Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:24:57 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Võ tướng trong lịch sử Việt Nam  (Đọc 77345 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Trần Anh
Thành viên
*
Bài viết: 318



« Trả lời #50 vào lúc: 23 Tháng Bảy, 2012, 11:31:49 am »

Thế mà các nhà làm phim nước ta chả dựng được bộ phim nào về danh tướng "Thủy tổ của Đặc công nước" Việt Nam này. Bột có rồi, sao không ai ra tay gột nên hồ nhẩy?

Lịch sử Việt Nam anh hùng hiển hách, nếu dựng được lại trên phim như nước ngoài (điển hình là Trung Quốc) thì là một điều rất tốt. Nhiều người muốn làm nhưng đa số thất bại hoặc chỉ thành công trong một góc nhỏ thôi. Nguyên nhân thì có quá nhiều: cơ sở vật chất, phim trường, kĩ thuật, vốn, ....

Mong sẽ có một ngày, qua màn ảnh nhỏ, người Việt Nam được đắm mình trong những câu truyện oai hùng của ông cha.

Hiện giờ thì chúng ta chỉ có thể làm một ít phim tài liệu như thế này thôi, mời các bác xem tạm:

Logged

As long as you love me. We could be starving, we could be homeless, we could be broke.
As long as you love me. I'll be your platinum, I'll be your silver, I'll be your gold...
 
Trần Anh
Thành viên
*
Bài viết: 318



« Trả lời #51 vào lúc: 23 Tháng Bảy, 2012, 10:52:06 pm »

Bảo Nghĩa vương_Trần Bình Trọng



Ta thà làm ma nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc!



Gia thế và xuất thân uẩn khúc

Trần Bình Trọng là danh tướng thời Trần, có công lớn hộ giá bảo vệ cho hai vua Trần (Trần Thánh Tông và Trần Nhân Tông) trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên-Mông lần thứ hai. Sau khi hi sinh, ông được truy phong làm Bảo Nghĩa Vương.
Chính chữ “Bảo” đứng đầu tước hiệu của Trần Bình Trọng như thế, đã mở ra con đường nhận hiểu được nhiều hơn về lai lịch vị anh hùng tử tiết lẫm liệt.
Bởi vì, dường như đã có một “quy luật” trong việc phản ánh tước hiệu của các quý tộc nhà Trần, mà chỉ cần căn cứ vào chữ đứng đầu của tước hiệu là có thể nhận ra thân phận (dòng dõi) của những người mang tước hiệu ấy. Chẳng hạn, ai có chữ “Chiêu” – như “Chiêu Minh đại vương” (Trần Quang Khải), “Chiêu Văn vương” (Trần Nhật Duật)… hoặc giả cả “Chiêu Quốc vương” (Trần Ích Tắc – kẻ đã đầu hàng để được nhận danh hiệu “An Nam quốc vương” của giặc) nữa – thì đó đều là con của Thái tông Trần Cảnh. Trong khi đó, con cháu của An Sinh vương Trần Liễu (anh ruột Thái tông Trần Cảnh), như: Trần Tung (tức: Tuệ Trung thượng võ – anh ruột Trần Quốc Tuấn) – “Hưng Ninh vương”, hoặc chính Trần Quốc Tuấn – “Hưng Đạo vương”, rồi các con của Trần Quốc Tuấn: Trần Quốc Nghiễn – “Hưng Vũ vương”, Trần Quốc Tảng – “Hưng Nhượng vương”, Trần Quốc Hiệu – “Hưng Trí vương”... thì đó đều là những người có chữ “Hưng” ở đầu tước hiệu cả. Theo “quy luật” này, đã nhận được ra: Trần Quốc Toản – “Hoài Văn hầu”, là thuộc dòng dõi Trần Bà Liệt – “Hoài Đức vương” (anh của Trần Liễu, Trần Cảnh, con chậm được thừa nhận của Trần Thừa – Thượng hoàng đầu tiên của nhà Trần).
Như thế, chữ “Bảo” (đứng đầu tước hiệu “Bảo Nghĩa hầu” và rồi “Bảo Nghĩa vương” của Trần Bình Trọng) có thể cho phép liên hệ (về mặt dòng dõi) người anh hùng mắng giặc tử tiết này, với một bậc tiền bối, cũng có chữ “Bảo” đứng đầu tước hiệu. Đó là Lê Tần – “Bảo Văn hầu”.
Vào thời gian cuối năm 1257, đầu năm 1258, ở cuộc kháng chiến lần thứ nhất chống quân xâm lược Mông Nguyên, đặc biệt là ở trận đánh lịch sử Bình Lệ Nguyên, Lê Tần là danh tướng và công thần số 1 của vua Thái tông Trần Cảnh. Chính vì thế, được Trần Thái Tông cho đổi gọi họ tên, thành “Lê Phụ Trần” (người họ Lê giúp nhà Trần) – bước chuyển hóa đầu tiên, mở đường cho việc sau đấy được “tứ quốc tính” (ban cho họ của vua), chuyển thành quý tộc họ Trần, với tước “Bảo Văn hầu”. Trong buổi chầu đầu năm Mậu Ngọ (1258) mừng chiến thắng, Bảo Văn hầu còn được nhận thêm cả đặc ân chưa từng thấy từ vua Trần Thái Tông: Được cưới công chúa Lý Chiêu Thánh, vốn đã là hoàng hậu “Chiêu Hoàng” của chính Thái tông Trần Cảnh (vào năm 1226, trước khi bị phế truất vào năm 1237, vì “tội” không sinh được con trai). Nhưng, khi “về” với Bảo Nghĩa hầu (Lê Phụ Trần) thì - ở tuổi đã 41- Lý Chiêu Thánh lại sinh hạ được một lúc hai con, trai và gái. Người con gái có hiệu là “Ứng Thụy công chúa”, sau được gả cho Chiêu Minh đại vương Trần Quang Khải. Còn người con trai, được chép vào sử bằng danh hiệu Thượng Vị hầu, Tông, thì đấy chính là Trần Bình Trọng.
Sinh vào khoảng năm 1258-1259, đến lúc quát mắng giặc mà tử tiết, Trần Bình Trọng ở vào độ tuổi 26-27. Tất cả sử sách cổ truyền đều thống nhất ghi thêm một chi tiết tiểu sử của ông là: “Dòng dõi vua Lê Đại Hành” – giống hệt như Lê Tần. Và, cũng giống như người cha “Bảo Văn hầu” họ Lê của mình, được lấy vợ (cũ) của vua Trần Thái Tông, Trần Bình Trọng cũng là “chồng sau” (đời chồng thứ hai) của công chúa Thụy Bảo – con gái của vua Trần Thái Tông.

Còn tiếp...
« Sửa lần cuối: 23 Tháng Bảy, 2012, 11:22:08 pm gửi bởi Trần Anh » Logged

As long as you love me. We could be starving, we could be homeless, we could be broke.
As long as you love me. I'll be your platinum, I'll be your silver, I'll be your gold...
 
Trần Anh
Thành viên
*
Bài viết: 318



« Trả lời #52 vào lúc: 23 Tháng Bảy, 2012, 10:57:47 pm »

Chiến đấu ngoan cường, mang về thắng lợi chiến lược


Trước nguy cơ xâm lược lần thứ hai của quân Nguyên _Mông, vua Trần Nhân Tông đã triệu tập hội nghị Bình Than(1282), hội nghị Diên Hồng (1285) để tìm kế đánh giặc.Mặt khác, vua còn tổ chức các cuộc thi võ ở Kinh thành để chọn người tài giỏi chỉ huy quân đội. Trần Bình Trọng khi đó mới 16,17 tuổi nhưng đã tỏ ra tài, giỏi mưu lược và có võ nghệ hơn người. Trong các cuộc thi võ đó ông thường xuyên dành được chiến thắng, vua Trần tỏ ra rất hài lòng lên đã gả công chúa Bảo Thụy cho ông.Sau đó ông được phong hầu, cho cai quản một đội quân.
Tháng 1 năm 1285, 50 vạn quân Nguyên-Mông do Trấn Nam Vương Thoát Hoan, con trai của Hoàng đế nhà Nguyên Hốt Tất Liệt, cầm đầu chia quân làm hai cánh tấn công xâm lược Đại Việt. Quân Nguyên Mông là đạo quân cực kỳ thiện chiến, nhanh chóng chiếm ưu thế tuyệt đối trước quân Đại Việt, ít hơn và không quen chiến trận. Sau thất bại trong vài trận đánh mở màn, tổng tư lệnh quân Đại Việt, Quốc công tiết chế Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn quyết định lui quân về giữ Vạn Kiếp (nay thuộc vùng Vạn Yên, Chí Linh,Hải Dương). Sau đó, quân Đại Việt lui về Thăng Long, nhưng cũng không giữ được trước sức tấn công ồ ạt của quân Nguyên.
Hưng Đạo Vương quyết định rút khỏi Thăng Long, lui về Thiên Trường (nay là tỉnh Nam Định). Trần Bình Trọng được Hưng Đạo Vương và hai vua Trần giao cho một nhiệm vụ nặng nề: giữ vùng Đà Mạc - Thiên Mạc, ngăn chặn và cầm chân quân Nguyên, đảm bảo cho bộ chỉ huy quân kháng chiến rút lui an toàn và bí mật, không để lại dấu vết.
Tư lệnh quân Nguyên là Thoát Hoan đặc biệt ưu tiên cho cánh quân truy đuổi này với hai đạo cả thủy lẫn bộ đều do những tướng giỏi, hữu thừa Khoan Triệt và tả thừa Lý Hằngcùng Ô Mã Nhi, chỉ huy, đều dùng quân khinh kỵ và thuyền nhẹ để truy đuổi bằng được hai vua Trần.
Trần Bình Trọng đã tổ chức cuộc đánh chặn ngay tại bãi Thiên Mạc. Nhưng do sự chênh lệch quá lớn về quân số, thế địch ồ ạt, sử dụng chiến thuật đánh nhanh thắng nhanh.Trần Bình Trọng bị bắt, nhưng trận đánh là một thắng lợi cực kỳ quan trọng về mặt chiến lược với cuộc kháng chiến khi kể từ đó, quân Nguyên hoàn toàn mất dấu bộ chỉ huy kháng chiến.
Nó góp phần làm nên những chiến thắng vang dội về sau như trận chiến Hàm Tử, Chương Dương, Tây Kết v. v.

(Đà Mạc hay cũng gọi Thiên Mạc, mà sau này có tên bãi Mạn Trù là một bãi đất nằm ven sông Hồng thuộc tỉnh Hưng Yên ngày nay, như Khâm định Việt sử thông giám cương mục 6 tờ 42a3-4 viết: “Sông Thiên Mạc tức hạ lưu sông Phú Lương ở tại bãi Mạn Trù của huyện Đông Yên vùng tỉnh Hưng Yên”. Trần Bình Trọng chỉ huy một cứ điểm ở đây.)

Còn tiếp...
« Sửa lần cuối: 23 Tháng Bảy, 2012, 11:03:17 pm gửi bởi Trần Anh » Logged

As long as you love me. We could be starving, we could be homeless, we could be broke.
As long as you love me. I'll be your platinum, I'll be your silver, I'll be your gold...
 
Trần Anh
Thành viên
*
Bài viết: 318



« Trả lời #53 vào lúc: 23 Tháng Bảy, 2012, 10:58:57 pm »

Tử tiết lẫm liệt


Đoạn sử bút có thể xem là sử liệu gốc – vì được viết ngay vào đời Trần và của một người nhà Trần (đầu hàng giặc là Lê Trắc, tác giả sách “An Nam chí lược”) – có câu nguyên văn như sau: “Ngày 21, Nhâm Thìn, quân Nguyên đánh vỡ ải Thiên Hán, chém được tướng địch là Bảo Nghĩa hầu”. Một đoạn sử bút khác – trong bộ “Nguyên sử” (An Nam truyện) – viết: “Quân Nguyên bắt được Kiến Đức hầu Trần Trọng”.
Hội các sử liệu gốc phương Bắc này lại có thể hiểu: Ngày Nhâm Thìn (chuyển sang dương lịch là ngày 26-2-1285) giặc xâm lược nhà Nguyên đã giết Bảo Nghĩa hầu Trần Bình Trọng mà các tác giả “Nguyên sử” – do nghe phong thanh - nên ghi nhầm và gọi là: “Kiến Đức hầu Trần Trọng”.
Nhưng còn con số “ngày 21” mở đầu câu sử bút của Lê Trắc thì đó là ngày âm lịch của sự kiện giặc đánh vỡ ải Thiên Hán (tức: Thiên Mạc, Mạn Trù) vào ngày 24-2-1285 (dương lịch), và bắt được Trần Bình Trọng – tướng trấn ải, chẹn giặc đuổi theo các vua nhà Trần, rút chạy khỏi Thăng Long về mạn Nam.
Từ ngày 24-2-1285 đến ngày 26-2-1285, là 3 ngày của một chuỗi sự kiện: Từ chỗ sa vào tay giặc, đến chỗ khảng khái nhận lấy cái chết oanh liệt của Trần Bình Trọng (mà nhiều sách vở gần đây đã viết gọn lại, thành ra chỉ còn là một sự kiện quát mắng giặc).
Chuỗi sự kiện đó - căn cứ vào việc ghi chép của các bộ chính sử cổ truyền của ta - đã bắt đầu bằng việc: 1- Trần Bình Trọng tuyệt thực; rồi: 2- giặc tra hỏi về “quốc sự” (tức: Cả về chiến tranh lẫn chính trị) nhưng Trần Bình Trọng đều không hé răng; đến: 3- giặc dụ dỗ, mua chuộc (bằng tước “vương” của phương Bắc nhưng Trần Bình Trọng không mắc “bả”, mặc dù khi ấy, ông đang chỉ có tước “hầu”; và cuối cùng mới là: 4 – Trần Bình Trọng quát mắng giặc:

Ta thà làm ma nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc. Ta đã bị bắt thì có một chết mà thôi, can gì mà phải hỏi lôi thôi.

Đó là một trong những câu nói nổi tiếng nhất trong lịch sử chống ngoại xâm cũng như lịch sử Việt Nam nói chung, trở thành một trong những biểu tượng của tinh thần yêu nước chống ngoại xâm của dân tộc Việt.
Ở đây mọi người chú ý rằng, trong rất nhiều tài liệu, câu nói này được ghi là:

Ta thà làm quỷ nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc. Ta đã bị bắt thì có một chết mà thôi, can gì mà phải hỏi lôi thôi

Có sự khác biệt giữa hai câu là chữ “ma” ở câu trên được thay bằng chữ “quỷ” ở câu dưới. Theo sự giải thích của GS.Lê Văn Lan thì:
Chỉ có các bộ chính sử của ta - “Đại Việt sử ký toàn thư”, “Khâm Định Việt sử thông giám cương mục”... - mới ghi được sự kiện quát mắng giặc của Trần Bình Trọng. Và thống nhất chép những lời quát mắng ấy, là (dịch): “Ta thà làm ma nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc”. Nhiều sách vở gần đây, đổi (dịch) chữ “ma” thành chữ “quỷ” là không đúng cả về nghĩa lẫn lý. Còn sử phương Bắc (kể cả vào gần đây bộ “An Nam chí lược” của Lê Trắc) viết sát (gần) về thời gian diễn ra sự kiện hơn – thì đều không nói gì, cả về sự kiện lẫn lời quát mắng ấy.

Ông quyết làm “hồn ma”, tức: nhận lấy cái chết trung trinh chứ không phải nhận mình là “quỷ” – tức: phương diện xấu của sự chết
Trong chuỗi sự kiện ông bị bắt, có bước (3) là việc giặc dụ dỗ mua chuộc Trần Bình Trọng bằng tước “vương”. Đây là thủ đoạn quen thuộc của chúng. Sách “Từ điển nhân vật xứ Nghệ” – căn cứ vào gia phả họ Bùi ở Quán Treo (Hồng Lĩnh, Hà Tĩnh) – có chép chuyện Bùi Cầm Hổ (1300-1483): “Năm Ất Mão (1433), Lê Lợi cử ông sung chức phó sứ sang Trung Quốc. Người Minh bảo ông: “Về gây rối loạn trong triều chính, sẽ phong vương cho”.
Ông đáp: “Tôi sang đây, vâng mệnh vua nước tôi, giữ quốc thể, không phải để phản vua, bán nước”. Người Minh giận lắm, song cũng rất phục ông.

Lời lẽ của nhà ngoại giao họ Bùi và vị tướng quân nhà Trần, cung bậc có khác nhau, nhưng tinh thần và ý tứ vẫn chỉ là một.

Thực tế, Khâm định Việt sử thông giám cương mục 7 tờ 36b2 đã chép là vua Trần Nhân Tông, khi nghe báo tin Trần Bình Trọng hy sinh, đã vật vã kêu khóc, chứng tỏ sự hy sinh ấy đã có một tác động to lớn trong giới lãnh đạo đất nước thời bấy giờ.
Cũng vì cảm cái nghĩa khí anh hùng ấy, 4 năm sau ngày Trần Bình Trọng quát mắng giặc mà tử tiết, tức là vào đợt “định công các tướng sĩ” tháng 4 năm 1289, ở đời trị vì của vua Trần Nhân Tông – như sách “Lịch triều hiến chương loại chí” đã chép – cùng lúc với việc Trần Hưng Đạo được “tiến phong tước đại vương” – Trần Bình Trọng cũng đã được truy phong (từ “hầu tước” lên “vương tước”), thành “Bảo Nghĩa vương” và tặng thêm 2 chữ "Trung Nghĩa"

Còn tiếp...
Logged

As long as you love me. We could be starving, we could be homeless, we could be broke.
As long as you love me. I'll be your platinum, I'll be your silver, I'll be your gold...
 
Trần Anh
Thành viên
*
Bài viết: 318



« Trả lời #54 vào lúc: 23 Tháng Bảy, 2012, 11:05:18 pm »

Đánh giá cảu đời sau


Trần Bình Trọng được các sử gia đời sau đánh giá rất cao vì lòng yêu nước và tinh thần chống ngoại xâm, trở thành một ví dụ điển hình cho các cuộc kháng chiến chống phương Bắc sau này.

 So với các danh tướng nhà Trần lúc bấy giờ, Trần Bình Trọng về tuổi tác, về tài năng, về chiến công đều không thể sánh ngang với tướng Phạm Ngũ Lão, tướng Nguyễn Khoái, càng không thể sánh với Thái sư Trần Quang Khải hay Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn; nhưng danh tiếng thì không hề thua kém một ai cũng vì người đời sau kính phục khí tiết hiên ngang, bất khuất của ông, ông là vị tướng đánh một trận uy danh để muôn đời. Ở Trần Bình Trọng toát lên cái dũng của kẻ sĩ “Ninh thọ tử bất ninh thọ nhục”, tư tưởng vững như đá, lạnh như đồng, không lung lay, khuất phục trước cám dỗ có lợi cho bản thân. Nếu chấp nhận đầu hàng, ông chắc chắn được nhà Nguyên phong vương ở phía Nam, nhưng ông cũng thừa biết rằng cuộc sống tự do vương giả đó là sống nhục, cả đời không dám ngẩng mặt nhìn đồng bào, bằng hữu cũ của mình. Biết mình đúng mà không dám bảo vệ quan điểm của mình là bất trí, van xin quỳ lụy cường quyền để cầu sự sống còn cho mình là bất dũng, vì lợi ích của mình mà phụ lòng người đã tin vào mình là bất nghĩa. Kính phục thay những con người dám hiên ngang đối đầu với bạo quyền để bảo vệ lẽ phải, bảo vệ điều mình cho là đúng; nhưng cũng buồn thay khi thấy tinh thần bất khuất của Trần Bình Trọng để lại cho đời sau, trước gian lao nguy hiểm không phải con cháu ai cũng đủ khí tiết, can đảm để noi theo.

Đền thờ Trần Bình Trọng xưa tọa lạc tại xã Mạn Trù, huyện Châu Giang, tỉnh Hưng Yên, nay thuộc làng Mạn Trù, Xã Tứ Dân, huyện Khoái Châu , Tỉnh Hưng Yên. Ngày Kỷ Niệm: 21 tháng Giêng âm lịch

Hiện nay ở các thành phố lớn của Việt Nam đều có những con đường mang tên ông. Tên Trần Bình Trọng còn được lấy đặt cho nhiều địa danh khác trên khắp đất nước Việt Nam.

Có hai bài thơ nổi tiếng viết về Trần Bình Trọng của Trần Tuấn Khải và Phan Kế Bính. Nội dung bài thơ của Phan Kế Bính như sau:
Giỏi thay Trần Bình Trọng!

Dòng dõi Lê Đại Hành.
Đánh giặc dư tài mạnh,
Thờ vua một tiết trung.
Bắc vương sống mà nhục,
Nam ma  thác cũng vinh.
Cứng cỏi lòng trung nghĩa.
Ngàn thu tỏ đại danh.
Thơ của Hoàng giáp Đặng Minh Khiêm (TK XVI):

Thề cam lòng làm ma nước Nam
Quyết ngoảnh mặt không thèm vương đất Bắc
Bãi Đà Mạc tỏ chí hiên ngang
Dòng dõi vua muôn đời vững chắc.
Đại Nam quốc sử diễn ca của Lê Ngô Cát, Phạm Đình Toái:

Trần Bình Trọng là tôi trung
Thà làm Nam ma, chẳng lòng Bắc vương
Logged

As long as you love me. We could be starving, we could be homeless, we could be broke.
As long as you love me. I'll be your platinum, I'll be your silver, I'll be your gold...
 
Trang: « 1 2 3 4 5 6   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM