Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:49:54 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Những bí mật về chiến tranh Việt Nam  (Đọc 115809 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Excocet
Thành viên
*
Bài viết: 617


Thép đã tôi thế đấy


« Trả lời #60 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2007, 08:12:05 pm »

     Trước sự ủng hộ mạnh mẽ của người Mỹ, Kỳ quyết định không cần tới tướng Nguyễn Chánh Thi, kẻ cạnh tranh lớn nhất của ông ta, và có thể nói là người chỉ huy quân sự giỏi nhất trong quân đội Việt Nam cộng hoà. Mặc dù cả Kỳ và Thi đều theo đạo Phật, Thi chịu trách nhiệm ở Quân đoàn 1 gần Đà Nẵng, đã có mối quan hệ gần gũi hơn với những người theo đạo Phật ở phía bắc. Khi Kỳ vận động ông ta, Thi đã từ chối đi và củng cố lại nhóm theo đạo Phật. Họ coi thường chính quyền ở Sài Gòn và sát nhập các lực lượng với Thi, gây áp lực nhằm thay thế chính quyền Kỳ bằng các cuộc bầu cử quốc gia.

     Lúc này, Lodge và MACV đã có kế hoạch đưa quân lính thuỷ đánh bộ người Việt Nam tới Đà Nẵng cùng với các loại xe tăng và sự hỗ trợ của không quân để dập tắt cuộc nổi dậy. Trong khi đó, các thầy tu (chủ yếu là phụ nữ và trẻ em tham gia) đã lập lên các bàn thờ Phật trên đường phố và ngồi cạnh đó. Các xe tăng của Sư đoàn 1 Quân đội Việt Nam cộng hoà đóng quân ở Quân đoàn 1 đã tới chỗ các bàn thờ và dừng lại. Những chiếc xe tăng này sẽ không đè qua các bàn thờ. Điều đó chứng tỏ rằng lính lái xe tăng đã sẵn sàng tham gia vào cuộc nổi dậy của những người theo đạo Phật. Nhưng ngày 7-4, ngày tôi đang báo cáo trước Hội đồng đặc nhiệm, thì những chiếc xe tăng do Mỹ chuyển từ một vùng khác tới đã cán qua các bàn thờ. Tất cả những người biểu tình gồm cả các thầy tu của Phật giáo đều bị bắt. Nhiều người theo đạo Phật, giờ đã vào rừng để tham gia cùng Việt Cộng, trong khi nhiều người khác bị bắt và bị tra tấn.

     Tôi thấy những sự kiện này đã có tác động đối với Châu, người bạn của tôi. Với tôi lúc đó dường như Châu rõ ràng đã mất hết hy vọng rằng GVN có thể được cải tổ. Hy vọng của Châu tan vỡ niềm tin của riêng tôi cũng bị giáng một đòn chí tử. Nhiều bạn đồng nghiệp thân thiết nhất của tôi và tôi vẫn muốn tin vào sự hợp lý của nỗ lực này chỉ vì biết được một số ít người Việt Nam như Châu, người đã có lòng tin vào những nỗ lực chung của chúng ta. Từ đó tôi tin rằng nỗ lực của chúng ta chỉ là chiếu lệ.

     Điều chúng ta có thể hy vọng nhất là giảm thiểu những hành động tàn bạo nhất của nỗ lực chiến tranh. Chúng ta tập trung cố gắng chấm dứt việc ném bom, nã pháo bừa bãi và tiếp tục đưa ra những lời khuyên thích hợp tuy nhiên không hy vọng nhiều là người ta sẽ nghe theo lời khuyên đó hoặc lời khuyên đó sẽ làm mọi thứ hoàn toàn khác trước.

     Sau mùa xuân năm 1966, trong cuộc nổi dậy của người theo đạo Phật, tôi đã lái xe đi dọc con đường giữa Đà Nẵng và Hội An ở Quân đoàn 1, con đường đã bị chặn lại hoặc bị chia cắt cứ nửa dặm một - vì có các đường hào chạy ngang qua đường làm chúng tôi phải lái xe chạy vòng hoặc chạy cắt qua các hàng rào thép gai - không phải do Việt Cộng mà là do các đơn vị lính của Quân đội Việt Nam cộng hoà, những người đã phản đối chế độ của tướng Kỳ ở Sài Gòn. Kết quả là cả hai bên trong cuộc nội chiến này đều được trả lương đều đặn bằng ngân sách của Mỹ.

     Dọc tuyến đường là một dãy các công sự bị bỏ hoang, các công trình xây dựng đa dạng đã có từ những thời kỳ khác nhau theo thứ tự thời gian lùi dần. Có các tiền đồn của PF được xây dựng mới đây. Nếu có tiền đồn nào, chúng ta lại trả lương cho dân quân địa phương và cung cấp xi măng để họ xây dựng.

     Nhưng về cơ bản đây toàn là những công sự bằng bùn, nhỏ và sơ sài, khó có thể bảo vệ được các làng xã. Các công sự này mới bị bỏ gần đây do cuộc nổi dậy bất bạo động của dân địa phương chống lại chính quyền Sài Gòn, đang nuôi quân bằng sự viện trợ của Mỹ. Các đồn như thế tôi đã thấy ở khắp Việt Nam. Nhưng bên cạnh mỗi đồn là một hầm súng máy, được xây dựng tốt hơn bằng bê tông, một hầm hình trụ có các cửa sổ nhỏ.

     Người phiên dịch đi cùng tôi là một trung uý trẻ người Việt Nam giải thích cái này do người Pháp xây dựng từ thời chống Pháp. Tôi nhận thấy trông nó giống như một trong những hầm súng máy nhỏ hơn mà tôi đã nhìn thấy trong các bức tranh của Maginot Line người Pháp ngay từ những ngày đầu xâm lược Pháp của người Đức. Chúng tôi lái xe qua mấy cái hầm này. Chủ yếu là từ cuộc chiến tranh của người Pháp năm 1946-1954 để giành lại thuộc địa và trong thời gian đó người Pháp đã tiến hành một chương trình bình định rất giống với của chúng tôi bây giờ.

     Trung uý chỉ tay ra phía trước và nói, nhưng một số hầm trong đó đã có từ lâu, từ những năm 20 và 30 và thậm chí sớm hơn nhiều thời kỳ bình định Việt Nam của người Pháp.

     Giữa những cái hầm này, dọc theo tuyến đường là một số hầm súng máy loại khác rất đặc biệt, cũng bằng bê tông nhưng hình tròn giống như những lò nướng. Tôi nhận ra những hầm này có trong các bức tranh minh hoạ cuộc chiến đấu trên đảo Thái Bình Dương của các lính thuỷ đánh bộ trong Chiến tranh thế giới lần II. Chúng là của người Nhật, được xây dựng khi người Nhật bình định một vùng nay gọi là Quân đoàn 1 trong cuộc xâm chiếm Việt Nam của người Nhật trong thời chiến. Cuối cùng, chúng tôi đến chỗ một cái gò lớn, cỏ mọc nhiều, thỉnh thoảng có những phiến đá rất cũ. Tôi được biết đó là một công sự cổ của người Trung Quốc, được xây dựng khi Trung Quốc thống trị Việt Nam, bắt đầu với cái mà bây giờ là Quân đoàn 1, trong khoảng thời gian trên một nghìn năm. Khi người phiên dịch nói với tôi và tôi cũng đã được nghe Trần Ngọc Châu từng nói: "Anh phải hiểu rằng chúng tôi là một dân tộc đã đánh bại quân Trung Quốc mặc dù Trung Quốc đã đô hộ chúng tôi một nghìn năm".

     Lái xe trên con đường này giống như đi du lịch hoặc đi thăm một khu khai quật khảo cổ để đem lên mặt đất tầng lớp của nhiều thời đại lịch sử. Đó là một kiểu bảo tàng ngoài trời với nỗ lực của những người ngoại quốc muốn lập lên chính quyền của họ và kiểm soát người dân Việt Nam hoặc ít ra là muốn để bảo vệ binh lính và những người cộng tác của họ khỏi sự tấn công của người dân địa phương. Lúc này hoàn toàn không an toàn cho chúng tôi vì dân quân địa phương và Quân đội Việt Nam cộng hoà do GVN trả lương đã bỏ làng xóm để theo Việt Cộng đi biểu tình chống lại chính quyền Sài Gòn ở Đà Nẵng và các địa phương khác. Chúng tôi lái xe rất nhanh qua các đám ùn tắc trên đường, với vũ khí luôn sẵn sàng. Mặc dù thế, khi đi ngang qua, đám trẻ luôn rất thân thiện với chúng tôi. Chúng vẫy tay và gọi chúng tôi bằng những từ tiếng Mỹ duy nhất chúng biết: "Xin chào! Number one! Ok!", những từ như thế đã in đậm trong trái tim tôi khi tôi được nghe lần đầu tiên sau chuyến đi tới Việt Nam.
Logged

Để gió cuốn đi...
Excocet
Thành viên
*
Bài viết: 617


Thép đã tôi thế đấy


« Trả lời #61 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2007, 08:13:35 pm »


     Khi nghe một vài tiếng như thế, người phiên dịch đi cùng tôi nói: "Khi tôi còn là một cậu bé ở tuổi của chúng, tôi cũng đã từng hét lên hello (xin chào) với các binh lính người nước ngoài".

     Tôi hỏi: "Anh nói Bonjour (xin chào bằng tiếng Pháp) như thế nào?"

     Anh ta nói: "Ohayo Gozaimasu" (xin chào bằng tiếng Nhật).

     Tôi biết chúng tôi đang theo chân người Pháp ở Việt Nam, tất cả những ai ủng hộ cho chủ nghĩa thực dân đều là đồng minh của chúng tôi trong hai cuộc chiến tranh thế giới. Nhưng khi một người đã lớn lên bằng phim ảnh của cuộc chiến tranh ở Thái Bình Dương và sau đó là các câu chuyện chiến tranh trong binh chủng lính thuỷ đánh bộ, tôi lại cảm thấy thật đáng sợ khi nghe thấy người ta nói tôi đang bước theo những vết chân của người Nhật.

     Mùa xuân năm 1966, tôi báo cáo với tướng Lansdale về chuyến bay cùng với một người tiền trạm trên không để chuẩn bị thực hiện các cuộc tấn công của không quân và pháo binh vào một vùng tranh chấp ở xung quanh Plain of Reeds (vùng Đồng Tháp Mười - ND), một vùng đầm lầy hoang vu gần Sài Gòn. Tôi đã chứng kiến một số mặt của cuộc chiến tranh và cách thức tiến hành một số hoạt động của chúng ta mà người khác không thể thấy được - cụ thể là, các trường hợp trong các mục tiêu đã lựa chọn, được thực hiện không theo kế hoạch hay mệnh lệnh mà theo người thực hiện các cuộc không kích và anh ta sẽ chọn việc tấn công trực tiếp vào họ như thế nào, cũng như kết quả của các chương trình làm rụng lá và thuốc diệt cỏ của chúng ta ở các vùng nông thôn Việt Nam.

     Từ trên máy bay, tôi đã chụp ảnh được một khu vực thật đặc biệt thuộc một tỉnh ở gần Đồng Tháp Mười, một tỉnh của các loại cây cối xanh um tùm, giàu lúa gạo, chà là và những thứ cây khác Nhìn từ trên không trung nó như một bức tranh đầy màu sắc, tôi nghĩ cấp trên của tôi nên biết về điều này. Một con sông chảy trong tỉnh chia đôi khu vực, một bên do chính quyền Sài Gòn kiểm soát - một chính quyền được chúng tôi ủng hộ - và một bên do Việt Cộng kiểm soát được thể hiện bằng màu đỏ trên các bản đồ quân sự. Bên màu đỏ của con sông đã bị trơ trụi do các máy bay rải thuốc diệt cỏ làm rụng hết lá và làm chết tất cả các loại cây cối. Nhìn chung, màu sắc trên một bản đồ chính trị hoàn toàn không đúng với bất cứ những gì bạn có thể nhìn thấy trên mặt đất hoặc từ trên không. Nhưng trong trường hợp này, lá rụng chỉ ở một bên của con sông nên từ trên không trung bạn có thể nhìn thấy một sự tương phản rất thú vị. Bên này của con sông là một vùng nông thôn cây cối xanh tươi - thực tế khá đẹp - còn bên kia là một sa mạc khô cằn, không có sự sống, không cây cối. Nó thực sự là màu đỏ, giống như trên các bản đồ của chúng ta; chắc hẳn phải là sắt thép trong lòng đất. Tôi đã báo cáo với tướng Lansdale và các bức ảnh của tôi cũng chỉ ra rằng chúng tôi đã tạo ra một sa mạc.

     Trên chuyến đi đó, chúng tôi đã bị bắn từ khu vực xung quanh của một ngôi làng. Viên phi công, người có kinh nghiệm đã cảnh báo với tôi rằng nếu hoả lực bắn trực tiếp vào máy bay của chúng ta, chúng ta có thể nhận biết được bằng âm thanh của hoả lực. Chúng ta sẽ nghe thấy một tiếng nổ dữ dội, "giống như nổ bỏng ngô". (Tuần sau một quan sát viên cùng với viên phi công vẫn đi bằng máy bay trinh sát đó đã bị tấn công, một viên đạn xuyên qua ghế chỗ tôi đang ngồi). Viên phi công đã nói đúng; mặc dù chúng tôi không bị trúng đạn, âm thanh từ mặt đất nghe rất giống tiếng nổ bỏng ngô. Viên phi công đã tiến hành một cuộc không kích vào ngôi làng bằng một đợt máy bay từ các vùng lân cận, rõ ràng các phi công thực hiện chuyến bay này đang chờ anh ta hoặc một quan sát viên khác đưa ra các mục tiêu Máy bay đi đầu phóng rocket có các đầu nổ chứa phốt pho trắng vào ngôi làng, có thể để đánh dấu mục tiêu cho các máy bay khác làm nhiệm vụ ném bom và napan. Một trong những quả bom napan đã nổ gần ngôi làng, tung ra một khối lửu lớn trùm lên cả một cánh đồng lúa. Những quả bom napan và bom thường rơi trúng vào làng trông rực lên một cách khác lạ. Một số ngôi nhà có mái ngói đỏ rực.

     Phốt pho trắng nổ trông giống như một chùm hoa. Những cánh hoa trắng sáng - trắng hơn bất cứ thứ gì, xoè ra, cùng các nhuỵ hoa màu đỏ sẫm. Thật là một quang cảnh lộng lẫy. Tuy nhiên, khi phốt pho trắng dính vào da thịt, nó sẽ cháy đến tận xương; bạn không thể rửa sạch bằng nước. Trong các bệnh viện dân sự ở Việt Nam mà Vann và tôi đã tới thăm, tôi đã thấy những đứa trẻ bị phốt pho đốt cháy và những đứa khác bị cháy bởi napan, thứ sẽ để lại một vết sẹo kiểu khác. Bạn cũng không thể rửa sạch napan bằng nước. Tôi đã chứng kiến cả hai trường hợp này trong đội quân lính thuỷ đánh bộ, trong các bài tập thực hành và tôi biết chúng là những vũ khí rất hữu hiệu. Chúng tôi nghĩ về các chất này khi phải cứu lấy mạng sống các binh lính của chúng tôi, đặc biệt khi chúng tôi là phía duy nhất sử dụng chúng ở Việt Nam, nhưng khi tôi là một lính thuỷ đánh bộ, tôi không muốn được cứu bằng hai chất này mà hơn thế tôi muốn được cứu bằng các loại vũ khí hạt nhân. Và đó là trước khi tôi được tận mắt chứng kiến những gì chúng đã gây ra cho con người.

     Trên đường quay trở về, khi đang bay qua vùng Đồng Tháp Mười, viên phi công nói với tôi qua hệ thống micro, "dưới kia có Việt Cộng". Chiếc máy bay đột nhiên bổ nhào xuống. Viên phi công chỉ xuống mặt đất phía dưới chúng tôi và nói: "Việt Cộng".

     Đó là lần đầu tiên ở Việt Nam tôi nghe thấy một người nói như thế về một ai đó một cách liên tiếp. Khi chúng tôi khởi hành sáng hôm đó, anh ta đã bảo tôi đem theo một khẩu súng phòng khi bị bắn, và khi anh ta nói "Việt Cộng", theo bản năng tôi đã giật lấy khẩu súng. Tôi nhìn theo tay anh ta chỉ và nhìn thấy hai con số trên bộ quần áo kiểu pijama màu đen, mà quân du kích và dân quân cũng như những người dân vùng nông thông ở miền Nam Việt Nam thường mặc. Dường như họ đang phải chạy xa một chiếc thuyền gần đó. Viên phi công giơ khẩu M-16 và bắt đầu bắn bằng chế độ tự động, một tay, từ phía cửa sổ cạnh chỗ anh ta ngồi khi chúng tôi đang lái xe. Chúng tôi bay ngay phía trên đầu họ, chỉ cách khoảng hơn 30 mét và rõ ràng là họ không có vũ khí. Tôi nói điều này với viên phi công và anh ta nói có thể họ để vũ khí trên thuyền. Tôi cảm thấy ngốc nghếch khi giữ khư khư khẩu súng nhưng sau đó đã đặt lại vào bao.

     Viên phi công cho máy bay lao thẳng lên và bay một vòng số 8, sau đó quay lại, nhao xuống và tiếp tục bắn. Khi máy bay lao xuống, những người này nằm rạp xuống đám bãi sậy vì thế rất khó có thể phát hiện ra họ. Nhưng khi bay tới chỗ chúng tôi đã nhìn thấy họ lần cuối, anh ta lại cho máy bay vút lên và thực hiện một vòng số 8 hẹp hơn, tôi quay lại nhìn và thấy họ đã trở dậy và chạy tiếp. Việc này đã xảy ra vài lần. Cứ khi nào máy bay nhao xuống, họ nằm rạp xuống, sau đó lại đứng lên và chạy tiếp ngay sau khi máy bay đã đi. Họ hình như không biết rằng chúng tôi có thể nhìn thấy họ qua phía sau của cabin và nhìn thấy rất rõ khi họ chạy. Nhưng dù sao cũng không có nhiều cơ hội để bắn trúng họ từ trên máy bay. Việc này kéo dài độ 15 phút. Tôi bắt đầu bị say vì những cú lộn nhào của máy bay.
Logged

Để gió cuốn đi...
Excocet
Thành viên
*
Bài viết: 617


Thép đã tôi thế đấy


« Trả lời #62 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2007, 08:16:00 pm »

     Cuối cùng, viên phi công đã đặt khẩu M-16 xuống, tăng độ cao và bay về phía căn cứ. Tôi hỏi anh ta: "Điều này có thường xuyên xảy ra không?"

     Viên phi công trả lời: "Lúc nào cũng thế. Đó là điều vì sao tôi phải đem theo súng".

     Tôi hỏi: "Bằng cách này đã bao giờ anh bắn trúng một ai chưa?"

     Anh ta nói: "Không thường xuyên lắm. Rất khó bắn trúng một người bằng một khẩu M-16 từ trên máy bay, nhưng như thế sẽ làm cho họ sợ khiếp vía. Tối nay họ sẽ là những Việt Cộng khá bị kích động".

    Tôi không chắc về điều này lắm. Với tôi có lẽ có rất nhiều Việt Cộng đã rất tự hào khi đối mặt với những cỗ máy của người Mỹ mà vẫn còn sống sót.

     Sau khi chúng tôi hạ cánh trên một đường băng nhỏ, viên phi công nói với tôi: "Này, anh vừa có một chuyến đi tuần vòng quanh rất tốt. Anh đã chứng kiến một cuộc không kích và đã nhìn thấy một số Việt Cộng…". Tôi muốn biết làm thế nào anh ta biết họ là Việt Cộng, viên phi công nói, "chẳng có gì ngoài Việt Cộng ở vùng này". Đây là "một vùng bắn tự do", nghĩa là chúng ta được phép bắn chết bất cứ ai chúng ta phát hiện thấy trên vùng đất đó.

     Quay trở về đại sứ quán, tôi kiểm tra lại những điều anh ta nói. John Vann cho tôi biết có khoảng gần 2.000 dân chài sống trong khu vực đó, họ vẫn đánh cá trong khu vực mặc cho các cuộc tấn công của chúng ta. Điều này không chứng minh được là viên phi công đã sai đối với hai trường hợp mà chúng tôi nhìn thấy. Nhưng khi quay trở lại tôi nói với tướng Lansdale về cảm giác lo lắng của mình rằng tất cả những người dân Việt Nam đang bị săn đuổi từ trên không trung như những động vật mà chỉ dựa vào nơi họ đang ở và những bộ đồ họ đang mặc.

    Khi mô tả lại sự việc cho Lansdale, tôi nói điều đặc biệt nhất là mất bao lâu để ngôi làng đó bị các máy bay ném bom của Mỹ tấn công. Chúng ta đã bị bắn, đúng, nhưng là do ai bắn. Họ phải có mối liên hệ gì với ngôi làng này? Hay những người dân, và những đứa trẻ, trong những ngôi nhà đang bốc cháy? Bạn có thể nhìn thấy nhiều điều từ độ cao 180 mét - vì thực tế máy bay này đã bay thấp, rất thấp trừ khi bị tấn công - nhưng bạn không thể có những câu trả lời cho các câu hỏi đó. Dù câu trả lời có thế nào đi nữa thì chúng tôi cũng đang phục vụ cho các mục đích của người Mỹ (ở đây tôi còn chưa muốn nói tới quyền của chúng ta là gì và chính nghĩa của chúng ta ở đâu) bằng các trận trút bom tới tấp xuống mặt đất để trừng phạt người dân sống trong những ngôi nhà kia? Tôi không muốn nêu câu hỏi này ra với viên phi công vì anh ta đang thực hiện nhiệm vụ của mình một cách rất thản nhiên. Tôi dành nó cho cấp trên của tôi mặc dù đó là một câu hỏi không có lời giải. Đây là lời nhận xét của cấp trên của tôi về kết quả của các cuộc không kích chống lại dân thường trong một cuộc chiến tranh như thế, trong một bài báo viết về quan hệ ngoại giao của ông tháng mười năm 1964: "Yêu cầu quân sự cấp bách nhất hiện nay là phải tạo ra quyền ưu tiên số một cho lĩnh vực quân sự để bảo vệ và giúp đỡ người dân. Khi giới quân sự bắt đầu nổ súng ở cự ly xa, cho dù bằng các vũ khí bộ binh, pháo binh hay không kích vào một xã hay một làng đông dân thường, thì các sĩ quan miền Nam Việt Nam, những người đưa ra các mệnh lệnh đó và các cố vấn Mỹ, những người đã để họ thực hiện mệnh lệnh, đang góp phần phá đi sự tự do của dân làng. Sự căm thù của người dân đối với giới quân sự vì những hành động như thế là một động lực mạnh mẽ thúc đẩy họ phối hợp với Việt Cộng". Tới giờ, tôi đã nghe điệp khúc này nhiều lần từ John Paul Vann, nhưng đây là lần đầu tiên tôi nghe được từ Lansdale - đó là lý do mà Vann cũng như tôi, tôn trọng ông ta - và ông ta đã không thay đổi quan điểm của mình.

      Mùa hè năm 1966, Patricia Marx tới Sài Gòn thăm tôi trong một chuyến thăm dài ngày lần thứ hai vào kỳ nghỉ hè. Khi tôi đến Việt Nam năm 1965, vì sự hiểu lầm của tôi về tình cảm của cô ấy tôi không chắc rằng chúng tôi sẽ lại thân thiết được như trước. Nhưng chúng tôi bắt đầu gửi thư và băng qua lại cho nhau, lại một lần nữa tôi đắm chìm trong tình yêu. Tháng mười hai năm 1965, Patricia tới thăm tôi ở Sài Gòn, trong kỳ nghỉ Giáng sinh của tôi, chúng tôi đã cùng nhau đi du lịch Thái Lan, Ấn Độ và Nepal. Đó là một kỳ nghỉ rất lãng mạn. Trước sự ngạc nhiên của mình, tôi tự thấy phải suy nghĩ một cách nghiêm túc về việc kết hôn lại. Trong khi chúng tôi thường tranh luận về Việt Nam, nhưng tôi cho rằng tôi có thể thuyết phục hoặc ít ra là gieo rắc những triển vọng tốt đẹp vào cô ấy rằng chúng ta đã đính hôn với một lý do chính đáng, có sự ủng hộ của những người Việt Nam như Châu, những người đang đấu tranh để đất nước của họ thoát khỏi sự thống trị của Cộng sản. Tôi đưa cho Patricia một cuốn sách của Hoàng Văn Chí có nhan đề "Từ Chủ nghĩa thực dân tới Chủ nghĩa cộng sản" viết về sự khắc nghiệt của thời kỳ Cải cách ruộng đất ở miền Bắc Việt Nam.

     Một phân vân nhỏ của tôi về Patricia, không biết cô ấy có đủ can đảm để là người bạn đời của tôi không. Tôi đã được trả lời vào một buổi sáng sớm ở Benares khi chúng tôi đi chơi ở Ganges bằng một chiếc thuyền nhỏ chạy qua những bãi hoả thiêu đang cháy, nơi những thi thể được hoả táng. Xuống khỏi cầu tầu và các bậc thang là tới con sông, mọi người đang tắm trên Ganges thần thánh. Lúc đó người lái thuyền gợi ý tôi tự tắm trên sông. Tôi hỏi liệu những người đi tắm khác cũng sẽ được hoan nghênh, nhưng anh ta nói sẽ chẳng có ai để ý và hoá ra điều đó là thật. Tôi bỏ quần áo ngoài và kiểm tra kỹ mạn thuyền. Tôi thấy đám tro tàn trên mặt nước đang trôi ra từ một vụ hoả táng ngược dòng. Trong khi đó, không chút do dự, Patricia cởi chiếc quần bò, chỉ mặc chiếc váy màu đỏ và lội qua chỗ tôi. Cô ấy làm tôi rất có ấn tượng. Tôi không nghĩ mình đã biết nhiều các cô gái Mỹ, những người rất thích nước. (Patricia nói: "Em bị lôi cuốn mạnh mẽ. Em đã phát điên lên vì yêu, mất hết tự chủ). Trên sông, tôi đã hỏi cô ấy sẽ lấy tôi chứ và cô ấy gật đầu.

     Trở về Sài Gòn, cô ấy phải quay về Mỹ và tôi đã không nhìn thấy Patricia trong suốt 6 tháng. Trước khi cô ấy được nghỉ tháng sáu năm 1966, chúng tôi đã có kế hoạch cùng nhau đi Nhật trong kỳ nghỉ của tôi. Tôi nói với Patricia tôi không thể bỏ qua cơ hội để đưa ra những đánh giá cho Hội đồng đặc nhiệm trong nhóm nghiên cứu liên ngành về chương trình bình định.
Logged

Để gió cuốn đi...
Excocet
Thành viên
*
Bài viết: 617


Thép đã tôi thế đấy


« Trả lời #63 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2007, 08:17:05 pm »

     Trong khi tôi phải tới nhiều nơi để thực hiện công việc nghiên cứu Patricia đã nhanh chóng tìm cho mình một công việc. Sau cuộc gặp với nhà báo Frances Fitzgerald (Tác giả của cuốn Fire in the lake - Lửa trong lòng hồ), Patricia đã đề nghị họ cùng nhau viết một bài báo về "các nạn nhân khác" ở Việt Nam, những người tị nạn đã trốn khỏi quê hương để tới những nơi có sự kiểm soát của chúng tôi(75). Chính sách quan hệ với quần chúng của Mỹ là những người này phải bỏ phiếu chống lại Việt Cộng bằng cách rời khỏi gia đình của họ. Tuy nhiên, các cuộc phỏng vấn dân tị nạn và đàm phán với đại diện của họ trong các trại cho thấy rất rõ ràng rằng một lý do cơ bản và là lý do duy nhất làm họ phải bỏ ruộng vườn, nhà cửa, nơi thờ cúng của gia đình và mồ mả tổ tiên là do hậu quả kéo dài của các cuộc không kích và pháo kích của Mỹ.

     Patricia và Frances đã thực hiện cuộc phỏng vấn với GVN và các quan chức Mỹ có trách nhiệm quan tâm tới những người tị nạn này. Họ thấy hoảng sợ trước sự tự mãn và thờ ơ của đám quan chức này, đặc biệt là người Việt Nam, nó được thể hiện bằng các điều kiện sống của những người tị nạn ở các trại xung quanh Sài Gòn mà chúng tôi đang tới thăm. Trong tất cả các vùng nông thôn tôi đã tới thăm, tôi chưa được tới một trại tị nạn nào gần Sài Gòn như họ đang tả lại cho tôi. Lúc đó Patricia thúc giục tôi đi cùng với họ. Thời tiết đang trong mùa mưa.

     Điều tôi thấy là một thành phố nhỏ có nhiều người đang sống trong các túp lều trên các cánh đồng bùn lầy và rác rưởi trộn lẫn với nhau. Dân tị nạn sẽ đi qua đám bùn lầy này bằng một tấm ván nhỏ bắc từ túp lều này sang túp lều kia. Thật sự không thể nào không dẫm chân vào đống bùn dơ dáy đó, nhất là với một người phương Tây. Như thế mới có thể thấy được tại sao người ta lại dùng bom để bắt người dân phải chuyển vào những nơi như thế này.

     Patricia đã nhìn cuộc chiến tranh bằng con mắt hoàn toàn khác. Không có nhiều phụ nữ Mỹ ở Việt Nam ngoại trừ các cô thư ký. Vào một đêm ở Chợ Lớn, khu phố Tàu, ăn tối với 8 hoặc 9 người bạn trai, Patricia tình cờ hỏi từng người về hoàn cảnh gia đình của họ. Sau này cô ấy nói với tôi rằng tất cả bọn họ đều ly dị hoặc ly thân với vợ từ lâu. Không ai là mới cưới. Patricia có cảm nhận rằng họ đều là những người đàn ông tuyệt vọng với gia đình nên tìm đến với sự nguy hiểm và chiến tranh, ưa mạo hiểm vì họ cảm thấy không còn gì để mất. Cô ấy sẵn sàng phổ biến điều đó với toàn bộ đoàn đi, với những người đàn ông cô ấy biết là đang tiến hành cuộc chiến tranh trong nước, mặc dù tôi không chắc đó là việc làm chính đáng.

     Mặt khác, bây giờ tôi đã đính hôn. Nhưng hình như cô vợ chưa cưới của tôi khi quay trở lại Việt Nam đã bị nhiễm nặng các quan điểm chống chiến tranh. Những nỗ lực trước đây của tôi truyền cho cô ấy đã dần mất đi. Tôi cứ phân vân, ai đã truyền bá cho cô ấy? Khi tôi hỏi Patricia, cô ấy giải thích nhiều năn nay người ta đã đưa lên tivi cho những người Mỹ ở trong nước xem những cảnh quay hàng ngày về cuộc chiến đấu và sự phá huỷ ở Việt Nam mà chúng tôi hoàn toàn không được xem ở Sài Gòn, nơi chúng tôi còn không được xem cả những chương trình thời sự của Hoa Kỳ. Vì thế, không có gì là khó đối với cô ấy khi xem được những gì thực sự đang diễn ra ở Việt Nam khi cô ấy phải xa tôi. Patricia nói, tôi là người đã cố gắng truyền bá cho cô ấy. Còn sự chứng kiến trực tiếp của cô ấy với cái mà Johnson và Humphrey gọi là một cuộc chiến khác đã không giúp gì được cho tôi.

     Tại bữa tiệc chia tay Neil Sheehan (nhà báo Mỹ, tác giả của cuốn sách Bright Shining Lie - Sự lừa dối hào nhoáng) và Susan Sheehan, những người sẽ rời Sài Gòn sau nhiệm kỳ thứ hai của Neil ở tờ Thời báo New York, chúng tôi đã gặp một thành viên của Uỷ ban Giám sát quốc tế (ICC), người vừa từ Hà Nội vào. Tôi chưa bao giờ gặp người nào đã từng ở miền Bắc Việt Nam lúc chúng tôi tiến hành các cuộc tấn công. (Các báo cáo của Harrison Salisbury cho tờ Thời báo 6 tháng sau là những thống kê đầu tiên về sự thiệt hại phía dân sự ở miền Bắc mà đa phần người Mỹ trong đó có cả các quan chức cấp cao, được đọc). Chúng tôi rời bữa tiệc ra về, ngay sau khi nghe ông ta kể về những khu phố của thường dân bị bom của chúng ta san phẳng, Patricia quay sang tôi và nói với giọng buộc tội căng thẳng: "Làm sao anh có thể tham gia vào việc này?"

     Tôi cảm thấy thất vọng và tức giận. Tôi không thích điều chúng tôi vừa nghe được, hơn bất cứ điều gì cô ấy đã làm. Tôi căm ghét điều đó. Về việc này chẳng lẽ cô ấy không hiểu rõ tôi?

     Tôi luôn phản đối việc ném bom miền Bắc, và ngay lúc này tôi đang cố gắng hết sức và tôi biết đây cũng là cách hiệu quả nhất để hạn chế việc ném bom ở miền Nam. Cứ cho là như vậy, tôi sẽ không đến bất cứ đâu. Nhưng tôi cảm thấy mình đang bị buộc vào trách nhiệm trước mọi vấn đề của cuộc chiến, kể cả các lĩnh vực tôi không bao giờ tin vào và các lĩnh vực tôi muốn chấm dứt.

     Chúng tôi dường như lại quay lại tình trạng của tháng 6-1965. Tôi đã huỷ bỏ việc đính hôn và ý tưởng cưới một ai đó luôn làm cho tôi phải nghi ngờ. Khi chúng tôi chia tay, tôi chắc chắn là chia tay vĩnh viễn nhưng thực tế được khoảng 3 năm. Tôi sẽ tham gia vào nhóm người cô ấy đã gặp ở Chợ Lớn. Khi nhìn lại, sự chuẩn đoán của cô về những người này đã giúp tôi khá nhiều cho những tháng còn lại của tôi ở Việt Nam.

     Tháng 10-1966, tôi trở về Mỹ trong một kỳ nghỉ. Nhưng ở Washington tôi lại được lệnh sang Việt Nam trong một chuyến đi có định hướng thay cho Nicholas Katzanbach, vừa lên làm thứ trưởng Bộ Ngoại giao. Trên chiếc KC- 137 không cửa sổ của McNamara, một chiếc máy bay có thể bay một mạch tới Việt Nam, tôi có cơ hội để đưa cho John McNaughton, người cấp trên trước đây của tôi, tất cả các bản ghi nhớ mà tôi đem về từ Sài Gòn. Tôi rất hài lòng thấy John đưa từng bản một cho McNamara khi ông ta đọc xong và nhìn họ đọc từng trang một của các bản ghi nhớ. Đó là một chuyến đi dài và hình như họ không đem theo thứ gì để đọc. Tôi luôn nghĩ về điều đó như một điểm mạnh cho công việc của mình. Thông thường, bạn không bao giờ biết được liệu một người cấp trên có thực sự muốn đọc những gì bạn đã viết ra không, đó là chưa kể tới việc còn đưa nó cho cấp trên. Lúc đó McNaughton bảo tôi ngồi cạnh và đưa ra 2 đề nghị, cho chính ông ta và cho Bộ trưởng: Tôi có thể đưa cho ông ta một bản copy của bản báo cáo về chuyến đi của tôi tới Hậu Nghĩa và nếu không phiền tôi có thể không đưa bản báo cáo này và các bản báo cáo khác cho tướng Wheeler, vì tầm quan trọng của các mối quan hệ quân - dân?

     Trên chuyến bay trở về Washington một tuần sau đó, khi chúng tôi gần kết thúc chuyến đi, McNamara gọi tôi ra phía sau máy bay, nơi ông đang đứng với Bob Korner, một trợ lý đặc biệt cho Tổng thống về các nỗ lực bình định của Washington.

     McNamara nói: "Dan, anh là người có thể giải quyết được việc này. Korner đang bảo chúng ta đã tiến bộ rất nhiều trong chương trình bình định. Tôi nói mọi việc trở nên tồi tệ hơn cách đây một năm. Anh thấy thế nào?"

     Tôi nói: "Ồ, thưa ngài Bộ trưởng, tôi rất muốn biết mọi việc tiến triển được bao nhiêu so với chúng cách đây một năm. Mọi việc khá tồi tệ, nhưng tôi sẽ không nói là tồi tệ hơn bây giờ mà vẫn chỉ là như trước ".

     McNamara phấn khởi nói: "Điều đó đúng như điều tôi đang nói. Năm ngoái, chúng ta đưa thêm hơn một trăm nghìn quân vào đất nước này và không hề có sự tiến triển nào. Mọi việc hoàn toàn không tốt hơn. Nghĩa là tình hình cơ bản thực sự tồi tệ hơn! Không đúng thế sao?"

     Tôi trả lời: "Ồ, ngài đã có thể nói như thế thì đó thực sự là một cách nhìn nhận thú vị về vấn đề này".

     Ngay lúc đó máy bay bắt đẫu tới chỗ đường vòng và viên phi công thông báo: "Thưa các quí ngài, chúng ta đang đến gần căn cứ không quân Andrews. Xin quí vị ngồi tại chỗ và thắt chặt dây an toàn".

     Mười phút sau chúng tôi hạ cánh xuống mặt đất. McNamara cùng chúng tôi bước xuống chiếc thang phía sau ông ta. Hôm đó là một buổi sáng sương mù, một hình vòng cung các máy camera và đèn truyền hình đã đứng đứng sẵn ngay chỗ máy bay hạ cánh.

     Giữa vòng cung có một hàng các micro. McNamara bước qua các micro và nói với đám đông các phóng viên: "Thưa các bạn, tôi vừa từ Việt Nam trở về, tôi rất vui vì có thể thông báo với các bạn rằng chúng ta đang có những tiến triển lớn trong nỗ lực của chúng ta ở Việt Nam trên mọi phương diện. Những gì tôi đã thấy và nghe được trong chuyến đi này đã rất khích lệ tôi…"
Logged

Để gió cuốn đi...
Excocet
Thành viên
*
Bài viết: 617


Thép đã tôi thế đấy


« Trả lời #64 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2007, 08:17:37 pm »

Chú thích:



-----------------------------------------------------------------------------------------------

(74) "của Quân đoàn 3" - Ellsberg, bản ghi nhớ cho Phó Đại sứ Perter, tài liệu chưa xuất bản.

(75) Sau cuộc gặp nhà báo Francé… một bài báo cùng với… Fitz Gerald, 59-67.
Logged

Để gió cuốn đi...
Excocet
Thành viên
*
Bài viết: 617


Thép đã tôi thế đấy


« Trả lời #65 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2007, 08:22:05 pm »

Chương 10

Rạch Kiến



     Từ cuối tháng mười một năm 1966 cho tới khi tôi rời Việt Nam vào tháng sáu năm sau, tôi là trợ lý đặc biệt cho phó đại sứ Porter, người đã chịu trách nhiệm về mọi hoạt động thuộc lĩnh vực dân sự của Mỹ ở Việt Nam. Công việc chính của tôi là đưa ra những đánh giá cho Porter về các chương trình và hoạt động, đặc biệt có liên quan tới chương trình bình định và các hoạt động quân sự, dân sự chung khác. Cuối tháng 12-1966, tôi tới thăm một làng Việt Cộng mới được "giải phóng" có tên là Rạch Kiến ở tỉnh Long An, phía nam của Sài Gòn ở châu thổ sông Mê Kông. Trong vài năm nay, không một lực lượng nào của quân đội Sài Gòn đi vào khu vực đó. Để chứng tỏ các lực lượng Mỹ có thể nắm quyền và bình định được một huyện do Việt Cộng kiểm soát chặt chẽ, Sư đoàn 25 của Mỹ đã dùng trực thăng đổ thêm một tiểu đoàn tăng cường xuống gần huyện này vào ngày 22-12-1966, một ngày trước khi tôi tới Sài Gòn trong một chuyến thăm 10 ngày.

     Lý do chính để tôi thực hiện chuyện thăm này là do sự hoài nghi của đại sứ Lodge và phó đại sứ Porter về sự can thiệp của quân Mỹ trên chiến trường và chương trình bình định ở các khu đông dân ở vùng châu thổ sông Mê Kông. Lodge thường không can thiệp vào các hoạt động quân sự nhưng ông ta có một linh cảm rõ ràng rằng sự yểm trợ của pháo binh và không quân Mỹ sẽ gây ra nhiều thương vong cho thường dân ở vùng châu thổ.

     Lodge muốn có một bản đánh giá của tôi về việc liệu ông ta có nên nỗ lực ngăn cản MACV triển khai các đơn vị chiến đấu Mỹ tới khu vực đó. Đã có sự phản đối trong ngày đầu tiên khi tiểu đoàn này đổ quân xuống đây. Cán bộ Việt Cộng đang sống với gia đình trong các túp lều và trong các phòng làm việc có các bức vách và mái lợp rạ ở trung tâm làng đã nhanh chóng bỏ trốn, để lại các túp lều cho người Mỹ làm sở chỉ huy tiểu đoàn. Tôi đã tới đó ngày thứ hai bằng máy bay trực thăng. Viên trung tá, sĩ quan chỉ huy, nhận được một thông báo của sở chỉ huy sư đoàn là tôi sẽ đến, đã đứng ở cửa máy bay trực thăng để đón tôi khi tôi bước ra. Anh ta xách chiếc túi của tôi trong có đựng một chiếc túi ngủ, mấy bộ quần áo, giầy dã chiến và đạn dược, đưa vào lều chỉ huy. So với tôi trước đây, anh ta nhiều hơn tôi mấy tuổi, nhưng là một FSR-l nên tôi cao hơn anh ta mấy cấp.

     Anh ta đưa tôi qua chiếc lều bạt cạnh đó và vào ngôi nhà cạnh bốt chỉ huy của anh ta, cả hai đều của Việt Cộng bỏ lại ngày hôm trước.

     Viên sĩ quan chỉ huy nói với tôi đây là tuần đầu tiên của anh ta trong một căn cứ của bộ binh, vì suốt những năm trong quân đội anh ta đều là một sĩ quan pháo binh. Vì mục đích nghề nghiệp, anh ta muốn trở thành một chỉ huy bộ binh, anh ta đã trông mong vào sự chỉ bảo của người chỉ huy trước, nhưng người chỉ huy này đã bị điều động luân phiên sang vị trí khác. Thay vào đó anh ta nói với một giọng mất lòng tin và có chút cay đắng, sự thay đổi tình thế chỉ bằng một cái bắt tay phía dưới những chiếc cánh quạt của chiếc trực thăng đã đưa anh ta trở về vị trí trước đây của tiểu đoàn. Người chỉ huy trước đã đem theo tất cả trang thiết bị lên trực thăng, chúc anh ta may mắn, trèo vào chỗ người kế nhiệm anh ta vừa xuống và bay đi mất. "Anh ta thậm chí không thèm đi tới chỗ tôi để giới thiệu tôi với các sĩ quan khác?"

     Người chỉ huy mới đối xử với tôi tốt hơn. Anh ta giới thiệu tôi với các sĩ quan khi chúng tôi đi qua họ, anh ta đã tự giới thiệu với họ từ tuần trước. Tôi nói với người chỉ huy rằng ngài phó đại sứ muốn tôi tới đây để quan sát các hoạt động ở đây như một công việc mở đầu cho chương trình bình định của Mỹ. Tôi không nói với ông ta về những nghi ngờ của ngài đại sứ về hoả lực của Mỹ ở vùng châu thổ.

     Tiểu đoàn này đóng quân gần Sài Gòn nên đã chứng kiến rất ít hoặc không chứng kiến hành động nào kể từ khi tới Việt Nam.

     Theo lời một thiếu tá, người đã ở với họ trong vài tháng, thì hầu hết những người lính này đã nghe thấy âm thanh đầu tiên là những tiếng súng rải rác khi họ nhảy dù xuống đây vào ngày hôm trước. Mặc dù khu vực này rất nổi tiếng, nhưng tay thiếu tá thực sự không muốn đụng độ nhiều hơn nữa bằng hoả lực họ đem theo và bằng sự yểm trợ của không quân. Như chúng tôi đã nói, các trực thăng vận tải hạng nặng đang thả các khẩu pháo và các thùng đạn xuống căn cứ pháo binh gần trung tâm làng.

     Chúng tôi đang đứng nói chuyện ở một ngã tư giữa làng và có thể nhìn thấy một nhóm người mặc quân phục của Mỹ đi trên một trong những con đường giữa các cánh đồng lúa đang tiến về phía chúng tôi. Thì ra họ là nhóm cố vấn Mỹ gồm 2 sĩ quan và 1 trung sĩ, đang đến một tiểu đoàn của Quân đội Việt Nam cộng hoà đã hành quân đến từ hôm trước để tác chiến hợp đồng với tiểu đoàn của Mỹ. Họ đóng quân ở con đường phía trước cách chúng tôi khoảng 1,25 dặm và đã tiến đến gặp chúng tôi, đi bảo vệ cho họ là một tiểu đội lính của Quân đội Việt Nam cộng hoà được trang bị đầy đủ. Họ nói với chúng tôi, nhiều binh lính và hạ sĩ quan của họ cơ bản là ở vùng này nên muốn cảnh báo chúng tôi rằng chúng tôi không được vào làng trong thời gian đông người. Chúng tôi nên có bảo vệ thường xuyên.

     Một cố vấn lớn tuổi người Mỹ nói: "Tối nay các anh sẽ bị tập kích pháo". Anh ta là một đại uý trẻ trung, rắn chắc, đã từng là một cố vấn của Quân đội Việt Nam cộng hoà trong gần một năm. Đó là điều cảnh báo chính mà anh ta phải truyền đạt tới chúng tôi. Anh ta nói thêm: "Hãy nhớ rằng họ đã sống ngay trên chỗ các anh đang đứng từ lâu rồi. Họ sẽ hiểu rất rõ ý đồ của các anh".

     Viên sĩ quan hành chính nói: "Anh đang đùa đấy à?" "Đây là một tiểu đoàn Mỹ được tăng cường có sự yểm trợ của cả pháo binh và không quân. Tối nay sẽ không có một Việt Cộng nào trong vòng 10 dặm". Một lát sau, 3 người Mỹ nói, họ muốn ra khỏi con đường này và quay về căn cứ "trước khi trời tối". Trước khi họ rời đi, họ đã mời tôi tối hôm sau ở lại với họ. Tiểu đoàn trưởng của họ người Việt Nam, theo đạo Thiên Chúa, đang tổ chức một bữa ăn tối đặc biệt vào đêm Giáng sinh để tỏ lòng biết ơn các cố vấn Mỹ.

     Sĩ quan hành chính nói với tôi: "Những gã đó đã ở với Quân đội Việt Nam cộng hoà quá lâu". "Nhóm của họ thậm chí sẽ không vào huyện nếu chúng tôi không ở quanh đó. Nhưng tối nay họ sẽ được an toàn. Các anh sẽ không bắt được một Việt Cộng nào trong phạm vi hoả lực của chúng ta trong suốt tháng tới".

     Gần như cả tiểu đoàn phải tiến hành một buổi quét dọn cả khu vực sau ngày Giáng sinh, mất 3 ngày liền. Trong khi đó họ còn phải đi tuần nhiều để làm quen với địa hình. Tôi có thể tiếp tục mọi công việc tôi muốn. Sau bữa tối, có một buổi quán triệt cho các sĩ quan về các đợt tuần tra ngày hôm sau trong túp lều làm bốt chỉ huy của tiểu đoàn.
Logged

Để gió cuốn đi...
Excocet
Thành viên
*
Bài viết: 617


Thép đã tôi thế đấy


« Trả lời #66 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2007, 08:24:22 pm »

     Có một bản đồ lớn của huyện Rạch Kiến trên tường, có phạm vi của tiểu đoàn và các vị trí của các đơn vị khác nhau được đánh dấu bằng chì màu xám. Túp lều này, giống như tất cả các túp lều ở gần ngã tư, khá chắc chắn, có lợp mái tôn hình làn sóng, điều đó có thể phản ánh lại các chương trình bình định của những năm trước đây. Cũng như các túp lều khác mà chúng tôi chiếm được, trên đó có những chiếc đèn lồng thắp sáng bằng gas, được treo bằng các móc. Tất nhiên trong làng không có điện.

     Trên đường về sau buổi quán triệt, tôi đứng nói chuyện một chút với một lính binh nhì còn rất trẻ, tay cầm khẩu M-16 đang đứng gác ở bốt chỉ huy. Đây là đêm đầu tiên của anh ta ở đất nước này. Anh ta đã tới sân bay Tân Sơn Nhất phía ngoài Sài Gòn vào sáng nay và đã được cử ngay tới tỉnh Long An, sau đó buổi chiều lại tham gia cùng đơn vị này ở Rạch Kiến. Thực sự là một ngày dài đối với anh ta. Trong túp lều cạnh cửa ra vào, tôi mắc màn để tránh muỗi xung quanh chiếc giường bạt nhỏ mà viên đại tá bảo tôi nằm ngủ ở đó. Viên đại tá tắt đèn lồng và nằm ngủ trên chiếc giường cạnh tôi.

     Khoảng hai giờ sau, chúng tôi bị thức giấc vì những tiếng nổ đanh của kim loại, dường như ở trên con đường hướng tới chỗ chúng tôi. "ùm, ùm, ùm?" Chúng tôi đi giày trong đêm tối vội vã lao ra ngoài không kịp buộc dây. Tôi theo viên đại tá tới bốt chỉ huy bên cạnh, qua chỗ tay lính gác cổng đang cuống cả lên.

     Cánh cửa đóng chặt ngay sau chúng tôi khi một tiếng "ùm" khác nổ ngay ngoài cửa và các bức tường rung lên. Chiếc đèn lồng đung đưa nhẹ trên chiếc móc, làm cho những hình bóng của nó xoay tròn. Một mặt của tấm bảng giữ bản đồ đã không còn đích và rơi xuống mặt bàn, cà phê đổ hết ra bàn. Tất cả chúng tôi đang loạng choạng và đâm sầm vào nhau khi túp lều rung lên.

     Mọi người tranh nhau chiếc mũ sắt. Bất chợt tôi thấy tiếc vì đã không đem theo một chiếc. Tôi nghĩ chắc sẽ không vấn đề gì nếu tìm được một chiếc mũ sắt trong một sở chỉ huy tiểu đoàn khi cần nhưng đây không phải là lúc cố có thể mượn được một chiếc.

     Khi chiếc đèn không lắc nữa, một ai đó bước vào nói người gác cổng bên ngoài, tới từ sáng hôm nay, đã bị trúng quả đạn nổ ngay ngoài cửa ra vào. Anh ta bị thương nặng. Một trực thăng cứu thương đã đưa anh ta đi cùng với một số người bị thương khác nhưng anh ta đã bị chết trên chuyến bay.

     Các phát thanh viên của đài ở phòng bên cạnh đang hướng máy thu phát tới các đơn vị khác của tiểu đoàn. Sĩ quan tác chiến đang gắn các báo cáo lên bản đồ, cố tìm xem hoả lực pháo được bắn từ đâu để họ có thể phản pháo lại. Còn có các súng máy 50 ly đang bắn về phía chúng tôi, từ vài vị trí cách đó không xa lắm.

     Viên cố vấn đi xuống con đường đã đúng: Việt Cộng đã hoàn toàn biết được các ý đồ của chúng tôi và đạn pháo của họ rất tốt.

     Trong loạt đạn đầu tiên, họ đã thả một chuỗi pháo cối ngay trên con đường, mỗi quả rơi vào một nhà dọc theo đường đi. Họ chỉ để sót bốt chỉ huy cách đó ít mét và rõ ràng là túp lều ngay cạnh chỗ viên đại tá và tôi đang ngủ. Chúng tôi chờ đợi một loạt pháo khác nhưng đã không có. Các đội tuần tra được cử ra ngoài theo hướng có tiếng súng 50 ly nhưng không hy vọng nhiều sẽ phát hiện được điều gì. Có nhiều người bị thương trong các túp lều. Sau một lát, chúng tôi trở về túp lều của mình và đi ngủ tiếp.

     Sáng hôm sau, một người đã nhìn thấy quả pháo 60 ly chưa nổ mà tôi không hề nhìn thấy, đang nằm trong một chỗ hõm trên sàn nhà cách giường của tôi một đoạn. Chắc chắn nó rơi vào đó khi chúng tôi vừa ra ngoài vì chúng tôi đã không nghe thấy tiếng nó xuyên qua mái nhà. Tất cả binh lính đều bàn luận tới các quả pháo có tên trên đó. Với suy nghĩ rằng một quả pháo có địa chỉ của tôi trên đó không trúng vào tôi đã làm tôi bỏ qua thực tế là nó vẫn chưa nổ. Tôi bấm nhanh các kiểu ảnh, đi vòng quanh nên có thể chụp được cận cảnh và chụp chớp nhoáng trên cùng một khuôn hình với góc giường của tôi, khi đội phá bom tới. Họ nhìn thấy một thằng ngốc đang giẫm lên một quả pháo chưa nổ và nói: "Lạy chúa, nó vẫn chưa nổ!". Họ quát tôi tránh khỏi đó một cách cộc lốc.

     Trưa hôm đó, một tiểu đoàn thực tế không được ngủ nhiều đã phải triển khai rộng ra khu vực vành đai và chuẩn bị cho một đêm mất ngủ khác trong tình trạng báo động cao. Đó là đêm Giáng sinh. Giữa trưa, viên cố vấn từ dưới đường lên đón và đưa tôi trở về căn cứ của anh ta. Chúng tôi đi bộ độ mấy dặm có các vệ sĩ đi theo trông họ đề phòng cảnh giác tới mức không bình thường. Họ đã nghe thấy tiếng pháo cối từ đêm hôm trước.

     Tôi đem theo một chiếc bánh đựng trong một cái hộp thiếc nhỏ. Ngay trước khi tôi đến Long An, phó Đại sứ Porter đã lấy nó trên chiếc bàn trong văn phòng của ông và đưa cho tôi để chuyển cho một số cá nhân được khen ngợi trên chiến trường.

     Một ai đó ông ta không biết, đã gửi chiếc bánh tới đại sứ quán để ăn mừng lễ Giáng sinh. Tôi đã xuất hiện trong bữa tiệc đêm Giáng sinh này hoàn toàn tình cờ sẽ là một dịp rất tốt.

     Người ta đã đón nhận chiếc bánh rất vui vẻ mặc dù không ai trong số các sĩ quan Việt Nam này đã từng được thấy một chiếc bánh như thế. Nó không hợp với thức ăn và nước mắm của Việt Nam, nhưng nó hợp với các đồ đóng góp khác của người Mỹ, rượu Chivas Regal và Rémy Martin với giá rẻ ở PX ở Sài Gòn, đã làm tất cả các cố vấn nổi tiếng với các đối tác người Việt Nam của họ. Có khoảng 12 người chúng tôi ngồi quanh một chiếc bàn rộng phía ngoài: 4 người Mỹ, một phiên dịch, tiểu đoàn trưởng, các đại đội trưởng và các sĩ quan (viên chức) hành chính của anh ta. Hôm đó là một đêm nóng bức, ẩm ướt, cùng với Whisky Scotland, cognac và rượu Việt Nam, rất nhiều bia 33 của Việt Nam đã được đem ra uống.

     Người không hào hứng với bữa tiệc lắm là viên sĩ quan hành chính, một thiếu tá người Việt. Trước đây anh ta đã từng uống rượu của người Mỹ, vì anh ta đã đi cùng với một đoàn cố vấn khi chỉ huy đại đội trinh sát cùng sư đoàn của Quân đội Việt Nam cộng hoà, nhưng rõ ràng bữa tiệc không thích hợp với anh ta, chứ không phải lượng rượu mà anh ta đang uống. Có lẽ đó là những người Mỹ ở Việt Nam đã không hợp với anh ta. Một thứ gì đó chắc không phải là chiếc bánh, hình như theo anh ta ra ngoài. Viên đại uý đã mời tôi, được cảnh báo khi anh ta biết rằng viên thiếu tá này khá khét tiếng vì anh ta không ưa những người Mỹ. Nhưng không phải đợi đến cuối buổi tối hôm đó chúng tôi mới biết được rằng anh ta phải thay chức chỉ huy vì đã bắn vào các cố vấn nhưng bị trượt.
Logged

Để gió cuốn đi...
Excocet
Thành viên
*
Bài viết: 617


Thép đã tôi thế đấy


« Trả lời #67 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2007, 09:21:15 pm »

      Viên sĩ quan hành chính không tham gia vào câu chuyện trong bữa ăn tối, anh ta đã uống lặng lẽ khi các sĩ quan người Việt Nam hát những bài hát trữ tình tiếng Việt, xen lẫn các bài hát mừng Giáng sinh của những người Mỹ. Sau đó anh ta bắt đầu nói, đưa ra những câu hỏi cho người Mỹ bằng một giọng trầm thấp có chút cay đắng. Viên trung uý người Việt Nam đang dịch đã nói với chúng tôi: "Anh ta hỏi, tại sao người Mỹ lại đến đây? Người Mỹ cho rằng người Mỹ sẽ phải dạy cho người Việt Nam ở Việt Nam điều gì? Có phải   người Mỹ cho rằng chúng tôi không đủ dũng khí để chiến đấu với Cộng sản?"

    Viên thiếu tá nói nhanh và to hơn. Anh ta không chờ để phiên dịch và cũng không đợi các câu trả lời. Bây giờ anh ta đang nói thậm chí còn to hơn nữa với người Việt Nam. Họ ngồi im lặng trông có vẻ bối rối. Người phiên dịch đã không dịch cho đến khi chúng tôi hỏi anh ta đang nói gì. "Anh ta nói "người Mỹ là những người nhát gan". Anh ta nói…". Viên trung uý nhìn vào tiểu đoàn trưởng cũng là một thiếu tá, một cách do dự.

     "Anh ta nói gì?"

     "Anh ta nghĩ thiếu tá… quá thân thiện với người Mỹ". Rõ ràng viên trung uý không sẵn sàng dịch hết những gì viên sĩ quan hành chính gần như đang quát lên. Nhưng khi chúng tôi bắt buộc, anh ta đã giải thích. Người Mỹ là những người ngạo mạn, dốt nát và thô lỗ. Đối với người Việt Nam đó là một sự nhục nhã khi phải giả vờ nghe theo lời khuyên của họ. Tiểu đoàn trưởng cau mày nhưng không nói gì. Sau đó tiểu đoàn trưởng đột ngột đứng lên, nói gay gắt với viên thiếu tá rồi bỏ đi. Mọi người đều đứng lên trừ viên sĩ quan hành chính, anh ta đập mạnh tay xuống bàn rồi với lấy chai cognac.

     Viên đại uý kéo tôi ra và chỉ cho tôi chỗ ngủ, cùng túp lều với anh ta. Lúc đó khá muộn nhưng vẫn sáng. Chúng tôi đang định đi dạo một vòng quanh khu vực tiểu đoàn trước khi trời tối. Nhưng viên trung uý người Việt Nam đã tới gặp tiểu đoàn trưởng xin lỗi về việc của thiếu tá. Trung uý nói: "Anh ta đã say". Chúng tôi nói chúng tôi biết điều đó. Tôi nói, có thể nhiều người Việt Nam cũng có cảm giác như anh ta. Đó là điều có thể hiểu được.

     Viên trung uý không nói gì. Một lúc sau tôi hỏi anh ta một cách thận trọng, các sĩ quan khác có thể nghĩ gì về những điều viên thiếu tá đã nói. Anh ta nói nhanh: "Họ rất lấy làm tiếc rằng anh ta đã nói những điều này trước mặt anh. Họ không đồng ý với điều đó họ rất tức giận với anh ta, nhưng anh ta là một thiếu tá".

     "Thế, họ có phản đối với những gì anh ta đã nói?"

     "Tiểu đoàn trưởng hoàn toàn không đồng ý". "Còn những người khác thì sao?"

    Anh ta ngần ngừ "Ồ, họ có thể tán thành một số điều nhưng không phải là hoàn toàn".

     Có một tiếng súng rất to và rất gần. Chúng tôi lần đi tìm vũ khí. Viên trung uý nhảy nhẹ lên, tất cả chúng tôi cũng thế, nhưng trông anh ta không có vẻ ngạc nhiên. Anh ta ra hiệu cho chúng tôi và nói: "đừng lo, không có gì đâu".

     Anh ta nói: "Không vấn đề gì, ổn thôi, đừng bận tâm". Lại có thêm một tiếng súng nữa, xa hơn một chút. Viên trung uý giơ cả hai tay lên, đứng trước cửa ra vào và yêu cầu chúng tôi không được ra ngoài lúc này.

     Trung uý nói: "Đó là thiếu tá. Nhưng không sao, anh ta rất say và đang rất tức giận. Anh ta đang đi lấy súng lục. Anh ta đang nói anh ta sẽ bắn những người Mỹ. Tôi nghĩ phải nói với các anh nhưng không muốn các anh phải lo lắng. Không có nguy hiểm gì nhưng anh nên ở lại trong này tối nay. Anh sẽ được an toàn. Tiểu đoàn trưởng lệnh cho các binh lính để mắt tới anh ta và không để anh ta tới gần túp lều này".

     Một phát súng thứ 3 dường như vẫn còn ở xa, khoảng một trăm mét. Nghe âm thanh cứ như thể nhằm vào hướng chúng tôi.

     "Anh ta sẽ bắn ai? Chúng ta hay những binh lính?"

     "Không ai cả. Anh ta chỉ bắn vào không trung. Anh ta bị say". Viên trung uý bảo chúng tôi đi ngủ, phải ngủ ngon không cần lo lắng. Anh ta chúc chúng tôi ngủ ngon và rơi đi.

     Đại uý và tôi nhìn nhau một lúc, cuối cùng tôi hỏi: "Anh nghĩ gì về việc này?"

     Đại uý nhún vai, đặt khẩu M-16 xuống mà anh ta đã giật lấy khi nghe tiếng súng đầu tiên, cởi chiếc quần dài và nói: "Chúng ta đi ngủ thôi, ở đây chúng ta sẽ ổn. Họ không để anh ta đến gần chúng ta đâu. Họ sẽ rất bối rối nếu để anh ta tìm được chúng ta".

     Tôi suy nghĩ trong một lát. Trong yên lặng chúng tôi có thể nghe thấy tiếng quát tháo, đúng là của viên thiếu tá. Không gian trở nên yên tĩnh. Sau đó có thêm nhiều tiếng la hét từ một vị trí khác Hình như anh ta đi vòng quanh. Thỉnh thoảng có một tiếng súng nổ và có thêm những tiếng la hét.

     Bây giờ trời đã tối. Với những gì tôi biết về thái độ của Quân đội Việt Nam cộng hoà về việc làm việc vào ban đêm, dường như tôi đã không đúng khi đặt lòng tin vào sự an toàn đến kinh hoàng của Quân đội Việt Nam cộng hoà. Gã đàn ông này đang theo sau chúng tôi. Thực sự khó cho tiểu đoàn trưởng nếu viên sĩ quan hành chính của anh ta lủi qua đám lính canh và bắt cả hai khi chúng tôi đang ngủ, nhưng điều đó sẽ không làm khó cho tôi. Tôi nói với viên đại uý rằng điều đáng tin duy nhất để chúng ta làm là phải tự canh chừng bản thân. Tôi sẽ gác ca đầu từ 22 giờ đến 2 giờ. Anh ta không nói gì. Ngay sau đó anh ta đã ngáy khò.

     Để thức được tôi đã thắp một cây nến. Tôi mặc cả quần áo dài, nằm trên chiếc giường bạt, đôi giầy cao cổ đặt cạnh giường.

     Có thêm một tiếng nổ làm át đi tiếng la hét, sau đó irn hẳn. Không có thêm tiếng súng nào gần đó. Viên thiếu tá đã lăn ra ngủ. Nhưng tôi vẫn thức. Tôi nằm ngửa, đầu gối vào hai tay, nhìn lên những bóng tối của cây nến. Tôi thử đặt khẩu súng lục vào góc giường vừa với độ với của cánh tay để có thể lấy được nhanh nhưng chiếc giường quá hẹp. Đặt súng trên mặt đất thì rất khó để lấy nhanh được vì bóng tối của giường che khuất vì thế tôi đã đặt nó trên ngực.
Logged

Để gió cuốn đi...
Excocet
Thành viên
*
Bài viết: 617


Thép đã tôi thế đấy


« Trả lời #68 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2007, 10:26:46 pm »

     Khoảng nửa đêm, một tiếng súng máy cỡ 50 ly kêu lạch tạch từ phía đằng xa. Một chút sau, có tiếng hoả lực pháo binh ở phía chân trời. Không gian yên tĩnh một lúc, sau đó lại vẫn những âm thanh đó. Cách xa độ mấy dặm, đó là Rạch Kiến. Đã đến lượt gác của viên đại uý, tôi quyết định không đánh thức anh ta dậy và đã thức luôn cả hai ca. Cây nến cháy chập chờn. Tôi lắng nghe tiếng súng máy như tiếng dế kêu từ xa, giữ thăng bằng cho khẩu súng trên ngực, nghĩ về những đứa con đi học về và cảm thấy cô đơn Tôi nghĩ: Đây là một cách tận hưởng đêm Giáng sinh thật kinh tởm.

    Viên thiếu tá người Việt Nam vẫn ngủ đến tận sáng hôm sau khi tôi rời túp lều. Người cố vấn đưa tôi trở về căn cứ của người Mỹ vào giữa trưa cùng với một số binh lính của Quân đội Việt Nam cộng hoà. Chúng tôi quay trở lại Rạch Kiến đúng lúc một loạt đạn pháo cối nổ, giữa trưa, ngay trên ngã tư trung tâm của ngôi làng. Chúc mừng lễ Giáng sinh. Một ai đó thoát ra khỏi đã có một phen hoảng hồn cùng với lời cầu nguyện tốt lành.

     Viên sĩ quan hành chính người Mỹ, quân hàm thiếu tá, người đã quan sát ngày đầu tiên cho rằng sẽ không tìm thấy. Việt Cộng nào trong vòng 10 dặm của một tiểu đoàn Mỹ, đang ngồi trong một khu nhà vệ sinh 4 ngăn có vải bạt quây xung quanh cách ngã tư nơi pháo cối bắn trúng khoảng 10 dặm. Nhưng chắc hẳn đó phải là một sự trùng hợp ngẫu nhiên. Việt Cộng không thể biết lúc đó anh ta đang ngồi đó và họ đã không nghe trộm được những đánh giá của anh ta hai ngày trước, khi đang đứng ít nhiều vẫn cùng một chỗ. Tôi không nghĩ rằng anh ta nhớ được những gì đã nói và tôi đã không nhắc nhở anh ta.

    Chúng tôi đến đúng lúc cùng ăn bữa tối có cả gà tây mà chính phủ Mỹ đã cố gắng cung cấp cho binh lính Mỹ ngoài chiến trường vào ngày lễ Giáng sinh và lễ tạ ơn Chúa. Trên tinh thần của ngày lễ Giáng sinh, tôi đã dành cả buổi chiều để phát những đồng xu cho những người dân có những túp lều tranh bị thổi bay khi những chiếc trực thăng hạ cánh xuống gần đó. Tôi có một xâu tiền xu lớn của một đại diện USAID đã đưa cho tôi vì mục đích này. Không có hoạt động lớn nào được tiến hành ngày hôm đó chỉ có các đội tuần tra đã ra ngoài để cố gắng ngăn chặn các tiểu đội pháo cối của Việt Cộng tới quá gần.

     Ngày hôm sau, sĩ quan tác chiến đã đưa 2 đại đội đi quét dọn, dạo quanh các khu vực cách không xa ngôi làng, tôi đã đi cùng một trong hai đội. Vì là một quan sát viên nên tôi không đem theo vũ khí. Hình như không cần thiết vì ở giữa hàng vài trăm binh lính có vũ khí mà chúng tôi có gặp phải vấn đề gì cũng không sao. Nhưng hoá ra cũng có một bất lợi lớn. Những binh lính này đặc biệt không chú ý đến tôi đang đứng vào một hàng khi hành quân hoặc dị chuyện ngang qua một cánh đồng lúa, ngay cả khi tôi đã tự giới thiệu với trung đội trưởng. Họ chắc chắn đã thấy tôi không có biển hiệu trên áo và không đem vũ khí nhưng họ hiểu tôi thuộc phía dân sự. Lúc đầu một số người cho rằng tôi là một nhà báo. Nếu họ hỏi tôi, tôi nói tôi từ đại sứ quán ở Sài Gòn và hiếm khi họ tỏ ra quá tò mò về những việc tôi đang làm ở đó.

     Nhưng khi đơn vị tôi đi cùng bị trúng hoả lực, khoảng sau một giờ hành quân vào sáng đầu tiên đó, tôi thấy những binh lính gần tôi dường như cảm thấy có trách nhiệm phải coi chừng tôi. Rõ ràng vì tôi không mang vũ khí, một việc mà họ cho là không cần dòi hỏi đối với một người như y tá quân y hay một phóng viên.

     Ngay khi những tiếng súng nhằm thẳng hướng chúng tôi, họ đã di chuyển sát vào tôi hơn và trước tôi một chút, tôi có thể thấy họ đang để mắt tới tôi như thể họ được giao nhiệm vụ canh chừng tôi. Cứ như thể tôi không mang vũ khí đã làm tôi dễ bị tấn công hơn hoặc những vũ khí của họ đã cho họ một khả năng đặc biệt để bảo vệ tôi khỏi những tay súng mà chúng tôi không thể nhìn thấy.

     Cũng không đúng khi quan niệm rằng có vũ khí trong tay sẽ làm họ an toàn hơn trước hoả lực của đối phương. Nhưng các binh lính luôn muốn tin vào điều đó, và đi cùng với điều này là không được trang bị vũ khí sẽ làm bạn dễ bị tấn công hơn. Chính vì thế việc không mang vũ khí của tôi đã kéo theo sự chú ý của họ và làm họ sao lãng việc họ đang làm. Đó không phải là kết quả tôi mong muốn. Sau một ngày rưỡi như thế, tôi bắt đầu đem khẩu súng mà tôi đã mang theo.

     Đó là một khẩu tiểu liên K của Thuỵ Điển mà một đạl diện cấp tỉnh của Cục Tình báo Trung ương lấy từ trong kho đưa cho tôi. Những người thuộc Cục Tình báo Trung ương đã trang bị súng này cho các đội chống khủng bố mà họ tổ chức ra. Một số người Việt Nam và một ít người Mỹ, những người nhìn thấy tôi có khẩu súng này đã đủ để khẳng định tôi là CIA. Khẩu súng này trông rất đặc biệt, xấu xí và đơn giản một cách rất ấn tượng, có một vỏ kim loại được làm nguội bằng không khí bao quanh nòng súng trông như một đoạn của chiếc tẩu có các lỗ trên đó. Sau khi tôi bắt đầu đem súng theo đội quân, chính khẩu súng này đã thu hút sự chú ý của họ nhưng tôi đã không còn đem theo nó lâu nữa.

     Cơ hội sử dụng khẩu súng để bắn đã không đến với tôi trừ phi chúng tôi bị phục kích lớn. Tôi không có nguyện vọng dùng nó vì tôi chắc chắn không muốn bắn ai và không muốn phải lau chùi súng. Tôi không phụ thuộc vào mệnh lệnh của ai. Tôi thực ra làm một thường dân. Tôi chỉ mang máng nhớ rằng sẽ là một sự vi phạm luật chiến đối với một thường dân mang súng trong một vùng chiến sự, nói chi đến việc bắn một người. Tôi không bao giờ hỏi ai về điều này. Phần lớn các thường dân người Mỹ từ AID hoặc USIA hoặc các sĩ quan chính trị ở đại sứ quán bên ngoài Sài Gòn hoặc các tỉnh lớn hàng ngày được phép mang vũ khí theo nếu họ đang lái xe hoặc đang hành quân ở vùng nông thôn. Nhưng tôi không biết ai khác ngoại trừ Vann đã cùng hành quân với binh lính trong các chiến dịch, và tôi không bao giờ hỏi ông ta đã làm gì với khẩu súng của mình.

     Tuy nhiên, ngay sau đó tôi biết rằng đem theo vũ khí mà không sử dụng khi gặp hoả lực cũng là một cách gây chú ý không tốt. Một tiểu đội tôi đang đi cùng được lệnh đi thành hàng và dẫn đường cho trung đội đi ngang qua một cánh đồng lúa. Tôi đã đi cùng họ, khi còn đang thực hiện nhiệm vụ trong những ngày cuối cùng. Đột nhiên khi chúng tôi đi ngang qua cánh đồng lúa cao tới thắt lưng, mấy phát súng bắn thẳng vào chúng tôi từ phía những cây lớn trước mặt, và không cần mệnh lệnh, binh lính cả hai bên tôi đã bắn trả về phía hàng cây. Tôi không vội vàng tham gia cùng họ vì họ đã sẵn sàng bắn ra một loạt đạn bằng các khẩu M-16 hoàn toàn tự động, nên tôi đã lấy chiếc máy ảnh ra và chụp mấy kiểu có các loạt đạn và mục tiêu hàng cây của chúng tôi.

     Sau khi chúng tôi tới hàng cây và hoả lực đã chấm dứt, một trung sĩ tới chỗ tôi, trông có vẻ bối rối. Đầu tiên anh ta hỏi tôi xem có phải là phóng viên không. Tôi trả lời không, tôi từ đại sứ quán tới. Anh ta nhìn chằm chằm vào chiếc máy ảnh vẫn còn trên tay tôi và khẩu súng tôi đang đeo trên vai và bắt đầu đỏ mặt.
Logged

Để gió cuốn đi...
Excocet
Thành viên
*
Bài viết: 617


Thép đã tôi thế đấy


« Trả lời #69 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2007, 10:27:55 pm »

     Anh ta hỏi tôi với vẻ hoài nghi: "Anh đang chụp ảnh cá nhân về một trận đánh?"

     "Không", tôi vẫn nói đều đều. "Tôi ở đây quan sát cho ngài phó đại sứ và tôi đang chụp ảnh cho ông ta".

     Trông anh ta rất đáng ngờ, nhưng anh ta đã bỏ đi và tôi đã có một quyết định nhanh chóng. Sau đó, khi những người xung quanh tôi bắn, tôi cũng bắn theo. Khẩu súng của tôi đã hoạt động. Từ đó tôi chẳng thể nhìn thấy gì trên cánh đồng.

     Trong cuộc chiến tranh da kích ở vùng chân thổ này tất cả các cuộc tấn công hoá ra là các vụ gây tai nạn rồi bỏ chạy.

     Thông thường mấy phát súng của các lính bắn tỉa hoặc một, hai loạt lớn hơn sẽ được phát ra từ một bụi cây, bụi rậm hoặc từ một hàng cây hoặc từ một khoảng rừng bao quanh một cánh đồng lúa. Một hoặc hai hoặc không ai trong số binh lính sẽ bị trúng đạn. Đám lính sẽ nằm xuống, những người phía trước sẽ bắn hoả lực yểm trợ vào nơi họ cho rằng những tiếng súng bắn ra từ đó. Tôi không ngần ngại làm việc đó. Ngay khi chúng tôi bị bắn khi đi qua một cánh đồng lúa, trung đội trưởng đã mở một đợt pháo kích, hoặc đôi khi là một cuộc không kích vào đám cây cối nơi anh ta cho là tiếng súng phát ra từ đó. Cứ mỗi lần như thế mất khoảng 10 phút hoặc hơn để tới được đó. Nếu có người bị thương, thường thì có một hoặc hai người bị thương trong loạt đạn đầu tiên, đơn vị sẽ không di chuyển tiếp cho tới khi có trực thăng y tế cứu thương tới đưa họ đi. Việc này mất khoảng 20 phút. Dựa vào sự yểm trợ thêm của pháo binh và không quân có thể giảm tối thiểu được các thương vong của Mỹ. Chắc chắn máy bay y tế đến nhanh đã giảm thiểu được số lính Mỹ chết trong khi chiến đấu. Nhưng những trường hợp làm giảm tốc độ của chúng tôi đi rất nhiều thế này dường như đã tạo ra những bất lợi thực sự khi cứ phải chỉ cho những thương vong biết rằng chúng tôi đang đưa họ đi. Thường sẽ phải mất nửa giờ sau khi trúng hoả lực đối phương, kể cả trúng một hoặc hai phát đạn, trước khi một đại đội bắt đầu hành quân trở lại được.

     Trong hầu hết các trường hợp thường không nghe thấy thêm tiếng súng nào từ vị trí đó sau tiếng nổ đầu tiên. Không ai trông thấy quân du kích đâu. Không tìm thấy ai ở chỗ mà cuối cùng họ đã chiếm được. Nếu có ai bị thương hoặc bị chết, Việt Cộng sẽ đem theo khi họ rời đi và có thể họ sẽ rời đi ngay sau khi bắn, vì có cánh đồng lúa cao hoặc các hàng cây che chắn, yểm trợ. Vì thế một cặp lính bắn tỉa cũng có thể chặn đứng được một đại đội lính Mỹ trong vòng nửa giờ.

     Đến cuối ngày bị bắn theo qui luật bởi các đối thủ mà bạn không thể nhìn thấy, những người đã không hề ngần ngại bỏ thẳng các vị trí cho bạn chiếm - mà cả hai đều biết họ sẽ bắn vào các bạn từ cùng một chỗ hoặc những chỗ khác cũng chỉ giống những chỗ đó vào ngày hôm sau - thật khó có thể tin rằng chúng ta sẽ hoàn thành bất cứ một việc gì. Tôi không nghe thấy nói tới việc đếm xác, có thể vì tất cả hoả lực mà chúng tôi dội vào các lớp lá thì không thấy một xác nào của đối phương. Thi thể duy nhất là một cô gái 18 tuổi, xuống từ Sài Gòn, nơi cô ta đang theo học tại một trường học của Pháp, để nghỉ với gia đình. Cô ta bị chết vì một viên đạn lạc của pháo binh Mỹ. Điều này không chứng minh được tinh thần của binh lính Mỹ.

     Trong số binh lính chúng tôi, đi đôi với sự nản chí lại là sự ca ngợi đối phương của họ. Tôi thường được nghe lời nhận xét: "Họ có lòng gan dạ hơn là có trí tuệ". Đối với binh lính, đó là một lời khen ngợi. Nhìn bề ngoài nó thể hiện sự cả gan là dám đi đến chỗ liều lĩnh, ngốc nghếch. Nhưng nó cũng không rõ điều đó là đúng hay không. Chúng ta là những người duy nhất đưa thương vong đi trong chừng mực chúng ta có thể nói. Không hề có một thương vong phía đối phương được tìm thấy vào lúc kết thúc của mười hai ngày, nhưng đã có 9 người Mỹ bị chết và 23 người bị thương. Hai người trong số họ là lính điện đài, tôi ở ngay cạnh khi họ bị trúng đạn. Lúc tôi không ở đó, tôi thường đi phía sau người lính điện đài, theo sát người chỉ huy đơn vị, người mà anh ta thường bắt liên lạc bằng một dây điện thoại. Chiếc râu ăng ten dài cao của lính điện đài đã làm anh ta trở thành mục tiêu đầu tiên của các tay súng bắn tỉa. Chúng tôi đã mất 4 người trong tiểu đoàn khi tôi đang ở đó.

     Binh lính càng trở nên tức giận vì việc thiếu thông tin, chúng tôi sẽ biết thông tin từ những người nông dân trong các túp lều chúng tôi đi qua - những bà mẹ với đứa con của họ, những người già cả, không bao giờ gặp thanh niên - khi chúng tôi đuổi theo hướng những người đang bắn vào chúng tôi. Rõ ràng người dân ở đây chắc chắn đã nhìn thấy chúng tôi đang truy lùng hoặc những người đang săn tìm chúng tôi, đang di chuyển xung quanh và phía trước chúng tôi. Đám binh lính rất tức tối và lúng túng vì họ nghĩ họ đang ở đó để bảo vệ người dân nhưng người dân lại không hợp tác với họ để chỉ ra những nơi ẩn náu của những kẻ đang phục kích. Từ những đánh giá tôi nghe được, tôi cho rằng đám lính không liên tưởng đến việc các tay súng bắn tỉa chắc chắn là những thanh niên vắng mặt của các gia đình.

     Nhưng tôi đã không chỉ ra điều này.

     Kết thúc và bắt đầu những ngày dưới cái nắng nóng bức, quân lính đã mệt mỏi và.chán nản. Thậm chí thỉnh thoảng gặp hoả lực đã làm họ không giữ được bình tĩnh. Miệt mài đi qua những cánh đồng lúa, đầm lầy, nước tới đầu gối sẽ đi rất chậm, phải nằm xuống nước hoặc bùn khi bị bắn, đầu ngóc lên trên mặt nước để giữ chiếc mũ sắt nặng trịch đang đè lên các cơ cổ và cố giữ súng không bị chạm xuống nước và bùn. Điều đó đã làm bạn kiệt sức.

     Một ngày trên cánh đồng, bị bắn, đã nhanh chóng khẳng định được những điều mà bạn biết từ việc đánh dấu các mục tiêu cho các tay súng trong phạm vi bắn của súng trường. Dễ dàng nhận biết qua âm thanh khi những viên đạn bắn trực tiếp vào bạn. Ngồi trong một giao thông hào phía dưới một trong hàng dài các mục tiêu bằng vải bạt có các tay súng cách đó từ một trăm tới vài trăm mét, bạn có thể nhận biết ngay từ âm thanh của tiếng súng khi mục tiêu cao quá đầu bạn mấy bộ bị đánh trúng mà không cần phải nhìn lên. Hết một loạt tiếng nổ liên tiếp bắn ra từ tuyến lửa, tiếng súng nhằm thẳng vào hướng của bạn nghe hoàn toàn khác - một tiếng nổ đanh gọn - với tiếng súng đã bắn vào mục tiêu bên cạnh cách đó mấy bộ, phía bên này hoặc bên kia. Tất cả đám lính này đã có được kinh nghiệm và khi mệt mỏi họ đã vận dụng kiến thức đó để không làm tất cả mọi việc chỉ để nhận được sự khen ngợi: Khi có tiếng súng, họ sẽ không nằm sát xuống mặt đất, đặc biệt trên một cánh đồng đầm lầy, trừ phi những phát súng đó nhằm thẳng vào. họ.

     Nhiều người trong số họ đã phải buộc những chiếc mũ sắt nặng nề và nóng bức vào ba lô hoặc thắt lưng để không phải đội lên đầu trừ phi họ gặp hoả lực bắn trực tiếp. Vì thế nếu những tiếng súng nhằm vào trung đội ở cánh đồng bên cạnh, có thể chỉ cách khoảng 15 hoặc 20 mét thì rất dễ phát hiện từ việc nghe âm thanh, lúc đó trung đội không bị hoả lực truy kích vẫn tiếp tục tiến chậm về phía trước, thường là không phải lo tới việc đội mũ sắt lên, tới khi hoả lực chuyện hướng, nếu nó đã chuyển hướng, là bắt đầu bắn trực tiếp vào họ. Tất nhiên điều đó có nghĩa là gia tăng thêm một cơ hội cho hoả lực nhằm vào một trong số họ nhổm dậy mà không có mũ sắt. Các trung sĩ và trung đội trưởng sẽ được bảo đảm an toàn tốt hơn, với cái giá họ bị mệt mỏi hơn và dễ cáu kỉnh hơn một chút, nhưng đó là cái giá mà hầu hết các chỉ huy đã không sẵn sàng để trả. Tôi đã biết được rằng các chuyện ngắn hạn và các chính sách luân Phiên thường xuyên nhằm củng cố tinh thần của mỗi cá nhân và duy trì các thành tích phục vụ của các sĩ quan đã ảnh hưởng tới chất lượng của ban lãnh đạo không chỉ ở cấp tiểu đoàn và cao hơn mà còn xuống tới tận các trung đội. Ngay như viên đại tá, và rất ít các trung uý ở các đơn vị lâu hoặc có nhiều kinh nghiệm chiến đấu. Họ không biết rõ về các hạ sĩ quan hoặc chiến sĩ của họ vì thế họ rất lúng túng khi chỉ huy.
Logged

Để gió cuốn đi...
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM