Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 08:38:16 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Những bí mật về chiến tranh Việt Nam  (Đọc 115661 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Excocet
Thành viên
*
Bài viết: 617


Thép đã tôi thế đấy


« Trả lời #40 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2007, 07:45:01 pm »

     Từ Sài Gòn trở về vào sáng ngày 21 tháng bảy, McNamara đã chuẩn bị một thông cáo báo chí cho biết rằng tổng số các lực lượng Mỹ được tăng cường ngay lập tức với phần bổ sung theo đề nghị mới nhất, sẽ vào khoảng 100.000. Đây là con số ông ta đã đệ trình lên Tổng thống vào sáng hôm đó và đã thông tin cho Hội đồng An ninh quốc gia cùng với những bình luận phân tích khác ở trên. Tuy nhiên, thông cáo của ông ta đã không được phát hành. Trong khi đó tôi vẫn đang viết bài diễn văn để ông ta đọc.

     Bản thảo lần cuối(56) được hoàn tất vào ngày hôm sau, 22 tháng bảy. Vì đây là bài phát biểu rất quan trọng nên bản thảo của tôi được gửi để xin ý kiến không chỉ tới McNamara mà còn cả McGeorge Bundy ở Nhà Trắng và Rusk, người đang có chuyện công du ở nước ngoài lúc đó. Mỗi người đọc rồi cho ý kiến vào 1 hoặc 2 ngày sau, chỉ có Bundy là có sửa đổi đôi chút.

     Sự tán thành ở cấp cao như vậy đối với việc lý giải về tư duy và chính sách của chính quyền đã làm cho bản thảo này đáng dược chú ý sát sao. Phần quan trọng đầu tiên, sau một trang miêu tả mục đích chuyển sang Việt Nam gần đây của McNamara với tướng Wheeler, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân, giới thiệu các bước được tiến hành trên cơ sở những đề nghị của họ: "Chúng ta sẽ được tăng cường trong tương lai gồm lực lượng chiến đấu và lực lượng yểm trợ với tổng số khoảng 100.000 sẵn sàng cho miền Nam Việt Nam. Các lực lượng của chúng ta ở đó sẽ bảo vệ các căn cứ của họ; họ sẽ trợ giúp về an ninh ở các khu vực xung quanh; và họ sẽ có thể tham gia các nhiệm vụ chiến đấu khác khi chính quyền miền Nam Việt Nam và tướng Westmoreland cho rằng các nhiệm vụ như thế là cần thiết và chắc chắn. Để bù các đợt triển khai thêm này và để tái xây dựng lực lượng dự bị chủ yếu, chúng ta sẽ gọi nhập ngũ các đơn vị dự bị, tăng cường các đợt gọi lính quân dịch và kéo dài thời hạn nghĩa vụ quân sự".

     Phần tiếp theo, được bắt đầu: "Lúc này, khi chúng ta đang kêu gọi sự hi sinh từ những gia đình và những thanh niên trẻ của đất nước này, rõ ràng là, một lần nữa, chúng ta phải giải thích tại sao lại cần tới những nỗ lực này". Mười chín trang tiếp theo được dùng để giải thích về lý do tại sao phải tăng quân này. Để giải thích về sự thách thức của Việt Cộng và tại sao hiện tại phải huy động thêm quá nhiều binh lính Mỹ vào nhiệm vụ chiến đấu, tôi đã theo dõi và tham khảo các cuộc tranh luận về Việt Nam ở trường Đại học Antioch, Harvard và ở các nơi khác cùng với một bài phát biểu gần đây mà tôi đã viết cho McNaughton. Những thống kê gần đây của tôi được xây dựng trong bối cảnh việc triển khai quân Mỹ còn rất hạn chế, chủ yếu là để bảo vệ các căn cứ.

     Thách thức giờ đây là phải giải thích tại sao việc tăng cường quân Mỹ lớn như vậy lại vừa cần thiết và vừa hợp pháp.

     Tôi biết, và bản thảo của tôi cũng ám chỉ điều đó nhưng đã không chỉ ra một cách rõ ràng, rằng việc tăng quân là không có điểm dừng, rất lớn. Vào ngày bản thảo của tôi được hoàn tất(57), Tổng thống đang họp với các cố vấn quân sự, tất cả những người đang nói với ông rằng việc tăng thêm 200.000 quân - ít nhất 100.000 vào cuối năm nay và thêm 100.000 nữa vào tháng Một năm 1966 - mới chỉ là bắt đầu. Bằng ấy mới đủ để ngăn chặn sự tổn thất; và sẽ cần nhiều hơn thế trong mấy năm tới để giành thắng lợi, cùng với việc mở rộng đáng kể các hoạt động của không quân và hải quân chống lại Bắc Việt Nam. McNaughton đã gửi cho tôi bức điện tóm tắt về cuộc họp với Tổng thống mà ông ta đã tham dự ngày hôm trước. Ông không tham dự cuộc họp với đầy đủ các Tham mưu trưởng liên quân vào ngày 22 tháng bảy, nhưng cũng đã cho tôi một bản báo cáo nghe gián tiếp từ người khác. Đoạn trích sau là từ những ghi chép chính thức của cuộc thảo luận cuối cùng, mới được giải mật (từ nhấn mạnh dược gạch chân).

     Tổng thống hỏi: "Nếu chúng ta đáp ứng yêu cầu của Westmoreland thì điều đó không có nghĩa là chúng ta sẽ rơi vào một cuộc chiến tranh mới chứ? Điều này sẽ không trượt khỏi ván đà chứ?(58)".

     Câu trả lời của McNamara phủ nhận băn khoăn của Tổng thống "Đây là sự thay đổi cơ bản trong chính sách. Chúng ta phải dựa vào Nam Việt Nam để thực hiện đòn chính của cuộc tấn công. Giờ đây chúng ta sẽ phải có trách nhiệm với việc bồi thường hậu quả quân sự"(59). Sự thay đổi đó trong trách nhiệm tiến hành chiến tranh là cái điều đã tạo ra tiến trình mới cho việc leo thang chiến tranh không có giới hạn.

     Ít phút sau Lyndon Johnson lại hỏi: "Việc này có thể sẽ kéo dài bao lâu?(60). Liệu chúng ta có nên bắt đầu một việc mà trong 2 hoặc 3 năm tới chúng ta chắc là không thể hoàn thành được không?"

     Ông ta nhận được câu trả lời từ tướng Wallace Green, chỉ huy lực lượng lính thuỷ đánh bộ; đó không phải là câu trả lời mà một vị Tổng thống đang phải chuẩn bị cho việc ra tái cử trong vòng 3 năm nữa muốn nghe, tuy nhiên ông ta không thể đòi hỏi một câu trả lời rõ ràng hơn. Green nhấn mạnh lại câu hỏi và trả lời: "Sẽ kéo dài bao lâu ư? Năm năm, cộng với 500.000 quân". Ông ta nói thêm: "Tôi cho rằng người Mỹ sẽ ủng hộ ông".

     Không ai ngồi quanh bàn họp phản bác lại ông ta hoặc đưa ra một phương án về quân số thấp hơn. Có lẽ, Green đã chuẩn bị sẵn câu trả lời này bằng việc nêu vấn đề một cách trực tiếp vào chính sách chiến tranh mở rộng và rất hiếu chiến, bao gồm nhiều các nhân tố, như phong toả Campuchia và đánh phá tất cả các mục tiêu ở miền Bắc, như thế vấn đề nhanh chóng trở nên rõ ràng, Lyndon Johnson quyết định thực hiện. Nhưng nếu không có các nhân tố trên, vấn đề cũng đã rõ ràng trong câu trả lời của Green, ước lượng của Tổng thống về số quân và thời gian theo yêu cầu sẽ còn cao hơn và kéo dài hơn. Đúng thế, chúng ta đang đề xuất bắt đầu tiến hành một công việc mà đơn giản là không thể hoàn thành trong 2 hoặc 3 năm. Cũng không phải đây là lần đầu tiên Johnson nghe được đánh giá này từ các nhà chỉ huy quân sự cao nhất. Ngay từ 15-3-65, tướng Harold K. Johnson(61), Tham mưu trưởng lục quân, sau một chuyến đi tới Việt Nam theo yêu cầu của Tổng thống, đã báo cáo riêng với Tổng thống rằng để giành được thắng lợi trong cuộc chiến tranh này có thể phải cần tới 500.000 binh lính và thời gian là 5 năm.

     Giờ đây, Tổng thống lại đang nghe được đánh giá tương tự từ viên tư lệnh của lực lượng lính thuỷ đánh bộ, chỉ thay từ "có thể" bằng từ "sẽ".
Logged

Để gió cuốn đi...
Excocet
Thành viên
*
Bài viết: 617


Thép đã tôi thế đấy


« Trả lời #41 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2007, 07:45:55 pm »


     Đây không phải là con số cao nhất cho tổng số quân được đề cập tới ngày hôm đó. Johnson nhắc đi nhắc lại rằng ông ta đã tính đến khả năng là "nếu chúng ta đưa vào hàng trăm ngàn binh lính (62), thì điều này có thể là nguyên nhân dẫn tới việc Trung Quốc sẽ đưa vào nhiều sư đoàn. McNamara nói với Johnson rằng nếu họ đưa vào 31 sư đoàn, mà họ có thể trụ vững, chúng ta sẽ yêu cầu tăng thêm hơn 300.000 lính "để đủ chiến đấu với Việt Cộng".

     500.000 cộng thêm 300.000: con số sẽ lên tới gần một triệu, trong trường hợp Trung Quốc đưa quân vào. Nhưng thậm chí nếu không có sự can thiệp của Trung Quốc, thì con số xấp xỉ khoảng 1 triệu cũng đã được đề cập tới từ hồi đầu mùa hè. Theo David Halberstam, Tổng thống đã hỏi tướng Wheeler hồi tháng sáu rằng ông ta nghĩ gì về việc thực hiện tăng quân này.

     Wheeler trả lời: "Tất cả phụ thuộc vào khái niệm của ngài về công việc này là gì, thưa Tổng thống. Nếu ngài dự định đẩy lui tên Việt Cộng cuối cùng ra khỏi Việt Nam thì sẽ phải có từ 700.000 - 800.000 tới 1 triệu quân và mất khoảng 7 năm"(63). Trong cuộc thảo luận với Clark Clifford và với Tổng thống tháng sau đó, Wheeler dùng tới con số 750.000 và 6 hoặc 7 năm.

     Đối với mục tiêu đầy tham vọng là đẩy lui tất cả Việt Cộng khỏi miền Nam Việt Nam (mục tiêu chính của chúng ta trong suốt năm 1968), Thượng nghị sỹ Mansfield đã có những đánh giá so sánh trong một bức thư gửi cho Johnson: Nếu chính quyền có kế hoạch ở lại Việt Nam "cho tới khi chúng ta hoặc các đồng minh quân đội người Việt Nam của chúng ta chiếm ưu thế khắp mọi nơi ở phía nam của vĩ tuyến 17 cho đến cái làng nhỏ nhất", thì sau đó "chúng ta đang nói tới thời hạn hàng năm hoặc hàng thập kỷ, và với khoảng 1 triệu binh lính Mỹ hiện diện trên đất miền Nam Việt Nam, thì chắc rằng Trung Quốc sẽ không đưa quân vào"(64). Mansfield, một chuyên gia về châu Á, nhắc lại con số đó trong bức thư khác gửi cho Johnson vào ngày 23 tháng bảy, ngày mà McNamara và Rusk đang đọc bản thảo của tôi. Mansfield viết: 200.000 tới 300.000 quân sẽ không đủ để thực hiện mục tiêu. "Theo quan điểm của tôi, nếu tình hình tiếp tục phát triển như hiện nay, con số 1 triệu, có thể được xem là vừa phải"(65).

     Hậu quả to lớn ở Việt Nam mà Wheeler và Mansfield đã mô tả để trục xuất lực lượng Việt Cộng ra khỏi miền Nam Việt Nam, không phải là ngoa dụ hay không đáng tin cậy, khi mà kế hoạch chính thức được thực hiện; nó chính xác là những gì cấp trên của tôi McNaughton đã sử dụng một cách chắc chắn để định nghĩa "sự thành công" của Mỹ, mục tiêu cơ bản của chúng ta, trong thời gian 1964-1965. Bản ghi nhớ của ông ta miêu tả mọi thứ như một dạng của sự thoả hiệp hoặc kết quả không cụ thể (66).

     Mặc dù con số 1 triệu quân Mỹ không được đề cập tới vào cuộc họp ngày 22 tháng bảy, nhưng không ai phản đối về sự ước tính cần tới khoảng nửa triệu quân của Greene. Mấy phút sau khi ông ta nói ra điều đó, Tổng thống đã tăng lên cho ông ta 100.000: Tất cả các ngài có cho rằng Quốc hội và người dân sẽ ủng hộ việc đưa 600.000 quân và hàng tỉ đô la tới một nơi cách xa tới 10.000 dặm không?(67)

     Bộ trưởng Lục quân Stanley Resor trả lời (nhắc lại đánh giá của Greene lúc đầu rằng người Mỹ sẽ ủng hộ việc này): "Sự thăm dò của Viện Galớp cho thấy người dân về cơ bản đứng sau sự cam kết của chúng ta"(68).

     Tổng thống: "Nhưng nếu các ngài đưa ra lời cam kết nhảy xuống từ một toà nhà nhưng rồi lại phát hiện ra nó quá cao, các ngài vẫn có thể rút lại lời cam kết".

     Chính Tổng thống cũng vừa được thông báo về đợt tăng quân này cao tới mức nào. Trong bài phát biểu tôi soạn ra ngày hôm đó, tôi đã không được thông báo là phải cho công chúng biết con số đầy đủ của đợt tăng quân lần này. Tuy nhiên con số tôi được cung cấp để nêu ra cũng đủ để gây ấn tượng. Một mức tăng quân số chỉ trong ít tháng lên đến là 175.000 - gấp hơn hai lần lực lượng hiện tại của chúng ta, và sau đó còn nhiều hơn nữa sẽ buộc công chúng Mỹ phải nhức đầu về nó.

     Ngày 26 tháng bảy, tôi biết rằng McNamara sẽ không đọc bài phát biểu tôi chuẩn bị cho. Tổng thống muốn chính ông ta thông báo việc tăng quân trong cuộc họp báo ngày 28 tháng bảy, và rốt cuộc cũng không có việc ra lệnh gọi quân dự bị vào ngày 28, nhiều người trong số chúng tôi ở văn phòng ISA theo dõi phát biểu của Tổng thống trên chiếc tivi lớn đặt tại phòng của McNaughton. Đó là thời điểm duy nhất tôi có thể nhớ chúng tôi đã làm gì. Chúng tôi đứng thành nửa vòng tròn quanh chiếc tivi - McNaughton ngồi giữa phía trước - chờ đợi Tổng thống công bố chúng ta sẽ tiếp tục cuộc chiến tranh. Tôi tự hỏi liệu Tổng thống sẽ sử dụng bao nhiêu phần trăm trong bài viết của tôi.

     Ông ấy đã không sử dụng chút nào. Một người khác đã viết cho ông ta, nêu lên những đánh giá về Việt Nam, nhắc lại những cam kết nghiêm túc của chúng ta và những bài học về Munich.

     Chúng ta đã không lựa chọn trở thành những người gác cổng, nhưng không còn ai khác. Đầu hàng ở Việt Nam cũng không thể đem đến hoà bình, vì chúng ta học được từ Hitle ở Munich rằng thành công chỉ nuôi dưỡng thái độ hiếu chiến…

     Hơn nữa, chúng ta ở Việt Nam là để hoàn thành những cam kết quan trọng nhất của nước Mỹ… Lúc này là lúc chúng ta không thể đánh mất danh dự lời hứa của mình… (69)

     Đoạn này xuất hiện trong một bản trích ngang tiểu sử của Abe Fortas làm việc ở Toà án tối cao vì hai lý do. Thứ nhất, ngay trước hôm đó, "Trăn trở, lo ngại về một quyết định khó khăn về việc liệu có đưa thêm quân sang Việt Nam, Johnson đã có cuộc gặp với Fortas trong 2 giờ đồng hồ ở Phòng Bầu dục". "Khó khăn hơn cả chính quyết định này, là vấn đề làm thế nào để giải thích và hợp pháp hoá quyết định này đối với báo chí và công chúng Mỹ, là điều làm Johnson phải lo nghĩ". Fortas thường giúp Lyndon Johnson các vấn đề như thế này. Lý do thứ hai là Tổng thống đã sử dụng sự phát biểu công khai để công bố rằng Fortas sẽ là người thay vào vị trí ở Toà án tối cao còn để trống trước đó một tuần của Arthur Goldberg, người sẽ tới Liên Hiệp quốc làm đại sứ của Mỹ ở tổ chức này.
Logged

Để gió cuốn đi...
Excocet
Thành viên
*
Bài viết: 617


Thép đã tôi thế đấy


« Trả lời #42 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2007, 07:47:22 pm »

     Trên thực tế, Tổng thống đã dự tính sự công bố bất ngờ của ông ta về việc bổ nhiệm chức vụ này sẽ là tin tức chính trong cuộc họp báo. Đó không hẳn là điều chúng ta đang mong đợi.

     Nhưng sự việc đã vượt khỏi tầm kiểm soát, kể từ sau những đánh giá thực chất của Tổng thống về việc vì sao chúng ta đang dính líu ở Việt Nam, tuyên bố của ông ta về các bước tiếp theo được thực hiện ở đó là rất hạn chế và, dưới góc độ của những dự đoán bị rò rỉ từ trước, chủ yếu để bảo đảm rằng:

     "Lúc đầu, chúng ta có ý định làm cho Cộng sản tin rằng chúng ta không thể bị đánh bại bởi một lực lượng vũ trang hay một siêu cường nào. Tuy nhiên, họ không dễ dàng bị thuyết phục. Trong những tháng gần đây, họ đã gia tăng mạnh các lực lượng chiến đấu, các đợt tấn công và một số các hoạt động khác. Tôi đã hỏi Tổng Tư lệnh, tướng Westmoreland, là cần thêm những gì để có thể đáp lại sự khiêu chiến này. Ông ta đã nói với tôi yêu cầu. Chúng ta sẽ đáp ứng mọi yêu cầu của ông ta.

     Hôm nay tôi đã ra lệnh đưa tới Việt Nam Sư đoàn Không vận và các lực lượng khác, điều đó sẽ làm tăng sức mạnh chiến đấu của chúng ta từ 75.000 tới 125.000 quân gần như ngay lập tức. Các lực lượng bổ sung khác sẽ được xem xét sau, và họ sẽ được đưa tới Việt Nam khi có yêu cầu. Đây là điều cần thiết để tăng cường các lực lượng chiến đấu cơ động của chúng ta bằng cách đẩy mạnh sự tuyển mộ lính quân dịch hàng tháng từ con số 17.000 quân trong một khoảng thời gian lên 35.000 quân mỗi tháng, và giúp chúng ta từng bước đẩy mạnh chiến dịch tòng quân tình nguyện.

     Sau những cân nhắc kỹ lưỡng trong tuần qua, tôi kết luận rằng chưa nhất thiết phải ra Iệnh cho các đơn vị Dự bị làm nhiệm vụ vào lúc này. Sau này, nếu thấy cần thiết, tôi sẽ dành cho vấn đề này sự đánh giá thận trọng nhất và sẽ dành sự quan tâm đầy đủ và thích đáng trước khi tiến hành các hành động như thế, những chỉ sau khi đã có sự chuẩn bị đầy đủ".

     Khi Johnson nói con số "125.000", tất cả chúng tôi đều sửng sốt Tôi nói với McNaughton, "Gì? Cái gì thế? Ông ta đã thay đổi quyết định sao?" McNaughton giơ tay bảo tôi im lặng, chờ tới khi chúng ta nghe ông ta nói hết đã.

     Vì có sự thay đổi trong chiến lược Tìm và diệt, nên Tổng thống đã được chất vấn: "Có phải thực tế là ngài đang đưa các lực lượng tăng cường tới Việt Nam để ám chỉ rằng có sự thay đổi trong chính sách hiện hành của việc trước đây chủ yếu dựa vào miền Nam Việt Nam để tiến hành các chiến dịch tấn công và sử dụng các lực lượng của Mỹ để bảo vệ các căn cứ và đóng vai như là người can thiệp trong những trường hợp khẩn cấp?"(70)

     Ông ta trả lời: "Dù thế nào thì điều đó vẫn không phải để ám chỉ bất cứ sự thay đổi nào. Nó không ám chỉ sự thay đổi về mục tiêu".

     Johnson không nói gì về sự tăng tới 175.000 quân hoặc hơn thế vào cuối năm. Tất cả những gì ông ta nói chỉ là một sự tăng quân "từ 75.000 tới 125.000". Dường như ông ta đã nói với công chúng một cách rõ ràng rằng cho dù những kiến nghị và những đợt tăng quân cao hơn có thể có trong tương lai, nhưng theo đánh giá của Westmoreland, thì ngay bây giờ phải cần đưa sang gần 50.000 quân bổ sung. Ngoài ra không có thêm lực lượng nào nữa sẽ được đưa sang Việt Nam cho tới khi vị tướng này đưa ra những kiến nghị cao hơn.

     Theo quan sát của chúng tôi ở Lầu Năm Góc, tới lúc đó mà chúng tôi được biết thì đây là điều không thực tế. Nhưng cũng khó để có thể tin rằng ông ta sẽ chỉ nói dối về việc đó. Điều đó hẳn có nghĩa là trong trường hợp quân dự bị được lệnh gọi nhập ngũ, ông ta đã thay đổi ý định. Nhưng nếu đúng như thế, thì một số người trong chúng tôi ở văn phòng, mà bắt đầu là cấp trên của mình, giờ đây hẳn đã phải biết điều đó, trước khi có bài phát biểu này. Tôi nhắc lại câu hỏi với McNaughton. "Thế ư? Tổng thống đã quyết định không đưa 100.000 quân sang Việt Nam thật sao?"

     McNaughton bảo tôi: "Tốt nhất là anh nên tự tìm hiểu".

     Tôi rời văn phòng và đi xuống Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân để tìm một vị tướng chịu trách nhiệm về kế hoạch triển khai quân. Tôi hỏi ông ta có phải đã có sự thay đổi vào phút chót. Ông ta nói không, toàn bộ yêu cầu của Westmoreland đã được đáp ứng. Tôi hỏi ông ta có tham dự cuộc họp báo của Tổng thống không. Như vậy là không có sự thay đổi nào, kể cả ở Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân, rằng quyết định của Tổng thống đã được thông qua, gửi hơn 100.000 quân càng sớm càng tốt, không cần chờ tới đề nghị nào khác của Westmoreland cả.

     Tôi quay trở về văn phòng và kể lại điều đó cho McNaughton.

     Một bản ghi nhớ của Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân được đưa ra 2 ngày sau, 30 tháng bảy, báo cáo về Giai đoạn I, gói gọn trong mấy từ "đồng ý cho triển khai" với 44 tiểu đoàn và sẽ có tổng số là 193.887 quân chiến đấu của Mỹ ở miền Nam Việt Nam sau khi tất cả các đơn vị đã được đưa sang. 34 tiểu đoàn của Mỹ được triển khai trong vòng 10 tuần kể từ sau cuộc họp báo của Tổng thống, sau đó một tháng là các đơn vị còn lại cộng với lực lượng chiến đấu là 44 tiểu đoàn, số quân của Mỹ ở miền Nam Việt Nam vào cuối năm 1965 là 184.314 quân.

     Báo chí cho biết phần lớn các thành viên của Quốc hội đều cảm thấy bớt căng thẳng bởi những gì họ đã nghe trong cuộc họp báo, đặc biệt bởi thực tế là Johnson sẽ không huy động lực lượng dự bị và số quân tăng thêm mà ông ta công bố chỉ bằng một nửa số quân mà thông tin đã để lọt ra bên ngoài trước đó đề cập đến.

     Nhưng những thông tin bị rò rỉ này thực ra cũng rất chính xác.

     Các sĩ quan, những người đã đấu tranh cho việc huy động quân dự bị, và một cuộc chiến tranh trên bộ vì lợi ích quốc gia, những người cho rằng ngay từ đầu họ đã tán thành với ý kiến của Tổng thống, giờ lại có phản ứng khác. Tôi cảm thấy xót xa khi nhớ lại cuộc họp báo đó, được viết trong cuốn sách của Mark Peny nói về Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân, phản ứng của một số người khác - những người đang theo dõi buổi họp báo trên chiếc tivi trong văn phòng của họ vào lúc đó - đặc biệt là tướng Johnson, Tham mưu trưởng lục quân, lúc đó cũng đang xem tivi ở một nơi khác trong cùng toà nhà. Giống như những Tham mưu trưởng khác, Johnson coi vấn đề đó là quan trọng, lâu dài và hơn hết, cần có sự bắt buộc cảnh báo với công chúng một thực tế rằng quyết định của Tổng thống nghĩa là một cuộc chiến tranh quy mô lớn và lâu dài đang ở phía trước. Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân biết rằng việc huy động quân dự bị là điều không thể khác được trong thông điệp này, đó là sự cần thiết để đảm bảo có được sự ủng hộ của công chúng rằng hoạt động quân sự trông đợi vào sự ủng hộ đó. Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân Wheeler sau này viết: "Chúng ta cảm thấy chúng ta mong muốn có một lệnh gọi nhập ngũ để đảm bảo rằng người Mỹ biết chúng ta đang ở trong một cuộc chiến tranh chứ không phải đang tham gia vào một trò phiêu lưu quân sự đáng giá 2 xu. Bởi vì chúng ta không bao giờ nghĩ rằng cuộc chiến đang tiếp diễn ở đó (Nam Việt Nam - ND) chỉ để nhằm chứng tỏ là cuộc phiêu lưu quân sự rẻ tiền, xét trên mọi khía cạnh của nó".

     Các Tham mưu trưởng đã biết về sự hối tiếc sâu sắc, trước đó hai ngày, rằng thông điệp này sẽ không được chuyển tới công chúng và Quốc hội vì liên quan đến lệnh gọi nhập ngũ quân dự bị. Những điều mà họ hiểu được thông qua cuộc họp báo là Tổng thống quyết định đánh lừa công chúng về điểm nhạy cảm này, nhằm che giấu việc ông ta đang đẩy nước Mỹ vào một cuộc chiến tranh to lớn và lâu dài.

     Họ không chỉ cho đây là một việc làm nguy hiểm, xét trên quan điểm đánh giá và sự ủng hộ của công chúng, mà một số người trong số họ (các Tham mưu trưởng) còn có cảm giác đây là một sai lầm nghiêm trọng và trái với hiến pháp. Một người trong số đó là tướng Bruce Palmer - sau này là chỉ huy phó phụ trách hành quân, tác chiến của Harold Johnson, sau này là Phó Tham mưu trưởng dưới quyền của Westmoreland - đã nói với tôi về cảm giác riêng của ông ta lúc đó, đã được tướng Johnson cùng chia sẻ, đồng ý. Palmer xác nhận sự miêu tả của Peny về phản ứng của tướng Johnson đối với những gì diễn ra trên ti vi mà tất cả chúng tôi vừa mới xem ở Lầu Năm Góc:

     Tại Lầu Năm Góc, tướng Harold Johnson tỏ ra rất thất vọng.

     Sau bài phát biểu, ông ta đóng chặt cửa phòng và mặc một bộ quân phục tốt nhất. Ông ta đi ra và gọi lái xe đưa đến Washington để nói chuyện với Tổng thống. Trên đường tới Washington, Johnson lấy tay tháo những ngôi sao trên vai ra cầm trên tay. Khi chiếc xe tới cổng Nhà Trắng, ông ta yêu cầu lái xe dừng lại. Ông ta nhìn xuống những ngôi sao trong tay, lắc đầu, và đeo lại chúng. Những năm sau này, ông ta nhắc lại sự kiện đó và hối tiếc về quyết định của mình. H. Johnson nói với một đồng nghiệp: "Lẽ ra tôi phải đi gặp Tổng thống, tháo bỏ các ngôi sao và nên từ chức. Đó là quyết định tồi tệ nhất vô đạo đúc nhất mà tôi đã từng làm".
Logged

Để gió cuốn đi...
Excocet
Thành viên
*
Bài viết: 617


Thép đã tôi thế đấy


« Trả lời #43 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2007, 07:48:41 pm »

Chú thích:



----------------------------------------------------------------------------------------------

(52) "Ý định hiện tại" của Tổng thống: McNamara trích dẫn, 204: Tài liệu Lầu Năm Góc, Gravel xuất bản, tập 2, tr. 476.

(53) "Nên hiểu rằng" - Berman trích dẫn, tr. 103.

"Tái thiết lập sự cân bằng quân sự"; "cũng chưa đủ để tự làm cho… "; "duy trì ưu tiên quân sự" - Sđd, tr.180.

(54) "Một sự thay đổi quan trọng trong nhiệm vụ": Berman, 102.

"thực hiện cuộc tấn công" - Kahin, 363.

(55) "khoảng 500 người một tháng" - Berman, 102.

(56) Bản thảo lần cuối cùng được hoàn tất: Ellsberg, bản thảo bài phát biểu về Việt Nam cho bộ trưởng McNamara, tài liệu chưa xuất bản.

(57) "vào ngày bản thảo của tôi…" - Ellsberg, bài phát biểu về Việt Nam cho bộ trưởng McNamara, tài liệu chưa xuất bản.

(58) (59) "Điều này sẽ không trượt khỏi ván đà chứ"; "Đây là một thay đổi cơ bản" - Kahin trích dẫn, 382.

(60) "Sẽ kéo dài lâu?" - Sđd, tr.384.

(61) Tướng Harold K. Johnson - McNamara, 177.

(62) "Nếu chúng ta vào"; "điều chúng ta muốn" - Knhin trích dẫn, 384.

(63) "Tất cả phụ thuộc vào"; Trong một buổi thảo luận với Clark Clifford. Halberstam trích trong "Những người ưu tú và thông minh nhất", tr. 596.

(64) "cho tới khi chúng ta hoặc các đồng minh quân sự Việt Nam của chúng ta"; "Chúng ta đang nói tới" - Kahin trích dẫn, 349-50.

(65) "Theo quan điểm của tôi" - Mann trích dẫn, 542.

(66) "kết quả không cụ thể" - Tài liệu Lầu Năm Góc, Gravel xuất bản, tập 4, tr.620.

(67) (68) "Tất cả các ngài có cho rằng"; "Sự thăm dò của Viện Galớp" - Kahin trích dẫn, 385.

(69) "Chúng ta đã không lựa chọn" - Tài liệu Lầu Năm Góc, Gravel xuất bản, tập 3, tr.476

(70) "Có phải thực tế… "; "Điều đó không ám chỉ" - Sđd - "tán thành việc triển khai" - Sđd.
Logged

Để gió cuốn đi...
Excocet
Thành viên
*
Bài viết: 617


Thép đã tôi thế đấy


« Trả lời #44 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2007, 07:50:10 pm »

Chương 6

Tham gia đội quân lê dương



     Có một điều gì đó đã xảy ra. Tôi đã hiểu lầm (sự việc bắt đầu từ một diễn tiến sau này) tình cảm của Patricia với một nhà thơ người Đức cấp tiến mà cô đã gặp tại một cuộc hội thảo ở Princeton. Khi tôi biết việc này, tôi đã mất tin tưởng vào lời hứa của cô ấy đối với cuộc sống của chúng tôi. Bỗng nhiên tôi nghĩ tới việc sang Việt Nam. Một tuần sau, cơ hội phục vụ tại Việt Nam đã tới với khả năng đầy hy vọng. Tôi đã tình nguyện.

     Tôi có cuộc họp định kỳ vào các sáng thứ bảy với Nhóm liên ngành về vấn đề Việt Nam được tổ chức tại Bộ Ngoại giao. Cuộc họp sáng hôm đó do Bill Bundy, trợ lý Bộ trưởng Bộ Ngoại giao chủ trì. Tôi đại diện cho phía dân sự của Bộ Quốc phòng. Có nhiều đại diện của Hội đồng tham mưu trưởng liên quân, Cơ quan thông tin của Mỹ (OSIA), Cơ quan phát triển quốc tế (AID), Cục Tình báo trung ương (CIA), Phòng Việt Nam của Bộ Ngoại giao và tất cả các ban ngành khác liên quan đến cuộc chiến tranh. Tất cả chúng tôi đều đã biết nhau từ các cuộc họp trước.

    Chúng tôi được thông báo về lịch trình của cuộc họp mà phần cuối của nó là việc tướng Ed Lansdale sẽ được giới thiệu ra mắt nhóm bởi vì Tổng thống Johnson vừa chỉ định ông ta vào danh sách những người tới Việt Nam với chức vụ làm trưởng nhóm liên ngành để đảm nhiệm công tác chính trị với phía chính phủ Việt Nam. Thông báo này cũng không chỉ rõ thành phần hoặc nhiệm vụ của nhóm sẽ là gì, nhưng tôi tới cuộc họp với một ý nghĩ là tôi có thể nói đôi điều với Lansdale sau đó, dựa vào những gì tôi đã nghe được ông ta nói.

     Lansdale từng là một thiếu tướng không quân, giờ đã nghỉ hưu, người đã dành phần lớn sự nghiệp của mình để làm việc cho CIA. Ông luôn được coi là một nhân vật "huyền thoại" trong lĩnh vực chống nổi dậy. Tôi được biết rằng ông ta coi chính trị cũng quan trọng như đấu tranh quân sự để chống lại chủ nghĩa cộng sản, thường xuyên yêu cầu cần phải cải cách về chính trị và dân chủ và kêu gọi chủ nghĩa yêu nước trong việc chống lại sự nổi loạn. Đây là chìa khoá cho sự thành công của ông trong việc giúp dập tắt cuộc nổi loạn của Huk ở Philippine đầu những năm 50. Năm 1954, ông được cử sang Việt Nam, nơi ông đã thiết lập được mối quan hệ cá nhân gần gũi với Tổng thống Diệm và đã làm hết sức mình trong việc thuyết phục chính phủ Mỹ duy trì sự ủng hộ Diệm trong suốt một thời gian được coi là không sáng sủa của năm 1955. Thật không may, chính tôi đã chứng kiến điều này năm 1961, sự thiếu cam kết ủng hộ Việt Nam là có thực, nhiều hơn cả chính bản thân Lansdale từng biết.

     Không giống như phần lớn các quan chức Mỹ, những người đã làm việc với Diệm, Lansdale thực sự thích ông ta. Nhưng sau này tôi phát hiện ra rằng những hy vọng của Lansdale về những điều có thể thực hiện được với Diệm thực chất được dựa vào lời cam kết rằng Diệm sẽ tiếp tục nghe theo lời khuyên của ông ta về các vấn đề chính trị: cho phép mở rộng hơn các hoạt động chính trị, với một nội các mở rộng và một đảng "đối lập trung thành". Diệm đã không thực hiện cảc việc đó. Sự ảnh hưởng của Lansdale đối với em trai của Ngô Đình Diệm là Ngô Đình Nhu cũng bị giảm sút. Lansdale rời Việt Nam, và rồi Diệm và em trai cũng đã bị ám sát trong một cuộc đảo chính do Mỹ bật đèn xanh, trong đó, thật mỉa mai, vì Lucien Conein, một cựu thành viên thuộc tổ chức CIA của Lansdale lại là người liên lạc giữa những kẻ âm mưu đảo chính và Đại sứ Mỹ, Henry Cabot Lodge, người ủng hộ mạnh mẽ cuộc đảo chính này.

     Lansdale đã tạo được ấn tượng tốt với tôi tại một cuộc hội thảo hồi đầu mùa xuân năm đó, vì ông ta đã chỉ trích việc Mỹ ném bom, lên án sử dụng pháo binh bừa bãi và kêu gọi nỗ lực đấu tranh chính trị với những người Cộng sản. Tôi đã bị cuốn hút bởi những chủ đề này của ông ta trong một bài báo đã được đăng trên tạp chí "Các vấn đề đối ngoại" (Foreign Affairs), tháng mười năm 1964: "Cộng sản có vẻ như đã buông lỏng tư tưởng cách mạng ở Việt Nam, nhưng tư tưởng này sẽ không mất đi khi chúng ta cố tình làm ngơ, chúng ta đánh bom, hay thậm chí là tìm cách che giấu nó"(71). Giờ đây, Lodge sẽ trở lại Việt Nam làm đại sứ, thay cho tướng Taylor và yêu cầu Lansdale đi cùng. Lansdale đã tập hợp một số thành viên của tổ chức cũ của ông ta, trong đó có Concein, người đã họp cùng với Lansdale ở Bộ Ngoại giao.

     Sau khi các công việc khác đã được giải quyết, ngay trước khi việc bổ nhiệm Lansdale được công bố, Bill Colby của CIA nói: "Tôi muốn nói rõ với nhóm này rằng Lansdale sẽ không đi với chúng ta sang Việt Nam vì Lansdale từng làm việc cho CIA một thời gian dài và giờ ông đã nghỉ hưu. Đây không phải là một trong các hoạt động của chúng ta. Lansdale sẽ chọn người từ nhiều ban ngành tham gia cuộc họp ở đây, bao gồm cả một số người của CIA, nhưng đây sẽ là một nhóm hên ngành, và ông ta sẽ phải là đại diện của CIA lên làm lãnh đạo nhóm". Xem xét tới nhóm mà Colby đang nói tới và cách ông ta nói về nó, tôi không hề nghi ngờ là ông ta đang được để mắt tới chức vụ giám đốc CIA (thậm chí tới tận bây giờ).

     Lansdale giới thiệu ngắn gọn về những điều ông ta hy vọng sẽ thực hiện ở Việt Nam. Ông ta sẽ tuyển chọn chủ yếu những người đã làm việc với ông ta trước đây ở Philippines hoặc ở Việt Nam. Cuối cuộc họp, tôi nán lại khi những người khác đã ra về và nói với Lansdale tôi muốn ông ta xem xét cho tôi được đi cùng với đoàn. Tôi đưa cho ông một bản lý lịch ngắn gọn về hoàn cảnh của tôi. Ông ta có vẻ thích thú với thực tế là tôi đã làm việc cho McNamara nhưng lại phê phán (McNamara - ND) việc ném bom và chỉ tin vào các hoạt động quân sự. Tôi nói với ông là tôi không hề có một giấy chứng nhận nào để được chọn vào cái đoàn mà ông ta đang nói tới ngoại trừ là một người tập sự (học việc). Tôi tin tưởng vào kiểu tiến hành công tác chính trị mà họ sẽ thực hiện; vì thế tôi muốn học hỏi kinh nghiệm từ ông và những người khác. Tôi tha thiết được làm công việc đó. Tôi sẵn sàng đi kể cả bị hạ cấp, thậm chí với mức lương thấp nhất, miễn là có thể đủ để trợ cấp cho người vợ (đã ly dị) của tôi.

     Lansdale chăm chú lắng nghe và nói ông ta sẽ xem xét việc này. Lansdale yêu cầu tôi cho danh tính một số người để ông ta có thể hỏi họ về tôi. Tôi bảo ông ta nên nói chuyện với McNaughton và một số người khác. Chúng tôi bắt tay nhau, tôi ra về để chờ đợi câu trả lời. Hành động đó tựa như một vụ bắn thử đường dài mà tôi được ông ta coi như một viên đạn, nhưng tôi hy vọng ông ta chấp nhận tôi. Patricia rất thất vọng khi biết rằng tôi đã tình nguyện đi mà không bàn bạc với cô ấy, nhưng trong tâm tưởng của mình tôi đã quyết tâm đi.

     Sau vài tuần, Lansdale cho gọi tôi và nói ông ta muốn tôi di cùng. Ông bảo tôi tới tập trung ở Alexandria để gặp các thành viên khác của đoàn, tất cả đều là đồng nghiệp cũ của ông. Vì một lý do nào đó, tổ chức quyết định rằng tôi sẽ chuyển từ Bộ Quốc phòng sang Bộ Ngoại giao, giữ nguyên mức lương, với chúc danh là FSR- 1 (Foreign Service Reserve -l - chuyên viên đối ngoại hạng nhất).

     Đúng lúc này, hai đứa con của tôi từ California lại tới Washington thăm tôi với kế hoạch dài ngày. Giữa những buổi thông báo ngắn về tình hình về Việt Nam, làm giấy tờ để chuyển sang Bộ Ngoại giao, làm ảnh, visa, tôi đã phải đưa Robert và Mary đi thăm các đài tưởng niệm lịch sử, hầu hết là vào buổi tối. Tại Đài tưởng niệm của Lincoln tôi bị cuốn hút bởi một đoạn trích từ lễ nhậm chức lần thứ hai của ông được khắc trên bức tường. Nội dung dường như rất tương xứng với tinh thần và mục tiêu của đoàn Lansdale, vì tôi đã hiểu các mục tiêu này, trong cuộc chiến sắp tới mà tôi sẽ đi đầu (và về mặt cá nhân tôi cũng coi đó là một cuộc nội chiến).

     Với sự ác độc bị tận diệt, với tình thương cho tất cả mọi người, với sự khẳng định cái quyền mà Chúa trời ban cho chúng ta nhận biết lẽ phải, để cho chúng ta phân đấu hoàn thành công việc dang dở, để hàn gắn những vết thương của dân tộc, để chăm lo tới bạn, người sẽ phải đi chiến đấu và vì những goá phụ, đứa trẻ mồ côi của bạn, để làm mọi việc có thể mang lại thành công và nâng niu gìn giữ nó và cuối cùng là một nền hoà bình cho chính chúng ta và cho mọi dân tộc.

     Robert, 9 tuổi, phát hiện ra một cái hộp đựng các mảnh giấy ở bên trong đài tưởng niệm cũng có in lại những dòng chữ này, khi chúng tôi đang rời khỏi đó, đi xuống các bậc thang phía trước bức tượng của Lincoln, tôi bảo nó quay lại lấy một mảnh nhỏ để tôi đem sang Việt Nam. Tôi nói với nó là tôi nghĩ rằng người miền Nam Việt Nam có thể bị thuyết phục để hiểu rằng chúng ta là công dân của một nước Mỹ đã được thống nhất thành một khối, lự do và giàu có, mặc dù bản thân chúng ta đã phải trải qua một cuộc nội chiến. Và tư tưởng của Lincoln: "Với sự ác độc bị tận diệt, với tình thương cho tất cả mọi người" sẽ trở nên rất quan trọng với một số người khi biết được tư tưởng đó.

     Tôi đã mang trong hành trang của mình, những câu nói của Lincoln, tới Việt Nam.
Logged

Để gió cuốn đi...
Excocet
Thành viên
*
Bài viết: 617


Thép đã tôi thế đấy


« Trả lời #45 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2007, 07:50:42 pm »

Chú thích:


--------------------------------------------------------------------------------------------------

(71) "Cộng sản có vẻ như đã buông lỏng" - Lansdale, 176.
Logged

Để gió cuốn đi...
Excocet
Thành viên
*
Bài viết: 617


Thép đã tôi thế đấy


« Trả lời #46 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2007, 07:53:53 pm »

Chương 7

Việt Nam: Đoàn của Lansdale


     Trong một bức thư gửi về nước cho những người bạn sau tháng đầu tiên tôi ở Việt Nam, tôi viết:

     "Tới Sài Gòn, sau một năm đọc các điện tín ở Washington, lúc đầu khó có thể vượt qua được cảm giác trước về chuyện không hay liệu ai trong số những cậu bé bán báo, những người đạp xích lô, hay những người báo cháo rong có thể là kẻ thù?

     Các bốt gác bằng bê tông nặng nề rắn chắc, dày 3 feet, chắn ngay ở các lối vào Đại sứ quán. Hàng rào thép gai ngay phía sau các bốt canh và lính quân cảnh có súng ngắn đứng kiểm tra những người ra vào. Trước khi cho một chiếc xe hơi vào cổng họ đưa một cái gương soi dọc theo gầm xe để kiểm tra xem có bom không. Sự có mặt không thích hợp ở mọi nơi của những chiếc súng làm cho thành phố có kiến trúc kiểu Pháp này giống như một đô thị thời chiến. Trên tất cả các cửa đều có dòng chữ: "Tất cả mọi vũ khí phải được để lại trước khi vào". Nhưng không bao lâu sau lời cảnh báo này bị xem thường vì chẳng có điều gì xảy ra, mọi người đều thân thiện và đường phố ngày càng trở nên quen thuộc.

     Tôi cảm thấy rất yêu mến trẻ em Việt Nam. Tôi chưa bao giờ thấy ở bất cứ đâu trên thế giới, trẻ em lại tươi vui, thân thiện và ngộ nghĩnh đến vậy. Chúng làm tôi nhớ lại thời thơ ấu của mình. Một người Mỹ nói: "Thật thú vị, các bạn lo ngại về những người dân đang chống lại người Mỹ; nhưng khi các bạn đi qua những ngôi làng, thấy tình cảm mà bọn trẻ dành cho bạn… thì thật khó có thể tin rằng cha mẹ của chúng có thể căm thù chúng ta khi con của họ lại thân thiện đến thế". Cứ như thế, một đám đông trẻ con nhìn chúng tôi đi tới, đi bộ, đi xe hơi, và đồng thanh hô: "Ok! Ok! Xin chào? Xin chào! Number one". Chúng chạy theo với những nụ hết sức ngộ nghĩnh làm tôi nhớ tới Robert và Mary chạy ra ôm tôi mỗi khi đi làm về, trái tim tôi lại thổn thức.

     Trong các ngôi làng, đám trẻ muốn nắm cổ tay, nhổ lông trên cánh tay bạn (vì chúng chưa từng nhìn thấy những cánh tay rậm lông như thế); nếu bạn muốn tóm chúng, nhấc bổng lên, chúng sẽ lao nhanh thoát khỏi tay bạn, cho tới khi một đứa dũng cảm cho bạn thử làm như thế thì tất cả chúng lại muốn được nhấc lên. "Chào em" (nghĩa là nói lời chào với một đứa trẻ) đem lại những cái nhìn vui sướng, sự tò mò thú vị; "Chào bà" là câu để chào một người đàn bà nhiều tuổi có khuôn mặt như trái táo chín nẫu, nhăn nheo, nụ cười rạng rỡ, môi và răng nhuộm đỏ ở mọi nơi trong làng, ở thủ phủ của một tỉnh, hay ở một xóm bản, bọn trẻ cứ vây lấy bạn như một bầy chim; khi bạn đi bộ, nói chuyện với một ai đó, những bàn tay nhỏ luồn vào người bạn từ phía sau, có đứa còn vỗ vào mông bạn một cách dạn dĩ. Chúng dường như rất vui vì sự có mặt của bạn, vì sự thân thiện của bạn - thật nồng nhiệt. Tôi yêu chúng và không muốn rời xa chúng.

     Mười hai thành viên trong phái đoàn cấp cao của tướng E.Lansdale đều đã từng làm việc với ông ta trước đây. Họ được nhiều cơ quan khác nhau tài trợ, xuất phát điểm của họ đều từ CIA, USIA, AID, một người từ Ban Tham mưu lục quân. Một số hiện giờ đã nghỉ hưu, một số là các nhân vật độc lập. Tôi được Bộ Ngoại giao tài trợ và trả lương.

     Có sự khác biệt rất lớn giữa cấp hàm cao, tiền lương và vị trí thấp của tôi trong đoàn của Lansdale. Không phải bất cứ ai trong đoàn, thậm chí cả Lansdale đều đã hiểu rõ về trách nhiệm của mình. Nhưng ngược lại mọi người đều có kinh nghiệm khi làm việc với Lansdale trong một số tình huống chúng tôi đang trải qua, thực tế là tôi đã được nhận vào như một người tập sự cho Lansdale, để học cách làm thế nào để điều hành cuộc chiến tranh chính trị như là ông ta quan niệm về nó. Đó là lý do tại sao ông ta lại nhận tôi vào làm công việc này, trong khi tôi chỉ biết rất ít về ông ta trước đó, và ông ta chưa bao giờ nói với tôi về công việc này.

     Nhưng khi tôi nhận ra Lansdale cảm thấy cay đắng như thế nào đối với cấp trên trước đây của ông ta là McNamara, người không bao giờ đánh giá cao quan điểm của ông và cuối cùng đã buộc ông phải nghỉ hưu, thì tôi nghi ngờ rằng lý do chính mà Lansdale quyết định nhận tôi, một người còn trẻ, chưa có kinh nghiệm, vì ông ta thích thú với suy nghĩ là đã làm được cái việc thu phục được sự tận tâm của một trợ lý cao cấp của McNamara.

     Đã vài lần tôi nghe Lansdale kể về một trong những cuộc gặp đầu tiên của ông với McNamara, có thể lần đầu tiên vào năm 1961. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng muốn có một báo cáo vắn tắt về tình hình ở miền Nam Việt Nam, và Lansdale, người trợ lý năng động về các chiến dịch đặc biệt, đã tới và cho ông ta một bài học. Lansdale đem theo một túi to dựng các vũ khí, quần áo và dép cao su thu được của Việt Cộng mà ông lấy từ một văn phòng ở Lầu Năm Góc. Ông ta đổ chúng lên bàn của Bộ trưởng, mặc dù tôi đề nghị anh ta sắp xếp cẩn thận để khỏi làm hỏng mặt bàn. Điều đáng nhấn mạnh là, ông kể, các vũ khí này chưa được lau sạch; một số vẫn còn dính bùn, tất cả đều là tự tạo, trừ một khẩu súng trường cũ của Pháp. Các quả lựu đạn và mìn dược chế tạo rất đơn giản, cũng nẹp vào những miếng gỗ có đóng đinh nhô lên, để xuyên thủng những đôi ủng đi trên các tuyến đường mòn trong rừng. McNamara không hài lòng khi thấy những vũ khí bẩn thỉu này trên chiếc bàn sạch bóng của mình. Ông hỏi:

     "Những cái gì thế này?"

     Lansdale nói: "Thưa ngài Bộ trưởng, tôi nghĩ là ngài nên xem kỹ kẻ thù mà chúng ta đang đối mặt ở miền Nam Việt Nam được trang bị như thế nào. Ngài cũng biết, đội quân mà chúng ta đang trợ giúp và trả lương đều có được những trang thiết bị mới nhất của Mỹ. Họ có súng ống, quân phục của Mỹ; có nhiều pháo; thậm chí có cả xe tăng và máy bay. Trong khi đối phương của họ không có những thứ như thế. Họ chỉ có những vũ khí cũ của Pháp đã thu giữ được từ phía chúng ta; họ tự chế tạo pháo cối lựu đạn và mìn ở trong rừng. Họ mặc những bộ đồ đen và đi những đôi dép cao su được làm từ lốp xe. Họ đang triển khai hoạt động ngoài tầm kiểm soát của chúng ta".

     Thật là vô ích khi McNamara không bao giờ hiểu được.

      Điều Lansdale đang cố gắng nói với McNamara, rằng đây là một cuộc xung đột về chính trị, trong đó công nghệ và khối lượng áp đảo của hoả lực không quan trọng bằng con người và cái điều mà cả hai phía nghĩ họ đang chiến đấu cho ai, và quan tâm tới cuộc chiến tới mức nào. Dù sao, chiến trường nhỏ bé này ngay từ đầu đã không gây ấn tượng tốt cho ngài Bộ trưởng. McNamara bảo Lansdale bỏ các thứ ra khỏi bàn và buổi gặp kết thúc.
Logged

Để gió cuốn đi...
Excocet
Thành viên
*
Bài viết: 617


Thép đã tôi thế đấy


« Trả lời #47 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2007, 07:54:38 pm »

     Những ngày đầu tiên quay trở lại Sài Gòn của Lansdale, các quan chức cao cấp Việt Nam, những người đã tiếp xúc với tướng Lansdale, đều nhìn ông một cách thận trọng, có phần sợ hãi vì ông nổi danh là một chuyên gia về lật đổ. Họ cho rằng ông tới Việt Nam để chọn ra một người trong số họ làm người kế nhiệm Diệm. Với tất cả những gì tôi biết, thì họ suy nghĩ hoàn toàn đúng. Tôi không mấy để ý đến kế hoạch bí mật của Lansdale đối với Tổng thống là gì hoặc vai trò thực sự của ông ta như thế nào. Tôi đã nghe những gì ông ta nói với đoàn, tuy không phải là nhiều, nhưng tôi không cho rằng ông ta đang nói mọi thứ ông biết hoặc nghĩ, đặc biệt là với tôi. Trước đây, tôi thực sự chưa bao giờ liên quan đến một hoạt động bí mật nào. Có vài người trong số họ là người của CIA ở trong đoàn chúng tôi, tôi khẳng định một cách đúng đắn là họ đã sống trong một môi trường bí mật hơn cả tôi đã từng sống trước đây. Nhưng tôi đã ở cùng những người thường hoạt động bí mật một thời gian khá lâu đủ để không tỏ ra là người quá tò mò về các nhiệm vụ nội bộ của đoàn. Tôi im lặng, lắng nghe và chờ đợi để nắm bắt mọi việc mà Lansdale sẽ chọn để nói với tôi.

     Tuy nhiên, sức mạnh bí ẩn của Lansdale trong đám người Việt Nam không phải là điều mà trưởng bộ phận CIA và viên sĩ quan chính trị muốn chứng tỏ ra. Vì điều này đe doạ tới uy tín và ảnh hưởng của họ, họ muốn ngài đại sứ đồng ý rằng Lansdale sẽ không lấn sân sang lĩnh vực chính trị của họ. Đó là việc không dành cho ông ta (Lansdale) có nhiều cơ hội trong các cuộc tiếp xúc ban đầu với các quan chức và những người có trách nhiệm. Tôi ngạc nhiên không hiểu vì sao Lansdale lại nhanh chóng trở nên khôn ngoan và mưu lược hơn như vậy. Tôi bắt đầu nghi ngờ những điều mà một số người biết Lansdale từ lâu đã khẳng định với tôi. Một điều không đúng là Lansdale không muốn có sự căng thẳng trong nội bộ nhưng ông thực sự không giỏi về việc này.

     Quay trở lại Việt Nam năm 1954 và trước đó là ở Philippines, là một người điều hành độc lập, mặc bộ quân phục của không quân nhưng lại thực thi những nhiệm vụ ly kỳ, Lansdale đã tự khẳng định mình, sự thành công của ông cho thấy thực tế ông đã nhận được sự ủng hộ của tổ chức. Giờ đây, ông không có được sự ủng hộ đó nữa. Ông không có trụ sở, và đặc biệt là không có kinh phí đi theo. Trong những ngày đầu, Lansdale phải chọn cách đi vòng vì ông cần có sự tài trợ với tư cách cá nhân của người đứng đầu Cục Tình báo trung ương, Allen Dulles; anh trai của Allen Dulles, là John Foster Dulles, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao; thậm chí là cả các cấp trên của họ ở Nhà Trắng là Eisenhower và Nixon (những người, không giống với hầu hết các phó Tổng thống khác, luôn tích cực tham gia vào các hoạt động bí mật, đặc biệt ở Đông Dương và sau này là Cuba). Giờ đây, ngay trước khi chúng tôi rời Washington, một điều hết sức rõ ràng là Lyndon Johnson đã chỉ định Lansdale để chứng tỏ rằng ông ta đang cố gắng làm mọi việc chứ không chỉ dựa vào lực lượng quân sự. Lansdale đề nghị một cách mạnh mẽ rằng không nên thông báo việc bổ nhiệm ông ta để ông ta và đoàn có thể lặng lẽ vào Sài Gòn, tái thiết các cuộc tiếp xúc và thực hiện vai trò của mình mà không gây nhiều sự chú ý. Nhưng Lyndon Johnson đã tổ chức ngay một cuộc họp báo thông báo về việc bổ nhiệm Lansdale. Trong vòng mấy ngày dường như đã rõ ràng là việc bổ nhiệm này đã kết thúc sự quan tâm của Tổng thống đối với nhiệm vụ của đoàn đi; ông ta đã nhanh chóng hoàn tất sự việc này.

     Đại sứ Lodge giao cho Lansdale một trọng trách đặc biệt liên quan tới lĩnh vực bình định mà tướng Westmoreland không quan tâm tới và vẫn còn để trống sau cái chết của Diệm, Nhu và sự sụp đổ của chương trình ấp chiến lược. Lodge đã nhấn mạnh rằng chính phủ Nam Việt Nam cần chạy đua với Việt Cộng trong các chiến dịch tuyên truyền và Cộng sản không được độc quyền sử dụng từ "cách mạng" cho riêng mình. Chúng ta cũng phải tiến hành cách mạng, với đặc điểm, cách thức riêng của chúng ta, tốt hơn cách thức của Cộng sản nhưng tiến bộ hơn, dân chủ hơn và triển vọng thực tế hơn. Các quan chức người Việt đã làm việc với chúng ta, phần lớn là những cộng tác viên người Pháp cũ, vẫn sử dụng thuật ngữ tiếng Pháp là "bình định". Lodge muốn thay thế từ đó, có nguồn gốc thực dân bằng cụm từ "phát triển cách mạng". Điều này chưa bao giờ xuất hiện trong những người Việt Nam "của chúng ta", một phần vì Cộng sản đã độc quyền sử dụng từ gốc "cách mạng" và họ cũng đồng nghĩa với từ gốc đó. Các địa chủ có ruộng đất mà chế độ Sài Gòn là đại diện đã coi bất cứ một hình thức cách mạng nào đều là sự phản kháng mạnh mẽ và không muốn công bố điều này một tý nào, thậm chí như là một khẩu hiện sáo rỗng. Giải pháp đơn giản là đặt cho một bộ quản lý và chương trình này một cái tên tiếng Việt nghĩa là "Bình định Nông thôn", nhưng được dịch cho người Mỹ là "Phát triển Cách mạng".

     Bộ trưởng Bộ Phát triển nông thôn, mà Lansdale là người cố vấn là một viên tướng của Quân đội Việt Nam cộng hoà, tên là Thắng, người có thân hình cao lớn. Trong bộ quân phục màu xanh ô liu của lính Mỹ, trông anh ta giống như một người Mỹ. Anh ta còn hài hước kể rằng trên đường đi có một cậu bé tiến lại chỗ anh ta và chìa tay ra và nói: "Xin chào, ông thật tuyệt, cho tôi điếu thuốc đi!". Thắng kể là anh ta đã mắng thằng bé một trận vì tội đi xin, và thằng bé nhìn anh ta rất ngạc nhiên và nói: "Ông nói được tiếng Việt Nam à?". Tướng Thắng còn nói tiếng Anh rất tốt vì thế anh ta đủ khả năng để làm quen với người Mỹ và chiếm được lòng tin của họ. Người ta nhận xét anh ta là con người thông minh, có nghị lực và Lansdale đã bắt đầu có chút hy vọng về Thắng.

     Đỉnh cao của những hy vọng đó đã đến không đầy một năm sau, khi Thắng làm Bộ trưởng Bộ Nội vụ và chịu trách nhiệm tổ chức cuộc bầu cử Hội đồng lập pháp (Quốc hội - ND), một sự nhân nhượng đối với phong trào đấu tranh của Phật tử vào mùa xuân năm đó. Kể từ khi Quốc hội không có quyền gì khác ngoài việc thảo ra một bản hiến pháp, các tướng lĩnh đã không mấy quan tâm tới nó nữa, và đã có một cơ hội thực sự, cơ hội này khá trung thực và tự do (trừ việc bác bỏ sự tham gia của Mặt trận dân tộc giải phóng hoặc các đảng phái đối lập phải có các cuộc thương lượng với NLF). Lansdale phấn khởi với ý nghĩ sẽ cung cấp cho những người Việt Nam kinh nghiệm ban đầu của họ về các cuộc bầu cử tự do. Kể từ khi đến Việt Nam, Lansdale đã trông đợi một sự thay đổi từ chế độ cai trị của quân sự nhìn bằng một chế độ dân sự, và đã có ý tưởng về một cuộc bầu cử được dân chúng ủng hộ. Nhiều người Mỹ cho rằng Lansdale quả là khờ dại, nhưng chúng tôi tin rằng cuộc bầu cử đó sẽ không làm cho người nông dân? Một người bạn Việt Nam, Trần Ngọc Châu nói với tôi: "Hãy chỉ cho người dân cách để thoát khỏi một quận trưởng tồi tệ hơn là để anh ta bị Việt Cộng giết chết, và họ sẽ nhanh chóng làm theo".

     Tôi thay mặt Lansdale dự cuộc họp của Hội đồng đặc nhiệm (Mission Council), được tổ chức hàng tuần do đại sứ Lodge chủ trì. Kể từ lúc Phó đại sứ W. Porter bắt đầu cuộc họp với những nhận xét về Thắng, Lansdale và những cuộc bầu cử sắp tới, tôi ghi chép cẩn thận cho sếp. Porter nói rằng Thắng đã có những đánh giá rất đáng chú ý cho Lansdale trong thời gian qua. Thắng "luôn quan tâm tới việc tiến hành cuộc bầu cử một cách suôn sẻ và trung thực nhất. Tôi cho rằng Lansdale được yêu cầu hỏi Thắng xem làm thế nào để chúng ta có thể giúp anh ta được tốt nhất… Chúng ta sẽ bắt tay vào tiến hành để đáp lại sự chỉ trích đối với cuộc bầu cử này - các phóng viên đang theo dõi rất sát và họ sẵn sàng lên tiếng phê phán - chúng ta muốn đạt kết quả thật tốt".
Logged

Để gió cuốn đi...
Excocet
Thành viên
*
Bài viết: 617


Thép đã tôi thế đấy


« Trả lời #48 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2007, 07:55:33 pm »

     Lodge, từng là ứng cử viên phó Tổng thống của Nixon năm 1960, đã đáp lại lời khai mạc của Porter với sự dè dặt, rồi tuôn ra một lời bình luận dài hoàn toàn khác biệt với Thắng, Porter và Lansdale. Lodge nói: "Khi ngài nói về cuộc bầu cử trung thực, ngài có thể muốn nói tới hai điều: 1- thiếu sự răn đe - điều này chắc chắn chúng ta có; 2- sự lo ngại trong một số bộ phận - không phải vậy, tôi nghĩ, ở các cấp cao nhất (như Lyndon Johnson) - rằng chúng ta sẽ không đủ kiên nhẫn đối với những người luôn muốn làm hỏng mọi thứ". Điều cuối cùng này đề cập tới những mối quan tâm được nêu ra trong một bức điện của Bộ Ngoại giao gửi tới vào buổi sáng hôm đó về triển vọng tình hình mà những phật tử - lực lượng chủ chốt yêu cầu tổ chức bầu cử và nghi ngờ về những đòi hỏi hoà bình cho dù có phải đàm phán với NLF - sẽ bị gạt khỏi các danh sách các ứng cử viên. Lodge nói điều này nhắc ông ta nhớ lại một bài hát của Anh trong Chiến tranh thế giới II: "Hãy đừng bỏ mặc chúng tôi cho người Đức".

     Lodge tiếp tục với những câu nói lôi cuốn mọi người: "Hiện nay, ngài có một quí ông trong Nhà Trắng (Lyndon Johnson) người đã dành phần lớn cuộc đời cho các cuộc bầu cử gian lận.

     Tôi cũng dành phần lớn cuộc đời mình cho các cuộc bầu cử gian lận Tôi đã dành cả 9 tháng để tổ chức gian lận đại hội của Đảng Cộng hoà để chọn Ike làm ứng cử viên hơn là chọn Bob Taft. Nếu điều đó là tồi tệ…

     "Nixon và tôi lẽ ra đã trúng cử ở Chicago năm 1960 nếu tại đó có một sự trung thực trong kiểm phiếu. Bộ máy bầu cử của Đảng Cộng hoà ở đó rất lười biếng; họ đã không công bố số phiếu và cũng không cử ai theo dõi cuộc bầu cử. Tuy nhiên tôi không đổ lỗi cho những người Dân chủ về việc này, mà lên án những người theo Đảng Cộng hoà. Chỉ có một điều hạn chế là làm thế nào có thể tỏ ra ngờ nghệch và giả tạo để chúng ta có thể thoát khỏi nơi đây". Lodge quay sang Porter và hỏi: "Điều đó có thoả mãn với câu hỏi của ngài không?"

     Porter có vẻ hơi sửng sốt, nói: "Tôi chỉ nghĩ tướng Lansdale nên giữ quan hệ gần gũi với tướng Thắng trong vấn đề bầu cử".

     Lodge đáp lại:"Đúng thế, tôi muốn tướng Lansdale giữ mối quan hệ gần gũi với Thắng về vấn đề bầu cử và cũng muốn ông ta giữ mối quan hệ gần gũi với Thắng cả về vấn đề bình định nữa, điều mà tôi nghĩ là quan trọng hơn nhiều". Sau đó, ông ta tuyên bố: "Hãy nói với giới báo chí rằng họ không nên áp dụng các chuẩn mực cao hơn tại Việt Nam so với chuẩn mực (về bầu cử - ND) họ thực hiện tại Mỹ". Nhưng trong một bức điện trả lời về mối quan tâm của Bộ Ngoại giao cùng sáng hôm đó, ngài Đại sứ đã nói hơi khác một chút: "Các bước đầu tiên của chúng ta ở Sài Gòn và Washington là phải làm rõ cho báo chí và Quốc hội biết rằng không nên phán xét Việt Nam theo các chuẩn mực của Mỹ".

     Báo cáo của tôi đề cập tới sự ủng hộ, chúng tôi có thể trông chờ từ Lodge cho những nguyện vọng hiện tại của mình. Nhưng Lansdale đã nhìn ra một cách có thể làm thay đổi thái độ của ngài Đại sứ. Ngay sau việc này chính Nixon đã ghé qua Sài Gòn trong chuyện thăm tới Viễn Đông. Ông ta ở với Lodge và có kế hoạch thăm đoàn chúng tôi vào một buổi chiều. Nixon ca ngợi Lansdale, người mà ông ta đã biết từ những ngày làm phó Tổng thống những năm 50. Nếu chúng ta có thể thuyết phục để Nixon nhận thấy tầm quan trọng của các cuộc bầu cử tự do trong bối cảnh này, Lansdale hy vọng điều đó sẽ ảnh hưởng lớn tới người đàn ông đã cùng chung với ông ta lá phiếu ứng cử viên phó Tổng thống năm 1960.

     Thời khắc khai mạc chuyện thăm đó thường đeo đẳng tôi hơn cả thập kỷ sau, trong suốt 3 cuộc bầu cử ở miền Nam Việt Nam và 2 cuộc bầu cử ở Mỹ: Nixon bước lên căn phòng lớn ở tầng hai trong ngôi biệt thự của Lansdale, nơi các thành viên trong đoàn tập trung thành hình vòng cung để chào đón ông.

     Trước đây, tôi chưa hề nhìn thấy ông ta và cũng không bao giờ gặp lại. Ông ta trong bộ trang phục nhầu nhĩ sau một chuyến đi dài. Nhưng trong cuộc nói chuyện dài sau đó, ông rất nhanh nhẹn và lưu loát. Ông đi vòng quanh bắt tay từng người chúng tôi. Sau đó ông gặp Lansdale, đang đứng trước 2 chiếc ghế bành đặt cạnh nhau, và nói: "Này Lansdale, nhiệm vụ của anh là gì?"

     Bắt đầu ngay công việc, Lansdale nói: "Thưa ngài Phó Tổng thống, chúng tôi muốn giúp tướng Thắng làm cho cuộc bầu cử lần này trở nên trung thực nhất so với các cuộc bầu cử từng được tổ chức tại Việt Nam".

     "Chắc chắn rồi, trung thực, trung thực, đúng là như thế" - Nixon ngồi xuống cái ghế cạnh Lansdale - "Với điều kiện anh phải giành thắng lợi! " Bằng lời nói cuối cùng ông đã thực hiện luôn 3 cử chỉ: nháy mắt, hất khuỷu tay mạnh vào cánh tay Lansdale và vỗ nhẹ vào đầu gối mình. Các đồng nghiệp của tôi như va vào đá.
Logged

Để gió cuốn đi...
Excocet
Thành viên
*
Bài viết: 617


Thép đã tôi thế đấy


« Trả lời #49 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2007, 07:58:16 pm »

Chương 8

Các chuyến đi cùng Vann



     Trước khi tới Sài Gòn, tôi lên một danh sách tên những người tôi sẽ gặp để hỏi chuyện. Trong vòng 1 hoặc 2 tuần sau khi đến đó, tôi đã gặp tất cả mọi người và bắt đầu một quá trình học hỏi từng người, điều không bao giờ thừa với tôi trong thời gian ở Việt Nam. Họ có ý muốn chia sẻ một quan điểm rất chung - có vẻ hài hoà với quan điểm của Lansdale - dường như các quan điểm đó nhanh chóng làm cho tôi thêm tin tưởng trong các chuyến đi và các chuyển quan sát độc lập. Những người này còn lâu mới có thể giải quyết được các vấn đề khác biệt. Không như người Mỹ khác, họ hầu như nói được tiếng Việt Nam, và họ có những người bạn Việt Nam rất thân. Họ trở nên yêu mến đất nước và con người Việt Nam, họ muốn tin và đã tin rằng sự có mặt của chúng ta ở đó là rất có ích cho bản thân họ. Tôi bắt đầu nghĩ về họ như - những "gã tốt bụng". Trong bức thư viết cho những người bạn tôi đã trích một đoạn miêu tả những đặc nng và các vấn đề chung mà họ đã có ý.

     Trong vòng một tuần, tôi biết nhiều người Mỹ, những người có "dính líu" vào Việt Nam. Đó là những người cuồng tín về chính trị, những người hoạt động chính trị không theo khuôn mẫu nào, những tay chơi tự do, những người nói thành thạo tiếng Việt Nam, từng ở Việt Nam lâu, đã từng ra đi hoặc đã quay trở lại, hoặc đã tìm được một nơi cho riêng họ, đều ở lại Việt Nam. Họ hầu như không có lòng tin hoặc hết sức dè dặt với các tổ chức của họ vì họ cẩn thận, quá ngạo mạn và có thái độ coi thường đa số những người Mỹ không có gì dính líu tới và không có nhiều tham vọng ở Việt Nam, những người mong muốn có những chức vụ cao (và những người không nói được tiếng Việt Nam, không biết gì về những người nông dân và không có người Việt Nam thân quen nào). Càng ngày tôi càng nghi ngờ rằng những người Mỹ này đều rất quan trọng: rằng chúng ta đơn giản không thể giành chiến thắng nếu không có họ.

     Người đứng đầu trong danh sách đó là John Paul Vann.

     David Halberstam đã kể với tôi về ông ta ngay trước khi tôi rời Washington và tôi đã đọc về ông ta trong cuốn sách của David có tên " The Making of a Quagmire (72). Halberstam, cũng như các nhà báo khác mà tôi có dịp gặp gỡ, đánh giá cao tính trung thực, ngay thẳng và can đảm của Vann trong các năm 1962-1963, khi ông là một trung tá trong quân đội, cố vấn cao cấp cho Sư đoàn 7 Quân đội Việt Nam cộng hoà ở vùng châu thổ. Hiện tại ông đã nghỉ hưu, ông quay trở lại Việt Nam làm cố vấn dân sự cho Cơ quan Phát triển quốc tế Mỹ (USAID), nơi rất dễ kích thích tính ngay thẳng nổi tiếng của ông, nơi đã giữ ông trong 10 tháng làm đại diện ở Hậu Nghĩa, một tỉnh nhỏ bé, bụi bặm và hoàn toàn không an toàn ở phía tây Sài Gòn, có vai trò chủ yếu như một tuyến đường cao tốc cho Việt Cộng di chuyển ra khỏi vùng đồng bằng lân cận.

     Sau một cú điện thoại Vann tới thăm tôi tại căn nhà ở Sài Gòn, trong một toà nhà cao, có lắp các máy điều hoà nhiệt độ, cùng với các quan chức Mỹ. Để đảm bảo an toàn, có một lính bảo vệ ở cửa ra vào và một chiếc bàn để các khách tới thăm ký tên vào đó. Điều đầu tiên Vann nói với tôi là: "Anh phải ra khỏi đây phải có khả năng nói chuyện với tất cả những loại người Việt Nam vì họ sẽ không vào đây, qua chiếc bàn đó". Chúng tôi nói chuyện trong vài giờ về chương trình của chúng tôi ở Việt Nam và lý do tại sao chúng không được thực hiện, điều gì có thể được thực hiện và những triển vọng của chúng tôi là gì. Tôi sẽ nêu một câu hỏi và câu trả lời, sẽ tới chính xác là một chuỗi các thống kê có liên quan - thực vậy, trái ngược với các thống kê chính thức giả mạo - và các quan điểm thẳng thắn nghe có vẻ am hiểu, đáng tin cậy nhưng chẳng đọng lại điều gì. Sau một năm đọc các điện tín và các bản đánh giá, việc nói chuyện với Vann giống như đang được thở thứ ôxy trong lành. Tôi nêu ra rất nhiều câu hỏi và ghi chép thật nhanh. Vann mời tôi tới thăm Hậu Nghĩa(73) Và tôi đã sắp xếp công việc để đi ngay.

     Trưa chủ nhật ngày 17-10-1965, Vann lấy xe đón tôi và đưa tôi tới Bầu Trai, thủ phủ của tỉnh Hậu Nghĩa. Ông ta đang lái chiếc xe trinh sát bọc sắt, một loại xe thông dụng có 4 bánh đang được sử dụng nhiều ở các tỉnh. Đoàn công tác của Mỹ có cả một đội xe như thế và tôi được giao một chiếc. Ba ngày tiếp theo Vann đa tôi đi lần lượt hết 4 huyện của Hậu Nghĩa, thăm các làng mạc, các huyện thị, các nơi ở, làm việc của cố vấn và một số trại tái định cư của dân tị nạn. Chúng tôi đi khắp các con đường trong tỉnh mà không hề bị ngăn chặn.

     Gần như không ai trong đại sứ quán dám thường xuyên đi xe hơi một mình ra các vùng ngoại ô của Sài Gòn; mọi người thường đi bằng máy bay lên thẳng hoặc đôi khi trong một đoàn xe có người hộ tống, đặc biệt là một nơi như Hậu Nghĩa. Tôi được biết Vann đã lái xe tới những nơi mà chưa một ai dám tới.

     Tuy nhiên ông ta sẽ không làm việc này khi chưa thu thập được các thông tin về những gì đang ở phía trước và phải rất chú ý tới các dấu hiệu nguy hiểm của vùng đất này. Như một đồng nghiệp của ông nói với tôi: "John không hề mạo hiểm, ông ấy sẽ không làm việc đó nếu đã có cảnh báo những con đường đó có thể có Việt Cộng".

     Vann và Doug Ramsey, trợ lý của ông, đã giữ một tấm bản đồ cập nhật trong văn phòng để xem tình trạng mới nhất của các đoạn đường, đánh dấn bằng bút chì như "có thể qua - không gặp nguy hiểm"; có thể qua nhưng "hơi nguy hiểm", "vừa phải" hoặc "vô cùng nguy hiểm", hoặc không thể đi qua. Trên các đoạn đường có đánh dấu "mức độ nguy hiểm vừa phải". Trên các đoạn đường "vô cùng nguy hiểm", ông ta lái xe rất nhanh 55 đến 70 dặm một giờ, với một tay đặt trên một khẩu súng AR-15 (súng trường tự động tiền thân của loại súng M-16) hướng ra phía cửa xe, một băng đạn phụ đeo trên vai, lựu đạn quấn quanh thắt lưng. Một trong những nhận xét của Vann là nhìn chung những nguy hiểm trên các con đường không cao như người ta thường nghĩ. Nhưng thói quen của ông ta trong những lúc như thế này, chứng tỏ sự sáng suốt và thận trọng, cho thấy đôi khi những nguy hiểm cũng khá cao. (Khi tôi hỏi, Vann chỉ nói dây chính là nơi làm cho mình phải "thận trọng hơn").

     Sáu tuần tiếp theo chúng tôi lái xe tới các thủ phủ tỉnh thuộc Vùng III chiến thuật (11 tỉnh bao gồm cả Sài Gòn), trong đó có một số tỉnh đã hơn một năm nay vẫn chưa tới thăm được vì lý do đường sá. Tôi lắng nghe, theo dõi những điều ông ta nói với tôi và làm theo những chỉ dẫn khi tôi đặt khẩu súng, mà ông ta cho tôi mượn, lên cửa xe để mở, ngón tay đặt lên cò súng, khi ôm khẩu súng vào lòng, có lúc lại đặt lên sàn ô tô và kéo cửa xuống để tránh bụi.

     Dưới đây là những ghi chép của tôi về những đánh giá độ an toàn trên đường đi của Vann (các chi tiết và trích đoạn trong một báo cáo, sau này tôi đã viết cho tướng Landsdale):

     "Các con đường nhìn chung đã được dọn sạch mìn vào khoảng 10 hoặc 11 giờ sáng; Việt Cộng hoặc các đơn vị dọn đường của lực lượng dân vệ địa phương đã phát hiện ra mìn". Nhưng lúc 3 giờ chiều ngày hôm đó, một quả mìn nổ đã làm chết 5 dân vệ và làm bị thương 7 người khác trên một đoạn đường chúng tôi đã lái xe qua lúc 11 giờ sáng. Những quả mìn này được điều khiển nổ bằng điện vì thế rất khó cho những Việt Cộng ở cách xa đó hàng trăm mét có thể điều khiển cho nổ chính xác vào một chiếc xe đang chạy nhanh. Việt Cộng muốn chờ đánh cả đoàn xe hơn, để họ có cơ hội tốt nhất phá được một chiếc xe. Một người đưa tin gần đây đã dẫn Vann tới chỗ một dãy 20 viên đạn đại bác 105 ly - của Mỹ sản xuất, được mua hoặc lấy trộm của Quân đội Việt Nam cộng hoà - được điều khiển bằng một dây điện đơn. Một ngày nào đó họ có thể thực hiện theo cách đó để làm nổ một chiếc xe đang chạy nhanh - giống như Ramsey hoặc tôi - là đánh mìn ngay trước mũi xe của chúng tôi. Ông sẽ an toàn nhất trong một chiếc xe được bỏ mui khi lái thật nhanh vào các thời điểm không cố định và vào ban ngày".
Logged

Để gió cuốn đi...
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM