Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:07:26 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Võ Duy Dương với Đồng Tháp Mười  (Đọc 60358 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #40 vào lúc: 23 Tháng Ba, 2009, 05:03:25 pm »

Thực dân Pháp nghĩ đơn giản là khi quân chánh qui của triều đình rút lui thì lực lượng nghĩa quân sẽ nhanh chóng tan rã. Nhưng chúng đã lầm, chúng vấp phải sự kháng cự mãnh liệt của nhân dân và quân ứng nghĩa mạnh mẽ hơn bao giờ hết.

Các thủ lãnh nghĩa quân không muốn phục tùng chính phủ mới (tức chính quyền thực dân Pháp) cũng không yêu cầu trở về phần đất của nước An Nam (tức ba tỉnh miền Tây). Họ cứ ở trên phần đất của chúng ta, thu thuế, cướp phá các đoàn vận tải, và khi có cơ hội tấn công những người Âu riêng lẽ" (Chú thích: P.Vial Sđd, quyển 1. tr. 162.)

Dân chúng khắp nơi, kể cả quan binh của triều đình không chịu rút lui yêu cầu các thủ lãnh nghĩa quân ở lại tiếp tục chiến đấu, họ sẵn sàng gia nhập hàng ngũ nghĩa quân và tiếp tế lương thực.

“Những quan binh và những nhà phú hộ van nài ông Dương đừng xa rời họ mà tiếp tục chống giặc, họ sẽ lập một đơn vị quân đội hứa giúp đỡ và tiếp tế” (Chú thích: Gustave Janneau. Tài liệu đd.)

Trong khí thế nhân dân sôi sục chống giặc, nhưng chắc Võ Duy Dương cũng nhận định, tình hình lúc này đã khác trước: giặc đang đứng trên một thế mới, nghĩa quân chiến đấu đơn độc (thiếu sự chi viện của triều đình) chủ yếu là dựa vào sức dân, trước mắt phải tăng cường bổ sung lực lượng mới có thể chiến đấu lâu dài được. Nên vào tháng 7, ông phát lời kêu gọi hiệu triệu nhân dân trong tỉnh Định Tường nổi lên cùng nhau chống giặc” (Chú thích: Gustave Janneau. Tài liệu đd).

Cùng lúc ấy, ông nhận được thơ của Trương Định gửi từ Gia Định đề nghị hai bên thống nhứt lực lượng vì chiến đấu riêng lẻ sẽ gặp nhiều bất lợi. ông tán thành đề nghị này và cử giáo thọ Nguyễn Hữu Huân, hiện là một trợ thủ đắc lực của ông, đi Tân Hòa để hội kiến với Trương Định.

Tại đây, Nguyễn Hữu Huân gặp thị vệ Nguyễn Thi, thay mặt triều đình mang thánh chỉ phong Trương Định chức “Bình Tây Tướng quân". Võ Duy Dương chức Chánh Đề đốc, Nguyễn Hữu Huân chức Phó Đề đốc (Chú thích: Theo quan chế triều Nguyễn chức Chánh đề đốc là chức võ quan trật chánh nhị phẩm. Phó Đề đốc trật tòng nhị phẩm - Việt Nam sử lược - Trần Trọng Kim - Tân Việt. SG 1964.) Với chức Bình Tây Tướng Quân, Trương Định chỉ huy toàn bộ lực lượng ứng nghĩa trong ba tỉnh.

- Võ Duy Dương vẫn đóng tổng hành dinh tại căn cứ cũ ở thôn Bình Cách thuộc tổng Thạch Quơn, huyện Kiến Hòa. Từ đây hai ông chỉ huy nghĩa quân huy động nhân dân thiết lập hệ thống đồn lũy trên khu vực đất Ba Giồng (từ Bình Cách qua Mỹ Quí, Thuộc Nhiêu đến Cai Lậy, Cái Bè). Các gò cao, các cửa sông trọng yếu đều có xây đồn đắp cản. Gò Cát (nay là gò lũy Nhị Bình (Châu Thành Tiền Giang), Giồng Phèn (nay thuộc xã Điềm Hy (Châu Thành Tiền Giang) vàm Cái Thia (thuộc huyện Cái Bè), Bưng Môn (thuộc xã Tân Phú, Cai Lậy), kinh Cây Gáo (giáp ranh hai huyện Cái Bè và Cai Lậy)... là các vị trí quan trọng đều có nghĩa quân đóng đồn cố thủ.

Nguyễn Hữu Huân chẳng những là người bạn chiến đấu thân thiết của ông mà còn là một nhà tham mưu già dặn, thường thay ông soạn thảo tuyên ngôn, lời kêu gọi hô hào dân chúng nổi dậy, tham gia ủng hộ nghĩa quân. Trong thời gian này, nhận thấy cuộc khởi nghĩa của hai ông có ảnh hưởng sâu rộng, nhất là đối với sĩ phu Nam kỳ, thực dân Pháp sai Tôn Thọ Tường viết thư khuyên ông hạ vũ khí về cộng tác với thực dân, nhằm ly gián, chia rẽ ông với Võ Duy Dương. Ông viết thư trả lời, mắng Tường là một đứa vô quân, vô phụ đã đem mình làm tay sai cho giặc, không biết lấy thế làm nhục cho danh giá của con người Nho học, lại còn lôi thêm những người khác đi vào con đường bất chánh (Chú thích: Báo Ấp Bắc, số đặc biệt.).
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #41 vào lúc: 23 Tháng Ba, 2009, 05:04:13 pm »

Tham gia nghĩa quân Võ Duy Dương có đủ mọi thành phần trong xã hội từ nông dân đến điền chủ, từ trí thức đến cựu quan, cựu binh của triều đình, ngoài người kinh còn có người Khmer người Hoa. Đặc biệt là trong hàng ngũ nghĩa quân Võ Duy Dương còn có những lính Pháp đào ngũ, người Tagal. Điều này không thấy ở các lực lượng nghĩa quân khác, chứng tỏ Võ Duy Dương đã chú ý đến công tác địch vận, cảm hóa được người đi lính cho Pháp đào ngũ gia nhập vào hàng ngũ nghĩa quân. Trong báo cáo gởi vua Tự Đức, có ghi rõ :

“Quân đội của chúng tôi kéo đến Chinh Hầm (Chú thích: Chưa xác minh được vị trí.) đang chiếm một điểm cao, từ địa thế này chúng tôi nã nhiều quả pháo tiêu diệt một số lớn quân Pháp, xác chúng rải rác trên trận địa, số tử vong vượt quá 150, chúng ta bắt được tù binh 3 người Pháp, 7 người Ma Ní, họ chịu đầu hàng và bằng lòng theo chúng tôi. Họ có sẵn súng và quân trang. Họ lại ghét bọn kia và muốn ra trận đế trả thù” (Chú thích: Gustave Janneau. Tài liệu đd.).

Về vấn đề quân số của nghĩa quân, trong báo cáo cũng có đề cập đến:

Ba tỉnh Biên Hòa, Gia Định và Định Tường đã cung cấp một đội quân gồm có người An Nam, người Trung Hoa, người Cao Miên, và tổng số lên đến 100.000 người. Những đội ngũ được tổ chức lại, những cấp bậc của các ngạch trật, trong hệ thống quân sự được phân phối xong, những quân đội đã được điều đi theo yêu cầu của các đồn lũy" (Chú thích: có lẽ đây là số quân mà Võ Duy Dương dự kiến có thể mộ được hoặc do Gustave Janneau nhầm lẫn lúc diễn dịch từ chữ Hán sang chữ Pháp. Chớ vào thời đó cả quân đội triều đình chắc cũng không quá 100.000 quân.)

- Võ Duy Dương đã hình thành trong khu vực hoạt động ngoài hệ thống quân sự còn có bộ máy chánh quyền kháng chiến, những người tham gia hay được chiêu mộ, tùy theo năng lực, văn bằng, công trạng đều được ông phong chức tước, phẩm hàm và ấn triện.

Để có nguồn cung cấp vũ khí, Võ Duy Dương tổ chức vận động quyên góp tiền bạc trong các tỉnh Định Tường, An Giang, Hà Tiên. Vĩnh Long rồi cử người đến Cà Mau, Rạch Giá (Hà Tiên) để mua súng. Đến giữa năm 1863 ông giao trọng trách này cho Nguyễn Hữu Huân.

“Dương phái Phó Đề Đốc bí mật đưa 20 người qua Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên, ông ra lệnh cho các bạn chiến đấu của mình có nhiệm vụ nhận những tiền đúc bằng bạc quyên góp trong tỉnh Định Tường. Trong khi những người trước làm như thế tại Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên. Dương chờ tin tức từ Cà Mau, Rạch Giá về kết quả của cuộc lạc quyên".

Đáng tiếc trong báo cáo này, Võ Duy Dương không báo cáo về tổ chức lực lượng quân sự và chánh quyền kháng chiến trong tỉnh Định Tường. Còn trong báo cáo của Phạm Tiến (viết sau trận Tân Hòa 24-2-1863) chỉ đề cập đến lực lượng võ trang và hệ thống chính quyền kháng chiến trong tỉnh Gia Định, nên chúng ta không rõ được về hai mặt này ở Định Tường. Tuy vậy, đoạn cuối của báo cáo của Phạm Tiến, có ghi: ... “Còn bao nhiêu dân hạt bị chết trong lúc trận mạc thì Trương Định, Nguyễn Hữu Huân, Phan Chánh đều ghi ở trong cuốn nhật ký" (Chú thích: Tập San Sử địa số 3/1966. tr. 148. Sài Gòn) Có lẽ, Nguyễn Hữu Huân ghi chép phần của tỉnh Định Tường.

Một điểm đáng lưu ý nữa trong nghệ thuật chỉ đạo kháng chiến của Võ Duy Dương là với phương tiện thông tin lạc hậu thời đó, mà ông vẫn có cách theo dõi tình hình quốc tế và triệt để khai thác tình hình đó để phục vụ cho công cuộc kháng chiến nếu thấy nó có lợi. Lợi dụng hôm chúa nhựt ngày 25-2-1866 (11 tháng giêng Bính Dần) một sứ bộ thứ nhất của Nhựt Bổn đi qua Châu Âu để thắt chặt tình hữu nghị Nhựt với các quốc gia Âu, sứ bộ ấy đi trên chiếc tàu Pháp và ghé ngang qua Sài Gòn" (Chú thích: Gustave Janneau - Tài liệu đã dẫn). Qua khoảng tháng 3, Võ Duy Dương cho phát ra những tờ hịch kêu gọi dân chúng vùng dậy vì có người Nhựt Bổn giúp sức đánh bật thực dân Pháp ra khỏi Việt Nam (Chú thích: De Grammont (L) Sđd. tr. 309). Lời tuyên truyền của nghĩa quân làm cho dân chúng nức lòng, vì dù sao người ta cũng nghĩ rằng Nhựt Bổn cũng là một nước mạnh đang theo con đường canh tân ở châu Á cũng làm cho thực dân nể sợ".

Nửa năm sau khi ký hiệp ước 1862, lực lượng nghĩa quân không nhưng không rút lui, tan rã như thực dân Pháp dự đoán, trái lại còn được gia tăng củng cố gấp bội. Căn cứ Tân Hòa và tuyến Ba Giồng là hai gọng kìm liên hệ phối hợp nhau chặt chẽ sẵn sàng bóp nghẹt lực lượng chung trong tỉnh Định Tường.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #42 vào lúc: 24 Tháng Ba, 2009, 08:04:26 pm »

Ngay từ khi chiếm được Định Tường, thực dân Pháp cho rằng vị trí Mỹ Quí - Thuộc Nhiêu (nằm giữa thành Mỹ Tho và Cai Lậy) là vị trí có thế chiến lược quan trọng nên đã nhiều lần tấn công nghĩa quân để giành lấy Đến nay quan điểm đó chưa thay đổi:

“Các vị trí ở Thuộc Nhiêu và Mỹ Quí thật ra quá gần Mỹ Tho để những người phản loạn có thể giữ lâu được, tuy nhiên chúng phải liên tục đến ba lần mới đuổi họ ra khói khu bốn công sự là vì tỉnh luôn luôn thiếu lực lượng... chắc chắn là có một đồn hàng đầu đặt ở trung tâm khu vực chiến lược này và tỏa ra về phía Cái Bè, Cai Lậy, Rạch Gầm, Mỹ Tho và Kiến An, có lẽ sẽ tước đi được mọi khả năng của người An Nam để đóng chốt ở đó và như thế làm nhẹ đi nhiệm vụ của các điểm đóng vòng ngoài của chúng ta" (Chú thích: De Grammont (L) Sđd. tr. 310).

Cùng lúc đó chúng biết được, nghĩa quân đang ráo riết xây dựng căn cứ Tân Hòa, nên chúng cho rằng: 

“Các quan cầm đầu phong trào, đã dự kiến chính xác là một khi Thuộc Nhiêu bị chiếm lại thì vị trí này sẽ không bị chúng ta (tức Pháp) bỏ rơi nữa. Như thế, trong mục đích tạo cho cuộc nổi dậy một điểm tựa chắc chắn hơn, một trung tâm khó có thể tới được nên bọn ấy quyết định tập trung tại quận Tân Hòa mà quận lỵ là Gò Công và xây thành đắp lũy một cách đáng sợ" (Chú thích: Gustave Janneau. Tài liệu đã dẫn)

- Nhưng vì sự an toàn của vùng mà chúng gọi là “khu bốn công sự”, (vùng Thuộc Nhiêu Mỹ Quí) chúng thấy căn cứ Bình Cách (cách Mỹ Tho 20km, cách Thuộc Nhiêu gần 40km) là một sự đe dọa đáng ngại. Tháng 11-1862 chúng kéo quân tập kích căn cứ Bình Cách. Đích thân Võ Duy Dương và Nguyễn Hữu Huân nhanh chóng đánh bạt chúng ra, chúng tháo chạy. Nghĩa quân đuổi theo truy kích hai mươi tám (28) lính tập và mã tà bị bắt và bị giết (Chú thích: Gustave Janneau. Tài liệu đã dẫn).

- Ngay sau đó để chuẩn bị cho cuộc tập kích địch, có sự phối hợp đồng bộ của nghĩa quân trên ba tỉnh, Võ Duy Dương và Nguyễn Hữu Huân kéo quân đến Giồng Cát thuộc tổng Nhị Bình phủ Kiến An (nay là Gò Lũy, xã Nhị Bình, huyện Châu Thành). Hai ông cho nghĩa quân xây đồn lũy và trú lại. Vị trí này cách Thuộc Nhiêu khoảng 10km, thuận lợi cho việc uy hiếp Thuộc Nhiêu của giặc.

Đúng vào đêm 17 rạng 18-12-1862 là thời điểm hợp đồng chiến đấu. Quân và dân khắp 3 tỉnh đồng loạt nổi dậy đánh địch khiến chúng hết sức hoang mang có cảm giác đây là một cuộc tổng khởi nghĩa và đã thú nhận:

“Kẻ cướp và quân khởi nghĩa ngày càng dạn dĩ, càng tấn công. Bao nhiêu việc xảy ra chứng tỏ rằng cuộc khởi nghĩa sắp nổ, người Pháp dè chừng, người ta hiểu mang máng rằng người Pháp bị bao vây trong một cái lưới âm mưu trong đó các giai cấp trong nhân dân đều tham dự chống lại chúng ta" (Chú thích: P. Vial. Sđd. Quyển 1. Tr. 191)

Nghĩa quân đồng loạt tấn công địch khắp nơi:

- Đánh đồn Rạch Tra (hay sông Tra): nằm trên đường bộ Sài Gòn Tây Ninh cách Sài Gòn 15km do 74 lính thủy đánh bộ và đại úy Thouronde trấn giữ. Gần sáng ngày 18-12-1862, 600 nghĩa quân bí mật leo vào thành giết lính canh chiếm đồn. Thouronde tử trận.

- Đánh đồn Long Thành: đêm 17 rạng 18-12-1862, 1.200 nghĩa quân Biên Hòa tấn công chiếm được đồn, Bonard vội vàng huy động lực lượng kéo đến phản công.

- Tập kích thuyền giặc ở Bến Lức, vây đồn Phước Hòa, cùng ngày nghĩa quân dưới quyền Nguyễn Trung Trực tấn công hai Lorcha (chiến thuyền nhỏ) đậu tại Bến Lức và bao vây đồn Phước Hòa, lính Pháp chống cự không lại, phải nhờ lính Tây Ban Nha đến cứu.

- Tập kích pháo thuyền Alarme: cùng đêm 17 rạng 18-12-1862, nghĩa quân Gò Công tập kích pháo thuyền Alarme và tấn công trận địa pháo của giặc trên bờ rạch Gò Công. Cùng lúc đó, 400 nghĩa quân tấn công các vị trí quan sát của giặc phía trước căn cứ Tân Hòa.

- Đánh đồn Rạch Kiến: ngày 18-12-1862, 2.000 nghĩa quân có trang bị 12 súng đại bác bắn đá tấn công đồn gây cho giặc thiệt hại nặng.

- Tấn công đồn Thuộc Nhiêu: do đại úy Taboulé với 50 quân trấn giữ. Võ Duy Dương tường thuật trận đánh, sơ lược như sau:

“Ngày 27 trong tháng (tức ngày 17-12-1862) quân Pháp mang quân tập kích các ông. Quân Pháp lại bại trận và tháo chạy bị quân các ông đuổi theo đến đồn Thuộc Nhiêu, cướp đồn và đốt cháy. Bọn Pháp trong đồn xông ra xáp trận. Thình lình một đám mưa to ập đến và đến tối, tất cả đều rút lui mỗi bên về một hướng”
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #43 vào lúc: 24 Tháng Ba, 2009, 08:05:41 pm »

Còn De Grammont mô tả cụ thể hơn :

“Vụ nghiêm trọng nhứt là vụ 18 tháng chạp: 1.200 quân phản nghịch đã lao trong đêm vào đồn Thuộc Nhiêu đặt trong khu bốn công sự giữa Mỹ Tho và Cai Lậy. Đại úy Taboulé và phân đội của ông trong một lúc đã bị bao vây, cuộc hỗn chiến trở thành toàn bộ, nhưng vì chúng ta ít người nên nó nhanh chóng trở biến thành một trận xáp lá cà không ngang sức, trong đó 50 người của chúng ta tỏ ra có nghị lực đáng khâm phục, cho nằm dưới chân họ “217 tử thi?", trong khi đó các người bản xứ cuồng nhiệt một cách mù quáng chưa hề có đến giờ, hình như có nhận được lệnh rõ ràng phải đánh bật chúng ta ra khói Thuộc Nhiêu hoặc là chết dưới chân tường đồn" ...

Kết quả của cuộc nổi dậy đồng loạt này là ngày 18-12-1862 Bonard viết một báo cáo dài gởi về Pháp, trong đó có đoạn:

“Thật là đau đớn khi nghĩ đến bao nhiêu cố gắng qua nếu con người mà tôi đã thực hiện từ 15 tháng nay! Các cuộc khởi nghĩa nổ ra khắp nơi và đồng loạt. Tôi bị đẩy vào thế tự vệ, không có phương tiện để tổ chức một quân đội, dù chỉ 200 người. Nếu tăng viện đến ngay, tôi hy vọng làm chủ được tình hình, nếu không đành bất lực" (Chú thích: Kho lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp; Kỷ yếu. Tập 28 Cao Huy Thuần sưu tầm - Dẫn lại Nguyễn Phan Quang - Lê Hữu Phước - Sđd.).

Những ngày tiếp theo đó, tình hình của chúng càng bi đát thêm. Ảnh hưởng của các cuộc tấn công trên làm cho bộ máy hành chính tay sai của chúng vừa mới thành lập rệu rã nhanh chóng, bọn tay sai rút vào công sở hoặc vào các đồn bót hay xuống tàu nằm, không dám đi đâu (Chú thích: Trần Văn Giàu - Sđd. tr. 156) Còn số khác sẵn sàng bắt tay với nghĩa quân âm thầm bí mật chống lại Pháp (Chú thích: Louvet - La Cochinchine religieuse - Dẫn lại - Đinh Xuân Lâm Sđd.).

Tình trạng thiếu hụt quân số ngày một trầm trọng: 

“quân Pháp bị xé lẻ đến mức vô cùng trầm trọng. Ngay cả bọn xạ thủ cũng bị phân tán mỗi người một đồn, nhiều đồn không có pháo binh, chỉ có vài người chống giữ" (Chú thích: Poyen - Notice sur l'artillerie de la marine en Cochinchine Paris 1893. Dẫn lại Nguyễn Phan Quang - Lê Hữu Phước - Sđd. Tr. 145.).

Trong tình hình nguy khốn đó, Bonard cứu vãn bằng cách "quyết định yêu cầu sự trợ giúp gần nhất của người cầm đầu trạm hải quân của chúng ta tại Trung Quốc”. Đáp lời kêu gọi này, phó Đô Đốc Jaurès từ Thượng Hải đến với tiểu đoàn khinh binh Châu Phi, rồi lấy theo ông chiếc Semiramis và chiếc Renommée, ông đi tìm ở Manille “đại đội của lữ đoàn thứ 5 lính Tagal dưới quyền chỉ huy của Trung tá Moscoso" (Chú thích: De Grammont (L) Sđd. tr. 315)

Có thêm được số quân đáng kể, Bonard tiến hành một cuộc bình định mới vào đầu tháng hai 1863. Nắm được sự nhu nhược của triều đình Tự Đức và nhất là biết triều đình đang bận tâm tập trung binh lực đánh dẹp cuộc nổi loạn của Tạ Văn Phụng ở Bắc kỳ mà chúng là đạo diễn. Bonard thúc ép triều đình gấp rút phê chuẩn hiệp ước 1862 và cấm dân chúng nổi dậy chống Pháp hầu đẩy nghĩa quân vào thế bất lợi.

Chúng biết tổng chỉ huy quân kháng chiến Trương Định đang đồn trú ở càn cứ Tân Hòa. Từ ngày 13-2 đến 24-2-1863 chúng tập trung binh lực chiếm được căn cứ, nhưng đổi lấy phần thiệt hại không nhỏ:

“Quân ta chết và bị thương ít nhưng bị bịnh thì nhiều vì phải lội qua đầm lầy dưới nắng gắt. Quân phiến loạn thiệt hại ít, vì họ tháo lui và ẩn trốn cẩn thận" (Chú thích: Mollographie de la province de Gò Công.)

Như vậy là cuộc hành binh kết thúc bằng thất bại hoàn toàn (Chú thích: Xem thêm Báo Văn Nghệ số 31, 32 (ngày 3-8 và 10-8-1980) Xta-nhiu-kê-vich – Ơ- Cô sanh-sin.) 

Sau khi tấn công Thuộc Nhiêu, Võ Duy Dương kéo quân về Giồng Cát ở lại đó đến ngày 27-12-1862 rút về Bình Cách. 

Ngày 5-1-1863 , bọn Pháp ở Mỹ Tho gom góp trong số quân thiếu hụt của chúng tấn công cái gai trước mắt chúng là căn cứ Bình Cách; nghĩa quân ráo riết chống trả, chúng rút lui; nghĩa quân đuổi theo pháo kích.

“Cuộc pháo kích suốt ngày. Dương kiểm tra lại thấy còn rất ít đạn dược, ông thấy không thể đủ để chống trả với cuộc tấn công mới. Vì thế ông rút quân về đồn Tân Thạnh trong tỉnh Gia Định. Nơi đây ông viết thư xin Quản Định chi viện đạn dược" (Chú thích: Gustave Janneau. Tài liệu đd)
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #44 vào lúc: 24 Tháng Ba, 2009, 08:08:46 pm »

Do tình hình đó, từ tháng giêng nghĩa quân không tổ chức được các cuộc tấn công. Lúc ấy, tên chỉ huy quân sự ở Mỹ Tho là đại tá Ariès ra thông báo treo giải thường để bắt các thủ lãnh nghĩa quân. Không thấy cuộc tấn công nào diễn ra nữa, chúng tưởng là thông báo của chúng có kết quả và cho rằng đó là thời cơ để tấn công Tân Hòa.

“Từ tháng giêng, địa phận Mỹ Tho, không bị khuấy động nhờ biện pháp tuyệt vời của người cầm đầu quân sự, đại tá Ariès; như vậy đã đến lúc thuận lợi để tiến đánh những người ở Tân Hòa và dập tắt trung tâm cuối cùng của sự phản loạn của người An Nam" (Chú thích: De Grammont (L) Sđd. tr. 316)

Từ Tân Thạnh (Gia Định), ngày 11-1-1863, Võ Duy Dương đưa quân về đóng ở Giồng Cát (nay là Gò Lũy xã Nhị Bình, Cai Lậy). Bọn thực dân ở Mỹ Tho nghi ngờ ông sẽ tấn công Thuộc Nhiêu, nên ngày 13-1 chúng điều quân đến tấn công, cuộc kịch chiến kéo dài từ 3 giờ sáng đến 5 giờ chiều. Pháp đưa quân đến tăng viện, ông phải rút lui cách đó 4 cây số (Chú thích: Chưa rõ địa điểm nào, có lẽ là vị trí Ấp Bắc ngày nay, phần đất tận cùng của xã Nhị Bình (Châu Thành) giáp Tân Phú (Cai Lậy)).

Ngày hôm sau, chúng kéo đến vị trí mới của nghĩa quân tiếp tục công kích, lần này chúng bị đánh bật ra và phải rút lui. Nhưng với ý đồ chia cắt lực lượng nghĩa quân không cho lực lượng Võ Duy Dương và Trương Định liên hệ được để ứng cứu cho nhau, chúng không lui quân về Mỹ Tho mà đóng đồn tại Giồng Phèn (cũng trong địa phận xã Điềm Hy, Châu Thành) để kìm chế nghĩa quân.

Cách một ngày sau (tức ngày 16-1-1863) chúng trở lại tập kích vào vị trí nghĩa quân lần nữa. Nghĩa quân chống trả quyết liệt từ 3 giờ sáng đến 7 giờ sáng bọn chúng bị đẩy lùi phải rút về Giồng Cát nhưng đến 3 giờ chiều lại quay trở lại tiếp tục tấn công. Võ Duy Dương lại phải chiến đấu trong tình trạng bị tấn công liên tục và vũ khí đạn dược ngày một kém đi nên đành bỏ vị trí rút về Bưng Môn (nay thuộc xã Tân Phú, Cai Lậy). Đây là một vùng bưng trấp sình lầy cây cỏ rập rạp, Võ Duy Dương cho đắp chiến lũy và trú đóng lại.

Lúc này bọn thực dân pháp có thêm viện binh và đang chuẩn bị tấn công qui mô vào căn cứ Tân Hòa của Trương Định, nên chúng càng quyết tâm phong tỏa lực lượng của Võ Duy Dương. Ngày 20-1 chúng tập trung một lực lượng lớn gồm một pháo thuyền với nhiều ghe chài và ghe bướm bằng nhiều ngã tiến vào bao vây đầm lầy Bưng Môn. Để bảo toàn lực lượng Võ Duy Dương ra lệnh nhổ đồn bí mật lui quân trong đêm tối và kéo về huyện Kiến Đăng.

Xét thấy vùng Giai Mỹ nằm trên bờ kinh Cây Gáo có vị trí quan trọng có thể rút vào Đồng Tháp Mười, ông cho nghĩa quân dừng lại xây đồn đắp lũy ở Xoài Tư (nay thuộc vùng Mỹ Thành Nam, Mỹ Thành Bắc (Cai Lậy giáp Hậu Mỹ Bắc. Hậu Mỹ Trinh thuộc huyện Cái Bè).

Tình hình nghĩa quân Võ Duy Dương ngày một xấu đi, luôn ở trong tình trạng bị cô lập, mọi sự tiếp tế lương thực, vũ khí hết sức khó khăn, nhưng với quyết tâm chống giặc giữ nước, nghĩa quân dưới quyền chỉ huy của ông và Nguyễn Hữu Huân không hề có biểu hiệu dao động.

Sau khi đánh dẹp được căn cứ Tân Hòa của Trương Định, trong vòng không đầy một tháng từ ngày 30-3 đến 20-4-1863, bọn thực dân ở Mỹ Tho đã ba lần tập trung quân quyết lòng bình định khu vực Xoài Tư.

“ngày 23 trong tháng (tức 20-4-1863) quân Pháp lại tấn công lần thứ 3. Ông Dương thấy mình không thể chống giữ lâu hơn, ra lệnh cho các Trung đoàn và các lính đồn trú bỏ vị trí này và rút vào bưng biền" (Chú thích: Gustave Janneau. T1 đd.).

Tình trạng bất lợi ngày một gia tăng. Quân Pháp đã cắt đứt các đường giao thông thủy, bộ. Mọi sự tiếp tế càng ngày trở thành vấn đề cấp bách nhứt là lương thực, một mặt do nông dân bị mất mùa năm 1863 do hạn hán, một mặt bị phong tỏa và bọn tay sai đã bắt đầu hoạt động lại, thêm vào đó bọn thực dân Pháp sâu hiểm tung tiền cho nông dân vay không lấy lãi để làm mùa tới hầu mua chuộc họ. Và để cô lập phong trào kháng chiến của nhân dân ta nên vào tháng 4-1863, Pháp cử đại diện sang Oudong gặp vua Cao Miên, Norodom I đặt quan hệ ngoại giao với nước này nhằm thu hẹp địa bàn hoạt động và cô lập phong trào kháng chiến của nhân dân ta.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #45 vào lúc: 24 Tháng Ba, 2009, 08:09:30 pm »

Xuất phát từ tình hình khó khăn đó, Võ Duy Dương và Nguyễn Hữu Huân có một kế hoạch nhằm bảo tồn lực lượng để chiến đấu lâu dài.

- Về mặt quân số: ông chia nghĩa quân làm từng toán nhỏ rút về các làng riêng của họ, như vậy vừa bảo đảm được quân số vừa giải quyết được một phần lương thực. 

- Về mặt tài chánh: ông cử người tiến hành một cuộc lạc quyên tiền đúc bằng bạc trên khắp các tỉnh Định Tường, Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên.
 
- Về mặt cung cấp vũ khí: cử người đi Rạch Giá, Cà Mau (thuộc Hà Tiên) liên lạc với Hoa Kiều để mua súng đạn.

Ông cử Phó Đề đốc Nguyễn Hữu Huân cùng với 20 người bí mật sang Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên vừa làm công việc lạc quyên vừa mua súng đạn. Riêng phần ông chỉ giữ lại 100 nghĩa quân. Với quân số này ông tiến hành các cuộc hành quân lưu động gọn nhẹ qua các làng mạc có nghĩa quân sơ tán để củng cố tổ chức, duy trì tinh thần chiến đấu, bổ sung quân số và vận động nhân dân tham gia ủng hộ kháng chiến. .

Kế hoạch trên được thực hiện vào tháng 6-1863 nghĩa là cùng lúc với sứ Bộ Phan Thanh Giản đi Pháp để chuộc ba tỉnh miền Đông. Võ Duy Dương không những lưu động trong tỉnh Định Tường mà còn sang các tỉnh An Giang, Vĩnh Long và Hà Tiên, ông nay nơi này, mai nơi khác; thực dân Pháp tiến hành nhiều cuộc lục soát, nhưng không bắt được ông: “bản thân ông là đối tượng của bao nhiêu cuộc lục soát trong tỉnh Vĩnh Long và An Hà" (Chú thích: Gustave Janneau. Tài liệu đã dẫn.). .

Về phần Nguyễn Hữu Huân, sau gần một năm hoạt động, kết quả tương đối khả quan, do sự hưởng ứng nồng nhiệt của nhân dân ba tỉnh miền Tây nên ông quyên được nhiều tiền bạc, mua được một số vũ khí đem về tàng trữ ở Châu Đốc. Ngoài ra Nguyễn Hữu Huân còn liên lạc được với Ácha Xoa (Thạch Bướm) người Khơmer yêu nước cũng đang chiêu mộ nghĩa dõng chống Pháp, hai bên đã liên kết nhau cùng chống kẻ thù chung. Trong “Định Tường Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân " tiểu truyện có chép: .

"Tháng Giêng năm Giáp Tý, Tây lịch 1864, hai người hội họp, chiêu dụ nghĩa binh, được tên Thạch Bướm người Chân Lạp, có phép thuật, bèn tập hợp các đạo quân dũng cảm quyết chiến, lại dựng cờ nghĩa mưu đồ khởi sự.”.

Nhưng do một số quan lại trung quân một cách mù quáng, chấp hành việc thi hành hiệp ước 1862 theo lệnh Tự Đức một cách máy móc, thiếu sáng suốt để nhận rõ tình hình phức tạp của đất nước lúc này để có một hành động thỏa đáng, đã bắt giam thủ khoa Nguyễn Hữu Huân ở Châu Đốc.

“năm Tự Đức thứ 17 tháng 4 (tức tháng 5-1864), ông Phó Đề đốc bị bắt làm tù binh ở An Giang, bao nhiêu súng đạn, tiền bạc quyên góp được đều lọt vào tay kẻ thù" (Chú thích: Gustave Janneau, tài liệu đã dẫn.).

Được tin Nguyễn Hữu Huân bị giam ở Châu Đốc, tháng 7-1864 De Lagrandière (Chú thích: Sang thay cho Bonard từ ngày 23-4-1863) phái ngay Doudart de Tagrée đem 500 quân và đại bác từ Oudong (Cao Miên) xuống Châu Đốc buộc tỉnh thần địa phương phải nộp Nguyễn Hữu Huân cho chúng trong vòng hai giờ, nếu không chúng sẽ triệt hạ thành Châu Đốc.
Trước áp lực quân sự của thực dân Pháp, tổng đốc An Giang Phan Khắc Thận không còn cách nào khác đành giao Nguyễn Hữu Huân cho giặc.

Tưởng không có gì phẫn uất căm giận hơn! Công lao bôn ba gây dựng hàng năm trời bỗng chốc tiêu tán vì hành động của bọn người hèn nhát. Người bạn chiến đấu thân thiết lại một lần nữa rơi vào cảnh cá chậu chim lồng.

Trong tình trạng đó, Kinh phái Nguyễn Tánh thay mặt triều đình đến hội kiến với Võ Duy Dương và theo thánh chỉ của Tự Đức, Nguyễn Tánh khuyên ông nên hội quân với Trương Định để giải giáp.

“Trong những điều kiện như thế ông bày tỏ với sứ giả nhà vua là ông sẽ rút lui về Tháp Mười ẩn náu chờ đợi thời cơ để quật trả một trận mới và nhắn rằng ông luôn luôn sẵn sàng đáp ứng lời kêu gọi của nhân dân” (Chú thích: Gustave Janneau. Tài liệu đã dẫn)

Sau đó, (tháng 8-1864) Võ Duy Dương cùng 30 nghĩa quân lên đường trở lại Xoài Tư Rạch Ruộng (khu vực giáp ranh hai huyện Cái Bè, Cai Lậy hiện nay) với quyết tâm xây dựng lại lực lượng nghĩa quân để bắt đầu giai đoạn mới cho cuộc chiến đấu.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #46 vào lúc: 24 Tháng Ba, 2009, 08:10:29 pm »

B.- ĐỒNG THÁP MƯỜI, TRUNG TÂM KHÁNG CHIẾN NAM KỲ (1864 - 1866)

I. Vài nét vế thiên nhiên Đồng Tháp Mười.


Về tên gọi Đồng Tháp Mười có nhiều giả thuyết khác nhau. Hiện nay các nhà nghiên cứu ghi nhận: vùng này có ngôi tháp thứ 10 trong số ước chừng 102 tháp bằng đá do Vua Jayavarman VII (1181 - 1218) xây cất trên khắp lãnh thổ Chân Lạp để thờ vị thần Bà La Môn Lockecvara là vị thần chuyên trị bệnh cho nhân loại. Bên cạnh có bệnh viện điều trị và chăm sóc sức khỏe cho dân chúng.

Như vậy tên gọi Đồng Tháp Mười đã có từ trước, nhưng khi Thiên Hộ Dương về đây lập căn cứ đánh Pháp và đặt Đại bản doanh tại Gò Tháp thì tên gọi đó trở thành phổ biến.

Đồng Tháp Mười đồng nghĩa với vùng "đất bưng" từng được gọi là "tràng", “trạch" hay "pha trạch" thuộc địa phận Định Tường. Đồng Tháp Mười, theo các nhà địa lý học, trải rộng từ tả ngạn sông Tiền đến hữu ngạn sông Vàm Cỏ Đông. Phía Bắc lên tới Preyveng (Campuchia), phía Nam giới hạn bởi quốc lộ 1 (quốc lộ 4 cũ) diện tích gần 1 triệu héc ta .

Nếu tính theo phương diện thủy học và phạm vi hoạt động thực tế của nghĩa quân Thiên Hộ Dương thì Đồng Tháp Mười lùi lại ở hữu ngạn sông vàm Cỏ Tây.

Xưa kia, Đồng Tháp Mười là một vịnh biển, sau những đợt vận động tân kiến tạo vào kỷ đệ tứ (ère quaternaire) đáy biển được đội lên cao biến thành một vũng nông được phù sa sông Cửu Long và sông Vàm Cỏ bồi đắp dần, tạo thành một đầm lầy như cái lồng chảo khổng lồ xác thực vật, động vật trầm tích, đất nhiễm chua phèn nặng (có nơi độ Ph = 2) thích hợp cho các loại: tràm, cà dâm, sen, súng, năn lác, bàng, đế, sậy, lau vôi, nga, cỏ mồm, lúa trời... mọc bạt ngàn. Cũng là nơi cư trú của hàng trăm loài động vật khác nhau: trăn, rắn, rùa, cá, chim, chuột, ong, muỗi, đỉa, vắt. Đây đó trong Đồng Tháp Mười nổi lên những gò, giồng là thềm phù sa cố kéo dài hoặc là những cồn sát ven bờ hình thành do những dòng nước cuộn trước kia như: Giồng Sa Rài; Giồng Găng, gò Cỏ ông, gò Lau Vôi, gò Cà Dâm, gò Thốt Nốt; Giồng (Động Cát), Giồng Tháp (Gò Tháp) ở tỉnh Đồng Tháp; gò Thành, gò Gòn, gò Bắc Chiêng, gò Trấp ky, gò ông Hạp, gò Giồng Dung, gò Bãi Liếp ở tỉnh Long An; gò Đế (chùa Trương Tháp Cai Lậy, Tiền Giang v.v...)

Hằng năm cứ đến mùa mưa (tháng 6 âm lịch) là cả một vùng bao la bị dìm trong biển nước. Các con lung, bưng, trấp vẽ lên những đường nước ngoằn ngoèo như những mạch máu. Cuối tháng 10 âm lịch, nước rút dần, cây cỏ mục ủng làm nước thối đen. Chỉ còn những chiếc giếng khơi trên các gò, giồng là tạm uống được.

Mùa khô, cuối mùa nắng mà còn những chỗ sình sụp lún từ đầu gối đến ngực. Tại Tràm Sình (Sình Lớn và Sình Nhỏ) rúng của nó rộng cả chục mẫu (chưa kể viền chung quanh), người, trâu, đi qua không được. Nhiều cá sấu ẩn nấp ở đây.

Muốn đi bộ phải len lỏi theo các vệt lau sậy, hoặc băng qua rừng tràm hàng chục cây số. Trên thì ong, muỗi, bù mắt vần vũ lấy tay mà vuốt, dưới thì đỉa vắt, lại thêm rắn độc lễnh nghễnh...

Nắng như thiêu như đốt, mùi sình bùn, cỏ ải xông lên nồng nặc, hôi thối, không khí oi bức đến nghẹt thở. Người không quen sẽ bải hoải, kiệt sức ngay.

Thật là một cánh đồng hoang dã, rậm rạp, nắng cả mưa nhiều, bùn lầy nước đọng quanh năm và có nhiều thú dữ... Trong ký ức các cụ già 70-80 tuổi sống trong Đồng Tháp Mười còn nhớ những mẩu chuyện ông bà mình là lớp người đầu tiên vào đây chiến đấu với voi, hổ, heo rừng, sấu, muỗi mòng, đỉa vắt, rắn độc, trăn khỉ...

Đồng Tháp Mười, nơi thiên nhiên vừa ưu đãi đồng thời lại vô cùng khắc nghiệt.

Từ phía sông Tiền bọc qua Vàm Cỏ Tây dày đặc sông rạch lớn nhỏ là một hệ thống thoát nước cho Đồng Tháp Mười cũng là những thủy đạo tự nhiên. Đáng kể là: rạch Đốc Vàng Thượng, Đốc Vàng Hạ, Phong Mỹ, Cần Lố, Rạch Ruộng, Cái Thia, Trà Lọt, Cái Bè, Ba Rài, Rạch Chanh, Cá Rô, Bắc Chang.

Các con sông này có nhiều nhánh luồn sâu vào nội địa chừng 10 cây số ngọn nhỏ dần rồi trở thành những con lung tự nhiên chi chít khắp Đồng Tháp Mười và lượn quanh sườn các gò nổng.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #47 vào lúc: 24 Tháng Ba, 2009, 08:11:37 pm »

Nếu lấy Gò Tháp (Chú thích; Gò Tháp hiện nay thuộc ấp 4, xã Tân Kiền, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp.) làm trung tâm, thì:

- Phía Đông Nam có Bưng Sen, lung Chuối Nước, lung Bông, trấp Bồn Bồn, trấp Cá Bông nối tiếp từ Hàm Vồ đến Phụng Thớt... cặp sát mé sườn Gò Tháp.

- Phía Tây Nam: Sông cần Lố, Doi Me vào Đô Sơn, ngọn Ba Sao, Láng Cò, lung Kiến Vàng, Sình Tranh (Bàu Tiên - Động Cát) Sình Dỗ, Sình Dứt (Gò Tháp).

Ngoài ra còn có trấp 20, Bưng Rồng, Sình Tranh, Sình Mướp...

- Phía Tây Bắc; có lung Bông và bưng Sấu Hì bắt đầu từ Sình Dực, Sình Dỗ ở Gò Tháp nối liền lên Trấp Suông, Sình Tròn, Sình Lớn, Rộc Năn, láng Tả Mơn ra Tân Thành, Cái Cái...

Một nhánh khác từ Tràm Sình (Sình Lớn - Sình Nhỏ) lên lung Bông, gò Cỏ ống, Tràm Chim, Giồng Găng, Sa Rài...

- Phía Đông Bắc có lung Bàu Chứa, trấp Rùng Rình, Láng Sen, Rộc Tượng kéo dài đến Gò Tháp.

Nghĩa quân dựa vào các lung, trấp trên đây để vận chuyển vũ khí: lương thực bằng ghe xuồng, lĩa trâu, cộ trâu (Chú thích: Lĩa trâu: xuồng hoặc ghe, trước mũi được cặp thêm 2 cây tre nối lên ách trâu, kéo theo đường lung hoặc chỗ nước sâu. - Cộ trâu: cũng như lĩa trâu. nhưng chiếc xuồng được thay bằng chiếc cộ tre, 2 cây đà dưới bình cong để trâu kéo lướt trên đồng cạn hoặc chỗ khô ráo.) vào tận căn cứ hoặc ban đêm tập kích các đồn bót giặc. Ba con đường chính còn gọi là “đường gạo" từ ngoài vào Đại bản doanh Gò Tháp là:

ĐƯỜNG CÁI NỨA: hướng Đông Nam)

Chạy từ ngã năm Phú Nhuận (xã Mỹ Thành Nam - Cai Lậy) theo rạch Cây Gáo đến Xoài Tư (xã Mỹ Thành Bắc) hướng Quan Cư (xã Hậu Mỹ-Cái Bè) lên Gò Tháp. 
 
Đoạn từ kinh 9 qua kinh 8, cách chùa Thủ Tọa Đầy chừng 100 mét, có một con đường lươn. Đường lươn lớn rộng chừng 4 mét chạy lên Quan Cư (kinh số Cool. Đường lươn nhỏ chạy ngang trước chùa Thủ Tọa Đầy đi về. phía ngọn Rạch Ruộng (kinh Nguyễn Văn Tiếp B).

Song song phía Bắc Kinh III (xã Tân Kiều, Tháp Mười - còn có 1 đường gạo rộng gần 10 mét, trũng sâu chừng 5 tấc tạo thành 1 vệt thẳng hun hút vào trong các đám tràm. Khúc đường gạo này còn gọi là Lung Voi, nhân dân quanh vùng đào được nhiều xương voi, răng voi ở đây.

ĐƯỜNG CẦN LỐ (hướng Tây Nam) .

Dấu vết không còn nữa, nhưng tên gọi Đường Thét (Chú thích: Đường Thét: Thét tức là rạch một đường thẳng, băng tắt ngang. “Đầm sen, bãi sậy, rừng tràm, Kinh dài thét đất, lúa xanh rợp trời") còn gợi lên 1 con đường thẳng nối ngọn Trà Bông (đường gỗ) đến Bàu Tiên - Động Cát. Từ đây vào Gò Tháp các con lung còn hiện rõ. 

Ở khoảng giữa Giồng Dung- Gò Tháp, cách Gò Tháp 4km, tại xã Hậu Thạnh Đông (Tân Thạnh, Long An) có một con rộc mang tên Rộc Đìa Gừa hay Rộc Đìa Gạo rộng chừng 20m một đầu hướng về Giồng Dung - Mộc Hóa. Đầu kia hướng về Gò Tháp và tiếp giáp các lung, trấp khác về phía Cai Lậy. Tận Vĩnh Hưng còn những địa danh đường Tượng, đường Gạo, Gò Thành, Gò Gạch, Vàm Đồn... .

Cách thị trấn Kiến Bình 2km về phía Nam (tức phía Cai Lậy) có 1 vệt đường Gạo (rộng chừng 2m, sâu 4-5 tấc) hướng về Gò Tháp. Nếu tính chỗ ngọn Bắc Đông (cắt kinh 12) tới Gò Tháp chừng 30km.

Có những con đường tự nhiên chạy ngoằn ngoèo, bất tiện, nghĩa quân đã nhắm hướng đi tắt, hoặc mở thêm đường mới khi bị Pháp đóng đồn ngăn chặn như chỗ Vàm Bà Bầy. Ngoài ra còn có đường Gỗ (rạch Trà Bông-Cao Lãnh) dùng vận chuyển gỗ.

Như vậy, từ trung tâm Đồng Tháp Mười, nghĩa quân có thể đi lại dễ dàng giữa các đồn chính và các đồn phụ, có thể tiếp xúc với các cửa ngõ: Mộc Hóa, Long An, Cai Lậy, Cái Bè, Cao Lãnh, Hồng Ngự, và liên lạc xa hơn nữa với các miền An Giang, Hà Tiên, Rạch Giá, Preyveng... Ngược lại kẻ lạ không tài nào thông thuộc hết các đường ngang nẻo dọc này.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #48 vào lúc: 24 Tháng Ba, 2009, 08:14:52 pm »

Chọn Đồng Tháp Mười làm căn cứ không phải do ngẫu nhiên để đối phó tình hình vô cùng bất lợi cho nghĩa quân trong những tháng 6, 7, 8 năm 1 864. mà phải nói rằng việc chọn Đồng Tháp Mười làm tổng hành dinh để chống thực dân Pháp xâm lược của Võ Duy Dương là một việc làm có cân nhắc tính toán cẩn thận. Ngay khi còn hoạt động ở đất Ba Giồng, Võ Duy Dương cũng đã xử dụng một phần tính năng của Đồng Tháp Mười. Xưa kia, trong cuộc tranh chấp Tây Sơn - Nguyễn Ánh, Đỗ Thành Nhơn cũng đã sử dụng cái thế “phên dậu" của Đồng Tháp Mười - Ba Giồng làm thế tiến thủ. Rõ ràng, trong thời kỳ mộ dân khai hoang ở vùng ven đất Ba Giồng và nhứt là trong thời gian hành quân lưu động (tháng tư năm 1863 đến tháng năm 1864), nhứt định Võ Duy Dương “nắm bắt" được thế đất và lòng người của vùng này .

Đồng Tháp Mười trũng thấp mênh mông với tràm đưng, lau sậy, đỉa muỗi... đường đi lại không có, cư dân ít ỏi; gối đầu với một Ba Giồng được khai phá lâu đời đã trở thành một vùng đất trù phú, đông dân nhứt nhì tỉnh Định Tường. Quả thật đây là một vị trí chiến lược lý tưởng trong cuộc chiến tranh giữ nước. Ba Giồng cung cấp sức người, sức của cho lực lượng nghĩa quân ở Đồng Tháp Mười. Đồng Tháp Mười vừa là bàn đạp tiến quân tiêu hao sinh lực đối phương vừa là vật che chắn bảo vệ nghĩa quân. Từ Đồng Tháp Mười có thể tiến lên miền Đông, quay xuống miền Tây hoặc rẻ sang Campuchia hay ra biển đều thuận lợi...

Chọn Đồng Tháp Mười làm căn cứ, quả thật Võ Duy Dương là một nhà quân sự có tài. 

Ngoài ra, còn một yếu tố khác hết sức thuận lợi cho việc chọn Đồng Tháp Mười làm căn cứ. Số là vùng Cao Lãnh, ven Đồng Tháp Mười ở phía Tây Nam, nhứt là các xã Mỹ Ngãi, Mỹ Trà, Mỹ Thọ... lúc bấy giờ có hai lực lượng nghĩa quân hoạt động: một do Nguyễn Văn Linh (Thống Linh) một do Nguyễn Tấn Kiều (Đốc Binh Kiều) chỉ huy.

Nguyễn Văn Linh, người ở xã Mỹ Ngãi huyện Kiến Phong, tỉnh Định Tường (nay thuộc phường 1 Thị xã Cao Lãnh), khi triều đình Huế ký hòa ước nhường 3 tỉnh miền Đông Nam kỳ cho Pháp, ông đã tự động đứng lên chiêu mộ dân dõng chống Pháp ở Cao Lãnh. (Chú thích: Về ngày hy sinh của ông, hiện nay có tài liệu chép 7/7/1862 không đúng, vì vào năm chánh quyền tỉnh Kiến Phong cũ (thời Ngô Đình Diệm) dựng tượng ông (mô phỏng từ người cháu nội là ông Nguyễn Văn Thôn) nhưng không biết năm mất của ông, nên dựa vào ngày giỗ của ông (7/7 âm lịch) mà suy ra. Hơn nữa, nếu ông bị giặc Pháp đem chém ngày 7/7/1862. tất nhiên ông phải bị bắt trước đó. Nhưng thực tế cho đến tháng 7/1862 bọn thực dân Pháp chưa đặt chân đến Cao Lãnh. Ông Nguyễn Vãn Linh hy sinh vào năm 1865 hay 1866 có lẽ đúng hơn.)

Nguyễn Tấn Kiều (Chú thích: Có nơi chép là Lê Tấn Kiều hay Lê Công Kiều, chưa xác định được quê quán của ông, nghe đâu ông cũng là người miền Trung vào Nam lập nghiệp có vợ là người ngụ ở Đồng Tháp Mười.) mộ nghĩa quân chống Pháp ở vùng Mỹ Thọ, Rạch Ruộng (huyện Kiến Phong, Định Tường).

Hai lực lượng này chính là những nhân tố đầu tiên tạo cơ sở cho căn cứ Đồng Tháp Mười phát triển sau này.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #49 vào lúc: 24 Tháng Ba, 2009, 08:15:50 pm »

II. Căn cứ Đồng Tháp Mười và hệ thống đồn lũy:

Võ Duy Dương đóng Đại bản doanh tại Gò Tháp. Trên ba con đường gạo, mỗi hướng có một đồn chính. Đồn Tiền (hướng Cái Nứa), đồn Tả (hướng gò Bắc Chiêng), đồn Hữu (hướng Cần Lố). Đồn nào cũng có lũy đất ở chung quanh, cao non 2,5 m, trong và ngoài lũy là hàng cừ bằng sao, lũy có đục cửa và có nhiều lỗ để nhắm bắn ra ngoài.

Mỗi đồn chứa từ 200 đến 300 nghĩa binh, 10 khẩu súng và 4-5 chục thớt súng bắn đá, vài khẩu đại bác (Chú thích: Nguyễn Hiến Lê. Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười)

Đồn Trung (Chú thích: Dân gian còn gọi là đồn Ổ Bịp. Ổ Bịp có lẽ do đồn đóng ở một nơi hiểm yếu, kín đáo như một Ổ chim bìm bịp. Trong bản báo cáo thứ 2 của Võ Duy Dương gởi vua Tự Đức năm..., có đề cập đến đồn Bảo An phải chăng là đồn Trung) tọa lạc ngay giữa Gò Tháp, (ngày nay thuộc ấp 4, xã Tân Kiều, huyện Tháp Mười tỉnh Đồng Tháp), cách thị trấn Mỹ An 107km về phía Bắc. Đồn có hình tứ giác không đều, chu vi 675m ở trên độ cao 2,54m so với mực nước biển chuẩn Hà Tiên. Đồn được Lê Kim (Trần Trọng Khiêm) (Chú thích; Trần Trọng Khiêm. (1821-1866), người quê Xuân Lăng. Sơn Vi, Phú Thọ, sang Hoa Kỳ, khoảng năm 1850, làm nhiều nghề: thủy thủ, bòn vàng, làm báo ... khoảng năm 1855, ông về nước, vào Nam; góp phần khai phá lập làng Hòa An (Cao Lãnh- Đồng Tháp) rồi tham gia nghĩa quân Thiên Hộ Đường.) thiết kế và xây dựng theo kiểu đồn Suter ở California (Hoa Kỳ).

Mặt tiền đồn hiện còn rất phẳng, các bờ thành đã được san bằng nhưng dấu vết còn rất rõ. Chẳng hạn, bờ thành phía đông là một gò đất nhô lên rộng chừng 5m, cắt ngang mặt gò từ Nam sang Bắc, giữa hai đường trũng của hào ngoài và hào trong. Hào ngoài 3m, hào trong gấp đôi nơi lấy đất đắp bờ thành và nền đồn.

Như vậy, để tránh sụp lỡ, mỗi bên trừ hao 0,5m thì chân bờ thành ít nhất cũng 4m. Để đạt chiều cao trên 2m theo các tài liệu trước đây ghi chép thì đỉnh bờ thành rộng chừng 1,5m.

Phía ngoài và phía trong chân bờ thành được kèo gỗ cho chắc để chịu đựng súng công phá của đại bác giặc. Ngoài các cổng chính, phụ vào đồn, nghĩa quân còn bắc nhiều cầu ngang mương từ bên trong qua bờ thành, nơi có nhiều công sự và lỗ châu mai hướng ra bên ngoài. Theo lời kể của các bậc kỳ lão trong vùng thì nghĩa quân còn lợi dụng độ cao của mặt thành chất gỗ sẵn chờ lúc giặc tấn công biển người sẽ “vứt dây lăn gỗ". Người dân sống trên Gò Tháp đào mương, vét giếng thỉnh thoảng còn gặp nhiều khúc gỗ nằm sắp lớp. Chung quanh nền đồn còn có nhiều bụi tre mỡ, tre vai vốn là lũy cũ còn lại.

Gò Tháp là một gò đất pha cát do bàn tay con người bồi đắp dựa trên sự thành tạo ban đầu của tự nhiên, nằm theo hướng dòng chảy sông Tiền đông bắc-tây nam. Đỉnh gò dài trên 500m, rộng 300m, nhưng chân gò chạy thoai thoải mớ rộng ra hướng tây nam, diện tích lên gần 1 cây số vuông, có những con lung viền quanh chân gò.

Với địa thế này, nghĩa quân dễ dàng bố trí nhiều trạm canh ở chung quanh, nhất là hai đầu cực bắc và cực nam. Trên đỉnh gò Tháp Mười (chỗ nền Tháp Mười tầng) có độ cao 5,047m là nơi nghĩa quân dùng làm đài quan sát từ xa (Chú thích: Có tư liệu nói đài quan sát hình vuông, bằng gạch, xếp nhiều bậc nhỏ dần từ dưới chân lên đỉnh, cao 12m.)

Gò đất thích hợp cho việc trồng khoai lang, khoai mì, mía. đậu, mè... rải rác trong đồn và trên gò có nhiều giếng khơi dùng để tưới rẫy và ăn uống.

Nếu như các đồn chính khác là đồn Tả, đồn Hữu nằm trên những gò cao như gò Giồng Dung, gò Động Cát thì đồn Tiền lại nằm giữa cánh đồng sình lầy gần vùng gò Bãi Liếp (nên nhân dân còn gọi là đồn Bãi Liếp (Chú thích: Có nơi ghi đồn Bảy Liếp, Tràm Liếp...)
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM