Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 10:10:49 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Những bí mật về chiến tranh Việt Nam  (Đọc 115674 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Excocet
Thành viên
*
Bài viết: 617


Thép đã tôi thế đấy


« Trả lời #150 vào lúc: 25 Tháng Mười Hai, 2007, 10:16:00 pm »

     Tôi bay về Cambridge và khoe với Patricia thông tin này. Dĩ nhiên là tôi đã một lần được nghe những lời như thế, khi Fulbright ban đầu cũng hăng hái và bảo đảm với tôi hệt như vậy.

     Nhưng tôi thực sự thấy hy vọng. Thậm chí tôi có thể nói rằng mình thấy tự tin rằng sau buổi nói chuyện này McGovern sẽ không thay đổi quyết định. Nhưng khi chỉ một tuần sau khi ông gọi cho tôi và nói: "Tôi xin lỗi. Tôi không thể làm được", thì tôi lại phản ứng bình tĩnh đến mức mà đến giờ tôi vẫn thấy ngạc nhiên. Tôi chỉ nói, "Tôi hiểu", và tôi tin rằng tôi thực sự hiểu.

     Tôi thực sự thông cảm với ông khi đang phải tranh cử Tổng thống. Tôi muốn ông có một chiến dịch tranh cử mạnh mẽ. Phản ứng của tôi trước quyết định đầy thất vọng của ông cho thấy rằng chính tôi đã âu lo, băn khoăn liệu những gì tôi đề nghị có thực sự đúng đắn đối với ông ấy không. Nhưng tôi vẫn hy vọng rằng ông vẫn có thể là một đồng minh, một cố vấn, vì dù sao tôi cũng đã chia sẻ câu chuyện này với ông. Tôi không muốn nói chuyện này qua điện thoại nên đã hỏi xem khi tôi tới Washington liệu chúng tôi có thể nói thêm một chút cụ thể hơn được không, tất nhiên là không phải để cân nhắc lại quyết định của ông.
"Chắc chắn rồi".

     Chúng tôi hẹn gặp vào tuần sau đó.

     Sau khi thượng nghị sỹ Fulbright nói với tôi vào tháng 12-1970 rằng "chẳng phải rốt cục đó chỉ là lịch sử thôi sao?" và Thượng nghị sỹ McGovern cũng rút lui, Patricia đã hỏi liệu tài liệu này có đáng đưa ra công khai hay không, có đáng để tôi có nguy cơ phải vào tù hay không: "Có vẻ những ông thượng nghị sỹ này nghĩ nó chẳng đáng để họ phải mạo hiểm. Tại sao anh lại chắc chắn là họ đã sai và anh thì đúng thế""
"À, anh không thể chắc về điều này. Họ có thể đúng. Không ai có thể biết được hậu quả sẽ đi đến đâu, kể cả anh. Vấn đề là anh là người duy nhất đã đọc những tài liệu này. Họ không như vậy. Anh không thể dựa vào những xét đoán của họ được. Anh phải tin ở chính mình chứ".

     Nhưng lúc này chúng tôi đã là gia đình. Việc tôi có khả năng phải vào tù không chỉ ảnh hưởng tới mỗi mình tôi. Patricia có quyền tham gia quyết định, và cô ấy không thể thực sự quyết định được khi mà không biết gì về tài liệu đó. Cho tới lúc này tôi vẫn cố ý không để cô ấy đọc chúng. Tôi muốn cô ấy có thể nói rằng mình đã không biết có cái gì trong những thứ đó. Nhưng nếu cô ấy muốn đồng cam cộng khổ với tôi trong chuyện này thì cần phải hiểu hơn về những thứ tôi đang làm. Cách duy nhất để hiểu được hơn là phải đọc một vài tài liệu, dù điều đó có thể khiến cô ấy phải chịu những nguy cơ lớn hơn. Tôi nghĩ đã đến lúc Patricia cần phải đọc một phần. Cô ấy đã đồng ý.

     Tôi chọn ra một vài hồ sơ mà tôi đã nhớ từ thời còn làm ở Lầu Năm Góc từ năm 1964 đến 1965. Nó nói về những quan điểm đồng và nghịch về các chiến dịch ném bom miền Bắc. Tôi nghĩ nó sẽ giúp cô ấy biết được công chúng đã bị làm lạc hướng như thế nào trong chiến dịch ném bom năm 1964 và sau đó mà không hay biết rằng những quan chức trong chính quyền Johnson đã mặc nhiên ủng hộ chiến lược kiểu Goldwater này. (Thượng nghị sỹ bảo thủ bang Arizona ( từ 1953 - 1965 và 1969 - 1987), thất bại trong cuộc tranh cử Tổng thống năm 1964 - ND). Những người đã viết các hồ sơ này là các đồng nghiệp của tôi như John McNaughton và Bill Bundy, cấp trên trực tiếp của tôi. Tôi đã cùng làm việc với những người này nên hiểu rõ họ.

     Căn hộ của chúng tôi nằm ở tầng ba, vốn là một gác xép được sửa sang lại, có một căn phòng rộng, gồm một bếp, phòng khách và phòng ngủ nhỏ chỉ vừa đủ kê một cái giường. Patricia đem hồ sơ vào phòng ngủ, đóng cửa lại và đọc, phòng khi tôi phải nói chuyện điện thoại. Tôi thì ngồi ở phòng ngoài, trên bàn ngổn ngang hàng đống tài liệu, lật tìm xem có thể đưa cô ấy xem thêm cái gì. Khoảng một giờ sau, Patricia bước ra, tay cầm tập hồ sơ tôi đã đưa. Cô ấy đã thấy cái gì đó mà tôi không biết khi lần đầu đọc vào năm 1964- 1965 cũng như khi đọc lại trong nghiên cứu McNamara. Patricia chỉ cho tôi những đoạn về các giải pháp ném bom khác nhau, trong đó đầy những câu nói về việc "khiến chúng đau đớn đến cùng cực"; "chúng ta sẽ huỷ diệt ý chí của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà"; "theo những kinh nghiệm của lần chiến tranh trước, việc ném bom trở lại miền Bắc Việt Nam sẽ khiến dân Bắc Việt đau đớn hơn là nếu chúng ta tiếp tục ném bom với cường độ thấp"; "chiến thuật mưa dầm thấm lâu"; "nỗi đau đớn của Việt Nam Dân chủ cộng hoà ở miền Bắc"; "nỗi đau đớn của Việt Cộng ở miền Nam"; "Điều quan trọng là không "giết con tin" khi phá huỷ các cơ sở vật chất của Bắc Việt ở trong "cái bánh rán Hà Nội"; "đánh nhanh diệt gọn" và "vừa đánh vừa đàm"; "chiến thuật "nóng lạnh kết hợp"… mục tiêu "thuyết phục" Hà Nội, điều sẽ chi phối một kế hoạch các đợt tấn công tiêu diệt đầy đau đớn cách nhau tương đối lâu ; "kế hoạch ném bom "miếng xúc xích Ý"; "bánh cóc"; "vặt vít thêm một vòng nữa"…

     "Đây là ngôn ngữ của bọn đồ tể", mắt ngấn lệ, Patricia nói, "Những thứ này cần phải được công bố. Anh cần phải làm điều đó".
Logged

Để gió cuốn đi...
Excocet
Thành viên
*
Bài viết: 617


Thép đã tôi thế đấy


« Trả lời #151 vào lúc: 08 Tháng Giêng, 2008, 05:57:07 pm »

Tới Thời báo New York



     Ngày 28-2-1971, tối chủ nhật, tôi tới Washington để tham gia một hội thảo diễn ra vào ngày hôm sau ở Đại học chiến tranh quốc gia. Tôi ăn tối cùng Dick Bamet, Mark Raskin và Ralph Stavins - ba học giả của Viện nghiên cứu chính sách, một trung tâm nghiên cứu cánh tả. Họ đang viết một cuốn sách phân tích sự dính líu của Mỹ vào Việt Nam dưới góc độ tội ác chiến tranh. Để làm phong phú thêm nguồn tài liệu tôi đã gửi cho họ một số phần của Hồ sơ Lầu Năm Góc, bao gồm cả bản thảo của tôi về những quyết định năm 1961, và họ đã cùng tôi tìm cách đưa tài liệu ra trước Quốc hội.

     Khi họ hỏi tôi làm tới đâu rồi, tôi đã kể việc không nhờ cậy được Fulbright và McGovern. Họ cho rằng điều quan trọng là tôi đưa được tài liệu này ra công khai. Họ muốn xuất bản cuốn sách này vào tháng sáu, và đang dự tính nói tới tên tài liệu này trong phần tài liệu tham khảo trong sách.

     Họ nói tôi nên đưa tài liệu tới tờ Thời báo New York, điều mà Fulbright và McGovern cũng đã nói tới. Tôi đã luôn nghĩ tới việc này như là một phương án dự phòng, dù có khả năng là một tờ báo như vậy chỉ có thể cho đăng vài trích đoạn. Nhưng đến lúc này thì có lẽ cánh cửa Quốc hội đã khép lại. Trong làng báo thì tờ Thời báo New York là sự lựa chọn khá rõ ràng. Đó là tờ duy nhất có đăng toàn phần các hồ sơ, các bài báo dài, ví dụ như các bài phát biểu hoặc các buổi họp báo. Không tờ báo nào khác làm như vậy. Chỉ có tờ này xuất bản trọn vẹn các bài viết vì họ có uy thế để làm việc này.

     Mấy anh bạn này hỏi tôi có biết ai đó ở tờ Thời báo New York không.

     Tôi có nói từ hồi ở Việt Nam tôi đã biết Neil Sheehan. Tôi không nhắc tới việc vào năm 1968 tôi cung cấp cho anh này một vài tài liệu tối mật. Chính vì việc này nên tôi đã cố tình tránh gặp anh trong vài năm gần đây. Nhưng giờ đây thì mọi thứ đều khiến tôi nghĩ tới việc gặp lại Sheehan.

     Thứ ba ngày 2-3-1971, tôi trở lại văn phòng McGovern.

     Ông thông báo cho tôi một việc là dù ông đã hứa sẽ không nói với bất kỳ ai về việc tôi nói với ông, nhưng ông đã quyết định cần phải nghe những cố vấn về mặt pháp lý nên đã tới gặp người bạn đồng thời là luật sư Gaylord Nelson. Mặt tôi tỉnh bơ khi nghe vậy, nhưng tôi có thể biết được tiếp theo sẽ là gì.
"Ông có nhắc tới tên tôi không đấy?"

     "Tôi không định nói, ai đã đưa tài liệu cho tôi. Nhưng kỳ lạ là khi tôi nói đó là một cựu công chức, Gaylord đã hỏi "có phải Dan Ellsberg không?", nên tôi gật đầu".

     Vậy đấy vừa mới tuần trước ông ta mới thề sẽ im lặng. Tôi hỏi thì ông nói rằng Nelson không đề cập đến việc trước đây anh ta đã gặp tôi. Gaylord chỉ nói rằng ông (McGovern) đang tranh cử Tổng thống và không thể làm một việc như vậy được.

     "Anh ta rất chắc chắn về điều này và đã thuyết phục được tôi".

     Tôi không nói lại nữa. Tôi chúc ông may mắn với chiến dịch tranh cử của mình rồi đi ra mà chẳng thấy khó chịu gì. Tôi thực sự hiểu được. Thật buồn cười khi nghe ông nói rằng ông đã nghe lời khuyên từ Nelson. Tôi không nghĩ lời khuyên đó là sự trả miếng đối với những nhận xét không hay của tôi đối với Nelson. Điều đó là nhất quán với những gì tôi nghe ông nói từ đầu câu chuyện. Tôi nghĩ rằng sự thật là cuối cùng thì McGovern sẽ có được lời khuyên tương tự từ bất kỳ ai mà ông hỏi ý kiến. Thậm chí tôi không thể nói như thế là sai. Tôi không muốn gây trục trặc cho chiến dịch tranh cử của ông bởi chính chiến dịch này rõ ràng là một phương tiện quan trọng để phản đối cuộc chiến tranh. Một ngày nào đó McGovern có thể trở thành nghị sỹ đầy hứa hẹn đối với mục tiêu của tôi như những phản ứng ban đầu của ông đã cho thấy. Nhưng cũng có thể là nếu như trong năm đó cần một thượng nghị sỹ để giải quyết việc này thì đó không thể là một người đang tranh cử lổng thống. Tôi nghĩ tới Thượng nghị sỹ Mathias, và cả Thượng nghị sỹ Mike Gravel, người đã thay thế Thượng nghị sỹ Gruening khi viết một lá thư chúc mừng tôi về bài báo đăng trên tờ Điểm sách New York. Ngày hôm đó tôi cũng đã tới văn phòng của Thượng nghị sỹ Mathias.
Chúng tôi đã không nói chuyện với nhau gần một năm nay, kể từ chuyến bay từ St. Louis về thủ đô đang chìm trong hơi cay khi cuộc xâm lược Campuchia diễn ra. Nhưng cả hai đã kịp có ấn tượng tốt về nhau khi nói chuyện với nhau trên chuyến bay đó. Thế nên chiều hôm đó, chúng tôi đã nói chuyện thoải mái và tin tưởng lẫn nhau. Rất nhanh chóng ông đã tự tin nói với tôi rằng với tư cách một thượng nghị sỹ, ông sẵn sàng đứng đầu một phong trào phản chiến.

     "Đó cũng là cách khiến McCarthy bị hạ bệ. Cần phải có tiếng nói từ phía cánh hữu, hoặc hơn nữa là cánh trung dung, từ một thượng nghị sỹ khác, và đó phải là một thượng nghị sỹ cùng Đảng với ông ta - Thượng nghị sỹ Flanders. Đó là cách cần phải làm. Đó là cái chúng ta đang cần trong bối cảnh có cuộc chiến tranh này. Và tôi sẵn sàng làm điều đó".

     Tôi thấy rất ấn tượng và đã chúc mừng Mathias vì sự quyết tâm của ông. Để ai đó cùng Đảng với một Tổng thống đương nhiệm chống lại ông ta về vấn đề nào đó - như cuộc chiến tranh đang diễn ra chẳng hạn - thì cần phải có dũng khí. Thượng nghị sỹ Goodell đã phải rời khỏi Đảng mình và trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ mùa thu vừa rồi đã mất ghế trong quốc hội vì đã thách thức Nhà Trắng về vấn đề chiến tranh Việt Nam. Mathias lại đang có ý muốn đi theo con đường này.

     Vậy thì tôi có vài thứ có thể giúp ông ấy. Sau khi tôi nói về Hồ sơ Lầu Năm Góc và việc có thể làm gì với nó, ông đã nói rằng nghiên cứu về lịch sử này không đủ tính thách thức để có thể lên tiếng. (Dĩ nhiên là năm 1971 tôi cũng đã lo ngại điều này).
Logged

Để gió cuốn đi...
Excocet
Thành viên
*
Bài viết: 617


Thép đã tôi thế đấy


« Trả lời #152 vào lúc: 08 Tháng Giêng, 2008, 05:58:48 pm »

     "Đó chỉ là lịch sử. Nó chỉ nói về những người Dân chủ. Tôi muốn tiết lộ nào đó về chính sách của Nixon. Anh có cái gì đó liên quan trực tiếp đến Nixon không?"

     Tôi có, đó chính là thực tế đang diễn ra. Dù không nhiều như tôi mong đợi, nhưng có vẫn hơn không. Tôi nói về các văn kiện lựa chọn chính sách và NSSM-1. Tôi giải thích rằng những tài liệu của NSC mà tôi không chứng minh được trường hợp của Nixon, nhưng chúng cũng báo trước chiến lược bí mật của ông ta khi cho thấy rằng ngay từ ngày đầu của chính quyền Nixon người ta đã quan tâm tới việc xâm lược Campuchia. Tài liệu đó cũng cho thấy ngay từ đầu Nhà Trắng đã được cảnh báo về những hạn chế của Chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh và về nhu cầu cần phải có sự có mặt lâu dài của bộ binh Mỹ và sự hỗ trợ vô thời hạn của không quân Mỹ.

     Mathias rất phấn khởi. Ông muốn ngay lập tức có được những tài liệu mà tôi nói tới. Thậm chí là nếu những tài liệu đó không chứng minh hẳn hoi được điều gì thì chỉ việc tiết lộ chúng thôi cũng đã đủ gây ra một thách thức to lớn đối với Nhà Trắng và mở ra một cuộc tranh luận về vấn đề này. Tôi lại nói về những hệ quả pháp lý mà tôi có thể phải gánh chịu và việc tôi sẵn sàng vào tù vì điều này. Dù gì thì NSSM-l ít nhiều cũng là tài liệu của chính quyền đương nhiệm chứ không phải là "lịch sử" cho nên nếu bị tiết lộ chắc sẽ dẫn tới việc truy tố tôi.

     Khi tôi nói đến đây, Mathias, hệt như McGovern, đã mang ra bản Hiến pháp và đọc cho tôi cũng điều khoản đó: ông không thể bị chất vấn. Vì thế chính quyền sẽ không thể biết được nguồn tài liệu thông qua ông.

     Tôi không mang theo bản sao của cả văn kiện lựa chọn chính sách và NSSM-1, nhưng tôi nhớ rằng đã gửi một bản cho Norvil Jones để chuyển tới Fulbright. Sau khi nói chuyện xong, tôi tới Uỷ ban đối ngoại và nói với Jones rằng tôi cần lấy lại tài liệu đó. Jones lấy ra từ một phong bì to làm bằng giấy sản xuất từ sợi cây chuối ở Philippines đặt trong một két sắt và đưa cho tôi. Tôi mang ngay lại văn phòng của Mathias và đưa cho ông và trợ lý. Đó là một tập khá cồng kềnh khoảng năm trăm trang. Mathias xem qua, rất thích thú và tán thưởng.

     Ông nói ông và trợ lý sẽ đọc và quyết định xem tiếp theo sẽ làm gì. Tôi cũng nhắc lại đề nghị của tôi về Hồ sơ Lầu Năm Góc, nhưng thậm chí ông còn không buồn nhắc đến chúng.

     "Chúng có vẻ không liên quan và những gì tôi vừa đưa là đủ những gì ông cần rồi".

     Tuy nhiên, trong hai tháng sau đó tôi đã hai lần gọi cho trợ lý của Mathias để hỏi xem đến đâu rồi. Anh ta nói họ vẫn đang vạch kế hoạch và chuẩn bị cơ sở cho chiến dịch. Điều này nghe có vẻ thú vị đấy Nhưng sau những gì gặp phải với Fulbright và McGovern, tôi chẳng thấy hy vọng lắm.

     Tối muộn ngày thứ ba, mồng 2-3-1971, sau buổi chiều nói chuyện với Mathias, tôi gọi điện đến nhà Neil Sheehan ở Washington và xin ngủ nhờ lại một đêm. Anh nói ở tầng hầm dưới nhà có một phòng làm việc riêng với ghế dài.

     Khi tôi tới, anh đưa tôi đi xuống và tôi giúp anh chuẩn bị chăn và khăn trải giường. Nhưng tôi không phải dùng đến những thứ này. Chúng tôi đã nói chuyện cả đêm.

     Chúng tôi bắt đầu câu chuyện về bài báo anh mới viết về tội ác chiến tranh trên chuyện sau Điểm sách của Thời báo New York. Nhưng điều đọng lại là sự quan tâm thực lòng của anh đối với cuộc chiến, là việc anh cảm thấy đó là một sai lầm khủng khiếp và là sự phí phạm sinh mạng của cả hai bên, và hơn hết là khát vọng của anh được nhìn thấy cuộc chiến này kết thúc. Trước đây tôi chưa bao giờ thấy được một tình cảm tương tự ở các nhà báo cũng như ở những người không tham gia phong trào phản chiến, ngoại trừ David Halberstam. Việc anh ủng hộ quan điểm rằng người Mỹ có thể đã phạm tội ác chiến tranh và bản thân cuộc chiến cũng là một tội ác đã khiến anh coi như có một chân trong phong trào phản chiến rồi.
Trước khi trời sáng, tôi đã nói với anh về Nghiên cứu McNamara và rằng tôi có đầy đủ nghiên cứu này. Tôi kể về chuyện đưa nó cho Fulbright, rồi McGovern để rồi cuối cũng họ đều cho qua. (Tôi đã không nói đến việc ngay chiều hôm đó Mathias đã không cần đến nó mà chỉ lấy NSSM-l). Anh rất muốn được xem nghiên cứu này. Anh không thể hứa trước được là Thời báo New York sẽ sử dụng nó, nhưng nếu những gì tôi nói là chính xác thì anh tin rằng họ sẽ cần đến nó. Tôi sẽ cho anh xem tài liệu này ở Cambridge và chúng tôi hẹn ngày anh sẽ tới đó gặp tôi.

     Một tuần trước đó, khi ở Cambridge, một phóng viên của tờ Boston Globe (Địa cầu Boston) là Tom Oliphant đã gọi cho tôi. Bài báo của tôi trên tờ Điểm sách New York đã khiến anh ta quan tâm và đề nghị đến phỏng vấn tôi. Tôi nhắc lại những phân tích của tôi về chính sách của Nixon và mối quan ngại của mình về chiều hướng của chính sách. Tôi đã chỉ ra những đe doạ bí mật của Nixon thật trùng hợp với kiểu những đe doạ và leo thang thất bại đã kéo dài suốt hai mươi năm trước. Tôi cũng nói với Oliphant điều mà tôi đã không nói trong bài báo, đó là nghiên cứu bí mật về toàn bộ giai đoạn nói trên mà tôi đã tham gia và sau đó được đọc toàn bộ văn bản. Trước đây tôi đã không đề cập tới điều này khi nói với một phóng viên, và lần này tôi không định nói nhiều. Đương nhiên là tôi không nói rằng mình đã sao chụp hay tiếp cận tài liệu này. Tôi chỉ muốn nói rằng những cảnh báo của tôi về chiến tranh là không chỉ dựa trên trực giác. Oliphant có vẻ kinh ngạc khi tôi bình luận rằng hai người khác sau khi đọc toàn bộ nghiên cứu này cũng đã đưa ra kết luận giống hệt về chính sách của Nixon. Anh ta hỏi đó là ai, tôi đáp là Gelb và Halperin (do lúc này cả hai người đều đã rời chính quyền). Chúng tôi chỉ nói khoảng năm mười phút về chuyện này trong hơn một giờ trao đổi với nhau.

     Tôi cũng không nghĩ nhiều về lần gặp đó cho đến khi tôi thấy bài báo của anh ta vào chủ nhật, năm ngày sau khi tôi nói chuyện với Sheehan.

     Tiêu đề của bài báo đăng ngày 7-3-1971 này là: "Chỉ ba người đọc báo cáo bí mật về Đông Dương, tất cả đều kêu gọi nhanh chóng rút quân". Trong tiêu đề phụ, anh đã nói về việc McNamara yêu cầu bí mật xem xét lại lịch sử của cuộc chiến: "Vào thời điểm đó có vài người trong chính quyền đã đọc vài phần nghiên cứu này, nhưng theo thông tin được biết thì chỉ có ba người đã đọc toàn bộ, từng chữ một. Đáng chú ý là cả ba người đều cho rằng Mỹ nên nhanh chóng đơn phương rút khỏi Việt Nam. Hơn nữa, trước khi rời khỏi chính quyền, cả ba người đều nắm giữ những chức vụ nhạy cảm trong những tháng đầu hình thành chính quyền Nixon".

      Sau khi nói chuyện với tôi ở Cambridge, Oliphant đã bay tới Washington để phỏng vấn Halperin và Gelb. Trong bài báo anh ta đã kể về công tác của họ trong năm 1969 dưới chính quyền Nixon; và năm sau đó, sau vụ tấn công Campuchia, họ đã cùng viết "một bài báo được trích dẫn rộng rãi đăng trên tờ Bưu điện Washington có tên là "Chỉ có một lịch trình mới có thể gỡ rối cho Nixon". Anh ta viết tiếp: "Tháng trước… (Halperin) bắt đầu điều hành "văn phòng hoà bình" của tổ chức Sự nghiệp chung, một tổ chức vận động hành lang cho công dân do John Gardner thành lập. Hai tuần trước, tổ chức này đã tuyên bố dự định tham gia đấu tranh đòi đơn phương rút quân khỏi Đông Dương". Anh ta trích lời Halperin nói với mình: "Tôi nghĩ không phải là Tổng thống đang rút quân. Tôi nghĩ có nguy cơ nghiêm trọng là chính sách hiện thời nhằm tiếp tục leo thang chiến tranh và đang chia rẽ đất nước này (Mỹ). Hãy đọc những thông điệp thế giới gần đây. Tất cả nằm ở đó. Tôi tin ngài Tổng thống. Ông ta nói đúng như ông ta nghĩ, đó là: chúng ta đang không rút quân".

     Oliphant trích lời tôi nói rằng nghiên cứu này đã có "ảnh hưởng lớn lao" đối với quan điểm của tôi. Khi tôi bắt tay vào làm nghiên cứu này, "Tôi coi chiến tranh là một nỗ lực đầy thiện ý và hợp lý, dù khi nghĩ lại thì thấy nó thật sai lầm. Nhưng rồi mọi thứ sớm trở nên rõ ràng là quyết định của người Mỹ thực sự là một chuỗi trò cờ bạc liều lĩnh của những kẻ đã làm nên chính sách này vào thời điểm đó".

     "Khi nhìn lại sự liên quan của mình", Oliphant viết về tôi, "Ông lặng lẽ nói: "Tôi đã tham gia một âm mưu tội ác nhằm tiến hành một cuộc chiến tranh xâm lược". Anh ta đã mượn lời tôi nói về chính sách hiện nay của Nixon để kết luận bài báo: "Theo tôi, đó là một chính sách tội ác".
Logged

Để gió cuốn đi...
Excocet
Thành viên
*
Bài viết: 617


Thép đã tôi thế đấy


« Trả lời #153 vào lúc: 08 Tháng Giêng, 2008, 05:59:54 pm »

     Khi tôi đọc bài báo này, tôi đã nghĩ rằng nó có thể sẽ khiến Nhà Trắng để mắt tới. Đúng như vậy, bởi Oliphant đã nói với tôi rằng vào cái ngày bài này được đăng, Kissinger đã gọi tới văn phòng của tờ Boston Globe ở Washington để tìm hiểu về nó. Kỳ quặc là ông ta đã muốn nhấn mạnh Dan Ellsberg chưa bao giờ là nhân viên của NSC (bài báo không hề nói tôi như vậy). Tôi cũng nhận ra rằng, theo như tôi biết, đây là lần đầu tiên có một tài liệu nào đó nhắc tới Nghiên cứu McNamara (hoá ra là trước đó đã có hai tài liệu đề cập tới, một là của Lloyd Shearer, nhưng đây là bài báo đầu tiên nhắc tới nó). Điều này đặt tôi vào một tình huống gần như là khủng hoảng.

     Tháng tám năm ngoái, ở San Clemente, tôi đã nói về nghiên cứu này với Kissinger. Thế nên ông ta có thể nhanh chóng suy ra rằng nếu như tôi đã công khai nói về nó, cũng như nói về ảnh hưởng của nó đối với chính sách bí mật của Nixon, thì sớm muộn tôi sẽ tự mình công bố toàn bộ tài liệu, nhất là khi tôi đã có thể có một bản sao tài liệu này sau khi rời Rand.

     Điều này cũng đúng với FBI, do một năm trước đây vì lý do này khác họ đã tìm cách nói chuyện với tôi sau khi gặp Carol.

     Lúc đó tôi không biết rằng một năm trước đó FBI đã trao đổi với Rand về việc tôi đã sao chụp tài liệu và đưa cho Fulbright và Goodell. Tôi vẫn không biết liệu năm 1970 FBI có báo cáo với Kissinger hay không về những trao đổi của họ với Rand và Harry Rowen. Nhưng kể cả không biết chăng nữa thì tôi vẫn đoán rằng bài báo này là một cảnh báo nguy hiểm đối với cả Nhà Trắng và FBI. Điều đó có nghĩa là FBI có thể "ghé thăm" nhà tôi bất kỳ lúc nào cùng với lệnh khám xét. Suốt hơn một năm rưỡi, điều tôi lo lắng nhất là FBI có thể sẽ ập tới và lấy đi toàn bộ các bản sao tài liệu trước khi tôi kịp gửi tới Quốc hội hay chỗ nào khác. Giờ thì với bài báo này, điều đó có thể xảy ra trong hàng ngày hàng giờ.

     Tôi chỉ có nhiều nhất là ba bản chụp những phần chính của nghiên cứu, một số phần khác chỉ có hai bản. Sau khi đã đưa một bộ hoàn chỉnh cho Fulbright, tôi chỉ còn lại một hoặc hai bản. Tôi không còn được sử dụng chiếc máy chụp Xerox cá nhân nữa. Tôi đã trì hoãn hết lần này đến lần khác việc sao chụp thêm tại một cửa hàng sao chụp vì tôi có cảm tưởng rằng chỉ một hay hai ngày sau khi tôi làm việc đó thì FBI sẽ xuất hiện. Tôi lo ngại rằng một tài liệu bị thất lạc vẫn còn nguyên dấu tối mật và ai đó tình cờ đọc thấy sẽ có thể dẫn dến việc cửa hàng sao chụp gọi điện cho cảnh sát.

     Tôi cho Patricia xem bài báo và cho cô ấy biết điều gì sắp diễn ra. Cô ấy nói một cách sắc sảo hon so với thường ngày: "Anh đã nói về việc sao chụp thêm những tài liệu này cả mấy tháng trời rồi; bây giờ anh hãy đứng lên và làm ngay thì hơn".

     Cô ấy đề nghị giúp tôi. Ngay lập tức chúng tôi đi đến căn hộ của em trai cô ấy là Spencer để tôi cất hộp đựng tài liệu ở đó.

     Chỉ riêng việc sắp xếp lại tài liệu theo đúng trật tự đã là cả một vấn đề. Tôi rút ra một phần và đọc lướt qua. Đúng như khi ở New York, ngay trên một trong những trang đầu, tôi đã nhận ra một dấu tối mật đã thoát khỏi "kĩ thuật phân loại tức thì" của tôi. Thế là tôi chẳng biết phải làm thế nào ngoài việc xem lại từng trang một lần nữa, tất cả bảy nghìn trang.

     Patricia đem tài liệu đến một cửa hàng sao chụp trên quảng trường Harvard, còn tôi phải trông cho đến sáng mới xong. Nếu như cần phải làm việc đó, thì phải làm thật nhanh, trước khi FBI kịp phản ứng trước bài báo hay theo lệnh của Nhà Trắng, hay sau khi nhận được một cú điện thoại từ cửa hàng sao chụp.

     Những chiếc máy photo to để kinh doanh thế này thì nhanh hơn rất nhiều so với những chiếc mà tôi đã sử dụng, nhưng hầu như cũng không thể nhanh được bằng những chiếc máy ngày nay, và sao nhiều bản của hàng ngàn trang thì rất tốn thời gian. Chúng tôi cần chia việc này ra để làm cho nhanh. Thật may mắn là gần quảng trường có nhiều cửa hàng, một vài trong số đó mở cửa suốt đêm. Đó thật là một công việc mệt mỏi. Chúng tôi đã phải thay phiên nhau mỗi người nằm nghỉ một tiếng trong khi người kia kiểm tra kĩ lưỡng từng trang và thỉnh thoảng phải dùng kéo cắt. Cứ một hai tiếng Patricia phải đem chồng tài liệu sang một cửa hàng khác hoặc đi lấy những bản sao.

     Chúng tôi phải làm gấp gáp thế này là vì FBI. Tôi biết là cả năm nay họ đã biết việc tôi sao chụp và bài báo của Orliphant có thể sẽ khiến họ giám sát tôi một cách chặt chẽ. Bắt quả tang chúng tôi ngay trong lúc đang sao chụp sẽ là việc động trời đối với họ. Khả năng xảy ra điều này khiến cho việc Patricia đi lấy những tráng tài liệu trở nên kịch tính. Mỗi lần cô ấy quay trở lại một cửa hàng thì hoàn toàn có thể FBI đã đang ngồi chờ sẵn ở bên trong rồi. Cho đến lúc này, chúng tôi có lẽ đã "chăm sóc cẩn thận" tất cả hoặc phần lớn những ký hiệu tối mật, nhưng đa phần nội dung tài liệu cũng đủ bất thường để thu hút sự chú ý của bất kỳ ai chợt cầm lên và liếc qua. Có rất nhiều ghi chú đề cập tới những kế hoạch và khuyến cáo của Hội đồng tham mưu trưởng liên quân hay các bản Đánh giá tình báo quốc gia đặc biệt của CIA. Điều gì sẽ xảy ra nếu ai đó tình cờ đọc được một chút của những gì tôi đang sao chụp và nhận ra điều gì đó bất thường? Đó thực sự là lý do vì sao tôi đã do dự lâu đến thế mà không chụp thêm một số bản. Chỉ riêng các dấu "tối mật" thì tôi có thể xử lý được, nhưng chẳng có gì có thể đảm bảo rằng những tài liệu với tiêu đề như thế này sẽ không gây ra lo lắng đối với người nào đó liếc qua nó. Vì thế nên việc đi lấy bản sao khiến Patricia rất hồi hộp.

     Khi chúng tôi đã lấy lại hết các bản sao, phân loại, và xếp theo đúng thứ tự trong các hộp riêng biệt, tôi cần phải tìm ra chỗ để cất giữ. Một hộp gửi tại nhà anh trai tôi ở New York.
Logged

Để gió cuốn đi...
Excocet
Thành viên
*
Bài viết: 617


Thép đã tôi thế đấy


« Trả lời #154 vào lúc: 08 Tháng Giêng, 2008, 06:01:02 pm »

     Những hộp khác gửi ở gác xép hoặc tầng hầm ở nhà bạn bè trong vùng; hầu hết họ không được biết trong hộp đựng gì, chỉ biết đó là những tài liệu mà tôi cần cất giữ.

     Vào ngày 12-3, khi Neil Sheehan quay trở lại gặp tôi ở Cambridge, tôi mất nhiều đêm thức trắng để sao chụp thêm các bản tài liệu. Bài báo của Oliphant đã khiến cho tôi vô cùng lo lắng, không phải vì sợ bị bỏ tù, mà vì sợ sẽ không kiểm soát được những bản chụp tài liệu của mình trước khi chúng được công bố.
Tôi đưa Neil đến căn hộ của Spencer, nơi tôi đang cất giấu những bản sao và chỉ cho anh nghiên cứu đó. Anh đã thuê một phòng tại một nhà nghỉ gần quảng trường Harvard. Đọc lướt qua, Neil có thể thấy ngay rằng những tài liệu này quả đúng như những gì tôi đã mô tả. Anh nói để có thể đăng trên tờ Thời báo, anh phải đọc gần hết số đó, và việc này rõ ràng là sẽ cần thời gian. Anh ta xin chụp một bản, nhưng tôi không muốn thế. Chưa phải lúc.

     Tôi đang phải cân nhắc hai khả năng. Một mặt, tôi quyết tâm bằng cách nào đó phải đưa phần lớn số tài liệu đến được với công chúng. Tôi nghi ngờ liệu tờ Thời báo có sẵn lòng làm việc này hay không. Đồng thời, tôi lo ngại rằng nếu đưa những tài liệu này cho tờ Thời báo trước khi ban biên tập cam kết xuất bản hay thậm chí là có ý định xuất bản, thì có thể ai đó trong số họ sẽ báo cho FBI; hoặc là FBI vì một lý do gì đó nghe phong thanh được về điều này và sẽ truy tìm những bản sao chụp khác của tôi.
Nếu tờ báo (1) cam kết xuất bản và (2) có kế hoạch xuất bản phần lớn nghiên cứu này trên mặt báo thì việc những bản sao còn lại (cũng là "bản cáo trạng" của tôi) bị mất cũng không phải là vấn đề gì to tát. Nhưng nếu trong trường hợp không có được cả hai điều kiện trên thì việc mất các bản sao và việc tôi bị cảnh sát theo dõi cũng sẽ có nghĩa là cuộc chơi chấm dứt nếu như tôi còn tính đến việc công bố tài liệu này ngoài Quốc hội.

     Những tài liệu này ở đó càng lâu mà chưa có quyết định xuất bản, thì càng có khả năng nhiều người sẽ biết tới và đọc chúng và một trong số họ sẽ báo cho Chính phủ. Kết luận cuối cùng của những tính toán này là tôi không muốn gửi phần lớn tài liệu tới trụ sở tờ Thời báo trừ phi những người đứng đầu của tờ báo đã sẵn sàng xuất bản và phải là xuất bản phần lớn tài liệu.

     Tôi trông đợi Neil sẽ đại diện của tờ Thời báo trong vấn đề này. Tôi đã sẵn sàng cho anh xem tất cả những gì anh ta muốn xem và ghi chép lại. Nhưng tôi sẽ không để anh chụp lại một bản nào để mang về toà báo.

     Lẽ dĩ nhiên là Neil không thể ngay lập tức đưa ra bất kỳ cam kết nào với tôi trong vấn đề này. Anh cũng đã nói rõ với tôi như vậy. Anh ta sẽ phải làm các biên tập viên của anh ta có ấn tượng tốt về nội dung của tài liệu này, rồi sau đó sẽ là những cuộc thảo luận cấp cao hệ quả của việc này đối với tờ Thời báo. Thêm vào đó, tôi cũng đã nói với anh ấy rằng chẳng bao giờ có một sự đảm bảo tuyệt đối. Về những việc kiểu như thế này, tôi hiểu rằng dù cho họ có hứa hẹn và thực sự có ý định sẽ làm thì họ hoàn toàn có thể thay đổi quyết định vào phút chót. Đó là sự mạo hiểm tôi phải chấp nhận khi đưa cho họ những trang tài liệu.

     Tôi nói với Neil rằng: "Khi tôi để anh sao chụp những tài liệu này và mang đi, tôi đã sẵn sàng chấp nhận sự thật là tôi đã mất hết quyền kiểm soát đối với chúng. Bản chụp đó ra khỏi tay tôi. Sau đó thì việc sử dụng ra sao là chuyện của các anh (tức là tờ Thời báo). Tôi không thể tác động vào việc này và đó là cách tôi nhìn nhận sự việc. Tôi không thể ngăn anh xuất bản dưới bất kỳ hình thức nào và tôi cũng không thể bắt anh xuất bản. Vì thế việc tôi đưa bản chụp cho anh nghĩa là tôi đã đồng ý trao cho tờ Thời báo và để họ tuỳ ý xuất bản những tài liệu này. Trên thực tế, điều đó sẽ có nghĩa là đưa ra sự chấp thuận trước của tôi đối với bất kỳ điều gì các anh làm".

     Tôi biết là tôi không thể đặt ra những điều kiện trên giấy tờ những ràng buộc có chế tài buộc họ phải thực thi. Nhưng trước khi tôi đồng ý đưa bản sao của nghiên cứu này cho tờ Thời báo, tôi muốn có được sự đảm bảo tối đa có thể được đối với hai vấn đề sau: thứ nhất, toà báo có ý định xuất bản một phần nào đó; thứ hai, đó sẽ phải là một "câu chuyện lớn", chiếm một đa số số lượng trang báo và đó sẽ không chỉ là câu chuyện của một ngày, dù lớn hay nhỏ, mà là một loạt bài tương xứng với nội dung và dung lượng của tài liệu gốc. Trong lần gặp nhau sau đó, Neil đảm bảo với tôi rằng nếu tờ Thời báo tiến tới in nghiên cứu này, nó sẽ "lớn" như là tôi muốn. Anh ta thậm chí còn đi xa hơn khi bảo đảm chắc chắn với tôi rằng tờ báo sẽ in tài liệu này theo đúng nguyên bản. Tôi đã không đặt điều kiện đó ngang với những điều kiện khác, nhưng anh biết rằng tôi rất muốn thế và anh đã đồng ý với tôi. Tôi cũng đề nghị tờ Thời báo có "những cân nhắc nghiêm túc" về việc cuối cùng sẽ xuất bản toàn bộ công trình nghiên cứu thành sách.

     Chúng tôi đã không nói về việc bảo vệ tôi với tư cách là nguồn cung cấp tư liệu. Tôi mặc nhiên cho rằng toà báo, ở một mức độ nào đó, sẽ làm việc này, và tôi đã không đòi hỏi bất kỳ biện pháp đặc biệt nào nếu như tờ báo phải đối mặt với áp lực của luật pháp. Tôi không muốn người ta biết tới với tư cách là nguồn cung cấp thông tin hay một người đã tham gia nghiên cứu này, nhưng tôi đã không đưa ra yêu cầu nào về cách thức mà tờ Thời báo đã giải quyết việc đó. Tôi cho rằng chính phủ sẽ biết hoặc sẽ coi tôi chính là nguồn cung cấp thông tin.

     Nhưng tôi nói với Neil điều đã nói với các thượng nghị sỹ: tôi không muốn chọc giận chính quyền khiến họ truy tố tôi, vì nếu tôi không làm vậy thì dù có vì lý do chính trị hay lý do pháp lý họ có thể cũng sẽ chẳng truy tố tôi.
Logged

Để gió cuốn đi...
Excocet
Thành viên
*
Bài viết: 617


Thép đã tôi thế đấy


« Trả lời #155 vào lúc: 08 Tháng Giêng, 2008, 06:02:24 pm »

     Đáp lại ý nghĩ này của tôi, Neil cam đoan một lần nữa rằng tờ Thời báo là kênh tốt nhất để đăng tải điều mà anh cho rằng cần phải cho nhân dân Mỹ biết. Anh cũng nói thêm về khả năng, dù không chắc chắn lắm, rằng anh sẽ thuyết phục được sếp của mình về việc này. Trong khi đó, anh sẽ phải đọc hết tập tài liệu và ghi chép lại. Một lúc sau, chúng tôi để anh ở lại một mình với tập tài liệu. Tôi không thể lúc nào cũng kè kè bên anh ấy được. Tôi nói với anh rằng tôi trông cậy anh sẽ không đi ngược lại những mong muốn của tôi, sẽ không mang tập tài liệu đi sao chụp. Tôi nói với Patricia rằng tôi thực sự không nghĩ rằng anh ấy sẽ làm vậy. Đó đơn giản là cơ hội mà tôi sẽ phải nắm lấy. Chúng tôi ghé thăm anh thường xuyên, anh luôn luôn trong tình trạng mệt mỏi nhưng ngày càng hăng hái và phấn khởi Anh tiếp tục đề nghị chụp một bản để còn có cái mà thuyết phục các biên tập viên toà báo, nhưng anh đành tỏ ra chấp nhận việc tôi giới hạn chỉ cho anh chụp vài trang làm mẫu. Vài ngày sau, anh rời Cambridge, sau khi thống nhất với tôi rằng anh sẽ sớm quay lại và ở lâu hơn.

     Khi quay lại, Neil báo với tôi rằng các biên tập viên của toà báo rõ ràng là quan tâm, nhưng cũng chả có gì đáng ngạc nhiên là có nhiều tranh luận, sự không chắc chắn và băn khoăn về kế hoạch đó. Họ cần phải biết nhiều hơn về nội dung của nó.

     Điều đó vẫn không đủ để thuyết phục tôi sẵn lòng đưa lại cả công trình nghiên cứu hoặc thậm chí là một số phần của nó.

     Neil lại ngồi xuống để đọc thêm, ghi chép thêm, và tự chuẩn bị tốt hơn để thuyết phục họ về công trình đó. Tôi đã không hề nghi ngờ gì về thái độ của anh. Anh không bao giờ phàn nàn về độ dài hay những phần khô khan của tài liệu. Chúng tôi cùng bị ám ảnh về cuộc chiến. Và đối với một người như thế, đặc biệt đối với một nhà báo, thì tài liệu này là vô cùng hấp dẫn.

     Vào lúc Neil một lần nữa rời Cambridge, anh đã cam kết mạnh mẽ hơn mọi lần trước về việc làm sếp mình tin rằng câu chuyện này xứng đáng một vị trí độc nhất vô nhị. Tuy nhiên trong những lần gọi điện cho tôi từ New York vài tuần sau đó, những gì anh nói với tôi lại không được phấn khởi cho lắm. Họ đang gặp trục trặc trong việc quyết định và không thể nhanh chóng đạt được một giải pháp. Neil vẫn hy vọng, và thực ra là trông đợi rằng cuối cùng họ sẽ tiến đến việc xuất bản tài liệu này, nhưng không rõ là sẽ mất bao lâu để họ có thể thực sự thấy nghiêm túc với vấn đề này. Neil cũng nói với tôi rằng bản thân anh được giao nhiệm vụ làm những vấn đề khác. (Tất cả những điều này hoá ra là sai).

     Vào tháng tư, anh gọi cho tôi nói rằng ban biên tập vẫn đang lần lữa chưa đi tới quyết định và rằng dù đang theo đuổi một kế hoạch khác, anh muốn tiếp tục làm việc về nghiên cứu này để chuẩn bị cho quyết định cuối cùng về việc sử dụng nó.

     Anh sẽ phải làm việc buổi đêm, thậm chí là cả vào các ngày cuối tuần với nó, và chỉ có thể làm thế nếu có một bản chụp ở New York. Liệu tôi đã sẵn sàng đưa cho anh ta một bản? Vào lúc này việc chiến tranh tiếp tục leo thang đã khiến tôi càng thấy phải gấp rút công bố tài liệu này. Tôi đã trở nên ngày càng hoài nghi việc có thể nhờ cậy gì đó ở Quốc hội. Sau những trì hoãn như vậy, tôi cũng không trông mong vào tờ Thời báo, nhưng tôi hầu như không có sự lựa chọn nào khác, và vào lúc này tôi đã sẵn sàng để gánh chịu một rủi ro lớn hơn. Trên cơ sở đó tôi đã đồng ý.

     Khi đồng ý đưa một bản sao, thậm chí cả khi không có bất kỳ sự bảo đảm nào rằng tờ Thời báo sẽ đăng nó, tôi đã ý thức được như Neil có thể đoán, rằng tôi đã đặt niềm tin của tôi vào đối với việc anh ta sẽ sử dụng tài liệu này theo cách mà anh ta thấy phù hợp. Đó là sự chấp thuận của tôi cho tờ Thời báo xuất bản nó theo ý muốn của họ. Nhưng trên thực tế, như sau đó tôi được biết, anh ta đã không cần sự chấp thuận, hay bản sao của tôi để làm việc đó. Điều mà tôi đã không biết, và ông ta cũng đã quyết định không nói cho tôi, là tờ Thời báo đã thuê một vài phòng ở khu New York Hilton, nơi mà một nhóm đang làm việc cấp tốc với tập Hồ sơ Lầu Năm Góc, viết lời bình và lựa chọn các phần của văn bản và tài liệu để đưa vào.

     Họ đã có bản sao đầy đủ của những gì tôi đã cho Neil xem cách đó hơn một tháng.

     Trong hai năm sau, các phần của tài liệu này lần lượt được xuất bản (dù các phần chính cho đến bây giờ đối với tôi vẫn mơ hồ và khó hiểu). Mãi đến khi phiên toà xét xử tôi gần kết thúc, chúng tôi mới khám phá ra có cái gì trong két sắt của Howard Hunt ở Nhà Trắng. Trong đó có một biên niên của Hunt cho thấy rằng Neil và Susan Sheehan đã đăng kí phòng với những cái tên giả tại các khách sạn ở Cambridge và đã lấy hàng ngàn trang và cuối cùng là toàn bộ công trình nghiên cứu và đem đến các cơ sở sao chụp tự động ở Melford và Boston.

     Vào một ngày cuối tuần, khi biết tôi sẽ đi khỏi thành phố cùng với Patricia, Neil đã bí mật đến Cambridge và sử dụng chiếc chìa khoá căn hộ của Spencer mà tôi đã đưa cho anh ta.

     Anh ta đã lấy tất cả công trình nghiên cứu và cùng vợ mang đến hiệu sao chụp ở Melford.

     Trong khi đó, không hề biết những diễn biến "hậu trường" này, tôi đã tiếp tục nỗ lực để có thêm nhiều người biết được chính sách của Nixon, trong khi vẫn cố gắng tìm ra bất kỳ con đường hứa hẹn nào nhằm công bố những tài liệu này trước công chúng.
Logged

Để gió cuốn đi...
Excocet
Thành viên
*
Bài viết: 617


Thép đã tôi thế đấy


« Trả lời #156 vào lúc: 08 Tháng Giêng, 2008, 06:05:09 pm »

Ngày Quốc tế lao động năm 1971



     Nhà tổ chức phong trào phản chiến Rennie Davis trước đó đã kêu gọi một cuộc biểu tình rầm rộ ở Washington nhân ngày 1-5, sao cho đủ đông để khoá chặt mọi nẻo đường.

     Khẩu hiệu là: "Nếu chính phủ Mỹ không chấm dứt chiến tranh, chúng ta sẽ chặn đứng mọi hoạt động của họ". Với mục đích tương tự, nhóm chúng tôi ở thành phố Cambridge đã tụ họp để bàn bạc về những hành động sắp tới. Chúng tôi tự hỏi liệu có nên tổ chức biểu tình ở Boston và khuyến khích mọi người kéo về Washington hay không. "Chặn đứng mọi hoạt động của chính phủ", điều đó có ý nghĩa gì? Liệu họ có dự định bạo động, giống như Weathermen? Liệu cuộc biểu tình có được lên kế hoạch kỹ lưỡng? Liệu nó có vượt ra ngoài tầm kiểm soát?

     Đâu đó trong đám đông biểu tình nói rằng sẽ có những "chiến thuật di động". Điều đó nghĩa là gì, có phải là sẽ không ngồi yên chờ đến khi bị bắt? Liệu có phải là lật xe, đặt thùng, chặn đường, ném đá?

     Bạo động là điều không ai muốn nhưng cuộc biểu tình dường như không được tổ chức tốt. Chúng tôi thấy khó khăn trong việc quyết định liệu chúng tôi có xuống đường hay không.

     Chúng tôi không muốn tái diễn lại cảnh tượng hỗn loạn tại Đại hội quốc gia của Đảng Dân chủ tại Chicago năm 1968. Một vài ngày truức Ngày Quốc tế Lao động, khi tham dự một buổi mít tinh tại Brandeis, nơi mà tôi dự định phát biểu, tôi vẫn chưu có quyết định cuối cùng liệu có tham dự hay không. Theo tôi biết, số phận của các tập Hồ sơ Lầu Năm Góc vẫn chưa được định đoạt. Tôi vẫn đang chờ đợi các nghị sỹ quốc hội thông báo công khai, trong khi tiếp tục suy nghĩ về những điều đáng làm.

     Nhưng chẳng có gì là hứa hẹn cả.

     Hội trường ở Brandeis chật ních khán giả. Mọi người ngồi kín cả những lối đi giữa các hàng ghế và cầu thang. Không khí bức bối. Tôi không bao giờ chuẩn bị nội dung cần phải nói, và khi tôi sắp kết thúc bài phát biểu, tôi chợt nghĩ đến tác dụng của khả năng phản kháng tập thể phi bạo lực. Một suy nghĩ loé lên trong đầu tôi về một lời thoại trong bộ phim trình chiếu gần đây: "Người khổng lồ tí hon", trong đó Dustin Hoffman thủ vai một ông già nhớ lại cuộc sống ctỉa ông giữa những người Anh-điêng, cả lúc sống sót sau trận đánh Little Bighom và vụ thảm sát tại Wounded Knee. Tất cả mọi người đều ngầm liên tưởng cuộc chiến này với với chiến tranh Việt Nam. Tôi nói, "các bạn nhớ lại lời thoại trong bộ phim, một câu nói của Lakota, một người Mỹ bản xứ trước khi họ bước vào cuộc chiến: "Tiến lên, anh em, hôm nay là một ngày đẹp trời để quyết tử". Vâng, sự thật là, không bao giờ có cái ngày tốt đẹp đó để chết cả. Nhưng, tôi nghĩ rằng, ngày 1 tháng Năm là một ngày tốt đẹp để bị bắt tại Washington.

     Hội trường hưởng ứng nhiệt liệt. Tất cả các khán giả đứng bật dậy, vỗ tay và reo hò. Tôi trở về nhà và nói với Patricia: "Tốt rồi, có thể anh sẽ đến Washington".

     Nhóm chúng tôi (gồm có Howard Zinn, Marilyn Young, Fred Branfman, Mitcheil Goodman, Noam Chomsky, Zelda Gamson, Cindy Frederick, và Mark Ptashme - ND) đi đến quyết định tương tự. Chúng tôi tới Washington vào lúc đêm khuya. Những người tổ chức đang bận rộn tìm kiếm chỗ tá túc cho hàng ngàn người ở lại, trong trường học, nhà thờ và nhà dân. Chúng tôi được hướng dẫn đến nhà của một ai đó, nơi chúng tôi tìm thấy hàng chục người đã nằm la liệt ở đây, cố gắng yên giấc ở mọi nơi có thể. Không chiếc giường và trường kỷ nào còn trống. Nhiều người chỉ nằm trên sàn nhà, một số co ro trong các túi ngủ, một số nằm trên thảm, số khác nằm ngay trên sàn nhà trơ trụi. Chúng tôi tìm thấy chỗ trống trên sàn của phòng giải trí ở tầng hầm và cố chợp mắt vài tiếng đồng hồ. Khoảng 4h30 , tất cả mọi người thức giấc, chuẩn bị sẵn sàng. Ánh sáng lờ mờ toả ra từ ngọn đèn màu cam duy nhất ở tầng hầm. Những người trẻ tuổi, hầu hết ở tuổi đôi mươi, đang đổ đầy các bình nước, nhồi nhét thức ăn vào các ba lô nhỏ, đánh răng, viết lên mu bàn tay số điện thoại của các luật sư phòng khi họ bị bắt. Họ làm việc đó một cách im lặng, thuần thục và tập trung.

     Cảnh tượng đó gợi tôi nhớ lại ánh đèn mù mờ trong khoang tàu chở lính, lúc bốn giờ sáng trong một ngày luyện tập đổ bộ.
Logged

Để gió cuốn đi...
Excocet
Thành viên
*
Bài viết: 617


Thép đã tôi thế đấy


« Trả lời #157 vào lúc: 08 Tháng Giêng, 2008, 06:06:05 pm »

     Những người lính đứng dọc lối đi giữa các giường ngủ bốn tầng thắt chặt đồ đạc và ba lô, sẵn sàng đứng sang một bên. Tôi nghi ngờ rằng, thẳm sâu trong lòng, những người trẻ tuổi đang ở Washington dây cũng chung cảm xúc với những người lính trẻ trước khi họ bước khỏi mạn tàu xuống một chiếc thuyền cập sát đang nhấp nhô trên sóng. Lo lắng, háo hức. Không ai trong số họ trước đó đã từng bị bắt và họ cũng không có khái niệm họ sẽ làm như thế nào và những người cảnh sát sẽ hành động ra sao. Nhưng, dường như họ đều giấu kín những cảm xúc này.

     Khi chúng tôi bước ra ngoài, trời vẫn còn tối đen. Chúng tôi đã sẵn sàng tiến về khu trung tâm. Nhưng ngay khi chúng tôi đến góc phố, một chiếc tắc-xi dừng ngay lại. Người phụ nữ da đen lái xe hỏi có phải chúng tôi trong đoàn biểu tình. Khi chúng tôi trả lời rằng "có", và cô ấy đã cho chúng tôi đi nhờ mà không lấy tiền. Cô nói cô biết đến sự kiện qua báo chí, và đây là chuyện xe thứ hai mà cô chở giúp những người biểu tình. Sau đó, chúng tôi nghe nói rằng tất cả các xe tắc-xi trong toàn thành phố đều làm như vậy, đặc biệt là các tài xế da đen. Nhiều lái xe bình thường, trên đường làm việc, cũng chở giúp khi họ thấy những nhóm người trẻ tuổi tiến bước về khu vực trung tâm.

     Bây giờ trời đã sáng hẳn, nhưng âm u và ảm đạm. Cạnh tượng đài Washington, chúng tôi có thể trông thấy những người lính trang bị kỹ càng và đội mũ sắt. Đối với tôi, họ trông giống những anh lính thuỷ quân lục chiến. Tôi đi lên để nhìn rõ hơn họ là ai. Tôi nói chuyện với một vài trong số họ, và kinh ngạc khi biết rằng họ thuộc lực lượng của Binh chủng Hải quân Lục chiến, sư đoàn cũ của tôi, Sư đoàn Hải quân lục chiến số hai, được chuyển đến từ doanh trại Lejcune, phía Bắc Carolina. Tôi nhìn quanh một lượt và nhận ra họ trẻ đến nhường nào, thậm chí cả những người trung đội trưởng, hệt như những người lính mà tôi đã thức dậy cùng họ buổi sáng hôm nào. Họ cũng rất giống tôi, cùng một cảnh mà. Tôi không nghĩ lính thuỷ đánh bộ phù hợp với nhiệm vụ này. Rõ ràng, một số họ cũng có cùng suy nghĩ. Một tay họ cầm khẩu súng trường và tay kia thì ra dấu hiệu hoà bình với chúng tôi.

     Trở lại với Phố 14, hàng tốp người đang đứng trên bãi cỏ trước tượng đài. Dường như thời khắc đã điểm, bất kể lúc đó chúng tôi sắp làm gì. Những chiếc ô tô đi ngang qua về phía cây cầu Phố 14, không phải thành một dòng liên tục, mà từng chiếc, từng chiếc một. Những người tài xế lái xe ở tốc độ tương đối nhanh, nhưng. chúng tôi nhận ra rằng, họ trông thấy chúng tôi phía trước và không muốn đâm vào chúng tôi. Họ đang đi về hướng Lầu Năm Góc, ở Arlington dọc theo sông Potomac. Đó dường như là điểm hợp lý để chặn đứng luồng giao thông. Nhóm chúng tôi rời khỏi vỉa hè và ngồi xuống giữa đường phố, thành một vòng cung tròn hướng ra phía ngoài, vai kề vai. Một vài chiếc xe vòng tránh chúng tôi, giảm tốc độ. Chúng tôi có thể nhìn thấy những người cảnh sát đứng thành một hay hai khối, đẩy người biểu tình trở lại vỉa hè. Các đám mây khí hơi cay dật dờ trôi về phía chúng tôi từ con phố nào đó phía dưới, nơi nhỉều người khác đang ngồi.

      Sau đó, chúng tôi trông thấy một cảnh sát trang phục kín mít bước ngang qua chỗ chúng tôi từ phía tượng đài. Anh ta gỡ chiếc mặt nạ nhựa trên mặt và nhìn chúng tôi, rồi lôi ra bình khí hơi cay Mace vẫn đeo ở thắt lưng. Cùng lúc đó, một cảnh sát khác tiến về phía chúng tôi từ hướng cây cầu, tay lăm lăm chiếc gậy dài. Chiếc mặt nạ nhựa của anh ta bị kéo lệch về phía đỉnh của mũ sắt. Anh ta vừa vung gậy, vừa bước đến. Hai cảnh sát bước đến phía chúng tôi theo hai cạnh của một góc vuông. Chúng tôi nhìn nhau và rõ ràng có cùng suy nghĩ rằng còn quá sớm để bị bắt. Chúng tôi vọt ra ngoài ngay khi hai cảnh sát vừa xô đến.

     Những điều xảy ra sau đó giống như cảnh múa ba lê của Keystone Kops. Tôi còn nhớ mãi cảnh đó như một thước phim quay chậm lại trong đầu, bởi vì nó được diễn lại một cách y chang. Viên cảnh sát tiến từ phía Nam lao về phía trước với chiếc gậy giơ quá đầu, và viên cảnh sát còn lại với chiếc mặt nạ xịt khí hơi cay về phía chúng tôi. Do chúng tôi lập lức rời khỏi vị trí, nên khí ga xộc thẳng vào anh cảnh sát ban đầu, hướng vuông góc với phía mặt trái, nơi không có mặt nạ che chắn. Tôi chứng kiến Viên cảnh sát đó lảo đảo, buông rơi cây gậy, ném mũ sắt và ôm lấy mặt. Viên cảnh sát còn lại kéo tay bạn qua vai mình và dựng anh ta dậy, không còn quan tâm đến chúng tôi bởi chúng tôi bắt đầu di chuyển trở lại trung tâm buôn bán Mall.

     Bây giờ, chúng tôi đã hiểu ý nghĩa của "chiến lược di chuyển" và tìm kiếm một nơi khác để triển khai hành động tương tự. Chúng tôi làm đi làm lại một vài lần, và tất nhiên, không bao giờ thành công như lần đầu. Chúng tôi ngồi trên các con đường hẹp hơn, nơi những chiếc xe có xu hướng dừng lại trước chúng tôi thay vì tìm cách đi vòng qua. Khi những người cảnh sát tới gần, chúng tôi đứng dậy và chạy ra xa. Những người cảnh sát tập trung điều chỉnh giao thông thay vì đuổi bắt chúng tôi. Nếu họ có truy đuổi, chúng tôi cố gắng chạy thật nhanh, hoặc vùng vẫy không để bị bắt.

     Đây là một thành phố của công chức, nơi hầu hết mọi người trên xe đang trên đường tới cơ quan thực hiện các công vụ hàng ngày. Trong số đó có nhiều vụ việc liên quan đến cuộc chiến ở Việt Nam, mặc dù có thể trên nhiều xe mà chúng tôi chặn lại có những người không liên quan trực tiếp đến công việc đó.
Logged

Để gió cuốn đi...
Excocet
Thành viên
*
Bài viết: 617


Thép đã tôi thế đấy


« Trả lời #158 vào lúc: 08 Tháng Giêng, 2008, 06:07:30 pm »

     Dĩ nhiên, chúng tôi không ngăn chặn sự hoạt động của chính phủ, nhưng đối với những người lái xe, điều đó chẳng thể bình thường. Chúng tôi buộc họ phải ngừng giây lát trên đường tới nhiệm sở, dành cho họ một thoáng để suy nghĩ về công việc mà họ đang tìm cách đến đúng giờ để thực hiện và tìm hiểu tại sao một số người lại rỗi hơi làm như vậy để ngăn chặn công việc của họ. Chắc chắn nhiều người trong số họ sẽ cảm thấy khó chịu và cho rằng chúng tôi đang phí phạm thời gian một cách vô ích.

     Tuy nhiên, rõ ràng không phải ai cũng nghĩ như vậy. Nhiều người bấm còi, mỉm cười và tỏ dấu hiệu ủng hộ qua cửa xe.

     Phía bên kia của con phố, trước con dốc dẫn xuống đường ngầm bên dưới các toà nhà, chúng tôi đã chặn một đoàn xe khá lâu trước khi một cảnh sát phát hiện ra. Không mong bị truy đuổi và bắt giữ, chúng tôi đứng dậy khi anh ta tiến lại, tới góc phố và ngược theo con đường. Dường như, viên cảnh sát này bám theo chúng tôi bởi vì tôi có thể nghe thấy Fred Branfman ở phía sau tôi nói gì đó với anh ta. Tôi quay lại để nghe rõ họ đang nói với nhau cái gì. Viên cảnh sát là một người đàn ông trung tuổi mặc một bộ quân phục thông thường, không có mũ sắt, không có mặt nạ, không tỏ ý định gì. Chỉ khi tôi quay lại và Fred đang mải nói chuyện, anh ta bình tĩnh nâng bình khí hơi cay Mace lên và xịt thẳng vào tôi. Tôi cho rằng anh ta chủ ý vậy.

     Trước đó, tôi đã từng bị tấn công bằng khí hơi cay. Trên thực tế, buổi sáng hôm đó, khi huấn luyện hải quân, tôi phải chịu đựng vài phút trong một phòng khí hơi cay mà không có mặt nạ.

     Nhưng lần này là kinh nghiệm hoàn toàn khác. Tôi không thể nhìn thấy gì và hoàn toàn mất phương hướng. Tôi không biết mình đang ở đâu. Ai đó túm lấy và nâng tôi dậy. Đó là một dạng hiệu ứng của khí hơi cay Mace mà tôi đã tùng được đọc. Nếu tôi còn có thể mở miệng, điều tôi sẽ thốt ra là: "Chúa ơi, khí hơi cay Mace" như thể tôi là một người am hiểu về nó. Ý của tôi ở đây là Mace chính là một loại sản phẩm mà với tác dụng của nó hệt như đã được quảng cáo.

    Tại thời điểm buổi sáng hôm đó, tất cả chúng tôi đều sẵn sàng bị bắt. Nhưng cảnh sát dường như không quan tâm đến việc cưỡng ép chúng tôi. Họ thành công trong việc giải tán những người tuần hành. Vì vậy, giao thông diễn ra tương đối bình thường ở những trục đường chính. Cuộc biểu tình dường như đã kết thúc. Theo chúng tôi biết, không một ai bị bắt. Chúng tôi ngồi xuống, nói chuyện với nhau một lúc trong công viên Lafayette, chênh chếch với Nhà Trắng. Chẳng còn nhóm nào xung quanh. Ai đó gọi cho I.F. Stone bằng điện thoại công cộng và sắp xếp cuộc gặp lúc ăn trưa với chúng tôi tại một nhà hàng Trung Quốc. Sau đó, chúng tôi quyết định giải tán. Một số người quay trở lại với các cuộc hẹn mà tưởng chừng sẽ không thực hiện được với suy nghĩ rằng chúng tôi sẽ bị tống giam. Noam bay tới Texas tham dự một sự kiện tại quán cà phê GI, một trong những trung tâm ủng hộ phong trào phản chiến trong nội bộ quân đội.
Tôi bay đến New York nghe bài giảng của McGeorge Bundy tại Uỷ ban Đối ngoại. Đó là một trong ba bài thuyết trình ông ta dự định thực hiện ở đó, và có kế hoạch sau này sẽ chuyện thành sách. Có ý kiến cho rằng, đó là nỗ lực của ông ta để được xem xét tới chức vụ ngoại trưởng trong chính quyền Dân chủ kế tiếp, sau khi ông ta rời khỏi quỹ Ford. Tuy nhiên, những bài thuyết trình của Bundy không bao giờ được xuất bản.

     Việc xuất bản của Hồ sơ Lầu Năm Góc sáu tuần sau, đề cập đến giai đoạn mà ông ta nhắc đến, cho thấy ý kiến của ông đã đi lệch hướng. Hồi ức của anh trai ông về Việt Nam, điều mà Bill Bundy đã nghiên cứu trong suốt hai năm tại MIT, chịu chung số phận.
Logged

Để gió cuốn đi...
Excocet
Thành viên
*
Bài viết: 617


Thép đã tôi thế đấy


« Trả lời #159 vào lúc: 08 Tháng Giêng, 2008, 06:09:19 pm »

     Tôi đi từ La Guardia đến căn hộ của Patricia ở New York, nơi tôi có vài ba bộ quần áo, có thể tắm táp và chỉnh đốn lại trang phục. Tôi kỳ cọ kỹ hơn mọi ngày. Đầu tóc cũng như quần áo mà tôi đang mặc đẫm mùi khí hơi cay. Sau khi gội đầu kỹ càng và mặc quần áo sạch sẽ, tôi có mặt tại Hội đồng Đối ngoại lúc chiều muộn, với một đám đông các cựu lãnh đạo và đồng nghiệp cũ từ Lầu Năm Góc, Bộ Ngoại giao và Đại sứ quán tại Sài Gòn. Toàn bộ bộ máy chính quyền Mỹ ở Việt Nam, tất cả các cựu đại sứ và các quan chức nội các, đều đến để lắng nghe Bundy. Với tôi, nó giống như nơi dành cho bị cáo của toà án Nuremberg. Điều khác nhau là không một ai trong chúng tôi bị buộc tội. (Cuối cùng, người bị buộc tội duy nhất là tôi).
Tại Washington, sau khi đã giải tán cuộc biểu tình cuối giờ sáng và thiết lập lại giao thông mà không tóm được mấy người, lúc chúng tôi ăn trưa, cảnh sát bắt đầu chiến dịch bắt bớ. Họ không còn phải làm gì với cuộc biểu tình ban sáng đã chấm dứt.

     Những người cảnh sát không cần biết những người họ bắt có mối liên hệ gì với cuộc biểu tình không. Hầu như tất cả những người bị bắt không tham gia vào sự kiện đó. Nếu bạn trẻ tuổi và tóc dài, bạn đều bị bắt tại Washington chiều hôm đó nếu đi trên phố ở quận Georgetown. Khách du lịch, sinh viên, những người đi mua hàng, con cái của một số nghị sỹ, tất cả đều bị tóm.

     13 ngàn người bị bắt ở Washington chiều và tối hôm đó. Không có đủ nơi giam giữ, nên họ bị nhốt ở Sân vận động Robert F. Kennedy. Cảnh sát không có chứng cớ về bất kỳ ai trong số đó có tham gia biểu tình chống chiến tranh hay không, hoặc làm điều gì đó trái pháp luật, ngoại trừ một số nhân vật mà họ biết, như Abbie Hoffman, với cái mũi bị đánh bầm tím khi bị bắt. Hầu hết trong số họ không phải là những người phản đối chiến tranh. Thế nhưng, cái đêm ở sân vận động RFK có thể đã gieo mầm mống nổi loạn trong họ. Nhiều năm sau, họ không thực sự thành công trong việc giải quyết vụ bắt bớ nhầm lẫn đó bằng một vụ kiện tập thể.

     Nhưng tôi không biết gì về những điều đã xảy bởi tôi chăm chú lắng nghe bài thuyết trình của Bundy ở New York. Ông ta nói rằng không có bất kỳ ý định nào nhằm đánh lạc hướng Quốc hội liên quan đến việc thông qua Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ. Nghị quyết đó về chức năng không tương đương với một lời tuyên chiến (lời của Nicholas Katzenbach năm 1967). Tôi vẫn nhớ suy nghĩ của mình lúc đó: "Trời, Bundy, đừng làm thế. Đừng tiếp tục nói ra điều đó một cách công khai như thế. Quá muộn rồi, điều đó sẽ sớm được nói ra thôi".
Đó quả là một kinh nghiệm nằm ngoài sức tưởng tượng của tôi: một buổi sáng biểu tình với chiến thuật "di động" trên Phố 14, sau đó ngồi trong một căn phòng với toàn các ông bạn tội phạm chiến tranh của mình, lắng nghe trợ lý an ninh quốc gia của Johnson nói dối về cuộc chiến.
Logged

Để gió cuốn đi...
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM