Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 03:36:27 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chiến tranh Việt Nam là thế đó 1965 - 1973  (Đọc 146540 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #170 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2009, 04:06:02 pm »

BÚT KÝ CỦA TRƯỞNG ĐOÀN CHUYÊN GIA QUÂN SỰ LIÊN Xô TẠI TRUNG ĐOÀN TÊN LỬA PHÒNG KHÔNG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

Đã hơn 20 năm trôi qua kể từ lúc tôi được cử giữ chức Đoàn trưởng của một trong các đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô sang giúp đỡ cán bộ chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam anh em trong cuộc đánh trả các cuộc đánh phá ồ ạt của không quân và hải quân Mỹ vào nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đoàn chúng tôi gồm các sĩ quan trẻ - các chuyên gia về tất cả các lĩnh vực của bộ khí tài tên lửa phòng không X-75A được trang bị cho Binh chủng phòng không Quân đội nhân dân Việt Nam. Trong đoàn chuyên gia nhỏ này có đại diện một số dân tộc, sắc tộc của đất nước chúng tôi, điều này được thấy qua danh sách các chuyên gia dưới đây:

Trung tá V. I. Sêpốtcốpxky - người Do Thái,
Thiếu tá A. P. Môixêép - người Nga,
Thiếu tá B. Mốpchan - người Ucraina,
Thiếu tá P. I. Nagorơnưi - người Ucraina,
Đại uý T. D. Coócnâytrúc - người Ucraina, 
Đại uý L. V. Craxnốp - người Nga,
Thượng uý A. V. Báccốpxky - người Nga,
Thượng uý A. I. Xôlôviép - người Nga,
Thượng uý G. I. Tơcát - người Ucraina, 
Trung uý V. I. Isencô - người Ucraina,
Trung uý A. Iu. Lôgôgiắc - người Bêlarútxia,
Trung uý A. V. Lútsép - người Nga,
Trung uý K. K. Pítxêlanri - người Grudia.

Tất cả chúng tôi lần đầu tiên gặp nhau tại một Cục thuộc Bộ Tổng tham mưu Liên Xô vào tháng 8-1967, tại đây chúng tôi đã làm quen với nhau, làm các thủ tục giấy tờ cần thiết và ngày 1-9-1967 lên tầu hỏa đi qua Trung Quốc đến Việt Nam.

Chúng tôi lưu lại Trung Quốc gần hai tuần, chúng tôi được thấy nhiều điều mà trước đây chỉ được thấy qua các phương tiện truyền thông đại chúng.

Tối ngày 17-9, chúng tôi qua biên giới Trung - Việt, đường sắt dừng lại tại biên giới. Tất cả đường ôtô trên lãnh thổ Việt Nam đều đã bị tàn phá, khắp nơi đều thấy các hố lớn do bom phá gây ra.

Đi suốt đêm, chúng tôi mới đến được sông Hồng, bên kia sông là thành phố Hà Nội, lúc này chiếc cầu bắc qua sông - con đẻ của Éphen nổi tiếng đã bị phá sập.

Rất thú vị khi được gặp trên phà qua sông Hồng người “đồng hương" - chiếc canô với nhãn hiệu "Xôrơmôvơ đỏ" (tôi lớn lên bên bờ sông Vônga, gần thành phố Goócky). Những giờ phút đầu tiên trên đất nước Việt Nam đầy đau thương đã gây cho các bạn trẻ trong đoàn chúng tôi những ấn tượng sâu sắc. Trong số họ tôi là người duy nhất tham gia cuộc Chiến tranh giữ nước vĩ đại, số anh em còn lại lần đầu tiên thấy hậu quả của chiến tranh và hậu quả của những trận ném bom dã man đó đã làm cho họ hết sức xúc động và căm phẫn. Những tình cảm đó đã được in sâu vào tâm hồn các chuyên gia quân sự Liên Xô và ngày càng tăng lên trong quá trình công tác, nhất là ở các vùng giới tuyến phía Nam, ở quân khu 4.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #171 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2009, 04:06:46 pm »

Đoạn đường dài từ Mátxcơva đến nơi công tác, thời gian lưu lại Trung Quốc đã được chúng tôi tận dụng để tìm hiểu nhau, để gần gũi và làm quen với nhau, để tạo ra môi trường đồng chí tốt đẹp trong đoàn quốc tế chúng tôi, điều này về sau đã giúp chúng tôi rất nhiều trong việc giải quyết nhiệm vụ làm chuyên gia trong những điều kiện chiến đấu rất phức tạp và trong những điều kiện khí hậu khắc nghiệt, chưa quen.

Chúng tôi đến Việt Nam khi cuộc chiến tranh “leo thang" do Mỹ gây ra ở vào thời điểm ác liệt nhất.

Ngày 7-4-1965, khi phát biểu ở Bantimo, Tổng thống Mỹ Giônxơn tuyên bố. "Chúng ta thấy rằng cần nói chuyện bằng súng đạn và máy bay...". Và ngày 16-5-1967, tờ báo "Times" đã viết: "Sự thật tàn nhẫn là ở chỗ ngài Giônxơn cũng đã vươn tới đỉnh cao của sự leo thang, mọi điều đều chứng tỏ, thậm chí leo đến nấc thang cuối cùng, ông ta cũng không thể đạt được mục đích làm lay chuyển tinh thần của đối phương".

Còn tinh thần của nhân dân và lực lượng vũ trang Việt Nam trực tiếp phụ thuộc vào khả năng đánh trả có hiệu lực đối với quân xâm lược và giáng cho chúng những đòn chí mạng.

Cần phải có những phương tiện phòng không hiện đại để chống lại các phương tiện tập kích đường không hiện đại của Mỹ. Chúng đã sử dụng các phương tiện đó đánh phá có hệ thống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ tháng 1-1965. Lúc đó sự viện trợ quân sự của chúng tôi cho Việt Nam chủ yếu nhằm giúp cho các đồng chí Việt Nam xây dựng được hệ thống phòng không có khả năng chống trả các cuộc tập kích của không quân Mỹ.

Từ tháng 9-1967 đến tháng 8-1968, đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô do tôi phụ trách đã làm việc tại Trung đoàn tên lửa phòng không 278 của Quân đội nhân dân Việt Nam. Trung đoàn được thành lập và được trang bị các bộ khí tài tên lửa phòng không X-75A vào cuối năm 1966. Tháng 10 trung đoàn triển khai các trận địa chiến đấu, bắt đầu các hoạt động chiến đấu ngày 22-10-1966. Đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô do Đại tá I. G. Xukhôvêép dẫn đầu đến từ quân khu phòng không Ba cu đã làm việc ở trung đoàn này trước đoàn chúng tôi. 

Vài ngày sau khi đến trung đoàn, chúng tôi cùng với các chuyên gia đến trước tìm hiểu tình hình kỹ thuật của bộ khí tài tên lửa, mức độ sẵn sàng chiến đấu của các tiểu đoàn và cả trung đoàn. Chúng tôi thắm thiết, bịn rịn chia tay các bạn được về Tổ quốc, ngay sau đó, đoàn chúng tôi bắt tay vào làm việc căng thẳng.

Trung đoàn 7 - đó là phiên hiệu được đặt theo thứ tự thành lập các đơn vị đã được Bộ Tư lệnh phòng không dùng làm đơn vị cơ động. Trung đoàn thường thay đổi khu vực đóng quân của các tiểu đoàn và sở chỉ huy, chủ yếu ở các tỉnh phía nam Hà Nội (Hoà Bình, Thanh Hoá), trên các hướng không quân địch thường đánh phá dồn dập .

Các tiểu đoàn tên lửa của trung đoàn thường chiến đấu đánh địch từ các trận địa phục kích, từ các trận địa không được thiết kế về mặt kỹ thuật, không có sự hiệp đồng hỏa lực với các đơn vị tên lửa phòng không bên cạnh (vì số lượng các đơn vị đó còn ít)...

Lúc chúng tôi đến, trung đoàn đóng quân tại tỉnh Hòa Bình, cách Hà Nội 20 - 30 km về phía nam và tây nam và nằm trong thành phần của cụm tên lửa phòng không Hà Nội. Trung đoàn đã có kinh nghiệm chiến đấu nhất định, tất cả các tiểu đoàn đều đã tham gia chiến đấu, nhiều lần bị địch đánh phá, thấy được nỗi đau thương qua những thương vong và cảm nhận được sự vui sướng khi giành được thắng lợi trong những lần phóng tên lửa có hiệu quả. Và mặc dù những lần phóng có hiệu quả chỉ chiếm một phần ba nhưng cũng cho thấy rằng, với sự giúp đỡ của các chuyên gia quân sự Liên Xô, trong một khoảng thời gian ngắn, cán bộ chiến sĩ Việt Nam đã nắm được kỹ thuật tên lửa phòng không phức tạp và học được cách sừ dụng kỹ thuật đó trong chiến đấu.

Nhiệm vụ của đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô chúng tôi là đảm bảo tinh thần thường xuyên sẵn sàng chiến đấu cho các bộ khí tài tên lửa đã triển khai trên các trận địa, giúp khôi phục lại các bộ khí tài đó sau khi bị hư hỏng, nâng cao trình độ phóng tên lửa cho cán bộ chiến sĩ trực tiếp tham gia tác chiến (gồm: tiểu đoàn trưởng, các đại đội trưởng, các đài trưởng kỹ thuật vô tuyến điện, sĩ quan điều khiển), hoàn thiện trình độ hiệp đồng nhịp nhàng giữa các kíp trực của các sở chỉ huy các tiểu đoàn và trung đoàn, và trên cơ sở đó nâng cao hiệu quả hoả lực của các tiểu đoàn và nâng cao hiệu quả chỉ huy của các tiểu đoàn.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #172 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2009, 04:07:20 pm »

Ngay từ khi bắt tay vào công việc, chúng tôi đã đặc biệt chú ý đến việc tập trung nâng cao trình độ hiểu biết về kỹ thuật cho cán bộ chiến sĩ các tiểu đoàn, nếu thiếu điều đó thì không thể nghĩ đến việc sẵn sàng chiến đấu của các bộ khí tài tên lửa phòng không. Chúng tôi phải giải quyết những nhiệm vụ đó trong tình hình thường xuyên bị không quân địch đánh phá (vào thời điểm này địch đã sử dụng tới 150 lần chiếc máy bay của không quân và hải quân trong một ngày đêm). Cần phải tính toán rất kỹ càng công việc của các kíp trắc thủ khi tiến hành các trận đánh, phân tích kỹ những nguyên nhân của các lần phóng tên lửa không thành công, phân tích kỹ những điểm mới trong chiến thuật của không quân địch, trong các phương pháp khắc phục các hình thức mới của địch gia tăng sử dụng vô tuyến điện tử để đối phó với hệ thống tên lửa phòng không của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Những thiệt hại lớn về máy bay khi đánh phá nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã buộc Lầu Năm góc phải tìm kiếm các phương tiện tác chiến điện tử mới. Sau hai năm gây chiến tranh chống lại nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, R. Raxen, Chủ tịch Hội đồng quốc phòng Hạ viện Mỹ viết: "Số máy bay bị bắn rơi tại Việt Nam nhiều gấp hai lần máy bay bị bắn rơi trong cuộc chiến tranh Triều Tiên. Những tổn thất thực sự hầu như đã cao gấp hai lần số liệu được công bố chính thức (Hãng thông tấn AP, ngày 7-2-1967).

Tuần báo Mỹ New Sun ra ngày 15-5-1967 đã công bố các số liệu sau: "Mỹ đã chi 5.800 triệu đô la cho cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân chống miền Bắc Việt Nam, trong đó 2.500 triệu đô la là giá trị của các máy bay bị bắn rơi, chưa kể 1.500 triệu chi cho việc mua máy bay mới để thay vào chỗ máy bay bị rơi". Vào thời điểm này, giá trung bình của một chiếc máy bay là khoảng một triệu đô la). Tờ New York Times ra ngày 22-12-1967 viết: "Báo cáo của ngài Mắcnamara chỉ khẳng định rằng: "nước Mỹ sẽ bị thiệt hại ít, nếu ngừng việc ném bom đánh phá Bắc Việt Nam và có thể bị tổn thất nhiều hơn nữa nếu cứ bám lấy việc leo thang"".

Nhưng "sự bám lấy việc leo thang" vẫn tiếp diễn. Địch tăng thêm lực lượng tham gia đánh phá nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tăng cường độ các cuộc ném bom đánh phá. Dọc theo bờ biển Việt Nam thường xuyên có 2-3 chiếc hàng không mẫu hạm Mỹ tham gia đánh phá, vào các thời điểm đánh phá ồ ạt đã có tới 4-5 chiếc. Đó là 10 phi đội máy bay cường kích hải quân A-4F, A-6A và sáu phi đội máy bay tiêm kích hải quân F-8A, và cả các loại máy bay của không quân Mỹ đậu tại các sân bay Thái Lan và Nam Việt Nam (Đà Nẵng); khoảng 100 chiếc F-105 và 180 chiếc F-4C "Phan tôm" (con ma).

Các máy bay do thám RF-101, RF-4 và các máy bay do thám - máy bay gây nhiễu RB-66 cũng tham gia vào các cuộc đánh phá. Trước mỗi trận đánh phá chúng đều tổ chức do thám trận địa tên lửa phòng không của ta và sau khi đánh phá lại do thám kết quả đánh phá.

Chúng cũng tăng thêm các phương tiện và phương thức tác chiến điện tử của không quân chống binh chủng tên lửa phòng không Việt Nam. Chúng bắt đầu đánh phá Hà Nội bằng nhiều tốp máy bay lớn (12, 16, 28, 32 và đôi khi 60 chiếc), kết hợp với việc sử dụng ồ ạt các loại nhiễu đối với các đài ra đa của binh chủng tên lửa phòng không Việt Nam. Đội hình chiến đấu - "các phân đội rồng rắn", lúc bắt đầu bay, đội hình rất gần nhau, khi cách các đội hình chiến đấu của bộ đội tên lửa phòng không Việt Nam khoảng 50 - 60 km, chúng lại tản ra. Từ 1/3 đến 2/3 lực lượng được tách ra để đánh vào các trận địa của các tiểu đoàn tên lửa phòng không Việt Nam.

Khi đánh vào các tiểu đoàn tên lửa phòng không chúng thường xuyên dùng tên lửa có cánh "Sraicơ" dài 3 mét, sải cánh 900 - 920mm, trọng lượng khi phóng 227 kg, tốc độ thực tế 930 mét/giây, tầm bay xa 40 km, tầm phóng 14 - 18km, hệ thống dẫn đường - thụ động, bay theo chùm sóng, số lượng rãnh 2200, bán kính công phá 15m). Đó là phương tiện tác chiến điện tử rất tàn bạo, nó đòi hỏi cán bộ chiến sĩ tên lửa ta phải ra sức tìm kiếm giải pháp phòng tránh chúng. Tính chất phức tạp của cuộc chiến đấu với “Sraicơ" là ở chỗ bề mặt phản chiếu của các tên lửa này rất nhỏ, trong điều kiện các màn hiển thị của các đài điều khiển tên lửa bị các loại nhiễu âm thanh tích cực và nhiễu xung - trả lời bịt kín thì rất khó phát hiện ra được nét chấm rất bé nhỏ của tín hiệu phản lại của "Sraicơ". Máy bay địch đã ba mươi lần phóng tên lửa “Sraicơ" vào các tiểu đoàn của Trung đoàn 7.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #173 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2009, 04:07:58 pm »

Ngày 22-12-1966, hai cặp máy bay F-4C cách nhau 40 phút đã phóng 4 quả tên lửa "Sraicơ" vào Tiểu đoàn tên lửa phòng không 91, một quả đã trúng mục tiêu và tiểu đoàn đã phải ngừng chiến đấu khá lâu. Ngày 22-8-1967, từ độ cao 3,5 km và ở tầm xa 20 - 25km, một máy bay tiêm kích F-105 đã phóng hai quả "Sraicơ" xuống Tiểu đoàn 91. Ta đã kịp phát hiện thấy địch phóng tên lửa và quay ngoắt ăngten sang một bên, tên lửa bay chệch hướng và rơi cách đài điều khiển tên lửa của ta 3-4 km.

Đêm 11-3-1968, hai chiếc F-4 đã phóng hai quả "Sraicơ", nhưng nhờ ta đã dùng các biện pháp trên, nên cả hai quả đều bị bay chệch. Ở thành phố Vinh, ngày 27-5-1968, ba máy bay F-4 đã đánh vào tiểu đoàn này. Bị che khuất bằng các loại nhiễu âm thanh tích cực rất mạnh nên các sĩ quan và các trắc thủ điều khiển tên lửa bằng tay đã không phát hiện thấy địch phóng "Sraicơ”. Do bị bắn trúng trực tiếp nên hệ thống giàn ăngten của cabin "PA" bị hỏng, các cabin "UA" và "AA" cũng bị hỏng nặng. Tất cả các tiểu đoàn khác của trung đoàn đều bị địch đánh phá bằng tên lửa "Sraicơ", nhưng nhờ có các biện pháp phòng tránh nên không có tiểu đoàn nào bị thiệt hại.

Các sĩ quan điều khiển và kíp trắc thủ bám sát mục tiêu bằng tay của cabin "UA" Tiểu đoàn 93 đã hành động chuẩn xác nhất, địch đã 12 lần dùng tên lửa "Sraicơ" đánh vào tiểu đoàn, nhưng trong tất cả các trường hợp, tiểu đoàn vẫn giữ được an toàn.

Tháng 10 là tháng căng nhất về mức độ bị đánh phá trong năm 1967. Trong tháng 10-1967 đã tiến hành 50% các trận đánh so với cả năm 1966. Địch đã đánh phá các thành phố Hà Nội, Hải Phòng, đường số 1 (nối từ Hà Nội đến Trung Quốc), đường số 5 - Hà Nội - Hải Phòng, sân bay Nội Bài, các tiểu đoàn tên lửa phòng không. Đêm 24 rạng ngày 25, sáng và trưa ngày 25-10, địch đã dùng các tốp từ 12 - 26 máy bay đánh vào sân bay. Ngày 24-10, trong các trận đánh trả địch, ta đã bắn rơi 5 máy bay: trong đó có một chiếc A-4 do Tiểu đoàn tên lửa phòng không 93 bắn hạ, ngày 25-10 ta lại bắn rơi 8 chiếc.

Từ ngày 24-10-1967 đến ngày 1-11-1967 địch đã bị mất gần 40 máy bay. Trong những ngày đó, Tiểu đoàn 93 đã đánh 5 trận, bắn rơi 3 máy bay: hai chiếc F-105 và một chiếc A-4. Đợt này tiểu đoàn bị máy bay cường kích A-4 của hải quân Mỹ đánh hai lần, chúng đã dùng bom phá, bom sát thương và bom bi.

Công sự của trận địa tên lửa Việt Nam rất đảm bảo về kỹ thuật và xác suất ném bom không chính xác rất lớn nên tiểu đoàn không bị thiệt hại gì. Nhưng sáng ngày 6-11-1967, địch dùng bốn máy bay F- 105 từ độ cao 1,5 - 2 km, được các nhiễu âm thanh tích cực rất mạnh che chở, bổ nhào với góc độ 10-20o, đã đánh hỏng tất cả các ca bin của đài điều khiển tên lửa và làm hư hại toàn bộ đường dây cáp điện của tiểu đoàn. Địch đã ném xuống tiểu đoàn 16 quả bom phá và tám thùng bom bi mẹ. 

Các quả bom bi "Graiphrút" (địch bắt đầu sử dụng để đánh các tiểu đoàn tên lửa phòng không từ tháng 4-1966) được đặt trong một cái vỏ gồm hai nửa, có kích thước 2,5 x 0,4 mét, được gắn với nhau bằng đai và đinh vít. Bên trong thùng có 6 ngăn. Mỗi quả bom mẹ chứa được 300 - 640 quả bom bi. Trọng lượng một quả bom bi là 420 g, vỏ dầy 7 mm. Mỗi quả bom chứa 390 hòn bi, kích thước 5 mm. Chất nổ của nó là hetrogen, trọng lượng 100 g.

Quả bom mẹ có ngòi nổ ký hiệu M10024A1 đặt ở phía đầu. Từ tháng 4-1967 chúng đã dùng ngòi nổ chậm. Thời gian nổ chậm là từ 1-3 phút đến 2-3 giờ, đôi lúc tới 48 giờ. Hố do một quả bom bi nổ gây ra rộng bằng vành một chiếc mũ sắt úp, bán kính của các mảnh bom là 20 - 25mm, sức phá 10 - 15m, chiều cao của các viên bi bay lên - 1,7m, tức là bằng chiều cao của người, tầm bay ngang - dưới 10 cm so với mặt đất.

Trận địa phóng tên lửa của tiểu đoàn bị nham nhở chằng chịt các hố bom bi như người bị rỗ do bệnh đậu mùa. Bom bi đã đâm thủng các vỏ xe của đài điều khiển tên lửa và làm hỏng các khối điện tử, 100% hệ thống dây cáp điện - mạch máu của tổ hợp khí tài tên lửa phòng không bị hỏng nặng. Tôi còn giữ đến bây giờ một quả bom bi không nổ để nhớ mãi trận ác liệt đó.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #174 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2009, 04:08:36 pm »

Địch đã bị thất bại thảm hại trong các trận đánh vào cuối tháng 10-1967. Tại Hà Nội, chỉ trong vòng một tuần lễ chúng đã bị mất bốn đại tá (trong đó có một liên đội trưởng không quân), chín trung tá, trong đó có một đại tá và ba trung tá bị bắt làm tù binh. Trong số tù binh này có cả Giôn Xít nây Máckên - con trai và là cháu nội của các viên đô đốc hải quân danh tiếng của Mỹ. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, ông nội y chỉ huy toàn bộ hạm đội Mỹ, còn cha y chỉ huy toàn bộ lực lượng hải quân Mỹ ở châu Âu (giờ đây con trai ông ta bị bắt làm tù binh sau khi nhảy dù xuống hồ Trúc Bạch) .

Mặc dù bị mất nhiều máy bay và phi công, cường độ các cuộc đánh phá của không quân Mỹ vào các mục tiêu của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vẫn không giảm đi mấy. Các tháng tiếp sau của năm 1967 - 1968 vẫn tiếp tục các trận đánh phá ồ ạt. Có hai đợt tạm dừng đánh phá ngắn từ 1-4 và từ 1-11-1968.

Kẻ thù muốn bắt nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải quỳ gối, đã đưa vào sử dụng nhiều lực lượng và phương tiện đánh phá mới. Máy bay do thám SR-71, bay cao và bay nhanh, được đưa vào trang bị năm 1966 thường xuyên bay trên bầu trời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Máy bay ném bom chiến lược B-52 của Mỹ đã đánh phá các khu vực nam Vĩ tuyến 18, tại khu vực này vào tháng 3-1968 lần đầu tiên ta bắn rơi hai máy bay tiêm kích ném bom F-111 mới nhất của không quân Mỹ.

Không quân Mỹ đã thực hiện trên 80% các cuộc đánh phá trong những điều kiện gây nhiễu rất mạnh đối với các trạm ra đa và không chỉ riêng đối với các kênh ngắm mục tiêu. Lần đầu tiên vào mùa thu năm 1967 địch đã dùng nhiễu đánh vào kênh điều khiển tên lửa dưới mặt đất.

Các chuyên gia quân sự Liên Xô đã chia sẻ mọi nỗi nhọc nhằn với cán bộ chiến sĩ Việt Nam trong tình hình chiến đấu căng thẳng, đã làm việc cả ngày lẫn đêm, đã không tiếc sức lực, đã tận tình truyền lại những kiến thức và kinh nghiệm sử dụng kỹ thuật tên lửa phòng không mới của mình trong chiến đấu cho Quân đội nhân dân Việt Nam. Trong quá trình cùng làm việc đã xây dựng được những quan hệ hữu nghị, anh em chân tình giữa cán bộ chiến sĩ Liên Xô và Việt Nam ở tất cả các cấp.

Các đồng chí Việt Nam đã hết sức cố gắng tìm mọi cách để giảm bớt những điều kiện sinh hoạt chưa quen đối với chuyên gia quân sự Liên Xô tại những nơi tạm nghỉ giữa các đợt chiến đấu. Mặc dù tình hình hết sức phức tạp và khó khăn do các cuộc đánh phá liên tục đối với từng khu dân cư, thậm chí với từng ngôi nhà nhỏ đơn độc, mặc dù trung đoàn đóng quân tại các khu vực liền sát với thủ đô nhưng chúng tôi vẫn được ở trong các ngôi nhà gỗ khô ráo, chúng tôi đã ngủ trên các giường xếp có mắc màn, chúng tôi đã mang theo những thứ đó trong tất cả các cuộc chuyển quân thay đổi địa điểm công tác. Chúng tôi ăn uống bình thường xét về mặt calo, nhưng rất đơn điệu: xúp nấu từ thực phẩm cô đặc, cơm, hiếm khi có thịt (thịt lợn, hoặc gà vịt) và chủ yếu là đồ hộp. Hoàn toàn không có sữa, bánh mỳ - chỉ có bánh mỳ trắng, đưa từ Hà Nội vào.

Tháng 4-1967, sau khi cùng trung đoàn chuyển vào Vĩ tuyến 18 (khu vực thành phố Vinh), chúng tôi đã ở trong các lán thấp được đào khoét vào sườn đồi, sườn núi, phía trên được che, lợp bằng tre, nứa và lá cọ hoặc rơm. Khi trời mưa thường hoặc mưa to nước đều chảy vào trong lán. Không được phơi quần áo ở ngoài lán, lộ bí mật. Để ngụy trang bếp, phải làm bếp trong lán, sát vách lán. Để dẫn khói ra khỏi bếp, chúng tôi đã đào trên sườn đồi một rãnh ống sâu, dài, chạy ngoằn ngoèo, phủ các cành cây lên rồi phủ thêm một lớp đất. Lỗ thông khói nằm rất xa bếp và khói hầu như đã bị đất hút hết .

Mấy lần chúng tôi định nướng bánh mì trong những điều kiện đó nhưng không nướng được và phải mấy tháng trời (từ tháng 4 đến tháng 7) chúng tôi đã phải sống không có bánh mì. Không thể đưa bánh mì từ Hà Nội vào được. Việc chuyển báo chí và thư từ từ quê hương sang cho chúng tôi thực sự là một việc hiếm hoi. Thư và báo đến rất chậm suốt trong bốn tháng chúng tôi chỉ nhận được thư và báo có hai lần.

Để chào mừng 50 năm Cách mạng Tháng Mười, trong những lúc nghỉ giữa các trận đánh, chúng tôi đã cố gắng dốc hết sức mình vào công việc nhằm nâng cao trình độ kỹ thuật tên lửa cho cán bộ chiến sĩ phòng không Việt Nam, vào việc khôi phục trang bị khí tài hỏng hóc, vào việc tổ chức tiến hành công tác kiểm tra định kỳ cho các bộ khí tài tên lửa, vào việc duy trì sẵn sàng chiến đấu thường xuyên cho các bộ khí tài đó. Anh em chúng tôi đã trưởng thành trông thấy - hoàn cảnh chiến đấu đã làm cho họ cứng rắn hơn, có trách nhiệm hơn và gắn bó với nhau hơn.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #175 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2009, 04:09:14 pm »

Nhưng sự mệt mỏi và căng thẳng thần kinh đã cho họ hiểu được chính mình. Chúng tôi rất may mắn là trong đoàn chúng tôi có bác sĩ Bôrít Mốpchan, đồng chí không chỉ chữa chạy cho anh em, mà còn chơi đàn baian và hát rất hay trong những phút nghỉ giải lao. Đúng vậy, anh em không chỉ nghe đàn và nghe hát, mà còn tự ca hát rất say mê với các bài dân ca Nga và các bài ca Liên Xô yêu thích cùng với đàn đệm của bác sĩ.

Trong những ngày lễ kỷ niệm 50 năm Cách mạng Tháng Mười, sau đó là 50 năm Lực lượng vũ trang Liên Xô đáp lại các buổi chiêu đãi giản dị của chúng tôi nhân các ngày lễ đó, các đồng chí Việt Nam đã tổ chức các buổi tiếp khách long trọng đối với chúng tôi - có các bài phát biểu, các lời chúc mừng và có cả liên hoan văn nghệ của đồng bào địa phương.
Trong buổi lễ trọng thể ngày 7-11-1967, theo đề nghị của lãnh đạo địa phương, tôi đã trồng một cây Hữu nghị - một cây cọ non.

Chúng tôi cũng cảm nhận được sự quan tâm từ Mátxcơva. Rất phấn khởi là trước các ngày lễ lớn chúng tôi đã nhận được những gói quà thực phẩm khiêm tốn (trong đó quý nhất là một chiếc bánh mì gối đen - chúng tôi đã nhớ và thèm nó từ lâu) và các tấm thiệp chúc mừng của Bộ trưởng Quốc phòng Liên Xô và Bộ Tư lệnh phòng không Liên Xô. Còn có cả các thư chúc mừng của Bộ Quốc phòng Việt Nam.

Trung tướng không quân V. N. Abramốp, Trưởng đoàn chuyên gia quân sự tại nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã nhiều lần đến thăm chúng tôi. Là một người hay quan tâm, tốt bụng; đồng chí nghiên cứu rất tường tận công việc của chúng tôi, luôn giúp đỡ chúng tôi trong việc giải quyết các vấn đề mới phát sinh liên quan đến việc nhanh chóng đưa các bộ khí tài tên lửa bị hỏng hóc trở lại đội ngũ chiến đấu giúp chúng tôi trong các vấn đề sinh hoạt.

Sau khi Trung tướng đến thăm, tinh thần của anh em phấn chấn hẳn lên, tăng thêm ý thức trách nhiệm đối với công việc chúng tôi đang làm, tăng thêm lòng tin vào việc hoàn thành thắng lợi sứ mệnh quốc tế của mình. Đồng chí thường xuyên triệu tập các trưởng đoàn chuyên gia từ các trung đoàn về Hà Nội để trao đổi kinh nghiệm, phân tích, tổng kết thực tế đấu tranh với các phương tiện tập kích đường không hiện đại của địch. Địch thường xuyên thay đổi chiến thuật sử dụng các phương tiện đó, thường xuyên hoàn thiện các phương tiện tác chiến điện tử chống lại các bộ khí tài tên lửa phòng không của ta. Chúng tôi đã cùng nhau bàn bạc đề ra các cách giải quyết và kiến nghị đối với các công trình sư, các nhà công nghiệp và cả đối với chính chúng tôi - các chuyên gia quân sự Liên Xô - trực tiếp vận dụng các kiến nghị đó trong chiến đấu.

V. X Kixlianxki, N. I. Cunbacốp, I. A. Côxman, B. A. Vôrônốp, N. M. Xêbalin, các đoàn trưởng chuyên gia ở các trung đoàn M. I. Aghêép, N. A. Blincốp, Iu. M. Bôxnhắc, B. X. Báclamốp, L. M. Gôncharốp, X. Ph. Enhiacốp, kỹ sư V. A. Tơcasencô và các đồng chí khác đã bỏ ra nhiều công sức để tổng kết kinh nghiệm sử dụng các bộ khí tài tên lửa trong chiến đấu và đề xuất các kiến nghị về phương pháp làm việc trong điều kiện địch tác động mạnh về vô tuyến điện tử. Trung tướng V. N. Abramốp đã chỉ đạo và điều hành toàn bộ công việc đó của các chuyên gia quân sự, các đại diện Viện nghiên cứu khoa học và công nghiệp. Các cán bộ chính trị, tuy không nhiều lắm, như M. E. Bôrixencô, E. I. Pôlivaicô, A. T. Trômbachép, K. M. Pôgôdép, v.v đã làm những công việc quan trọng và rất cần thiết đối với chuyên gia quân sự Liên Xô đang làm việc ở Việt Nam.

Các cán bộ của Đại sứ quán Liên Xô tại Việt Nam, đứng đầu là Đại sứ đặc mệnh toàn quyền I. X. Sécbacốp đã làm việc căng thẳng có hiệu quả để giúp các chuyên gia quân sự Liên Xô giải quyết thành công mọi nhiệm vụ được giao, cũng như thực hiện được những hình thức giúp đỡ quan trọng khác mà đất nước chúng tôi dành cho Việt Nam. Đồng chí Đại sứ luôn lắng nghe những báo cáo của các Trưởng đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô và đã phát biểu trong các cuộc họp của chuyên gia với những thông báo và đánh giá chính trị rất quý báu.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #176 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2009, 04:09:52 pm »

Cuối năm 1967, Tổng thống Mỹ Giônxơn đánh giá tình hình ở Việt Nam như là "đường hầm không lối thoát". Nhưng tướng Uyham Oétmolen, Tư lệnh quân đội Mỹ tại Việt Nam và Chính phủ Mỹ đã giải quyết việc rút ra khỏi đường hầm không lối thoát đó bằng cách gia tăng sức mạnh quân sự, đẩy mạnh các hoạt động quân sự ở miền Nam Việt Nam và tăng cường đánh phá nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Đội quân trên 500 nghìn người của Mỹ (7 sư đoàn, trong đó 5 sư đoàn bộ binh, 2 sư đoàn lính thủy đánh bộ), cùng tham chiến với trên 310 nghìn lính và trên 400 nghìn bảo an binh của quân đội chính quy cộng hòa miền Nam Việt Nam chống lại các chiến sĩ yêu nước của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Lực lượng của Mặt trận mỗi ngày một phát triển và hùng mạnh hơn. Kết cục, bọn xâm lược vẫn bị thất bại.

Đêm 31-1-1968 - ngày Tết năm Mới của Việt Nam - các chiến sĩ Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã đồng loạt tiến công vào các căn cứ quân sự Mỹ ở miền Nam Việt Nam, gây cho chúng rất nhiều tổn thất về sinh lực và trang bị kỹ thuật. Mặc dù cuộc tiến công chững lại, nhưng cuộc tiến công đó đã nói lên rằng những chiến sĩ yêu nước Việt Nam có đủ khả năng tiến hành các chiến dịch ồ ạt, nó đã đánh một đòn tâm lý rất mạnh đối với người Mỹ và đẩy bộ chỉ huy quân sự Mỹ đi đến một quyết định tuyệt vọng hơn - tiến hành cuộc chiến nhằm tiêu diệt sinh lực đối phương và tiêu diệt những người dân ủng hộ Mặt trận.

(Đúng sau đó một tháng rưỡi, ngày 16-3-1968, đã diễn ra một cuộc thảm sát đẫm máu: chỉ một trung đội lính Mỹ do Trung uý Colly chỉ huy (đại đội "Charly") đã tàn sát hơn 100 dân thường Việt Nam tại làng Mỹ Lai (xã Sơn Mỹ)).

Theo đuổi quyết định này, khi ném bom đánh phá các khu dân cư ở miền Bắc Việt Nam, mặc dù nhà cửa ở các khu vực này đã bị tàn phá, cũng như khi đánh vào các trận địa tên lửa, bộ chỉ huy quân sự Mỹ đã sử dụng rộng rãi hơn các loại bom bi có thời gian nổ chậm khác nhau. Chúng cũng sử dụng nhiều hơn các loại bom từ trường nổ chậm. Bom từ trường chỉ phát nổ khi lọt vào vòng từ trường của bất kỳ vật thể kim loại nào chuyển động - xe tô, xe đạp, người đi bộ có mang theo vũ khí hoặc có các vật kim loại trên quần áo. Chúng ném các quả bom đó từ các độ cao không lớn dọc theo các con đường và những quả bom đó nằm dưới mặt đất, chờ thời cơ phát nổ, thời gian gây tang tóc kéo dài tới 100 ngày.

Tháng 4-1968, Trung đoàn tên lửa phòng không 278 đủ biên chế tới (lúc này Tiểu đoàn tên lửa phòng không 94 đã nhận được bộ khí tài tên lửa mới và đã được bổ sung đủ quân sô) đã chuyển quân vào Quân khu 4 - Vỹ tuyến 18, ở hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh. Trung đoàn đã phải hành quân theo các con đường bị bom cày phá, các con đường vòng tránh, các bến phà trong đêm tối, qua nhiều con sông mà cầu đã bị địch đánh sập, suốt cuộc hành quân luôn bị không quân địch quấy phá.

Càng đi sâu xuống phía Nam bao nhiêu, chúng tôi càng cách xa vành đai phòng thủ Hà Nội bấy nhiêu, do vậy càng phải hết sức tuân thủ các biện pháp ngụy trang, phải tuân thủ hệ thống tín hiệu bằng cờ trên tất cả các đoạn đường: nếu cờ trắng được giơ lên - có thể đi được, nếu cờ đỏ phải lập tức ẩn nấp - trên không có máy bay địch.

Sau một chặng nghỉ ngắn tại khách sạn sơ tán của thị xã Thanh Hóa (tại đây, các phóng viên của chúng tôi thường dừng chân nghỉ lại: tháng 3-1966 - Anđrây Cruxinxki, phóng viên báo Sự thật thanh niên Cômxômôn, tháng 6-1966 - Iôna Anđrônốp, phóng viên báo Thời mới, tháng 8-1967 – Áccađi Áccanốp, tháng 10-1967 - các phóng viên báo Sự thật và Tia lửa Ivanxêđrốp và Alếchxanđrơ Xêricốp, nhiều lần đến đây là phóng viên báo Tin tức Mikhain Ilinxki), chúng tôi lại tiếp tục hành quân về phía Nam.

Nhiệm vụ của trung đoàn chúng tôi là ngăn chặn ý đồ của bộ chỉ huy quân địch trong việc chặn đường vận chuyển quân, vũ khí, đạn dược và các vật tư kỹ thuật khác tiếp tế từ miền Bắc vào miền Nam cho Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Để thực hiện mưu đồ đó địch đã dùng mọi biện pháp có thể, dốc hết vào những nỗ lực tuyệt vọng. Dải đất hẹp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nằm giữa Vĩ tuyến 19 và 17 đã bị không quân địch đánh phá liên tục, suốt ngày đêm trong mọi điều kiện, thậm chí cả những lúc điều kiện thời tiết phức tạp nhất. Ban đêm, chúng sử dụng rộng rãi pháo sáng.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #177 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2009, 04:10:41 pm »

Tại đây chúng tôi đã phải chịu đựng những ngày tháng nóng bỏng nhất - cả về mặt thời tiết (nhiệt độ không khí thậm chí về ban đêm trên 30oC, độ ẩm trên 90%), cả về mặt chiến đấu. Tại Quân khu 4, địch đã hoàn toàn bá chủ trên không, chúng đã rượt đuổi đánh từng chiếc ôtô, bắn từng người khi chúng phát hiện thấy, ban đêm, thậm chí chúng còn đánh cả vào các nguồn phát sáng nhỏ bé như đèn pin chẳng hạn.

Tại một làng gần lán của chúng tôi, ban đêm, sau một trận mưa rào, các cháu bé dùng đèn pin soi để bắt ốc về ăn. Ngay lúc đó máy bay trinh sát thường xuyên bay lượn đã phát hiện được và ngôi làng đã bị ném bom. Hầu hết các cháu bé bị giết chết, số cháu còn sống sót đã bị tàn phế.

Trong một ngày trời đẹp, một chiếc máy bay cường kích trinh sát của hải quân Mỹ RA-5C "Vigilenti" đã bay qua trên lán chúng tôi, ở độ cao 100m. Cả nhóm đang làm việc ở Tiểu đoàn 92, tôi ở lại lán viết báo cáo, vừa bước ra khỏi lán và ngay lúc đó nhìn thấy rõ tên phi công lái máy bay trinh sát bay ngay trên đầu mình. Ngay đêm đó chúng tôi phải chuyển đi nơi khác, và ngày hôm sau máy bay địch đã đến ném 5 quả bom phá và 5 quả bom bi mẹ xuống nơi chúng tôi vừa rời đi.

Tiểu đoàn tên lửa phòng không - là mục tiêu rất dễ bị phát hiện và là mục tiêu quan trọng, vì vậy ở vùng này chúng tôi phải dùng chiến thuật phục kích để đánh.

Các tiểu đoàn tên lửa ẩn nấp trong rừng, ban đêm cơ động ra trận địa bệ phóng đã lựa chọn trước, nhưng không triển khai cả 6 bệ phóng, mà chỉ triển khai 3 bệ, sử dụng một kênh điều khiển tên lửa. Sáng sớm, chúng tôi phóng tên lửa, có thể thành công hoặc không thành công và tiểu đoàn đã bị lộ, sau trận đánh phải thu hồi ngay khí tài trang bị và rút về nơi ẩn nấp. Nhưng không phải lúc nào cũng làm được việc đó

Địch thường dùng nhiều tốp máy bay tổ chức theo các thê đội theo thời gian và độ cao để tiến hành các trận đánh phá. Chúng lập tức tập trung một số cặp máy bay F-4, F-8, A-4 đánh vào tiểu đoàn tên lửa đã bị phát hiện.

Ngày 12-5, Tiểu đoàn tên lửa phòng không 94 đã bắn rơi 1 máy bay F-4, ngay ngày 16, tiểu đoàn bị một số tốp F-4, F-8 yểm trợ đánh phá. Tiểu đoàn tạm thời phải rời vị trí.

Cũng trong ngày hôm đó, 12-5, Tiểu đoàn tên lửa phòng không 93 cũng bắn rơi 1 máy bay A-4. Nhưng địch đã dùng một số tốp máy bay cường kích và tiêm kích bay bổ nhào với góc 45 - 60o đánh vào tiểu đoàn dữ dội, toàn bộ trang bị khí tài của Tiểu đoàn không thể sửa chữa khôi phục lại được

Bây giờ toàn đoàn chuyên gia chúng tôi phải tập trung mọi cố gắng cho Tiểu đoàn tên lửa phòng không 92, tiểu đoàn đã đánh thắng một số trận và còn nguyên vẹn. Chúng tôi đã quyết định dùng tiểu đoàn này vào các trận đánh đêm. Cần phải làm việc hết sức ăn ý giữa tất cả các kíp chiến đấu để khi trời bắt đầu tối đưa tiểu đoàn từ nơi ẩn nấp ra trận địa triển khai, điều chỉnh và phối hợp các hệ thống, tiến hành trận đánh, nhanh chóng thu hồi trang bị khí tài và trước khi trời sáng phải quay về nơi ẩn nấp.

Đêm 18-6, Tiểu đoàn tên lửa phòng không 92 đã tổ chức một trận đánh có hiệu quả với hai chiếc F-4 "Con ma" bay theo các tham số hướng đi không lớn, ở độ cao 3 - 3,5km, mỗi chiếc cách nhau 1,5 - 2 km. Khi bắt được mục tiêu chiếc thứ nhất, lập tức bám sát nó, Tiểu đoàn trưởng quyết định tiêu diệt nó bằng hai quả tên lửa ở giữa vùng sát thương. Quả thứ nhất phóng và bắt được mục tiêu bằng chùm sóng bám sát mục tiêu, quả thứ hai - không phóng được. Chúng tôi quyết định "phóng theo kênh thứ ba". Tên lửa đã rời bệ phóng và được điều khiển bình thường. Mục tiêu thứ nhất bị tiêu diệt bằng quả tên lửa đầu tiên, sau đó lập tức bám sát các điểm của mục tiêu thứ hai và tiến hành phóng lần thứ hai theo kênh thứ hai.

Tên lửa đã bay lên và được điều khiển bình thường. Cự ly gặp mục tiêu - 15km. Mục tiêu thứ hai bị tiêu diệt. Như vậy trong trận này chỉ tiêu hao 3 quả tên lửa, tiểu đoàn đã diệt được 2 máy bay "Con ma".
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #178 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2009, 04:12:00 pm »

Các bạn Việt Nam đã tặng tôi một miếng nhãn hiệu của một trong hai chiếc máy bay F-4 bị bắn rơi để làm kỷ niệm. Trên nhãn có dòng chữ: 

AIRCRAFT mod. F-4    
PART. No 32-710002-321
SERIAL No RR45-42
MODIFICATION 
INCORPORATED
 

Các đại đội pháo cao xạ phòng không loại nhỏ đã tham gia bảo vệ có hiệu quả cho các tiểu đoàn tên lửa phòng không. Tại Quân khu 4, các đại đội pháo cao xạ hạng trung cũng hoạt động tốt. Cả hai loại pháo này đều bị nhũng tổn thất, nhưng vẫn tiếp tục dũng cảm chiến đấu với kẻ thù.

Chúng tôi cũng được theo dõi, quan sát một số trận đánh của các phi công Việt Nam lái máy bay MIG-17 và MIG-21. Ngày 16-6-1968, một chiếc MIG-21 phát hiện chiếc máy bay đi sau (một trong hai chiếc F-4), tiến sát đến chiếc máy bay đó ở cự ly phóng, phóng một quả tên lửa, rồi quay ngoặt lại, hạ độ cao và bay thật thấp trở ra phía bắc. Thoạt đầu chiếc F-4 vẫn tiếp tục bay theo hướng bay cũ, không mất độ cao, nhưng lúc đó chúng tôi thấy một luồng sáng rất lớn, phun ra từ ống xả của động cơ. Sau mấy giây nó đột nhiên giảm tốc độ và bắt đầu rơi. Sau đó đã có một tiếng nổ rất lớn. Chiếc F-4 dẫn đầu lượn vòng trên khu vực chiếc máy bay bị bắn rơi gần 40 phút, với hy vọng là phi công của chiếc máy bay đó kịp nhảy dù ra ngoài, chúng sẽ liên lạc bằng vô tuyến điện với nhau: nhưng chẳng có hy vọng gì. Lại thêm một tên giặc lái Mỹ đầy nợ máu đi đến kết cục không vẻ vang gì trên đất Việt Nam.

Chúng tôi cũng nhiều lần được quan sát những tên phi công lái máy bay Mỹ bị hỏa lực phòng không Việt Nam bắn rơi, bay lơ lửng trên những chiếc dù nhiều mầu sắc sặc sỡ Chúng đã bị những người dân Việt Nam bắt giữ, cứu chữa và giải ra Hà Nội.

Nhiều lần chúng tôi đã phải nghe những tiếng gào khóc ầm ĩ, kéo dài và đau thương của những người phụ nữ Việt Nam bị mất con hoặc mất chồng. Cuộc chiến tranh tàn khốc đó đã đem lại biết bao đau thương và tai họa cho nhân dân Việt Nam.

Kết quả của cuộc đấu tranh anh dũng của nhân dân Việt Nam có sự giúp đỡ toàn diện và vô điều kiện của chúng tôi là đã làm thất bại mọi kế hoạch của Lầu Năm góc. Chính quyền Mỹ buộc phải ngồi vào bàn đàm phán kéo dài hơn 4 năm.
Ngày 10-5-1968, tại Pa ri đã đạt được thỏa thuận về việc bắt đầu các cuộc đàm phán giữa các đại diện của Mỹ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để giải quyết tình hình ở Việt Nam, ngày 13-5-1968 đã diễn ra cuộc gặp đầu tiên giữa Hariman với đại diện của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Cuộc gặp này đã cho thấy rằng các cuộc đàm phán sẽ khó khăn và kéo dài, trong lúc đó Mỹ vẫn tiếp tục gia tăng các cuộc đánh phá Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Nếu trong tháng 4-1968 không quân Mỹ chỉ đánh phá 3500 lần ở khu vực nam Vĩ tuyến 19, trong tháng 5 chúng đã đánh phá 4700 lần, thì trong tháng 6 số trận đánh phá đã lên tới 5200 lần. Trung bình chúng sử dụng 170 lần chiếc máy bay trong một ngày đêm.

Tờ báo Pháp Phigarô, số ra tháng 10-1968 đã viết: "Mỹ đã thực hiện các cuộc ném bom đánh phá khốc liệt nhất trong toàn bộ lịch sử chiến tranh ở Đông Nam Á. Khu vực giữa Vĩ tuyến 17-19 chỉ dài có 200 km, rộng 60-80 km bảy tháng liền đã phải chịu đựng các cuộc đánh phá với cường độ không thể nào tưởng tượng được. Đó là sự ngổn ngang của sắt thép, khói lửa và máu xương. Tất cả những cái đó đều do các cuộc ném bom đánh phá gây nên. Chúng không hề thương tiếc một tòa nhà, một căn lều, một con đường nhỏ nào cả".

Việc tập trung các cuộc đánh phá vào nhiều khu vực dọc lãnh thổ nhỏ bé này đã cho thấy một con số thống kê khủng khiếp - 3 quả bom trên một mét vuông.

Nhưng ý chí của nhân dân Việt Nam không hề lay chuyển. Nhân dân Việt Nam vẫn đứng vững trong mọi hoàn cảnh và đã chiến thắng. 

Trong số ra tháng 12 của tạp chí New Sun, bình luận viên nổi tiếng U. Lípman đã viết: "Chúng ta phải thừa nhận rằng quân đội Mỹ không thể kiểm soát được châu Á. Sự nhục nhã và thấp hèn mà chúng ta đã phải trải qua ở Việt Nam sẽ nói lên điều đó".

Ngày 27-1-1973, Hiệp định đình chiến và lập lại hòa bình ở Việt Nam đã được ký tại Pa ri.

Tháng 8-1968, sau khi hoàn thành đợt công tác tại Việt Nam, chúng tôi đã rất bịn rịn chia tay những người bạn chiến đấu Việt Nam và trở về Tổ quốc với niềm vui là đã hoàn thành nghĩa vụ quốc tế một cách tự nguyện. Sau khi trải qua lò lửa chiến tranh, các bạn trẻ của chúng tôi đã trưởng thành. Các đồng chí trung uý đã được phong thượng uý và đã được bồi dưỡng tốt hơn về trình độ nghiệp vụ so với những người chưa được sang Việt Nam. Qua mười năm sau khi công tác ở Việt Nam, tôi gặp lại Trung uý A. Iu. Lôgôgiác, Trưởng kíp trắc thủ ca bin "PA” nay là Trung tá, Lữ đoàn trưởng một lữ đoàn tên lửa phòng không.

Chúng tôi hy vọng rằng Hội cựu chiến binh đã tham gia chiến đấu ở Việt Nam - là thành viên của Hội Nga - Việt hữu nghị, cùng với những công việc khác sẽ đóng góp sức mình vào sự nghiệp khôi phục tình hữu nghị huynh đệ của những cựu chiến binh đã tham gia chiến tranh ở Việt Nam, đóng góp vào việc tiếp tục phát triển và củng cố tình hữu nghị và hợp tác giữa nhân dân hai nước Nga và Việt Nam.
Ngày 5-9- 1989 tại làng Bình Minh
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #179 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2009, 04:12:43 pm »

TRUNG TƯỚNG
VÔRÔBIÉP MÁC IVANÔVÍCH

Phó tiến sĩ khoa học - kỹ thuật, Viện sĩ danh dự Viện hàn lâm Metrôlôgia.

Ông sinh ngày 29-1-1921 tại tỉnh Ulianốp. Năm 1941 tốt nghiệp Trường sĩ quan pháo phòng không Sơcalốp. Ra mặt trận từ tháng 5-1941 đến tháng 5-1945, là trung đội trưởng trung đội hoả lực, đại đội trưởng đại đội pháo cao xạ, tham mưu trưởng tiểu đoàn độc lập (Tiểu đoàn 261 pháo cao xạ độc lập của Bộ Tư lệnh), trung đoàn phó Trung đoàn pháo phòng không 186 thuộc Tập đoàn quân 19.

Năm 1952 tốt nghiệp Học viện kỹ thuật vô tuyên điện pháo binh ở thành phố Kháccốp. Ông tiếp tục phục vụ tại Quân khu phòng không Mátxcơva với các chức vụ trung đoàn trưởng, kỹ sư trưởng, quân đoàn phó và quân đoàn trưởng quân đoàn phòng không đặc nhiệm.

Từ năm 1967 đến năm 1969 Trưởng đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô tại Việt Nam.

Ông được thưởng Huân chương Lênin, Huân chương Chiến tranh giữ nước hạng I và hạng II, Huân chương Sao đỏ, Huân chương Lao động Cờ đỏ, các huy chương "Quân công”, “Bảo vệ vùng Bắc cực Liên Xô”, "Chiến thắng phát xít Đức”, các huân chương và Huy chương Hữu nghị của Việt Nam.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM