Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 08:03:57 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chiến tranh Việt Nam là thế đó 1965 - 1973  (Đọc 146675 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #240 vào lúc: 13 Tháng Tư, 2009, 03:21:57 pm »

Phiên dịch viên trưởng Cảnh (Kaнь) thường xuyên làm việc cùng chúng tôi. Đó là một người rất đáng chú ý. Anh ấy có trình độ đại học, ngoài tiếng Nga, anh ấy còn thông thạo tiếng Trung Quốc và tất cả các phương ngữ tiếng Việt và ngôn ngữ các dân tộc chủ yếu ở Việt Nam - chỉ tính riêng ở Bắc Việt Nam đã có đến 39 dân tộc như vậy. Anh ấy thuộc lòng các quy tắc xạ kích và Bản giải thích cho các quy tắc ấy (đó là một cuốn sách dày khoảng 700 trang) và có thể lên lớp giảng bài về những quy tắc ấy. Anh ấy có tình cảm hữu nghị chân thành đối với chúng tôi và đối với Liên Xô. Chúng tôi đã nhanh chóng tìm được tiếng nói chung với anh. Anh ấy đã giúp tôi hiểu nhiều về Việt Nam, về con người Việt Nam và tiếng Việt. Đó là một thế giới hoàn toàn khác. Cần phải hết sức nhanh chóng hiểu rõ và chấp nhận thế giới ấy.

Nhờ anh Cảnh giúp mà sau 4 tháng tôi đã hiểu tiếng Việt khá tốt. Sau đó người phiên dịch chỉ cần phiên dịch từ tiếng Nga ra tiếng Việt mà thôi. Tôi hiểu người Việt Nam nói gì, nhưng bản thân tôi lại không thể nói tiếng Việt được.

Công việc đầu tiên của chúng tôi ở Trung đoàn tên lửa phòng không 275 là phân tích vụ phóng tên lửa không thành công của Tiểu đoàn 69 đã phóng đi vào ngày 15-8-1971 nhằm hạ máy bay không người lái BQM - 34A. Kết luận cơ bản rút ra là: mặc dù gặp phải điều kiện khai hỏa phức tạp nhưng nguyên nhân khiến phóng không thành công 2 quả tên lửa ấy là những sai sót của người chỉ huy lần phóng tên lửa ấy - phó chỉ huy tiểu đoàn - trong việc xác định phương pháp điều khiển tên lửa và phương pháp kích nổ đầu đạn, ngoài ra còn có sự sai lệch của một thông số của mạch điều khiển tên lửa, sai lệch đến 2 lần so với thông số bình thường. Hậu quả là đường bay của tên lửa ở trong trạng thái "bị treo” và bộ phận kích nổ bằng vô tuyến đã được kích nổ từ mặt đất. Viên sĩ quan chỉ huy của tiểu đoàn ấy báo cáo rằng trong lần tác chiến trước đây khi phóng các tên lửa theo mạch kể trên thì không một mục tiêu nào bị tiêu diệt. Chúng tôi đã tìm ra nguyên nhân dẫn đến thất bại liên tục và đã khắc phục nguyên nhân ấy.

Trong vòng 3 tháng trời chúng tôi đã nhiều lần đến làm việc ở tất cả các tiểu đoàn thuộc Trung đoàn tên lửa phòng không 275 và đã có được những tình cảm tốt đẹp, hữu nghị với tất cả mọi người.

Đội ngũ các chiến sĩ tên lửa ở Trung đoàn tên lửa phòng không 275 đã được đào tạo chưa đầy đủ, ban chỉ huy còn thiếu kinh nghiệm chỉ huy và kinh nghiệm chiến đấu. Nhưng không lấy đâu ra những người khác. Mỗi tiểu đoàn đều có trong biên chế thời chiến của mình 3 khẩu đội chiến đấu với đầy đủ quân số. Một khẩu đội xử lý các phương tiện kỹ thuật trong thời gian 1 - 2 tuần lễ, khẩu đội thứ hai thì tiến hành lựa chọn và xây dựng trận địa, còn khẩu đội thứ ba thì học tập và nghỉ ngơi.

Những người chỉ huy các (tất cả) tiểu đoàn đều là những người mang quân hàm thượng úy (theo biên chế thì phải là trung tá), các viên phó của họ, các tham mưu trưởng đều là các sĩ quan mang quân hàm trung úy. Các đại đội thì được đặt dưới quyền chỉ huy của các thiếu úy, các trung sĩ. Các trung sĩ lại đảm nhiệm các chức vụ quan trọng và hệ trọng - các trưởng ban, các sĩ quan điều khiển tên lửa. Tại các tiểu đoàn tên lửa phòng không không có một chuyên gia nào có trình độ chuyên môn cấp đại học hoặc trung cấp, những người đảm nhận tất cả các chức vụ sĩ quan đều là những người chỉ tốt nghiệp trung học phổ thông. Đa số các sĩ quan chỉ huy của tiểu đoàn tên lửa chỉ có 1 năm kinh nghiệm chiến đấu, tối đa là 2 năm chiến đấu. Có 7 thượng úy và thiếu úy trong các tiểu đoàn thuộc Trung đoàn tên lửa phòng không 275 có 5 - 6 năm kinh nghiệm chiến đấu; từ các trắc thủ vận hành bình thường họ đã trở thành các sĩ quan điều khiển tên lửa, các trưởng ban chuyên môn.

Chỉ có ở tiểu đoàn kỹ thuật thì những chức vụ chủ chốt mới thuộc về các sĩ quan có trình độ đại học dân sự và có 6 năm kinh nghiệm chiến đấu. Nhưng bộ đội tên lửa phòng không của Việt Nam là tinh hoa của dân tộc. Họ là những chiến sĩ kiên cường, kiên định, biết hy sinh quên mình và dũng cảm. Họ hiểu không nhiều về chiến thuật, về kỹ thuật, nhưng họ rất có mong ước hiểu nhiều. Họ thường bị kiệt sức vì mệt nhọc, nhưng vẫn hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu.

Toàn thể các chiến sĩ đều rất kiên trì nghiên cứu phần cấu tạo vật chất của tên lửa, các sơ đồ, học tập và tiến hành vô số những buổi thực tập về tác chiến. Các bạn Việt Nam đã học thuộc lòng tất cả những khuyến nghị của chúng tôi và đã nhiều lần thực tập trong thực tế. Ở đây phương pháp đã giúp ích là phương pháp đã được nghiên cứu đề xuất tại Liên Xô, tại căn cứ của Trung đoàn tên lửa phòng không 48 của chúng tôi (thành phố Iarôxláp) - đó là phương pháp đào tạo trong 2 tuần lễ các trắc thủ vận hành bằng tay thiết bị bám sát mục tiêu, được lựa chọn qua các kỳ trắc nghiệm những chiến sĩ hoàn toàn chưa được huấn luyện và đưa lên trình độ tối thiểu cấp 3.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #241 vào lúc: 13 Tháng Tư, 2009, 03:22:32 pm »

Bằng phương pháp này, từ những chiến sĩ dù mới chỉ có kinh nghiệm chiến đấu không đáng kể vẫn có thể đào tạo họ rất nhanh chóng trở thành các trắc thủ vận hành máy bám sát bằng tay có đẳng cấp cao. Mức độ chính xác trong việc bám sát mực tiêu ở chế độ bám sát bằng tay do họ thực hiện đôi khi còn vượt mức độ chính xác trong chế độ tự động bám sát mục tiêu. Điều này có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong trường hợp bám sát mục tiêu trên nền có gây nhiễu và có “các sóng phản hồi địa vật" (đây là tín hiệu phản hồi từ các địa vật lồi lõm), khi hệ thống tự động bám sát đơn giản là "bị vô hiệu”.

Trong khu vực tác chiến của Trung đoàn tên lửa phòng không 275 người ta đã xây dựng 15 trận địa chính cho các tiểu đoàn, ngoài ra còn có hệ thống các trận địa phóng dự phòng và các trận địa giả. Mỗi tiểu đoàn có 2 - 3 trận địa phóng tên lửa chính và 2 - 3 trận địa dự phòng.

Vào cuối tháng 8- 1971 bắt đầu mùa mưa ở khu vực chúng tôi. Hơn thế, nó bắt đầu bằng một trận bão mạnh và trận lụt gây ra thảm họa lớn - người bị chết, những diện tích gieo trồng bị ngập nước, nhiều gia súc bị chết. Tất cả những nơi đóng quân của các tiểu đoàn hoàn toàn bị ngập nước, và nước tràn khắp mọi nơi. Ở các quả tên lửa nằm trên bệ phóng và trên các xe chở - nạp tên lửa, tất cả các tấm dán bảo vệ đều bị bong ra, nước thấm vào bên trong. Tất cả các bộ giảm áp trong khí tài đều ngập trong nước. Chúng tôi cùng với các bạn Việt Nam đã phải có nhiều nỗ lực để khắc phục hậu quả của trận bão và lũ lụt, bảo vệ khí tài đối phó với nhũng trận mưa suốt ngày đêm.

Trận bão ấy rất mạnh. Xin hãy hình dung mà xem: khối nước bay gần như song song với mặt đất, với những trận gió thổi ào ào, nước dâng lên trông thấy được. Phải vất vả lắm chúng tôi mới dùng dây níu giữ được nhà bạt của chúng tôi khỏi bay đi. Trong nhà bạt ấy, ở độ cao 1 mét rưỡi, chúng tôi bảo quản tài sản quý báu nhất của chúng tôi - đó là chiếc máy quay phim, máy chụp ảnh, hòm tủ sách, máy phát điện mini và các đồ dùng cá nhân. Cơn bão ập đến từ hướng tây - nam và sau vài giờ nó hơi yếu đi một chút lại trở lại từ hướng đông - bắc. Trong 1 năm chúng tôi đã phải chịu 18 cơn bão. Sau cơn bão và những trận mưa xối xả thì nói chung không thể nào di chuyển được các khí tài. Những con suối biến thành những dòng thác hung dữ, những vùng đất thấp đều bị ngập nước.

Mùa mưa cũng đã trở thành trở ngại cả cho các phi vụ của không quân địch. Chúng tôi lợi dụng tình hình đó để khắc phục hậu quả của trận bão và trận lũ lụt, để chuẩn bị các khẩu đội sẵn sàng chiến đấu vào mùa khô. Công việc chiến đấu đòi hỏi phải có sự chú ý thường xuyên.

Vào thời gian ấy (từ tháng 9 đến tháng 10-1971) nhờ công sức của đội quân công nghiệp Liên Xô mà trong tất cả các bộ khí tài tên lửa phòng không đều đã có những cải tiến, hoàn thiện có tác dụng nâng cao khả năng chống nhiễu của mạch hồi trong đài điều khiển tên lửa, đã làm tăng 2,5 - 3 lần độ Điều khiển chính xác tên lửa nhằm vào mục tiêu đang cơ động. Đã sử dụng chế độ thông tin giả trong mạch của máy vô tuyến phát lệnh: Trong cơ cấu của đài điều khiển tên lửa có sử dụng máy "Bông tuyết" để các khẩu đội luyện tập trong điều kiện bị gây nhiễu. Đã giảm độ dao động trong mạch điều khiển tên lửa khi chuyển đổi các tỷ lệ

Tất cả mọi nỗ lực đều tập trung vào khâu kiểm tra và hiệu chỉnh khí tài, lần lượt tiến hành các công việc theo quy định bảo trì về cơ khí, sau đó về điện, tiến hành sấy khô máy móc, đặc biệt sấy khô các quả tên lửa. Với các pháo thủ thì chúng tôi tiến hành những buổi lên lớp nghiên cứu sâu về các yếu lĩnh bắn.

Vấn đề phức tạp nhất là vấn đề lựa chọn và xây dựng các trận địa tại vùng có các đèo núi để tổ chức các cuộc phục kích, sau đó là vấn đề di chuyển các tiểu đoàn đến các trận địa phóng tên lửa mới. Trên thực tế vào mùa mưa không thể làm được việc này vì không có đường di chuyển. Khi mùa mưa kết thúc và sau mùa bão lũ thì vấn đề cơ động cũng phức tạp do không quân Mỹ hoàn toàn khống chế bầu trời.

Hàng ngày không quân địch thực hiện trung bình 65 phi vụ tốp vào ban ngày, và 30 - 35 phi vụ tốp vào ban đêm. Các máy bay của hải quân Mỹ (có 2 tàu sân bay đậu cách bờ 160 - 190km) chủ yếu bắn phá các mục tiêu gần bờ biển, còn các máy bay của không quân Mỹ thì bắn phá các bến phà, các đèo, các địa điểm sơ tán khí tài, các trận địa pháo cao xạ, các kho tàng, các căn cứ. Có 12 máy bay trinh sát không người lái hoạt động tại đây.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #242 vào lúc: 13 Tháng Tư, 2009, 03:23:06 pm »

Đôi khi thời gian tiểu đoàn tên lửa phòng không di chuyển đến trận địa phục kích kéo dài vài ngày bằng những chiếc xe di chuyển lẻ tẻ hoặc với những tốp nhỏ. Chỉ có những người rất lạc quan mới có thể gọi những con đường trong khu vực tác chiến của trung đoàn tên lửa chúng tôi là những con đường. Chúng tôi phân loại những con đường ấy căn cứ vào số lần "mông bị va đập trong một phút". Đa số các con đường ở mặt trận đều là những con đường có tần suất 120 "cú va đập mông" trên 1 phút. Các bộ khí tài tên lửa có trọng lượng lớn, cho nên khi cơ động phải di chuyển với tốc độ cao để vượt qua khu vực cần vượt trong khoảng thời gian trên trời không có các máy bay trinh sát hoặc máy bay tấn công của địch. Thông thường, việc cơ động được tiến hành vào ban đêm, không bật đèn pha, còn ở những khu vực nguy hiểm thì cũng không sử dụng đèn cốt.

Chẳng hạn, trên đường số 12 có một đoạn dài khoảng 15km liên tục bị bắn phá bằng súng cối và bằng những súng máy cỡ lớn của các nhóm biệt kích địch mà bọn Mỹ thường xuyên thả xuống đỉnh dãy núi Dăng Màn (Bị mây phủ kín quanh năm"). Và chẳng có cách nào đánh bật bọn biệt kích ấy ra khỏi nơi ấy. Mà cũng chẳng ngoặt sang phía nào cả: ở bên trái là núi đá thẳng đứng dầy đặc: ở phía bên phải là vực thẳm. Thật khó hiểu được, bằng cách nào mà các chiến sĩ lái các chiếc xe xích kéo pháo hạng trung và các xe nạp tên lửa và những loại chiến xa khác lại có thể tìm cách đưa những chiếc xe ấy vượt qua những đoạn đường như vậy cùng với những ca bin nặng nhiều tấn, với những quả tên lửa, những bệ phóng, trong bóng tối hoàn toàn, với tốc độ tối đa.

Sau những cuộc cơ động như vậy và sau khi triển khai khí tài trên trận địa thì nhất thiết phải kiểm tra kỹ lưỡng, khắc phục những sự hư hỏng và trục trặc. Đối với những quả tên lửa thì sau cuộc hành quân dài 200km và xa hơn thế sẽ phải kiểm tra lại chúng ở trạm kiểm tra - thử nghiệm di động. Nếu trận địa nằm ở biên giới với nước Lào thì cần đưa các quả tên lửa cách xa biên giới ít nhất 50km để tiến hành kiểm tra, nhằm "khỏi để lộ" cho trạm trinh sát vô tuyến điện trên mặt đất của địch biết việc nghiên cứu các bộ phát sóng phản hồi của tên lửa.

Trong khi tổ chức hoạt động tác chiến của các trung đoàn tên lửa phòng không cần phải tính đến vô vàn những "điều nhỏ nhặt" ấy. Cần phải xem xét lại một cách sáng tạo nhiều luận điểm về chiến thuật và về các quy tắc bắn có tính đến những điều kiện địa - vật lý và chiến thuật hành động của kẻ địch trên bầu trời.

Theo các số liệu được cung cấp bởi đại úy Trần Văn Duy, trưởng phòng trinh sát của Sư đoàn 377 bộ đội phòng không - không quân của Quân đội nhân dân Việt Nam, thì từ cuối tháng 9 đến giữa tháng 11-1971 tại địa phận tỉnh Quảng Bình đã có 714 tốp máy bay của không quân và của hải quân Mỹ hoạt động (F-4: F-105, A-6, A-7, OV-10, tổng cộng có 965 máy bay). Những máy bay này đã tiến hành trinh sát và đánh phá các mục tiêu trên các tuyến đường.

Ngoài ra, hàng ngày có 8 - 10 tốp máy bay hoạt động dọc theo các tuyến đường chạy từ các ngọn đèo ở biên giới vào sâu trong lãnh thổ -Việt Nam. Trong số đó có 3 - 4 tốp máy bay có sử dụng vũ khí gắn trên thân máy bay. 90% số cuộc ném bom được thực hiện bằng những máy bay đơn lẻ. Thông thường thì những trận bắn phá ồ ạt được các tốp máy bay 3 chiếc thực hiện. Trong thời gian ấy, đã có đến 325 tốp B-52 (971 lần chiếc) hoạt động tại các điểm chốt giữ trên các tuyến đường ấy. Không quân Mỹ đã sử dụng các loại bom bi đã bị luật pháp quốc tế nghiêm cấm, các loại đạn nổ gây sát thương rộng, bom napan, các chất độc hại để diệt cây cối, tiến hành những trận bom rải thảm dẫn đến hậu quả là nhiều điểm dân cư đã thật sự bị san phẳng.

Không quân Mỹ đã tàn phá một cách có bài bản và dã man tột độ các công trình cơ sở hạ tầng của tỉnh Quảng Bình (còn từ tháng 4-1972 thì chúng thực hiện hành động này trên toàn lãnh thổ Bắc Việt Nam): các cơ sở công nghiệp: cầu cống, các bến phà, các bệnh viện, trường học. Chỉ cần nêu rõ rằng mỗi người dân ở tỉnh Quảng Bình, gồm cả các trẻ sơ sinh: đã phải hứng chịu 40 tấn bom mỗi năm, là có thể thấy rõ điều này. Chúng tôi đã chứng kiến những trận ném bom kiểu "rải thảm" do các máy bay ném bom chiến lược B-52 thực hiện đối với các điểm dân cư vô tội. Máy bay Mỹ ném bom không những các mục tiêu quân sự, mà còn săn tìm những chiếc xe đơn lẻ, tìm diệt những người dân lao động trên các đồng lúa.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #243 vào lúc: 13 Tháng Tư, 2009, 03:23:42 pm »

Ban lãnh đạo nước Việt Nam đã kêu gọi nhân dân: khi làm việc ngoài đồng chị em phụ nữ cần mặc những chiếc áo nhuộm màu bảo vệ thay cho những chiếc áo màu trắng truyền thống để gây khó khăn cho các phi công Mỹ không thể ném bom và bắn trúng những người đang làm việc ở ngoài đồng; không được giết, mà phải bắt sống làm tù binh các phi công Mỹ đã nhảy dù từ những máy bay bị bắn rơi, để bắt chúng tính sổ đến bù những thiệt hại vật chất do những cuộc ném bom gây ra.

Lòng căm thù đối với các phi công Mỹ lên đến mức là sau khi nhảy dù khỏi máy bay, các phi công ấy thực sự đã trở thành bia thịt trước khi chúng chạm đất. Bom bi và bom napan chống lại phụ nữ và trẻ em không thể nào khiến cho người ta tỏ lòng độ lượng đối với kẻ xâm lược. Mỗi người dân có khả năng cầm súng đều bắn vào máy bay địch. Tại tỉnh Quảng Bình có đài kỷ niệm vinh danh khẩu đội súng máy phòng không đã dùng súng đại liên bắn rơi máy bay F-4 (“con ma"). Người ít tuổi nhất trong khẩu đội ấy là một cụ già 65 tuổi.

Không chỉ có con người, mà cả các gia súc cũng được huấn luyện cho quen với chiến tranh. Trên các cánh đồng người ta có đào những đường hào dành cho trâu bò. Khi có báo động máy bay, chúng được lùa xuống đó và chờ đến khi kết thúc cuộc ném bom.

Lợn, gà - thực phẩm chính của các chiến sĩ - cũng ẩn nấp trong các đường hào khi có báo động, khi vang lên tín hiệu "Báo yên - lên đường" thì chẳng cần có lệnh bổ sung chúng cũng vào chỗ của mình trong các chiếc cũi trên thùng xe.

Tôi xin dẫn ra đây một vài ví dụ để thấy tình hình lúc đó phức tạp đến mức nào.

Tháng 10-1971, Tiểu đoàn tên lửa phòng không 68 được chuyển lên trận địa chiến đấu cách biên giới Lào - Việt 7km, trên đường 20. Nhiệm vụ của tiểu đoàn là tiêu diệt máy bay B-52. Lúc đầu nhóm chuyên gia chúng tôi đi bằng xe hơi để đến tiểu đoàn này, về sau đi bằng xe xích kéo pháo hạng trung, rồi sau nữa đi bộ theo đường mòn. Vào thời gian ấy, dọc theo đường 20 hàng ngày trung bình có 6 máy bay B-52 hoạt động. Ban ngày tiểu đoàn này bất động, mọi công việc chỉ tiến hành vào ban đêm, tuyệt đối tuân thủ mọi biện pháp ngụy trang. Tối ngày 6-11 chúng tôi bắt đầu tiến hành các công việc, sáng sớm ngày 7-11, sau khi kết thúc mọi việc kiểm tra và hiệu chỉnh khí tài và đưa ra kết luận bằng văn bản về tư thế sẵn sàng chiến đấu của tiểu đoàn này, chúng tôi rút khỏi trận địa. Theo kế hoạch, chúng tôi sẽ làm việc lần lượt tại các tiểu đoàn 69, 66, 67.

Ngày 9-11, vào lúc 21 giờ, Tiểu đoàn tên lửa phòng không 68 đã giao chiến với tốp B-52 và các tốp máy bay yểm trợ. Căn cứ theo các thông tin do đơn vị kỹ thuật vô tuyến điện cung cấp, đài trinh sát và chỉ thị mục tiêu của tiểu đoàn này đã phát hiện các tốp mục tiêu ở cự ly 75km. Ở cự ly 35km đài điều khiển tên lửa của bộ khí tài tên lửa phòng không đã phát sóng nhưng đã không nhìn thấy mục tiêu do bị nhiễu rất mạnh. Do vậy đã chuyển sang chế độ tương đương. Lần thứ hai đài điều khiển tên lửa lại phát sóng ở cự ly 25km. Vẫn không thấy mục tiêu - lại chuyển sang chế độ tương đương. Lần thứ ba lại phát sóng ở cự ly 19km. Cường độ nhiễu đã giảm. Đã phát hiện thấy 3chiếc B-52 ở khoảng cách 16km, độ cao 10km - vậy là đã chộp được mực tiêu, tiểu đoàn dã sẵn sàng phóng tên lửa.

Đúng vào thời khắc này 2 quả tên lửa kiểu "Sraicơ" chống ra đa đã nổ cách ca bin ăngten "P" 6 mét. Do bị nhiễu nên khẩu đội đã không phát hiện thấy các máy bay Mỹ đã phóng các quả tên lửa chống ra đa. Đài quan sát bằng mắt đã ghi nhận 2 máy bay F-105 đã phóng các tên lửa “Sraicơ" khi các máy bay này phóng qua phía trên tiểu đoàn này, nhưng đài quan sát bằng mắt đã không thể báo cáo được vì đúng vào lúc ấy nó cũng bị ném bom.

Tiểu đoàn bị loại khỏi vòng chiến. Trên các cột ăngten có hơn 70 lỗ thủng, có hơn 10 đoạn dây cáp dẫn đến ăngten và dây cáp cao thế bị đứt. Tại bệ phóng các đường dây cáp truyền dẫn điện và cáp điều khiển bị bật ra khỏi bệ phóng. Không có thiệt hại về người. Trong suốt 10 ngày sau đó các máy bay B-52 đã không xuất hiện ở khu vực này.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #244 vào lúc: 13 Tháng Tư, 2009, 03:24:17 pm »

Ngày 18-11, trong cuộc gặp làm việc với sĩ quan chỉ huy và chính ủy của trung đoàn, chúng tôi đã thỏa thuận dứt khoát rằng chúng tôi là những chiến sĩ chứ không phải là các nhà ngoại giao. Cho nên chúng tôi sẽ nói một cách thẳng thắn về tất cả mọi công việc tác chiến của chúng tôi. Chúng tôi phải biết rõ mọi vấn đề nảy sinh trong công tác đảm bảo khả năng sẵn sàng chiến đấu của trung đoàn. Chúng tôi thỏa thuận sẽ gặp ban chỉ huy trung đoàn vào ngày thứ sáu hàng tuần để lên kế hoạch làm việc chung và giải quyết những vấn đề nảy sinh.

Chúng tôi đã cùng với các đồng chí Việt Nam phân tích kỹ lưỡng từng trận đánh, rút ra những kết luận. Mà mỗi trận đánh đều là kết quả của việc chuẩn bị kỹ lưỡng khí tài và con người, là sự kết hợp giữa tinh thần dũng cảm, tinh thần kiên cường và lòng tin vào chiến thắng. Bằng những nỗ lực chung: chúng tôi đã phấn đấu để tạo ra thái độ nâng niu và quý trọng đối với các khí tài, đối với các quy tắc bắn, kiên trì bồi dưỡng ý thức không sợ sai lầm, biết suy nghĩ về phương thức bắn trong đội hình nhóm tiểu đoàn và về sự yểm trợ cho nhau. Những điều này đã có tác dụng tốt trong các trận đánh diễn ra trong tháng 1 (10 cuộc khai hỏa), đặc biệt là những trận đánh trong tháng 4 (28 cuộc khai hỏa) và trong tháng 5 (20 cuộc khai hỏa) năm 1972. Đó là thời gian mở đầu những hoạt động quân sự mang tính chất quyết định của Quân đội nhân dân Việt Nam và của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ở phía nam vĩ tuyến 17.

Vào ngày 22-11 Tiểu đoàn 66 đã vào chiếm lĩnh trận địa này, dần dần triển khai khí tài vào ban đêm: ngày 26-11 đã triển khai xong một bệ phóng, ngày 27-11 đã triển khai xong bệ phóng thứ hai.

Bất chấp địa hình rừng núi, song cuộc hành quân đã diễn ra bình thường, chỉ có một rơmoóc chở ăngten xác định vị trí góc (chúng tôi đã sử dụng bộ ăngten của Tiểu đoàn 68) và một xe chở và nạp tên lửa bị đổ, ngoài ra các cánh lái và bộ ổn định trên một tên lửa đã bị gãy. Tiểu đoàn này đã sẵn sàng chiến đấu và đến ngày 3-12, vào lúc 6 giờ 12 phút, với 2 quả tên lửa đã bắn rơi máy bay trinh sát chiến thuật O-2A. 

Tên trung tá phi công thuộc lực lượng không quân Mỹ đã bị bắt làm tù binh. Vào thời điểm ấy, chúng tôi đang có mặt ở đài chỉ huy số 2 tại trận tuyến thuộc khu vực đường số 20. Một cô gái mang súng đã giải tên phi công ấy - với hai tay bị trói - đến đài chỉ huy số 2. Tên phi công đã nhảy dù trót lọt, nhưng khi tiếp đất, mắt của hắn đã đụng phải một cành tre làm cho hắn bị ngất xỉu. Trong chiếc máy bay bị bắn rơi và trên người tên phi công đã tìm thấy những dụng cụ máy móc đảm bảo cho việc cứu hộ phi công.

Cô gái phát hiện ra tên phi công Mỹ ấy là nữ chiến sĩ thuộc tiểu đoàn công binh. Cô đã giằng lấy và đập vỡ chiếc máy định vị vô tuyến điện đính trên bộ quân phục bay của tên phi công, tước vũ khí trên người hắn, bản đồ bay cùng với các loại tài liệu, trói hắn lại. Cô gái chờ đến khi tên phi công tỉnh lại, dí súng vào người hắn và giải hắn về sở chỉ huy. Hóa ra, bọn Mỹ cũng hiểu rất rõ ngôn ngữ của vũ khí. Còn cô gái ấy có thân hình nhỏ hơn tên tù binh của mình đến 5 lần. Tên tù binh được chuyển gấp về Hà Nội. Chắc chắn, đây là tên tù binh quan trọng, bởi vì chỉ sau một ngày nhóm chúng tôi đã được trao tặng phần thưởng danh dự của Chủ tịch nước - một lẵng hoa sen thiêng liêng. Ở Việt Nam người ta xem đó là phần thưởng cao quý hơn mọi huân chương và huy chương.

Cơ quan tìm kiếm - cứu hộ của lực lượng không quân Mỹ đã tìm cách giải cứu tên phi công thứ hai. Các máy bay A-6, F-4 và các trực thăng đã phong tỏa khu vực có khả năng tìm thấy tên phi công này. Nhằm không để tên phi công này bị tóm cổ làm tù binh, trong chu vi có đường kính 20km bọn Mỹ đã phun đầy chất tạo sương mù OB. Bọn Mỹ đã phát điên lên. Chúng tăng cường số lần đánh phá quân khu 4, với 150 tốp phi vụ mỗi ngày. Chỉ cần phát hiện thấy một cột khói ở trong rừng là chúng ném bom ngay. Nhưng những con đèo vẫn rộng mở cho các đoàn xe đi qua.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #245 vào lúc: 13 Tháng Tư, 2009, 03:24:57 pm »

Vào cuối tháng 11-1971, khi các tiểu đoàn tên lửa phòng không bắt đầu cơ động trong khu vực có các trận địa chiến đấu để tổ chức các cuộc phục kích ở các con đèo, thì trong suốt một tuần lễ chúng tôi đã "bị mất" tin tức về tiểu đoàn 69.
Vào tháng 8 tiểu đoàn này từ một trung đoàn khác đã được nhập vào Trung đoàn 275. Sĩ quan chỉ huy của tiểu đoàn này là người có khá nhiều kinh nghiệm, các chiến sĩ của tiểu đoàn này là những người dày dạn trận mạc, không phải là lính mới. Viên sĩ quan chỉ huy của tiểu đoàn này hiếm khi nhờ đến sự trợ giúp của các chuyên gia quân sự Liên Xô, anh ấy nói "tự tôi có thể làm được mọi việc mà".

Nhưng xảy ra tình huống là tiểu đoàn này phải "chui" vào một nơi rất bất lợi cho việc tổ chức phục kích trong khu vực đường 16 (đây là góc đoạn đường biên giới Lào - Việt). Dốc núi thẳng, chung quanh toàn là rừng rậm không có đường đi. Khi cố gắng đưa cabin "U" vào nơi dành cho nó thì chiếc xe xích kéo pháo hạng trung kéo cabin này đã giật mạnh. Hậu quả là hộp đựng các dây cáp dẫn ra và dẫn vào khối VK- 1 đã bị bật phăng ra hoàn toàn. Mà không có hộp chứa các đường dây cấp dẫn vào khối VK- 1 thì tiểu đoàn "bị chết dí" cùng với tất cả các cabin của mình, các quả tên lửa và các bệ phóng của mình.

Nhóm phục vụ kỹ thuật của trung đoàn cùng với các phương tiện sửa chữa lại không thể đến chỗ ấy được. Chúng tôi đành mang theo ba lô lên xe ôtô (trong ba lô có võng, màn chống muỗi, các đồ dùng cá nhân, biđông đựng nước, ống nhòm, máy ảnh), đội mũ sắt lên đầu rồi lên đường. Khi hết con đường có thể đi bằng xe GAZ-69 thì chúng tôi chuyển sang xe xích kéo pháo hạng trung. Quãng đường 15km cuối cùng chúng tôi đi bộ theo "Đường mòn Hồ Chí Minh".

Chúng tôi thẩm định tình hình tại chỗ và thấy gay go. Trong hộp có hàng chục đường dây cáp - các tuyến cáp có bọc lưới kim loại cho đến các tuyến cáp đường dây liên lạc - và tất cả các dây cáp ấy đều "bị đứt". Chúng tôi nhóm họp, thảo luận với nhau và bắt tay vào công việc. Để tiến hành công việc thì chỉ có các dụng cụ được cấp cho tiểu đoàn, các cờ lê, tuôcnơvit, mỏ hàn. Phải làm cho tất cả các tuyến cáp "thông suốt", phải tìm ra phần tương ứng của đoạn dây bị đứt, hàn chúng lại, bọc lớp cách điện, kiểm tra sự thông suốt của mạch điện. Chúng tôi đã làm việc liên tục 2 ngày, không hề có giải lao. Nhờ có sự tôi luyện và cố gắng của các chuyên gia quân sự Liên Xô mà khối VK- 1 đã được phục hồi, máy móc đã được kiểm tra.

Công tác kiểm tra chức năng đã cho thấy tiểu đoàn đã ở trong tư thế sẵn sàng chiến đấu. Chúng tôi kết luận bằng văn bản rằng tiểu đoàn này có thể khai hỏa. Sau đó, chúng tôi đã yên tâm trở về căn cứ của mình. Sau đó 2 ngày chúng tôi nhận được tin cho biết tiểu đoàn này đã phóng tên lửa trúng đích. Tuy nhiên, sĩ quan chỉ huy tiểu đoàn này tỏ ra không hài lòng. Đồng chí ấy khao khát bắn rơi B-52, nhưng lại chỉ hạ được máy bay trinh sát - đó là chiếc máy bay gây nhiễu RB-66. Đây cũng là mục tiêu quan trọng và quý giá. 

Kể từ đó trở đi viên chỉ huy Tiểu đoàn 69 cố gắng bằng mọi cách nhấn mạnh sự quý trọng của anh ấy đối với chúng tôi. Đôi khi anh ấy yêu cầu cử nhóm chuyên gia quân sự Liên Xô đến chỗ anh ấy thậm chí trong trường hợp không đặc biệt cần thiết.

Sau trường hợp này các chuyên gia của Liên Xô trong đơn vị công binh tên lửa phòng không ở Hà Nội đã phát biểu rằng nhóm chuyên gia chúng tôi ở đây đã làm được điều không thể làm được trong những điều kiện dã chiến.

Bây giờ xin nói vài lời về cuộc sống của chúng tôi trong điều kiện dã chiến.

Suốt 4 tháng trời chúng tôi sống ở căn cứ nằm dưới chân một núi đá (vách núi thẳng đứng và cao 300 mét) trong những ngôi nhà tạm bợ. Nơi đóng quân ở cách khoảng 3km, mới tới điểm giao nhau của hai con đường số 15 và số 20 và bến phà Xuân Sơn qua con sông nhỏ, nước chảy xiết. Địa điểm này thường xuyên "thu hút" các máy bay trinh sát và máy bay bắn phá của Mỹ. Vì vậy từ mỗi căn nhà tạm ấy người ta đào con hào chạy đến tận cửa hang núi. Khi có nguy hiểm thì chạy xuống đường hào rồi chạy vào hang. Trong hang núi bom không với tới được.

Nếu có cơ hội chúng tôi tổ chức ngày tắm hơi. Các bạn Việt Nam của chúng tôi không thể nào hiểu được tại sao chúng tôi lại tắm xông hơi và tắm bằng nước nóng trong khi ở ngoài trời nóng bức ghê gớm. Chúng tôi tìm cách dùng những tấm phên nứa làm thành các buồng tắm, trong đó có những hòn đá được hun nóng và nước.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #246 vào lúc: 13 Tháng Tư, 2009, 03:25:43 pm »

Còn tại một địa điểm đóng quân nhóm chúng tôi đã rất gặp may: cách đó không xa có nguồn nước nóng, có tác dụng chữa bệnh. Bể nước nóng khá lớn, cho nên cả nhóm có thể cùng lúc tắm nước nóng. Nhưng xuất hiện một sự bất tiện: không biết vì sao dân chúng địa phương lại biết thời điểm chúng tôi đến tắm nước nóng. Cho nên đúng vào lúc chúng tôi tắm thì có rất nhiều khán giả vây quanh nguồn nước nóng, đó là các chị phụ nữ và trẻ em. Lúc đầu chúng tôi rất ngượng, về sau thấy quen.

Vào những ngày thời tiết xấu, vào các buổi tối, đôi khi cả vào ban đêm chúng tôi mang theo máy chiếu phim, màn ảnh chiếu bóng, máy phát điện đến một ngôi làng gắn nhất. Chúng tôi báo trước cho dân chúng địa phương, rồi sau đó chiếu phim cho họ xem. Người Việt Nam đặc biệt thích bộ phim hoạt hình "Hãy đợi đấy!" không cần có phần lời dịch. Bà con Việt Nam có thể xem mãi tất cả các bộ phim chúng tôi có và họ vui sướng như các trẻ em. Hoặc, ví dụ như bộ phim chiến đấu kể về các chiến sĩ trinh sát của Liên Xô xâm nhập vào thành phố nghỉ mát ở Crưm đã bị bọn Đức chiếm đóng, cũng là bộ phim rất được khán giả Việt Nam yêu thích. Hình như cuốn phim ấy có tên là "Sứ mạng bất khả thi".

Trong khi chờ kỹ thuật viên chiếu phim thay cuộn phim tiếp theo, người phiên dịch giải thích nội dung của đoạn phim đang được chiếu cho người xem. Bà con có thể xem bộ phim ấy mấy lần. Nhất là các đồng chí Liên Xô ở Hà Nội không hào phóng lắm với chúng tôi trong việc cung cấp những bộ phim mới. Chúng tôi cũng chẳng có gì để trao đổi với các nhóm lân cận (tại Quân khu 4 còn có 2 nhóm chuyên gia quân sự Liên Xô nữa hoạt động) - họ cũng giống như tình cảnh của chúng tôi.

Các bạn Việt Nam thường xuyên cảnh báo cho chúng tôi về nguy cơ bị quân địch tấn công trên bộ (nếu không có bộ phận bảo vệ thì không ra ngoài và không nên đi một mình, đặc biệt là khi làm việc trên các trận địa chiến đấu). Sáng ngày 25-12 đài quan sát bằng mắt của Tiểu đoàn 67 đã phát hiện thấy có 3 tốp lính dù đổ bộ sâu vào khu vực đường 20. Như vậy, nguy cơ bị tấn công là có thật, và những kẻ tấn công rõ ràng sẽ không phải là bọn nghiệp dư. Các chuyên gia quân sự Liên Xô có gì để đối phó với chúng? Chúng tôi làm việc trong điều kiện không mang vũ khí và hoàn toàn không mang theo các giấy tờ.

Có lần, khi gần kết thúc công việc tại một tiểu đoàn, tôi đã đề nghị viên chỉ huy tiểu đoàn này chỉ cho tôi trên bản đồ địa điểm đóng quân của chúng tôi. Người chỉ huy ấy cho tôi xem bản đồ. Hóa ra tiểu đoàn này đặt trận địa chiến đấu trên lãnh thổ Lào, cách biên giới quốc gia 10km.

Đến nay, khi nhớ lại thời kỳ chiến đấu, có thể đưa ra những kết luận nhất định nào đấy.

Có thể chia một cách ước lệ thời gian hoạt động của nhóm chuyên gia chúng tôi thành 3 giai đoạn.

Giai đoạn thứ nhất - tháng 8-1971 - cuối tháng 3-1972.

Giai đoạn thứ hai - cuối tháng 3 - tháng 4-1972.

Giai đoạn thứ ba - tháng 5 - tháng 7-1972.

Ở giai đoạn thứ nhất, nhiệm vụ của các tiểu đoàn thuộc Trung đoàn tên lửa phòng không 275 là gây tổn thất tối đa cho kẻ địch trong mưu toan của chúng định cắt đứt các con đường tiếp tế cho Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và cho du kích Lào và Campuchia (các con đường 12, 20, 16, 18 và các ngọn đèo băng qua dãy núi Trường Sơn).
Để chống lại các bộ khí tài tên lửa phòng không, không quân địch đã sử dụng tất cả kho vũ khí mà chúng có, tiêu diệt bằng hỏa lực, tất cả các phổ gây nhiễu, các tên lửa chống ra đa, thủ đoạn cơ động tích cực chống pháo cao xạ.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #247 vào lúc: 13 Tháng Tư, 2009, 03:27:05 pm »

Bọn Mỹ biết khá rõ về bộ khí tài tên lửa phòng không X-75. Chúng biết rõ tất cả những mặt mạnh và mặt yếu của X-75. Chúng cũng biết rõ tầm bắn và tầm tiêu diệt mục tiêu, những thông số về tần số. Nhưng chúng vẫn sợ bộ khí tài này. Chúng chỉ phái các phi công có nhiều kinh nghiệm nhất, có khả năng "tránh" tên lửa, đến hoạt động ở vùng có sự hoạt động của các bộ khí tài tên lửa - phòng không X-75.

Chỉ trong một tuần lễ của tháng 1-1972 mỗi tiểu đoàn thuộc Trung đoàn tên lửa phòng không 275 đều bị hứng chịu 2 tên lửa chống ra đa. Tổn thất về người đã xảy ra ở nơi nào không kịp chuẩn bị nơi trú ẩn. Ban chỉ huy của các trung đoàn và của các tiểu đoàn đã giữ bí mật con số tổn thất của mình. Tôi cho rằng làm như vậy là đúng. Kẻ địch không được biết rõ hiệu quả hành động của chúng.

Các dây cáp bị mảnh tên lửa "Sraicơ" làm đứt ở nơi nào chưa kịp che lấp những dây cáp ấy. Khi các ăng ten ở đài điều khiển tên lửa bị các lỗ thủng thì vẫn có thể phóng tên lửa được. Đồ thị của hướng không thay đổi nếu như lỗ thủng không lớn hơn 15 x 15 xăngtimét. Song, cần vá lỗ thủng để nước không lọt vào bên trong ăngten.

Chúng tôi có những hồi ức tốt đẹp nhất về Trung đoàn tên lửa phòng không 275. Bảy tháng cùng làm việc chung trong những điều kiện phức tạp nhất dã tạo cơ hội gắn kết nhóm chuyên gia quân sự Liên Xô và các khẩu đội chiến đấu của trung đoàn, đem lại kinh nghiệm hết sức phong phú về tổ chức và tiến hành tác chiến trong điều kiện rừng núi nhiệt đới.

Các khẩu đội chiến đấu của các tiểu đoàn đã vượt tất cả các định mức có thể có trong công tác thu dọn khí tài. Chỉ sau 35 phút, tối đa là sau 40 phút sau khi phóng tên lửa là mọi việc đã được hoàn thành. Chuyến xe chở khí tài cuối cùng rút khỏi trận địa. Nếu không khẩn trương như vậy thì nhất định không tránh khỏi bị đòn trả đũa của không quân địch, do các máy bay trinh sát thường xuyên có mặt trên bầu trời chỉ điểm. Ở độ cao 4,5 km, khi trên bầu trời không có mây và vào ban đêm, từ trên máy bay ở cách xa 60 - 70km có thể nhìn thấy tên lửa phòng không được phóng đi.

Ngay từ tháng 1-1972 ban chỉ huy của trung đoàn tên lửa phòng không đã được biết về những sự kiện sẽ diễn ra sắp tới đó là cuộc tấn công lớn băng qua Vĩnh Linh tiến vào phía nam nhằm giải phóng Nam Việt Nam. Tại cuộc gặp ngày 15-1-1972 với viên chỉ huy trung đoàn và chính ủy của trung đoàn diễn ra tại một sở chỉ huy tiền phương, viên chỉ huy trung đoàn đã tuyên bố rằng bộ đội tên lửa phòng không "đang chuẩn bị cho những trận đánh lớn và những chiến thắng to lớn" và yêu cầu tăng cường công tác giải trình các yếu lĩnh bắn và hiệu chỉnh khí tài. 

Căn cứ vào nhiều dấu hiệu chúng tôi cũng đã cảm nhận được những sự kiện quan trọng đang đến gần. Trung đoàn chúng tôi nhận thêm 240 quả tên lửa. Cần phải giúp đỡ lên kế hoạch bảo trì những tên lửa ấy, vận chuyển, bảo quản chúng.

Những trận đánh tại Quân khu 4 vẫn tiếp diễn. Trong 2 ngày - ngày 16 và ngày 17-2-1972 bộ đội tên lửa phòng không đã bắn rơi 5 máy bay, pháo cao xạ bắn rơi 1 chiếc. Đã có 6 phi công bị bắt làm tù binh - 4 Thiếu tá, 1 Đại úy, 1 Trung úy.

Ngày 24-2 các tiểu đoàn 67 và 68 thuộc Trung đoàn tên lửa phòng không 275 đã lên đường đi về phía nam để giúp sức cho các đơn vị đang chiến đấu của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, 1 tiểu đoàn đã bị loại. Trung đoàn chỉ còn lại 1 tiểu đoàn. Thế là từ tháng 3 chúng tôi bắt đầu làm việc với Trung đoàn tên lửa phòng không 236 (đây là Trung đoàn tên lửa phòng không đầu tiên của Việt Nam).

Với ban chỉ huy Trung đoàn 236 và với đội ngũ các chiến sĩ thuộc các tiểu đoàn của trung đoàn này thì làm việc dễ dàng hơn nhiều so với công việc ở Trung đoàn 275. Đến thời điểm ấy chúng tôi đã tích luỹ được kinh nghiệm phong phú, mà về phía các bạn Việt Nam thì bộ phận chủ chốt cũng đã có kinh nghiệm chiến đấu cũng như kinh nghiệm làm việc chung với các chuyên gia Liên Xô. Mỗi tiểu đoàn đều đã có thành tích chiến đấu - đã tiêu diệt được từ 30 đến 50 máy bay Mỹ.

Sau khi chuẩn bị kỹ lưỡng trong suốt tháng 3-1972, trung đoàn này đã được chuyển vào Quân khu 4, trên thực tế là đến những trận địa chiến đấu mà chúng tôi đã được biết đến rồi. Đó là những trận địa trước kia của Trung đoàn tên lửa phòng không 275. Tất nhiên, chúng tôi cùng lên đường theo trung đoàn này. Chúng tôi đã sống mấy ngày tại một khách sạn của thị xã Đồng Hới, còn ngày 1-4, khi có 3 sư đoàn Quân đội nhân dân Việt Nam bắt đầu tiến quân vào Nam Việt Nam băng qua vĩ tuyến 17 – thì chúng tôi lại vào ở trong các hang núi. Trong 7 ngày đầu tháng 4, các trận đánh đã diễn ra liên tiếp. Các máy bay của không quân và hải quân Mỹ đã dồn hết sức nhằm đè bẹp bộ đội tên lửa phòng không và pháo cao xạ của Bắc Việt Nam đang yểm trợ cuộc tiến quân của bộ binh.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #248 vào lúc: 14 Tháng Tư, 2009, 09:51:19 pm »

Tại khu vực diễn ra cuộc tiến quân, có 2 trung đoàn tên lửa phòng không giao chiến với không quân địch dưới sự yểm trợ mạnh mẽ của pháo cao xạ. Bộ Tư lệnh các lực lượng vũ trang của Mỹ đã điều 4 tàu sân bay đến vịnh Bắc Bộ, đã tung vào trận những lực lượng cơ bản của không quân Mỹ đóng căn cứ ở Thái Lan và Nam Việt Nam. Các trận đánh đã diễn ra ở phía tây Sài Gòn, ở phía nam vĩ tuyến 17 và ở khu vực giáp ranh giữa Lào, Bắc Việt Nam và Nam Việt Nam.

Các tiểu đoàn tên lửa phòng không của chúng tôi đã hứng chịu các cuộc tấn công của các máy bay của hải quân và của không quân Mỹ, cũng như hứng chịu những cuộc bắn phá trong tầm bắn của các khẩu pháo đặt trên các chiến hạm Mỹ. Các máy bay ném bom chiến lược B-52 chủ yếu ném bom vào các đơn vị bộ binh đang mở cuộc tấn công.

Có thể xét về cường độ các trận đánh căn cứ vào con số sau đây: chỉ trong 4 ngày, 4 tiểu đoàn thuộc 2 trung đoàn tên lửa phòng không đã có 24 cuộc khai hỏa, đã phóng đi 36 quả tên lửa, đã bắn rơi 13 máy bay địch. Nếu cộng vào đó những cuộc ném bom liên tục, hỏa lực của pháo cao xạ và của các súng máy cao xạ, hỏa lực từ các chiến hạm bắn vào thì có thể hình dung được tình hình diễn biến ra sao. Trước thời điểm ấy, cũng như sau thời điểm ấy tôi và các đồng chí của tôi không nếm trải cảnh tượng nào như thế nữa.

Tình hình gây nhiễu của địch diễn ra đến mức là nhiều khi xảy ra tình trạng quá tải ở các mảng thu tín hiệu của đài điều khiển tên lửa, các màn hình thật sự đen ngòm. Trong những trường hợp này chúng tôi phóng tên lửa vào các tốp máy bay ném bom chiến lược B-52 theo phương pháp sau đây: 2 tiểu đoàn lần lượt bắn mỗi lần 2 - 3 tên lửa theo chỉ thị mục tiêu từ đài chỉ huy sư đoàn, theo phương pháp 3 điểm - góc phương vị, khoảng cách, độ cao. Phương pháp kích nổ đầu đạn tên lửa - khoảng cách thời gian kích nổ 11,5 giây.

Các trận giao chiến dữ dội giữa bộ đội tên lửa phòng không với không quân địch tại khu vực vĩ tuyến 17 đã diễn ra cho đến ngày 7-4 còn những trận đánh với cường độ nhỏ hơn thì diễn ra đến cuối tháng 4. Đầu tháng 5, Trung đoàn tên lửa phòng không 236 đã di chuyển về vùng ngoại vi Hà Nội để nghỉ lấy lại sức, bổ sung quân số bị thương vong và yểm trợ từ xa cho Thủ đô. Tại các trận địa này Trung đoàn 236 đã có 23 cuộc khai hỏa, đến cuối tháng 6 trung đoàn này lại nhận nhiệm vụ mới - di chuyển về phía nam, đến Quân khu 4 để tích luỹ kinh nghiệm chiến đấu trước thềm các trận đánh mùa thu trên toàn lãnh thổ của đất nước, đặc biệt là ở khu vực Hà Nội và Hải Phòng. Nhóm chuyên gia chúng tôi vẫn tiếp tục làm việc với Tiểu đoàn 68 còn lại của Trung đoàn 275, đôi khi nhóm chúng tôi cũng đến Tiểu đoàn 86.

Trong suốt thời gian hoạt động tại Quân khu 4, không một ai trong nhóm chuyên gia chúng tôi làm việc trong trung đoàn bị thương, mặc dù có nhiều lần các chuyên gia Liên Xô bị rơi vào hỏa lực của địch trên đường hành quân cũng như trên các trận địa.

Có một lần mảnh tên lửa "Sraicơ" đã gây thương tích cho viên sĩ quan thuộc đơn vị công binh tên lửa từ Hà Nội vào để trợ giúp kỹ thuật, mà cũng do thiếu kinh nghiệm. Tại một tiểu đoàn đã xảy ra trục trặc ở khối thiết bị đồng bộ của các bệ phóng. Sau khi thông báo với tiểu đoàn về tư thế sẵn sàng cấp 1, sĩ quan này quyết định kiểm tra hoạt động của khối thiết bị đồng bộ trong bệ phóng. thế là anh ấy nhô người ra khỏi đường hào, mặc dù tôi đã hết sức nghiêm cấm rằng trong lúc diễn ra trận đánh không được nhô người ra. Đúng vào thời điểm ấy quả tên lửa "Sraicơ" chống ra đa đã phát nổ, mảnh của nó cắm vào gan viên sĩ quan ấy. Trong điều kiện dã chiến, các bác sĩ Việt Nam đã nhanh chóng phẫu thuật cho anh ấy: đã gắp mảnh đạn ra và khâu lá gan lại. Sĩ quan bị thương ấy nằm 3 ngày trong hang núi, ở chỗ tôi. Ngay khi tình hình trên bầu trời cho phép, anh ấy đã được chuyển về Hà Nội.

Trong thời gian một năm công tác ở Việt Nam, các tiểu đoàn của các trung đoàn - trong đó nhóm chúng tôi đã làm việc đã bắn tên lửa 77 lần, tiêu diệt 34 máy bay của không quân và của hải quân Mỹ, trong đó có 4 máy bay ném bom chiến lược B52, 22 máy bay tiêm kích ném bom F-4, F-8 và F-105, 5 máy bay trinh sát và chỉ huy OV-10, O-2A, 2 máy bay đặc nhiệm AS-130 và 1 chiếc L-19. Còn có 9 máy bay bị bắn rơi không được xác nhận (chúng rơi xuống những khu vực núi non khó đến được ở phía nam vĩ tuyến 17). Đã bắn 135 quả tên lửa, tính trung bình cứ 4 tên lửa hạ được 1 máy bay. Tôi thiết nghĩ, đây là kết quả không tồi.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #249 vào lúc: 14 Tháng Tư, 2009, 09:52:12 pm »

Từ Việt Nam chúng tôi mang về được những gì?

Đó là kinh nghiệm chiến đấu, khả năng đánh giá tình hình một cách thực tế trong mọi hoàn cảnh, kỹ năng tìm ra cách tiếp cận đúng đắn đến với mọi người để hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu trong những điều kiện hết sức phức tạp. Tất cả những ai đã đi qua "Đường mòn Hồ Chí Minh" thì có sự đánh giá hoàn toàn khác về điều thiện và điều ác cũng như về chính cuộc sống.

Ngay cả những vị tướng và những sĩ quan làm việc tại Ban tham mưu của Đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô tại Việt Nam cũng không thể hiểu đầy đủ rằng làm sao chúng tôi có thể phục vụ quân ngũ trong rừng rậm nhiệt đới được. Đến cuối tháng 3 - đầu tháng 4-1972, khi cuộc tiến công ồ ạt đã bắt đầu diễn ra ở Nam Việt Nam và những trận đánh trong khu vực vĩ tuyến 17 thì chúng tôi, những sĩ quan trưởng các nhóm chuyên gia trung đoàn làm việc tại Quân khu 4 đã được triệu tập về Hà Nội, được thông báo về tình hình, được giải thích rõ về những nhiệm vụ, sau đó chúng tôi được hướng dẫn rất lâu về việc phải xây dựng như thế nào Phòng Lênin tại nhóm chuyên gia (làm việc này trong các hang núi và trong các nhà tạm), phải bầu chọn như thế nào hội đồng phụ trách Phòng Lênin, thảo luận như thế nào những cuốn sách đã đọc và những bộ phim đã được xem, và những vấn đề khác tương tự như vậy.

Không nên nghĩ rằng chúng tôi đánh giá thấp vai trò của công tác đảng - chính trị và công tác giáo dục - chính trị. Chúng tôi đã tiến hành các cuộc họp của đảng, tiến hành cả các buổi sinh hoạt chính trị cũng như những buổi thông báo tình hình chính trị. Nhưng tất cả những công việc ấy được thực hiện trong những khoảng thời gian không làm công việc chính của mình.

Để cán bộ thông tin tình hình chính trị có thể dùng máy thu thanh thu được các buổi phát thanh từ Liên Xô, thì mỗi lần làm việc này anh ta phải trèo lên đỉnh núi đá (cao không dưới 300 mét), chỉ đứng trên đỉnh núi ấy mới “bắt" được những bản tin mới nhất. Trong khi ấy bọn Mỹ đã “chiêu đãi" chúng tôi rất có bài bản bằng những chương trình phát thanh mang tên "Theo yêu cầu của các chuyên gia quân sự Liên Xô". Các đài phát thanh của chúng đặt trên các chiến hạm trong vịnh Bắc Bộ thì rất mạnh. Ngoài ra, theo định kỳ chúng còn thả truyền đơn nhằm quyến rũ chúng tôi cũng như các bạn Việt Nam bằng "những điều tuyệt diệu về dân chủ và tự do". Chúng hiểu rõ vai trò của vũ khí truyền thông. 

Ngoài ra tôi còn đem về nước 2 quả bom bi. Trong lần cuối cùng đi theo "Đường mòn Hồ Chí Minh" để đến tiểu đoàn hỏa lực người phiên dịch hỏi tôi xem tôi muốn đem gì từ Việt Nam về nước. Tôi trả lời rằng tôi muốn đem theo về nước quả bom bi. Lúc ấy chúng tôi đang có mặt tại một căn cứ. Anh phiên dịch gọi một cô gái đến - cô ấy là chỉ huy trung đội công binh và báo lại cho cô biết đề nghị của tôi. Cô gái mỉm cười dịu dàng và bảo chúng tôi đi theo cô ấy. Cách đó đúng 100 mét có một hố bom to, trong đó chứa đầy ắp những quả bom bi chưa nổ và những quả bom nổ chậm đã được tháo ngòi nổ. Cô gái khoát tay ra hiệu, ý muốn nói rằng "các anh hãy chọn đi". Tôi chỉ vào hai quả bom bi mà tôi thích và trông giống như quả dứa. Cô gái thản nhiên cầm lấy 2 quả bom bi, tháo ngòi nổ, rồi đặt chúng vào rìa đống lửa. Cô gái chờ đến khi thuốc nổ nóng chảy ra, hắt thuốc nổ đi, gõ gõ vào hòn đá, rồi tặng 2 quả bom ấy cho tôi.

Tại trạm hải quan ở Tasken thậm chí không có ai quan tâm xem trong hành lý của chúng tôi có những gì. Mọi người thừa biết rằng chẳng có gì để đem từ nơi đó về nước. Chỉ mong sao còn sống để trở về.

Sau này tôi đã chuyển những quả bom ấy vào bảo tàng của Trung đoàn tên lửa phòng không 48 (thành phố Iarôxláp). Đến nay chẳng còn trung đoàn ấy, cũng chẳng còn bảo tàng.

Tôi nghĩ rằng 1 năm chiến đấu chống không quân Mỹ tại Việt Nam là "năm thăng hoa" của tôi. Đó chính là thời gian mà vì nó người ta đã huấn luyện chúng tôi ở các trường quân sự và các Học viện. Đó chính là thời gian mà vì nó chúng tôi đã phục vụ trong quân ngũ, và khi cần chúng tôi phải đứng lên bảo vệ Tổ quốc mình, cũng như chúng tôi đã đứng trong cùng một đội ngũ với các chiến sĩ Quân đội Việt Nam để bảo vệ sự nghiệp chính nghĩa.

Cho đến nay tôi vẫn vững tin rằng chiến sĩ quốc tế chủ nghĩa là một từ xứng đáng. Bất chấp tất cả những xung đột chính trị nhất thời. Nếu có tên cướp xông vào nhà người hàng xóm, dù tên cướp ấy khoác chiếc áo gì, thì nghĩa vụ của anh là giúp đỡ người hàng xóm đánh đuổi và tiêu diệt tên cướp ấy.

Cần phải làm cho mọi người biết rõ và nhớ đến cuộc chiến tranh ở Việt Nam chống xâm lược Mỹ. Thất bại của Mỹ trong cuộc chiến tranh ấy, những tổn thất lớn về máy bay và về nhân mạng, cũng như sự hùng mạnh của Liên Xô đã kiềm chế ý đồ xâm lược của Mỹ trong suốt khoảng 20 năm.

Giờ đây chỉ có thể ngăn chặn bọn xâm lược ấy bằng những nỗ lực tập thể. Sự tham lam và tư tưởng điên rồ muốn thống trị thế giới của những con rối cầm quyền ở Mỹ sẽ giúp làm hồi sinh các lực lượng phản kháng. Không thể dùng bom, napan và lưỡi lê áp đặt tự do và dân chủ cho bất cứ một dân tộc nào, cho bất cứ một nền văn minh nào.

Đã hơn 30 năm trôi qua kể từ ngày đó, nhưng tôi mãi mãi nhớ về cuộc chiến đấu chung của chúng tôi với các bạn Việt Nam, tôi vẫn chăm chú theo dõi những thành tích của Việt Nam. Tôi vẫn hồi tưởng đến đất nước tuyệt diệu ấy và dân tộc tuyệt diệu ấy. Đó là dân tộc chiến đấu. Đó là dân tộc chiến thắng. Tôi tự hào vì trong thắng lợi của nhân dân Việt Nam trước bọn xâm lược cũng có sự đóng góp của chúng tôi - những chuyên gia quân sự Liên Xô, những người đã tham gia chiến đấu tại Việt Nam. Tôi vui mừng thấy rằng các bạn Việt Nam đã không đánh mất những thành quả chiến thắng và đã tìm thấy con đường phát triển của mình và đang vững bước đi theo con đường ấy dưới sự lãnh đạo của những người cộng sản.
Mátxcơva, tháng 4-2004

Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM