Tử tiết lẫm liệt
Đoạn sử bút có thể xem là sử liệu gốc – vì được viết ngay vào đời Trần và của một người nhà Trần (đầu hàng giặc là Lê Trắc, tác giả sách “An Nam chí lược”) – có câu nguyên văn như sau: “Ngày 21, Nhâm Thìn, quân Nguyên đánh vỡ ải Thiên Hán, chém được tướng địch là Bảo Nghĩa hầu”. Một đoạn sử bút khác – trong bộ “Nguyên sử” (An Nam truyện) – viết: “Quân Nguyên bắt được Kiến Đức hầu Trần Trọng”.
Hội các sử liệu gốc phương Bắc này lại có thể hiểu: Ngày Nhâm Thìn (chuyển sang dương lịch là ngày 26-2-1285) giặc xâm lược nhà Nguyên đã giết Bảo Nghĩa hầu Trần Bình Trọng mà các tác giả “Nguyên sử” – do nghe phong thanh - nên ghi nhầm và gọi là: “Kiến Đức hầu Trần Trọng”.
Nhưng còn con số “ngày 21” mở đầu câu sử bút của Lê Trắc thì đó là ngày âm lịch của sự kiện giặc đánh vỡ ải Thiên Hán (tức: Thiên Mạc, Mạn Trù) vào ngày 24-2-1285 (dương lịch), và bắt được Trần Bình Trọng – tướng trấn ải, chẹn giặc đuổi theo các vua nhà Trần, rút chạy khỏi Thăng Long về mạn Nam.
Từ ngày 24-2-1285 đến ngày 26-2-1285, là 3 ngày của một chuỗi sự kiện: Từ chỗ sa vào tay giặc, đến chỗ khảng khái nhận lấy cái chết oanh liệt của Trần Bình Trọng (mà nhiều sách vở gần đây đã viết gọn lại, thành ra chỉ còn là một sự kiện quát mắng giặc).
Chuỗi sự kiện đó - căn cứ vào việc ghi chép của các bộ chính sử cổ truyền của ta - đã bắt đầu bằng việc: 1- Trần Bình Trọng tuyệt thực; rồi: 2- giặc tra hỏi về “quốc sự” (tức: Cả về chiến tranh lẫn chính trị) nhưng Trần Bình Trọng đều không hé răng; đến: 3- giặc dụ dỗ, mua chuộc (bằng tước “vương” của phương Bắc nhưng Trần Bình Trọng không mắc “bả”, mặc dù khi ấy, ông đang chỉ có tước “hầu”; và cuối cùng mới là: 4 – Trần Bình Trọng quát mắng giặc:
Ta thà làm ma nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc. Ta đã bị bắt thì có một chết mà thôi, can gì mà phải hỏi lôi thôi.
Đó là một trong những câu nói nổi tiếng nhất trong lịch sử chống ngoại xâm cũng như lịch sử Việt Nam nói chung, trở thành một trong những biểu tượng của tinh thần yêu nước chống ngoại xâm của dân tộc Việt.
Ở đây mọi người chú ý rằng, trong rất nhiều tài liệu, câu nói này được ghi là:
Ta thà làm quỷ nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc. Ta đã bị bắt thì có một chết mà thôi, can gì mà phải hỏi lôi thôi
Có sự khác biệt giữa hai câu là chữ “ma” ở câu trên được thay bằng chữ “quỷ” ở câu dưới. Theo sự giải thích của GS.Lê Văn Lan thì:
Chỉ có các bộ chính sử của ta - “Đại Việt sử ký toàn thư”, “Khâm Định Việt sử thông giám cương mục”... - mới ghi được sự kiện quát mắng giặc của Trần Bình Trọng. Và thống nhất chép những lời quát mắng ấy, là (dịch): “Ta thà làm ma nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc”. Nhiều sách vở gần đây, đổi (dịch) chữ “ma” thành chữ “quỷ” là không đúng cả về nghĩa lẫn lý. Còn sử phương Bắc (kể cả vào gần đây bộ “An Nam chí lược” của Lê Trắc) viết sát (gần) về thời gian diễn ra sự kiện hơn – thì đều không nói gì, cả về sự kiện lẫn lời quát mắng ấy.
Ông quyết làm “hồn ma”, tức: nhận lấy cái chết trung trinh chứ không phải nhận mình là “quỷ” – tức: phương diện xấu của sự chết
Trong chuỗi sự kiện ông bị bắt, có bước (3) là việc giặc dụ dỗ mua chuộc Trần Bình Trọng bằng tước “vương”. Đây là thủ đoạn quen thuộc của chúng. Sách “Từ điển nhân vật xứ Nghệ” – căn cứ vào gia phả họ Bùi ở Quán Treo (Hồng Lĩnh, Hà Tĩnh) – có chép chuyện Bùi Cầm Hổ (1300-1483): “Năm Ất Mão (1433), Lê Lợi cử ông sung chức phó sứ sang Trung Quốc. Người Minh bảo ông: “Về gây rối loạn trong triều chính, sẽ phong vương cho”.
Ông đáp: “Tôi sang đây, vâng mệnh vua nước tôi, giữ quốc thể, không phải để phản vua, bán nước”. Người Minh giận lắm, song cũng rất phục ông.
Lời lẽ của nhà ngoại giao họ Bùi và vị tướng quân nhà Trần, cung bậc có khác nhau, nhưng tinh thần và ý tứ vẫn chỉ là một.
Thực tế, Khâm định Việt sử thông giám cương mục 7 tờ 36b2 đã chép là vua Trần Nhân Tông, khi nghe báo tin Trần Bình Trọng hy sinh, đã vật vã kêu khóc, chứng tỏ sự hy sinh ấy đã có một tác động to lớn trong giới lãnh đạo đất nước thời bấy giờ.
Cũng vì cảm cái nghĩa khí anh hùng ấy, 4 năm sau ngày Trần Bình Trọng quát mắng giặc mà tử tiết, tức là vào đợt “định công các tướng sĩ” tháng 4 năm 1289, ở đời trị vì của vua Trần Nhân Tông – như sách “Lịch triều hiến chương loại chí” đã chép – cùng lúc với việc Trần Hưng Đạo được “tiến phong tước đại vương” – Trần Bình Trọng cũng đã được truy phong (từ “hầu tước” lên “vương tước”), thành “Bảo Nghĩa vương” và tặng thêm 2 chữ "Trung Nghĩa"
Còn tiếp...