trở về.

Cuộc thí nghiệm của chúng tôi đã thành công. Công việc chỉnh lại các bộ khí tài tên lửa của tất cả 10 trung đoàn tên lửa phòng không của Quân đội nhân dân Việt Nam được tiếp tục thực hiện với tốc độ gấp rút. Mỗi một ngày số lượng các bộ khí tài tên lửa được chỉnh lại đã tăng lên. Đó thực sự là một khối lượng lao động khổng lồ: sau khi chỉnh lại các tham số, tần số, có trên một nghìn tên lửa đã được kiểm tra từng phần và kiểm tra tổng hợp, số tên lửa này đã được phân loại theo những đặc điểm tần số mới, được đặt mã số bổ sung ghi rõ trên lý lịch máy về những thông số đã thay đổi và đã phân tán tên lửa một cách thích hợp.

Đã tổ chức các buổi học tập và hướng dẫn cho toàn bộ sĩ quan và chuyên viên đầu ngành Việt Nam ở tất cả các trung đoàn tên lửa phòng không và các tiểu đoàn kỹ thuật. Trong quá trình chỉnh sửa cũng đã giải quyết các vấn đề khoa học kỹ thuật về nâng cao hiệu quả của các bộ khí tài tên lửa trong những điều kiện có nhiễu âm thanh tích cực đánh vào sóng phản hồi. Khả năng chiến đấu của bộ đội tên lửa phòng không Việt Nam đã được khôi phục lại hoàn toàn.

Bây giờ cũng như trước đây, trong quá trình đánh phá, bọn xâm lược đã bị tổn thất nhiều hơn. Trong vòng một tháng rưỡi của năm 1968, kể từ ngày 1-1, trong quá trình phóng 12 lần đầu đã phóng đi 20 quả tên lửa, kết quả bắn rơi 5 máy bay F-105 của Mỹ. Ngay trong 20 lần phóng tiếp sau đó đã phóng 27 quả tên lửa, kết quả hạ được 9 máy bay Mỹ. Như vậy, sự hiểu biết tuyệt vời về kỹ thuật chiến đấu, tinh thần chủ động sáng tạo, mưu trí và tinh thần kiên định của các chuyên gia Liên Xô đã đảm bảo duy trì được những tính năng chiến đấu và những tính năng vận hành của các bộ khí tài tên lửa phòng không X-75 ở trình độ cao. Điều đó cũng có nghĩa là giữ được uy tín của đất nước chúng tôi và đập tan được những kế hoạch của giới quân sự Mỹ. Đã có văn bản báo cáo tường tận về công việc chúng tôi đã làm gửi từ Hà Nội về Mátxcơva cho Tổng tư lệnh Bộ đội phòng không Liên Xô.

Cần nói thêm rằng, chỉ riêng trong tháng 4-1968, ngành công nghiệp của đất nước chúng tôi đã đưa sang Việt Nam các linh kiện mới để cải tiến các khối FR-15 dưới dạng làm tấm che cho các khối đó. chúng tôi chưa thể kiểm tra được hiệu quả của những công việc cải tiến đó bởi vì tình hình lúc đó không được thuận lợi đối với không quân Mỹ tại Việt Nam, nên chúng tạm ngừng đánh phá Việt Nam đến cuối năm.

Cuối cùng, với lòng biết ơn sâu sắc tôi xin một lần nữa nêu tên họ của các đồng chí của mình đã cùng tôi phục vụ trong điều kiện khó khăn, nhưng rất vinh quang tại Việt Nam, họ đã không tiếc sức mình, không tiếc thời gian để duy trì sẵn sàng chiến đấu cao cho các bộ khí tài tên lửa phòng không Quân đội nhân dân Việt Nam. Đó là: V. I. Séctobitốp, B. N. Pôcrốpxki, B. Axlamốp, V. I. Béclốt, A. G. Côpâykin, H. V. Chirơcốp, V. N. Nêcraxốp, A. N. Côvalép, V. K. Gôncharencô, Iu. Xirôcốp.
Thành phố Mátxcơva, tháng 1- 2001

Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #169 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2009, 04:05:13 pm »

BÊLỐP ALẾCHXÂY MIKHAILÔVÍCH

Ông sinh ngày 29-3-1924 tại tỉnh Goócky, đảng viên Đảng Cộng sản Liên Xô từ năm 1946, tham gia Chiến tranh giừ nước vĩ đại và Chiến tranh chống Nhật.

Ông gia nhập Quân đội Liên Xô tháng 8-1942 Năm 1943 tốt nghiệp Trường Sĩ quan pháo phòng không Goócky và được cử ra mặt trận. Là trung đội trưởng trung đội hỏa lực, sau đó là đại đội trưởng thuộc tiểu đoàn pháo cao xạ Hạm đội miền Bắc.

Tháng 1-1945 ông được điều động về Cảng Xôviêt ở miền Đông. Là tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn pháo cao xạ, sau đó là trướng phòng huấn luyện chiến đấu của sư đoàn, trung đoàn trưởng Trung đoàn pháo cao xạ thuộc Hạm đội Thái Bình Dương.

Năm 1960, sau khi được đào tạo lại, ông được bổ nhiệm làm trung đoàn trưởng Trung đoàn tên lửa phòng không.

Từ tháng 9-1967 đến tháng 8-1968 ông tham gia chiến đấu ở Việt Nam với chức vụ Trưởng đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô tại Trung đoàn tên lửa phòng không 278 Quân đội nhân dân Việt Nam.

Từ năm 1968 ông là Trưởng phòng huấn luyện chiến đấu của Quân đoàn phòng không thành phố Lơvốp.

Từ năm 1974 đến năm 1977 ông là Trưởng đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô của bộ đội tên lửa phòng không tại Li bi.

Từ năm 1977 đến năm 1979, là sĩ quan cao cấp Cục huấn luyện Bộ Tổng tham mưu Bộ đội phòng không Liên Xô.

Ông đã được tặng thưởng Huân chương Cờ đỏ, Huân chương Sao đỏ, Huân chương Chiến tranh giữ nước hạng II và 17 huân, huy chương khác, trong đó có Huân chương Chiến công và Huy chương Hữu nghị của Việt Nam.

Ông mất ngày 18-9-2002.    
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM