Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:30:10 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chiến tranh Việt Nam là thế đó 1965 - 1973  (Đọc 146367 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #230 vào lúc: 12 Tháng Tư, 2009, 12:22:06 pm »

Cuộc họp đã quyết định:    

- Các chuyên gia quân sự Liên Xô về môn máy kiểm tra - đo đạc A. Ia. Khôrép và P. I. Luscô có nhiệm vụ lên lớp giảng bài cho lớp bổ túc sĩ quan thuộc bộ môn máy kiểm tra - đo đạc trước khi lên đường thuộc Liên Xô vào ngày 17-7;

- Các chuyên gia về bộ môn hệ thống phát lệnh và trạm kiểm tra - thử nghiệm di động V. M. Sêscô và A. A. Lixiutin có nhiệm vụ lên lớp giảng bài và tiến hành các bài thực tập với các học viên trong nhóm học số 50;

- Chuyên gia Liên Xô về trạm ra đa P-12 Crincô có nhiệm vụ lên lớp giảng bài trong các buổi học của các trưởng trạm ra đa tại Bộ Tham mưu Binh chủng phòng không - không quân của Quân đội nhân dân Việt Nam;

- Các chuyên gia Liên Xô về máy đo cao vô tuyến điện di động và về trạm ra đa P-15 A. Đ. Đavứtkin và G. M. Xôcôlốp có nhiệm vụ lên lớp và tiến hành tư vấn với các giảng viên của trường về môn vận hành trạm ra đa;

- Các chuyên gia Liên Xô về bộ khí tài tên lửa phòng không A. I. Crincun, I. A. Vlaxencô và V. M. Mitơrôphanốp có nhiệm vụ hoàn tất việc soạn thảo các tài liệu giáo khoa theo kế hoạch;

- Các chuyên gia quân sự Liên Xô V. M. Cápralốp, M. A. Aliôsin, A. A. Xítnhicốp, A. A. Nêven và E. C. Vécvâycô đã hoàn thành công tác giảng dạy và soạn tài liệu giảng dạy theo kế hoạch.

 Nhằm mục đích bồi dưỡng trình độ soạn giáo trình của các giảng viên Việt Nam, chúng tôi đã kiến nghị tổ chức cho các chuyên gia Liên Xô tham dự các buổi lên lớp của họ với các học viên, tiếp sau đó sẽ tiến hành phân tích tại các khoa. Sáng kiến này đã được tán thành và được đem ra thực hiện.

Vào các ngày 19 - 20-7, Trưởng nhóm chuyên gia quân sự Liên Xô về phòng không, Đại tá Iu. V. Côlenkin đã đến thăm nhóm chuyên gia của chúng tôi tại Trường sĩ quan phòng không. Cùng đi với đồng chí ấy còn có phó trưởng nhóm phụ trách chính trị là Trung tá G. G. Xaphônốp, các sĩ quan thuộc phòng chính trị và thuộc ban tham mưu P. P. Baranốp và I. X. Lônin.

Phần lớn nhóm chuyên gia này của chúng tôi đã đáp máy bay về nước vào các ngày 10, 17 và 24-7 theo lộ trình Hà Nội - Viêng Chăn - Cancútta - Carachi - Tasken - Mátxcơva. Theo đánh giá của Đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô tại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và của Bộ chỉ huy Binh chủng phòng không - không quân của Quân đội nhân dân Việt Nam, của Trường kỹ thuật quân sự thuộc bộ đội phòng không - không quân và của Trường sĩ quan phòng không thì nhóm chuyên gia của chúng tôi đã hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ đề ra về đào tạo các cán bộ quân sự cho Quân đội nhân dân Việt Nam trong điều kiện chiến tranh. Toàn thể các chuyên gia thuộc nhóm chúng tôi đã an toàn trở về với gia đình và các đơn vị cũ của mình.

Với lòng biết ơn tôi hồi tưởng về tất cả các đồng chí Liên Xô và Việt Nam đã cùng tôi hoàn thành vẻ vang nghĩa vụ quân sự và nghĩa vụ quốc tế của mình, bất chấp những điều kiện cực kỳ gian khổ của hoạt động giảng dạy và học tập chiến đấu trong thời chiến.
Thành phố Tờve, năm 2002

Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #231 vào lúc: 13 Tháng Tư, 2009, 02:38:22 pm »

CLÂYMÊNỐP PHÊĐO IVANÔVÍCH

Ông sinh ngày 12-2-1911 tại thị trấn mỏ Iudôpca (hiện nay là thành phố Đônhét) thuộc vùng mỏ Đônbát, trong một gia đình thợ mỏ.

Năm 1927 ông bắt đầu cuộc đời lao động, làm công nhân trong một xí nghiệp mỏ.

Từ năm 1934 đến năm 1938 ông làm công tác lãnh đạo các công việc hầm mỏ, về sau là kỹ sư trưởng của mỏ “Pôtdemgadơ" tại thành phố Goóclốp.

Năm 1935 ông tốt nghiệp Học viện công nghiệp Đônhét.

Từ năm 1938 đến năm 1943 ông là kỹ sư trưởng, về sau là Giám đốc công ty “Pôtdemgadơ" ở Mátxcơva.

Từ năm 1943 đến năm 1949 ông là trưởng phòng, sau đó là Trưởng ban công nghiệp khí đốt của ủy ban kế hoạch nhà nước Liên Xô.

Từ năm 1953 đến năm 1957 ông là kỹ sư trưởng của Tổng cục khí đốt dưới lòng đất của Bộ công nghiệp than Liên Xô.

Từ năm 1957 đến năm 1960 ông là Thư ký khoa học trong ủy ban Hợp tác khoa học - kỹ thuật Xô - Trung.

Từ năm 1960 đến năm 1971 ông là Phó tham tán về các vấn đề kinh tế của Sứ quán Liên Xô tại Cộng hòa Ghinê.

Từ năm 1971 đến năm 1978 ông là Tham tán kinh tế của Sứ quán Liên Xô tại nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Ông đã được tặng thưởng 3 Huân chương Lao động Cờ đỏ, Huân chương Danh dự, các Huân chương: Lao động hạng I và Hữu nghị, 9 Huy chương của Liên Xô, trong đó có Huy chương Lao động vẻ vang, Lao động vẻ vang trong Chiến tranh vệ quốc vĩ đại ngoài ra còn được tặng Huy hiệu danh dự Vinh quang thợ mỏ hạng I và hạng II, Huy hiệu Cán bộ xuất sắc của ủy ban Nhà nước về hợp tác kinh tế.

Ông mất ngày 11-8-2002.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #232 vào lúc: 13 Tháng Tư, 2009, 02:39:05 pm »

HỒI ỨC VỀ THỜI GIAN CÔNG TÁC TẠI VIỆT NAM

Tôi có dịp sang công tác tại Việt Nam, làm tham tán kinh tế của Sứ quán Liên Xô tại nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, vào thời kỳ rất khó khăn của cuộc chiến đấu mà nhân dân Việt Nam tiến hành nhằm giải phóng miền Nam Việt Nam và thống nhất Tổ quốc - từ năm 1971 đến năm 1978. Tôi đón nhận nhiệm vụ này rất hồi hộp nhưng đồng thời với lòng biết ơn về sự tin tưởng đã dành cho tôi. Vào lúc đó tôi đã ở tuổi 60, tôi đã có khá nhiều kinh nghiệm sống và kinh nghiệm nghề nghiệp, cũng như kinh nghiệm công tác ở nước ngoài. Điều đó cho tôi niềm hy vọng là tôi sẽ không phụ sự tin tưởng dành cho tôi.

Tất nhiên, tôi đã hình dung những khó khăn có thể đến với tôi trong thời gian làm việc tại Việt Nam. Nhưng tôi đã gặp phải những vấn đề nghiêm trọng hơn là tôi tưởng. Ngay khi máy bay sắp hạ cánh ở Hà Nội, tôi đã nhìn thấy - qua các ô cửa máy bay - những cánh đồng lúa mênh mông chìm ngập trong nước, những điểm dân cư bị chìm ngập trong nước. Cảnh tượng này làm tôi bị chấn động. Khi đến Hà Nội tôi được biết đã có gần 500 nghìn héc ta lúa bị thiệt hại do lũ lụt, có nhiều nhà cửa bị hư hỏng, có nhiều súc vật bị chết. Ở đoạn chảy qua Hà Nội mức nước sông Hồng đã vượt quá mức 12 mét và đe dọa làm vỡ đê bao quanh thành phố này.

Ngay sau khi đến Hà Nội tôi đã được Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Phạm Văn Đồng tiếp. Sau khi chúc mừng tôi đã tới Hà Nội và chúc công tác thành công, Thủ tướng hứa sẽ dành sự giúp đỡ cần thiết để tôi hoàn thành sứ mạng của mình. Đồng thời Thủ tướng Phạm Văn Đồng còn nhờ chuyển đến Chính phủ Liên Xô lời đề nghị tìm kiếm khả năng và giúp đỡ Việt Nam khẩn cấp khắc phục hậu quả của lũ lụt.

Tất nhiên, lời đề nghị này đã lập tức được chuyển về Mátxcơva. Chỉ sau vài ngày, Chính phủ Liên Xô đã quyết định gửi 3 chuyến máy bay chở thuốc men, thực phẩm, quần áo, lều bạt và các hàng hóa khác tới Hà Nội. Tại sân bay, khi tiếp nhận số hàng này, Bộ trưởng Trần Hữu Dực của Việt Nam đã thay mặt Chính phủ bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Liên Xô về sự trợ giúp này. Cần nói rằng trong việc khắc phục hậu quả tàn phá của trận lũ lụt này có sự tham gia tích cực của tất cả các chuyên gia Liên Xô có mặt lúc đó tại Việt Nam.

Bộ máy của tham tán kinh tế đã phải làm việc trong điều kiện chính trị - quân sự và kinh tế phức tạp, và tuy gặp khó khăn, nhưng đã nhanh chóng giải quyết các nhiệm vụ được đặt ra.

Vào thời gian đó tại Việt Nam, với sự trợ giúp kỹ thuật của Liên Xô, đã tiến hành xây dựng 26 công trình khác nhau. Tại những công trình ấy đã có 467 chuyên gia Liên Xô làm việc. Trong số những công trình lớn nhất có thể kể ra, chẳng hạn, Nhà máy nhiệt điện Uông Bí, Nhà máy thuỷ điện Thác Bà, các mỏ than, nhà máy sửa chữa thiết bị mỏ ở Cẩm Phả, công trình mở rộng cảng Hải Phòng, một số nhà máy chè, v.v.. Các chuyên gia Liên Xô đã cùng với các kỹ sư Việt Nam tiến hành các công việc thăm dò địa chất để tìm kiếm dầu mỏ, khí đốt, bốc xít, apatít và nhưng loại quặng hữu ích khác, các công việc khảo sát để phục vụ công trình xây dựng nhà máy thuỷ điện tương lai.

Cũng trong thời gian ấy đã diễn ra công việc tích cực xây dựng các công trình quân sự tại các vùng khác nhau ở trong nước. Nhưng đối với ban lãnh đạo Liên Xô và ban lãnh đạo Việt Nam, công trình đặc biệt là công trình xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh - người con vĩ đại của nhân dân Việt Nam và được nhân dân Liên Xô hết sức quý trọng. 

Các chuyên gia quân sự Liên Xô đã giúp các chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam trong việc nắm vững các phương tiện kỹ thuật quân sự của Liên Xô - kỹ thuật tên lửa, hàng không, các phương tiện thông tin, kỹ thuật tăng - thiết giáp, kỹ thuật hải quân, v.v.. Họ đã nghiên cứu các vấn đề về cung cấp các phương tiện kỹ thuật ấy và vũ khí, cũng như giúp đào tạo các quân nhân cho Quân đội nhân dân Việt Nam. Cần đặc biệt nêu rõ rằng Liên Xô đã giúp đỡ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa rất nhiều cả trong việc đào tạo các cán bộ của nền kinh tế quốc dân, cũng như cho các lực lượng vũ trang. Từ năm 1964 đến năm 1977 đã có hơn 7000 công dân Việt Nam được gửi sang Liên Xô để học tập và đã có 6214 chuyên gia dân sự Liên Xô được cử sang công tác tại Việt Nam.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #233 vào lúc: 13 Tháng Tư, 2009, 02:39:43 pm »

Bất chấp lời hứa sẽ chấm dứt tất cả các cuộc không kích vào Việt Nam từ ngày 1-11-1968, nhưng từ ngày 21-9-1971 Mỹ lại ném bom. Vậy là đất nước Việt Nam lại bị vấy máu. Những cuộc ném bom đặc biệt tàn bạo đã được thực hiện nhằm vào các công trình được xây dựng trong khuôn khổ hợp tác Việt - Xô, trước hết nhằm vào các nhà máy điện. Ví dụ, đã có hơn 1500 quả bom được ném xuống Nhà máy nhiệt điện Uông Bí. Tổng cộng đã có 46 công trình bị hư hỏng do hậu quả của những cuộc ném bom liên tiếp.

Vào những ngày ấy đã diễn ra cuộc gặp thứ hai của tôi với Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Tại cuộc gặp này Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã đề xuất việc tạm thời sơ tán về nước - trong thời gian xảy ra các cuộc ném bom của không quân Mỹ - đa số các chuyên gia Liên Xô, ngoại trừ các chuyên gia khảo sát địa chất phục vụ Nhà máy thuỷ điện Hòa Bình tương lai, các chuyên gia địa chất và khoan dầu khí.

Tháng 10-1972 các cuộc ném bom đã chấm dứt, đã xuất hiện triển vọng hòa bình ở Việt Nam. Tuy nhiên, nhằm buộc nhân dân Việt Nam phải chấp nhận các điều kiện giải pháp của mình mà từ ngày 18-12-1972 Mỹ lại tiến hành các cuộc ném bom và bắn phá ồ ạt vào lãnh thổ Việt Nam. Đây là những cuộc ném bom tàn bạo nhất trong suốt tất cả những năm chiến tranh ở Việt Nam. Nền kinh tế của đất nước Việt Nam bị tổn thất to lớn. Hành động phong tỏa biển và thả thuỷ lôi chung quanh tất cả các cảng của Bắc Việt Nam đã làm trầm trọng thêm tình hình đất nước. Các chuyên gia Việt Nam thẩm định tổng thiệt hại của Việt Nam trong các năm diễn ra cuộc xâm lược của Mỹ - 1965 - 1972 - là 10 tỷ đô la. Tôi nghĩ rằng con số ấy là thấp, vì chiến tranh đã đẩy nền kinh tế của Việt Nam lùi lại hơn 10 năm.

Tháng 10-1971 Đoàn đại biểu Đảng - Chính phủ Liên Xô đã có cuộc viếng thăm chính thức nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Kết quả cuộc viếng thăm chính thức này là việc ký kết Hiệp định song phương về việc Liên Xô trợ giúp kỹ thuật cho Việt Nam xây dựng và hiện đại hóa 10 công trình mới, trong đó có mỏ than Mông Dương, nhà máy ximăng, nhà máy thiếc liên hợp. 3 trường dạy nghề kỹ thuật với quy mô mỗi trường có 800 - 1000 học sinh, và những công trình khác. Hiệp định này đã bổ sung đáng kể khối lượng công việc cho bộ máy của tham tán kinh tế. Cần phải nói rằng tính đến thời điểm ấy Liên Xô đã trợ giúp kỹ thuật trong việc xây dựng, cải tạo và mở rộng hơn 50 công trình khác nhau ở Việt Nam.

Sau khi ký kết Hiệp định Pari về lập lại hòa bình ở Việt Nam vào tháng 1-1973 - chúng tôi rất vui mừng về sự kiện này cùng với các bạn Việt Nam - miền Bắc Việt Nam đã bắt tay vào công cuộc xây dựng hòa bình. Chính phủ Việt Nam đã phê duyệt các kế hoạch khôi phục thời kỳ 1973 - 1975 và bắt tay khởi thảo kế hoạch 5 năm phát triển nền kinh tế quốc dân của đất nước trong các năm 1976 - 1980.

Cuộc viếng thăm của Đoàn đại biểu Đảng - Chính phủ Việt Nam, do các đồng chí Lê Duẩn và Phạm Văn Đồng dẫn đầu, sang thăm Liên Xô hồi tháng 7-1973 đã có ý nghĩa to lớn đối với việc thực hiện thành công các kế hoạch ấy. Trong tiến trình các cuộc hội đàm, phía Liên Xô thông báo rằng Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô và Chính phủ Liên Xô đã quyết định coi toàn bộ khoản viện trợ trước kia đã dành cho Việt Nam là khoản viện trợ không hoàn lại. Ngoài ra, đã ký kết hiệp định về việc Liên Xô trợ giúp kỹ thuật cho Việt Nam trong việc khôi phục 13 công trình bị tàn phá trong những năng chiến tranh, cũng như xây dựng 15 công trình mới.

Trong những ngày ấy đã diễn ra cuộc gặp thường ký và rất đáng ghi nhớ của tôi với Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Trong cuộc gặp này Thủ tướng nêu vấn đề đưa trở lại Việt Nam các chuyên gia Liên Xô trước kia đã được sơ tán. Vậy là họ đã nhanh chóng bắt đầu trở lại làm việc tại Việt Nam. Nhiều chuyên gia ấy sang Việt Nam cùng với gia đình. Điều này đã tạo thêm khó khăn cho cả chúng tôi, cho cả các đồng chí Việt Nam trong khâu đảm bảo nhà ở cho những người mới tới. Nhưng dần dần chúng tôi đã cùng nhau giải quyết được cả những vấn đề phức tạp ấy. Đến thời điểm kết thúc thời gian công tác của tôi tại Việt Nam - tháng 10-1978 - tại 56 công trình hợp tác Việt - Xô đã có hơn 650 chuyên gia Liên Xô làm việc.

Những chuyên gia Liên Xô làm việc tại Việt Nam trong những năm tháng đó đã tỏ rõ mặt ưu việt nhất của họ. Nhiều người trong số họ đã tham gia cuộc chiến tranh chống nước Đức phát xít, công cuộc khôi phục nền kinh tế quốc dân Liên Xô sau chiến tranh. Do vậy họ đã làm việc với thái độ thấu hiểu và với ý thức trách nhiệm to lớn. Ở khắp mọi nơi sự hợp tác chung sức giữa các chuyên gia Liên Xô và các chuyên gia Việt Nam đã biến thành tình hữu nghị bền vững và có hiệu quả.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #234 vào lúc: 13 Tháng Tư, 2009, 02:40:19 pm »

Có thể dẫn ra đây nhiều ví dụ về tình cảm tốt đẹp của nhân dân Việt Nam đối với các công dân Liên Xô, nhưng để làm việc này thì cần phải viết ra không phải một trang giấy. Nói chung tôi phải nói rằng toàn thể tập thể các công dân Xôviết làm việc hồi đó tại Việt Nam (các cán bộ của Sứ quán Liên Xô, của cơ quan đại diện thương mại, của bộ máy tham tán kinh tế, các chuyên gia dân sự và các chuyên gia quân sự, các nhà báo) đã sống một cuộc sống đồng thuận. Thường khi chúng tôi đã cùng với các đồng chí Việt Nam cùng nhau tổ chức các cuộc họp chung về sản xuất, các cuộc họp của các tổ chức đảng và những cuộc họp long trọng chung, các cuộc thi đấu thể thao và các buổi biểu diễn văn nghệ nhân dịp kỷ niệm các ngày lễ của Liên Xô hoặc của Việt Nam.

Tôi còn nhớ rất rõ những ngày tháng 4 mùa Xuân năm 1975. Ngày ấy toàn thể nhân dân Việt Nam, từ trẻ đến già, và cả chúng tôi nữa đã đón chào ngày giải phóng miền Nam Việt Nam. Sau đó tại Kỳ họp thứ nhất của Quốc hội thống nhất đã tuyên bố đổi tên nước Việt Nam thống nhất thành nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Sự kiện này cũng được đón chào hết sức nhiệt liệt trên toàn quốc. Tháng 12 năm sau, Đại hội IV của Đảng cộng sản Việt Nam đã phê chuẩn kế hoạch 5 năm tiếp theo về phát triển kinh tế quốc dân của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong các năm 1976 - 1980. Kế hoạch này nêu ra những quy mô to lớn về xây dựng công nghiệp, do đó, đã mở ra những triển vọng mới của công cuộc hợp tác kinh tế Việt - Xô.

Tháng 12-1975 đã ký hiệp định bổ sung về việc Liên Xô viện trợ kinh tế và kỹ thuật cho Việt Nam trong việc xây dựng gần 40 công trình. Trong số những công trình xây dựng lớn nhất có cụm thuỷ điện Hòa Bình, Nhà máy nhiệt điện Phả Lại, mỏ Khe Tam và những xí nghiệp khác mà về sau đã trở thành một trong những bộ phận hợp thành quan trọng nhất của kế hoạch 5 năm tương lai.

Cần nói riêng về cụm thuỷ điện Hòa Bình, bởi vì nó không chỉ cung cấp điện cho đất nước hôm nay, mà còn vĩnh viễn giải thoát Bắc Việt Nam khỏi những trận lụt lội tàn phá của các con sông Hồng và sông Đà, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tưới nước hàng trăm nghìn héc ta đất canh tác và cho sự phát triển kinh tế của toàn khu vực tây - bắc của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Trong những năm làm việc tại Việt Nam tôi đã yêu quý đất nước này với thiên nhiên phong phú và rất đẹp, với những người dân yêu lao động, dũng cảm và đôn hậu. Trong ký ức tôi còn lưu lại những cuộc gặp gỡ với nhiều nhà hoạt động nhà nước Việt Nam, các nhà lãnh đạo của nhiều ngành kinh tế quốc dân, các nhà khoa học và các chuyên gia. Những cuộc tiếp xúc với họ luôn luôn là việc làm lý thú và rất bổ ích đối với tôi. Nhưng những cuộc gặp diễn ra nhiều lần với Thủ tướng Phạm Văn Đồng vẫn là những cuộc gặp đáng ghi nhớ nhất và quý báu nhất. Ông chăm chú nghe tất cả những vấn đề mà tôi nêu ra, ông biết nhanh chóng tìm ra giải pháp cần thiết. Điều đó luôn luôn là định hướng tốt cho tôi trong công việc.

Về các vấn đề cụ thể thuộc công việc của tôi, thì tôi thường xuyên gặp gỡ với nhiều vị Bộ trưởng Việt Nam: Đỗ Mười, Hà Kế Tấn, Nguyễn Chân, Đinh Đức Thiện và nhiều nhân vật khác. Đáng ghi nhớ nhất là những cuộc gặp gỡ và trao đổi diễn ra nhiều lần với đồng chí Đỗ Mười vào thời gian chúng tội xây Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và một số công trình quan trọng khác. Tôi đã có nhiều dịp cùng với đồng chí Đỗ Mười đến thăm các công trình quan trọng nhất nhằm mục đích thảo luận tại chỗ về những vấn đề cụ thể dang gây trở ngại cho quá trình thi công, và chúng tôi luôn luôn tìm được giải pháp cần thiết. Tôi rất hài lòng hồi tưởng lại những cuộc gặp gỡ với đồng chí Nguyễn Văn Hiệu, nhà khoa học nổi tiếng của Việt Nam, viện sĩ, người đã nhận giải thưởng Lênin, trong dịp xây dựng Trung tâm nghiên cứu khoa học tại Hà Nội.

Sự kiện gây xúc động nhất và không thể nào quên được đối với tôi là lễ khánh thành Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh vào tháng 5-1975. Lễ khánh thành này có sự tham dự của đoàn đại biểu cấp cao của Liên Xô, và đã trở thành sự kiện lớn trong sinh hoạt chính trị - xã hội của đất nước. Một sự kiện khác cũng mang ý nghĩa lịch sử đối với tôi, đó là lễ khánh thành tuyến đường sắt Hà Nội - Thành phố Hồ Chí Minh dài 1700km. Tuyến đường sắt này đã tạo những điều kiện cần thiết để liên kết kinh tế hai miền Bắc - Nam, cũng như để khôi phục sự giao lưu và quan hệ giữa người dân của hai miền đất nước.

Sau khi trở về Tổ quốc vào năm 1978 và nghỉ hưu, vào những năm sau đó tôi vẫn thường xuyên gặp gỡ với các đồng chí Việt Nam. Những cuộc gặp này diễn ra trong khuôn khổ hoạt động của Hội hữu nghị hai nước chúng ta, và những cuộc gặp gỡ ấy đã tạo cơ hội cho tôi có thể thường xuyên theo dõi đời sống tại Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và luôn luôn gợi nhớ về thời kỳ tôi đã làm việc tại đất nước tươi đẹp này và về những con người tuyệt diệu mà tôi đã từng có dịp gặp gỡ tại đó.
Mátxcơva, năm 2000


Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #235 vào lúc: 13 Tháng Tư, 2009, 03:18:25 pm »

ĐẠI TÁ
PIATÔÉP TAUNÔ PHÊĐÔRÔVÍCH

Ông sinh ngày 7-10-1937 tại Bắc Carêlia

Năm 1955 ông tốt nghiệp trung học phổ thông và vào học tại Trường pháo binh - tên lửa số 3 ở Lát via. Sau khi tốt nghiệp trường này vào năm 1958 ông trở thành sĩ quan chỉ huy trung đội hỏa lực tại thành phố Xêvêrôđvintcơ, sau đó ông chỉ huy đại đội trong Quân đoàn phòng không độc lập số 10.

Năm 1961 ông học xong khóa đào tạo lại về bộ khí tài tên lửa phòng không và tiếp tục tại ngũ, là sĩ quan chỉ huy đại đội kỹ thuật độc lập của bộ đội phòng không trên bán đảo Rưbasi.

Năm 1969 ông tốt nghiệp xuất sắc và với Huy chương vàng Học viện sĩ quan phòng không Cờ đỏ mang tên Giucốp và được bổ nhiệm giữ chức phó chỉ huy trung đoàn tên lửa phòng không.

Từ tháng 7-1971 đến tháng 7-1972 ông tham gia chiên đấu tại Việt Nam, với cương vị Trưởng nhóm chuyên gia quân sự Liên Xô tại các Trung đoàn tên lửa phòng không 236 và 275 của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Từ tháng 12-1973 đến tháng 12-1977 ông chỉ huy Trung đoàn tên lửa phòng không “C200" thuộc Quân khu phòng không Mátxcơva.

Từ năm 1977 đến năm 1984 ông là trưởng ban tác chiến của Quân đoàn phòng không Đặc nhiệm. Từ năm 1984 đến năm 1990 ông là trưởng ban huấn luyện tác chiến, trưởng ban tác chiến, Cục phó Cục tác chiến thuộc Ban tham mưu của Quân khu phòng không Mátxcơva. .

Ông được tặng thưởng Huân chương Sao đỏ, Huân chương Vì phục vụ Tổ quốc trong các lực lượng vũ trang Liên Xô hạng III, Huân chương Chiến công hạng III của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và 15 huy chương, trong đó có Huy chương Hữu nghị của Việt Nam.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #236 vào lúc: 13 Tháng Tư, 2009, 03:19:16 pm »

CHÚNG TÔI CÒN NHỚ CUỘC ĐẤU TRANH CHUNG

Chuyến công tác của tôi sang Việt Nam bắt đầu khá bất ngờ. Vào đầu tháng 6-1971, vào tối thứ sáu, tôi nhận được lệnh kiểm tra sức khoẻ để đến một đất nước có khí hậu nóng ẩm, làm mọi thủ tục xuất cảnh đi công tác ra nước ngoài. Đúng 9 giờ sáng thứ hai phải có mặt tại hội đồng quân sự của quân khu. Dù muốn hay không thì người ta cũng không đưa ra những câu hỏi đặc biệt.

Thời gian ấy Tư lệnh Binh chủng phòng không của Liên Xô là Nguyên soái Liên Xô P. Ph. Batixki. Ông chỉ thị: tất cả những ai có thể được bổ nhiệm làm chỉ huy trung đoàn tên lửa phòng không thì phải có kinh nghiệm chiến đấu. Tôi biết ơn ông sâu sắc về chỉ thị này.

Nhóm chúng tôi được chuẩn bị không lâu. Các thẻ đảng thì được chuyển giao lên Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô. Tất cả mọi giấy tờ công vụ thì được chuyển giao cho Tổng cục 10 của Bộ Tổng tham mưu. Chúng tôi được phát thường phục: bộ complê đầy ấn tượng, bộ quần áo làm việc trong rừng rậm, giầy. Chúng tôi được tiêm những mũi tiêm chủng ngừa theo các quy định của y tế thế giới và đã được cấp các giấy chứng nhận tiêm chủng quốc tế. Quân phục của chúng tôi đã được gửi chuyển về đơn vị cũ: còn các sổ lương thì được chuyển cho vợ và báo cho họ địa chỉ sau này - "Mátxcơva - 400", hòm thư 327.

Một cuộc thực tập ngắn trên khí tài chiến đấu (bộ khí tài tên lửa phòng không X-75, là loại tên lửa được cung cấp cho Việt Nam vào thời gian đó) tại bãi thử vũ khí Capuxtin Iarơ.

Trước khi máy bay cất cánh, người ta trao cho chúng tôi những tấm hộ chiếu xuất cảnh ra nước ngoài. Chúng tôi bay trên máy bay hành khách thông thường, loại máy bay IL-18, theo lộ trình: Mátxcơva - Tasken - Cabun - Carachi - Cancútta - Viêng Chăn - Hà Nội.

Tất nhiên, tất cả chúng tôi mặc complê, cổ thắt cravát (tuyệt đối theo hướng dẫn) giống như vừa trong lò ấp chui ra. Nhưng trẻ con cũng hiểu ra rằng 50 người đàn ông trẻ, tóc ngắn, ăn mặc chỉnh tề ấy đang trên đường sang Việt Nam, bởi vì đó là điểm "nóng" nhất trên hành tinh vào thời kỳ ấy.

Tại sân bay Hà Nội, những người ra đón chúng tôi là các đồng chí quân nhân Liên Xô: họ mặc quần sóc, áo sơ mi ngắn tay và đi những đôi "dép" Việt Nam. Chúng tôi như thể đã lọt vào tiền sảnh của một nhà tắm nước nóng. Hết sức nóng và hết sức ẩm ướt, không khí bốc lên mùi đặc trưng và còn có một cái gì đó chỉ đặc trưng cho vùng nhiệt đới.

Trong những năm chiến tranh, toàn miền Bắc Việt Nam, về phương diện hành chính, được phân thành các quân khu. Trong mỗi quân khu ấy đều có chính quyền dân sự và chính quyền quân sự - Tư lệnh quân đội trong quân khu với biên chế của mình và các đơn vị quân đội trực thuộc.

Quân khu 4 gồm những tỉnh phía nam của Bắc Việt Nam và đặc khu Vĩnh Linh là khu trực tiếp kế cận với Nam Việt Nam chạy dọc vĩ tuyến 17 (người Việt Nam gọi đặc khu này là "bức tường thép Vĩnh Linh").

Nhóm chuyên gia quân sự Liên Xô của chúng tôi làm việc với các tiểu đoàn tên lửa phòng không hoạt động tại Quân khu 4, nơi có những tuyến đường bộ chủ yếu nối Việt Nam với Lào - đó là đường số 12, 20, 10, 18, 16 và con đường số 15 nối liền những con đường đó với nhau. Đường số 15 chạy từ bắc xuống nam dọc theo chân dãy núi Trường Sơn.

Đó là những con đường vận chuyển những hàng hóa chủ yếu phục vụ các lực lượng yêu nước ở Nam Việt Nam và Lào - vũ khí, đạn dược, lương thực, nghĩa là tất cả những gì cần thiết để đảm bảo cho bộ đội. Tất nhiên, những con đường ấy và những ngọn đèo băng qua dãy núi Trường Sơn, những cây cầu, những bến phà vượt sông, những đường ngầm qua sông, những đoàn xe đang trên đường vận chuyển, những kho tàng, những binh trạm, các đơn vị tên lửa phòng không, pháo cao xạ đều là những mục tiêu cần lưu ý chặt chẽ của không quân và hải quân Mỹ, của không quân trinh sát cũng như không quân tấn công.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #237 vào lúc: 13 Tháng Tư, 2009, 03:19:53 pm »

Vì vậy, tổ chuyên gia quân sự Liên Xô do tôi lãnh đạo trong trung đoàn tên lửa đã phải thường xuyên di chuyển dọc theo đường số 15: hồi tháng 8 - tháng 9-1971 chúng tôi di chuyển giữa con đường số 12 và con đường số 20, hồi tháng 10 - tháng 11 thì chúng tôi di chuyển giữa các con đường số 20 và số 10, còn từ tháng 11-1971 đến tháng 5-1972 thì chúng tôi có mặt không xa cách chỗ giao nhau của đường số 15 và đường số 20. Cách làm này là nhằm đưa chúng tôi đến gần nhất với nơi có các trận địa chiến đấu của các tiểu đoàn tên lửa đang hoạt động trong khu vực này.

Tôi đến tiếp nhận tổ chuyên gia này vào những ngày đầu tháng 8, và tôi muốn nhanh chóng được làm quen với ban chỉ huy của trung đoàn này, nhưng người ta bảo tôi: "Hãy để sau này. Mọi người còn rất bận rộn, trung đoàn này vừa mới tới nơi và đang triển khai tại những trận địa mới".

Tôi không vật nài. Về sau tôi đã hiểu ra rằng có thể giải thích nhiều điều bằng từ "Hãy để sau này".

Trong khoảng 2 tuần lễ đầu, các bạn Việt Nam dành để thăm dò tìm hiểu tôi. Sau đó, viên phó chỉ huy trung đoàn, sau câu chuyện trao đổi kéo đài, đã đề nghị tôi đưa ra những khuyến cáo cho họ về tác chiến trong vùng rừng núi, ít ra cũng giải đáp cho 20 câu hỏi. Có đến 90% những câu hỏi ấy được tôi sẵn sàng trả lời và có thể đưa ra ngay lập tức những khuyến cáo. Nhưng ngay khi ấy phiên dịch viên trưởng đã giúp tôi, trong giờ giải lao.người phiên dịch này gợi ý: "Đồng chí chỉ huy, bây giờ không nên đưa ra bất kỳ lời khuyến cáo nào hết. Đồng chí hãy bảo là "Hãy để sau này". Đồng chí cần có vài ngày để suy nghĩ mọi điều, tham khảo ý kiến của cấp trên. Người Việt Nam không có thói quen trả lời ngay nếu chưa suy nghĩ kĩ. Họ có thể xem đây là một người thiếu nghiêm túc".

Tôi đã làm theo cách đó. Tôi một lần nữa nêu lên toàn bộ phần lý thuyết, về Hà Nội tham khảo ý kiến các đồng chí của mình. Tôi đã vững tin vào ý kiến của mình qua những cuộc trao đổi và tham khảo ý kiến các vị chỉ huy trong nhóm chuyên gia tên lửa phòng không, sau đó tôi trở "về nhà", về Quân khu 4.

Thông qua đồng chí trưởng phòng phục vụ, tôi yêu cầu triệu tập cuộc họp các vị lãnh đạo trong trung đoàn: các viên chỉ huy các tiểu đoàn, các viên phó của họ, các sĩ quan điều khiển tên lửa, các sĩ quan chỉ huy tất cả các cấp tham gia chiến đấu - tất cả những ai không bận vào công tác tác chiến. Tại sở chỉ huy chính của trung đoàn (một phòng họp rộng nhất) người ta đã chuẩn bị sẵn bản đồ, bảng phấn, các sổ ghi chép.

Vào một ngày đã hẹn trước, tôi cùng viên kỹ sư trưởng, phiên dịch viên và tổ bảo vệ đến sở chỉ huy vào lúc 8 giờ. Từ lúc ấy cho đến 20 giờ, có nghỉ giải lao, chúng tôi đã đưa ra những khuyến cáo về tất cả những vấn đề đã được nêu ra và trả lời tất cả các câu hỏi mà phía Việt Nam quan tâm. Họ quan tâm nhiều vấn đề, có cả những câu hỏi không liên quan đến những vấn đề chiến đấu: hoàn cảnh gia đình, nơi công tác và v.v..

Về câu hỏi: "Đồng chí sĩ quan sinh ra ở địa phương nào?", tôi trả lời rằng tôi đã sinh ra và lớn lên ở nơi cách Bắc Cực 40km, nơi mà 8 tháng là mùa đông, còn lại là mùa hè, mùa hè và mùa hè. Câu trả lời này gây cú sốc thực sự cho tất cả những người có mặt – “liệu có sống ở đó được chăng?". Nhìn chung, những cuộc gặp gỡ và những buổi làm việc với các sĩ quan của trung đoàn này đã diễn ra rất tốt và nhờ vậy "tảng băng đã bắt đầu tan".

Ngay ngày hôm sau (ngày 20-8-1971) sĩ quan chỉ huy trung đoàn Tân (Tзн) Và sĩ quan phòng trinh sát của trung đoàn Tường (Tынr) đã đến gặp chúng tôi. Hai vị ấy đã làm quen với nhóm chuyên gia chúng tôi (thật ra đây là nhóm chuyên gia mới), giới thiệu về tình hình, trình bày các vấn đề của mình. Có vô số những vấn đề cần giải quyết. Sau đây tôi sẽ nói về điểm này.

Vài ngày sau các viên phó chỉ huy và phó chính ủy Phấn ((Фэн) và Tất (Tэт) cũng đến nơi ở của nhóm chuyên gia chúng tôi; đến tháng 9 thì phó chính ủy Sơn (Шон), đến tháng 10 có phó chỉ huy và phó chính ủy Cam (Kам) và Duynh (Зюм) đến gặp chúng tôi. Chúng tôi đã cùng với họ thỏa thuận tất cả các vấn đề về công việc chung, về việc tổ chức và tiến hành các cuộc kiểm tra và lên lớp.

Theo yêu cầu của họ, chúng tôi đã đưa ra những khuyến cáo về những vấn đề phức tạp nhất trong khâu tổ chức chiến đấu của các tiểu đoàn và công tác đảm bảo toàn diện cho các tiểu đoàn. Những ý kiến khuyến cáo ấy đã được chấp nhận và được kiểm tra trong thực tiễn chiến đấu các đồng chí Việt Nam đã nhận thấy rõ sự thống nhất trong những quan điểm của chúng tôi và ý nguyện chân thành của chúng tôi muốn giúp đỡ họ đến mức tối đa trong cuộc chiến đấu chống kẻ thù. Dần dần chúng tôi đã có được những quan hệ tin cậy, cầu thị với ban chỉ huy của trung đoàn. 
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #238 vào lúc: 13 Tháng Tư, 2009, 03:20:43 pm »

Nếu như trong khâu đánh giá các phương án tác chiến tình hình đều diễn ra tốt đẹp, thì tất cả chúng tôi đã phải có nhiều nỗ lực để có được sự hiểu biết rành mạch về những vấn đề như tổ chức như thế nào đội hình chiến đấu trong hoàn cảnh hết sức phức tạp đó, đảm bảo khâu thông tin bằng ra đa cho trung đoàn, sử dụng như thế nào đài điều khiển tên lửa, đài trinh sát và chỉ thị mục tiêu, các chốt quan sát bằng mắt thường, xác định những khả năng chỉ huy tập trung, và các tiểu đoàn cần hành động ra sao trong trường hợp chỉ huy phi tập trung (trường hóp này thường xảy ra nhiều nhất trong hoàn cảnh các tiểu đoàn tác chiến theo phương án phục kích tại các khu vực giáp biên giới).

Những thông tin bằng ra đa về kẻ địch thường đến chậm 3 - 4 phút, khi mà các mục tiêu đã bay trên đầu hoặc đã bay qua các đội hình chiến đấu. Tuy nhiên ở phía các bạn Việt Nam lại rất phát triển hệ thống các chốt quan sát bằng mắt thường. Những chốt này đồng thời cũng làm chức năng các chốt điều chỉnh sự di chuyển, đặc biệt trên các tuyến đường mặt trận. Trên thực tế, đội ngũ trực tại các chốt liên tục thông tin về hoạt động của máy bay địch. Hơn nữa, đó là những thông tin đầy đủ: thành phần, số lượng, loại máy bay trong nhóm bay, cách sắp xếp đội hình bay. Họ thậm chí còn có thể xác định mục đích của các phi vụ của máy bay địch (trinh sát, trinh sát kèm theo tấn công, hoặc các tốp máy bay tấn công có kèm theo các tốp đảm bảo và yểm hộ).

Trên toàn lãnh thổ Việt Nam, tại mỗi điểm dân cư, dân chúng đều được thông báo máy bay địch đến gần bằng cách gõ kẻng - số lần gõ kẻng tương ứng với khoảng cách 1 chục kilômét để tính khoảng cách của các máy bay đến điểm dân cư.
Số lượng nhóm chuyên gia quân sự Liên Xô trong trung đoàn chúng tôi gồm có 10 người với trình độ chuyên môn cao thuộc mọi hệ thống trong bộ khí tài tên lửa phòng không. Mỗi chuyên gia Liên Xô đều nắm được 4 - 5 ngành chuyên môn ở cấp độ "kiện tướng" hoặc chuyên gia loại I. Đó là những bạn chiến đấu đáng tin cậy có khả năng tự chủ và lòng dũng cảm đặc biệt.

Kỹ sư trưởng là Thiếu tá Xtanhixláp Xécghêêvích Nôvôxêlốp.

Tiểu đoàn kỹ thuật gồm có Thiếu tá Alếchxây Xvétcốp (đồng chí này cũng là chính ủy ngoài biên chế của nhóm chuyên gia), các Thiếu tá Vaxili Ruđacốp, Lêônít Pêkhôta.

Đài trinh sát và chỉ thị mục tiêu "P-12" - có Trung úy Xécgây Alếchxêêvích Nicônôvích.

Cabin "U" - có các sĩ quan điều khiển là các Đại úy Nicôlai Baranốp, Lép Nicôlaêvích Ivanốp.

Cabin "A" - có Đại úy Anatôli Bôbưrơ (hệ thống xác định toạ độ), Trung úy Mikhain Dapôrôgiét, các Đại úy Anatôli Aphricantốp, Xôcôlốp, Thiếu tá Ivan Buđiacốp (hệ thống phát lệnh), Đại úy Nicôlai Mácximốp, Trung úy Alếchxây Ôđinhét (máy phát lệnh vô tuyến, hệ thống phát lệnh).

Cabin "P" - có các Đại úy Xécgây Titốp, Bôrít Malixki, Ivan Bêlacaiúc.

Đại đội bệ phóng - có Thiếu tá Xécgây Vaxiliép, Thượng úy Piốt Alếchxanđrốp, Thiếu tá Xécgây Titốp, Đại úy Cônxtantin Coóckin.

Các chuyên gia về năng lượng - có Thiếu tá Anatôli Bôbưrơ, Đại úy Ôlếch Mukhin.

Nhóm chuyên gia chúng tôi có nhiệm vụ cụ thể và rõ ràng: đảm bảo khả năng sẵn sàng chiến đấu và hiệu quả chiến đấu cao của trung đoàn (lúc đầu là Trung đoàn tên lửa phòng không 275, sau đó là Trung đoàn tên lửa phòng không 236, cũng như của các tiểu đoàn độc lập thuộc các trung đoàn khác) .

Sau một năm, số lượng trong nhóm chuyên gia chúng tôi đã được thay thế gần như toàn bộ.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #239 vào lúc: 13 Tháng Tư, 2009, 03:21:22 pm »

Nhân vật đặc sắc nhất trong nhóm chuyên gia chúng tôi là Trung úy Misa Dapôrôgiét. Anh cao gần 2 mét, có thân hình lý tưởng với mái tóc màu sáng, mắt xanh và đẹp trai. Anh này đã giải cứu cho chúng tôi mỗi khi trên đường hành quân chúng tôi thỉnh thoảng dừng chân tại những thôn nhỏ đặc biệt hẻo lánh. Lập tức tất cả dân chúng bỏ công việc đang làm và chạy đến vây quanh chúng tôi. Tất nhiên, chủ yếu gồm các chị em phụ nữ thuộc mọi lứa tuổi và trẻ em, vì đàn ông đã đi chiến đấu.

Khi phiên dịch viên cho họ biết chúng tôi là người Liên Xô thì thật khó tả nổi bằng lời phản ứng của dân chúng. Những đôi mắt nhỏ bé của họ bỗng trở nên tròn xoe vì ngạc nhiên và vui sướng. Khi chúng tôi bước ra khỏi xe để thư giãn thì anh Misa Dapôrôgiét lập tức trở thành trung tâm của sự chú ý của mọi người.

Tôi bảo anh ta; "Anh Misa ơi, hãy chịu đựng nhé. Hãy để cho chúng tôi có cơ hội nghỉ ngơi chút ít". Và anh ấy đã chịu đựng. Các cô gái sờ vào người anh, nhìn vào mắt, vào tai, vuốt mái tóc vàng của anh. Họ có nhận xét chung là: chưa từng thấy những người đàn ông như vậy. Còn các cậu bé thì cố sờ vào mông anh Misa rồi bỏ chạy. Các phiên dịch viên sau đó đã giải thích như sau: họ tin rằng nếu sờ được vào chỗ nào đó đặc sắc ở người đàn ông khác thì ta sẽ có được chỗ đó trên người ta. Trong thời gian ấy chúng tôi đã kịp xả hơi, thư giãn. Có lệnh: "Lên xe!", thế là chúng tôi lại tiếp tục đi

Lép Ivanốp là sĩ quan điều khiển tên lửa bẩm sinh. Khi anh ấy thao tác chiến đấu thì hoàn toàn tập trung, rất thành thạo, "đánh hơi" thấy mục tiêu và không biết sợ gì cả. Khi ở bên ngoài ca bin điều khiển anh ấy là "đèn tín hiệu” báo nguy. Anh ấy cảm nhận được nguy hiểm đang đến gần một cách nhanh hơn những người khác đến vài phút.

Có lần chúng tôi đi đến trận địa tiểu đoàn vào ban ngày trong khu vực bị dốt trụi (dọc theo hai phía dãy núi, ở khoảng cách 5km, phía bên phải và phía bên trái, bọn Mỹ đã phá huỷ rừng rậm bằng bom, bằng napan, rải chất độc hóa học), hố bom này đè lên hố bom khác, nhưng các bụi cây thì cứ ngoan cố mọc lên từ lòng đất. Ở nơi trống trải nhóm nhỏ chúng tôi - gồm khoảng 10 người cùng với tổ bảo vệ và phiên dịch viên - đã "lọt vào tầm ngắm" của hai máy bay "Con ma". Chúng liền vòng trở lại để ném bom. Tôi ra lệnh: "Mọi người tản ra và nấp vào các hố bom". Tất cả mọi người đều nấp trong các hố bom, chỉ có anh Ivanốp nấp trong một bụi cây. Khi mọi chuyện đã kết thúc, tôi hỏi: "Tại sao cậu không nấp trong hố bom, mà lại chui vào bụi cây?". Anh ta trả lời: "Bọn chúng nhìn thấy tất cả chúng ta nấp trong các hố bom, nhưng không nhìn thấy tôi nấp trong bụi cây". Thế là không thể làm gì được với anh ta.

Công việc của chúng tôi chủ yếu diễn ra vào ban đêm. Tiểu đoàn tên lửa di chuyển (trong điều kiện rừng rậm, tốt hơn nên dùng cách nói "được lôi đi" đến địa điểm phục kích. Vào ban đêm chúng tôi đi theo đường mòn đến trận địa, với đội hình từng người nối đuôi nhau, để đến sáng thì hiệu chỉnh máy móc, kiểm tra mọi thứ và đưa ra kết luận - "Tiểu đoàn đã trong tư thế sẵn sàng chiến đấu. Có thể khai hỏa".

Vậy là chúng tôi đi từng người một, nối đuôi nhau. Tối đen. Những đêm ở vùng nhiệt đới nói chung là tối đen: cộng vào đó là tán lá rừng nhiệt đới che lấp trên đầu. Để đề phòng bất trắc, chúng tôi chỉ rọi đèn pin bên dưới bàn chân, để khỏi vô tình bị đi chệch đường hoặc xéo phải một con vật gì đó cắn vào chân. Kính đèn pin được dán bằng giấy màu đen, chỉ ở giữa có một lỗ tròn với đường kính 5 milimét. Bỗng nhiên ở phía trên đầu nghe thấy tiếng gầm của chiếc máy bay "Con ma", còn ở phía sau nghe thấy tiếng cành cây gãy cạnh đường mòn, ấy là anh Lép Ivanốp "đang ẩn nấp" tránh "Con ma", vì biết đâu “Bỗng dưng nó phát hiện thấy thì sao?". Không thể nào thuyết phục được anh ấy tin rằng không thể nào từ trên trời phát hiện được chúng tôi.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM