Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 12:50:15 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chiến tranh Việt Nam là thế đó 1965 - 1973  (Đọc 146473 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #270 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2009, 04:34:30 pm »

300 NGÀY TRÊN ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM ANH HÙNG

Sáng ngày 3-12-1971 chúng tôi hạ cánh ở sân bay Hà Nội. Sau những ngày giá buốt ở Mátxcơva, Hà Nội đón chào chúng tôi bằng khí trời nóng bức. So với Mátxcơva thì mức chênh lệch nhiệt độ ở đây là hơn 50 độ. Ra đón chúng tôi có đại diện cấp Vụ thuộc Bộ Ngoại giao Việt Nam, Trung tá Hùng (Xyнr) và một Cán bộ chính trị thuộc Đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô tại Việt Nam, Trung tá G. G. Xaphrônốp. Trong buổi đón tiếp chúng tôi được tặng những bó hoa lớn và sặc sỡ đến kỳ lạ.

Chúng tôi được ngồi bên chiếc bàn, mời uống trà xanh. Chúng tôi kể về bản thân, về công việc phục vụ trong quân ngũ, về gia đình. Trung tá Hùng phác họa tóm tắt tình hình chính trị - quân sự ở Đông Dương, đặc biệt ở Việt Nam. Trung tá Hùng lưu ý rằng sắp tới Mỹ có thể bắt đầu ném bom trên toàn lãnh thổ Bắc Việt Nam. Vì vậy, sự giúp đỡ của chúng tôi sẽ hết sức cần thiết.

Tôi vừa nghe Trung tá Hùng, vừa nhìn vào cửa sổ, ngắm thiên nhiên và nghĩ: "Tại sao con người lại đánh nhau, tại sao lại huỷ diệt cảnh đẹp như thế, tại sao người ta lại ném bom lãnh thổ nước khác?".

Trong chuyến đi lần đầu đến các tỉnh phía nam của Bắc Việt Nam tôi đã nhìn thấy nhiều hố bom và hố đạn rốc két. Cũng có cả những hố bom mới xuất hiện - hậu quả của trận bom vừa xong.

Khi còn ở Liên Xô tôi đã đọc sách báo kể về nhân dân Việt Nam anh hùng, về cuộc chiến đấu gần 30 năm của họ để bảo vệ nền độc lập. Tôi khâm phục tinh thần anh hùng của người Việt Nam và đứng về phía họ. Vậy là giờ đây tôi đã đứng bên họ. Điều đã chinh phục tôi là tinh thần đoàn kết và chủ nghĩa yêu nước của nhân dân, lòng tin của nhân dân vào chiến thắng. Mặc dù miền Bắc Việt Nam phải đương đầu với cường quốc đế quốc hùng mạnh nhất, song điều tuyệt đối rõ ràng là Hoa Kỳ sẽ không bao giờ thắng trong cuộc chiến tranh này. Tôi đã đi đến kết luận như vậy sau mỗi cuộc trao đổi trò chuyện với những người dân Việt Nam.

Trong những chuyến công tác thường xuyên trên các nẻo đường của Việt Nam, chúng tôi được những tốp dân chúng đón tiếp. Chủ yếu đó là các chị phụ nữ, người già và những "đàn" rất đông các em nhỏ cởi trần luôn làm cho tôi nhớ đến ba đứa con của tôi ở quê nhà. Hễ có cơ hội là tôi luôn luôn đãi kẹo các em. Tôi rất thích ngắm trẻ em chơi đùa, cười và vui sướng với cuộc đời của chúng. Trước kia tôi chưa bao giờ được nhìn thấy những cánh rừng cây khuynh diệp, rừng nứa và chuối, các lâm trường trồng cao su những cây dừa, những cây mít, những đồi trồng dứa, và dĩ nhiên, cả những cánh rừng nhiệt đới. Tôi luôn luôn chiêm ngưỡng vẻ đẹp của thiên nhiên Việt Nam. Chính vì vậy mà tôi càng căm ghét chiến tranh. Tôi cho rằng cuộc chiến tranh tàn bạo và vô nhân ấy không thể không khiến những con người bình thường phải ghê tởm và căm ghét những kẻ đã gây ra cuộc chiến tranh ấy.

Tôi là con của một nông dân, vì vậy tôi cảm nhận được và gần gũi với những nỗi trăn trở của nông dân Việt Nam. Trong cái nóng không thể chịu nổi, suốt cả ngày dầm mình trong nước, với những chiếc nón lá của mình, bất chấp những cuộc ném bom bắn phá thường xuyên diễn ra, những người nông dân Việt Nam vẫn canh tác những ruộng lúa của mình để nuôi gia đình và quân đội.

Tôi đã hiểu vì sao những cô gái còn rất trẻ, với những chiếc cuốc và xẻng trong tay, đã xây dựng và khôi phục những con đường; vì sao có hàng trăm và hàng nghìn dân thường, thậm chí cả trẻ em, đã đến giúp xây dựng các trận địa mới cho các đơn vị tên lửa phòng không: họ đã dùng tay đắp các bức tường bao quanh các bệ phóng, họ chặt cây cối để xây các con đường dẫn vào trận địa.

Tôi thật sự khâm phục dân tộc Việt Nam vừa đánh trả những cuộc tấn công của không quân Mỹ, vừa tiếp tục lao động ngoan cường để hoàn thành các nhiệm vụ do Chính phủ đề ra.

Tất cả những điều đó khẳng định chân lý đúng đắn: chiến tranh đòi hỏi phải cống hiến toàn bộ sức lực, và toàn dân đứng lên bảo vệ Tổ quốc. Có thể nói không ngoa rằng lao động của công nhân và nông dân Việt Nam thực sự là chiến công, rằng nhân dân Liên Xô đã thể hiện chủ nghĩa anh hùng tập thể giống như vậy trong những năm tiến hành cuộc Chiến tranh vệ quốc vĩ đại. Chiến tranh đã làm thay đổi sâu sắc toàn bộ lối sống của người Việt Nam. Suốt 30 năm chiến tranh đã trở thành nội dung của cuộc sống. Lúc đầu, đặc biệt trong thời kỳ đầu, chúng tôi cảm thấy tâm lý của mình khó thích nghi với hoàn cảnh chiến tranh.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #271 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2009, 04:35:11 pm »

Tôi đã sống ở Việt Nam 300 ngày - từ tháng 12-1971 đến tháng 9-1972. Trong nhóm chuyên gia công trình tên lửa của chúng tôi có mặt các chuyên gia thuộc tất cả các hệ thống trong bộ khí tài tên lửa phòng không. Tôi rất trân trọng hồi tưởng về tất cả những đồng chí đã cùng tôi thực hiện nghĩa vụ quốc tế ở Việt Nam. Tất cả các chuyên gia ấy đều có trình độ đại học về kỹ thuật quân sự, họ hết sức giỏi trong nghiệp vụ của mình và là những bạn chiến đấu tốt

Tôi muốn nêu tên tất cả những người ngày ấy là thành viên trong nhóm chuyên gia công trình tên lửa làm việc trong Binh chủng phòng không - không quân Quân đội nhân dân Việt Nam: Trưởng nhóm - Trung tá Ghêoócghi Tikhônôvích Ôcốp, phó trưởng nhóm - Trung tá Vlađimia Aphanaxiêvích Baranốp, Thiếu tá Valentin Páplôvích Mascốp, Đại úy Anhít Iliaxôvích Ascarốp, Thiếu tá Anatôli Khátgimuratôvích Xôdranốp, Đại úy Vaxili Alếchxanđrôvích Lômốpxép, Thiếu tá Víchto Đimitơriêvích Macarôskin, Thượng úy Alếchxây Iacốplêvích Iacôvencô, Thiếu tá Vlađimia Nicôlaêvích Mukhin, Đại úy Nicôlai Nicôlaêvích Pôgrếpnhác, Thiếu tá Aphricantốp.

Trưởng nhóm chuyên gia quân sự Liên Xô về phòng không làm việc trong Binh chủng phòng không - không quân Quân đội nhân dân Việt Nam là Đại tá Ivan Stêpanôvích Pudanốp - một con người và một vị chỉ huy tuyệt vời, một con người hết sức đứng đắn, được chúng tôi quý trọng và rất dễ làm việc với ông.

Tham mưu trưởng của nhóm chuyên gia quân sự Liên Xô về phòng không là Đại tá Alếchxanđrơ Bôrixôvích Xôcôlốp - hoàn toàn trái ngược với nhân vật I.X. Pudanốp.

Nhóm chuyên gia quân sự phòng không có các nhiệm vụ chính dưới đây:

- Kiểm tra trạng thái kỹ thuật của vũ khí và tư thế sẵn sàng chiến đấu của bộ khí tài tên lửa phòng không;

- Khắc phục những hỏng hóc phức tạp trong các khí tài chiến đấu;

- Giúp đào tạo các khẩu đội chiến đấu;    

- Tiến hành các buổi lên lớp với tập thể đơn vị liên quan đến những sự hoàn thiện và những đặc điểm hiệu chỉnh máy móc sau những lần hoàn thiện;

- Giúp khôi phục các bộ khí tài tên lửa phòng không bị hư hỏng trong những cuộc bắn phá của không quân Mỹ;

- Cùng với các chuyên gia Việt Nam thuộc Phòng kỹ thuật của Binh chủng phòng không - không quân Quân đại nhân dân Việt Nam đã tiến hành phần tích những cuộc phóng tên lửa, phân tích các nguyên nhân khiến tên lửa bị rớt, và những biện pháp khác giúp nâng cao hiệu quả của các bộ khí tài tên lửa phòng không.

Từ những ngày đầu tiên có mặt ở Việt Nam nhóm chuyên gia công trình tên lửa chúng tôi - làm việc tại Phòng kỹ thuật của Binh chủng phòng không - không quân Quân đội nhân dân Việt Nam - chủ yếu đã hoạt động vào ban đêm, di chuyển vào các buổi sáng hoặc chiều tối, nghỉ ngơi vào buổi trưa kéo dài không quá bốn giờ.

Trên thực tế, chúng tôi đã vài lần đi xe xuyên suốt dọc ngang toàn bộ đất nước Việt Nam. Chúng tôi đã phối hợp chặt chẽ hoạt động với Phòng kỹ thuật của Binh chủng phòng không - không quân của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Chúng tôi đã có những quan hệ công việc chặt chẽ với các đồng chí Việt Nam. Họ tin cậy chúng tôi, còn chúng tôi thì cố gắng thực hiện trung thực nghĩa vụ quốc tế của mình. Tôi phải nói thật rằng gánh nặng chủ yếu trong công tác duy trì khả năng sẵn sàng chiến đấu cao của khí tài đã trút lên vai các nhóm chuyên gia quân sự Liên Xô làm việc trong các trung đoàn tên lửa phòng không và tất nhiên lên vai những quân nhân Việt Nam phục vụ trong các tiểu đoàn tên lửa phòng không. Có nhiều khi chính chúng tôi đã học tập ở các bạn Việt Nam kinh nghiệm sử dụng các bộ khí tài tên lửa phòng không trong chiến đấu trong một cuộc chiến thực sự chống lại một kẻ thù hết sức hùng mạnh - Hoa Kỳ.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #272 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2009, 04:36:09 pm »

Tôi muốn đặc biệt nhận xét rằng các sĩ quan và hạ sĩ quan Việt Nam rất chăm chỉ, được đào tạo không tồi trong việc sử dụng thực tế các bộ khí tài tên lửa phòng không.

Họ thành thạo, - như những cỗ máy, - trong việc thao tác các công việc được quy định, họ có thể, bằng trí nhớ, kể ra và chỉ ra bất kỳ điều mục nào, thuộc hết các thông số của mọi tín hiệu hoặc của mọi lệnh, nhưng họ lại hoang mang khi gặp phải một sự hỏng hóc phức tạp. Nhưng chỉ cần một lần chỉ ra và cho họ thấy bằng cách nào có thể loại trừ một sự hỏng hóc nào đó thì họ ghi nhớ rất lâu. Ngay cả các trắc thủ Liên Xô vận hành thiết bị không phải lúc nào cũng tỏ ra cần mẫn như vậy. Trong đội ngũ các sĩ quan Việt Nam có nhiều chuyên gia giỏi và thành thạo. Đa số họ đã học tại các trường quân sự ở Liên Xô.

Hầu như tất cả các sĩ quan chỉ huy và các chuyên gia đầu đàn đều nói thạo tiếng Nga. Điều này tạo điều kiện dễ dàng hơn cho công việc chung của chúng tôi.

Về phương diện chiến thuật, các đồng chí Việt Nam hành động một cách có hiểu biết, họ tổ chức các cuộc phục kích, đặc biệt ở các tỉnh phía nam. Họ xây dựng các trận địa trong rừng rậm để triển khai các bộ khí tài tên lửa phòng không trên những tuyến có nhiều khả năng bay qua nhất của không quân Mỹ. Sau khi triển khai bộ khí tài tên lửa phòng không tại trận địa mới, chúng tôi đã cùng với họ hiệu chỉnh bộ khí tài. Chỉ sau khi thực hiện xong khâu này mới phóng tên lửa vào tốp máy bay đánh phá.

Chiến thuật này tỏ ra đúng, vì họ đã tính đến tình hình là sau khi phóng tên lửa họ gần như không có cơ hội còn nguyên vẹn. Do vậy, tiểu đoàn phải di chuyển đến trận địa mới. Họ đã giải quyết nhiệm vụ này hết sức xuất sắc. Những ai phục vụ tại các bộ khí tài tên lửa phòng không X-75 thì đều biết rằng những bộ khí tài này rất cồng kềnh, thật vất vả mỗi khi thay đổi hướng quay của nó, đặc biệt ở trong các khu rừng rậm, trong điều kiện khí hậu nhiệt đới, nhất là trong mùa mưa.

Nhưng, điều làm chúng tôi ngạc nhiên là các bạn Việt Nam đã thực hiện việc này rất nhịp nhàng và nhanh chóng. Nhờ vậy đã bảo vệ được các bộ khí tài tên lửa phòng không, và điều chủ yếu nhất là bảo vệ được con người. Tôi luôn luôn khâm phục trước việc các chàng trai Việt Nam mảnh khảnh ấy đã chịu đựng được những tải trọng lớn không tưởng tượng nổi ấy.

Bắt đầu từ tháng 12-1971 không quân Mỹ càng ngày càng tăng cường độ những cuộc ném bom. Nếu trước đó chúng chỉ ném bom các cơ sở quân sự, thì từ giữa tháng 12 chúng bắt đầu ném bom các xí nghiệp công nghiệp, trường học, bệnh viện và các công trình thuỷ lợi. Chẳng hạn, ngày 27-12-1971 chúng ném bom một trường học (tỉnh Quảng Bình), có 30 em bị chết; ngày 28-12-1971 chúng ném bom một trường ở thôn Hưng Lộc (tỉnh Nghệ An) làm 3 em học sinh chết, 8 em bị thương.

Số tổn thất của phía Mỹ cũng tăng lên. Tôi xin đưa ra đây các số liệu về số máy bay bị bắn rơi do phía Việt Nam cung cấp, tính từ ngày 26 đến ngày 31-12-1971:

Ngày 26-12 có 5 máy bay bị bắn rơi,

Ngày 27-12 có 1 máy bay bị bắn rơi,

Ngày 28-12 có 3 máy bay bị bắn rơi,

Ngày 29-12 có 1 máy bay bị bắn rơi,

Ngày 31-12 có 7 máy bay bị bắn rơi.

Tháng 4-1972 không quân Mỹ đã dùng máy bay B-52 ném bom ồ ạt vào các khu đông dân của thành phố Hải Phòng và các tỉnh phía nam của Bắc Việt Nam. Trong những lần ném bom tiếp đó không quân Mỹ đã tiến hành ném bom rải thảm xuống các thành phố và làng mạc Việt Nam.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #273 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2009, 04:37:02 pm »

Không phải mọi chuyến đi công tác của chúng tôi đều không bị tổn thất. Ví dụ, vào đêm 25 rạng ngày 26-12-1971 nhóm chúng tôi chuẩn bị khí tài cho Tiểu đoàn 52 thuộc Trung đoàn tên lửa phòng không 267 để đánh trả các cuộc bắn phá của không quân Mỹ.

Tiểu đoàn 52 được triển khai ở phía nam thành phố Vinh.

Đến sáng, khẩu đội chiến đấu của tiểu đoàn tiến hành kiểm tra hoạt động của đài điều khiển tên lửa và cho đài này phát sóng. Trên màn hình xuất hiện các mục tiêu di chuyển về hướng thành phố Vinh. Lệnh báo động được phát ra. Các bệ phóng cho phát lệnh "khởi động đồng bộ".

Sau lần phóng tên lửa thứ nhất và thứ hai, các bạn Việt Nam bắt đầu đưa chúng tôi ra khỏi nơi triển khai của tiểu đoàn. Tôi và Thiếu tá V.Đ. Macarôskin dừng lại và bắt đầu quan sát xem các tên lửa được phóng đi như thế nào.

Bất ngờ có một tiếng nổ mạnh ở ngay bên cạnh. Chúng tôi ngã lăn ra đất, mọi vật chung quanh trở thành màu trắng. Có ai đó hét toáng lên rằng bọn Mỹ sử dụng vũ khí hóa học. Chúng tôi lại không có mặt nạ phòng độc.

Sau khi định thần lại đôi chút, chúng tôi bắt đầu đứng dậy và nhìn thấy đất và cây cối chung quanh đều bị phủ một lớp bột trắng; quả tên lửa "Sraicơ" tự tìm mục tiêu do máy bay Mỹ phóng xuống đã rơi trúng kho phân bón ở cách đài điều khiển tên lửa không xa.

Các bạn Việt Nam chạy tới và kêu to: “Đồng chí Víchto" và còn nói những câu gì đó nữa.

Anh Víchto Macarôskin nằm sóng soài trên mặt đất cách chỗ tôi không xa. Anh ấy bị thương - máu chảy từ lưng ra và từ phía ngực trái. Các bạn Việt Nam băng bó cho anh. Trong biên chế nhóm chuyên gia chúng tôi không có ngay cả một y sĩ, hiển nhiên là để tiết kiệm tiền. Cùng với các bạn Việt Nam, tôi và Thiếu tá Vlađimia Nicôlaêvích Mukhin đã đưa đồng chí Víchto đến bệnh xá xã tại một ngôi làng cách thành phố Vinh không xa và chúng tôi luôn có mặt bên cạnh đồng chí ấy. Các chuyên gia Liên Xô khác đã được các bạn Việt Nam đưa đến một nơi an toàn. Các bạn Việt Nam luôn luôn bảo vệ nhóm chuyên gia chúng tôi.

Tôi đặc biệt muốn nói rõ dân chúng địa phương đã có thái độ như thế nào về trường hợp bất hạnh này. Rõ ràng là đài phát thanh đã đưa tin một sĩ quan Liên Xô đã bị thương. Thế là chỉ một giờ sau đó hàng loạt các đoàn đại biểu đến trạm xá xã. Những đoàn đến trạm xá xã gồm có các em trong đội thiếu niên tiền phong và các thầy giáo, các bác nông dân và công nhân, các đại diện bộ chỉ huy Quân khu 4, các vị lãnh đạo thành phố Vinh. Họ bày tỏ sự cảm thông, mang hoa tặng cho người bị thương, đề xuất muốn giúp đỡ người chuyên gia bị thương ấy.

Tôi đặc biệt nhớ một phụ nữ đã đứng tuổi. Mặc dù đã có tuổi và sức khoẻ kém, nhưng người phụ nữ ấy vẫn gắng sức đến thăm người chuyên gia bị thương. Người ta nói với tôi rằng người phụ nữ ấy là một trong số những nữ du kích đầu tiên cầm súng đánh bọn thực dân Pháp. Người phụ nữ ấy đã được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh và có được một số phần thưởng chiến đấu. Đáng tiếc là tôi đã không ghi lại họ tên của người phụ nữ ấy.

Đồng chí Macarôskin vẫn tỉnh táo. Chúng tôi cảm ơn những người đã đến thăm, cảm ơn sự quan tâm và sự thông cảm của họ. Thế đấy, dân chúng Việt Nam đã dành sự quan tâm như vậy cho một đồng đội của chúng tôi bị thương. Tất cả họ đều nói những lời tốt đẹp về đất nước Liên Xô, bày tỏ lòng biết ơn về sự giúp đỡ trong cuộc chiến đấu chống quân xâm lược.
Viên bác sĩ trưởng của quân y viện Quân khu 4 đã đến trạm xá. Đó là Thiếu tá Trần Quang Vy (Чан Kyaнr Bий), nữ bác sĩ Trung uý Đào Thị Oanh (Дao Tий Oaнr), Các bác sĩ của Quân y viện Hà Nội, và cùng đến với họ còn có Đại tá Nicôlai Grigôriêvích Rômanốp - bác sĩ phẫu thuật thuộc Viện quân y Tasken.

Đến đêm thì V. Đ. Macarôskin được phẫu thuật. Đáng tiếc là người ta đã không lấy hết được tất cả các mảnh đạn ra khỏi cơ thể đồng chí ấy, vì không có máy chiếu X quang. Khi đồng chí Macarôskin tỉnh dậy sau gây mê, bác sĩ Rômanốp đã chìa cho anh ấy xem hai mảnh đạn đã được gắp ra khỏi cơ thể anh ấy, nhưng đã không nói gì về những mảnh đạn còn nằm lại trong cơ thể. 
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #274 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2009, 04:37:50 pm »

Đồng chí Macarôskin đã bình phục, cùng với chúng tôi đi công tác thêm nửa năm, hoàn thành tốt nghĩa vụ của mình, nhưng dần dần những cơn đau tăng lên vì các mảnh đạn đã bộc lộ. Vậy là anh ấy đã được chuyển về nước, về vùng ngoại ô Mátxcơva. Tại đó, đồng chí ấy còn trải qua 2 lần phẫu thuật. Nhưng vẫn không gắp được hết mảnh đạn, vì chúng nằm ở phần tim và trong thận. Đồng chí Macarôskin đã phục viên với quân hàm trung tá.

Tôi nghĩ, đồng chí ấy đã thể hiện chủ nghĩa anh hùng đích thực khi vẫn ở lại quân ngũ ngay cả sau khi bị thương. Vì chiến tích ấy, V. Đ. Macarôskin đã được tặng thưởng Huân chương Sao đỏ.

Tôi còn lưu giữ bức ảnh chụp chung với đồng chí ấy ở khách sạn Kim Liên, trong căn phòng của chúng tôi, sau khi Macarôskin bình phục. Trên tường của căn phòng ấy có treo tấm ảnh của vợ anh ấy.

Cũng còn lưu giữ cả tấm bản đồ Việt Nam do viên sĩ quan chỉ huy Tiểu đoàn tên lửa phòng không 52 tặng cho Macarôskin, tại nơi anh bị thương, trên bản đồ ấy có ghi số hiệu của Trung đoàn tên lửa phòng không.

Năm 2000 tôi đã chụp lại tấm bản đồ này, khi tôi đến thăm anh Víchto Đimitơriêvích tại thành phố Ôrêkhôvô - Duêvô, nơi cư trú của anh ngày ấy.

Tôi cũng không thể không nhắc đến Thượng uý Mikhain Brinđicốp. Vào trưa ngày 8-9-1972 anh ấy đã bị thương trong cuộc bắn phá và ném bom của không quân Mỹ vào trận địa của binh chủng tên lửa phòng không ở phía bắc Hà Nội. Khi chạy vào cánh rừng, anh đã rơi vào một địa hình trống trải, và khi chỉ cách bìa rừng vài chục mét, anh đã bị thương, vì anh đã lọt vào vùng bom bi.

Trong bom mẹ thường chứa đến 400 quả bom bi, trong mỗi quả bom bi con lại có đến 400 viên bi.

Sau lần thả bom bi mẹ, chiếc máy bay F-4 (“con ma") vòng lại, bổ nhào một lần nữa và thả quả bom mẹ thứ hai. Vậy là anh Bnnđicốp lại dính thêm hàng chục mảnh bom nữa. Tất cả các chuyên gia quân sự Liên Xô, các bạn Việt Nam đã hiến máu, nhưng đã không thể cứu được anh ấy. Anh Brinđicốp đã mất vào ngày 10-9-1972 tại Hà Nội do các vết thương. Sau 10 ngày, chúng tôi mới đưa quan tài kẽm đựng thi hài của anh lên máy bay để đưa về Liên Xô, vì 2 tuần lễ mới có 1 chuyến bay.

Tôi muốn kể thêm về những chuyến đi công tác của chúng tôi đến điểm tận cùng phía nam của Bắc Việt Nam. Do những cuộc ném bom ngày càng gia tăng cường độ, cho nên những chuyến đi của chúng tôi về phía nam đã diễn ra trong những điều kiện cực kỳ gian khổ. Không quân Mỹ bắt đầu ném bom ồ ạt không chỉ các thành phố và làng mạc, mà chúng còn ném bom, bắn phá cả các cây cầu và những tuyến đường chiến lược.

Chúng tôi càng di chuyển về phía nam theo con đường số 1 các bạn Việt Nam gọi đường số 1 là “con đường sống" - thì lại càng thường xuyên gặp những hố bom và hố đạn hoàn toàn mới xuất hiện.

Có hàng nghìn phụ nữ và các cô gái trẻ làm việc trong việc khôi phục những con đường vừa bị tàn phá và xây dựng những con đường mới. Một số người dùng trâu, bò và xe đạp thồ để chuyển đất đá, những người khác thì dùng tay đập vỡ những tảng đá ấy, số người còn lại thì dùng đòn gánh quẩy các sọt đựng đá dăm.

Chiếc xe "UAZ" của chúng tôi leo từ từ lên núi. Phiên dịch viên Tuấn (Tyaн) kể cho chúng tôi nghe về con đèo duy nhất trên đường số 1 - Đồng Lộc. Anh ấy cho biết bọn Mỹ ném bom con đèo này cả ngày lẫn đêm đã mấy năm liền. Chúng tôi hỏi anh: tại sao giờ đây máy bay Mỹ lại không ném bom con đèo này. Anh Tuấn mỉm cười và bảo rằng giờ này các phi công Mỹ đang nghỉ ăn trưa, sau giờ nghỉ trưa chúng sẽ tới.

Tôi đặc biệt còn nhớ các cô gái ngồi trên đỉnh một quả đồi. Các cô có nhiệm vụ quan sát các quả bom được máy bay thả xuống. Bọn Mỹ đã thả nhiều bom nổ chậm. Các cô gái ấy quan sát những quả bom đang rơi. Nếu chúng không nổ thì một cô gái phải chạy đến đó để đánh dấu chỗ quả bom rơi.

Mới đây, tại Cung Hữu nghị, nhân dịp kỷ niệm 28 năm Ngày toàn thắng của Việt Nam, các nghệ sĩ Việt Nam đã trình bày bài hát nói về những cô gái anh hùng ấy. Ngày nay ở ngã ba Đồng Lộc huyền thoại, người ta đã dựng một đài tưởng niệm. Vào thời kỳ ấy tôi đã có dịp 3 lần đi trên con đèo này.

Tôi còn lưu giữ những hồi ức tốt đẹp về Việt Nam, về dân tộc Việt Nam, về tất cả những người công dân nước chúng ta đã có mặt trong những ngày gian khổ ấy bên cạnh dân tộc anh hùng ấy. Tôi hy vọng rằng quan hệ hữu nghị truyền thống ấy sẽ được gìn giữ.
Khimki, ngày 18-5-2003
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #275 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2009, 04:38:44 pm »

THƯỢNG TƯỚNG
KHIUPÊNEN ANATÔLI IVANÔVÍCH

Ông là giáo sư tiẾn sĩ khoa học quân sụ. Ông sinh ngày 2515-1928 tại thành phỐ LêNIngrát, trong một gia đình công nhân.

Năm 1947 ông tốt nghiệp trường đào tạo pháo binh Lêningrát, năm 1950 ông tốt nghiệp Trường pháo binh Lêningrát số 2.

Năm 1961 ông tốt nghiệp Học viện sĩ quan pháo binh.

Ông đã trải qua cuộc đời phục vụ quân ngũ từ chức vụ chỉ huy trung đội đến chức vụ Tư lệnh tập đoàn quân phòng không độc lập, Tư lệnh Binh chủng tên lửa phòng không của Liên Xô.

Năm 1991 ông kết thúc cuộc đời phục vụ quân ngũ với chức vụ Giám đốc Học viện sĩ quan Cờ đỏ của Binh chủng phòng không Liên Xô mang tên Nguyên soái Giucốp.

Từ năm 1995 ông là Chủ tịch Hội đồng thông nhất Liên hiệp cựu chiến binh của Binh chủng phòng không.

Từ tháng 12-1972 đến tháng 1-1975 ông đã tham gia công cuộc giúp đỡ quốc tế dành cho nhân dân Việt Nam, với cương vị Trưởng đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô tại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Ông đã được tặng thưởng các Huân chương Cờ đỏ, Sao đỏ, Cờ đỏ Lao động, Vì phục vụ Tổ quốc trong các lực lượng vũ trang Liên Xô hạng II và hạng III, Huân chương Chiến công hạng I (của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) và 29 huy chương.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #276 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2009, 04:39:51 pm »

GIAI ĐOẠN KẾT THÚC CỦA CUỘC CHIẾN TRANH TRÊN KHÔNG

Những năm tháng qua đi nhanh chóng, và như lời một bài hát, chúng ta không kịp chạy theo - "...hết năm này lại đến năm khác cứ trôi đi". Vậy là hơn 30 năm đã trôi qua sau sự kiện có lẽ mang ý nghĩa tuyệt vời nhất trong cuộc đời tôi cuộc đời của một quân nhân chuyên nghiệp, của một chiến binh thuộc Binh chủng phòng không của đất nước chúng ta.

Xin kể theo trật tự..

Tháng 2-1972. Sở chỉ huy của quân đoàn độc lập thuộc Binh chủng phòng không. Những buổi huấn luyện. Tư lệnh tập đoàn quân này là Thượng tướng P. Ph. Sêvêlép đã dùng máy bảo mật chuyên dùng để trao đổi với Tổng tư lệnh Binh chủng phòng không Liên Xô, Nguyên soái Liên Xô P. Ph. Batixki, và cung cấp ý kiến nhận xét tốt về một người nào đó, đề nghị không đụng đến người sĩ quan ấy, hãy để sĩ quan ấy tiếp tục phục vụ trong tập đoàn quân này vì lý do là thời gian đảm nhiệm chức vụ còn chưa nhiều.

Sau khi kết thúc báo cáo, Tư lệnh tập đoàn quân Sêvêlép đưa tôi vào phòng làm việc của mình, truyền đạt quyết định của Tổng tư lệnh Binh chủng phòng không về việc phái tôi tham gia vào chuyến công tác đặc biệt - làm Trưởng đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô tại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và hỏi ý kiến tôi.

Bước ngoặt ấy trong cuộc đời phục vụ quân ngũ của tôi thật hoàn toàn bất ngờ.

Thứ nhất, tôi chỉ mới có 8 tháng (gồm cả thời gian nghỉ phép) ở chức vụ Phó Tư lệnh thứ nhất của Tập đoàn quân độc lập thuộc Binh chủng phòng không Liên Xô.

Thứ hai, chức vụ Trưởng Đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô tại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là chức vụ cực kỳ trọng trách không chỉ về phương diện quân sự, mà cả trên phương diện chính trị và là chức vụ được đảm nhiệm bởi các viên tướng của Binh chủng phòng không Liên Xô đã trải qua trường học to lớn là phục vụ quân đội với các chức vụ rất quan trọng và đã có kinh nghiệm của cuộc Chiến tranh vệ quốc vĩ đại. Tôi chỉ có thể đưa ra một câu trả lời: "Tôi sẽ không phụ sự tin cậy". 

Chúng tôi (tôi và vợ tôi, bà Valentina Pêtrốpna) đã trải qua đợt kiểm tra y tế, sau đó trải qua sự kiểm tra của Hội đồng quân sự của Binh chủng phòng không Liên Xô và qua những cấp có thẩm quyền khác.

Từ ngày 1-4 tôi theo học khóa học 3 tháng thuộc Học viện ngoại ngữ của quân đội. Tiện đây xin nói thêm, việc tổ chức các khoá học này là quyết định sáng suốt của vị Tổng tham mưu trưởng Các lực lượng vũ trang Liên Xô, Đại tướng V. G. Culicốp. Các khóa học này cung cấp những kiến thức cần thiết cơ bản về đất nước sẽ đến: chế độ nhà nước và chế độ chính trị, kinh tế, chính trị, lực lượng vũ trang, những đặc điểm về điều kiện địa lý, thiên nhiên và khí hậu, ngôn ngữ, v.v.. Những kiến thức này cần thiết ngay trong nhưng giờ đầu tiên có mặt tại nước sở tại, trong cuộc làm quen đầu tiên với những quân nhân dưới quyền.

Sau đó là nghỉ phép, 10 ngày nhận các chỉ thị và hướng dẫn tại Tổng cực 10 của Bộ Tổng tham mưu. Ngày 14-12-1972 tôi đáp máy bay sang Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Sau suốt một ngày đêm bay một mạch bằng máy bay IL-18 theo lộ trình Mátxcơva - Tasken - Đêli - Cancútta - Rănggun - Viêng Chăn - Hà Nội, đến sáng ngày 15-12 chúng tôi đã tới thủ đô của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Thành phố Hà Nội (sân bay Gia Lâm). Sau Mátxcơva đông giá thì ở đây cảm thấy ấm áp lạ thường và thậm chí có phần ngột ngạt, nắng chói chang.

Đã diễn ra cuộc đón tiếp ấm áp tại sân bay với các đại diện của Quân đội nhân dân Việt Nam, với Trưởng đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô, Tướng Mácximencô, làm thủ tục các giấy tờ, đi xe về Hà Nội. Trên dọc đường đi có dịp làm quen lần đầu tiên với hậu quả các cuộc ném bom của không quân Mỹ vào các vùng ngoại thành, các xí nghiệp, cây cầu bắc qua sông Hồng và vào các mục tiêu khác. Chúng tôi đã tận mắt nhìn thấy những hành động dã man của bọn thực dân mới Hoa Kỳ. Ngay từ những giờ đầu tiên có mặt ở Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, những gì được nhìn thấy đã buộc tôi phải đánh giá theo cách mới đối với quan niệm về cuộc xung đột vũ trang ở Đông Nam Á.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #277 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2009, 04:40:31 pm »

Chúng tôi thu xếp chỗ ở tại khách sạn. Sau đó là buổi giới thiệu tôi với vị Đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Liên Xô tại Hà Nội Ilia Xécghêêvích Sécbacốp, với tùy viên quân sự và với các cán bộ trong Sứ quán Liên Xô và của các nhóm đại diện. Cuộc làm quen với thành phần nhân sự trong bộ máy của Trưởng đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô. Đâu đâu cũng thấy bầu không khí thân thiện, cố gắng nói rõ tình hình (quân sự, chính trị, kinh tế) của Việt Nam và nói chung ở Đông - Nam Á. Đến tối Đại sứ tổ chức buổi đón tiếp nhỏ. .

Sang ngày hôm sau là cuộc gặp mặt với Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Thiếu tướng Phùng Thế Tài, sau đó ít lâu là cuộc gặp mặt với Tổng Tham mưu trưởng, Đại tướng Văn Tiến Dũng. Phía Việt Nam đánh giá cao các chuyên gia quân sự Liên Xô và bày tỏ lòng biết ơn về sự giúp đỡ dành cho nước Việt Nam anh em và bày tỏ mong muốn tiếp tục các truyền thống đó.

Ngày 17-12 đã diễn ra cuộc gặp với Tư lệnh Binh chủng phòng không - không quân của Quân đội nhân dân Việt Nam, Đại tá Lê Văn Tri và Chính ủy, Đại tá Hoàng Phương (Xoaнr Фыoнr). Tại buổi gặp này đã có sự đánh giá cao và cụ thể về hoạt động của các chuyên gia quân sự Liên Xô trong Binh chủng phòng không - không quân, đã đề cập đến khả năng những cuộc bắn phá của máy bay sẽ được tiếp tục trong những ngày tới đây và về quyết định đánh trả những cuộc bắn phá ấy. Sau đó bữa chiêu đãi cơm tối đã diễn ra trong bầu không khí thân mật. Trong buổi chiêu đãi này tôi đã được giới thiệu các món ăn Việt Nam và tôi đã thích những món ăn đó.

Buổi chiều tối (khoảng 19 giờ) ngày 18-12, trong lúc diễn ra cuộc tiếp đón của Bộ trưởng Quốc phòng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, đã vang lên còi báo động máy bay địch. Không quân Mỹ đã mở đầu chiến dịch trên không mang tên "Lainơ Bếchcơ - 2" bằng một trận bắn phá ồ ạt mà lực lượng nòng cốt của trận bắn phá này là những máy bay ném bom chiến lược B-52.

Bất giác tôi nhớ lại tháng 9-1941, Lêningrát, cuộc dội bom ồ ạt của không quân Đức vào thành phố thân yêu của tôi tiếng nổ của những trái bom, tiếng nổ vang dậy, những sự tàn phá. Thoạt đầu cảm thấy sợ. Còn giờ đây vẫn lại đứng dưới làn bom rơi, hơn nữa lại là những quả bom của một nước "văn minh" nhất thế giới. Những quả bom giờ đây có sức công phá lớn hơn nhiều so với những quả bom trong cuộc chiến tranh ngày trước. Có thể hình dung được những quả bom ấy gây nên những sự tàn phá như thế nào, nỗi khủng khiếp như thế nào đối với dân thường, những người dân hoàn toàn chẳng có tội tình gì.

Vào lúc 12 giờ ngày 19-12 chúng tôi đã sơ bộ tổng kết cuộc đánh trả của binh chủng phòng không - không quân của Việt Nam chống lại 3 cuộc đánh phá dữ dội ban đêm của không quân chiến lược. Tổng cộng đã bắn rơi 5 máy bay: 2 chiếc B-52, 2 chiếc F-4, 1 chiếc F-111.

Chúng tôi đã tiến hành phân tích cặn kẽ các hoạt động tác chiến, nêu lên những điểm tích cực cũng như những điểm thiếu sót trong hoạt động của sở chỉ huy và của các khẩu đội binh chủng phòng không - không quân, đưa ra những đề xuất, đặc biệt trong vấn đề điều khiển của các khẩu đội thuộc sở chỉ huy của các trung đoàn.

Thời kỳ phục vụ quân ngũ của tôi ở Việt Nam mở đầu như vậy. Đến nay, khi người ta hỏi tôi: "Đồng chí có những ấn tượng ban đầu như thế nào về thời gian có mặt ở Việt Nam?" thì tôi trả lời bằng một câu hỏi: Tại sao, trên cơ sở pháp lý nào mà ban lãnh đạo chính trị - quân sự của nước Mỹ lại quyết định gây ra cuộc chiến tranh chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, sử dụng những phương pháp man rợ chống lại nhân dân Việt Nam? Phải chăng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và nhân dân Việt Nam đã đe dọa nền độc lập của Hoa Kỳ, phải chăng họ có thể dùng biện pháp kinh tế và quân sự để xâm chiếm và nô dịch nhân dân Mỹ? Thật là điều ngu xuẩn, điên rồ. Những nguyên nhân và những nhân tố quyết định cuộc xâm lược của Mỹ ở Việt Nam lại nằm ở chỗ khác.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #278 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2009, 04:40:58 pm »

Thứ nhất, đó là những tài nguyên kinh tế, chính là các tài nguyên thiên nhiên (thiếc, chì, cao su, vàng, than đá, dầu mỏ, v. v.).

Thứ hai, đó là vị trí hết sức quan trọng về mặt chiến lược - quân sự của nước Việt Nam trong khu vực Đông - Nam Á. Cựu đại sứ Mỹ ở Sài Gòn - Cabốt Lốt - năm 1965 đã tuyên bố như sau:

"Ai nắm Việt Nam trong tay mình thì người ấy có cơ hội quyết định tương lai của Philippin và Đài Loan - ở phía đông, nắm được Thái Lan và Mianma với lúa gạo dồi dào - ở phía tây, nắm được Malaixia và Inđônêxia với nguồn cao su và thiếc - ở phía nam".

Đối với Mỹ, nếu để mất ảnh hưởng của mình tại các nước Đông Dương thì có nghĩa là bị mất đi chính trái tim của Đông - Nam Á và phá vỡ mắt xích trung tâm quan trọng nhất trong hệ thống to lớn các căn cứ quân sự mà Mỹ đã phủ lên các nước thuộc khu vực này của thế giới, như một mạng nhện.

Sau hết, đó là những nhân tố mang tính chất chính trị. Đông Dương là khu vực mà tại đó chủ nghĩa đế quốc Mỹ đã quyết định giáng đòn chủ yếu vào phong trào giải phóng dân tộc, bởi vì chính ở đây phong trào này có quy mô gây đe dọa cho chủ nghĩa đế quốc và có thể - bằng sức mạnh nêu gương của mình - khởi động tất cả những nước khác ở Đông - Nam Á.
Việt Nam (Đông Dương) là nơi xung đột giữa lợi ích của chủ nghĩa xã hội và những ý đồ xâm lược của chủ nghĩa đế quốc. Tướng Mỹ Taylo, sau này là Đại sứ Mỹ ở Nam Việt Nam, một trong số những kẻ khởi xướng gây ra cuộc xung đột quân sự này, đã từng tuyên bố. "Tại khu vực này chúng ta giao chiến với hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới và đặc biệt với phong trào giải phóng dân tộc. Nếu chúng ta bẻ gãy cổ người Việt Nam thì chúng ta bẻ gãy cổ được phong trào giải phóng dân tộc và làm cho các nước nhỏ phải sợ hãi".

Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là nước xã hội chủ nghĩa và cố gắng truyền bá những tư tưởng xã hội chủ nghĩa ra toàn cõi Việt Nam. Về phía mình, chính quyền Sài Gòn lại có tham vọng phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa. Như vậy, tại đây có sự đụng độ giữa những lợi ích của các nước lớn nhất trên thế giới (Liên Xô, Mỹ và Trung Quốc) và những lợi ích của chính các dân tộc ở Việt Nam.

Cuộc chiến tranh ở Việt Nam được mở đầu như một cuộc nội chiến (giữa Bắc và Nam). Hoa Kỳ đã ủng hộ chế độ Sài Gòn bù nhìn, đã khai thác mọi con đường gián tiếp để ủng hộ nó và tổ chức cuộc xâm nhập trực tiếp bằng quân sự vào Nam Việt Nam. Đồng thời chúng tiến hành việc này một cách trắng trợn. Về phần mình Liên Xô bắt đầu sự giúp đỡ toàn diện và ủng hộ toàn diện dành cho nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, về phương diện chính trị, kinh tế và quân sự.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #279 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2009, 04:41:36 pm »

Điều hợp lý là nhớ lại lịch sử cuộc xâm lược của Mỹ ở Đông Dương

Chủ nghĩa đế quốc Mỹ bắt đầu xâm nhập vào Đông Dương ngay từ ngày thực dân Pháp còn thống trị tại đó - trong thời kỳ nổ ra cuộc kháng chiến lần thứ nhất vào những năm 1946 - 1954. Dưới thời Tổng thống Tơruman nước Mỹ đã giúp bọn thực dân Pháp bằng những nguồn tài chính to lớn. Dưới thời Tổng thống Aixenhao, sự can thiệp mang những hình thức rõ rệt hơn: Mỹ đã hoàn toàn thay thế Pháp và tự đảm nhận vai trò trực tiếp mở rộng xâm lược. 

Ngay từ năm 1955 tại Sài Gòn đã thiết lập chế độ bù nhìn của Ngô Đình Diệm. Tên Ngô Đình Diệm đã đề nghị Mỹ đưa quân vào Nam Việt Nam. Năm 1962 số lượng quân nhân Mỹ ở Nam Việt Nam đã là 5.576 người, đến tháng 10-1963 đã lên đến con số 16,7 nghìn.

Năm 1963 Mỹ mở rộng chiến tranh ở Việt Nam. Các chiến hạm thuộc Hạm đội 7 của Mỹ bắt đầu tiến hành những vụ khiêu khích quân sự trực tiếp trong Vịnh Bắc Bộ. Những cuộc khiêu khích này, đến ngày 5-8-1965, đã biến thành những cuộc ném bom của không quân Mỹ đánh vào các mục tiêu trên bờ thuộc lãnh thổ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Tháng 5-1965 Mỹ đã đảm nhận thực hiện trực tiếp những hoạt động tác chiến chống lại Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, tăng cường áp lực quân sự trực tiếp lên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Vậy là đã bắt đầu cuộc kháng chiến lần thứ hai của nhân dân Việt Nam, nhưng giờ đây là cuộc kháng chiến chống chủ nghĩa đế quốc Mỹ. Năm 1968 tại Nam Việt Nam đã tập trung một khối lượng to lớn về lực lượng và phương tiện: 520 nghìn quân Mỹ, 59 nghìn quân của Ôxtrâylia, Nam Triều Tiên, Thái Lan. Ngoài ra, quân đội riêng của Sài Gòn có 750 nghìn người.

Mặc dù vậy, năm 1968 lực lượng của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, với sự giúp đỡ và ủng hộ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đã triển khai cuộc tấn công mạnh mẽ. Chính sách "bình định" đã hoàn toàn bị phá sản. Tại Pari, vào tháng 5-1968 đã bắt đầu diễn ra cuộc đàm phán. Từ ngày 1-11-1968 những cuộc ném bom bắn phá Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã chấm dứt (sau này được biết chỉ là tạm thời).

Tổng thống Níchxơn đề ra chủ trương mới, cái gọi là "học thuyết Guyam". Học thuyết Níchxơn là sự thể hiện tập trung những nguyên tắc của chủ nghĩa thực dân mới hiện đại. Trên phương diện chính trị - quân sự học thuyết này đề ra chiến lược mới đối với Đông Dương. Thực chất của chiến lược này là tiến hành chiến tranh chống Việt Nam bằng sức của chính người Việt Nam. Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn Bâncơ đã giải thích mục tiêu của "Việt Nam hóa" là “thay màu da của những xác chết".

Mặt khác, Oasinhtơn tìm cách rút một bộ phận quân Mỹ, "giảm chi phí" cuộc chiến tranh, làm dịu dư luận xã hội (từ tháng 1-1961 đến tháng 3-1973 Mỹ đã bị tổn thất ở Việt Nam hơn 57 nghìn nhân mạng, gần 2 nghìn người bị mất tích và hơn 300 nghìn người bị thương. Đây là số tổn thất lớn hơn 10 lần so với số tổn thất của Mỹ trong Chiến tranh thế giới thứ hai). Hy vọng chủ yếu nhằm vào việc vũ trang lại cho quân đội Sài Gòn bằng những ký thuật quân sự hiện đại. Trong hai năm "Việt Nam hóa" tổng quân số đã tăng lên thành 1.050 nghìn người.

Mỹ đã rút bộ binh, nhưng tăng cường lực lượng không quân và hạm đội. Từ năm 1969 đến năm 1972 Mỹ đã cung cấp cho chế độ Sài Gòn: 574 máy bay, 863 trực thăng, 580 xe tăng, 1200 khẩu pháo và súng cối, 60000 ôtô, 1800 xe vận tải bọc thép. Từ ngày 1-1- 1961 đến 27-1-1973 tổng cộng Mỹ đã chi phí cho cuộc chiến tranh Việt Nam 140 tỷ đô la.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM