Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 05:43:02 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Võ Duy Dương với Đồng Tháp Mười  (Đọc 60422 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #20 vào lúc: 21 Tháng Ba, 2009, 12:56:35 pm »

Nguyễn Đức Hạnh còn cung cấp thêm sau đó Lý Sen bị bắt vì bị Hai Sĩ tố cáo y đã cướp bóc nhiều ghe biển. Lý Sen cắn lưỡi chết trong ngục.

Về năm mất của Võ Duy Dương, trong một báo cáo không đề ngày có đoạn ghi :

“Các giấy tờ theo đây có lẽ cho ta thấy là tên này (Võ Duy Dương Tg) đã chết vào năm 1 869. Cách duy nhất để tin chắc có lẽ nên viết về Mỹ Tho để biết coi người vợ thứ của ông ta vẫn ở Bình Cách (Mỹ Tho)”

Trong công văn số 307 ngày 23/2/1881, có đoạn ghi:

“Những giấy tờ mà Nha chỉ huy có, cho thấy tên này (Võ Duy Dương - Tg) coi như đã chết năm 1869. Để tin chắc tốt nhất về việc này, ông có thể viết cho quan cai trị Mỹ Tho nhắc lại những sự kiện sau đây :

Người vợ thứ của Thiên Hộ, con gái của Trần Văn Học, tên là Trần Thị Vàng đã qui thuận cuối năm 1869 và ở tại làng Bình Cách (Mỹ Tho)”

Rất tiếc là trong báo cáo của Nguyễn Đức Hạnh không có ghi rõ ngày tháng Võ Duy Dương bị cướp sát hại. Trong báo cáo đề ngày 21/2/1881, ghi rằng Võ Duy Dương đã chết từ 10 hoặc 12 năm qua, tức là Võ Duy Dương mất năm 1871 hoặc 1869. Còn trong hai báo cáo khác, một không đề ngày và một đề ngày 23/2/1881 đều ghi là Võ Duy Dương mất năm 1869, đồng thời cả hai đều bộc lộ sự dè dặt về thông tin này, nên đề nghị nơi nhận viết công văn về "quan Tham biện Mỹ Tho", nơi có người vợ thứ của Võ Duy Dương đã ra qui thuận vào năm 1869 đang ở làng Bình Cách (Mỹ Tho).

Như vậy, nguồn tin mà hai báo cáo này cung cấp đều dựa vào nội dung tờ bẩm của Trần Văn Học xin cho còn gái là Thị Vàng (vợ thứ của Võ Duy Dương) ra qui thuận. 

Trở lại tờ bẩm của Trần Văn Học. Chắc chắn là, sau khi được tin Võ Duy Dương chết, Trần Văn học mới xin cho con gái ra qui thuận. Có lẽ, lúc đầu ông viết tờ bẩm bằng quốc ngữ, tờ bẩm này không có đề ngày; đến Nha Nội vụ J.Potteaux dịch sang tiếng Pháp ngày 24/9/1869. Sau đó Trần Văn Học lại gởi tiếp một tờ bẩm bằng chữ Hán, nội dung cũng như tờ bẩm bằng chữ quốc ngữ, đề ngày 10/10 năm Kỷ Tỵ (tức 14/1l/1869).

Trong bản chữ Hán cũng như bản chữ quốc ngữ, Trần Văn Học đều viết “Thiên Hộ Dương trốn chết đi thì con gái tôi là Thị Vàng cũng sợ mà trốn đi biệt"... chớ không tiết lộ Võ Duy Dương chết lúc nào. Dứt khoát khi nắm được tin tức này, thực dân Pháp mà cụ thể là Nha Nội vụ Sài Gòn sẽ tiến hành điều tra xác minh để biết xem con người đã từng làm cho chúng phải chật vật đối phó gần 1 năm trời trên một địa bàn rộng lớn sống chết như thế nào. Chúng đã thành công trong việc xác minh và thật sự vui mừng khi biết đích xác kẻ dám bất chấp lệnh của triều đình chống lại việc thống trị của chúng trên ba tỉnh miền Đông không còn nữa. Trong công văn số 307 đề Sài Gòn 23/2/1881 của Nha Nội vụ gởi cho quan cai trị Sóc Trăng: có đoạn viết: “Những giasy tờ mà Nha Chỉ huy có, cho thấy tên này (Võ Duy Dương - Tg) coi như đã hết năm 1869". Điều đáng lưu ý tư liệu chúng ta có được là bản chính đồng thời là bản nháp, trên đó có nhiều chữ bị xóa và viết lại. Riêng về năm chết của Võ Duy Dương thì viết "Etair mort en 1869" rồi lại có dòng chữ “ou passanr pour mort" viết xen vào. Điều này chứng tỏ bản thân Nha Nội vụ Sài Gòn cũng dè dặt khi xác nhận rằng Thiên Hộ Dương chết năm 1869.

Thế nên, theo chúng tôi, Võ Duy Dương chết năm 1869 là vấn đề cần nghiên cứu thêm. Còn vấn đề Võ Duy Dương chết như thế nào cũng là vấn đề cần làm sáng tỏ.

Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #21 vào lúc: 21 Tháng Ba, 2009, 12:57:38 pm »

Cho đến nay, có 3 giả thuyết về cái chết của Võ Duy Dương.

- Giả thuyết thứ nhất: chết vì bệnh

- Giả thuyết thứ hai: chết vì bị đắm thuyền

- Giả thuyết thứ ba: chết vì bị cướp. 

Giả thuyết thứ nhất của các tác giả : Thái Bạch, "Binh Địa Định Tường "... thiếu tính thuyết phục vì thiếu cơ sở.

Giả thuyết thứ hai của Quốc sử Quán, Nguyễn Liên Phong. trước đây xem như đáng tin cậy hơn hết. Song, khi phát hiện được tài liệu số SL 45~2 ( 1 ' ở Trung tâm Lưu trữ II, thì giả thuyết trong dân gian ở xã Mỹ Thọ (Cao Lãnh, Đồng Tháp), cho rằng Võ Duy Dương chết vì do bị cướp được củng cố ? Trong báo cáo của mình gởi cho Nha Nội vụ Sài Gòn tên mật thám Nguyễn Đứ( Hạnh đã mô tả tỉ mỉ việc Võ Duy Dương bị cướp đoạt áo quần mũ miện cấp bằng và Võ Duy Dương cùng những người đi trên chim( ghe bị ném xuống biển. Sau đó, tên cướp Lý Sen bị tên Hai Sĩ tốcáo về tội cướp biển nên y đã bị bắt giam, sau cùng Lý Sen cắn lưỡi chết. Bên lề của báo cáo này có hai ghi chú về Thiên Hộ. xác nhận cái chết của người chiến sĩ xấu số này ".

Như vậy, rõ ràng Võ Duy Dương chết là do bị cướp. Schreiner cũng xác nhận tin này :

"Về chuyện khác, người ta nghe tin ông Thiên Hộ Dương mới chết chìm tại phía mũi Đinh (Padaran) là nơi ông đánh với ba chiếc ghe tàu ô của đảng ăn cướp, quân ấy hạ hết người trên hai ghe" (Chú thích: Schreiner - Đại Nam Quốc sử - (Nguyễn Văn Nhàn dịch) Saigon. 1905 tr.490. ).

Đành rằng vậy, nhưng hình ảnh một Ngũ Linh Thiên hộ Võ Duy Dương trí dũng có thừa, đã từng thoát hiểm biết bao lần giữa trùng vây của quân Pháp với đầy đủ khí giới, lại bị Lý Sen, một tên cướp bắt ném xuống biển Cần Giờ làm cho chúng ta đau xót suy nghĩ!

Phải chăng tên cướp Lý Sen cũng là tay sai của thực dân Pháp hay cụ thể hơn là tay sai của tên Việt gian khét tiếng gian ác quỉ quyệt nhất ở Nam Kỳ lúc bấy giờ là Trần Bá Lộc. Trần Bá Lộc muốn qua bàn tay của Lý Sen để vừa có thể hạ sát được Võ Duy Dương điều mà với đại quần chúng không thể làm được - vừa hạ được uy danh của người anh hùng họ Võ đang được nhân dân cả Nam Kỳ mến mộ và hết lòng ủng hộ.

III. Niên đại Võ Duy Dương vào Nam

Năm Võ Duy Dương vào Nam là một trong những vấn đề then chốt trong toàn bộ tiểu sử của ông. Vì bản thân vấn đề liên quan đến một số vấn đề quan trọng khác.

Xác minh được niên đại này, chúng ta thấy được động cơ nào thúc đẩy ông vào Nam, nếu ông vào trước tháng 2/1859 (tức lúc thực dân Pháp tấn công thành Gia Định) thì thời gian trước khi tham gia công cuộc chống giặc ngoại xâm ông đã có những hoạt động gì, vì sao ông mệnh danh Thiên Hộ? và từ lúc nào?

Rất tiếc là đến nay, chưa có tư liệu nào làm rõ vấn đề này.

Có lẽ điều mà Đại Nam Thực lục chép : "Khoảng tháng 4 năm Tân Dậu (tức tháng 5/1861) Khâm Phái Quân Vụ Đỗ Thúc Tịnh đem theo các tùy phái Trương Minh Lượng, Phan Chánh (Phan Trung) chánh bát phẩm Thiên hộ Vũ Duy Dương... vào Nam mộ nghĩa quân ở các tỉnh Long, Tường, An, Hà " (Chú thích: Q xxlx - trang 248.), là tư liệu sớm nhất về thời điểm vào Nam của Võ Duy Dương. Ngoài ra không có tư liệu nào khác.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #22 vào lúc: 21 Tháng Ba, 2009, 12:58:32 pm »

Tuy vậy, hiện nay cũng đã phát hiện ra nhiều yếu tố khác giúp ta suy nghĩ rằng ông có thể vào Nam sớm hơn.

Một trong hai tờ tấu trình ông gởi vua Tự Đức mà có lẽ bọn Pháp đã tịch thu được trong khi chúng tấn công vào Đồng Tháp Mười (tháng 4 năm 1866) (Chú thích: Gustave Janneau - Deux rapports Militaires du Général Võ Di Dương. Revue lndochinoise, số2 (1914)), có đoạn ghi: “năm Tự Đức thứ 14, tháng 4 Võ Duy Dương tuân lệnh nhà vua theo Khâm phái Đỗ Thúc Tịnh di chuyển về Vĩnh Long, An Giang, Định Tường và Hà Tiên để nhận nhiệm vụ. Tháng tám năm ấy, Khâm phái trao cho Dương bằng quản cơ chỉ huy võ sanh, võ sĩ".

Điều làm chúng ta thắc mắc: nếu Võ Duy Dương chỉ có mặt ở Định Tường từ tháng 4 năm Tự Đức thứ 14 (tức tháng 5 năm 1861 ) mà đến tháng 8 (tức là tháng 9 năm l861). Như vậy, chỉ trong vòng hơn ba tháng kể từ ngày Võ Duy Dương đặt chân lên đất Định Tường mà ông đã mộ được 1000 nghĩa dõng để được phong bằng quản cơ (Chú thích: Theo qui chế qui định mức thưởng dành cho người mộ nghĩa dõng chống Pháp (3/1861) bằng quản cơ dành cho ai mộ được khoảng 1000 người.). Điều này ít có khả năng thuyết phục, có thể Võ Duy Dương đã có mặt trong một thời gian nào trước đó, ông mới có đủ điều kiện về uy tín và thời gian giúp công việc chiêu mộ đạt kết quả như vậy.

Mặt khác, có nhiều tác giả: Trần Văn Thông (Chú thích: Định Tường Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân tiếu truyện - Sđd.), Ca Văn Thỉnh (Chú thích: Nguyễn Hữu Huân, thân thế và sự nghiệp". Kỷ yếu khoa học. Ban văn học Viện KHXH miền Nam (số4/1976).)... đều cho rằng Võ Duy Dương và Nguyễn Hữu Huân cùng được cử, một người làm Chánh quản đạo và một người làm Phó quản đạo. Nhưng không nói rõ là vào lúc nào. Trong khi đó các tác giả Phạm Thiều, Cao Tự Thanh và Lê Minh Đức trong quyển "Nguyễn Hữu Huân - Nhà yêu nước kiên cường - Nhà thơ bất khuất" (Chú thích: NXB Thành phố Hồ Chí Minh - 1986, trang 14 - 17) lập luận cho rằng: Nguyễn Hữu Huân được sung chức Phó quản đạo vào cuối tháng 5 năm 1859. Như vậy, có nghĩa là Võ Duy Dương cũng được phong Chánh quản đạo (Chú thích: Theo quan chế triều Nguyễn thì hai chức Phó quản đạo (trật chánh ngũ phẩm) và Chánh quản đạo (trật tòng tứ phẩm) đều thuộc hệ văn giai.) vào thời điểm tháng 5 năm 1859.

Nếu thực tế lịch sử khẳng định điều này, thì thời điểm vào Nam của Võ Duy Dương lại lùi sớm hơn nữa.

Hiện nay nhiều bô lão ở Đồng Tháp Mười còn kể rằng: ông cố, ông nội mình gốc người Quảng Nam, Bình Định theo Võ Duy Dương vào Nam khai hoang lập ấp rồi sau đó tham gia chống thực dân Pháp dưới cờ nghĩa của ông Thiên hộ.

Ở ấp Bắc Chang I, xã Tuyên Thạnh (Mộc Hóa, Long An) có nhánh họ Võ, tổ là Võ Văn Lộn, người Bình Định vào Nam ngụ ở xã Vĩnh Công (Châu Thành, Long An) đến đời con là Võ Văn Lên, Võ Văn Sanh bỏ Vĩnh Công vào Đồng Tháp Mười khai hoang, rồi gia nhập nghĩa quân Thiên Hộ Dương. Ở đây còn có nhánh họ Nguyễn, tổ là Nguyễn Văn Long, người miền Nam khai hoang lập nghiệp ở Mộc Hóa, sau gia nhập nghĩa quân Thiên Hộ Dương phụ trách việc đào kinh Cái Cỏ, phục vụ tiếp tế, mất 1865.

Ở vùng Xoài Tư (khu vực đồn điền cũ có chùa Trường Tháp) nay thuộc các xã Hậu Mỹ Bắc, Hậu Mỹ Trinh (huyện Cái Bè) Mỹ Thành Nam, Mỹ Thành Bắc (huyện Cai Lậy, Tiền Giang) có các nhánh họ Lê, họ Võ, họ Nguyễn, họ Phạm, họ Trần, họ Huỳnh. Tổ các họ này là người Quảng Nam và Bình Định vào lập nghiệp ở đất Ba Giồng (Tiền Giang): họ Trần ở Bưng Môn (Tân Phú, Cai Lậy), họ Phạm ở Tân Hội (Cái Bè), họ Nguyễn, họ Huỳnh ở Nhị Quí (Cai Lậy). Sau đó lại theo Võ Duy Dương vào vùng Xoài Tư khai hoang lập ấp, được ông truyền dạy võ nghệ, kịp khi Pháp tấn công Gia Định mọi người đều theo Võ Duy Dương chống giặc.

Theo nguồn tư liệu dân gian này, thì Võ Duy Dương vào Nam trước khi thực dân Pháp tấn công thành Gia Định (tháng 2/1859). Điều này trùng hợp với tư liệu do gia đình Võ Duy Dương cung cấp. Theo cụ Võ Quế cho biết Võ Duy Dương vào Nam độ vài tháng thì bà Phạm Thị Liệu (vợ lớn) sinh người con thứ hai (tên là Võ Duy Phụng). Bà Phạm Thị Liệu có hai người con là Võ Duy Cung và Võ Duy Phụng. Võ Duy Cung sinh năm 1855. Còn Võ Duy Phụng mất lúc 10 tuổi, nên nay không ai nhớ ông sanh vào lúc nào.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #23 vào lúc: 21 Tháng Ba, 2009, 12:59:11 pm »

Cứ theo lời cụ Võ Quế. thì năm sinh của Võ Duy Phụng cũng là năm Võ Duy Dương lên đường vào Nam. Theo lẽ thường mà suy, thì Võ Duy Phụng có thể sinh vào một trong các năm 1856, 1857 và 1858.

Như vậy, có khả năng Võ Duy Dương vào Nam trong khoảng từ 1857 đến 1858. Từ thời điểm này đến lúc được sung chức Chánh quản đạo vì đã chiêu mộ được nhiều nghĩa dõng chống thực dân Pháp, Võ Duy Dương có những hoạt động gì? Đó là vấn đề cần nghiên cứu để qua đó góp phần tìm kiếm thêm về con người Võ Duy Dương.

Sinh ra và lớn lên trên một vùng quê hương có truyền thống đấu tranh của các phong trào nông dân vào cuối thế kỷ trước; với các địa danh, di tích ấp Tây Sơn, hòn ông Bình, bến Trường Trầu (Tây Sơn) thành Hoàng Đế (An Nhơn), tân phủ Càn Dương (Phù Cát)... ít nhiều Võ Duy Dương cũng chịu ảnh hưởng truyền thống bất khuất của quê hương. Núi chàng Lía sừng sững trước mặt thôn Cù Lâm Nam (Nam Tượng) như nhắc nhở tấm gương đấu tranh chống bất công áp bức.

Sau khi đàn áp được phong trào Tây Sơn, nhà Nguyễn tìm mọi cách xóa vết tích của anh em Tây Sơn, triệt hạ ấp Tây Sơn, san bằng thành Hoàng Đế, gán cho các địa danh lịch sử đó những cái tên mới có tính chất phỉ báng (Bình Định, An Tây, An Khê rồi Nam An, Bắc Thuận) (Chú thích: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình Định (1930 - 1945) tập 1.). Bọn địa chủ quan lại nhân cơ hội đó cướp đoạt ruộng đất của nông dân. Năm 1838, ruộng đất công ở Bình Định chỉ còn 6000 mẫu trong lúc ruộng tư lên đến trên 10.000 mẫu, phần lớn tập trung vào tay địa chủ. Năm 1839, triều đình thi hành chính sách quân điền bằng cách tịch thu phân nửa số ruộng tư làm thành ruộng đất công để chia cho nông dân (Chú thích: Lịch sử VN tập 1, NXB KHXH 1971). Nhưng sau 13 năm thi hành chính sách quân điền, năm 1852, Hiệp biện Đặng Văn Thiêm sau khi đi kinh lý vùng Bình Định đã tâu vua Tự Đức: “trước kia trong việc quân cấp cứ 10 mẫu ruộng thì một nửa chia làm công điền, một nửa làm tư điền. Nhưng về ruộng công chỗ nào màu mỡ thì cường hào giành hết, còn thì bọn hương lý bao chiếm. Dân nghèo chỉ được những chỗ xương xấu". Kết quả của hành động cướp ruộng đất, bóc lột nghiệt ngã của bọn cường hào phong kiến đã gây ra những biến động sâu sắc, để lại nhiều hậu quả về tư tường tình cảm và tâm lý qua nhiều thế hệ cư dân ở Bình Định.

Phản kháng thụ động là trạng thái phổ biến. Nhiều vùng cư dân ở Bình Định rời quê hương phiêu bạt kiếm sống. Từ năm 1822, ấp Chánh Thuận (nay thuộc Cát Hanh) và 2 ấp khác đã có nhiều đợt dân phiêu tán. Những năm 1824, 1860, 1863... nhiều làng dân bỏ đi nơi khác kiếm sống (Chú thích: ĐNTL chính biên (Đệ tứ kỷ) Bản chữ Hán, Q.207. dẫn lại lời dẫn của LSVN T.1.). Đó là những cuộc phiêu tán lớn, không kể những chuyến đi lẻ tẻ

Có lẽ Võ Duy Dương, con một nông dân nghèo ở đất An Nhơn (Bình Định) cũng lên đường phiêu tán trong hoàn cảnh này. Nhưng không như những lưu dân khác, chỉ lo giải quyết cuộc sống của riêng mình, Võ Duy Dương đứng ra chiêu mộ người đồng cảnh ngộ hưởng ứng chính sách khai hoang lập ấp do Nguyễn Tri Phương đề ra và đã được vua Tự Đức chấp thuận (Chú thích: Nguyễn Thế Anh - Kinh tế và cơ hội VN dưới các triều vua Nguyễn S.G 1971.).

Cuộc khai hoang thời này, chủ yếu là vùng An Giang, Hà Tiên, cụ thể là vùng Vĩnh Tế, Tịnh Biên, Ba Xuyên nhằm mục đích ổn định tình hình an ninh biên giới. Tuy vậy, nhiều vùng hoang hóa khác trên địa bàn Nam Kỳ, cũng xuất hiện nhiều khu đồn điền mới, như Gia Thuận (phủ Tân An) của Trương Định, đặc biệt vùng chằm Mãng Trạch (tức Đồng Tháp Mười), ven vùng đất Ba Giồng (Định Tường) cũng hấp dẫn một lượng khá lớn lưu dân.

Song do tính chất đất đai, địa thế trũng thấp, đường đi lại khó khăn, nên đến 1850, ở Định Tường (cả vùng Đồng Tháp Mười) có lối 87 xã bị “điêu hóa" và số ruộng mà chính quyền buộc phải miễn thuế lên đến 14.843 mẫu, nguyên trước báo là đã khai khẩn, nhưng sau lại bỏ hoang. Võ Duy Dương tìm đến đất Ba Giồng trong hoàn cảnh đó.

Ông tiến hành chiêu mộ lưu dân để khai hoang dưới hình thức nào, qui dân lập ấp lập làng hay lập đồn điền (Chú thích: Lúc bấy giờ ở Định Tường có các đội đồn điền: Tường Kiên, Tường Nhuệ, Tường Uy, Tường Võ. Tường Võ ở khu vực Cao Lãnh ngày nay. Phạm Văn Khanh làm phụ trách Tường Võ nhập cơ nhất đội Ban biện suất đội.) ở đâu và được bao nhiêu người, hiện nay không thấy tài liệu nào nói đến và chức danh Chánh bát phẩm Thiên hộ là vấn đề cần phải làm sáng tỏ.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #24 vào lúc: 21 Tháng Ba, 2009, 01:00:06 pm »

Một điều chắc chắn rằng, số lưu dân mà Võ Duy Dương chiêu mộ được không nhiều bằng Trương Định. Vì Trương Định có nhiều ưu thế hơn: chẳng những là con quan (Chú thích: cha Trương Định là Trương Cầm, lãnh binh tỉnh Gia Định (có nơi chép là Thủy vệ úy tỉnh Gia Định)) đương nhiên có thế lực, gia sản và sau đó lại có bà vợ hai là Trần Thị Sanh, bà Sanh là con gái Phạm Thị Phụng (cô ruột của Thái hậu Từ Dũ - mẹ Tự Đức), nên thế lực Trương Định vốn đã có lại được nâng lên. Hơn nữa Trương Định đã bắt tay vào cuộc chiêu dân lập đồn điền từ năm 1854, tức là ngay sau khi chính sách đồn điền được ban hành, và có lẽ ông đã mộ được khoảng 500 người, nên đã được phong chức Phó quản cơ.

Cần nói thêm: khi mới lập đồn điền, Trương Định chỉ giữ chức Phó quản cơ. Mãi đến giữa năm 1861, Trương Định mới được thăng chức Quản cơ. Điều này đã được ghi trong Đại Nam Thực Lục: Tháng 8 âm lịch (1861) do phó quản cơ Gia Định có công chiêu mộ những thổ dũng, có nhiều người đi theo, thường cùng quân Tây Dương chống đánh nhau đắc lực nên “thự tuần phủ Đỗ Quang đem việc tâu lên, vua cất nhắc cho làm Quản cơ, rồi lãnh chức Phó lãnh binh" (Chú thích: Đại Nam Thực lục, tập XXX. trang 239.).

Ở đây có điều ta cần phân biệt rõ chức phó quản cơ và quản cơ của Trương Định được chi phối bởi hai văn bản lập qui khác nhau. Chức phó quản cơ bị qui định bởi qui chế đồn điền 1853, còn chức quản cơ của Trương Định là theo qui định của mức thưởng dành cho những người mộ nghĩa dõng chống Pháp (3/1861).

Qui chế đồn điền 1853, qui định:

- Mộ được 50 người thì tổ chức thành một đội, người đứng mộ được quyền chỉ huy, gọi suất đội. Khi canh tác có kết quả thì khu vực ấy trở thành một ấp, viên suất đội sẽ là ấp trưởng, theo qui chế dân sự.

- Mộ được 500 người, tổ chức thành một cơ (10 đội) người đứng mộ lãnh chức vụ chánh đội thí sai phó quản cơ. Khi đất sinh huê lợi, phó quản cơ mặc nhiên là cai tổng, theo qui chế dân sự (Chú thích: Đại Nam Thực lục, tập XXVII, trang 372).

Qui chế qui định mức thưởng cho người mộ quân chống Pháp (3/1861) qui định:

Mộ đủ 50 người thưởng thụ suất đội trật tòng ngũ phẩm; mộ đủ 500 người thường thụ quản cơ trật chánh tứ phẩm. Trường hợp số quân mộ được 2, 3 cơ (tức 1000 hay 1500 người) thì đợi chỉ của vua cất lên bậc cao.

Ngoài ra, qui chế này còn qui định nếu đem 10 người thân thuộc trong gia đình gia nhập quân đội sẽ được cấp bằng cửu phẩm bá hộ, 20 người trở lên sẽ được cấp bằng tòng bát phẩm bá hộ, 30 người trở lên sẽ được cấp bằng đội trưởng tòng thất phẩm bá hộ (Chú thích: Đại Nam Thực lục, tập XXIX, trang 190).

Đối chiếu hai qui chế trên, ta thấy trường hợp của Trương Định khá rõ: trong khi lập đồn điền, Trương Định mộ được khoảng 500 người nên được cấp bằng phó quản cơ (hệ dân sự). Đến khi Pháp tấn công thành Gia Định, mang quân đồn điền ra chống giặc được cất nhắc lên quản cơ (hệ quân sự).

Còn, trường hợp của Võ Duy Dương: chức danh phẩm hàm “chánh bát phẩm Thiên hộ" của ông gợi cho chúng ta ít nhiều thắc mắc; vì trong qui chế đồn điền chỉ ghi: "Người đứng lập ấp mà mộ đủ 30 người, thì tha thuế thân, sai dịch suốt đời; mộ được 50 người thì thưởng thụ chánh cửu phẩm bá hộ; được 100 người, thưởng thụ chánh bát phẩm bá hộ vẫn lãnh làm tổng lý (3 năm thì làm sổ, chiếu lệ đồn điền thi hành). Còn ruộng đất đã được khai khẩn và thuế thân của nhân đinh đều khoảng hạn (10 năm) mới bắt đầu thu để tỏ sự khuyến khích" chớ không có khoảng nào qui định được thưởng thụ chánh bát phẩm thiên hộ. Cũng như vậy, trong qui định mức thưởng dành cho người mộ nghĩa chống Pháp cũng không có ấn định phẩm hàm này.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #25 vào lúc: 21 Tháng Ba, 2009, 01:00:39 pm »

Tuy nhiên trong qui chế đồn điền 1853, có điều đáng cho ta lưu ý "mộ được 100 người, thưởng thụ chánh bát phẩm bá bộ, vẫn lãnh làm tổng lý (3 năm thì làm sổ, chiếu lệ đồn điền thi hành). Điều này giúp ta suy luận: Võ Duy Dương lúc vào Nam chiêu mộ lưu dân không sung vào các đội đồn điền, mà đứng ra lập làng lập ấp. Số người mà ông qui mộ đã vượt quá con số 100 (có lẽ gần 1000) nên ông được thưởng thụ hàm chánh bát phẩm (trật cao nhất theo qui định cho người đứng lập ấp) còn chức danh không phải là bách (bá) hộ mà là Thiên hộ (vì đã mộ được gần 1000 người). Lẽ ra, theo qui định, ông phải đợi đến 3 năm sau, triều đình mới chiếu theo lệ đồn điền thưởng thụ cho ông. Nhưng điều đó không xảy ra vì tháng 2/1859 Pháp đã chiếm thành Gia Định, rồi sau đó hạ đồn Chí Hòa (2/1861), chiếm Định Tường (4/1861) và chính sách đồn điền ngưng không thực hiện nữa.

Có lẽ dựa vào lập luận tương tự như trên, nên đã có nhiều tác giả cho rằng chức danh Thiên hộ của Võ Duy Dương xuất phát từ hoạt động chiêu dân lập ấp. 

Song cũng có tác giả khác lại cho rằng sở dĩ Võ Duy Dương mang chức danh Thiên hộ vì ông là người giàu có (ở trong Nam những điền chủ giàu có thường mua chức hàm bá hộ hay Thiên hộ) và cũng có tác giả cho rằng vì ông đã mộ được 1000 nghĩa dõng tham gia chống Pháp nên được phong chức Thiên hộ.

Nhưng theo quan chế triều đình nhà Nguyễn thì chức Thiên hộ là một chức quan võ (hệ võ giai) nằm trong trật tòng thất chánh phẩm, dưới chức này là chánh bát phẩm bá hộ (Chú thích: Trần Trọng Kim - Việt Nam sử lược. Tân Việt - Sài Gòn, 1975 trang 431). Như vậy, chức danh chánh bát phẩm Thiên hộ của Võ Duy Dương là chức danh đặc cách, nghĩa là chức làm Thiên hộ nhưng vẫn phải hưởng lương theo trật chánh bát phẩm (là 20 quan tiền, 18 phương gạo, 5 quan tiền xuân phục) chớ chưa ăn lương theo trật tòng thất phẩm (25 quan tiền, 20 phương gạo, 5 quan tiền xuân phục) đúng với chức danh. Có lẽ, Võ Duy Dương là một võ quan cấp thấp chức bá hộ (trật chánh bát phẩm) song có công trạng nên được đặc cách mang chức Thiên hộ nhưng vẫn còn hưởng lương theo trật cũ (chánh bát phẩm), nên từ đó có chức danh Thiên hộ.

Đến nay, không rõ Võ Duy Dương được thưởng thụ chánh bát phẩm Thiên hộ vào lúc nào, mà chỉ thấy chức danh và phẩm hàm chánh bát phẩm Thiên hộ Võ Duy Dương xuất hiện trong Đại Nam Thực lục sớm nhất là vào tháng 8 năm Tự Đức thứ 14 (tức tháng 9/1861) ông lại nhận được bằng quản cơ (Chú thích: Gustave Janneau - Tài liệu đã dẫn) do Khâm phái Đỗ Thúc Tịnh trao. Như vậy ông nhận được bằng quản cơ một lúc với Trương Định. Cũng như trường hợp Trương Định, bằng quản cơ của Võ Duy Dương được phong theo định lệ mức thưởng cho người mộ nghĩa dũng chống Pháp chớ không theo qui chế đốn điền.

Theo các bô lão ở Cái Bè, Cai Lậy (đất Ba Giồng) nơi Võ Duy Dương hoạt động chiêu dân lập ấp trước đây, thì sau khi thực dân Pháp tấn công thành Gia Định (tháng 2/1859) ông cùng một số thuộc hạ thân tín vượt biển ra kinh đô Huế hiến kế đánh giặc với triều đình. Song lúc bấy giờ (1859 - 1860) ở Quãng Ngãi có giặc biển hoành hành, quan quân địa phương không trị nổi. Triều đình ủy thác cho Võ Duy Dương đánh dẹp, ông hoàn thành nhiệm vụ được vua khen ngợi và ban cho chức Thiên hộ.

Sự kiện này hoàn toàn khớp với điều ghi chép trong Đại Nam Thực lục “Nguyên phái đi bắt giặc ở Quảng Ngãi là chánh bát phẩm Thiên hộ Võ Duy Dương, khi ấy (tháng 5/1861) cũng ở trong bọn tùy phái" (Chú thích: ĐNTL - Đệ Tứ Kỷ Quyển XXIX. trang 248)

Như vậy, có khả năng Võ Duy Dương được phong Chánh bát phẩm Thiên hộ trong năm 1860. 
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #26 vào lúc: 22 Tháng Ba, 2009, 10:42:21 am »

Hai giai đoạn kháng chiến của Võ Duy Dương

A- TRUNG TÂM KHÁNG CHIẾN BA GIỒNG (TÂY BẮC ĐỊNH TƯỜNG) HÌNH THÀNH VÀ HOẠT ĐỘNG SONG SONG VỚI TRUNG TÂM TÂN HÒA (GÒ CÔNG) (1861 - 1864)

I. Giai đoạn trước Hòa ước Sài Gòn (1862)


Trước đây có nhiều tác giả cho rằng cuộc khởi nghĩa của Võ Duy Dương chủ yếu chỉ gắn chặt trên địa bàn Đồng Tháp Mười. Tuy nhiên với tư liệu mới phát hiện gần đây cho thấy, trước khi lấy Đồng Tháp Mười làm tổng hành dinh, Võ Duy Dương đã có một thời gian dài cùng với Nguyễn Hữu Huân vận động nhân dân tổ chức tác chiến đánh thực dân Pháp trên khu vực đất Ba Giồng ở phía Tây tỉnh Định Tường.

Địa danh "Ba Giồng" chỉ một vạt đất đai đầy gò nổng chạy dài từ Nam sông Vàm Cỏ Tây, dọc theo kinh Bảo Định rồi cập theo sông Tiền đến tận Cái Bè Cái Thia, gồm một hệ thống với ba cụm giồng:

Cụm 1: Gò Cánh Én, gò Trâm Bầu, gò Trao Trảo (Qua Qua), giồng Dứa, giồng Trấn Định (Tân Hiệp) theo hướng Bắc Nam.

Cụm 2: Gò Lũy, giồng Cai Lữ, giồng Thuộc Nhiêu (gò ông Hoài) ở Nhị Bình Điềm Hy, gò Trà Luộc Điềm Hy, Hữu Đạo Nhị Quý, (Phú Quý thuộc Cai Lậy) theo hướng Đông Bắc Tây Nam.

Cụm 3: Gò Mồ Côi, gò Lâm Vồ (xã Tân Hội, giồng Cai Lậy, giồng Bà Trà, thị trấn Cai Lậy), gò Bù Lu (xã Nhị Mỹ), giồng Tre, gò Sung (xã Bình Chú), gò Triệu (xã An Cư huyện Cái Bè) chạy song song với cụm thứ 2.

Đây là địa giới của bờ biển cũ bao quanh mặt Đông Nam của Đồng Tháp Mười.Vùng Ba Giồng có vị trí chiến lược quan trọng ; là cửa ngõ xâm nhập vào Định Tường, một tỉnh đông dân và trù phú nhất Nam Kỳ và cũng là cửa ngõ vào Tây Nam của miệt lục tỉnh. Ngay từ xưa, Đại Nam nhân Thống chí đã mô tả :

“Gò Tam Phụ (Ba Giồng) tục danh là Ba Đổng (hay đống) địa phận hai huyện Kiến Đăng và Kiến Hưng, gồm các gò: gò Yến, gò Kỳ Lân, gò Qua Qua. Gò đống rộng lớn, cây cối xum xuê, chỗ khởi lên, chỗ phục xuống, tiếp tục nối liền, trước có đại giang (sông Tiền-tg) ngăn trở, sau tựa vào chằm Mãng Trạch (vùng Đồng Tháp Mười-tg) là nơi tụ nghĩa của Đỗ Thành Nhân vậy "(Chú thích: ĐNNTC Lục Tỉnh Nam Việt - Bản dịch của Tu Trai Nguyễn Tạo. Trang 9)

Đất này, khi xưa nguyên là của Vương quốc Phù Nam.

Từ thế kỷ XVI, XVII, đã có một bộ phận lưu dân người Việt vào cư ngụ. Năm 1623, chúa Nguyễn lập ra hai đồn thu thuế của Prei-Nokor ( Sài Gòn) và Kas Krobei (Bến Nghé). Đến năm 1698, được lệnh chúa Nguyễn, Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam làm kinh lược, lấy đất Nông Nại, lập ra Gia Định Phủ, lập xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên, lập xứ Sài Côn (Sài Gòn) làm huyện Tân Bình dựng thành Phiên Trấn.

Song hai huyện Phước Long và Tân Bình không đủ sức quản lý hết các vùng chung quanh, nên vùng đất sau này là Định Tường được lập sổ sách biệt nạp với 9 khổ trường: Qui An, Qui Hóa, Cảnh Dương, Thiên Mụ, Gian Thảo, Hoàng Lạp (Chú thích: ĐNNTC, Lục tỉnh Nam Việt chép: Yên Mụ, Quản Tác, Hoàng Tích thay vì Thiên Mụ. Gian Thảo, Hoàng Lạp), Tam Lịch, Bả Canh, Tân Thạnh cho dân khai khẩn lập ấp làm ăn. Đến năm 1772, lập đạo Trường Đồn trên đất này, năm 1779 lập huyện Kiến Thương, lỵ sở đóng tại gò Kiến Định Tân Hiệp (Châu Thành, Tiền Giang). Qua năm 1781, cải thành dinh Trấn Định. Năm Gia Long thứ 5 huyện Kiến Khương đổi thành Kiến An (1806). Hai năm sau (1808) dinh Trấn Định cải thành trấn Định Tường trực thuộc Gia Định Thành, và huyện Kiến An nâng lên thành phủ và 3 tổng: Kiến Hưng, Kiến Hòa và Kiến Đăng trở thành 3 huyện. Đến 1831, đổi thành tỉnh Định Tường, chia đất Kiến Hòa lập thêm huyện Tân Hòa. Từ 1841, tỉnh Định Tường có 2 phủ: Kiến An, Kiến Tường với 4 huyện: Kiến Hòa, Kiến Hưng, Kiến Phong và Kiến Đăng, huyện Tân Hòa thuộc về tỉnh Gia Định.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #27 vào lúc: 22 Tháng Ba, 2009, 10:45:02 am »

Do địa thế cao ráo với nhiều gò cát cao, nên đường thiên lý đoạn chạy qua tỉnh Định Tường đều nằm trên giải đất Ba Giồng. 

“...Quan lộ phía hữu, gặp chỗ nào cong queo, giăng dây để uốn thẳng lại bắt đầu từ Tân Thuận qua chùa Kim Chương do phố Sài Gòn đến cầu Bình An qua gò Tuyên Tự đến bến Thủ Đoàn (Thủ Thừa ngày nay-tg) qua sông Hưng Hòa (tức sông Vàm Cỏ Tây đoạn chảy qua thị xã Tân An ngày nay - Tg) trải qua gò Trấn Định (Thị trấn Tân Hiệp ngày nay) rồi đến gò Triệu (thuộc huyện Cái Bè), con đường rộng 5 tầm, hai bên trồng cây mù u, cây mít là thứ cây thổ nghi. Cầu cống thuyền đò, nơi nào, lúc nào cũng gia tăng tu bổ. Đường rộng thẳng như tấm đá mài, gọi đó là “đường Thiên Lý của miền Nam” (Chú thích: GĐTTC tập hạ, mục Thành (trì) chí. tr.75).

Vùng Ba Giồng được giới hạn về phía đông bởi rạch Bảo Định, về phía Nam là sông Tiền. Rạch Bảo Định nối liền sông Tiền với sông Vàm Cỏ Tây. Địa hình Ba Giồng bị một số con rạch chia cắt. Hệ thống sông rạch ở Ba Giồng có hai hướng đều có tác dụng thoát nước cho Đồng Tháp Mười. 

1- Hướng Tây Bắc Đông Nam đổ vào rạch Bảo Định có các rạch Tân Hương, rạch Trấn Định (Tân Hiệp) và rạch Chùa. Hầu hết các rạch này đều chảy qua các gò: Cánh Én, Trâm Bầu, Trao Trảo, gò Dứa, Trấn Định. 

2- Hướng Bắc Nam: từ Tây sang Đông, có:

- Rạch Cái Thia chảy qua hai tổng Phong Phú và Phong Hòa (Cái Bè) chia làm ba nhánh: 

* Rạch Cái Cối, dài 21 km.

* Rạch Cái Thia dài 12 km. 

* Rạch Mỹ Thiện dài trên 10 km.

- Rạch Trà Lọt dài khoảng 18 km cũng chảy qua tổng Phong Hòa.

- Rạch Cái Bè, chia ra hai chi lưu: nhánh phía Tây vẫn còn chảy trong địa phận Tổng Phong Hòa; nhánh phía đông chảy qua Tổng Lợi Thuận. Hai nhánh này gặp nhau tại chợ Cái Bè (làng An Bình Đông) tạo thành một vàm sông lớn trước khi đổ vào sông Tiền. Một nhánh nhỏ là rạch Cái Gáo (Cây Gáo) chảy vào tận Giai Mỹ, Xoài Tư. 

- Rạch Ba Rài dài 22 km chảy qua địa phận hai tổng Lợi Trinh và Lợi Thuận (Cai Lậy).

- Rạch Trà Tân chảy qua Tổng Lợi Mỹ gồm cả rạch Trà Luộc chảy qua các tổng Lợi Trinh, Lợi Trường và Lợi Mỹ.

- Rạch Gầm chảy qua hai tổng Thuận Bình và Lợi Trường, dài 11 km.

- Rạch Kỳ Hôn chảy qua tổng Hòa Hảo. 

Ngoài ra, còn có một con kinh đào, được khởi công dưới triều Minh Mạng, đó là kinh Tranh Giàng (Hay kinh Thương Mại) (Chú thích: Trong một số bản đồ cổ của người Pháp ghi nhằm là Đằng Giang.), được kéo dài đến tận sông lớn bởi rạch Bà Bèo và rạch Cái Bè. Nó làm cho lưu vực của sông Tiền thông thương với Vàm Cỏ Tây xuyên qua mạn Đông Nam của Đồng Tháp Mười.

Hệ thống sông rạch ở Ba Giồng đã phân chia các gò nổng trong vùng thành ba hệ thống như đã nói ở trên.

Nếu Định Tường là tỉnh giàu có nhất Nam kỳ thì Ba Giồng chẳng những là vùng trù phú trong tỉnh về mặt kinh tế mà còn có một vị trí chiến lược rất quan trọng về mặt quân sự. Nó kết hợp với Đồng Tháp Mười để tạo nên thế liên hoàn giữa thế công và thế thủ (Phải chăng đây là điều khiến Võ Duy Dương quyết định chọn Ba Giồng và Đồng Tháp Mười làm địa bàn hoạt động.)
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #28 vào lúc: 22 Tháng Ba, 2009, 10:45:55 am »

Sau khi chiếm được thành Mỹ Tho (tháng 4 năm 1861) thực dân Pháp kéo đại quân về Sài Gòn, để lại 400 quân do trung tá Desvaux chỉ huy cố giữ phần đất vừa chiếm được.

"Phó đô đốc Charner hay tin chiếm được Mỹ Tho, đến thẳng tận nơi giải quyết mọi việc, ông ta sắp xếp việc hành chánh, chánh trị và lo việc giữ thành. Pháp cho một đoàn quân 400 người đóng lại với đại bác và pháo hạm, còn bao nhiêu rút về Sài Gòn. Chợ Lớn "(Chú thích: Alfred Schreiner - Đại Nam Quốc Lược sử - Nguyễn Văn Nhàn dịch.). 

Pháp rải quân ra trú đóng ở các vị trí xung yếu trên địa bàn Định Tường. Trên bộ có các đồn chủ yếu: đồn Rạch Gầm, đồn Bourdais, đồn Trấn Định, đồn Trung Lương, đồn Cai Lậy (do Chasseriau đóng), đồn Cái Bè (do Bottet và Gonon đóng) đồn Kỳ Hôn (do Thouroude đóng), đồn Chợ cũ Mỹ Tho, đồn Gia Thạnh (do Robinet và Pineau) đồn Gò Công (do D'arieuille đóng) đồn Tân Hòa, đồn Chợ Gạo hòng bóp chết tại chỗ các cuộc nổi dậy và bảo vệ thành Mỹ Tho. Trên sông rạch để bảo đảm lưu thông liền mạch với Sài Gòn chúng cho vét kinh Bảo Định nối liền Mỹ Tho-Tân An, tàu tuần liên tục trên các sông rạch như những pháo đài lưu động. Chiếc Solevad án ngữ ở Rạch Gầm, pháo thuyền Gougelard kiểm tra vàm Cái Thia, Cái Cối, chiếc Sham-river canh phòng Cửa Tiểu, Mỹ Tho.

Cũng như trên địa bàn tỉnh Gia Định, song song với mặt bố phòng về quân sự, chúng tập hợp một số Việt gian để hình thành bộ máy tay sai ở cấp xã, cấp tổng, tiến hành các công việc hành chánh, thuế vụ nhưng nhân dân Định Tường và Gia Định nhứt định không để chúng tự do hành động mặc dù quan quân của triều đình đã rút lui. 

Về phía quan quân triều đình sau khi rút chạy không tìm được kế sách gì để giành lại phần đất chịu trách nhiệm cai quản đã mất, chỉ ngồi chờ triều đình trị tội và đùn đẩy trách nhiệm cho nhau.

Nguyễn Hữu Thành (lãnh Tuần phủ) chạy đến trạm Biên Long, dâng tờ sớ đợi tội (nói kèm việc Công Nhàn (Nguyễn Công Nhàn: lãnh Tổng đốc) thừa cơ trốn trước). Công Nhàn sau khi đến huyện Kiến Đăng (Cai Lậy) cùng làm tờ tấu xin nhận tội, nói việc Hữu Thành không cùng nhau bàn tính công việc. Bọn Duy Quang, Tuấn (Nguyễn Duy Quang, Tôn Thất Tuấn: là án sát và lãnh binh do Tổng đốc Long Tường Trương Văn Uyển phái sang.) thấy không giữ thành được cùng đem bản bộ về Vĩnh Long " (Chú thích: ĐNTL, Đệ Tứ kỷ. Quyển XIX. tr.201 KHXH. Hà Nội.1974.).

Còn triều đình Huế, từ khi mất Gia Định đến giờ, bản thân vua Tự Đức và đình thần cũng chưa tìm ra một sách lược cụ thể giữa đánh và hòa. Quan mỗi người mỗi ý; Vua thì chưa định ra lẽ nào!.

"Nguyễn Bá Nghi tự khi mới đến quân thứ cho rằng việc đánh hay giữ đều chưa tiện. Đã xin cho người giảng hòa làm kế hoãn binh. Đến bây giờ sự trạng hiện làm (đưa thư đi lại với Tây Dương) làm tập tâu lên. Vua đem tờ tâu đưa cho Trương Đăng Quế xem, bảo cứ ý nghĩa mà bày tâu". 

'Trương Đăng Quế dâng sớ nói: người Tây Dương ý muốn chiếm Gia Định, lại muốn cắt lấy tỉnh Tường, tỉnh Biên, yêu cầu như thế, sợ hòa cục không thành. Trừ việc chiến việc thủ không có kế hoạch gì khác” (Chú thích: ĐNTL. Đệ Tứ Kỷ Q.xxlx, tr. 208)

Tự Đức cũng không hề nghĩ đến việc cầu cứu Trung Hoa để chống thực dân Pháp mà cố gắng tự giải quyết lấy (Chú thích: Yoshiharu Tsuboi trong “Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Quốc" tr. 132 có đoạn viết: "Theo kết quả chúng tôi khai thác trong chính sử Thực lục và những tài liệu gốc từ các bản thảo của lãnh sự Pháp ở Huế thì Tự Đức cố gắng tự lực giải quyết vấn đề này cho đến năm 1882" (Bản dịch của Nguyễn Đình Đầu)). Một mặt nhà vua sai Nguyễn Bá Nghi viết thư tiếp tục quan hệ với Pháp để xem họ trả lởi như thế nào; một mặt ra lệnh cho ba tỉnh Bình Thuận, Khánh Hòa và Bình Định mỗi tỉnh suất 500 quân kéo đến Biên Hòa hiệp cùng quân thứ ở đây chống giặc. Trương Văn Uyển, Phan Khắc Thận đốc thần của Vĩnh Long, An Giang hiệp nhau hỗ trợ cho Định Tường, các quan bại trận ở Định Tường phải về nhiệm sở cũ đoái công, chuộc tội.

Cùng lúc ấy, Đỗ Thúc Tịnh (đang là Biên lý Bộ binh) Nguyễn Túc Trưng (đang là Thủ phủ Thừa Thiên) tự nguyện xin vào Nam đánh giặc nên được sung chức Khâm phái quân vụ được lịnh vào Nam chiêu mộ dân dũng sung làm quân chiến tâm cùng nhau chống giặc cứu nước. Đoàn Khâm phái quân vụ còn được bổ sung thêm nhiều nhân vật yêu nước nữa như Trương Minh Lượng, Nguyễn Nhã, Phan Trung (Chánh), Chánh bát phẩm Thiên hộ Võ Duy Dương...(Chú thích: ĐNTL. QXXIX. Sđd.)

Theo Đại Nam Thực Lục Chính Biên thì lúc bấy giờ Võ Duy Dương đang thi hành nhiệm vụ dẹp giặc ở Quảng Ngãi (Chú thích: ĐNTL. Sđd) cũng được sung vào phái đoàn Khâm phái quân vụ của Đỗ Thúc Tịnh lên đường vào Long Tường An - Hà (Định Tường, Vĩnh Long-An Giang Hà Tiên).
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #29 vào lúc: 22 Tháng Ba, 2009, 10:46:37 am »

Trên đất Ba Giồng, cũng như khắp nơi trong 2 tỉnh vừa bị Pháp chiếm đóng dân chúng đều sôi sục khí thế đầu quân chống giặc. Võ Duy Dương trở lại địa bàn cũ, nơi ông đã có nhiều quan hệ thân hữu gắn bó trong thời kỳ mộ dân khẩn hoang và nhiều đồng chí đồng tâm khi mộ nghĩa dõng ứng cứu thành Gia Định. Cũng chính nơi đây ông đã được phong Chánh quản đạo cùng với người bạn chiến đấu thân thiết là Nguyễn Hữu Huân vốn là giáo thụ phủ Kiến An được phong Phó quản đạo.
Do những yếu tố thuận lợi đó, nên chỉ một thời gian ngắn vận động dân dũng đầu quân chống giặc, ông đã qui tụ cả ngàn người, đủ mọi thành phần trong xã hội. Trong bài phân tách khai báo cáo quân sự của Võ Duy Dương ", Gustave Janneau viết: 

“Ông đã đi mộ được khoảng 1.000 người đáng chú ý về nhiệm vụ mà họ gánh vác trước kia, hoặc vì gia sản sự thế của họ, các vị được bổ các ngạch trật hoặc được nâng cao các phẩm hàm" (Chú thích: Gustave Janneau-tlđd) 

Những người ông qui tụ được chẳng những là dân đồn điền, nông dân yêu nước mà có cả khoa bảng, phú hào điền chủ giàu có. Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân, với tư cách là Phó quản đạo đã trở thành một trợ lý đắc lực của ông. Tháng 9/1861, ông nhận được chức Quản cơ cùng lúc với Trương Định, đặc trách chỉ huy võ sinh và võ sĩ (Gustave Janneau Tlđd). 
Xác định được thế mạnh của ông ở đất Ba Giồng, các viên Khâm phái cho ông lập căn cứ ở Bình Cách, thuộc tổng Thạnh Quơn (Quan) huyện Kiến Hòa (nay thuộc ấp Bình Cách, xã Tân Bình Thạnh. Chợ Gạo, Tiền Giang). Địa bàn hoạt động của nghĩa quân dưới quyền rất rộng, lan ra khắp đôi Ba Giồng. Trên danh nghĩa là ông hoạt động dưới sự chi phối và điều động của án sát và Thương Biện Quân vụ Định Tường là Nguyễn Nhã và Trương Minh Lượng nhưng thực tế do uy tín đối với địa phương và tài thao lược nên ông và Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân hầu như nắm vai trò chủ động trong mọi việc từ chiêu mộ nghĩa dõng, điều động bố trí binh đến đề bạt khen thưởng những người có công trong công cuộc kháng chiến. 

Ngay trong buổi đầu kháng chiến ông đã có mối quan hệ chặt chẽ với Trương Định ở Tân Hòa (Gò Công) với Trần Xuân Hòa (tức phủ Cậu ở Thuộc Nhiêu, Cai Lậy) Bùi Quang Diệu (tức quản Là ở Cần Giuộc), và các thủ lãnh nghĩa ứng khác để tương trợ nhau và hợp đồng chiến đấu. Đồng thời ông cũng tranh thủ được sự ủng hộ của các điền chủ, bá hộ giàu có (Chú thích: Tổng hành dinh của căn cứ Bình Cách là nhà của Đỗ Tường Kiên, một loại nhà cổ có tất cả 36 cửa kiên cố được bao bọc với 3 lũy tre và hào rộng.) trong đó có bá hộ Trần Văn Học tự Minh ở Bình Cách. 

Trần Xuân Hòa, người Quảng Trị, đỗ cử nhân, con quan bố chánh Trần Tuyên, ông làm quan tri phủ, vì bị bịnh phong (cùi) nên thôi việc. Con quan ở Nam kỳ thường được gọi bằng "cậu", đã là tri phủ lại là con quan nên ông được dân chúng gọi là Phủ Cậu. Sau khi Pháp chiếm Định Tường, ông đứng ra chiêu mộ nghĩa dõng chống Pháp ở vùng Mỹ Quí, Thuộc Nhiêu (Cai Lậy).

- Bùi Quang Diệu, người Cần Giuộc, đứng lên tụ họp dân chúng tự võ trang chống Pháp ở vùng Cần Đước hạ (Mỹ Lệ, Mỹ Long, Vạn Phước) cùng với Cai tổng Lộc Thành Trung. Cuối năm 1861, ông bất thần chỉ huy nghĩa quân tấn công Pháp ở Cần Giuộc, gây cho chúng nhiều thiệt hại, ông được phong chức đốc binh.

- Trần Kỳ Phong, nhà nho, quê ở xã Tân Lân (Cần Đước, Long An), sau khi Pháp chiếm thành Gia Định ông mộ nghĩa dõng theo quân triều đình chống giặc được phong làm Thư Lại cơ ứng nghĩa. Theo quân triều đình rút về Biên Hòa, tháng 9/1861 ông trở về hoạt động ở Cần Đước, mộ được hơn 300 nghĩa dõng, được phong chức quản cơ. Sau trận Cần Giuộc (12/1861) ông được thăng Thương biện quân vụ đạo Phước Lộc (Cần Giuộc), cùng Huỳnh Khắc Nhượng (Bộ Nhượng) Phạm Tiến hoạt động mạnh ở tổng Lộc Thành Trung.

Vừa xây dựng lực lượng, vừa đánh địch để tiêu hao binh lực chúng và ngăn chặn chúng mở rộng vùng chiếm đóng đồng thời cũng thỏa mãn yêu cầu diệt giặc sôi nổi của đồng bào lúc bấy giờ.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM