Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:20:27 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chiến tranh Việt Nam là thế đó 1965 - 1973  (Đọc 146571 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #260 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2009, 01:40:34 pm »

Sau khi tiến hành tuyển chọn kỹ lưỡng các đối tượng được giới thiệu thì bắt đầu công việc chiếm nhiều thời gian là chuẩn bị thủ tục xuất ngoại cho từng chuyên gia.

Tiếp theo là khâu tập hợp các kết luận y tế về sức khoẻ, các giấy chứng nhận tiêm chủng ngừa các loại bệnh truyền nhiễm. Ngoài ra còn thu thập những bản nhận xét công tác của mỗi chuyên gia, có chữ ký nhận xét của thủ trưởng đơn vị.

Tôi đã nhiều lần đến nhiều nước cùng với các tổ công tác để thực hiện nhiệm vụ, nhưng chưa có lần nào xảy ra trường hợp có ai đó trong số các chuyên gia được lựa chọn bị loại và không được cử ra nước ngoài.

Vậy là đội công tác đã được thành lập. Các quân nhân được giới thiệu đến từ các đơn vị quân đội đã được triệu tập và bố trí tại Mátxcơva, trong nhà khách của Bộ Quốc phòng. Vé máy bay thì tự chúng tôi mua theo giấy giới thiệu của Bộ Tổng tham mưu. Rồi lên đường.

Chúng tôi đi trên loại máy bay IL-18. Cùng với nhóm chuyên gia quân sự Liên Xô chúng tôi, đi trên chuyến bay này còn có 30 chuyên gia của xí nghiệp kỹ thuật - sản xuất chủ đạo thuộc Bộ công nghiệp vô tuyến điện. Nhiệm vụ của họ là hiện đại hóa các bộ kỹ thuật tên lửa phòng không X-75 nhằm hoàn thiện các khả năng chiến đấu trên cơ sở kinh nghiệm những thành tích chiến đấu ở Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trưởng nhóm chuyên gia này là đồng chí Ivan Pêtơrôvích Sápcun. 

26 giờ bay trên máy bay. Những nơi hạ cánh dừng chân là: Tasken, Carachi (Pakixtan), Cancútta (Ấn Độ), Viêng Chăn (Lào). Chúng tôi cảm thấy khó chịu qua chuyến bay. Các múi giờ thay đổi. Bị mất cảm giác định hướng ngày và đêm.
Thế là đã tới sân bay Hà Nội, nơi tiếp đón các phái đoàn chính thức. Rà đón chúng tôi có 5 sĩ quan Việt Nam. Đã diễn ra một cuộc gắp mặt nhỏ. Bộ Tổng tham mưu đã chỉ định tôi, trưởng nhóm, nhân danh tất cả các chuyên gia Liên Xô đi trên chuyến bay đó phát biểu ý kiến. Tôi phát biểu trong tinh thần ngày ấy là sẵn sàng giúp đỡ nhân dân Việt Nam anh em trên tinh thần quốc tế trong cuộc chiến đấu anh dũng của họ chống đế quốc Mỹ.

Chúng tôi được bố trí tại khu chung cư Kim Liên thuộc thành phố Hà Nội. Có một số tòa nhà 3 tầng, có hàng rào, có trạm bảo vệ ở cổng vào khu chung cư. Tại khu nhà khách này chỉ có các chuyên gia ngoại quốc sinh sống. Họ đến từ các nước anh em thuộc Hiệp ước Vácsava, từ Bắc Triều Tiên. Ngoài ra, trong khu này còn có các nhân viên phục vụ. Tất cả mọi người đều sắp xếp thời gian thoải mái và có y phục thoải mái. Chỉ có các chuyên gia đến từ Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên được mặc đồng phục màu đen có đeo huy hiệu mang hình Kim Nhật Thành trên ve áo. Họ  xếp hàng tập thể dục buổi sáng, dưới sự chỉ huy của người đứng đầu. Chúng tôi được bố trí 2 - 3 người mỗi phòng. Khó có thể gọi khu này là khách sạn. Nó giống với doanh trại quân đội nhiều hơn.

Tôi và đồng chí phó của tôi được bố trí trong một phòng đôi Trong phòng này có 2 chiếc giường thô sơ làm bằng ván gỗ, 2 chiếc ghế và 2 tủ con ở đầu giường. Phía trên giường có chiếc màn chống muỗi gắn trên một khung gỗ. Không có màn thì không thể ngủ được. Những con muỗi dữ tợn như lũ chó. Chúng tôi lên giường, vào trong màn và dùng đèn pin soi kỹ, dắt màn cẩn thận xuống đệm, ít phút sau ta cảm nhận thấy có vài con muỗi đã bằng cách nào đó lọt được vào trong màn. Ta thức dậy, bật đèn pin và tìm kiếm, rồi giết những con vật ghê tởm ấy. Mỗi đêm phải mất vài lần như vậy. Những chuyến bay dài, những đêm ngủ không yên, phải thích nghi với múi giờ mới - những điều này gây ra chứng đau đầu, hoàn toàn uể oải và buồn ngủ. Chỉ đến ngày thứ ba tôi mới ít nhiều hứng thú làm việc .

Nhưng ở đây lại xuất hiện những điều khó chịu mới. Phiên dịch viên tới và thông báo rằng theo tin tức tình báo thì đêm ấy có thể sẽ có cuộc bắn phá vào Hà Nội. Người ta chỉ cho chúng tôi biết hầm trú ẩn dành cho nhóm chúng tôi. Chúng tôi xem xét nó. Hầm trú ẩn chật chội và bị ngập nước đến một nửa. Các nhân viên khách sạn dùng xô tát nước ra khỏi hầm. Người ta khuyên chúng tôi ngủ trong bộ đồ thể thao và mang theo đèn pin để có thể nhanh chóng xuống cái hầm trú ẩn ẩm ướt đó. Tất nhiên, đã không có được sự nghỉ ngơi và giấc ngủ yên lành.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #261 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2009, 01:41:13 pm »

Chúng tôi đã tuân theo các quy tắc ấy trong suốt mấy ngày. Nhưng ngủ trong bộ đồ thể thao thì nóng không thể chịu nổi. Do vậy, chúng tôi chuyển sang phương châm “Muốn đến đâu thì đến, biết đâu mọi chuyện sẽ ổn". Thế là chúng tôi nằm ngủ không mặc quần áo chỉnh tề. Những sự cảnh báo về những cuộc bắn phá được đưa ra đều đặn. May mắn là khu khách sạn của chúng tôi đã không bị bắn phá. Bọn Mỹ biết rõ rằng trong khu này có các chuyên gia ngoại quốc cư trú, và rõ ràng là chúng sợ xảy ra xìcăngđan quốc tế nên đã không bắn phá khu này.

Phòng thí nghiệm kỹ thuật đo lường của chúng tôi được triển khai trong một ngôi nhà một tầng, trong khuôn viên của khu doanh trại quân đội thuộc sân bay Gia Lâm.

Chúng tôi đến nơi làm việc bằng một chiếc xe buýt công vụ với sự tháp tùng của phiên dịch viên là một quân nhân Việt Nam. Tên đồng chí ấy là Hồ Lân (Xo Лан). Nhưng anh ấy đề nghị gọi anh ấy bằng tên Nga là Côlia. Đồng chí Colia học tiếng Nga trong thời gian đồng chí ấy là trắc thủ trong một khẩu đội chiến đấu huấn luyện tại Liên Xô. Anh ấy nói tiếng Nga không tồi. Tôi hiểu những gì anh ấy nói. Anh ấy thường xuyên bổ túc kiến thức về tiếng Nga. Anh ấy lắng nghe các chuyên gia trong nhóm chúng tôi nói với nhau.

Đôi khi anh ấy không thể hiểu được những từ có phần thô lỗ mà các binh sĩ Liên Xô đôi khi đã dùng trong những cuộc trò chuyện tâm tình ở nơi hút thuốc. Nhiều lúc anh ấy đến gặp tôi và nói: "Đồng chí chỉ huy, hãy giải thích mấy câu chữ do các chuyên gia của đồng chí dùng, vì tôi không thể hiểu được những từ ngữ ấy". Mà những từ ngữ ấy đôi khi là những từ ít khi tôi được nghe thấy và không thể giải thích rõ ràng nội dung ý nghĩa của các từ ngữ ấy.

Phải thấy rằng các bạn Việt Nam thông thạo tiếng Nga một cách nhanh chóng đến kỳ lạ. Chỉ trong 6 tháng huấn luyện ở Liên Xô thế mà họ đã có thể giao tiếp với chúng tôi bằng tiếng Nga.

Chúng tôi làm việc tại phòng thí nghiệm từ 8 giờ sáng đến 18 giờ, có nghỉ ăn trưa. Tại cơ sở làm việc không tổ chức bếp nấu ăn. Ở đó thường xuyên có những phích nước trà xanh. Thức uống này làm nguôi cơn khát thường xuyên trong điều kiện khí hậu Việt Nam.

Người ta đưa đến cho chúng tôi bữa ăn do nhà ăn của khách sạn nấu. Ở đó có nấu các món ăn Âu và các bữa trưa với các món Việt Nam. Sau khi nếm thử món ăn Việt Nam chúng tôi đã nhanh chóng không dùng nó nữa. Cái gọi là "bữa trưa kiểu Việt Nam" thật khá đơn điệu. Đó là món nấu nóng của người Nga, phở, một món ăn hơi giống món thứ nhất và món thứ hai.

Trong suất ăn trưa kiểu Việt Nam hình như có mọi thứ: thịt và cá, bún phở và bắp cải, trứng và ớt, cơm và thậm chí có cả dứa.

Trong số các món ăn Âu thì các bạn Việt Nam cố gắng nấu những món mà chúng tôi đã quen ăn ở quê nhà. Khâu ăn uống được thực hiện bình thường, nhưng tương đối đắt. Nó chiếm gần một nửa số lương của chúng tôi nhận bằng tiền đồng Việt Nam.

Sau bữa trưa chúng tôi lại đi xe đến nơi làm việc và đến chiều mới trở về.

Lộ trình của chúng tôi đi qua thành phố và qua một chiếc cầu xe lừa nổi tiếng bắc qua sông Hồng. Như đã biết, cây cầu này được xây dựng theo thiết kế của kỹ sư người Pháp Ép phen, ông này là tác giả của tháp Ép phen nổi tiếng ở Pa ri.
Cây cầu này thường chịu những cuộc đánh phá của máy bay Mỹ, nhưng nó lại được nhanh chóng sửa chữa. Để đảm bảo giao thông, trong thời gian cây cầu đường sắt này được sửa chữa, cạnh cầu này người ta đã bắc một cầu phao. Hàng ngày có đến 4 lần chúng tôi qua cầu này. May mắn là những lúc xe chúng tôi qua cầu thì cây cầu này không bị đánh phá.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #262 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2009, 01:41:53 pm »

Trước khi bắt đầu công việc tại Phòng thí nghiệm này, chúng tôi lên một kế hoạch chi tiết về công việc của chúng tôi và thời gian biểu tiếp nhận các máy kiểm tra - đo đạc và các trạm kiểm tra - thử nghiệm di động được chuyển đến từ các trận địa chiến đấu. Kế hoạch này được sự phê duyệt của Tư lệnh Binh chủng phòng không - không quân Quân đội nhân dân Việt Nam là Đại tá Lê Văn Tri 

Đáng tiếc, không hiếm trường hợp bị vỡ kế hoạch tiếp nhận các dụng cụ và các trạm kỹ thuật thử nghiệm di động. Người ta giải thích cho tôi rằng điều đó là do thiếu phương tiện vận tải: các tiểu đoàn tên lửa phòng không thường xuyên phải di chuyển nơi đóng quân, do khâu thông tin liên lạc kém, do các phương tiện vận chuyển bị bắn phá trên đường đi, v.v..
Thành thử, chúng tôi thường xuyên phải khẩn khoản yêu cầu vị đại diện Việt Nam tại phòng thí nghiệm này - một kỹ sư quân sự Việt Nam - có những biện pháp khắc phục. Không ít trường hợp phòng thí nghiệm này bị ngừng cung cấp nguồn điện. Với những biện pháp kiên trì tôi đã triển khai được một trạm phát điện cục bộ chạy bằng máy điêden.

Với những khó khăn lớn chúng tôi đã đảm bảo được hoạt động của phòng thí nghiệm này. Đối với từng cụm máy kiểm tra - đo đạc và trạm kỹ thuật thủ nghiệm di động đều lập biên bản ghi các công việc đã thực hiện. Trong các biên bản ghi rõ tên gọi của tất cả các dụng cụ, số hiệu sản xuất của chúng, bản liệt kê những khiếm khuyết và trục trặc đã được phát hiện, các công việc đã được thực hiện về hiệu chỉnh và sửa chữa, số linh kiện vô tuyến điện đã tiêu hao.

Các bạn Việt Nam đã quyết định sử dụng chúng tôi, như người ta vẫn thường nói! một cách hết công suất. Trong bản thỏa thuận giữa 2 bên có ghi nhiệm vụ của chúng tôi là quy chuẩn và sửa chữa nhỏ. Tuy nhiên, chúng tôi đã tiếp nhận các dụng cụ trong tình trạng mà nhiều thứ trong số dụng cụ ấy không thể phục hồi lại được ngay cả trong điều kiện có nhà máy. Chúng bị hư hỏng do bị mảnh bom và bị đạn rốcket.

Chúng tôi đã làm tất cả những gì có thể làm được trong điều kiện của chúng tôi. Nhưng chúng tôi đã buộc phải sử dụng một số lượng lớn linh kiện vào khâu sửa chữa. Khoảng sau 1 tháng tôi đã nhận ra rằng với nhịp độ tiêu hao như vậy các bộ linh kiện dự trữ và dụng cụ chuyên dùng (ZIP) thì chỉ sau 1 - 2 tháng nữa là phòng thí nghiệm của chúng tôi sẽ phải ngừng hoạt động. Cần phải có những biện pháp khẩn cấp và bất thường.

Tôi gửi báo cáo về Mátxcơva, trong đó có những ý kiến luận chứng và đề nghị gửi bổ sung cho tôi các bộ linh kiện dự trữ và dụng cụ chuyên dùng và các linh kiện thay thế. Trong một thời gian dài tôi không nhận được trả lời. Tôi hiểu rằng cần phải tìm kiếm những khả năng khác để đảm bảo hoạt động liên tục cho phòng thí nghiệm của chúng tôi.

Tôi kiên trì giải thích, tôi đề nghị và yêu cầu vị Tư lệnh Binh chủng phòng không - không quân của Quân đội nhân dân Việt Nam cho phép chuyển một phần các thiết bị sửa chữa của xí nghiệp sửa chữa tên lửa phòng không của Việt Nam đến phòng thí nghiệm của chúng tôi để chúng tôi sử dụng tạm thời. Với chủ trương này tôi đã đến xưởng sửa chữa A-31 cách Hà Nội 50 - 60km. Tôi đã thảo luận với các chuyên gia Liên Xô và Việt Nam về các biện pháp đảm bảo hoạt động của phòng thí nghiệm của chúng tôi.

Chúng tôi liệt kê các thiết bị và các linh kiện cần được vận chuyển về Hà Nội. Tôi đã được Trưởng đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô tại Việt Nam, tướng Mácximencô cho phép điều 2 chuyên gia sửa chữa của Liên Xô thuộc xưởng A-31 đến làm việc tại phòng thí nghiệm. Phòng thí nghiệm của chúng tôi hoạt động nhịp nhàng. Tôi cảm thấy yên tâm, khí thế cũng được tăng cường. Các nhiệm vụ được hoàn thành.

Sau một tháng, tôi nhận được 1 contenơ với những linh kiện cần thiết đã được yêu cầu gửi từ Mátxcơva sang để phục vụ công việc sửa chữa. Tôi hiểu rõ rằng sẽ hoàn thành các nhiệm vụ đặt ra cho tôi và cho toàn nhóm chúng tôi. 

Các chuyên gia quân sự Liên Xô được cử đến làm việc tại các trung đoàn tên lửa phòng không của Việt Nam thường hay báo cáo với ban chỉ huy Đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô về những trường hợp các tiểu đoàn tên lửa phòng không khẩn cấp thu dọn khí tài, rồi di chuyển đến những trận địa khác. Sau đó vài giờ không quân Mỹ đã ném bom và bắn phá vào các trận địa bỏ trống với những mô hình tên lửa giả.

Phải nói rằng chiến thuật di chuyển cơ động các tiểu đoàn và phóng tên lửa từ trận địa phục kích đã được sử dụng rất rộng rãi và có hiệu quả trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Nhằm mục đích tăng hiệu quả và khả năng sinh tốn của các đơn vị tên lửa phòng không, ở Liên Xô, trong một thời gian ngắn, trong từng cụm đơn vị tên lửa phòng không cũng thiết lập hệ thống trận địa giả và các trận địa dự phòng. .
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #263 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2009, 01:45:49 pm »

Phòng thí nghiệm của chúng tôi hoạt động chủ yếu tại cơ sở nằm trong khu vực sân bay Hà Nội. Sau những nỗ lực lâu dài những bộ dụng cụ và trạm kiểm tra thử nghiệm di động đã chuyển đều đặn tới đó. Tại phòng thí nghiệm này thường xuyên có mặt một phiên dịch viên người Việt và một chuyên gia về kỹ thuật đo đạc thuộc Bộ Tham mưu Binh chủng tên lửa phòng không của Quân đội nhân dân Việt Nam. Thông qua 2 quân nhân Việt Nam này tôi đã giải quyết mọi vấn đề nảy sinh về tổ chức và kỹ thuật. Chúng tôi đã cùng nhau xem xét kết quả công việc ở từng tiểu đoàn. Trên một bức ảnh đã ghi lại một buổi gặp làm việc như vậy. Trên tấm ảnh có tôi, phiên dịch viên và viên kỹ sư. Nhìn thấy rõ bảng chỉ tiêu, một vật điển hình cho thời kỳ còn chế độ Xôviết. 

Tư lệnh Binh chủng phòng không - không quân của Quân đội nhân dân Việt Nam, Đại tá Lê Văn Tri đã 2 lần đến phòng thí nghiệm để có cuộc gặp làm việc với tôi. Tôi đã trình bày để đồng chí ấy thấy rõ sự cần thiết của việc tôi mỗi tuần một lần xuống các trận địa chiến đấu của các tiểu đoàn tên lửa phòng không cùng với 2 - 3 sĩ quan trợ lý của tôi để kiểm tra các dụng cụ đo đạc trực tiếp đặt trên các bảng linh kiện của các khối và các hộp tủ có trong các đài điều khiển tên lửa, và để kiểm tra khả năng hoạt động của các dụng cụ đã được sửa chừa trong quá trình tiến hành đo đạc các thông số của đài điều khiển tên lửa. Nhưng mục đích chủ yếu của tôi là xem xét và đánh giá việc xây dựng các trận địa của các bộ khí tài tên lửa, vấn đề ngụy trang cho các bộ khí tài ấy, bảo dưỡng, bảo trì, bảo quản khí tài.

Tôi đã đưa ra những kết . luận chính từ việc quan sát công việc tại các trận địa chiến đấu của các tiểu đoàn: những hầm trú ẩn dành cho khí tài và cho các khẩu đội tỏ ra thô sơ và không đảm bảo bảo vệ được khí tài và sinh lực khi trận địa bị tấn công bằng bom và rốc két. Cũng đã không thấy có những nỗ lực lớn trong công tác gìn giữ bảo quản các khí tài Liên Xô tại các trận địa.

Không hiếm trường hợp phòng thí nghiệm tiếp nhận những trạm kiểm tra - thử nghiệm di động hoàn toàn mới. Khi kiểm tra chúng, chúng tôi phát hiện thấy tình trạng han gỉ trầm trọng ở các khung kim loại, các linh kiện, các tấm gắn các khối linh kiện v. v.. Phần cách điện ở những đường cáp nguồn và cáp công nghệ đã bị hư hỏng nhiều do chuột bọ. Tại các trận địa đã không sử dụng những trạm kiểm tra thử nghiệm di động ấy. Chúng được cất giữ trong núi, trong các hang động với những điều kiện khí hậu khiến cho chỉ trong một thời gian ngắn các phương tiện kỹ thuật trở nên vô dụng: Mà trạm kiểm tra thử nghiệm di động là phòng thí nghiệm đắt tiền được đặt trên xe buýt. Trong các đơn vị bộ đội tên lửa phòng không Liên Xô, chúng ta cảm thấy luôn luôn khan hiếm những trạm kiểm tra thử nghiệm di động ấy.

Các khẩu đội tên lửa phòng không Việt Nam thường xuyên vi phạm các quy tắc bắn, theo đó lần lượt bắn 2 - 4 quả tên lửa vào mục tiêu trên không. Rõ ràng các bạn Việt Nam đã tiết kiệm tên lửa, cho nên nhiều khi chỉ bắn quả tên lửa thứ hai sau khi quả tên lửa thứ nhất được phóng đi không đem lại kết quả. Với phương pháp bắn như vậy, các khẩu đội nhiều khi đã không kịp phóng quả tên lửa thứ hai hoặc thứ ba vào mục tiêu. Trong khi ấy mục tiêu đã thoát khỏi tầm bắn và bổ nhào bắn phá chúng ta.

Các chuyên gia Liên Xô đã dứt khoát yêu cầu tuân thủ các đòi hỏi ấy của quy tắc bắn. Các bạn Việt Nam đã đồng ý nhưng họ vẫn tiếp tục tiết kiệm tên lửa. 

Điều đáng trân trọng ở các bạn Việt Nam là họ bảo vệ đến mức tối đa các chuyên gia nước ngoài. Các chuyên gia quân sự Liên Xô bị tổn thất tương đối ít. Sau khi có được kinh nghiệm cần thiết, các bạn Việt Nam thường tiến hành các trận đánh một cách độc lập. Và trong khi diễn ra trận chiến đấu họ đã cố gắng che chở và bảo vệ các chuyên gia quân sự Liên Xô. Tôi cảm nhận rõ điều này qua bản thân tôi. Trong những lúc làm việc tại trận địa đã xảy ra những trường hợp các tiểu đoàn bất ngờ vào trận để đánh trả các cuộc tấn công đã được trông đợi. Những trường hợp ấy chúng tôi lập tức được đưa xuống các đường hào hoặc vào hang núi. 
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #264 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2009, 01:46:38 pm »

Các bạn Việt Nam có thái độ thế nào với chúng tôi? Không thể đưa ra cùng một câu trả lời được. Tại các cuộc gặp chính thức, bề ngoài họ tỏ thái độ quý trọng và quan tâm. Sau khi chúng tôi tới Hà Nội, Bộ Quốc phòng của Việt Nam Dân chủ cộng hòa tổ chức buổi đón tiếp long trọng. Thứ trưởng Bộ Quốc phòng đã tới dự. Tất cả 12 chuyên gia thuộc nhóm chúng tôi và 30 chuyên gia công nghiệp quân sự Liên Xô đều được mời tới buổi đón tiếp ấy. Trong buổi đón tiếp này cũng có mặt vị Trưởng đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô tại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Tướng N. C. Mácximencô.

Đã có những lời chúc rượu, những bài diễn văn của cả hai phía. Phía Việt Nam tuyên bố chắc chắn về thắng lợi sắp tới cảm ơn Liên Xô, toàn thể nhân dân Liên Xô về sự giúp đỡ. Phía Liên Xô đã hứa không tiếc sức lực và thời gian trong việc thúc đẩy đạt đến thắng lợi trước chủ nghĩa đế quốc Mỹ.

Mặc dù hoàn cảnh thời chiến, nhưng bộ chỉ huy của Việt Nam đã thường xuyên quan tâm đến đời sống và sự nghỉ ngơi của chúng tôi. Cứ mỗi tháng một lần chúng tôi được tổ chức đi tham quan thành phố Hà Nội và các vùng phụ cận của thành phố. Người ta cũng không quên làm công tác tư tưởng với chúng tôi. Theo định kỳ, chúng tôi được mời nghe những buổi thuyết trình về những chiến công anh hùng của nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống Pháp và chống Mỹ. Tại Hà Nội đã tổ chức cuộc triển lãm thường xuyên được bổ sung các hiện vật, tại đây đã trưng bày các phương tiện của không quân Mỹ bị tiêu diệt. Chúng tôi đã xem triển lãm với một sự quan tâm lớn.

Việc đi nghe các buổi thuyết trình luôn luôn được đặt dưới sự giám sát của các cán bộ chính trị thuộc bộ máy của Trưởng đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô. Các cán bộ chính trị này đòi hỏi tiến hành các buổi thuyết trình và các buổi hội thảo trong nhóm chuyên gia chúng tôi về công tác bồi dưỡng chủ nghĩa Mác - Lênin. Đành phải sử dụng thời gian buổi tối của cá nhân vào công việc này. Không thiếu các sách báo chính trị. Ở mỗi khách sạn đều có góc đỏ có các tờ báo, tạp chí, trong đó có tạp chí Người cộng sản, Đảng viên cộng sản trong các lực lượng vũ trang. Nhưng trong góc đỏ lại chỉ có vài cuốn phim của Liên Xô. Chúng tôi đã xem đi xem lại vài lần những cuốn phim ấy. Vậy là cả ở Việt Nam công tác giáo dục chính trị của chúng tôi vẫn được tiếp tục. Các cán bộ chính trị đã chứng minh rằng họ không vô dụng. Họ đã hoàn toàn chứng tỏ sự hiện diện của mình ở Việt Nam là hợp lý.

Trong ngày diễn ra các buổi sinh hoạt chính trị của Việt Nam, hoạt động của phòng thí nghiệm chúng tôi thường bị ngừng trệ. Lưới điện thì bị ngắt hoặc trạm phát điện cục bộ ngừng hoạt động. Những cố gắng triệu tập thợ vận hành máy điêden đang tham gia các buổi sinh hoạt chính trị là vô hiệu. Về sau tôi đã không có những cố gắng như vậy nữa.
Phải nêu rõ rằng ban lãnh đạo chính trị và bộ chỉ huy quân sự của Liên Xô đã thường xuyên dành sự quan tâm đến cuộc chiến tranh Việt Nam.

Để soạn thảo một trong số những văn bản về Việt Nam, tôi đã có bản sao bức thư riêng của L.I. Brêgiơnhép gửi Tổng Bí thư Đảng Lao động Việt Nam Lê Duẩn. Trong bức thư này ông Brêgiơnhép thông báo cho biết các quân nhân Việt Nam không phải lúc nào cũng trao đầy đủ cho các chuyên gia quân sự Liên Xô những tài liệu đã thu thập được về tác động của các hình thức gây nhiễu bằng sóng vô tuyến điện đối với các bộ khí tài tên lửa phòng không của Liên Xô. Tình trạng này không cho phép đưa ra những biện pháp kịp thời nhằm nâng cao hiệu quả của các bộ khí tài ấy. Bức thư ấy đã có tác dụng nhất định.

Tổng Tư lệnh Binh chủng phòng không Liên Xô, Nguyên soái P. V. Batixki đã đích thân có mặt tại Việt Nam và đã đề ra tại chỗ những biện pháp cần thiết để giải quyết những nhiệm vụ cấp bách.

Hoạt động của tất cả các chuyên gia Liên Xô ở Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đều được Sứ quán Liên Xô kiểm soát và chỉ đạo. Đại sứ Liên Xô tại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Sécbacốp triệu tập tôi đến để nghe tôi thông báo về công việc: về quan hệ với phía Việt Nam.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #265 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2009, 01:47:46 pm »

Các bộ trưởng, những nhân vật quan trọng khác cũng đã đến Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Tôi còn nhớ cuộc viếng thăm Việt Nam của bà E. A. Phuốcxêva, nguyên Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, Bộ trưởng Văn hóa Liên Xô. Tình huống đưa đẩy khiến tôi đã có dịp được báo cáo với bà về công tác của mình.
Chuyện là thế này. Sau khi chúng tôi hoàn thành nhiệm vụ, bộ chỉ huy quân sự của Việt Nam đã mời nhóm chúng tôi và nhóm chuyên gia công nghiệp quân sự Liên Xô nghỉ 3 ngày tại khu an dưỡng ở gần Hải Phòng, trên bờ vịnh Hạ Long huyền thoại.

Đến tối, vào giờ ấn định, chúng tôi đến phòng ăn để dùng bữa tối. Ở chính giữa phòng ăn, phía sau những chiếc bàn đã được xếp lại với nhau là một nhóm các bạn Việt Nam và các cán bộ Sứ quán Liên Xô đã ngà ngà hơi men.

Bà Phuốcxêva ngồi ở giữa. Chúng tôi ngồi ở chỗ dành cho chúng tôi, phía đối diện với bà Phuốcxêva. Bà nhìn chúng tôi, trò chuyện với vị đại diện của Sứ quán, hình như bà hỏi xem chúng tôi là ai. Vài phút sau bà đứng dậy và tiến về phía bàn chúng tôi. Tôi đứng dậy, tiến lại phía bà, tự giới thiệu, báo cáo với bà về thành phần nhóm chúng tôi, mục đích chuyến công tác của chúng tôi và lý do chúng tôi có mặt ở nơi này. Sau khi nghe tôi báo cáo xong, bà bắt đầu hỏi về quan hệ của các bạn Việt Nam với chúng tôi sinh hoạt của chúng tôi được đảm bảo như thế nào. Tôi trả lời rằng trong hoàn cảnh chiến tranh, cuộc sống của chúng tôi như vậy là hoàn toàn bình thường, chúng tôi không gặp phải những sự thiếu thốn lớn. Quan hệ giữa chúng tôi và phía Việt Nam mang tính chất cầu thị. Cuộc trao đổi diễn ra khoảng 15 phút. Sau đó bà Phuốcxêva vào ngồi sau chiếc bàn.

Sau đó một lúc, nhóm chuyên gia công nghiệp quân sự Liên Xô tới phòng ăn. Bà Phuốcxêva lại gần một người trong số họ, rồi hỏi họ là ai và họ làm công việc gì ở Việt Nam. Điều làm mọi người ngạc nhiên là: người được bà hỏi thì lại trả lời bằng câu hỏi: "Còn bà là ai?". Sau khi biết đây là những người công nhân, bà Phuốcxêva đã gọi một nhân viên quầy bar người Việt và yêu cầu mang đến bàn của các chuyên gia công nghiệp quân sự Liên Xô 5 chai rượu mạnh và bà sẽ thanh toán tiền cho 5 chai rượu ấy.

Sau khi bữa tối kết thúc, phiên dịch viên của chúng tôi đã mời toàn thể nhóm chúng tôi đến câu lạc bộ để tham dự buổi biểu diễn văn nghệ nghiệp dư của các bạn Việt Nam chào mừng bà Phuốcxêva.

Tôi còn có hai dịp được gặp bà Phuốcxêva tại Việt Nam. Trước khi lên máy bay rời Hà Nội, bà Phuốcxêva đã đến câu lạc bộ của Sứ quán để gặp gỡ với các nhà ngoại giao và với các chuyên gia Liên Xô. Tại cuộc gặp mặt ấy bà đã trả lời các câu hỏi của mọi người.

Tôi lại có dịp được gặp bà Phuốcxêva một lần nữa. Chúng tôi rời Hà Nội trên cùng một chuyến máy bay với bà. Chặng dừng chân đầu tiên là Mianma. Tại đó bà Phuốcxêva đã rời sân bay. Chắc đó cũng là một chuyến viếng thăm chính thức.
Sau chuyến đến thăm Việt Nam bà Phuốcxêva sống không được bao lâu nữa. Chắc là công việc quá nặng nhọc đã làm suy sụp cơ thể bà. Ngay trong những lần được gặp bà, tôi đã chú ý đến vẻ mặt mệt nhọc và đau yếu của bà đầy những nếp nhăn, mặc dù ngày trước bà là người phụ nữ rất đẹp.

Các nhà hoạt động nổi tiếng trong lĩnh vực văn hóa cũng đã đến thăm Việt Nam. Tại Việt Nam lần đầu tiên tôi đã được tham dự cuộc gặp gỡ của giới sáng tác với nhà thơ nổi tiếng Épghênhi Éptusencô.

Cuộc gặp mặt này đã để lại ấn tượng lớn và có tác động tình cảm mạnh mẽ đối với mọi người. Nhà thơ Éptusencô đã rất hào hứng đọc các bài thơ của mình. Ông đã kể về những sự truy bức mà ông đã phải gánh chịu vì những phát biểu chân thành của mình, về những trở ngại trong việc in ấn những bài thơ của ông.

Trong thời gian ngắn ngủi có mặt tại Việt Nam, nhà thơ này đã viết được một số bài thơ tuyệt vời. Tôi đặc biệt thích bài thơ Bánh mì đen. Trong bài thơ này ông mô tả các chuyên gia Liên Xô đã mang sang Việt Nam bánh mì đen như là món quà quý báu nhất.

Trong bài thơ Đường số 1, nhà thơ mô tả những chiến tích anh hùng của nhân dân Việt Nam trong việc đảm bảo công tác vận chuyển hàng hóa, kỹ thuật, và bộ đội từ miền Bắc vào miền Nam Việt Nam.
.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #266 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2009, 01:48:31 pm »

Công việc của nhóm tôi đã tới hồi kết thúc. Mặc dù gặp một loạt khó khăn về phương diện tổ chức - kỹ thuật, song nhiệm vụ đã hoàn thành. Đã mở đầu giai đoạn quan trọng là chuẩn bị và ký biên bản hai bên về những công việc đã được thực hiện.

Trước khi lên đường trở về nước, toàn thể nhóm chúng tôi đã được mời tới dự buổi chiêu đãi tại Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam. Trong buổi chiêu đãi này chúng tôi được trao tặng các Huy chương Vì tình hữu nghị và tình đoàn kết trong đấu tranh, các huy hiệu kỷ niệm “Chiến thắng trận đầu - 5-8" - để ca ngợi chiến công của bộ đội tên lửa Việt Nam tiêu diệt chiếc máy bay đầu tiên của Mỹ (ngày 5-8-1964), cũng như các quà tặng kỷ niệm - những bức tranh sơn mài truyền thống của Việt Nam.

Trong buổi tiếp đón này, các bạn Việt Nam đã chân thành cảm ơn chúng tôi về công sức lao động và sự giúp đỡ đã dành cho họ. Họ đã xin lỗi vì trước ngày tôi lên đường họ chưa kịp đề nghị Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tặng thưởng cho tôi Huân chương Chiến công.

Tháng 4-1972 tôi cùng nhóm của mình đã đáp máy bay về Mátxcơva.

Các phương tiện kỹ thuật của phòng thí nghiệm của chúng tôi, do 2 sĩ quan tháp tùng, đã được tàu biển chuyển từ Hải Phòng về nước. Trong lúc bốc xếp các phương tiện của phòng thí nghiệm lên tàu thì cảng Hải Phòng bị ném bom. Chiếc tàu biển đã bị hư hại, một bộ phận thiết bị của phòng thí nghiệm cũng đã bị hư hại.

Đã hơn 30 năm trôi qua kể từ ngày trở về từ Việt Nam. Nhưng cho đến nay có nhiều sự kiện và sự việc vẫn còn lưu lại trong ký ức.

Tôi mãi mãi nhớ đến nước Việt Nam của những năm chiến tranh: các chị phụ nữ mặc quần đen và những chiếc áo nâu. Còn vào những ngày lễ thì y phục sang trọng của họ vẫn là chiếc quần màu đen nhưng chiếc áo thì màu trắng. Thường thường họ đi chân đất. Loại dép phổ biến nhất là loại dép tự tạo: đế cao su làm từ vỏ lốp ôtô cũ, còn quai dép thì làm từ những chiếc săm ôtô.

Lao động thủ công cực nhọc. Chị em làm việc trên các đồng lúa, gần như ngập trong nước đến thắt lưng, họ cấy lúa. Hầu như không trông thấy máy cày. Trâu được sử dụng để cày, bừa. Người ta dùng đòn gánh và những chiếc thúng để quẩy hàng. Mọi công việc được thực hiện dưới cái nóng làm kiệt sức và độ ẩm 100%.

Ăn uống thật đạm bạc. Khẩu phần điển hình gồm rau bắp cải và ít cơm. Các ngôi nhà trong làng chủ yếu làm bằng tre. Mái lợp bằng lá cọ hoặc bằng rơm rạ. Trong nhà đồ dùng là những chiếc giường chõng trải chiếu.

Tôi hiểu, nguyên nhân chủ yếu của cảnh sống như vậy là chiến tranh. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phấn đấu thống nhất Bắc Nam bằng cái giá phải trả là những tổn thất to lớn về người, những khổ đau của nhân dân.

Sau khi trở về nước, tôi vẫn tiếp tục nghiên cứu đề tài Việt Nam tại Bộ Tổng tham mưu. Mấy tháng sau từ Hà Nội người ta đã gửi cho tôi, như đã hứa, tấm Huân chương Chiến công hạng III.

Cần nói rõ rằng những sĩ quan đã trải qua kinh nghiệm chiến đấu ở Việt Nam nhiều khi đã được cử giữ chức vụ cao hơn.
Không lâu sau khi trở về nước, người ta đã thuyên chuyển tôi từ Ban đặc biệt - tại đây tôi đã giữ chức vụ Trung tá theo biên chế - sang công tác tại Bộ tham mưu Binh chủng tên lửa phòng không Liên Xô với chức vụ tương ứng với quân hàm đại tá. Tôi bắt đầu nghiên cứu các vấn đề nội bộ của Binh chủng tên lửa phòng không. Nhưng kinh nghiệm về Việt Nam được tôi luôn luôn sử dụng trong thời gian phục vụ sau này trong quân đội.

…
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #267 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2009, 01:49:38 pm »

Sau 30 năm tình hình trên thế giới đã thay đổi đến mức không thể nhận ra được. Tình hữu nghị không gì phá vỡ được giữa các nước xã hội chủ nghĩa đã bị phá vỡ. Phe xã hội chủ nghĩa đã sụp đổ. Còn nước Mỹ thì từ chỗ là "kẻ thù độc ác nhất của nhân dân Liên Xô" đã trở thành "đối tác làm ăn”. Các tổng thống của hai nước đã gần như trở thành bạn hữu. Còn chúng tôi, các cựu chiến binh của Nga và Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt Nam, trong những năm gần đây đôi khi có gặp gỡ nhau ở Mátxcơva. Xin hãy chú ý: cho đến nay họ vẫn kiêu hãnh đeo những tấm huân chương mà họ được tặng vì Việt Nam. Giờ đây chúng tôi không coi nhau là kẻ thù, ngắm nhau qua thước ngắm trên đầu súng và qua các màn hình ra đa, mà đã ngồi cùng nhau chung những chiếc bàn như những người bạn, như là những con người bình thường đã từng trải qua chiến tranh. Chúng tôi bắt tay nhau, tặng quà kỷ niệm và chúc rượu lẫn nhau.

Chúng tôi cùng nhau thảo luận đề án hợp tác xuất bản cuốn sách: “Hồi ức của các cựu chiến binh Nga và Mỹ về cuộc chiến tranh Việt Nam”. Nhưng những đề án ấy đã bị thất bại. Người Mỹ có nguyện vọng và tiền bạc. Chúng tôi thì chỉ có nguyện vọng. Người Mỹ có khả năng trông cậy vào các tổ chức cựu chiến binh của mình và vào nguồn tài chính của cá nhân để vượt đại dương đến với chúng tôi, mời chúng tôi tới dự bữa ăn thân mật tại nhà hàng.

Còn tổ chức của chúng tôi thì tồn tại chỉ nhờ vào số tiền đóng góp của cá nhân các cựu chiến binh. Những khoản chi chủ yếu của những khoản đóng góp ấy là để mua những vòng hoa viếng các đồng chí của chúng tôi qua đời hàng năm - những cựu chiến binh tham gia chiến tranh việt Nam - và để mua những món quà khiêm tốn tặng các bạn cựu chiến binh còn sống nhân ngày sinh của họ.

Mục đích chủ yếu của các cựu chiến binh Mỹ khi thực hiện các chuyến sang thăm chúng tôi là tìm kiếm tin tức và tài liệu về các đồng đội của mình đã hy sinh hoặc đã mất tích tại Việt Nam. Xin nêu ra đây một ví dụ. Ngày 30-6-1997 tôi và những cựu chiến binh khác đã được mời đến Cung sĩ quan của Binh chúng phòng không để gặp gỡ với nhóm cựu chiến binh Mỹ đã tham gia chiến tranh Việt Nam, do ông Rô bớt Mít thượng nghị sĩ bang Niu Hem sơ dẫn đầu. Ông Rô bớt Mít còn là đồng Chủ tịch ủy ban Liên chính phủ Nga Mỹ về tìm kiếm tù binh và những người mất tích.

Các cựu chiến binh Mỹ chăm chú tìm hiểu các hiện vật trưng bày trong Bảo tàng. Tại đây có một mảng hiện vật không lớn liên quan đến cuộc chiến tranh Việt Nam. Nhìn vào mảng hiện vật thì khó có thể hiểu được và đánh giá được toàn diện sự tham gia và sự đóng góp của các quân nhân chúng tôi vào thắng lợi của Việt Nam.

Trong khi xem Bảo tàng, các cựu chiến binh Mỹ luôn luôn đề nghị: xin hãy kể và hãy cho xem mọi tài liệu và hiện vật liên quan đến tin tức về các phi công Mỹ. Trong bảo tàng này, chúng tôi không có những tài liệu ấy và không thể có những tài liệu ấy. 

Sau cuộc tham quan Bảo tàng, các cựu chiến binh Nga và Mỹ lại tiếp tục cuộc gặp mặt. Thượng nghị sĩ Rô bớt Mít đề nghị chúng tôi, trong các bài phát biểu, hãy đặc biệt chú ý đến vấn đề: liệu chúng tôi có những tin tức gì về các phi công Mỹ bị bắn rơi và mất tích ở Việt Nam, và tại Việt Nam chúng tôi có gặp những phi công Mỹ ấy không.

Vị thượng nghị sĩ ấy đề nghị tôi phát biểu trước tiên. Tôi nói rằng chưa hề trông thấy các phi công Mỹ bị bắt, nhưng đã nhìn thấy những buồng giam họ khi họ là tù binh ở Việt Nam. Họ đề nghị tôi mô tả địa điểm có những buồng giam ấy. Sau đó tôi đã chia sẻ những kết luận của mình về cuộc chiến tranh ấy. Vị thượng nghị sĩ ấy đã chăm chú nghe các bài phát biểu của tất cả các cựu chiến binh chúng tôi.

Các vị nghĩ rằng ở đất nước chúng ta có ai đó quan tâm đến chúng tôi? Chỉ mãi đến năm 1990, 18 năm sau khi từ Việt Nam trở về Tổ quốc, tôi mới nhận được "Giấy chứng nhận quyền hưởng các ưu dãi" vì đã tham gia chiến đấu tại Việt Nam. Về cơ bản tất cả những ưu đãi đều mang tính chất thuần tuý tượng trưng. Còn những ưu đãi thật sự thì không được thực hiện. Ví dụ, người ta đã chấm dứt việc phát thuốc miễn phí tại các hiệu thuốc ở Mátxcơva. Không ai hoàn trả tiền cho các hiệu thuốc. Vậy mà tất cả các căn bệnh của tôi lại được phát hiện tại phòng khám bệnh đầu tiên sau khi tôi từ Việt Nam trở về. Tôi nghĩ rằng đây không phải là sự trùng hợp ngẫu nhiên. Khí hậu khắc nghiệt, sự căng thẳng về thể xác và tinh thần đã dẫn đến hậu quả của nó.

Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #268 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2009, 01:49:46 pm »

Để nhận được "Giấy chứng nhận quyền hưởng các ưu đãi” thì đã phải có những nỗ lực to lớn của vị Cựu Trưởng đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô tại Việt Nam là Thượng tướng V. N. Abramốp. Chỉ có nhân vật này, trước kia đã từng giữ chức Phó Tổng Tư lệnh Binh chủng phòng không của Liên Xô, mới có thể hóa giải mọi trở ngại quan liêu của các quan chức trong Bộ Tổng tham mưu, yêu cầu làm thủ tục và trao cho tôi "Giấy chứng nhận quyền hưởng các ưu đãi" và huy hiệu "Chiến sĩ quốc tế chủ nghĩa".

Tướng V. N. Abramốp đã có đóng góp to lớn vào việc thành lập tổ chức xã hội các cựu chiến binh tham gia chiến tranh Việt Nam, đảm bảo sự hoạt động của tổ chức này, tổ chức và tiến hành tất cả các cuộc gặp mặt của chúng tôi, kể cả với các cựu chiến binh Mỹ. Mặc dù giữ cương vị và quân hàm cao, nhưng ông luôn luôn đối xử với chúng tôi như các đồng nghiệp. Chúng tôi đã nhiều lần đến thăm ông tại nhà riêng.

Đáng tiếc là năm 1994 ông đã qua đời. Mong rằng những ký ức của tôi về ông sẽ là phần nhỏ trong sự quý trọng to lớn và sự biết ơn của tất cả các cựu chiến binh tham gia chiến tranh Việt Nam dành cho ông.

Trước mặt tôi là bản phụ lục của Đạo luật liên bang "Về các cựu chiến binh", được Đuma quốc gia thông qua ngày 16-12-1994. Bản Phụ lục này đã liệt kê các quốc gia và các thời kỳ diễn ra chiến sự ở nước ngoài có sự tham gia chiến đấu của các công dân Liên bang Nga. Bản liệt kê này nêu lên 17 quốc gia mà trên lãnh thổ những quốc gia ấy, vào những thời kỳ khác nhau, các quân nhân nước Nga đã từng tham chiến. Đó là Tây Ban Nha, Trung Quốc, Triều Tiên, Mông Cổ, Angiêri, Ai Cập, Yêmen, Việt Nam, Xyri, Ănggôla, Môdămbích, Êtiôpia, Ápganixtan, Campuchia, Bănglađét, Lào, Libăng.

Những cuộc chiến tranh kéo dài nhất là cuộc chiến tranh ở Ápganixtan (hơn 10 năm) và cuộc chiến tranh ở Việt Nam (13 năm).

Bắt đầu từ năm 1970 cho đến tận bây giờ, hàng năm vào Ngày đáng ghi nhớ 5-8 (ngày 5-8-1964 - ngày Mỹ mở đầu cuộc xâm lược chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - được kỷ niệm tại Việt Nam như Ngày tưởng nhớ những người đã hy sinh trong cuộc chiến tranh ấy) chúng tôi lại tụ hội gặp nhau ở Mátxcơva.

Lúc đầu chúng tôi họp nhau tại Vườn hoa trước Nhà hát Lớn - dưới chân tượng đài Các Mác. Trước kia, những cựu chiến binh đến tham gia cuộc gặp mặt không chỉ gồm những cựu chiến binh đến từ Mátxcơva và tỉnh Mátxcơva, mà còn có cả các cựu chiến binh đến từ những vùng miền khác của Liên Xô.

Đến dự cuộc gặp mặt của chúng tôi còn có các cán bộ của Sứ quán nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cuộc gặp mặt có chương trình thật đơn giản: tổng kết hoạt động của tổ chức cựu chiến binh trong 1 năm qua, tưởng niệm các cựu chiến binh đã qua đời trong năm qua, chụp ảnh kỷ niệm, bữa ăn thân mật tại quán ăn hoặc nhà hàng.

Để kết thúc, tôi muốn bày tỏ nguyện vọng và niềm hy vọng rằng chúng ta và tất cả các thế hệ sau này được hưởng một cuộc sống không có chiến tranh lạnh và chiến tranh nóng. Mong rằng tất cả những cuộc chiến tranh đã qua đi sẽ lưu lại trong ký ức như những trang bi thảm trong lịch sử loài người.

Mong rằng trên các đường phố Hà Nội và Sài Gòn sẽ là những người dân Việt Nam đi trên xe đạp và xe gắn máy, chứ không phải là những người ngoại bang cưỡi trên xe tăng và xe bọc thép.

Mong rằng bên cạnh người dân Việt Nam sẽ là những khách du lịch người Nga, chứ không phải là các chuyên gia quân sự.
Thế giới cần có hòa bình, chứ không cần chiến tranh.
Thị trấn Đaria, ngày 12-2- 1998

Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #269 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2009, 04:33:45 pm »

ĐẠI TÁ
XÔDRANỐP ANATÔLI KHÁTGIMURATÔVÍCH

Phó tiến sĩ khoa học quân sự.

Ông sinh ngày 4-3-1939 tại thành phố Bacu, thuộc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xôviêt Adécbaigian.

Năm 1957 ông vào học tại Trường kỹ thuật không quân Kiếcxanốp và đã tốt nghiệp trường này năm 1960. Ông tiếp tục phục vụ trong quân đội với chức vụ chỉ huy trung đội, kỹ thuật viên trưởng của một tiểu đoàn tên lửa phòng không trong tỉnh Đônhét.

Từ năm 1963 đến năm 1968 ông theo học tại Học viện kỹ thuật vô tuyên điện mang tên Gôvôrốp thuộc binh chủng công binh tại thành phố Kháccốp. Sau khi tốt nghiệp Học viện, ông là chỉ huy phó, rồi chỉ huy trưởng đại đội kỹ thuật vô tuyến điện của tiểu đoàn tên lửa phòng không, phó chỉ huy, rồi chỉ huy tiểu đoàn tên lửa phòng không thuộc Quân khu phòng không Bacu, trưởng ban huấn luyện chiến đấu, Tham mưu trưởng Ban chỉ huy Phòng vệ dân sự thành phố Grôdnưi.

Từ tháng 12-1971 đến tháng 9-1972 ông đã tham gia chiến đấu tại Việt Nam, với chức vụ kỹ sư trưởng Ban công binh tên lửa thuộc Nhóm chuyên gia quân sự Liên Xô bên cạnh Bộ Tư lệnh phòng không - không quân của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Ông đã được tặng thưởng 10 huy chương, trong đó có Huy chương Chiến công và Huy chương Hữu nghị của Việt Nam. 
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM