Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 10:10:13 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Những bí mật về chiến tranh Việt Nam  (Đọc 115670 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Excocet
Thành viên
*
Bài viết: 617


Thép đã tôi thế đấy


« Trả lời #30 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2007, 07:34:09 pm »

     Thay vì tôi quan sát cuộc tấn công lần này như trước, McNaughton, vừa từ văn phòng của McNamara quay về, nói với tôi khẩn cấp thu thập các chi tiết về sự "tàn bạo" có liên quan tới cuộc tấn công của Việt Cộng vào Qui Nhơn và một danh sách các hành động khủng bố khác trong những tuần gần đây. Ông ta nói với tôi, đó là vì muốn giúp cho McNamara thuyết phục được Lyndon Johnson rằng đã đến lúc phải vượt qua một sự trả đũa ăn miếng trả miếng - đó là tất cả những gì mà Tổng thống đã cho phép 2 ngày trước đây sau cuộc tấn công vào Pleyku và ông ta dựa vào để chưa thực hiện cuộc tấn công này - để tiến hành chiến dịch ném bom có hệ thống. Bản ghi nhớ của Bundy và McNaughton cho biết, Tổng thống còn muốn tránh xa việc chỉ liên hệ các cuộc tấn công của chúng ta với các cuộc tấn công vào người Mỹ.

     Lần đầu tiên tôi bị lôi kéo vào quá trình trực tiếp thuyết phục Tổng thống về một việc mà tội coi là thảm hoạ. Thông thường tôi chỉ giúp McNaughton thảo ra các bản ghi nhớ mà ông ta sẽ viết cho McNamara, cho dù việc sử dụng tài liệu đó có như thế nào. Giờ tôi lại được yêu cầu thu thập dữ liệu trực tiếp cho McNamara về một vấn đề tôi từng lên án. Nhưng tôi không có thời gian để nghĩ tới điều đó. Tới 8 giờ sáng  hôm sau tôi mới có bản tài liệu, khi Bộ trưởng đã rời văn phòng tới Nhà Trắng.

     Tôi cần phải bắt đầu công việc ngay lập tức. Mệnh lệnh từ McNamara cho McNaughton vì một hành động khẩn cấp giống như một mệnh lệnh từ Thượng đế, đó không phải là một dịp để McNaughton tỏ ra e dè hay do dự. McNaughton chuyện đám tài liệu cho tôi với hy vọng tương tự. Tôi đã không làm ông thất vọng. Tôi không nghi ngờ hay do dự khi đi xuống Phòng tác chiến tổng hợp để làm công việc của mình. Đó là công việc tôi phải giải quyết.

     Tôi tới Phòng tác chiến tổng hợp trong các văn phòng của Bộ Tham mưu trưởng liên quân ở Lầu Năm Góc vì những thông tin liên lạc trực tiếp với sở chỉ huy MACV ở Sài Gòn đều nằm ở đó. Sĩ quan trực ban chỉ tôi tới cái bàn có đường điện thoại nối tới Sài Gòn, tôi ngồi ở đó suốt đêm với một đường điện thoại để ngỏ. Tôi nói với viên đại tá phía đầu dây bên kia rằng tôi là người đại diện của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng (John bảo tôi nói thế) và dường như tôi được toàn bộ nhân viên của sở chỉ huy MACV giúp đỡ thu thập số liệu. Tôi nói với viên đại tá tôi cần chi tiết về những hành động của Việt Cộng ở bất cứ đâu ở Việt Nam, đặc biệt trong tuần trước, tháng trước hoặc ngày hôm qua.

     Tất cả những điều nêu trên, tôi muốn các chi tiết đẫm máu về thương vong của người Mỹ ở Pleyku và đặc biệt ở Qui Nhơn.

     Tôi nói với đại tá: "Tôi cần bằng chứng đẫm máu".

     Một buổi sáng sớm ở Việt Nam khi chúng ta bắt đầu công việc đó là một ngày làm việc ở sở chỉ huy MACV, tôi đã nói suốt cả đêm từ Lầu Năm Góc vì thế khá dễ dàng cho các nhân viên của viên đại tá thu thập số liệu. Họ đang điện thoại cho các đại diện cấp tỉnh, các cố vấn sư đoàn ở khắp Việt Nam. Chúng ta luôn nói nhiều về sự khủng bố và những hành động tàn bạo của Việt Cộng, nhưng các báo cáo tuần chỉ đề cập tới các sự cố cá nhân. Không ai có được các thống kê về chúng. Hoá ra các quan chức cấp tỉnh người Việt Nam đã giữ lại sổ sách ghi các sự kiện từng tỉnh mà không có ý định báo cáo từ các tỉnh lên sở chỉ huy MACV và cũng không có ai đi tập hợp hết chúng lại.

     Thậm chí số liệu cấp tỉnh thu thập được từ các huyện, làng xã cũng phải một tháng sau thời điểm thực sự xảy ra sự việc. Cũng có thể thu được thông tin về các sự cố từ một, hai tuần trước: như vụ một xe buýt trúng mìn bị nổ tung; xã trưởng bị chết.

     Tôi yêu cầu các chi tiết sinh động để phân tích cụ thể hơn. Bao nhiêu người bị chết trên xe buýt trong đó có bao nhiêu trẻ em? Họ là ai? Họ đang đi đâu? Đó có phải là mìn đè nổ - loại này có thể không được dùng cho loại xe dân sự, hay mìn vướng - loại mìn này phải do cố tình đặt dưới xe buýt?

     Phần lớn các báo cáo đều không đi vào các chi tiết như thế, tuy nhiên chỉ một số là có. Xã trưởng bị lòi ruột, gia đình, vợ và 4 đứa con cũng bị chết. "Thật tuyệt? Đó là những gì tôi muốn biết? Những gì chúng ta cần! Thậm chí còn hơn cả thế. Ông có câu chuyện nào khác giống như thế không?"

     Với sự khích lệ của tôi, nhóm nhân viên ở Sài Gòn đang làm việc rất tích cực bằng điện thoại và đài phát thanh. Những ngày đó không có máy fax như bây giờ; các báo cáo chi tiết trên giấy sẽ được chuyển từ các tỉnh về bằng trực thăng. Các báo cáo đều phải được dịch. Họ đang làm việc dưới áp lực lớn của tôi. Tôi bảo họ vì Tổng thống, tất cả phải hoàn tất lúc 7 giờ để có thể thu lại lúc 8 giờ nhờ sự giúp đỡ của một số thư ký.

     Trong khi tôi trực suốt đêm ở đường dây nối tới MACV ở Sài Gòn thì các thành viên ban tham mưu cũng ở đó trực suốt ngày ở đường dây nối tới Qui Nhơn, cố tìm xem điều gì đã xảy ra. Ở đó cứ nhốn nháo cả lên. Khu nhà bị tấn công ngay đêm hôm trước, MACV vẫn chưa có được bức tranh toàn cảnh về những điều chính xác đã xảy ra. Điều tôi cần không phải là các chi tiết quân sự mà là sự quan tâm đến nhân tình, sự kinh hoàng và các khía cạnh khủng bố. "Khủng bố" là từ không chính xác lắm, vì đây là cuộc tấn công vào căn cứ quân sự trong một cuộc chiến, nhưng là cuộc tấn công vào các binh lính đang ngủ trong doanh trại. Họ còn là những người Mỹ, các cố vấn, những người giúp việc; nước Mỹ thậm chí đã không gây chiến cho tới khi công chúng biết được. Nó không giống như một cuộc tấn công vô cớ vào các tàu khu trục của chúng ta, trên đường tuần tra ngoài biển. Đó là một thách thức đối với danh dự, với sự an toàn cho binh lính trước những cảnh báo trực tiếp của chúng ta. Nó chính xác là một phần của Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ (có ý muốn ngăn cản), được thông qua trước sự hoàn toàn nhất trí của Quốc hội, là một phần kế hoạch yêu cầu trả đũa trực tiếp miền Bắc Việt Nam, giống như các cuộc tấn công của chúng ta ngày 5-8. Sau các cuộc tấn công vào Biên Hoà và Pleyku, việc này đã làm cạn kiệt lòng kiên nhẫn của người Mỹ. Ít ra nó cũng sẽ cho Tổng thống và công chúng Mỹ biết được các chi tiết cụ thể về các việc đã được liến hành ở Qui Nhơn, mà tôi đang trong quá trình tổng hợp.

     Khoảng 4 giờ sáng (buổi chiều ở Việt Nam), tôi có được những tài liệu đang tìm kiếm. Bằng giọng vội vã, ngắt quãng, viên đại tá nói với tôi họ vừa nhận được thông tin: 2 cố vấn Mỹ - 1 thiếu tá và 1 trung uý theo tôi nhớ, trong khu nhà cố vấn bị tấn công đêm hôm trước đã bị bắt và giết chết. Mặc dầu tất cả những điều đó thì đây vẫn là một câu chuyện kinh hoàng để kể ra và nghe được, lúc này viên đại tá có quan điểm rõ ràng về điều tôi săn lùng, ông ta biết, cả hai chúng tôi biết rằng ông ta đã tiến gần tới những gì tôi cần. Có nhiều vết thương do bị đâm trên thi thể của hai sĩ quan, không phải do vết đạn hay mảnh đạn. Tôi đã có đủ các chi tiết.

     Nửa giờ sau có thêm một chút bằng chứng. Các thi thể có những dấu hiệu bị kéo ngang qua sân chơi của khu nhà, có thể bằng dây xích. Việc này có thể xảy ra sau khi họ chết. Không rõ sự tổn thương này xảy ra trước hay sau khi họ chết hay là kết quả của sự kéo lê hoặc tra tấn.
Logged

Để gió cuốn đi...
Excocet
Thành viên
*
Bài viết: 617


Thép đã tôi thế đấy


« Trả lời #31 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2007, 07:35:14 pm »

     Đây nghe như một sự kiện chưa từng thấy trong chiến tranh.

     Theo tôi biết, lúc đó không có một tù binh chiến tranh nào của Mỹ hoặc một người Mỹ nào bị giết trực tiếp mà là do các vụ nổ vô tình hoặc các loại vũ khí từ xa. Các thi thể người Mỹ bị què cụt, cả còn sống hoặc đã chết, các sĩ quan bị bắt và bị giết chết.

     Chính vì thế mà John cử tôi xuống tập hợp số liệu cho McNamara. Tôi rất hoan hỉ. Vừa viết ra các chi tiết, tôi vừa nói với viên đại tá: "Tốt, tốt lắm. Chà, lạy chúa? Đây rồi. Còn gì nữa không? Còn gì giống thế này ở đâu đó không?" Thống kê về xác chết và thương binh của Mỹ ở Qui Nhơn vẫn đang tiếp tục, nhưng tất cả số còn lại toàn do bị trúng pháo cối. Đây là vụ việc đuy nhất kiểu này được phát hiện ra - nó là vụ việc duy nhất ở Việt Nam trong chiến tranh cho tới thời điểm đó - tuy nhiên một vụ việc cũng đủ cho báo cáo của tôi. Lúc 6h30 sáng, tôi cuộn đám tài liệu lại, cảm ơn ông đại tá và nhờ ông ta chuyện lời cảm ơn tới toàn bộ nhóm nhân viên.

     Tôi tập hợp các ghi chép và quay trở về văn phòng ở ISA để chuyển toàn bộ cho McNamara: trong tháng trước có quá nhiều các vụ nổ mìn xe buýt, trường học, các cơ quan địa phương; các quan chức huyện, làng xã bị ám sát; nhiều người Mỹ bị chết trong 3 ngày trước ở Pleyku và Qui Nhơn; một thống kê chi tiết về tình trạng thi thể của 2 cố vấn Mỹ. Tôi không tán thành việc công bố thông tin cuối cùng này cho công chúng. Ngược lại, tôi cho rằng Nhà Trắng nên giữ kín chuyện này không chỉ vì sự tôn trọng đối với các gia đình của hai nạn nhân mà còn vì thông tin đó quá kích động. Sự phẫn uất của công chúng có thể buộc Tổng thống phải dùng tới các biện pháp vượt quá mục tiêu mà ông ta và McNamara muốn đạt tới. Nhưng tôi biết Bộ trưởng Bộ Quốc phòng muốn Tổng thống nhằm vào đâu, tôi cho rằng có một cơ hội tốt để những chi tiết đẫm máu này có thể lọt ra ngoài (từ các nhóm quân sự, qua sự phẫn uất dễ hiểu, qua ước muốn được thấy sự phản ứng tới cùng của họ; tôi không ám chỉ tới sự cố ý để rò rỉ thông tin từ McNamara hoặc các cấp dưới trực tiếp của ông ta).

     Chính quyền sẽ thực sự lúng túng nếu hoàn toàn không có phản ứng nào chống lại Bắc Việt, giống như đã không có phản ứng gì vào tháng mười một sau vụ tấn công vào Biên Hoà hoặc có phản ứng nhưng vẫn bị hạn chế như sự trả đũa gần đây đối với Pleyku.

     Nhà báo Joe Alsop sau đó đã chờ đợi, nếu có được thông tin này, để lên án Nhà Trắng vì vừa im lặng một cách hèn nhát lại vừa cố tình che giấu tới cùng.

     Tôi đưa những trang bản thảo, vừa viết tay vừa đánh máy, cho một trong hai người thư ký đã tới đây rất sớm vì việc này.

     Người kia đang đánh máy tài liệu của John, được viết vào sáng hôm đó, về tình cảnh một chiến dịch ném bom được bắt đầu vào lúc này. Với sự giám sát cẩn thận của McNaughton, thư ký của tôi lấy trang cuối cùng ra khỏi máy chữ, kẹp cùng với các trang khác và John lao nhanh xuống phòng để đưa cả hai tập tài liệu của chúng tôi cho McNamara đọc trong xe trên đường tới Nhà Trắng. Hơn 9 giờ McNamara trở lại và nói với John cảm ơn tôi về tập tài liệu Tài liệu đó chính xác là điều ông ta đang cần. Ông ta nói nó đã gây ra tác động lớn tới Tổng thống.

     Tôi đã nhanh chóng thấy được kết quả. Còn hơn cả các cuộc tấn công đặc biệt là cuộc tấn công ở Qui Nhơn và người Mỹ, công bố của Nhà Trắng về các cuộc tấn công ngày hôm đó đã đưa ra danh sách các hoạt động và các cuộc tấn công của Việt Cộng từ 8 tháng hai, miêu tả chúng như "những hành động khiêu khích liên tiếp"(47). Lời công bố thực tế đã né tránh các từ như "trả thù", "trả đũa", bằng cách miêu tả các cuộc tấn công của chúng ta đơn giản là "một sự phản ứng" đối với "những hành động khiêu khích trực tiếp cao hơn của chính quyền Hà Nội".

     Tiếp theo đó là lý do của Bundy về kế hoạch ném bom đang diễn ra. Vì hầu hết số liệu mà tôi thu thập được đều là các hoạt động không hay của Việt Cộng được diễn ra hàng ngày nên việc công bố bức bách này đã mở đường cho một chiến dịch ném bom có hệ thống mà không cần phải thông báo. Vài ngày sau, Tổng thống chấp nhận đề nghị tiến hành một chiến dịch như thế. Chiến dịch mang tên Sấm rền, bắt đầu vào ngày 2-3-1965. Cùng lúc đó, các máy bay phản lực bắt đầu các nhiệm vụ bí mật ở miền Nam Việt Nam cho lần đầu tiên. Đợt ném bom của Mỹ bên trong và vượt ra ngoài các đường biên giới của miền Nam Việt Nam đã kéo dài thêm 8 năm.

     Xét lại dự cảm trước của tôi về chiến dịch ném bom đó, tôi không bao giờ có thể giải thích được cho chính mình - tôi cũng không thể giải thích được cho ai - tại sao tôi ở lại Lầu Năm Góc để làm công việc này khi chiến dịch đã bắt đầu. Lòng ham danh vọng đơn thuần không phải là một lời giải thích thoả đáng; tôi đã không tận dụng được vai trò đó hay khám phá thêm được gì từ bên trong; nhưng tôi đã học được khá nhiều điều cần thiết. Công việc đêm hôm đó là điều tồi tệ nhất tôi đã từng làm.

     Những gì tới ngay sau đó cũng chỉ là một phần công việc của tôi. Các thống kê đưa ra ngày 13-2 cũng là ngày Tổng thống đưa ra quyết định cuối cùng về chiến dịch Sấm rền.

     Chiến dịch này đã thực sự không tiến triển do điều kiện thời tiết tới tận tháng Ba. Chiến dịch cũng có thể bị bác bỏ trong những tuần đó. Thậm chí sau đó, các cuộc tấn công vẫn được thực hiện như những cuộc tấn công trả thù trong nhiều ngày, nhiều tuần; cũng sẽ khá dễ để huỷ bỏ chương trình vì các mục tiêu bên trong dự định vẫn chưa được công khai. Nhưng trong thời kỳ này tôi đang góp phần để giúp cho chương trình được phát triển lên. Tôi được giao công việc thiết lập một hệ thống báo cáo ở miền Nam Việt Nam để thu thập và phân phát dữ liệu về những hoạt động của Việt cộng, để đánh giá các cuộc tấn công của chúng ta. Đây là một trong những đoạn báo cáo chính xác về hoạt động của Việt Cộng trong bản ghi nhớ của Bundy-McNaughton một tuần trước: Chúng ta nên phát triển và chọn ra một mẫu tiến hành các cuộc tấn công của Việt Cộng có thể được áp dụng một cách theo nguyên tắc và liên quan rõ ràng tới các cuộc tấn công trả thù của chúng ta"(48). "Danh sách hàng tuần về các hoạt động tàn bạo". Hiện tại tôi đang phổ biến chính sách này cho dù tôi không nghĩ theo cách đó. Tôi nghĩ về những điều tôi đang làm như một loại công việc nghiên cứu.

     Không phải mọi hoạt động bạo loạn của Việt Cộng, được chỉ ra ở các bốt quân cảnh, đều được gọi là sự khủng bố hoặc các hành động tàn bạo, nhưng phần lớn là đúng. Các xe buýt bị đánh mìn, dân thường bị bắt cóc, các đường xe lửa, các cây cầu bị phá hoại, các trưởng làng đôi khi cả gia đình của họ bị ám sát hoặc bắt cóc. Báo cáo đầu tiên của tôi, trong một loạt các báo cáo về việc tìm kiếm các mục tiêu thu thập và phân phát số liệu, có đầu đề: "Hành động vi phạm của Việt Cộng từ ngày 11 đến ngày 15-2-65". Báo cáo liệt kê 67 sự kiện riêng biệt, xảy ra từng ngày. Lúc đầu các báo cáo tuần của tôi ở dạng nội bộ, tuyệt mật, nhưng sau đó đã được đưa ra công khai. Chúng hoàn toàn phù hợp với các vụ cục trong việc hợp tác với giới báo chí. Mọi người đều muốn có một bản copy tập báo cáo vì về mặt tâm lý chúng luôn làm cho người ta thấy yên tâm. Cuối cùng chúng dường như tạo ra một lý do chính đáng cho những hành động của chúng ta, chính xác là cho ý đồ của Bundy. Chẳng bao lâu tôi đã có thêm những số liệu và những chi tiết sinh động về sự tàn bạo và những hành động khủng bố của Việt Cộng trong các tập tài liệu và thậm chí trong đầu tôi hơn bất cứ người nào xung quanh tôi, những người đã thường xuyên tác động tới suy nghĩ của tôi đối với Việt Cộng. Đó là một phần có thực của tình hình, nhưng để cho rằng tôi đã cung cấp số liệu cho mục đích xem xét và thúc đẩy tiến trình thực hiện kế hoạch tấn công trên không và tăng cường tấn công trên bộ, thì không phải là một ký ức vui vẻ gì. Cũng không hẳn lúc đó việc này đã không làm tôi thấy phiền lòng.

     Sáu ngày sau cuộc tấn công đầu tiên của chiến dịch Sấm rền, 2 tiểu đoàn lính thuỷ đánh bộ đã đổ bộ lên Đà Nẵng bằng đường không và đường biển để đảm bảo an toàn cho sân bay ở đó. Đại sứ Taylor và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng McNamara, hai cố vấn cấp cao nhất của Mỹ - những người đã lên án mạnh mẽ việc đưa các lực lượng bộ binh Mỹ tới Việt Nam, đã phải miễn cưỡng chấp nhận việc triển khai này. Tuy nhiên, họ không thể bỏ qua những lời cảnh báo khẩn cấp, sau cuộc tấn công vào Biên Hoà, rằng chúng ta không thể chỉ đơn giản dựa vào Quân đội Việt Nam cộng hoà (ARVN) để có được sự đảm bảo an toàn cho các hoạt động không quân của chúng ta ở phía ngoài khu căn cứ. Dù sao, Taylor và McNamara vẫn quyết tâm ngăn chặn việc thực hiện bước tiến đầu tiên trong việc giành quyền diều khiển cuộc chiến tranh trên bộ, hoặc kể cả việc tham gia vào cuộc chiến tranh đó.

     Cấp trên của tôi cũng thế. Tôi nhớ lúc đó - vào buổi sáng ngày 2 tháng Ba, khi thông báo tới - tôi nghe thấy John kêu lên khi ông ta nhìn thấy các chỉ thị vào phút chót, "Ôi lạy chúa? chúng ta sẽ phải đưa quân lính thuỷ đánh bộ sang! Nghĩa là chúng ta sẽ không bao giờ thoát được! Lính thuỷ đánh bộ đã đổ bộ? Chúng ta sẽ phải quan tâm tới việc này, chúng ta sẽ tới để giành thắng lợi trên bộ. Không gì có thể khác ngoài lính thuỷ đánh bộ?" Ông ta ra lệnh Lữ đoàn không vận 173, đang đóng quân ở Okinawa, được cử sang thay thế cho binh chủng lính thuỷ đánh bộ đang trên đường đi. Ông ta không để lộ ra lý do của việc thay đổi thất thường vì sợ làm đảo lộn mọi kế hoạch dự phòng bất trắc của Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân và CINCPAC - vì thế sự mâu thuẫn nhỏ này trong mối quan hệ giữa giới quân sự và dân sự cho tới nay vẫn chưa được giải thích trong các báo cáo mang tính lịch sử của ông ta.
Logged

Để gió cuốn đi...
Excocet
Thành viên
*
Bài viết: 617


Thép đã tôi thế đấy


« Trả lời #32 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2007, 07:36:30 pm »

     Theo Đại sứ và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng thì việc đó không chỉ là các mối quan hệ công khai mà mệnh lệnh nhiệm vụ cho thấy "Lực lượng lính thuỷ đánh bộ Mỹ sẽ không, nhắc lại là sẽ không, tham gia vào các hoạt động hàng ngày chống lại Việt cộng". Sự hạn chế đó được kiểm soát tốt trong 3 tuần. Ngày 1-4-65, Tổng thống cho phép binh chủng lính thuỷ đánh bộ mở rộng nhiệm vụ vượt quá giới hạn cho phép để đảm bảo an toàn cho khu căn cứ và bảo vệ các sân bay, kể cả các hoạt động tấn công có giới hạn. Bản ghi nhớ của McGeorge-Bundy ngày 6-4 về các quyết định của Tổng thống gửi cho Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Giám đốc Cục Tình báo Trung ương kết thúc bằng việc răn đe họ rằng với sự tôn trọng việc tăng quân và thay đổi nhiệm vụ, "Tổng thống mong muốn rằng nên tránh việc công khai vội vàng vì đề phòng mọi việc có thể xảy ra. Bản thân các hoạt động nên được thực hiện một cách nhanh chóng, bằng mọi cách nên giảm thiểu sự phát sinh những thay đổi bất ngờ trong chính sách… Tổng thống còn mong muốn những hoạt động và thay đổi này nên được hiểu như những việc dần dần và hoàn toàn phù hợp với chính sách hiện hành"(49). Chính vì thế vai trò chiến đấu của bộ binh Mỹ ở Việt Nam trong vòng 8 năm đã bắt đầu một cách êm ắng giống như chiến dịch ném bom.

     Một buổi sáng thứ bảy năm 1965, tôi có cuộc hẹn đầu tiên với Patricia Marx. Đó là ngày 17 tháng tư năm 1965, với tôi để kiểm tra rõ ngày tháng cũng rất dễ dàng vì nó nằm hết trong những sự kiện lịch sử của thời kỳ đó. Hôm đó là ngày diễu hành lớn đầu tiên phản đối cuộc chiến tranh Việt Nam của Hội sinh viên vì một xã hội dân chủ (SDS). Patricia tham gia trong cuộc diễu hành nên tôi đã đi cùng cô ấy.

     Đó không phải là cách tôi đã chọn để dành cho ngày nghỉ thứ bảy đầu tiên của mình kể từ khi vào làm việc cho chính phủ.

     Sáng thứ sáu, ngày hôm trước, cấp trên của tôi McNaughton nói rằng McNamara sẽ tới Trại nuôi gia súc của Lyndon Johnson ở Texas để nghỉ cuối tuần và McNaughton sẽ không tới văn phòng vì thế tôi có thể tranh thủ nghỉ cuối tuần. Tôi đã làm việc cả ngày, 12 tiếng, tất cả các thứ bảy, thậm chí cả nửa ngày các chủ nhật kể từ khi tôi bắt đầu làm cho John 8 tháng qua. Vì thế, với tôi đây là một dịp rất quan trọng. Hơn nữa, vì tôi đã biết việc này một ngày trước đó nên tôi có thể hẹn trước. Thông thường, vào buổi tối, tôi không thể rời văn phòng trước McNaughton, cũng như McNaughton không thể rời văn phòng trước McNamara và không bao giờ trước 8h, tuy nhiên bạn không thể đoán trước được một cách chính xác khi nào, có thể 8h30 hoặc 9h30 . Vì thế không có cách gì để hẹn gặp với một ai đó từ trước, và về chuyện này mà nói thì cũng không có nhiều người để bạn có thể điện thoại lúc 9h hoặc 8h. Tôi đã ly dị người vợ trước được hơn một năm vì giờ giấc thế này đã không cho tôi có một cuộc sống xã hội.

     Ngay khi biết tin được nghỉ, tôi đã điện thoại cho Patricia Marx cùng tôi đi xem hoa đào nở. Tôi quen Patricia trong một bữa tiệc mà Dan Jacobs, một người bạn cũ của tôi ở Harvard, đã dành cho cô khoảng một năm trước. Trong bữa tiệc, tôi rất có ấn trợng vì Patricia là một cô gái xinh đẹp (chúng tôi không nói sau này cô là một phụ nữ trẻ trung), rất tự tin và thông minh. Cô có một chương trình hàng tuần về công đoàn trên đài phát thanh với tên "Các cuộc phỏng vấn của Patricia Marx". Nhưng tôi tin rằng cô thường đi chơi với những người cô đã phỏng vấn cho chương trình của mình như Ted Sorensen và Carl Sagan. Cô không biết hiệp hội của tôi. Cô hỏi tôi đang làm gì và đề nghị tôi giới thiệu cho một số người cô có thể phỏng vấn ở Washington, tôi không chờ đợi cô bày tỏ mong muốn phỏng vấn tôi và cô đã không làm điều đó. Sau đó tôi trở thành một nhà phân tích của Rand, làm công việc nghiên cứu ở Lầu Năm Góc, công việc làm tôi không thể nói được nhiều.

     Suốt từ đó, Patricia không có mặt ở New York, và tôi đã nghĩ nhiều tới cô, đến cuối tháng ba cô bất thình lình gọi cho tôi và mời tôi tới dự bữa tối do chị gái cô tổ chức ở Washington cho Jonas Salk. Vì không phải là tối chủ nhật nên tôi nói tôi sẽ tới nhưng không chính xác khi nào, cô nói không sao. Tôi tới đó muộn, cô gặp tôi ở cửa ra vào nhưng không ngồi cạnh tôi nên thỉnh thoảng tôi mới nhìn thấy cô.

     gày 16 tháng tư, khi tôi điện thoại cho Patricia từ Lầu Năm Góc, cũng là lúc sắp qua thời kỳ nở rộ của hoa đào, thế mà tôi vẫn chưa có cơ hội để đi xem. Tôi ngỏ ý muốn chúng tôi dành cả ngày để đi xem. Patricia nói ngày mai cô ấy phải tham gia vào một cuộc biểu tình ở Đài tưởng niệm Washington và một cuộc diễu hành quanh Nhà Trắng để phản đối chiến tranh. Tôi nói tôi không thể tham gia vì tôi đang giúp đỡ chính phủ tiến hành cuộc chiến tranh này. Tôi muốn biết cô ấy có thể bỏ dở giữa buổi để đi dã ngoại cùng tôi. Cô nói không vì cô ấy sẽ phải thực hiện các cuộc phỏng vấn chỗ đám đông và thu băng các bài phát biểu.

     Tôi nói: "Em không thể yêu cầu anh tham gia vào một cuộc chạy đua chống chiến tranh vào ngay ngày đầu tiên anh được thoát ra khỏi cuộc chiến tranh, ngày nghỉ đầu tiên trong suốt 8 tháng kể từ khi làm việc ở Lầu Năm Góc?".

     Patricia nói: "Oh, đó là nơi em sẽ tới. Anh có thể tới chứ?".

     Ngày nghỉ của tôi gần 24 giờ sắp qua đi, tôi rất muốn gặp cô. Ngày nghỉ cuối tuần của tôi sẽ bắt đầu từ chiều hôm đó lúc 6 giờ, lại là lần đầu tiên khác. Nếu Patricia đi ăn tối với tôi hôm đó, rồi đi xem hoa đào nở cùng tôi vào chủ nhật, tôi sẽ dành cả ngày thứ bảy ở cuộc biểu tình với cô và cô đã đồng ý.

     Lần đầu tiên trong gần một năm, thật thoải mái khi tôi rời Lầu Năm Góc vào một ngày thứ sáu. Tôi đến đón Patricia ở một căn hộ cô đang thuê ở Georgetown, trên đường O đi ngang qua một công viên, chúng tôi đi bộ qua Winconsin tới nơi các đồng nghiệp của tôi hay lui tới gọi là Quán rượu của vua George.

     Quán rượu chật kín những đồng nghiệp trẻ tuổi đang ngồi uống bia, tôi yêu cầu một bàn yên tĩnh hơn và được chỉ tới một phòng khiêu vũ ở tầng trên được gọi là phòng của nữ hoàng Victoria, thực tế không được mở vào tối hôm đó. Đó là một căn phòng nhỏ, tối với mấy cây nến, các bức tường sơn màu đen, một ánh đèn chiếu lên bức chân dung lớn của nữ hoàng Victoria. Một chiếc bàn được đặt ở đó và chúng tôi đã có một phòng riêng. Khi ăn tôi đã nói với Patricia một cách thận trọng về công việc của mình, tôi để ý Patricia có đôi mắt tuyệt vời, xanh biếc và hơi chút long lanh, nhìn vào các góc phòng như mắt của những chú báo. Đôi mắt luôn là điều làm tôi chú ý nhất. Đôi mắt của Patricia đẹp kỳ lạ đã làm tôi phải ngây ngất. Tôi không bao giờ quên được.

     Vì đó là một phòng khiêu vũ nên có một sàn nhảy nhỏ. Cuốn băng đang phát đi một điệu nhạc chậm, loại nhạc đuy nhất tôi có thể khiêu vũ Có lẽ là do tôi đã yêu cầu. Tôi đã khiêu vũ cùng nàng thật dịu dàng, thân thiết, cũng là cách duy nhất mà tôi biết phải nhảy thế nào. Không ai lên tầng trên, chỉ có chúng tôi trong suốt thời gian, khiêu vũ dưới con mắt của nữ hoàng Victoria. Đến cuối buổi tôi rất vui mừng vì sẽ được gặp nàng vài ngày hôm sau và hôm sau nữa.
Logged

Để gió cuốn đi...
Excocet
Thành viên
*
Bài viết: 617


Thép đã tôi thế đấy


« Trả lời #33 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2007, 07:37:36 pm »

     Sáng thứ bảy, tôi đi cùng Patricia tới Đài tưởng niệm Washington. Tôi xách cho cô chiếc máy quay chuyên nghiệp để phỏng vấn; cô đem theo một chiếc micro lớn. Quay trở lại tháng mười hai, ngay sau cuộc bầu cử và trước khi chiến dịch ném bom bắt đầu, SDS đã triệu tập một cuộc diễu hành ngày 17 tháng tư. Có sự mâu thuẫn là không biết cuộc biểu tình này nhằm vào các vấn đề về Việt Nam hay các vấn đề trong nước, vì nghe có vẻ như vấn đề về cuộc chiến tranh được hình thành do số phiếu áp đảo chống lại bài diễn thuyết của Goldwater về việc mở rộng chiến tranh. Khi nhóm này nhất quyết rằng chiến tranh dù sao cũng chỉ là một vấn đề thì không có lý gì để chờ đợi một cuộc biểu tình rộng lớn. Nhưng khi cuộc ném bom bắt đầu vào tháng hai, SDS cho rằng cuộc biểu tình có thể kéo theo nhiều người hơn người ta nghĩ, có lẽ khoảng 5 đến 10 nghìn người. Tháng ba, binh chủng lính thuỷ đánh bộ đã tới Đà Nẵng, trước mắt là để đảm bảo an toàn cho căn cứ không quân. Sáng thứ bảy hôm đó vào giữa tháng tư, có khoảng 25 nghìn người ở Đài tưởng niệm Washington.

     Hôm đó là một ngày đẹp trời, bầu trời trong xanh bao trùm lên những cánh đào nở rộ và những biểu ngữ chống chiến tranh.

     Lúc đó chúng tôi bắt đầu từ Nhà Trắng và đi bộ khắp các đường quanh đó. Có rất nhiều máy quay đi theo chúng tôi, tôi đang xách máy quay cho Patricia và hy vọng không ai trong đám đồng nghiệp của tôi ở Lầu Năm Góc theo dõi chương trình này nếu nó được truyền hình trục tiếp. Tôi không biết sẽ phải giải thích thế nào nếu tôi bị nhận ra trong bất kể một bức ảnh nào.

     Tôi đi bợ qua công viên Lafayette, hầu hết mọi người đang hô vang các khẩu hiệu chống chiến tranh; Tôi đang xách chiếc máy quay và không nói gì trong khi Patricia đang giơ cao chiếc micro để thu được những tiếng hô. Chúng tôi đi cùng với hai người bạn của Patricia, Marty và Ruth Garbus, họ vừa cưới nhau.

     Họ phản đối cuộc chiến tranh rất quyết liệt; như những phát thanh viên và như tất cả những người còn lại ở đó, trừ tôi. Có lẽ tôi là người có những tình cảm trái ngược nhau. Thực ra tôi có thể đồng tình với tất cả mọi điều tôi đang nghe thấy.

     Thái độ dè dặt của tôi với việc có mặt ở đó không nhiều bằng những điều các phát thanh viên đang nói - với tôi dường như họ đang rất tự tin dù là họ không có được những thông tin từ bên trong - bằng những bức ảnh tôi đã chụp được. Tôi sẽ rất vui nếu tất cả điều này có đủ ảnh hưởng để chấm dứt việc ném bom và ngăn chặn sự can thiệp của chúng tôi. Tuy nhiên, Patricia và các bạn của cô đều không hay biết gì về việc đó.

     Chúng tôi ngồi trên bãi cỏ trước đài tưởng niệm, nghe các bài phát biểu của Paul Potter, Chủ tịch hội SDS, nhà bình luận chính trị I. F. Stone và Thượng nghị sỹ Emest Gruening và các bài hát của Joan Baez, với chiếc máy thu trên bãi cỏ, Patricia đang ghi âm lại tất cả.

     Cuối buổi tôi phải trở lại Lầu Năm Góc xem có chuyện gì lớn xảy ra không mặc dù tôi đang nghỉ cuối tuần. Patricia đi ăn tối với vợ chồng Garbus. Ngày hôm sau Patricia nói với tôi, Mary đã hỏi cô với thái độ rất hoài nghi là làm sao cô có thể đi chơi với một người làm việc ở Lầu Năm Góc.

     Sáng chủ nhật tôi đón Patricia bằng chiếc xe màu trắng, chúng tôi lái xe tới Kenwood, nơi hai bên đường là những hàng hoa anh đào nở rộ. Tôi chụp rất nhiều ảnh cho Patricia, cánh tay cô đặt lên một bên cửa xe, khuôn mặt trái xoan với mái tóc hung đỏ dưới tán hoa anh đào, đôi mắt xanh biếc, lạ kỳ, đang nhìn tôi.

     Chúng tôi đi dạo, lái xe qua những rặng hoa đào, hoa lê, hoa mộc lan. Sau đó chúng tôi đi dã ngoại tới một công viên.

     Chỉ có mình chúng tôi, ngồi trên bãi cỏ cạnh một cây lớn. Tôi đã chuẩn bị một giỏ đựng đồ chỉ vừa khít phía sau ghế của chiếc xe hơi. Tôi mua pho mát, pa-tê của Pháp và bánh mì - Patricia rất thích những thứ này khi đi dã ngoại - 2 chiếc ly bằng pha lê để uống rượu. Sau khi chúng tôi ăn uống xong, tôi ngồi tựa lưng vào cây, cô áp đầu vào lòng tôi, chúng tôi nói chuyện, thưởng thức hương thơm của cỏ cây, hoa lá. Lúc lâu sau cô nói tôi đã không hôn cô. Điều đó cũng làm cô rất ấn tượng; cô đã không đủ kiên nhẫn và lúc đó hơn cả sự sẵn sàng tôi đã cúi xuống hôn cô. Chúng tôi ở trong công viên một lúc, sau đó lên xe và tôi đưa cô về căn hộ ở đường O.

     Sáng hôm sau, khi lái xe trên đường Rock Creek tới Lầu Năm Góc, tôi nhận ra rằng mình đang yêu.

     Ở Washington, sau mùa hoa anh đào là hoa mận, hoa đỗ quyền và hoa thù đu. Tôi gần như được gặp Patricia hàng ngày.

     Buổi sáng tôi rời ngôi nhà của Patricia ở Georgetown vào đường Rock Creek, lái xe qua những hàng cây đầy hoa tới Lầu Năm Góc. Tôi rất ngạc nhiên vì sau một năm ly dị, tôi thấy mình hoàn toàn thay đổi.

     Trong khi cuộc chiến tranh ngày càng xấu đi, vì nó đã kéo dài trong suốt 2 năm qua (thực sự là suốt 20 năm qua). Chủ đề về các bức điện của Westmoreland chủ yếu là Việt Cộng đang cố gắng chia cắt miền Nam Việt Nam thành hai, bằng các cuộc tấn công qua các vùng cao nguyên tới bờ biển. Không bao giờ có thể làm rõ xem về mặt quân sự nó sẽ có ý nghĩa như thế nào vì Mỹ đã nắm quyền kiểm soát vùng biển dọc theo bờ biển (Đại Tây Dương). Nhưng có một tiếng chuông cảnh báo - "miền Nam Việt Nam đã bị chia cắt thành hai!" - và đương nhiên thừa nhận rằng việc này sẽ là thảm hoạ về mặt tâm lý, giống như Điện Biên Phủ.

     Điều mà các bức điện này thực sự muốn phản ánh là Westmoreland mong muốn đưa thêm thật nhiều quân Mỹ sang Việt Nam ngay lập túc. Tôi không có ý kiến nhiều về việc này, mà chỉ xem xét các việc chúng ta đang làm. Tôi phản đối mạnh mẽ việc ném bom miền Bắc Việt Nam. Nhưng một khi việc ném bom đã được thực hiện vào tháng ba, tôi cảm thấy uy tín của chúng ta đã bị đem ra đánh cược. Vì thế, tôi thà ủng hộ John đưa lực lượng bộ binh Mỹ sang Việt Nam để đảm bảo an toàn cho các căn cứ không quân, các bến cảng và các thành phố lớn hơn là liều lĩnh để những nơi này bị tàn phá vì cuộc tấn công của Mặt trận dân tộc giải phóng. Tôi lấy làm tiếc khi phải nói rằng tôi không nhớ phải đưa bao nhiêu quân sang và họ sẽ được triển khai như thế nào.
Logged

Để gió cuốn đi...
Excocet
Thành viên
*
Bài viết: 617


Thép đã tôi thế đấy


« Trả lời #34 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2007, 07:38:28 pm »

     Trong thời gian tháng tư năm 1965, khi Tổng thống gửi thêm các tiểu đoàn lính thuỷ đánh bộ sang và mở rộng nhiệm vụ, thái độ của tôi với cuộc chiến tranh đã thay đổi hẳn, và một giai đoạn mới trong mối quan hệ riêng của tôi liên quan tới cuộc chiến cũng đã xuất hiện (mối quan hệ này kéo dài khoảng một năm, tới tận mùa xuân năm 1966). McNaughton sợ rằng, lực lượng lính thuỷ đánh bộ đã đổ bộ còn quân đội rõ ràng vẫn đang trên đường tới. Dù tốt hay xấu thì hiện tại Tổng thống cũng đã phất cờ. Chúng ta đang trong cuộc chiến. Tôi mong rằng chúng ta có thể tránh được cuộc thử nghiệm tài năng và ý chí này nhưng đã quá muộn. Với tôi, trước đây cuộc chiến này có vẻ như không có khả năng giành được thắng lợi hơn so với trước, theo cả nghĩa truyền thống lẫn tham vọng. Nhưng trong cuộc chiến tranh lạnh toàn cầu của chúng tôi với Liên Xô, giờ đây nó dường như có tầm quan trọng lớn vì chúng tôi không chấp nhận cuộc chiến này được xem chúng như một thất bại về quân sự. Đồng thời khi chúng tôi theo đuổi sự thành công theo mong muốn, về cơ bản không có nghĩa là chúng tôi muốn nhóm lên một cuộc chiến tranh nóng với Liên Xô hay Trung Quốc. Việc ném bom leo thang ở miền Bắc Việt Nam đã đe doạ tới điều đó, vì thế tôi hy vọng rằng việc này có thể được ngăn chặn nhằm ủng hộ cho một con đường chính trị - quân sự có thể lựa chọn.

     Đến giữa tháng tư, cả McNamara và Đại sứ Taylor phản đối mạnh mẽ yêu cầu của Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân đòi triển khai bộ binh trên qui mô lớn. Ngày 14 tháng tư, Taylor kháng cự việc đưa Sư đoàn không vận 173 sang như McNamara đã tán thành ngày hôm trước.

     Nhưng giờ McNamara đã thay đổi quan điểm, ngày 20 tháng tư, McNamara đã gặp ngài đại sứ ở Honolulu "để đưa Taylor lên tàu" (theo McNaughton, người đi cùng họ đã nói với tôi). Nỗ lực đã thành công. Ngày hôm sau, McNamara báo cáo với Tổng thống, Taylor và ông ta giờ đã thống nhất quan điểm triển khai các đơn vị bộ binh khá lớn (cho dù chưa phải là quá mức): tăng từ 35.000 tới hơn 80.000 quân, sau này có thể hơn nữa. Họ cũng nhất trí ở một vùng cao nguyên bằng các cuộc không kích chống lại miền Bắc, tránh các khu vực Hà Nội - Hải Phòng - Phúc Yên, trong vòng "ít nhất 6 tháng, có thể một năm hoặc hơn".

     McNamara báo cáo một ý kiến chung, theo ý của đại sứ Taylor thì "điều quan trọng là không "giết con tin"(50) khi phá huỷ các cơ sở của Bắc Việt Nam bên trong "bánh rán Hà Nội" (nơi giam giữ tù binh Mỹ - nhà tù Hoả Lò - ND). Các thành viên tham dự ở Honolulu, tất cả đều thấy một sự chuyển giao sắp tới từ sự thất bại của Việt Cộng ở miền Nam (vì yêu cầu tăng thêm quân Mỹ đã được chấp nhận) nhiều bằng, thậm chí còn nhiều hơn cả từ nỗi đau của Việt Nam cộng hoà ở miền Bắc".

     Tôi được tự do đọc tài liệu đó, từ 6 tháng tới một năm, các cố vấn chính không chấp nhận việc leo thang chiến tranh không quân tới tận biên giới Trung Quốc. Điều đó làm tôi chấp nhận không phê phán những gì họ coi như sự lựa chọn, một đợt tăng quân để can thiệp vào cuộc chiến tranh trên bộ của chúng ta, điều mà tôi coi là ít nguy hiểm hơn. Tôi đặc biệt vui mừng khi được biết họ đã từ bỏ việc thả mìn và phong toả Hải Phòng lúc đó.

     Tôi vừa tập hợp một bản nghiên cứu cho McNamara và McGeorge Bundy do các chuyên gia tình báo và hải quân thực hiện. Bản nghiên cứu kết luận, nỗ lực đó sẽ làm nảy sinh một nguy cơ khá nguy hiểm là cuộc xung đột trực tiếp với Liên Xô và Trung Quốc mà không có một cam kết nào về việc giảm bớt nguồn tiếp tế từ miền Bắc Việt Nam và Trung Quốc vào miền Nam Việt Nam.

     McNaughton giữ cạnh bàn ông ta một kệ sách gồm một hàng tài liệu được đóng thành những cuốn sổ ghi chép có bìa cứng, liên quan thường xuyên tới các chỉ thị, các điện tín, các bản đánh giá và ghi nhớ có tính nhạy cảm nhất. Hàng tài liệu này được đặt trên các băng lăn, vì thế mỗi khi ông ta về muộn vào buổi tối, băng lăn này có thể dễ dàng được chuyển từ bàn của ông ta vào một két sắt (cỡ một chiếc tủ cao tới trần nhà), áp sát vào bức tường phía ngoài phòng của ông ta, cùng với các giá sách của thư viện đựng các tài liệu đã phân loại ở đó. Mỗi sáng trước khi McNaughton đến văn phòng, trợ lý quân sự của ông không khoá tủ sắt, chiếc tủ có một chiếc khoá tổng hợp mật mã riêng, một bệ đứng có bánh quay để một người đứng đọc tài liệu, vì thế ngồi trên ghế ông ta vẫn có thể với tay lấy tập tài liệu.

     Tôi phải tiếp cận các tài liệu trên chiếc giá sách này, vì tôi phải xử lý mọi vấn đề trong các tập tài liệu có trên bàn của John.

     Nhưng vì ông ta muốn tiếp cận nhanh với đám tài liệu này khi ngồi ở bàn nên tôi hiếm khi đem được tài liệu ra khỏi phòng của ông ta tới chỗ riêng của tôi cách đó mấy bước. Tôi có các bản copy của phần lớn các tài liệu này trong tủ sắt của mình. Nhưng nếu tôi muốn tham khảo tài liệu trong tủ riêng của ông ta, tôi phải bước vào văn phòng của ông, kéo cửa ra, đứng cạnh bàn và xem tài liệu - nếu ông không để đèn báo động trên cửa ra vào trong khi ông đang làm việc. Khả năng tập trung tư tưởng của ông đủ dể điều này không làm cho ông thấy phiền phức, nếu công việc được thực hiện một cách yên lặng và tôi không nói gì với ông. Dù có như thế tôi vẫn chỉ thực hiện việc này khi ông không làm việc trong văn phòng. Vì tôi thường làm việc muộn hơn ông, tôi có mã số của chiếc tủ sắt, nên tôi có thể quay chiếc bệ đó vào trong trước khi ra khỏi phòng. Tôi được biết, những người có chiếc khoá mật mã đó ngoài John là các trợ lý quân sự của ông.

     Một ngày vào cuối mùa xuân, trưởng nhóm trợ lý quân sự của ông ta đột ngột rời văn phòng. Tôi không hề nghe được một lời giải thích về việc vắng mặt của ông ta, nhưng dấu hiệu đầu tiên là trợ lý quân sự của ông ta đã đưa cho tôi một khoá mật mã mới của chiếc tủ sắt trong văn phòng của McNaughton. Nó dược thay đổi vào sáng hôm đó, cái ngày mà viên đại tá trợ lý bỏ đi.

     Có lúc trước đó, mặc dù tôi không có một sự liên tưởng nào, John chỉ cho tôi một quyển số ghi chép bìa cứng lớn phía bên góc trái giá sách của ông và bảo tôi không được xem. Nhãn bìa có ghi "Việt Nam, chỉ McNaughton được xem". Tôi có thể sử dụng bất cứ cái gì trong tập tài liệu trừ quyển đó. Ông ta nói với tôi cuốn sổ đó lưu giữ các tài liệu mà ông ta được chỉ thị không được cho bất cứ ai xem kể cả tôi.
Logged

Để gió cuốn đi...
Excocet
Thành viên
*
Bài viết: 617


Thép đã tôi thế đấy


« Trả lời #35 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2007, 07:39:39 pm »

     Tôi đã thực hiện nguyên tắc đó trong một thời gian dài, có thể một tháng hoặc hơn. Nhưng chúng tôi đang tiến nhanh tới việc leo thang chiến tranh vào mùa xuân đó. Cả McNamara và Đại sứ Taylor, nhưng người trước đây phản đối mạnh mẽ việc triển khai quân trên qui mô lón, bây giờ đã cùng thống nhất việc triển khai các đơn vị chiến đấu qui mô lớn, chưa kể tới là không hạn chế. Vấn đề rõ ràng đặt ra trước mắt là liệu có chấp nhận các yêu cầu của Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân cho một cuộc can thiệp lớn với hàng trăm ngàn quân để tiến hành cuộc chiến tranh trên bộ. Cả McNamara và Taylor đều không tán thành việc đó nhưng cả hai ông hoặc bất cứ ai, theo tôi được biết, đều không trực tiếp phản đối. Tất cả những điều tôi thấy là những tranh luận về việc này từ MACV và cả Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân.

     Như tôi đã nói, lúc đó tôi không có ấn tượng mạnh với câu hỏi này - vì quan điểm của tôi về các vấn đề lớn này hoàn toàn không quan trọng với bất cứ ai mà là với tôi. Tôi không gây cản trở tới quá trình hoạch định chính sách, mà chỉ là một thư ký có nhiệm vụ thông báo các ý kiến mới nhất của John. Ông ấy có quan điểm riêng về những vấn đề này - trừ việc ném bom, việc mà cả hai chúng tôi đều phản đối, ông ấy còn kiên trì phản đối mọi hình thức can thiệp mới hơn cả tôi - vì thế tôi ít hoặc thậm chí không có ảnh hưởng tới những việc này. Cũng không có quan điểm riêng nào của chúng tôi - các quan điểm được nêu ra từ văn phòng của John, được phản ánh. John làm việc cho McNamara và McNamara đang thúc giục Tổng thống thà leo thang chiến tranh trên bộ còn hơn trên không.

     Trong khi đó tôi lại có một cách nhìn rất tốt về quá trình hoạch định chính sách cao cấp, nhưng đã quá lâu, khi mối quan tâm duy nhất của tôi về các vấn đề này chỉ là việc nghiên cứu riêng trường hợp đưa ra quyết định của chính phủ trong lúc nguy cấp. Bây giờ tôi đã vướng vào. Rõ ràng các quyết định có tầm quan trọng mang ý nghĩa lịch sử vẫn đang được thực hiện.

     Tôi không có cảm giác là tôi có thể ảnh hưởng tới các quyết định đó - thậm chí tôi không còn có quan điểm rõ ràng về việc họ sẽ thực hiện như thế nào - nhưng tôi có một đam mê muốn hiểu biết về chúng.

     Tôi đã làm việc với tập tài liệu đó ngày này qua ngày khác, làm muộn vào các buổi tối, các đêm, làm một mình trong các văn phòng. Trong nhiều đêm như thế, tôi đã không nghĩ tới việc xem cuốn sách nằm ngoài phạm vi của tôi. Nhưng John yêu cầu tôi không được xem các tài liệu về chính sách ngoại giao cao cấp về Việt Nam năm 1965, không được cố gắng xem điều gì thực sự đang diễn ra trong đám "những người đứng đầu", những gì họ đang tính toán và đề xuất, những gì họ đang viết cho nhau, thậm chí kể cả khi tôi có thể xem mà không một ai biết được.

     Việc đó thật quá sức của tôi. Vào một đêm - tôi không thể nhớ lúc đó được bao nhiêu tuần sau khi John chỉ thị cho tôi xem cuốn sách bị cấm này - khi tôi kéo cuốn sách ra khỏi dãy tài liệu và mở ra, tôi không biết ngày nào nhưng tôi vẫn nhớ thời khắc ấy Văn phòng tối om; ánh sáng chiếu vào từ bên trong thư phòng. Tôi đẩy chiếc kệ trên bánh xe ra ngoài, nhìn vào bên trong cươn sách bìa cứng dầy cộp và lật qua các nội dung. Việc này giống như mở cửa kho báu của Ali Baba.

     Có kiểu chữ đánh máy đặc biệt cho các chỉ thị và bản ghi nhớ của Nhà Trắng, một loại phông chữ mà chúng ta hiếm thấy ở Lầu Năm Góc. Có những bản ghi nhớ của McNamara gửi cho Tổng thống tôi chưa bao giờ nhìn thấy. Những bản này cũng có loại chữ riêng, bạn có thể nhận ra ngay lập tức, đúng như bạn có thể nhận ra một bản ghi nhớ có trong văn phòng của McNaughton mà không cần nhìn vào đề mục hay chữ ký. Có một số điện tín và báo cáo tôi chưa hề nhìn thấy mặc dù tôi cho rằng tôi đã xem mọi tài liệu về Việt Nam. Có một số bản sao từ tốc ký các cuộc nói chuyển qua điện thoại và bản ghi nhớ bằng tốc ký các cuộc gặp của "những người đứng đầu" (Tổng thống, các sĩ quan cao cấp của NSC và CIA, các chánh văn phòng nội các chính phủ, đôi khi có các phó chánh văn phòng nội các chính phủ, đại diện Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân hoặc Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân). Có những bản ghi nhớ cá nhân của George Ball, một Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, và McGeorge Bundy, các chữ ký tôi gần như chưa hề nhìn thấy. Chỉ liếc qua tôi có thể thấy thứ tôi đang cầm trên tay hết sức quý giá.

     Đọc chỉ một ít đoạn đây đó, đối với tôi, giống như đang thở một thứ ôxy nguyên chất. Trái tim tôi đang đập mạnh. Nếu không quá muộn, tôi đã ngồi xuống và đọc thật nhanh, nhưng tôi đã mệt và không thể tiếp tục.

     Giờ đây những tài liệu của ngày tháng đó, được che giấu đã lân cuối cùng sẽ được sáng tỏ, tôi có thể rất tự tin để suy đoán nét cá biệt chính xác của một số tài liệu trong quyển sổ ghi chép bìa cứng đó và chiều hướng nội dung của nhiều tài liệu trong phần còn lại. Đó là tập tài liệu của các quan chức, những lời chỉ trích "cá nhân" của Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân và những đề nghị của McNamara, được Tổng thống chấp nhận mới đây, bản thảo và bản đề nghị của các lựa chọn cho chính sách đó, chính sách sẽ giải thoát chúng ta khỏi cuộc xung đột này.

     Hai bản ghi nhớ chắc chắn có trong tập tài liệu đó là của Bundy và George Ball, cả hai được viết ngắn gọn trước cái đêm mà tôi chỉ liếc nhìn chứ không đọc chúng (lần đầu tiên tôi nhìn thấy chúng khi chúng được xuất bản vào 17 năm sau). Bản ghi nhớ của Bundy đề ngày 30-6-1965 là một bản chỉ trích chi tiết về những đề nghị của McNamara ngày 26-6 (do McNaughton soạn thảo), có sức thuyết phục và mạnh mẽ hơn những điều tôi đã đọc được lúc đó. Câu trả lời ngắn gọn của ông ta cho những đề nghị của McNamara: "Phản ứng đầu tiên của tôi là chương trình này chỉ vô ích"(51).

     Bản ghi nhớ của Ball đề ngày 1-7, phản đối lý do căn bản của cả Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân hay chiến lược và đề xuất của McNamara-Johnson về một lựa chọn theo hướng giải thoát, đã trình lên Tổng thống với những nhận định đã thấy trước một cách khác thường: Miền Nam Việt Nam đang để cuộc chiến tranh rơi vào tay Việt Cộng. Không ai có thể đảm bảo với ngài rằng chúng ta có thể đánh bại Việt Cộng hoặc thậm chí buộc họ phải ngồi vào bàn đàm phán theo các điều khoản của chúng ta bất luận chúng ta có thể triển khai bao nhiêu trăm ngàn quân nước ngoài da trắng.

     Không ai chứng minh được rằng một lực lượng da trắng trên bộ dù có lớn cỡ nào cũng có thể đánh thắng một cuộc chiến tranh du kích - mà lúc đó là một cuộc nội chiến giữa những người châu Á - ở vùng rừng núi giữa một khu vực dân cư không chịu hợp tác với các lực lượng da trắng (và người miền Nam Việt Nam) và như vậy sẽ tạo ra thuận lợi lớn về tình báo cho phía bên kia…
Logged

Để gió cuốn đi...
Excocet
Thành viên
*
Bài viết: 617


Thép đã tôi thế đấy


« Trả lời #36 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2007, 07:40:35 pm »

     Một cuộc chiến tranh như thế chắc chắn là một cuộc chiến lâu dài kéo theo sự can thiệp không hạn chế của các lực lượng Mỹ, làm tăng số thương vong của Mỹ, không đảm bảo về một giải pháp thoả đáng và một nguy cơ leo thang nghiêm trọng vào giai đoạn cuối của tiến trình…

     Chính vì thế, quyết định mà ngài đang phải đối mặt là rất quan trọng. Một khi số lượng lớn lính Mỹ trực tiếp vào tham chiến họ sẽ bắt đầu phải chịu nhiều thương vong trong một cuộc chiến mà họ phải chiến đấu với trang thiết bị tồi tàn, ở một vùng đất không có sự hợp tác nếu không nói là hoàn toàn thù địch.

     Một khi chúng ta bị thương vong nhiều chúng ta sẽ bắt đầu một quá trình gần như không thể đảo ngược. Sự dính líu của chúng ta sẽ lớn tới mức chúng ta không thể - mà không làm ô nhục quốc gia - kiềm chế được việc đạt được các mục tiêu trọn vẹn của chúng ta. Trong hai khả năng trên tôi cho rằng khả năng bị ô nhục sẽ nhiều hơn là khả năng giành được các mục tiêu - thậm chí ngay cả sau khi chúng ta đã phải trả giá đắt.

     Lời khuyên đối với Tổng thống lúc đó của Phó Tổng thống Hubert Humphrey; của Mike Mansfield, lãnh tụ phe đa số đảng Dân chủ Thượng nghị viện; và trên tất cả là lời khuyên của Thượng nghị sỹ Richard Russell, người cố vấn giàu kinh nghiệm của Thượng nghị viện, người đã sớm chọn chính Johnson là lãnh tụ phe đa số, hoá ra tất cả đều có cùng giọng điệu và sự đả kích như lời khuyên của George Ball. Vì thế, Clark Clifford, một trong những cố vấn thân cận nhất của Johnson đã phải mặt đối mặt với Tổng thống và McNamara tại trại David ngày 23-7-1965.

     Tôi không tin chúng ta có thể giành thắng lợi ở miền Nam Việt Nam. Nếu chúng ta đưa 100.000 quân vào, Bắc Việt Nam sẽ đón tiếp chúng ta. Khi họ hết quân, Trung Quốc sẽ đưa quân chí nguyện sang. Liên Xô và Trung Quốc không muốn chúng ta thắng trong cuộc chiến này. Nếu chúng ta mất 50.000 quân ở Việt Nam, thì đó sẽ là một hoạ ở đất nước này. Năm năm, hàng tỉ đô la, hàng trăm ngàn quân - điều này không dành cho chúng ta… tôi không thấy điều gì ngoài một thảm hoạ đối với quốc gia chúng ta trên mảnh đất này.

     Lời khuyên cho Tổng thống, hoặc sự dự tính trước vẫn không tỏ ra sáng sủa hơn. Lời khuyên khẩn khoản của những người đàn ông này không chỉ muốn tránh sự leo thang sâu hơn mà còn muốn giảm thiểu những tổn thất và giải thoát nước Mỹ hoàn toàn khỏi cuộc chiến tranh. Sự hô hào rút quân này xuất phát từ cả những người là những chiến binh của chiến tranh lạnh và trong trường hợp của các thượng nghị sỹ và Clifford thì họ cũng nhạy cảm với các vấn đề chính trị nội bộ của Đảng Dân chủ như chính Johnson. Thực tế Tổng thống muốn có được những lời khuyên như thế của những người như thế đã là một bí mật được giữ kín nhất và lâu nhất trong thời kỳ Việt Nam của Johnson.

     Đối với tôi bây giờ thì rõ ràng suốt thời kỳ đó, sự tuyệt mật - như tôi suýt phạm phải đêm hôm đó - đã gắn kết tất cả những điều nói trên với những đánh giá và phân tích đang thúc đẩy sự giải thoát khỏi chiến tranh. Năm 1967, không có bản ghi nhớ hoặc các cuốn sổ ghi chép các cuộc nói chuyện nào kiểu thế này có sẵn cho nhóm nghiên cứu về công trình của McNamara; không một điều gì giống như thế xuất hiện trong tập hồ sơ mật Lầu Năm Góc. Điều này cũng không phải chỉ vì những lời buộc tội là "yếu kém trước chủ nghĩa cộng sản", "nhân nhượng" và "chủ nghĩa thất bại" có thể được đưa ra nếu những tài liệu này lọt tới tai những người của Đảng Cộng hoà (hoặc Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân). Quan trọng hơn, những tài liệu như thế, nếu bị rò rỉ ra ngoài, sẽ để lộ ra rằng một Tổng thống có ý thiên nhiều về việc leo thang chiến tranh lại có một sự lựa chọn thực tế một lựa chọn cho cả chương trình "giành chiến thắng" của Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân và sự bế tắc trong quá trình leo thang của McNamara, rằng sự lựa chọn giải thoát khỏi chiến tranh thực tế là do các cố vấn của những người đứng đầu nêu ra. Sự tiết lộ đó sẽ đè nặng trách nhiệm lên Tổng thống vì sau đó ông ta quyết định bác bỏ sự lựa chọn của các cố vấn. Vì thế cần phải giữ kín lời khuyên này như một bí mật bất thường đối với Quốc hội, với công chúng Mỹ và thậm chí với cả những người như tôi trong bộ máy riêng của ông ta.

     Nếu đọc được dù chỉ một trong những lời chỉ trích này vào tháng sáu hoặc tháng bảy năm 1965, với tôi và với nhiều người khác giống như tôi, sẽ làm mất đi sự hào hứng trong việc đồng tình ủng hộ của những người trong nội bộ cho những gì được coi là một chính sách điên rồ nhưng nhất quán. Nghĩ lại, hồi đó nếu tôi ở cả đêm ở Lầu Năm Góc, đọc qua toàn bộ tập tài liệu, chắc chắn cuộc đời tôi đã có nhiều thay đổi. Thay đổi đầu tiên đó là tôi đã không tới Việt Nam.

     Lúc đó đã rất muộn, mặc dù rất hiếu kỳ nhưng tôi vẫn phải đặt cuốn sổ ghi chép trở lại giá sách, đóng cửa tủ sắt (điện bên trong tự động tắt) và xoay khoá số. Tôi định ở lại muộn vào đêm hôm sau và nhiều đêm sau đó nữa để xem tài liệu nói về cuộc tranh cãi chính sách đang diễn ra như thế nào mà đến tôi cũng không được biết.

     Ngày hôm sau tôi ở lại văn phòng cho tới khi cấp trên của tôi ra về như thường lệ khoảng 8 giờ. Vì chờ đợi rất lâu nên tôi đã về khi cấp trên của tôi đi tìm đồ ăn ở một quán ăn tự phục vụ ở Lầu Năm Góc, vẫn còn mở để phục vụ nhiều người làm việc ban đêm. Tôi trở lại ISA và vào văn phòng lớn của John, căn phòng tối om. Tôi bật điện và quay khoá số của tủ sắt.

     Tủ sắt không mở. Tôi quay lại tới lần thứ ba. Không có lý gì mà tôi lại quên mã số của khoá vì tôi đã sử dụng tới hàng trăm lần. Cũng có lúc khoá đã được thay đổi.

     Chỉ có 2 người có thể được chỉ thị thay đổi khoá là Harry Harris, trợ lý quân sự của John và tôi. Chúng tôi là những người duy nhất bên cạnh John có mã số khoá này. Có thể Harris phải đi cùng với người tiền nhiệm của mình trong vài tháng, nhưng điều này dường như không chắc lắm. Có quá nhiều chuyện trùng hợp vì việc này đã xảy ra vào ngày sau khi tôi không tuân thủ mệnh lệnh của John và đã nhận được sự chỉ trích nhỏ cho việc hái trái cấm đó. Những quả táo vẫn còn trên cây nhưng bây giờ nó đã nằm ngoài tầm với của tôi và có lẽ là mãi mãi. Một điều vẫn có thể xảy ra là Harris hoặc người kế tiếp ông ta như một trợ lý quân sự chẳng hạn, sẽ tới văn phòng của tôi vào sáng hôm sau và nói với tôi mã số mới của khoá nhưng tôi có cảm giác điều đó sẽ không xảy ra.
Logged

Để gió cuốn đi...
Excocet
Thành viên
*
Bài viết: 617


Thép đã tôi thế đấy


« Trả lời #37 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2007, 07:41:39 pm »

     Làm sao McNaughton đã phát hiện ra nhanh như thế? Một đêm, một cái nhìn chớp nhoáng! Ông ta là một giáo viên luật hình sự, một chuyên gia về bằng chứng. Có thể ông ta đã đánh dấu ở một số chỗ đâu đó như một mẩu giấy kẹp trong tập tài liệu để đánh dấu sự di chuyển; một sợi tóc vắt ngang trên đầu của cuốn sổ ghi chép, sẽ bị rơi hoặc đứt nếu cuốn sổ đó được mở ra.

     Tôi đã đọc những mẹo như thế trong một cuốn tiểu thuyết hay một cuốn truyện nào đó. Ông ấy chắc chắn phải có biện pháp đề phòng - với tôi như trợ lý đặc biệt của ông, với mối quan tâm của tôi về các chính sách - từ khi ông ta đang thu gom vào cuốn sổ ghi chép đó những mẩu tin mà ông được lệnh không cho ai biết.

     Tại sao trợ lý đặc biệt của ông ta cũng không được xem những tài liệu đó? Không phải vì ông ta sợ tôi không trung thành với ông, tôi luôn kín đáo và sẵn sàng phục vụ một chính sách kể cả khi tôi không tán thành chính sách đó. Ông ta biết tôi như thế và ngược lại. Trong đó chắc chắn phải là một điều về quá trình hoặc - về sự tranh cãi (rất nhạy cảm) việc thực hiện chính sách đó, một điều phải được giữ bí mật hoàn toàn, nghĩa là chỉ một số người tối thiểu được biết nội dung của nó.

     Điều McNaughton lo sợ không phải là tôi sẽ không giữ bí mật các nội dung mà tôi đọc được cho một ai đó không được phép xem, như thế một cách vô tình tôi đã cho một trong những người đưa cho McNaughton đám tài liệu này một lý do để nghi ngờ rằng McNaughton đã cho tôi biết sự tồn tại hoặc nội dung của những tài liệu đó - nghĩa là ông ta đã phá bỏ cam kết của ông ta về việc giữ bí mật những tài liệu. Sau đó chính ông ta sẽ bị cắt nguồn tiếp cận với các tài liệu này ngay lập tức. Đây sẽ là một sự kiện lặp lại như vụ Mike Forrestal nhưng tồi tệ hơn nhiều. Ông ta không thể liều lĩnh có một trợ lý đặc biệt, người không thể hoàn toàn dựa vào để tuân thủ một mệnh lệnh như thế, không cố gắng để phát hiện và hiểu hơn về chính sách của chúng ta ở Việt Nam, không xem một tài liệu cụ thể về chính sách đó ngay cả khi nó được đặt trước mặt anh ta và không có ai ở xung quanh. Đó là một kiểu thận trọng mà tôi không thể hoàn toàn được tin tưởng để biểu lộ. Tôi không có nhu cầu để nói - tôi là một thành viên đáng tin cậy của tổ chức bí mật - nhưng tôi có nhu cầu riêng để biết.

     Nếu phỏng đoán của tôi là đúng và chiếc khoá số đã bị thay nghĩa là tôi vừa để mất cơ hội tiếp cận tủ sắt đó, điều đó có nghĩa gì đối với công việc của tôi? Tôi không thể là người trợ lý đặc biệt nếu không được vào văn phòng của John khi ông ta không ở đó vào ban ngày.

     Tôi đã không đau khổ quá nhiều về việc này. Trong khi tôi không gì phải vội vã để ra đi, tôi cảm thấy mình đã học được khá nhiều điều ở vị trí đó và cũng có nhiều loại công việc khác, ở lại chính phủ hay quay trở lại Rand, sẽ thích hợp và vừa ý với tôi hơn. Công việc tôi thấy phù hợp, tôi thích và có năng lực đó là trở thành một nhà phân tích nghiên cứu hoặc một cố vấn về các vấn đề mà tôi quan tâm và biết nhiều về chúng. Vì thế khả năng bị mất việc của tôi không phải là việc quá buồn chán mặc dù cũng sẽ bị lúng túng khi phải thừa nhậũ với John rằng tôi biết tại sao ông ta không muốn tôi động vào chiếc tủ sắt của ông ta.

     Đúng như vậy, vào sáng sớm một trong các thư ký của McNaughton nói với tôi rằng ông ta muốn gặp tôi ngay khi tôi đến. John rất thân mật. Ông ấy rất thẳng thắn và cởi mở với tôi như với các phóng viên. John nói với tôi rằng đôi lúc ông ấy có cảm giác công việc này vượt quá khả năng của tôi. Công việc này thực sự cần một người trẻ hơn và cấp bậc thấp hơn (ông ta đã nói một người phù hợp với một phó trợ lý bộ trưởng - điều mà rõ ràng tôi không được trang bị về mặt khí chất và các kỹ năng điều hành - nhưng ông ta đã khéo léo để cố tránh nói điều đó). Tôi có thể tiếp tục làm một số công việc đặc biệt cho ông ta ở một văn phòng khác, một văn phòng riêng trong dãy nhà của ISA.

     Căn phòng đó không phải ở bên trong E-ring, với các cửa sổ nhìn ra ngoài mà là một phòng khá lớn và chỉ có một mình tôi.

     Nếu tôi thấy ổn, tôi có thể chuyện tài liệu của mình sang ngay ngày hôm đó. (Tôi vẫn giữa nguyên cấp bậc và mức lương, ông ấy sẽ tìm cho tôi một chức vụ). Việc về cuốn sổ ghi chép bìa cứng và việc thay đổi mã số chiếc khoá của tủ sắt không được nói tới nữa. Ông ta nói với tôi ông ta muốn tôi tiếp tục làm việc với ông ta, không cần phải nói ra, ông ta chỉ cần tôi ra khỏi phòng riêng của ông ta.

     Tôi đã không đau khổ quá nhiều về việc này. Trong khi tôi không gì phải vội vã để ra đi, tôi cảm thấy mình đã học được khá nhiều điều ở vị trí đó và cũng có nhiều loại công việc khác, ở lại chính phủ hay quay trở lại Rand, sẽ thích hợp và vừa ý với tôi hơn. Công việc tôi thấy phù hợp, tôi thích và có năng lực đó là trở thành một nhà phân tích nghiên cứu hoặc một cố vấn về các vấn đề mà tôi quan tâm và biết nhiều về chúng. Vì thế khả năng bị mất việc của tôi không phải là việc quá buồn chán mặc dù cũng sẽ bị lúng túng khi phải thừa nhận với John rằng tôi biết tại sao ông ta không muốn tôi động vào chiếc tủ sắt của ông ta.

     Tôi không bao giờ thích hợp với công việc của một trợ lý đặc biệt, hoặc giỏi về việc này, ngoại trừ những tranh luận về trí tuệ và chính sách mà tôi chắc chắn ông ta rất thích nhưng lại sao nhãng. Ông ta hỏi tôi loại công việc nào tôi thích làm. Tôi nói tôi sẽ nghĩ và trả lời sau. Ông ta không thể thân tình hơn khi tôi rời văn phòng của ông. Việc đó hoàn toàn không có gì là gượng ép.

     Sau mùa hè đó tôi nói phải có một nhóm nghiên cứu để xem xét các vấn đề dài hạn về Việt Nam, nghĩa là 6 tháng tiếp theo.

     Tôi biết điều này nghe có vẻ chênh lệch với một người bên ngoài tổ chức, nhưng quả thực đó là một khoảng thời gian rất dài theo kiểu công việc của chúng tôi. Trong cuộc khủng hoảng tên lửa ở Cuba, tôi là một thành viên trong hai nhóm nghiên cứu dưới sự chỉ đạo của Uỷ ban điều hành của NSC (ExComm). Một nhóm là ngắn hạn, nhóm này nghiên cứu các kế hoạch xâm chiếm trong 2 tới 3 ngày tới. Nhóm kia là dài hạn, xem xét các vấn đề cho 2 tuần tới. Tôi từng nói khi đề cập tới tên của hai nhóm này thì 2 tuần là dài cho các hoạt động thông thường của chúng ta chứ không phải cho các cuộc khủng hoảng và đó không chỉ là một câu nói đùa.

     Mùa hè năm 1965, tôi chỉ rõ cho John thấy rằng mặc dù Berlin thực sự không phải là tình thế một cuộc khủng hoảng trong hơn 2 năm, nhưng vẫn có một tiểu nhóm nghiên cứu kế hoạch dài hạn nằm bên trong nhóm nghiên cứu về Berlin ở ISA năm 1961-1962. Tuy nhiên, chưa hề có một nhóm xem xét các vấn đề về Việt Nam một cách có hệ thống lại tối đa chỉ có 6 tháng mặc dù Việt Nam được cho là đã tạo ra một cuộc khủng hoảng kể từ mùa hè năm 1963. Tôi nói chúng ta phải có một hoạt động như thế và tôi sẵn sàng đi đầu trong việc này.

     John ngước nhìn tôi và nói: "Dan, anh không hiểu gì cả. Tôi không muốn chúng ta phải ở Việt Nam suốt 6 tháng tính từ bây giờ? Tôi muốn thoát ra!". Ông ta đập mạnh lên bàn 3 lần, điều mà ông ta chưa bao giờ làm trước đó. "Cút! Cút đi! Cút đi ngay!"

     Tôi nói: "Um…"

     Tôi nhớ lại một lần vào cuối mùa xuân năm 1965, khi chúng ta tiếp tục ném bom sau lệnh "ngừng bắn" một tuần vào tháng Năm. Tôi ngồi cạnh bàn của John trong văn phòng của ông ta với một tập tài liệu trong lòng, đang tìm tài liệu tham khảo cho một bản ghi nhớ ông ta đang viết. John nói ông ta phải về sớm hơn thường lệ vì phải đưa vợ đi ăn tối. Ông ta chưa bao giờ nói về vợ con và gia đình của ông ta với tôi. Làm việc với nhau 12 tiếng một ngày, tán gẫu với nhau rất nhiều nhưng không bao giờ ông ta hỏi về cuộc sống cá nhân của tôi hoặc mời tôi tới nhà chơi. Ông ta đã sớm nói với tôi điều đó vì ông ta không tin vào việc hoà nhập với một ai đã làm việc cho ông ta. Nhưng vì ông ta vừa nói tới bà vợ nên tôi đã hỏi, "vợ của ông nghĩ gì về những việc chúng ta đang làm?"

     Không cần ngừng lại, ông ta nhìn vào trang tài liệu đang dùng một cây bút để đánh dấu và nói: "Cô ấy nghĩ chúng tôi không cùng quan điểm. Cô ấy cho rằng chúng ta đang làm những việc điên rồ". John không tỏ thái độ gì. Ông vẫn giữ cái nhìn thoáng qua trong giây lát rồi tiếp tục trở lại với công việc soạn thảo của mình.
Logged

Để gió cuốn đi...
Excocet
Thành viên
*
Bài viết: 617


Thép đã tôi thế đấy


« Trả lời #38 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2007, 07:43:04 pm »

Chú thích:


-------------------------------------------------------------------------------------------------

(39) "Nhằm khiêu khích sự phản ứng của Bắc Việt: Tài liệu Lầu Năm Góc, Gravel xuất bản, tập 3, tr.193, 559.

"Vấn đề cơ bản nữa" - Sđd.

(40) Một cuộc tấn công vào các lực lượng Mỹ; căn cứ không quân Biên Hoà: Sđd, tr.208.

(41) "Đã đến lúc sử dụng sức mạnh quân sự của chúng ta" - McNamara, 168.

(42) "giống như chờ đợi một chiếc xe điện " - Kamow, 411.

(43) "Hành động đáp trả thích đáng"; "Chúng ta không theo đuổi cuộc chiến mở rộng hơn" - Tài liệu Lầu Năm Góc, Gravel xuất bản, tập 3, tr.305.

(44) "tạo ra một cơ hội lý tưởng" - Sđd, tr.214.

(45) "những hành động khá rõ ràng" - Sđd, tr. 312.

(45) "một khi chương trình trả đũa" - Sđd.

(47) Danh sách các hoạt động và các cuộc tấn công của Việt Cộng của tôi; những hành động khiêu khích liên tiếp"; "những hành động khiêu khích trực tiếp cao hơn" - Sđd.

(48) "Chúng ta nên phát triển" - Sđd, tr. 315.

(49) "Tổng thống mong muốn" - Sđd, tr.703.

(50) "Điều quan trọng là không "giết con tin"; "nhiều hoặc hơn thế" - Sđd, tr.706.

(51) "Phản ứng đầu tiên của tôi" - Berman trích dẫn: kế hoạch một bi kịch, tr.187.
Logged

Để gió cuốn đi...
Excocet
Thành viên
*
Bài viết: 617


Thép đã tôi thế đấy


« Trả lời #39 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2007, 07:44:09 pm »

Chương 5

Trượt khỏi ván: tháng bảy năm 1965



     Giữa tháng bảy năm 1965, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng McNamara đang ở Sài Gòn để xem xét đề nghị của tướng Westmoreland gửi thêm ngay 100.000 quân Mỹ sang Việt Nam, từ một tháng trước. Hiện chúng ta đã có khoảng 75.000 quân tại Việt Nam. Đề nghị của Westmoreland được đáp ứng sẽ đưa quân Mỹ lên tổng cộng ít nhất 175.000 quân vào cuối năm. Ông ta muốn có 44 tiểu đoàn, trong đó 34 tiểu đoàn người Mỹ, 9 tiểu đoàn ngưởi Nam Triều Tiên và 1 tiểu đoàn người Úc. Nếu cuối cùng không được như vậy thì toàn bộ 44 tiểu đoàn sẽ là quân Mỹ, nâng tổng số quân Mỹ ở Việt Nam lên tới 200.000.

     McNamara đưa ra một danh sách dài các câu hỏi về nhu cầu cho một đợt tăng quân như vậy, tác động của nó được so sánh với những lựa chọn và những đề nghị tăng thêm quân vào năm 1966 nếu yêu cầu này được chấp nhận. Nhưng vào ngày 17 tháng bảy, một ngày sau khi ông ta tới Việt Nam, ông nhận được một bức điện từ Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Cyrus Vance cho biết ý định hiện tại"(52) của Tổng thống là chấp nhận hoàn toàn lời đề nghị của Westmoreland với 34 tiểu đoàn quân Mỹ. Johnson rất có thể còn huy động cả quân dự bị và kéo dài thời hạn nghĩa vụ quân sự của các binh lính, khi Tham mưu trưỏng liên quân yêu cầu mạnh mẽ.

     Vào ngày hôm đó hoặc vào hôm sau, khi quay trở lại Washington, tôi được biết McNamara sẽ công bố và giải thích các công việc mới, cũng như các biện pháp thời chiến, bao gồm cả việc động viên quân dự bị, bằng một bài phát biểu mà tôi sẽ phải thảo sẵn cho ông ta. Tôi bắt tay vào việc ngay. Ngày hôm sau, để làm cơ sở cho việc viết bài phát biểu, tôi bắt đầu tham dự các cuộc họp mà Vance tổ chức tại văn phòng của ông ta vào các buổi sáng trong suốt tuần tới hoặc có thể lâu hơn, với đại điện của các Tham mưu trưởng liên quân và của Văn phòng Trợ lý Bộ trưởng về vấn đề nhân sự. Các cuộc họp nhằm phối hợp việc động viên quân dự bị và kéo dài thời hạn nghĩa vụ quân sự, đã được chấp nhận, sẽ là một phần của chương trình. Đây là những cuộc họp làm việc mở rộng, nhằm mục đích xác định cụ thể sẽ có bao nhiêu quân dự bị được huy động, từ các đơn vị nào và chính xác thuộc thẩm quyền của ai. Các cuộc họp còn giải quyết vấn đề về cấp vốn cho các chương trình mới và những yêu cầu về bổ sung ngân sách nào sẽ phải được trình lên Quốc hội. Tôi tham dự vào các cuộc họp đó chỉ để biết về các vấn đề và phạm vi của chương trình mà tôi sẽ mô tả và chứng minh trong bài phát biểu.

     Trong thời gian còn lại ở Sài Gòn, McNamara tập trung vào xem xét sẽ cần thêm những gì vào năm 1966, sau khi đã đạt tới mức 34/44 tiểu đoàn. Trong bản ghi nhớ của ông ta gửi cho Tổng thống ngày 21 tháng bảy, ngày ông ta từ Việt Nam trở về, Bộ trưởng nhắc lại việc tăng quân lên 44 tiểu đoàn. Điều này phù hợp với những gì Vance đã nói với ông về ý định hiện tại của Johnson, nhưng thực ra McNamara đã ủng hộ đề nghị của Westmoreland từ giữa tháng sáu.

     Hơn nữa, McNamara còn chỉ rõ đây mới là sự khởi đầu của một đợt tập trung quân. Ông ta báo cáo Westmoreland coi việc tăng từ 175.000 lên tới 200.000 quân Mỹ chỉ vừa đủ tới hết năm 1965; "cần nhận thức được rằng việc tăng thêm quân (có thể là 100.000) sẽ là cần thiết vào đầu năm 1966 và việc triển khai các lực lượng dự bị sau đó là có khả năng hiện thực nhlng sẽ phụ thuộc vào sự phát triển của tình hình".

     Trong đề nghị tháng sáu, Westmoreland đã cảnh báo rằng 44 tiểu đoàn, bằng 1/3 lực lượng của Mỹ hiện tại chỉ đủ để "tái lập sự cân bằng về quân sự vào cuối tháng mười hai"; "nó cũng chưa đủ để tự làm cho kẻ thù phải giảm bớt các hoạt động tiến công". Ông ta phát tín hiệu rằng các lực lượng dự bị "quan trọng" của Mỹ sẽ được huy động vào năm 1966 để "duy trì ưu tiên quân sự"(53). Lúc đó ông ta đã nói với McNamara rằng: hơn 24 tiểu đoàn cộng thêm với 44 tiểu đoàn, cùng các lực lượng hận cần và lực lượng hỗ trợ chiến đấu, sẽ đặt chúng ta vào một vị trí bắt đầu giai đoạn giành thắng lợi" trong chiến lược của chúng ta. Điều này có nghĩa là có khoảng 175.000 lính Mỹ vào lúc khởi đầu, tiếp theo là thêm khoảng 100.000. Nhưng, tôi cảnh báo rằng các hoạt động của Việt Cộng và Bắc Việt Nam có thể làm thay đổi các con số (theo chiều hướng tăng lên), có thể gấp nhiều lần nữa.

     Lực lượng tăng lên tổng cộng là 300.000 quân (có cả các tiểu đoàn nước ngoài), trong đó có 275.000 quân là người Mỹ, vào giữa năm 1966; đó là những gì được yêu cầu để ngăn chặn tổn thất và để bắt đầu ở vào thế của "giai đoạn giành thắng lợi". Bắc Việt Nam ngừng xâm nhập, còn hơn là cứ duy trì tốc độ tăng và tăng lên từng bước một (như đã xảy ra và như mọi người đã dự đoán trước, ít nhất là phải có một lực lượng đủ mạnh.

     McNamara cũng cho biết Tổng thống cho phép huy động khoảng 235.000 quân dự bị và lực lượng Cảnh vệ Quốc gia và rằng các lực lượng chính qui sẽ dược tăng lên tới 375.000 người, bằng cách tăng cường tuyển mộ tân binh, lính quân dịch và kéo dài thời hạn nghĩa vụ.

     Ngoài ra, còn có thêm nhiều các lực lượng tham gia. Phải "có sự thay đổi quan trọng về nhiệm vụ cho số quân này - "Tìm và diệt"(54). Các lực lượng được tăng cường phải được sử dụng một cách mạnh mẽ "để tấn công - để chiếm và giữ thế chủ động… làm cho đối phương ở vào hoàn cảnh bất lợi, duy trì nhịp độ để không cho họ có thời gian phục hồi hoặc lấy lại sự cân bằng, tiến hành nhanh chóng cuộc chiến đấu chống lại quân Việt cộng, Bắc Việt Nam, các đơn vị chủ lực đóng ở miền Nam Việt Nam nhằm truy đuổi họ khỏi căn cứ và tiêu diệt họ". Điều này có thể dẫn tới kết quả làm tăng mức độ các lính Mỹ bị chết trong khi chiến đấu lên "khoảng 500 người trong một tháng"(55) vào cuối năm.
Logged

Để gió cuốn đi...
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM