Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:53:18 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Võ Duy Dương với Đồng Tháp Mười  (Đọc 60365 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #60 vào lúc: 26 Tháng Ba, 2009, 12:06:46 pm »

Để trả thù, Roze hạ lệnh càn quét làng Mỹ Trà và các vùng phụ cận. Chúng bắt đầu đốt nhà, bắt heo gà.

Sáng hôm sau, quân Pháp và lính mã tà của Huyện Lộc, Quản Khanh tiến sang vùng Mỹ Ngãi vấp phải sự đánh trả của nghĩa quân. Hai bên dàn thành mặt trận, quần nhau gần nửa ngày. Cuối cùng Roze phải cho quân rút về Mỹ Trà.

Qua trận đánh úp đồn Mỹ Trà, quân Pháp thiệt hại nặng nề về người và của, nhiều súng ống đạn dược bị tịch thu và 1 tàu liên lạc bị thiêu hủy.

Trong thời gian ở lại Mỹ Trà để phòng thủ và lo lập lại đồn bót. Roze đã viết 1 bản hiệu triệu dịch ra chữ nôm đem dán khắp nơi trong vùng, nội dung như sau:

“Vâng lệnh hoàng đế Nã-phá-luân đệ tam, một bậc anh quân mà cả thế giới đều kính phục, quân đội nước Đại Pháp tới đây là để giải phóng cho các người khỏi sự áp chế và bóc lột của vua quan triều đình bản xứ và để cho các người được tự do tín ngưỡng phụng thờ.

Sự có mặt của bản soái ở đây là thể theo ý trời và thuận với lòng dân. Vậy trước sức mạnh của đội quân bách chiến bách thắng đã phất cao 1 ngọn cờ từ Âu sang Á để đem văn minh khai hóa cho các dân tộc còn hậu tiến, các người hãy bỏ khí giới xuống đừng nên dại dột theo đuổi một cuộc phiến loạn dùng sức quả trứng để chọi một tảng đá nghìn cân.

Trước sự khoan hồng của Nhà nước tân trào đã thiết lập trong các tỉnh Gia Định, Biên Hòa và Định Tường, thể theo tinh thần tự do, bình đẳng, bác ái cùng lòng hiếu sinh vị tha của chúa và của trời, bản soái kêu gọi các người hãy ra cộng tác với Nhà nước tân trào. Nhà nước sẽ trọng thưởng. Như còn dong túng những kẻ phiến loạn, hoặc thấy mà không báo cho Nhà nước, thì sẽ bị nghiêm trị” (Chú thích: Thái Bạch, Sđd trang 66-67).

Được lệnh của Pháp, và để lập công với “quan thầy" Trần Bá Lộc tri huyện Kiến Phong củng cố lại bộ máy công sở Mỹ Trà.
Phạm Văn Khanh, vốn là quân đồn điền Tường Võ, làm đến chức Ban biện suất đội, am hiểu tình hình địa phương, chỗ bạn bè, quen biết với các viên chỉ huy nghĩa quân trong vùng. Tuy ít học nhưng Khanh rất ham mê nghiệp võ. Mãn hạn lính, kịp khi Pháp đến, Khanh làm tay sai cho chúng. Được phong chức Quản bộ đạo, Khanh đứng ra mộ tráng đinh, tổ chức một đạo binh chia thành 10 đội (mỗi đội 10 người) sắm khí giới canh phòng chợ Cao Lãnh.

Nạn cướp bóc đang hồi hoành hành. Cướp Tàu Hia từ miệt Nam Vang, Châu Đốc đi ghe xuôi dòng Cửu Long đánh phá các chợ dọc đường.

Một số nhóm giả danh nghĩa quân thị uy để dễ bề tống tiền đã làm dân chúng thù oán, khó phân biệt “vàng thau".
Vịn cớ ấy, làng lính đánh đồng là "Giặc Tháp Mười” để lôi kéo nhân dân bảo vệ quyền lợi của mình, giữ gìn an ninh trật tự thôn xóm. Qua đó, chống lại nghĩa quân.

Khanh bắt tráng đinh phải luyện tập hàng ngày. Mé sông chợ thì đào hầm, đắp lũy. Mỗi nhà phải có thùng, gàu, ống thụt, dây để phòng “giặc" đốt nhà mà chữa. Khi nghe hồi trống quân là có “giặc" tất phải mang khí giới tập trung tại chợ.
Ngoài ra còn đặt tháp canh ở các yếu lộ, luôn luôn có người canh giữ, hễ thấy động tịnh đàng xa thì báo ngay cho Quản Khanh.

Giúp việc Khanh, bên văn có Nhiêu học Phan Đôn Thành (tức Nhiêu Thành) - một người túc trí đa mưu; bên võ có Đội Mền...
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #61 vào lúc: 26 Tháng Ba, 2009, 12:08:27 pm »

2. TRẬN TẤN CÔNG MỸ TRÀ CUỐI NĂM 1865 (Chú thích: Từ trước tới nay, người ta nhầm lẫn giữa trận đánh úp đồn Mỹ Trà ngày 22/7/1865 với trận tấn công Mỹ Trà. Trận này không rõ ngày tháng, theo miêu tả lúc ấy nhiều sa mù. Như vậy là trước hoặc sau Tết âm lịch. Nếu sau Tết âm lịch là tháng Giêng tức là tháng 2 dương lịch, nghĩa quân đã mở mặt trận thứ 2 sang Cái Bè-Mỹ Quí. trận này diễn ra vào tháng Chạp năm 1865 thÌ hợp lý hơn.)

Sau sự kiện ám sát hụt Nhiêu Thành - người bày vẽ mọi thứ cho Quản Khanh - dân chúng xôn xao bàn tán, hội tề làng Mỹ Trà nơm nớp lo sợ Nhiêu Thành bàn vỚi Quản Khanh xuống huyện trình bày cớ sự. Mặt khác tăng cường phòng thủ.

Đúng như sự dự đoán, cuối năm 1865, trên 100 nghĩa quân trang bị 2 súng đồng cửu phân, 2 thùng thuốc, 2 củi đạn và 5, 6 súng kép, còn lại là gươm, giáo, siêu, đao... dưới sự chỉ huy của Thượng Biện Dương và Thống Quản Long.

Nghĩa quân chia làm 3 đạo tiến vào công sở Mỹ Trà quyết bắt sống Phạm Văn Khanh.

Đạo thứ nhất, 30 người, từ trong Tháp ra ngọn Ba Sao để xuống Cầu Mống. Đạo thứ hai, 50 người, kéo ra ngọn Cần Lố tràn lên theo đường Đồn (xóm Bún bây giờ). Đạo thứ ba, 30 người. đi 3 ghe xuôi theo ngọn Mương Khai.

Được tin cấp báo, Quản Khanh chia tráng đinh ra làm 2 cánh. Đội Mến chỉ huy một cánh. Đích thân Quản Khanh kéo đội quân hùng nhuệ phục kích tại đường quẹo "Cây Đa" (nay là bệnh viện Đa khoa Cao Lãnh).

Hai bên xáp chiến, dân làng hoảng kinh, phố xá, nhà cửa 2 bên chợ đóng kín mít. 

Đến giờ này, đạo thủy quân còn loay hoay bên ngoài. Vì trời sa mù, đạo quân thứ hai bị lạc đường không hiệp nhau đúng hẹn làm cho đạo quân thứ nhứt lúng túng.

Nguyễn Công Mẫn, một mưu sĩ của Khanh, nhanh chân chạy xuống Chùa Phật, cách chợ chừng 1.000 thước, thúc tăng lữ nổi trống sấm và thổi ốc lên hòa cùng tiếng trống quân dồn dập.

Tráng đinh của Quản Khanh hăng lên, vừa đánh vừa đồng thanh la lớn “Có tàu lân lên " (Chú thích: “Tàu lân": là một chiếc tàu tuần của Pháp, trên mui có để một con kỳ lân bằng sành mỗi khi lên đến thì trong chùa đánh trống sấm để báo tin cho Quản Khanh biết mà đi tiếp rước) nghĩa là có tàu Pháp trợ chiến .

Trận chiến kéo dài đến mặt trời mọc. Vì có sự chệch choạc giữa 3 đạo quân. nghĩa quân nhanh chóng rút lui bỏ lại 1 xác chết, 1 súng đồng, 2 thùng thuốc và 2 củi đạn. Bên Quản Khanh chết 1, bị thương 2, Phố chợ cháy 4 căn và 1 chiếc ghe.

Sau trận này, Quản Khanh được ban 1 mề đai vàng ở trong có khắc mấy chữ "Au Quản Bộ Đạo Phạm Văn Khanh", 1 đồng hồ quả quýt, và 1.200 quan tiền.

Trước kia, Khanh đã được 1 huy chương bạc của Hoàng đế Napoléon III ban cho, sau lưng mề đai có khắc dòng chữ: “Phạm Văn Khanh Chef des Partisans Annamites à l'lnspection de Sa Dec".

Đánh với Quản Khanh xong, Thượng Biện Dương và Thống Quản tong về Đại bản doanh tự nhận sự điều binh vụng về của mình với Võ Duy Dương. Hai ông chỉ huy mà không phối hợp chặt chẽ với các đạo quân để xảy ra những tổn thất đáng tiếc, thể hiện một sự khinh địch và quan cách: đi lộng lớn, lộng nhỏ trong lúc đánh nhau với giặc. Cũng như trước kia đã ám sát nhầm vợ của Nhiêu Thành, gây tai tiếng không ít cho nghĩa quân.

Võ Duy Dương thấy hai thuộc tướng của mình thành khẩn như vậy, nên vỗ về và đốc xuất các ông chuộc lỗi bằng những cuộc tập kích sắp tới

Nghĩa quân Đồng Tháp Mười còn tấn công chợ Cao Lãnh vài lần nữa, và tìm cách ám sát Quản Khanh nhưng không có kết quả đáng kể.

Võ Duy Dương mở một mặt trận thứ nhì, tấn công Cái Bè, Mỹ Quí, chọc thủng phòng tuyến của Pháp đóng ở vùng này. 50 quân Pháp và gần 100 lính mã tà bị nghĩa quân tiêu diệt và bắt sống
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #62 vào lúc: 26 Tháng Ba, 2009, 12:09:25 pm »

Về phần Nam triều, hay tin Võ Duy Dương gây nhiều tổn thất cho quân đội Pháp, vua Tự Đức liền xuống chiếu cho Tổng đốc Trương Văn Uyển ở Vĩnh Long bí mật cử người vào Đồng Tháp Mười sắc phong cho Võ Duy Dương làm lãnh binh

Cuộc khởi nghĩa của Võ Duy Dương vốn đã in sâu trong lòng quảng đại quần chúng, nay lại được sự nhìn nhận của triều đình, càng có điều kiện phát triển. Các tỉnh miền Tây mạnh dạn hơn trong việc giúp thêm lương thực khí giới, các đạo nghĩa quân khác cũng thường xuyên liên lạc với ông để hợp đồng tác chiến. Cùng một lúc đánh Pháp ở nhiều nơi khiến chúng phải phân tán lực lượng đối phó, kín chỗ này hở chỗ kia. Bộ máy cai trị làng xã ở nhiều nơi bị giải tán luôn, hương chức hội tề mất ăn mất ngủ.

Con đường ngoại giao, tranh thủ Triều đình gây sức ép như trước đây không còn hy vọng gì.

"Ngày 20/1/1866, Phan Thanh Giản từ Huế về tiếp nhận 3 tỉnh miền Tây với chức Kinh lược. Chúng ta ngờ rằng vị quan này sẽ ra lệnh ngưng mọi việc nổi loạn nhưng chuyện đâu vẫn còn đấy như cũ. Lịnh của Phan Thanh Giản vẫn là vô hiệu quả, bọn phiến loạn ở Đồng Tháp ngày càng gia tăng hoạt động. Và đồn bót nhỏ của vùng Mỹ Tho bị tấn công. Đầu tháng 2 (Dương lịch) bọn phiến loạn truyền hịch kêu gọi dân chúng nổi dậy, hứa rằng sẽ thành công vì có “Người Nhật Bản ủng hộ" (Chú thích:  Đào Văn Hội. Tân An ngày xưa, sđd.)

Đầu năm 1866, thủy sư đô đốc De Lagrandière quay trở lại Việt Nam với một quyết tâm lớn là tiêu diệt căn cứ kháng chiến Đồng Tháp Mười và chiếm luôn các tỉnh miền Tây Nam kỳ.

Trong tháng 3, Pháp bất đầu mở những cuộc hành quân với ý đồ thăm dò phản ứng của nghĩa quân. 

Từ Cái Bè, Pháp kéo vào vây đồn Cái Nứa. 200 nghĩa quân giao chiến với chúng suốt mấy ngày liền. Trước hỏa lực mạnh của Pháp, nghĩa quân phải tạm bỏ đồn Cái Nứa rút về Thủ Ngữ, Đất Sét. Pháp để lại một phân đội đóng tại chỗ.

Đêm đến, nghĩa quân tập kích chợ Cái Nứa nhưng bị Pháp đánh bật ra. Nghĩa quân lại tiếp tục tập kích lần thứ 2 và tái chiếm chợ Cái Nứa.

Pháp tháo chạy, chờ viện binh từ Cái Bè rồi tổ chức tấn công một lần nữa. Hai bên giành giật nhau từng thước đất chợ Cái Nứa. Cuối cùng nghĩa quân phải lui về Thủ Ngữ đóng dã chiến và gấp rút đắp phòng tuyến. Lần này, Pháp đóng luôn một đồn kiên cố tại chợ Cái Nứa.

Tại ấp Lý, Pháp huy động 250 lính thủy và dân quân tấn công. Nghĩa quân trong đồn chỉ có 150 người và vài chục khẩu súng phải chịu đựng sức công phá dồn dập của vũ khí tối tân từ các tàu chiến hỗ trợ cho bộ binh. Đồn Ấp Lý bị vỡ, nghĩa quân phải rút về phía sau để bảo tồn lực lượng.

Ngày 1 tháng 4/1866, Pháp lại tấn công một đồn nữa và bắt được hai nghĩa quân.

Trong khi đó, tàu chiến Pháp ngược sông Vàm Cỏ Tây tiến lên Mộc Hóa. Chúng đổ quân đóng tại Giồng Dừa, Kinh Ngang. Các trạm canh ven sông có làm chậm bước tiến quân Pháp, nhưng rồi Pháp cũng áp sát tận gò Bắc Chiêng.

Lực lượng thủy, bộ Pháp tập trung đè nặng lên phía Tây Bắc, vùng hậu của căn cứ Đồng Tháp Mười chờ ngày đồng loạt tấn công vào đại bản doanh.

Chính vì vậy, Võ Duy Dương giao mặt Hòa Khánh, Thông Lưu cho các thuộc tướng để về đồn Tiền và đồn Trung bàn luận với bộ tham mưu. Sau khi cân nhắc tình thế, đích thân ông sang chỉ huy đồn Tả, Phó tướng Nguyễn Tấn Kiều và tướng Nguyễn Văn Cẩn thay thế ông coi giữ trung quân tại đại bản doanh và tăng viện đồn Tiền, đồn Hữu.

Mấy đợt lấn chiếm các nơi, một số nghĩa quân sa vào tay giặc, và có người bị lung lạc. Sau khi khai thác và phối kiểm tin tức tình báo, Pháp thấy có thể lên sơ đồ và xúc tiến kế hoạch tấn công căn cứ Đồng Tháp Mười ngay trong mùa khô. Mục tiêu chính cần phải triệt hạ là đại bản doanh Gò Tháp.

Mặt khác để tác động tâm lý, Pháp tung tin rằng: Triều đình đã đồng ý đổi Đồng Tháp Mười lấy Vĩnh Long.

Lê Văn Ông đóng quân tại Rạch Ruộng và Võ Văn Khả đồn trú vùng Hồng Ngự cả tin, vội bãi binh lui về Sa Đéc.

Việc này đã gây hoang mang, giao động trong hàng ngũ nghĩa quân. Trong khi cuộc thư hùng sắp diễn ra nay mai.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #63 vào lúc: 27 Tháng Ba, 2009, 09:05:28 pm »

TRẬN THÁP MƯỜI – (THÁNG 4/1866)
   

Việc phải đến, đã đến. Gần 1.000 thủy-lục quân với nhiều tàu chiến và đại bác được tập trung để mở cuộc hành quân.
Bộ binh gồm 100 lính Pháp, 250 lính mã tà. Thiếu tá Dérôme và các đại úy: Boubée, Paris de La Bollardière, Gally Passebose cùng Quản Tấn, Huyện Lộc chỉ huy.

Ngày 14/4/1886, toàn bộ lực lượng này chia làm 3 mặt đồng loạt tấn công Đồng Tháp Mười.

Mặt 1 : Từ Cái Nứa đi vào.

Mặt 2: Từ Cần Lố đi qua.

Mặt 3: Từ Bắc Chiêng đi xuống.

Thủy binh thì theo tàu chạy dọc theo các con sông để phong tỏa nghĩa quân.

Trên sông Vàm Cỏ Tây, tàu giặc ra sức phá các bè cản ngang sông để tiến đến Bến Kè, Sông Soài, và Đá Biên rồi thẳng lên Nồi Gọ. Vấp phải cản ngại, thủy binh phải chạy vào sông Vàm Cỏ Đông tiến vào kinh Bình Hòa để xuyên qua Trà Cú.
Phía sông tiền (Cao Lãnh) thủy quân tiến vào vàm sông Phong Mỹ, thả thẳng vào Ba Sao, Cái Bèo...

Lúc đó, nghĩa quân tại đại bản doanh Gò Tháp - nơi chìm sâu trong cánh đồng bưng, lác được bao bọc bởi các khu rừng tràm bao la bát ngát, có nhiều lối mòn quanh co, phía dưới là các hầm hố cấm đầy chông nhọn phủ cỏ lên mặt rất tự nhiên - phần lớn nghĩa quân ra tăng cường cho các đồn chính: đồn Tiền, đồn Tả, đồn Hữu.

Riêng hướng Cái Nứa, đối. đầu với sào huyệt Pháp ở Cái Bè, Cai Lậy, Mỹ Tho, quân Pháp thường xuyên hành quân vô đây và hai bên đã nhiều lần chạm trán, nên nghĩa quân đã chủ động rải lực lượng đóng ở khắp khu vực Bằng Lăng, Mỹ Thạnh chạy dài đến Bang Dày và Xóm Than buộc bộ binh Pháp theo các ngã Cai Lậy và Cái Bè phải chia làm nhiều toán tiến vào Quản Oai, Hàm Vồ, Uy Trung và Mỹ Quí.. .

Ngày 15/4/1866 toán quân của đại úy Boubée từ Cần Lố tấn công đồn Sa Tiền. Địa hình vùng này có nhiều sông rạch chằng chịt, tàu chiến lưu thông dễ dàng, tăng cường hỏa lực cho bộ binh rất hữu hiệu. Tuy vậy, 150 nghĩa quân trong đồn chống lại mạnh mẽ, làm cho trung úy Vigny bị thương, nhưng rốt cuộc nghĩa quân cũng phải vùi khí giới dưới bùn rồi rút lui vào phía trong.

Dérôme, thiếu tá, chiếm được một đồn nhỏ trên đường từ Cái Nứa đến đồn Tiền. Quân Pháp tiến vào xóm Than, Bằng Lăng, Mỹ Thạnh. Hai bên kịch chiến, quân Pháp dùng đại bác mở đường. Nghĩa quân nấp trong các khu vực rừng tràm bắn tỉa ra. Quân Pháp bị thiệt hại khá đông, phải chững lại. Nghĩa quân rút lui về hướng khác.

- Hướng Bắc Chiêng, gần nửa tháng nay, quân Pháp từ phía Giồng Gừa, Kinh Ngang nhích dần lên. Tàu Pháp hùng hục trên sông Vàm Cỏ Tây tìm cách gỡ các trạm canh hai bên bờ. Lối bắn tỉa của nghĩa quân không phát huy được tác dụng. Cuối cùng Pháp đến trước đồn Tuyên Oai đóng trên Gò Bắc Chiêng.

Một trăm hai mươi nghĩa quân với mười lăm súng cò máy đá và gươm giáo sẵn sàng chiến đấu. Hai bên dồn mọi cố gắng cho trận quyết chiến đầu tiên ở mặt này. Trước sức công phá dữ dội của thủy binh, nghĩa quân tạm bỏ đồn Tuyên Oai định kế đánh hỏa công.

Đại úy Gally Passebose chiếm được đồn này. Tuy lính Pháp bị thương và chết không bao nhiêu nhưng kiệt sức và uể oải tinh thần. Gally phải xin thêm 25 viện binh.

Tất cả những nơi trú ẩn và 5 đồn nhỏ của nghĩa quân dài theo con đường mòn bị vỡ hết trong ngày 15. Các đồn chính: đồn Tiền, đồn Tả, đồn Hữu trở thành 3 đồn tiền tiêu và nghĩa quân đang bị dồn vào thế thủ từ 3 mặt. Nghĩa là quân Pháp còn cách Đại bản doanh mỗi phía trong khoảng trên dưới 6km.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #64 vào lúc: 27 Tháng Ba, 2009, 09:06:20 pm »

Ngày 16/4/1866, toán quân của Dérôme tiến tới đồn Tiền, lính mã tà đi trước dẫn đường. Nghĩa quân chờ sẵn ở công sự với vũ khí cầm chắc trong tay. Những trận đụng độ ở Ấp Lý, Cái Nứa giằng co ít hôm rồi Pháp cũng tiến thẳng một mạch đến đây. Pháp có ý xem thường, lính mã tà càng kiêu căng.

Không có một sự kháng cự từ xa, đồn Tiền như là bỏ ngỏ, Huỳnh Công Tấn hăng hái đi đầu dẫn quân men theo con đường đắp từ phía đường gạo và bỏ tốp lính Pháp lại phía sau khá xa... Bất thần nghĩa quân phục kích vòng ngoài đồng loạt nổ súng, 1/3 số lính ngã gục. Quản Tấn hấp tấp rút lui. Lính Pháp cũng dừng quân bắn giải vây cho lính Việt. 

Sau khi bổ sung quân số từ tàu Fusée, theo bản sơ đồ, Gally điều động đội quân của mình nhắm hướng đồn Tả, còn gọi là đồn Chánh. Nơi có 350 nghĩa quân chống giữ và 40 khẩu đại bác, cộng thêm số nghĩa quân từ Tuyên Oai rút về. Đặc biệt phải tính đến người lính Pháp Linguet luôn cận kề bên Võ Duy Dương, hơn một tuần nay trực tiếp đốc xuất việc bố phòng và xuất kích tại đồn Tả.

Giữa tháng 4, những cơn mưa rào đã đến, thời tiết gây bất lợi cho việc đánh hỏa công. Từ trên các cao điểm (ngọn cây cao, đài quan sát) nhìn đội hình quân Pháp tiệm tiến như một mũi kim luồn sâu vào cánh đồng năng lác. Thám báo của nghĩa quân từng chập phát tín hiệu, theo kiểu liên hoàn, đưa tin khẩn cấp về đồn Tả.

Đội tiền quân sở trường đánh "đội trấp" phải lúng túng vì tốp lính thủy quân lục chiến Pháp đã được tập luyện thích nghi với lối đánh sông nước, đồng bằng. Hơn nữa, số lính mã tà người Việt còn bày cho lính Pháp (vận dụng cách di chuyển của nghĩa quân) đi trên cộ trâu, lía trâu và xuồng ghe theo các con lung tự nhiên.

Sau vài đợt đánh cầm chừng, nghĩa quân phải rút vào trong đồn cố thủ.

Buổi trưa, giờ nổ súng đã điểm. Nghĩa quân trong đồn được sự chỉ huy của Võ Duy Dương quyết tử chiến. Hai bên giao tranh ác liệt. Đến buổi chiều, đạn dược của nghĩa quân hết sạch, mà quân Pháp từ 3 phía ồ ạt xung phong. Nghĩa quân buộc lòng phải tản theo ngã hậu, bỏ lại 3 khẩu đại bác 12, và 17 súng cò máy đá cùng 27 chiếc ghe, xuồng. Trận này lính Pháp chết 2 và bị thương 17.

Thừa thắng, Gally truy kích những nghĩa quân rút lui về hướng Tháp Mười mà y đã thấy.

Quân Pháp bị sụp hầm chông chết và bị thương thêm một số nữa mới vào được Đại bản doanh.

Biết được sức giặc và không thể dựa vào thành cao hào sâu, Võ Duy Dương chủ động bỏ đồn Trung. 

Trong đồn có vài chục nóc nhà cất bằng tràm lợp dừa, kho chứa đạn dược và lương thực. Quân Pháp nổi lửa đốt, ngọn khói bốc lên đen kịt cả một góc trời.

- Tại đồn Hữu, nghĩa quân chiến đấu rất dũng cảm cầm cự với Pháp suốt 3 ngày đêm (15, 16, 17) trong hoàn cảnh vũ khí và lương thực thiếu thốn. Trong khi đó quân Pháp lại được tăng viện dồi dào.

Đồn Hữu là một đồn chính giữ con đường gạo huyết mạch Cần Lố. Nó đóng vai trò trung chuyển giữa đồn Doi, Sa Tiền với đại bản doanh. Mỗi khi có chuyến tiếp tế từ ngoài vào là thân nhân, vợ con của nghĩa binh cũng theo vô. Những tay do thám cũng giả dạng trà trộn vào. Trước sự cảnh giác của dân binh nhiều kẻ gian đã bị bắt nộp cho nghĩa quân.

Khi Thống Linh hy sinh, Huỳnh Lục, Huỳnh Thất cầm chân Pháp tại đồn Doi thêm một thời gian.

Hai lần Pháp lấn chiếm đồn Doi và Sa Tiền tiến sâu vào tận Động Cát (Đồn Hữu).

Người chỉ huy đồn Hữu lúc đó là Huấn Hiệu cùng hộ vệ Tân, Thủ Chiếu (thầy thuốc rắn) trợ lực cho Huỳnh Thất, Huỳnh Lục đánh bật quân Pháp đến tận Cần Lố và đóng lại đồn Sa Tiền, đồn Doi.

Mãi đến tháng 6/1865, Pháp dời huyện lỵ Kiến Phong về Cần Lố (Chú thích: Trước đặt tại Mỹ Trà) nghĩa quân mới rút hẳn về đồn Sa Tiền.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #65 vào lúc: 27 Tháng Ba, 2009, 09:07:32 pm »

Ngày 17/4/1866, Dérôme lại tấn công đốn Tiền lần nữa. Trước đây quân Pháp mở nhiều cuộc tấn công vào đồn Tiền theo hướng Cái Bè, Cái Nứa lên hòng phá vỡ bức tường án ngữ này để vào đồn Trung, nhưng mấy lần đó đều thất bại. Về sau Pháp cho tên Quản Cao lén lút xâm nhập vào hàng ngũ nghĩa quân (bên cạnh còn Phạm Văn Khanh bỏ căn cứ theo Pháp). Nhờ các tên này báo cáo tình hình, Pháp biết rõ sơ đồ, đồn lũy của nghĩa quân nên chúng mở thêm hai hướng tấn công mới từ Cao Lãnh và Mộc Hóa tạo thành thế áp đảo 3 mặt.

Trong cuộc tấn công này, Pháp đã dồn lực lượng về phía Gò Bắc Chiêng đánh bọc hậu để tạo thế bất ngờ vừa ngăn chặn đường rút lui của nghĩa quân vừa đẩy nghĩa quân ra khỏi vùng đầm lầy để các cánh quân khác tiêu diệt. 

Nghĩa quân bị truy kích mang theo tin đồn Tả thất thủ chiều ngày 16 đã làm tinh thần chiến đấu của nghĩa quân trong các đồn còn lại sa sút hẳn. Đại bản doanh Gò Tháp lại âm thầm phân tán lực lượng kéo theo sự sụp đổ nhanh hơn của đồn Hữu và đồn Tiền.

Trước tình hình nguy ngập này, Nguyễn Tấn Kiều (Đốc Binh Kiều) và Nguyễn Văn Cẩn (lãnh binh Cẩn) quyết tâm dùng kế phục binh để Võ Duy Dương tìm hướng thoát thân và bảo toàn lực lượng.

Trong một trận đánh giáp lá cà, Nguyễn Tấn Kiều đã anh dũng hy sinh cạnh bên những xác chết ngổn ngang của lính Pháp.

Còn lại một mình, lãnh binh Cẩn đánh mở đường máu về hướng Tây, rút lên Hồng Ngự, Lăng Xăng, ngã ba Thông Bình.
Tới Hồng Ngự, chưa kịp nghỉ quân, một lần nữa ông lại bị Trần Bá Lộc truy kích.

Chiến trận tan rồi, Phòng Biểu đã cùng nghĩa quân mang xác chủ tướng mình là Nguyễn Tấn Kiều về chôn cất tại nền đồn Trung (Đại bản doanh Gò Tháp). Ngoài ra, Phòng Biểu còn làm nhiều ngôi mộ giả để nghi trang.

Ngày 18/4/1866, kể như toàn bộ căn cứ của nghĩa quân đều thất thủ, đây đó chỉ còn vang lên vài tiếng súng rời rạc.

Ngày 19/4/1866, quân Pháp vội vã rút lui quay về, phải đi vất vả 2 ngày nữa mới tới chỗ xuất phát cũ.

Suốt trong tuần lễ từ 14 đến 21/4/1866 thủy quân do tàu chở chạy dọc theo các sông để phong tỏa đường ra của nghĩa quân.

Ngày 22, khi đoàn tàu trở về Tân An, một chiếc bị chìm làm chết 7 lính Pháp, 1 đại úy.

Tính tổng cộng trong trận Tháp Mười, bên Pháp vừa chết và bị thương gần 100 người.

Pháp tịch thu được rất nhiều vũ khí và quân trang quân dụng, nhưng chỉ bắt được 2 hoặc 3 tù binh.

Cũng trong thời gian ấy, cánh nghĩa quân rút về phía đông, do Võ Duy Dương chỉ huy bị Pháp chặn đánh, trận đánh lớn giữa 2 bên diễn ra tại vùng Cái Thia thuộc quận Cái Bè.

Trận đánh liên tiếp mấy ngày. Nghĩa quân đánh rất hăng. Hai bên đều thiệt hại nặng. Quân Pháp bắt được 2 người lính Tagals, 1 người Pháp tên là Linguet và 12 nghĩa quân, nhưng phải đổi lại hai sĩ quan cấp úy và một số lính Pháp chết và bị thương.

Trận Tháp Mười là trận đầu tiên quân Pháp thắng được nghĩa quân trong một nơi bùn lầy, nên họ mừng lắm. Chính thủy sư đô đốc De Lagrandière nói "kết quả về chính trị của trận ấy rất lớn. Người Việt từ nay hết ảo vọng. Trước kia, họ tuy chịu là ta thắng họ trong đồng bằng và trong rừng rú, nhưng vẫn tưởng ta phải thua họ nơi bùn lầy" (Chú thích: Nguyễn Hiến Lê, sđd trang 50.)

Thật ra Võ Duy Dương không bao giờ ảo vọng. Ngay thời điểm căn cứ Đồng Tháp Mười cực thịnh, Người đã tự đánh giá :

“Dù sao cũng phải nhìn nhận rằng vị trí của Tháp Mười này ít thuận lợi là một nơi hoang vu và tiếp tế lương thực rất khó khăn. Người Pháp không thể không trở lại đây, chúng ta có thể bị tàn phá bởi quân số của họ, nếu chúng ta không quyết định rút khỏi nơi đây ngày 15 tháng 2, sau khi chúng ta chiến thắng để chúng ta bố trí ở đồn Bảo An" (Chú thích: Gustave Janneau, (tài liệu đã dẫn))

De Lagradière ban khen cho 37 người Việt đã có công trong việc hành binh. Quản Tấn và Huyện Lộc được mề đai.

Đồng thời với sự thắng trận này, Pháp lập thêm nhiều đồn bót để bao vây căn cứ địa Tháp Mười, chặn lại các cuộc nổi dậy và đánh phá của nghĩa quân. Điều bất ổn đối với chúng là Võ Duy Dương - linh hồn của cuộc khởi nghĩa - đối thủ lợi hại của Pháp, vẫn còn tồn tại...
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #66 vào lúc: 27 Tháng Ba, 2009, 09:09:34 pm »

V. Liên minh chiến đấu:

Sau trận Pháp đại tấn công, căn cứ Tháp Mười coi như bị phá vỡ. Nghĩa quân tổn thất không bao nhiêu, ngược lại, số tản mác khá nhiều. Tốp rã ngũ tại chỗ tìm nơi heo hút lo làm ăn, tốp chạy sang An Giang gia nhập vào hàng ngũ của Acha-xoa. Có người giả dạng tu hành chờ thời cơ.

Võ Duy Dương và các bộ tướng không vì thế mà ngã lòng, ông thay đổi cách đánh, từ chỗ dựa vào đồn lũy Pháp ở Mỹ Tho, Cai Lậy, rồi ông rút quân sang Cao Lãnh, tiến lên Ba Thằng Minh, Gò Bắc Chiêng.

Tại đây, cánh quân rút về phía đông (đến Cái Thia) do Võ Duy Dương chỉ huy, cánh quân rút về phía Tây (lên Hồng Ngự- Lăng Xăng- Thông bình) do Nguyễn Văn Cẩn chỉ huy, và một vài toán nhỏ lẻ khác của Trương Tấn Minh, Phòng Biểu... đã gặp nhau.

Củng cố xong lực lượng, Võ Duy Dương phối hợp ngay với các thủ lĩnh khác để tiếp tục chiến đấu. Sự phối hợp này thật ra là bố trí lại lực lượng trên toàn khu vực, chọn những cách đánh linh hoạt hơn. Bởi vì sự liên minh chiến đấu đã có ngay trong trận Tháp Mười và trước đó nữa...

Căn cứ Đồng Tháp Mười tan vỡ là sự tổn thất riêng của Võ Duy Dương, đồng thời là tổn thất chung của các lực lượng chống Pháp của người Việt cũng như người Khmer tại Nam kỳ và vùng biên giới.

Đến lượt trung tâm kháng chiến chuyển về khu tổng Cầu An Hạ ở Bắc Đức Hòa, một tổng liền với Trảng Bàng (tỉnh Tây Ninh). Võ Duy Dương đã tìm gặp Trương Quyền, người thủ lĩnh phong trào tại đây.

Qua Trương Quyền, hẳn nhiên, Võ Duy Dương liên minh với Poucombo.

Liên quân Việt-Khmer đủ các chủng tộc, người Việt, người Khmer, người Chăm, người Siêng và các bộ lạc khác... Ở đây còn có những người lính Pháp, lính Tagal phản chiến.
*
*   *
Mở màn cuộc liên minh này là chiến thắng Tây Ninh (ngày 7/611866). Liên quân Việt-Khmer trên 300 người do Poucombo lãnh đạo tấn công đồn Tây Ninh, hạ tại trận 12 lính Pháp, trong đó có chủ tỉnh Tây Ninh Larclauze và viên thiếu úy Le Sage.

Được tin thất trận ở Tây Ninh, thủy sư đô đốc De Lagrandière đưa quân lên tiếp viện.

Ngày 14/6/1866, Marchaise, trung tá thủy quân lục chiến Pháp, chỉ huy 150 lính và 2 cỗ đại bác tìm diệt nghĩa quân. Trong lúc lội qua rạch Dinh, đội hình Pháp rơi vào ổ phục kích của nghĩa quân. Bằng cung nỏ, gươm giáo và một ít súng trường, nghĩa quân đã dũng cảm đánh giáp là cà giết chết tên Marchaise và nhiều lính Pháp. Số còn lại bỏ chạy tán loạn.

Chiến thắng rạch Dinh và Tây Ninh trước đó là một tiếng vang lớn làm nức lòng nghĩa quân cũng như dân chúng Việt-Khmer. Nhưng, đó là nỗi kinh hoàng và lo sợ của Pháp. Paulin Vial trong cuốn Histoire de la Cochinchine, (cuốn II) có viết: 

“Trong khi Pháp lo những cuộc hành binh khác, tin trận rạch Dinh và tin số quân bị thiệt hại của ta (Pháp) làm tràn ra ngoài dân chúng như một làn lửa thuốc súng. Các lãnh tụ khởi nghĩa phái người đi cổ võ khắp nơi, đến cả trong hàng ngũ chúng ta (Pháp), đến cả trong phố Sài Gòn và họ tìm cách tấn công ta tại thủ phủ của ta".

Ngày 24/6/1866, nghĩa quân lại tấn công đồn Thuận Kiều và Trảng Bàng.

Biết rõ căn cứ của nghĩa quân Việt Nam đóng tại tổng Cầu An Hạ, ở giữa bưng Tầm Lạc và Vàm Cỏ Đông, khu vực chạy dọc theo đường Sài Gòn-Tây Ninh, ngày 27/6/18666 Pháp điều lực lượng quanh vùng Chợ Lớn, ở Phú Lâm, ở Cầu Ong Lãnh gồm 200 lính Pháp, 100 lính mã tà và một pháo thuyền do thiếu tá Rosse chỉ huy đến bao vây, tập kích vào căn cứ.

Nghĩa quân chủ động đánh mở ra 3 mặt. Trương Quyền dẫn một cánh quân đông nhất đánh lên phía Trảng Bàng. Cánh thứ nhì đánh về phía sông Bến Nghé. Cánh thứ ba đánh xuống phía nam, băng qua đầm lầy, trú quân tại Bình Điền. Cai tổng Phước hay tin kéo lính đến vây
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #67 vào lúc: 27 Tháng Ba, 2009, 09:10:20 pm »

Cũng như căn cứ Tân Hòa (Gò Công), căn cứ Gò Tháp (Đồng Tháp Mười), trung tâm kháng chiến Cầu An Hạ bị san bằng vì tương quan lực lượng và vũ khí chênh lệch, nghĩa quân kháng cự quyết liệt nhưng cuối cùng đành chịu thiệt hại nặng ở ấp Bình Thủy, ở Ba Hầm và Bình Điền. Nguyễn Văn Tài, một trong những người chỉ huy nghĩa quân đã bị giặc bắt. Khi lên đến Tây Ninh, Trương Quyền cùng hoạt động mật thiết với Poucombo.

Từ ngày 2/7 đến ngày 1l/7/1866; liên quân Việt-Khmer còn chạm trán với Pháp trong các trận: Trà Vang (Tây Ninh), thành phố Tây Ninh, Củ Chi, Hóc Môn, Trảng Bàng, Long Trì (Tân An), Bình Thới.

Người Pháp nhận xét: "Trong thời kỳ chiến tranh này, điều đáng chú ý là: ở những kẻ thù của chúng ta (nghĩa quân, Việt-Khmer) có một sự hoạt động, một sự cương quyết và một sự khéo léo vô cùng, dùng các súng mà đến nay, chưa hề thấy trong người bản xứ. Mỗi một người du kích đến quấy phá những vị trí tiền tiêu của ta hay khuấy rối xóm giềng làng xã. Họ núp ở những đường nho nhỏ, mà chờ toán quân đi qua để nhắm bắn các vị lãnh đạo của các toán quân đó. Những lính đào ngũ có mặt trong hàng ngũ của kẻ địch và lòng tin tưởng của người Khơme đối với Poucombo, điều ấy tạo ra một tình thế rất nguy hiểm cho quyền thống trị của chúng ta (Chú thích: Paulin Vial, Histoire de la Cochinchine, cuốn II. trang 70.) .
Pháp cho rằng nghĩa quân hoạt động mạnh là do Triều đình làm ngơ, thậm chí còn cố ý trợ giúp, mà cụ thể là 3 tỉnh miền Tây.

Trong thư gởi cho Thống đốc Nam kỳ De Lagrandière ngày 18/11/1866, August Ansart, trung tá hải quân, tư lệnh tỉnh Mỹ Tho có kể lại cuộc nói chuyện giữa y và Phan Thanh Giản trước đây như sau:

"Tôi nhắc lại với ông, tất cả các sự phiến động trong tỉnh của chúng ta, do những người mật sứ chắc chắn đã được lệnh, vì nếu không, họ đã không thể nào tìm được nơi dân chúng tiếng vang mà họ đã gặp được. Tôi nhắc lại cho ông những toan tính của con trai Quản Định, của Tiên Hộ (tức Trương Quyền, còn gọi là Trương Tuệ và Thiên Hộ Dương - NB) là hai nhà lãnh tụ được họ ngầm giúp đỡ, chứa chấp và che chở, các đoàn quân của những người này ngày nay vẫn về bè với Poucombo..."

Pháp phản đối quyết liệt, Tự Đức bất đắc dĩ phải ra chỉ dụ ngày 7/6 năm Tự Đức thứ 19 (1866) tầm nã Acha-xoa và Võ Duy Dương. . . kỳ thật bên trong lại khác.

“Tuần phủ Thuận Khánh là Hoàng Văn Uyển tâu nói: gần đây nghe nói Võ Duy Dương và bọn Trương Tuệ (Tuệ là con Trương Định) ngầm đến thượng du hội với bọn còn sót lại của tên Bướm mưu đồ khởi nghịch. Vua bảo cơ mật viện rằng: lũ tên Dương lòng hắn như thế nào chưa biết rõ, nhưng cũng là do lòng căm phẫn mà ra, có thể mới ràng buộc lòng người, để dùng về sau, cho đi tuần bắt cũng chẳng qua cho vui lòng nước Pháp mà thôi, giết đi cũng đáng tiếc, người không biết bảo là phụ ân. Trước đã bất đắc dĩ để mất một Phan Huân (Nguyễn Hữu Huân NB) lòng trẫm vẫn áy náy, chưa biết quan Kinh lược và quan tỉnh cũng đã biết rõ ý làm cho thỏa đáng hay không. Nếu nhận là việc thật thì thất sách lắm. Bọn chúng quen đánh không sợ, tuy sức ít không làm nên việc, nhưng khí khái đáng khen, huống chi lũ tên Dương nếu được địa lợi, đủ quân lương, biết đem dùng hắn thì người đã quen, tường cũng được việc, nếu với hắn nên xử trí cho khéo? ngõ hầu lưỡng toàn" (Chú thích: Đại Nam Thực lục, Đệ tứ kỷ, quyển XXXI. trang 49).

Trong khi Pháp ép Nam triều ở tại An Giang phải bắt cho được ACha- Xoa giao cho chúng, thì có một kẻ phản bội bắn ông trọng thương.

Pháp tưởng rằng, khi mất chủ tướng, phong trào chống Pháp của nhân dân Khơmer tại Tà Keo - Châu Đốc tan rã. nào ngờ nghĩa quân của Acha-xoa về theo Poucombo. Hai lực lượng kháng chiến vùng Đông Bắc và vùng Đông Nam Campuchia phối hợp chặt chẽ hơn, phạm vi mở rộng hơn.

Ngoài lực lượng kháng chiến của Võ Duy Dương và Trương Quyền, dân chúng hai tỉnh An Giang và Hà Tiên cũng ủng hộ Poucombo.

Sau đó, lực lượng của Poucombo chuyển hướng tấn công Oudong và Nam Vang và lập căn cứ tại đất nước mình.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #68 vào lúc: 27 Tháng Ba, 2009, 09:11:14 pm »

Ở Nam kỳ, nghĩa quân của Võ Duy Dương và Trương Quyền tích cực hoạt động tại miền Đồng Tháp Mười, An Giang và Hà Tiên.

Trong một bức thư gửi cho Phan Huy Vịnh, Pháp báo:

“Bọn phỉ Dương, súng đạn phần nhiều ở Hà Tiên và người của Vĩnh Long thì theo bọn nghịch và trợ chiến cho bọn đó. Lại việc nữa: nghịch Dương và 8 tên tùng quản ẩn náu ở An Giang và được quan tỉnh đó che chở" (Chú thích: Dụ của Vua Tự Đức ngày 7 tháng 6 năm Tự Đức năm thứ 19 (1866))

Và theo Phan Huy Vịnh thì: "Tây súy lấy làm lạ về việc đó và đã đem sự việc đó báo về độc biên. Nếu không nã bắt giải giao mà để cho nghịch Dương trốn biệt đến bất cứ địa phương nào thì 3 tỉnh đó đều bị sự quy kết và Tây súy sẽ tùy nghi chiếu biện, v.v... " (Chú thích: Dụ của Vua Tự Đức ngày 7 tháng 6 năm Tự Đức năm thứ 19 (1866))

Trước sự bất bình và cương quyết của Pháp, đe dọa đến 3 tỉnh miền Tây, Triều đình cử Nguyễn Hữu Cơ vào Nam kỳ tìm gặp và trao đổi riêng với Võ Duy Dương cho "lưỡng toàn".
 
Vừa đến Gia Định, Nguyễn Hữu Cơ đã tiết lộ với Pháp: “Bè lũ Võ Duy Dương nên cho ra thú đồn khi khai khẩn, khi đến Vĩnh Long đem việc ấy nói kín với Phan Thanh Giản, bèn tự cho các tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên và các tỉnh Bình Thuận trở ra Bắc, phàm bè lũ Dương đều cho ra thú đi khẩn hoang. Lại xin cho tuần phủ Bình Thuận, Khánh Hòa, hễ thấy tên Dương, tên Tuệ thì đem đổi tên cấp cho ngựa trạm về kinh, phái đi nơi khác cho hết điều tai tiếng" (Chú thích: Đại Nam Thực lục. Đệ tứ kỷ. QXXXI)

Có thể đây là ý của triều đình mà đứng đầu là vua Tự Đức. Cách này theo vết Phan Trung (Phan Chánh), Trà Quý Bình, Lê Quang Bính, vào tháng 2/1865, khi căn cứ Giao Loan (giữa Biên Hòa và Bình Thuận) thất thủ. các ông đã lánh ra Bình Thuận. Đến tháng 7/1865, được chiếu chỉ gọi về Huế.

Có lẽ Nguyễn Hữu Cơ quá táo bạo trong việc đặt thẳng vấn đề với Pháp, với các tỉnh thần. Thái độ đó đã làm cho Kinh lược đại thần Phan Thanh Giản khó chịu vì sĩ diện, cũng như vì sự mất còn của đất nước, ông tâu với triều đình Huế.

“Nguyễn Hữu Cơ trước đã tự tiện bỏ Á-xoa, sau đem việc Duy Dương khinh thường làm việc táo bạo như thế, rất lấy làm ngại. Hữu Cơ phải giáng 2 cấp cho lưu tại chức" (Chú thích: Đại Nam Thực lục, Đệ tứ Kỷ. Q.XXXI)

Rồi đến tháng 9/1866 "Thiên Hộ Võ Duy Dương cử người về kinh dâng sớ kín.

Vua sai Vũ Trọng Bình hỏi kín, cốt lõi đến chỗ cùng bàn cho ổn thỏa” (Chú thích: Đại Nam thực lục, Đệ tứ kỷ. quyển XXXI.)

Tháng 10/1866, trên đường ra Bình Thuận, Võ Duy Dương và đoàn tùy tùng đi trên chiếc ghe cửa đã bị bọn cướp biển tấn công bất thần giết chết tại cửa biển Thần Mẫu (tức Cần Giờ) (Chú thích: Lúc đó, quan tỉnh Bình Thuận báo rằng thuyền của Võ Duy Dương trên đường ra Bình Thuận bị bão đắm ở địa phận biển Thần Mẫu. )
*
*   *

Cái Chết Của vị anh hùng dân tộc Võ Duy Dương thật là một bi kịch cũng như bi kịch cuộc đời hoạt động của ông.

Rất tiếc, nếu sóng lặng gió êm để Võ Đuy Dương được hội kiến với vua Tự Đức thì hậu thế sẽ rõ "sớ kín" kia nói những gì. Có phải đó là hai bản tấu trình, trong ấy "Võ Duy Dương đề nghị với nhà vua cho phép dùng mưu kế thu hồi lại ba tỉnh Gia Định, Biên Hòa và Định Tường... " mà Gustave Janneau trong bài phân tích của mình đã khẳng định, hay một bản tấu trình nào khác.

“Ông Thiên Hộ Dương, tên thật là Võ Duy Dương, là một trong những thủ lĩnh của đám loạn quân đã gây cho chúng ta nhiều thiệt hại trước khi chúng ta chiếm đóng đô hộ xứ này. Tại Tháp Mười ông Dương đích thân chỉ huy những người An Nam. Các văn bản dưới đây (tức hai bản tấu trình - NB) chứng tỏ ông có quan hệ với Hoàng đế Tự Đức". Trong dân gian nhiều nơi ở Nam kỳ bảo ông về Huế xin triều đình viện binh.

Thực tế, khi hay tin ông mất, vua sai tìm xác đem chôn cùng đồ vật và cấp cho mẹ ông mỗi tháng 5 quan tiền và một phương gạo. Ngoài ra còn sắc phong cho gia đình ông. 
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #69 vào lúc: 29 Tháng Ba, 2009, 10:17:19 am »

Kết luận

Đến năm 1867, thực dân Pháp lại dùng sức ép quân sự chiếm luôn ba tỉnh miền Tây. Thế là với chiến thuật "vết dầu loang", chúng đã nuốt trọn sáu tỉnh Nam kỳ. Mặt nhân nhượng, hòa hoãn với giặc trong chánh sách hai mặt của triều đình nhà Nguyễn lúc đầu dần dần lấn át mặt ngấm ngầm ủng hộ nghĩa quân cuối cùng đi đến chỗ nhu nhược đầu hàng, phản bội nhân dân và lực lượng kháng chiến. .

Đành rằng, lực lượng kháng chiến chủ yếu là dựa vào sức dân, nhưng sự bỏ lực lượng kháng chiến của triều đình đã gây một tác hại không nhỏ đối với công cuộc chống ngoại xâm.

Trong quá trình xâm lược Việt Nam ngay trong buổi đầu bọn thực dân Pháp đã thấy rõ một điều là lực lượng mà chúng phải đương đầu không phải là quan quân triều đình mà chính là lực lượng kháng chiến, thế nên chúng đã khôn khéo một mặt tập trung quân lực đàn áp nghĩa quân, mặt khác dùng sức ép buộc triều đình ra lệnh giải giáp lực lượng kháng chiến. Dù vậy, nhưng nghĩa quân vẫn kiên trì, anh dũng chiến đấu với sự ủng hộ nhiệt tình của nhân dân. Lãnh tụ nghĩa quân này ngã xuống, vị khác đứng lên tiếp tục giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc. Từ Trương Định đến Võ Duy Dương rồi Nguyễn Hữu Huân, Nguyễn Trung Trực... hào khí Đồng Nai mãi mãi được hun đúc. Dưới cờ nghĩa, nông dân, lính đồn điền, dân lưu tán trở thành nghĩa dõng, dân binh cùng chung một lời nguyền:

“Chúng tôi sẽ bẻ lau làm cờ, chặt tầm vông làm vũ khí. Nhứt định chúng tôi không bao giờ ngừng chiến đấu chống giặc cướp nước".

Đến nay vừa tròn 125 năm kể từ khi cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương bị đàn áp, những sôi động của lịch sử có thời gian lắng đọng để chúng ta có sơ sở khẳng định rằng: Võ Duy Dương là một trong những lãnh tụ nghĩa quân kháng Pháp đầu tiên ở Việt Nam và Nam bộ nói riêng. Dưới quyền chỉ huy chung của Trương Định, Võ Duy Dương đã cùng Nguyễn Hữu Huân, Trần Xuân Hòa hình thành cơ sở kháng chiến và chiến đấu chống Pháp trên đất Ba Giồng (Tiền Giang) như là một trung tâm kháng chiến đồng thời với trung tâm Tân Hòa (Gò Công) của Trương Định. Sau khi Trương Định anh dũng hy sinh ở Kiểng Phước (Gò Công, 8/1864), Võ Duy Dương chọn Tháp Mười làm căn cứ tập trung hầu hết lực lượng kháng chiến. Căn cứ Đồng Tháp Mười trở thành mối ngại nhứt của thực dân Pháp lúc bấy giờ.

Xuất thân là một nông dân nghèo, ít học, ở quê hương có truyền thống trọng võ, Võ Duy Dương lưu lạc vào Nam tìm kế mưu sinh, tham gia công cuộc chiêu dân khai hoang. Khi thực dân Pháp tấn công thành Gia Định, ông liền cùng người bạn chí thân là Nguyễn Hữu Huân qui tập lưu dân, dân mộ kéo về Gia Định ứng cứu.

So với các thủ lãnh nghĩa quân cùng thời, Võ Duy Dương thiếu những điều kiện thuận lợi cơ bản, khi bắt tay vào cuộc kháng chiến. Chúng ta đều biết rằng, dưới thời đại phong kiến, một người muốn ra hiệu triệu nhân dân làm một công việc gì lớn phải là người từng đỗ đạt hay ít ra phải là quan chức của triều đình, hoặc thấp lắm phải có điền sản. Trương Định vốn là con nhà quan, có điền sản, có đồn điền nhà với 500 dân mộ lại được phong chức phó quản cơ, nên rất dễ dàng gây dựng một lực lượng để chống Pháp. Nguyễn Hữu Huân, con một lái buôn, lại. đỗ thủ khoa thi hương có tiếng tăm, nên rất thuận lợi khi hô hào nhân dân tham gia kháng chiến. Sau này, ở miền Trung, Phan Đình Phùng, vốn là một gián quan cũ của triều đình, đã từng đỗ đình nguyên danh tiếng lẫy lừng, nên rất dễ dàng cổ động một phong trào Cần Vương rộng lớn.

Ở miền Bắc, Nguyễn Thiện Thuật cũng là người có chức phẩm khá cao trong triều, có danh vọng lớn trong nhân dân. “Mãi đến sau này, Phan Bội Châu muốn có điều kiện hô hào dân chúng tham gia chống Pháp cũng phải chịu khó thi mấy phen cho đỗ giải nguyên rồi mới có thể đứng ra lấy danh nghĩa Cường Để hiệu triệu nhân dân đứng lên giết giặc”. Lịch sử cho thấy phần lớn những người cầm đầu phong trào đều là quan chức của triều đình hoặc văn hoặc võ nếu không thì cũng đã từng đỗ đạt mới có đủ tư cách ăn nói cho người ta nghe theo.

Khi bước vào công cuộc vận động quần chúng đứng lên đánh giặc Pháp, Võ Duy Dương thiếu các điều kiện cơ bản đó, lại phát động cuộc chiêu mộ nghĩa dõng không phải trên quê quán của mình; ông chỉ có mỗi một mặt là giỏi võ nghệ, ấy vậy mà ông đã qui tụ được hàng ngàn nghĩa dõng, ngoài ra còn liên kết với các nhà khoa bảng, quan chức của triều đình và các điền chủ, bá hộ giàu có liên hệ với nhà vua qua các sứ giả; đã quần thảo với giặc suốt 7 năm trời từ Ba Giồng đến Đồng Tháp Mười và nhiều nơi khác trên đất Nam kỳ. Phải nói rằng Võ Duy Dương quả thật là người có tài có đức, biết tập hợp quần chúng quanh mình để xây dựng lực lượng, tạo nên uy tín.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM