Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 10:50:09 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Những bí mật về chiến tranh Việt Nam  (Đọc 115710 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Excocet
Thành viên
*
Bài viết: 617


Thép đã tôi thế đấy


« Trả lời #70 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2007, 10:29:42 pm »

     Một buổi tối, người bạn cùng lều với tôi, tiểu đoàn trưởng nói anh ta nghe được những điều rất tốt đẹp về tôi từ các sĩ quan đại đội của anh ta. "Anh luôn tự giải quyết tốt mọi việc trên chiến trường; rõ ràng anh biết rõ điều anh đang làm. Họ thích có anh đi cùng". Tôi nói lại với tiểu đoàn trưởng rằng tôi đã từng là một đại đội trưởng đại đội súng trường và anh ta nói với tôi anh ta đã không biết điều đó.

     Tôi hỏi tiểu đoàn trưởng nếu anh ta không thấy phiền lòng cho phép tôi nói một số suy nghĩ về những gì tôi đang chứng kiến. Anh ta rất hào hứng để lắng nghe. Anh ta chỉ biết được tình cảm của các sĩ quan của mình rất muộn và đã không có cơ hội để thấy họ trên chiến trường. Tôi sẽ thấy được tất cả bọn họ đang làm việc vì khi tôi trở về căn cứ sau nửa ngày hành quân với một đại đội hoặc trung đội, tôi sẽ cởi bỏ áo ngoài và treo lên chỗ của người khác vừa lên đường. Tôi sẽ ra ngoài với hai hoạt động trong một ngày và thường là với một ca tuần tra của trung đội vào ban đêm. Mỗi tối tôi dành khoảng một giờ để đưa ra nhận xét cho tiểu đoàn trưởng về điều tôi đã chứng kiến vào ban ngày trong khi anh ta mải mê ghi chép.

     Sau 17 tháng ở Việt Nam, lần đầu tiên tôi đã nhìn thấy một đối phương không thể nhầm lẫn vào ngày đầu năm mới năm 1967. Bốn chúng tôi đang hành quân cách khoảng 50 dặm phía trước mặt của đại đội, di chuyển qua cánh đồng lúa cao ngang ngực, nước ngập tới đầu gối. Khi tôi nhìn xung quanh, chẳng thấy gì ngoài sóng lúa đang rập dìu, nhưng chúng tôi đã phải tập trung nhìn vào hàng cây trước mặt. Ngay khi chúng tôi trèo lên khỏi ruộng lúa vào đám đất khô quanh khu vực hàng cây, chúng tôi đã nghe thấy tiếng súng rất gần phía sau. Chúng tôi đi thành vòng tròn và sẵn sàng bắn trả, tôi đã nhìn thấy một đứa trẻ độ 14, 15 tuổi, tóc đen cắt ngắn, không mặc gì ngoài chiếc quần đùi đen rách tả tơi, quay lưng về phía chúng tôi, đang đứng hơi khom lưng, dùng một khẩu AK-47 bắn vào chỗ đám lính còn lại. Tôi có thể nhìn thấy nó rất rõ trên vệt cỏ mới cắt, chúng tôi vừa mở ra phía sau khi di chuyển qua cánh đồng lúa mấy phút trước đó.

     Phía bên phải và bên trái nó tôi nhìn thấy hai đứa khác, đầu chúng chỉ thấp bằng đầu ngọn lúa. Chúng cũng đang bắn.

     Chắc hẳn chứng đã nằm trong nước cách chúng tôi mấy feet khi chúng tôi đi qua. Chắc chắn chúng đã nhìn thấy hoặc có thể lặn xuống nghe và cảm nhận được những tiếng bì bõm của bước chân trong nước và bùn quanh các gốc lúa cách chúng mấy feet hoặc mấy bộ. Chúng đã nằm ở đó, để cho 4 chúng tôi đi qua để ngắm bắn tốt hơn từ người chủ lực tới người đi sau cùng. Chúng tôi không thể bắn vào chúng vì chúng tôi sẽ được yểm trợ bằng hoả lực của trung đội. Nhưng vì chúng tôi là những người sẽ được yểm trợ nên rất nhiều hoả lực tập trung thẳng về phía chúng tôi. Nằm sát xuống mặt đất, tôi quan sát đứa trẻ này bắt đầu nổ súng dường như chẳng vào cái gì trong khoảng 10, 20 giây, có lẽ ngắn hơn 5, 6 giây cho đến khi nó khom lưng xuống và biến mất vào trong cánh đồng lúa với những đứa bạn. Sau một phút trung đội ngừng bắn về phía chúng tôi, chúng tôi lại trở dậy và tiếp tục đi Chúng tôi nghĩ tới nhiều điều khi đi ngang qua một khu rừng gỗ và ngập trong nước ở cánh lúa tiếp theo. Trung đội trưởng đã cử 3 người tới ứng cứu cho những người đi cùng tôi lúc đó nhưng họ không cần biết điều gì vừa mới xảy ra. Họ rất cảnh giác - tôi cũng thế - khi chúng tôi đi qua cánh đồng lúa, nhưng ngay cả bạn cũng không thể nhìn thấy gì trên một cánh đồng lúa cao hơn mấy feet và tốt um như thế. Ba người khác và tôi đã được cảnh báo đầy đủ trước đó, vì thế chúng tôi thấy rằng cách duy nhất để có thể phát hiện ra những đám trẻ đó là phải bước lên trước chúng. Đó là công việc của chúng tôi nhằm thu hút hoả lực - dù là chúng tôi không thể tự nhận ra đối phương - để cảnh báo cho các đội quân chủ lực phía sau chúng tôi. Còn đối phương ở đây lại dường như không cảm thấy trách nhiệm gì để giúp chúng tôi thực hiện nhiệm vụ của mình. Có thể đã có một trung đội Việt Cộng trốn trên một trong những cánh đồng đó cùng chúng tôi mà chúng tôi không hay biết gì.

     Khoảng một giờ sau, một việc tương tự lại diễn ra. Hoả lực bắn ra từ cánh đồng lúa ngay sau chúng tôi hướng tới các binh lính đi phía sau. Lần này tôi không nhìn thấy gì nhưng thoáng thấy một bóng người mặc áo đen băng qua cánh đồng. Tôi rất ấn tượng không chỉ vì các chiến thuật mà là cả cách thực hiện của họ. Một điều rõ ràng là: Chúng là những đứa trẻ địa phương. Mặc quần đùi rách tả tơi, đi dép cao su - nếu chúng có gì dưới những bàn chân thì đó chỉ là những cây lúa nước - chúng là người của làng này, có thể là của xã này. Vì thế chúng có lợi thế là biết rõ từng đường hầm, hào, từng ngọn cây, lá lúa và những chỗ có thể che chở chúng trong vùng cứ như đó là sân chơi riêng của chúng, vì đó chính là sân sau nhà chúng. Rất dễ hiểu (sau này tôi nghĩ lại) vì sao chúng lại dũng cảm chui vào giữa một tiểu đoàn được tăng cường của Mỹ và bắn bất ngờ vào đám lính Mỹ từ mọi phía. Chúng cho rằng chúng đang bắn vào những kẻ đi xâm lược, chúng có quyền ở đó còn chúng tôi thì không. Đây sẽ là một dịp tốt để tôi tự hỏi lại chính mình liệu có phải đám trẻ đó đã thực sự sai và liệu chúng tôi có đủ lý do chính đáng để tới đó, trong sân sau nhà họ để rồi bị hoả lực truy kích. Tuy nhiên tôi không nghĩ tôi đã đối mặt với vấn đề đó một cách dứt khoát cho đến khi tôi rời Việt Nam. Khi bạn bị bắn và phải bắn trả, bạn không nghĩ tới hai lần là phải bắn lại. Vấn đề là liệu bạn có quyền ở đó để bắn lại hay không.

     Chúng tôi đang nghỉ giải lao bên lề đường thì nhìn thấy tốp lính phía trước mặt, ngay bên ngoài góc rừng phía bên kia của cánh đồng lúa cách khoảng gần 75 mét. Họ là lính Mỹ hay lính của Quân đội Việt Nam cộng hoà. Bạn không thể dễ dàng nhận ra vì binh lính của Quân đội Việt Nam cộng hoà đã mặc các bộ quân phục và sử dụng trang thiết bị của lính Mỹ. Họ mặc những bộ quân phục rằn ri, có dây đeo đa năng và đội những chiếc mũ sắt Dây đeo đa năng là những dây đai bằng vải bạt nặng dùng để đeo ba lô, các dây lưng bằng vải bạt có các lỗ bấm kim loại dùng để đeo bi đông nước, súng ngắn và các loại dao. Du kích Việt Cộng thì không có. Họ cũng không có mũ sắt.

     Tôi đã nhìn thấy rõ một trong số họ quay lưng về phía chúng tôi đang giữ một cái giá súng trung liên, đứng trên cánh đồng lúa xác xơ cách phía trước hàng cây vài mét. Hai người khác khom người xuống, di chuyển quanh bụi cây dương xỉ ngay bên trong bụi tre và trong chốc lát tôi đã nhìn thấy 2 hoặc 3 người khác phía bên trái trong bóng tối của đám cây. Họ không nhìn thấy chúng tôi. Họ đang đặt khẩu trung liên để yểm trợ cách góc phải của cánh đồng lúa chừng mấy mét.

     Trung đội trưởng cùng với người liên lạc đã tới ngồi cùng 4 người chúng tôi trong thời gian nghỉ giải lao. Anh ta ngồi xuống bên cạnh con đường nhỏ, ra hiệu cho người liên lạc đưa cho chiếc máy điện thoại cầm tay và gọi cho sở chỉ huy đại đội phía sau chúng tôi. Anh ta hỏi qua điện thoại: "Những người bạn phía trước chúng ta là ai? Tôi nghĩ chúng ta đã là những người đi đầu. Sau đó lắng nghe cầu trả lời và nói: "Đúng, có. Chúng tôi có thể nhìn thấy họ rất rõ. Họ đang mang bộ dây đeo đa năng và đội mũ sắt". Anh ta lại chờ đợi, rồi nói, "Hừm".

     "Họ nói gì thế?"

     "Họ nói không có nhóm bạn nào phía trước chúng ta cả. Những người đó không phải, nhắc lại, không phải là những người bạn. Tôi nói họ có dây đeo đa năng và mũ sắt. Họ nói, "Đại đội Golf ở phía sau của tiểu đoàn đang có một cuộc đụng độ lớn với đám lính có mang dây đeo đa năng và mũ sắt".

    Trung đội trưởng đội lại mũ và thắt chặt dây đeo. Tôi hỏi anh ta: "Anh sẽ làm gì?"

    Trung đội trưởng trả lời: "Tôi nghĩ chúng ta sẽ phải tìm xem họ là ai ".

Một số lính khác đã tham gia cùng chúng tôi. Trung đội trưởng sẽ dẫn 7 hoặc 8 người chúng tôi trườn qua cánh đồng và tấn công trong khi số còn lại của trung đội lập thành một trạm hoả lực từ phía con đường. Có lần chúng tôi đã không chờ đến pháo kích hoặc không kích lúc đầu. Tôi đã nhìn xung quanh địa hình. Cánh đồng gần như trống trải. Lúa trên cánh đồng còn rất non, các ngọn lúa non yếu ớt cách nhau mấy centimét, sân có mấy centimét nên không tạo ra được sự yểm trợ dưới nước. Có một gò đất giữa cánh đồng cao khoảng hơn 1 mét có cỏ mọc xung quanh. Đó là chỗ che chở duy nhất, rộng khoảng gần 2 mét, có một mặt bằng rộng bằng khoảng ba phần tư một sân chơi bóng đá.
Logged

Để gió cuốn đi...
Excocet
Thành viên
*
Bài viết: 617


Thép đã tôi thế đấy


« Trả lời #71 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2007, 10:32:35 pm »

     Trung đội trưởng hỏi tôi "anh có đi không". Tôi gật đầu. Tôi không biết tên anh ta và anh ta cũng không biết tên tôi, nhưng anh ta biết tôi đã khó chịu với việc ở đây cả ngày.

     Tôi hỏi viên trung uý, người sẽ ở lại phía sau con đường để chỉ đạo hành động: "Anh có nhận ra đám lính phía trước đó là ai?" "Những người đó chắc phải là NVA (quân đội Bắc Việt, các đơn vị quân đội chính qui từ miền Bắc Việt Nam vào)". Tôi cho rằng họ là những người Cộng sản duy nhất mặc các bộ quân phục chính qui và đội mũ sắt. Họ bắt đầu vào miền Nam từ hai năm trước - đó là khi tôi đã theo dõi các bản báo cáo tình báo đầu tiên về họ trong một tài liệu nghiên cứu ở Lầu Năm Góc gửi cho McNamara - và đến bây giờ họ đã là quân chiến đấu với qui mô lớn ở các khu vực phía bắc miền Nam Việt Nam, chủ yếu ở Quân đoàn 1 và 2. Nhưng tôi chưa bao giờ nghe về các đơn vị quân đội Bắc Việt ở phía Nam Sài Gòn, thuộc vùng châu thổ sông Mêkông, nơi chúng tôi đang ở. Tôi nói với trung đội trưởng: "Theo tôi biết, đây chắc chắn là đội quân Bắc Việt đầu tiên ở phía Nam Sài Gòn. Thật thú vị vì chúng ta lại đụng với họ".

     Anh ta hỏi: "Sao lại thế?". Anh ta dường như không bị ấn tượng với điều này như tôi.

    Bảy hoặc tám người chúng tôi sẽ thực hiện một cuộc tấn công dọc theo con đường này. Tôi ở bên cánh phải, ngang qua ngay chỗ khẩu trung liên mà tôi thấy họ đã đặt giá súng, và bố trí một xạ thủ ở cách xa hơn một chút phía bên phải tôi. Theo lệnh, chúng tôi rườn theo con đường nhỏ và bắt đầu di chuyển về phía trước Trong khi chúng tôi đang bò thành hàng qua cánh đồng lúa, đầu chúng tôi cách mặt nước có mấy centimét, đám lính phía sau đã bắt đầu bắn ngay trên đầu chúng tôi vào phía hàng cây.

    Giữ súng ở trước mặt bằng cả hai tay ngay trên mặt nước, chúng tôi di chuyển bằng khuỷu tay và đầu gối qua đám bùn lầy, giữ cho báng súng thấp xuống. Gối trái, vai và khuỷu tay trái lết lên phía trước, sau đó chân trái duỗi thẳng ra, khi mỏi lại đổi sang gối phải, vai và khuỷu tay phải, di chuyển ngang qua cánh đồng như một con cua. Tôi đã theo được cách di chuyển này và đã vài lần nhìn sang xung quanh thấy mình đã tiến lên đầu đoàn rồi lại đừng lại đợi họ.

     Hoả lực từ phía sau có những tiếng đạn nổ đanh gọn nhằm thẳng vào chúng tôi. Có những viên đạn được bắn ra từ phía hàng cây trước mặt. Nhưng hoả lực phía sau là của binh lính của chúng tôi, nó giống như một tấm lá chắn ngay phía trên đầu, đang bay vèo vèo và rít lên như thể tấm lá chắn đang bị xé toạc ra. Tôi không biết những người trong một cuộc tấn công đã làm thế nào để có thể duy trì được hoả lực của đồng đội từ phía sau.

     Tôi cũng không thể hiểu chúng tôi sẽ duy trì được hoả lực của đồng đội mình như thế nào.

     Tôi có thể nhìn thấy những tia sáng loé lên từ khẩu trung liên ngay phía trước mặt tôi. Khi cách đó khoảng gần 15 mét, tôi lấy ra 2 quả lựu đạn từ thắt lưng, rút chốt an toàn một quả và nghiêng người nắm thẳng vào khẩu trung liên. Tôi rút chốt quả thứ hai và ném luôn vào đó. Cả hai quả đều phát nổ, khẩu trung liên ngừng bắn. Cùng lúc hoả lực phía sau chúng tôi cũng ngừng, chúng tôi trở dậy và di chuyển nhanh qua những mét cuối cùng để vào hàng cây rồi dùng súng bắn. Khi chúng tôi vào tới khu rừng, tôi không nhìn thấy một ai nhưng có thể nghe thấy tiếng bước chân giẫm lên bãi cỏ ngay phía trước mặt cách độ 10 đến 20 mét. Họ đã đem theo khẩu trung liên và nếu có ai bị thương hoặc bị chết, họ cũng đem theo luôn vào phút cuối cùng. Họ thật sự là những người lính tuyệt vời.

     Điều quan trọng, tôi đã được học và được biết qua những người lính của tôi từ một thập kỷ trước là để truy kích một đối phương cứng rắn, để di chuyển qua mục tiêu, thì không được dừng lại trên bờ phía trước mặt hoặc loanh quanh phía trên để bị nã pháo. Lúc đó tôi quên mất vai trò của mình, viên trung uý đang tụt lại xa phía sau chúng tôi, tôi đã phải quát lên với những người khác, yêu cầu phải tiếp tục di chuyển, bám sát nhau.

     Nhưng hình như họ không được huấn luyện cách này. Họ dừng lại và đợi những người khác tới cùng, tôi đã phải im lặng. Tôi đang đứng chỗ khẩu trung liên được đặt; dưới chân tôi là một đống to các vỏ đạn. Tôi không thấy có máu trên mặt đất hoặc trên lá cây. Tôi nhặt đầy vỏ đạn làm kỷ niệm, những viên đạn được bắn thẳng vào tôi và chúng còn nóng tới mức làm cháy cả tay tôi, tôi đã phải bỏ chúng xuống. Đám vỏ đạn rơi xuống nước kêu xèo xèo, chúng vừa được bắn vào chúng tôi chưa đầy một phút trước đó.

     Mất một lúc sau số còn lại của trung đội mới tới được mục tiêu và khoảng 15 hoặc 20 phút trôi qua trước khi chúng tôi tới được phía bên kia hòn đảo nhỏ của cánh rừng và quay lại nhìn biển lúa thẳng băng bao quanh. Ngay khi vừa lên bờ, chúng tôi lại bị hoả lực truy kích. Nhưng lần này hoả lực không phải từ hàng cây phía trước cách chúng tôi 100 mét, nơi chúng tôi cho là quân lính mà chúng tôi đang đuổi theo đã rút lui. Hoả lực được bắn ra từ phía bên phải, chéo với hướng tiến của chúng tôi, từ một rừng cây phía xa hơn độ vài trăm mét. Liệu những người lính kia có thể di chuyển tới đó nhanh và xa như thế? Hoặc liệu có đối phương ở xung quanh khu vực rộng mênh mông này để yểm trợ? Dù thế nào chúng tôi cũng phải đổi hướng tiến tới nơi có hoả lực đang bắn ra và trung đội trưởng đã lệnh cho pháo binh từ căn cứ trong xóm tập trung bắn vào rừng cây này.

     Do có sự chậm trễ của máy bay cứu thương, nên mất thêm nửa giờ nữa chúng tôi mới tới được mục tiêu, khu rừng cây, nhưng không thấy bóng dáng nào phía đối phương. Chúng tôi lại bị truy kích, lần này hoả lực chéo ngang qua cánh đồng tới trước mặt phía trái của chúng tôi. Tuân theo lệnh, chúng tôi di chuyển về phía có những tiếng súng. Việc này diễn ra tới ba, bốn lần, chúng tôi phóng hoả lực và chạy theo hình chữ chi tới đó cứ nửa giờ một lần, trong khoảng thời gian đó cũng đủ để thấy điều gì đang diễn ra. Có hai nhóm quân lính của phía đối phương, có lẽ mỗi nhóm không quá một tiểu đội, những người đang làm cho chúng ta phải tới lui giữa họ khi mỗi lần có đợt rút lui dọc theo các tuyến song song của các cánh đồng lúa. Ngay khi chúng tôi chiếm được vị trí mà nhóm này vừa phải bỏ chạy thì nhóm khác lại bắn vào chúng tôi trong khi nhóm đầu tiên đã trốn sang vị trí cạnh đó. Cho dù thế thì phương thức hoạt động cũng đã trở nên rõ ràng, mỗi lần chúng tôi bị bắn, chúng tôi đã di chuyển bí mật về phía có tiếng súng bắn vào chúng tôi, giống như một chú bò đang đuổi theo sự chuyện động của một chiếc áo choàng không tay. Trước khi chúng tôi tới được vị trí của họ, họ đã chuyến đi.

     Ít phút sau hoả lực bắn vào chúng tôi từ hướng khác sẽ yểm trợ cho họ rút lui, làm cho chúng tôi từ bỏ việc truy đuổi và chuyện hướng sang mục tiêu khác mà chẳng mấy chốc lại phải rút lui.

     Họ đang chơi trò với chúng tôi, một trò chơi kiểu nhảy cừu và họ là những người chơi rất tốt, có lẽ không phải là lần chơi đầu tiên của họ.

     Vào cuối ngày, binh lính của chúng tôi đã khuỵ cả xuống và cảm thấy mệt mỏi với trò chơi. Năm hoặc 6 người bị thương và như thường lệ, trừ những người bị thương đó thì không thấy người nào phía đối phương còn sống hoặc đã chết. Nhưng dù các đơn vị mà chúng tôi đang truy đuổi là ai đi nữa, thì tất cả họ cũng không phải vào từ miền Bắc Việt Nam hoặc phía bắc của Sài Gòn. Có nhiều lính địa phương đi cùng họ, những người đã biết rất rõ các cánh đồng. Có thể vẫn là những đứa trẻ hoang dã mặc quần đùi đen, những đứa đã chạy vòng quanh chúng tôi sáng hôm đó hoặc anh em của chúng.

      Thực tế, sau này tôi mới biết được rằng các mũ sắt và các bộ quân phục rằn ri là những gì mà tình báo của chúng tôi gọi là các đơn vị chủ lực, các lực lượng chính qui Việt Cộng, Việt Cộng mặc quân phục được tổ chức thành các trung đoàn và sư đoàn.

     Đó rõ ràng là những gì chúng tôi đã tình cờ gặp trưa hôm đó vẫn không có dấu hiệu nào của quân đội Bắc Việt, mặc dù cũng hiếm khi nhìn thấy các đơn vị chủ lực Việt Cộng trong vùng này, vì thế dù sao đó cũng là khoảnh khắc của một ngày lịch sử.

     Nhưng binh lính của chúng tôi trong đó có cả tôi đã sẵn sàng để việc đó qua đi. Cuối cùng, khi thực hiện cuộc càn quét một vòng trong suốt cả ngày, chúng tôi đã có thể nhìn thấy doanh trại trên mấy cánh đồng lúa ước mặt. Chỉ có một hàng dừa đơn giữa chúng tôi và ngôi làng nơi pháo đạn và sở chỉ huy tiểu đoàn của chúng tôi đóng quân.

      Trung đội trưởng, người cuối cùng dẫn đầu đại đội tiến lên, đã cho nghỉ giải lao, binh lính cởi bỏ mũ sắt, uống nước trong bi đông và ăn những thanh kẹo sôcôla được bọc trong giấy.

     Người liên lạc, một cậu bé da đen rắn chắc, lúc nào trông cũng bị quá sức với chiếc máy liên lạc nặng 75 pao, đang uể oải bỏ chiếc máy ra khỏi vai. Khi nghĩ về ngày này, tôi nhớ là đã hỏi anh ta điều mà tôi đã bắt đầu tự vấn bản thân sáng hôm đó: "Có lẽ có bao giờ anh cảm thấy mình như những người lính Anh (thế kỷ 18, 19)?"

     Không hề do dự, anh ta trả lời bằng một giọng kéo dài: "Tôi đã nghĩ điều đó… suốt rồi". Bạn không thể nào quên điều đó nếu bạn đã đi học phổ thông ở Mỹ. Binh lính nước ngoài xa nhà, đội mũ sắt, mặc quân phục và mang vác trang thiết bị nặng, đi thành đội hình dọc theo những con mương và cứ nửa tiếng một lần lại bị hoả lực từ những hàng cây truy kích.

     Trung đội trưởng cằn nhằn. Anh ta nhìn ra phần đường mà chúng tôi vẫn chưa đi và nói: "Ồ, dù sao đó cũng là phần dành cho ngày hôm nay". Tôi hỏi làm sao anh ta biết. Trung đội trưởng trả lời: "Chúng ta đang trong phạm vi tầm nhìn của doanh trại chúng ta có nửa tiểu đoàn phía sau và pháo đạn của chúng ta ở ngay đằng kia. Không có gì che chắn giữa chỗ này với chỗ kia, ngoại trừ hàng cây đó. Và Việt Cộng sẽ không dại gì mà lại chui vào giữa chúng ta và tất cả những thứ đó".
Logged

Để gió cuốn đi...
Excocet
Thành viên
*
Bài viết: 617


Thép đã tôi thế đấy


« Trả lời #72 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2007, 10:37:52 pm »

     Tay lính liên lạc vẫn đang nằm ngửa, nhìn lên đám cây và nói thầm bằng một cái giọng kéo dài như hát, lúc đầu thì rất cao, sau thấp dần và kết thúc: "Tôi… sẽ không… chắc lắm… " Khi giọng anh ta hết kéo dài, toàn bộ hàng cây phía trước mặt chúng tôi, giữa chúng tôi và doanh trại đã phát nổ bằng một làn hoả lực.

     Mũ sắt văng đi rất nhanh, giấy gói kẹo bay lung tung, binh lính bò vào vị trí và bắn trả. Thật là nực cười, ít ra là với tay lính liên lạc và tôi. Viên trung uý, nằm sấp bên cạnh tay lính liên lạc liên lạc, đã thực hiện một đợt không kích vào hàng cây, vì phạm vi từ doanh trại tới đó quá gần để có thể sử dụng pháo binh.

     Nhưng dù là ai đã ngăn chặn được hoả lực thì sau đó ngay lập tức một loạt nổ dài vẫn phát ra từ phía hàng cây. Lần này thậm chí họ còn không đợi cho chúng tôi kịp triển khai xuống cánh đồng. Có lẽ họ chỉ muồn để chúng tôi biết họ đang ở đó. Một đợt hoả lực yểm trợ. Có thể trước khi đội súng đến, họ đã chuyến đi dọc theo hàng cây tới bất cứ nơi nào để qua đêm vì chúng tôi đã chiếm mất những túp lều của họ ở trong làng.

     Sau khi đội súng lia đạn lên xuống vào hàng cây vài lần, chúng tôi đã tiến tới đó, một cách thận trọng, không bắn thêm hoả lực. Chúng tôi đã đi qua đó để tới doanh trại.

     Vào đêm cuối cùng của tôi ở Rạch Kiến, viên sĩ quan tác chiến chỉ cho tôi một điểm trên tấm bản đồ cách ngôi làng vài dặm, ở một đoạn vòng của con sông. "Mọi cuộc tuần tra khi tới gần điểm đó đều bị hoả lực truy kích. Có sự che chắn lớn ở chỗ đó và dọc theo suốt bờ sông, và chắc chắn Việt Cộng ở đó vào mọi lúc. Tối nay tôi sẽ đưa một đại đội tới. Chúng ta sẽ chiếm được vị trí bằng cách bất ngờ vào buổi sáng và sẽ xoá sạch điểm này".

     Tôi dự định rời khỏi đó vào trưa hôm sau nhưng tôi đã quyết định ở lại để đi cùng. Đó là lần đầu tiên toàn đại đội hành quân vào ban đêm. Họ không dự tính cho một cuộc tấn công ban đêm.

     Quan điểm là phải hành quân vào ban đêm để họ có thể vào tới vị trí mà không bị phát hiện ra, một việc không thể được tiến hành ở quanh đây vào ban ngày. Viên sĩ quan tác chiến đã có kế hoạch cho một tuyến đường rất vòng vèo vòng quanh điểm phục kích của Việt Cộng vì thế chúng ta sẽ tấn công từ phía đối diện với doanh trại của chúng ta, nơi họ không thể nghĩ là chúng ta ở đó ngay từ sáng sớm. Một kiểu phản kích, sẽ là một cuộc hành quân dài trong đêm tối, bắt đầu sau nửa đêm.

     Tôi đã thu dọn hết hành lý vào trưa hôm sau, ăn bữa cơm tối cuối cùng với viên dại tá và nằm xuống chiếc giường nhỏ chợp mắt một lúc. Ai đó đã đánh thức tôi dậy lúc 2 giờ sáng.

     Hành quân ban đêm, chúng tôi có thể đi trên những con đê nên cảm thấy thoải mái và chân không bị ướt. Dù như thế nhưng đường di theo kế hoạch khá dài và vòng vèo làm chúng tôi phải mất vài giờ đi bộ. Binh lính đã thực hiện đủ nhiệm vụ tuần tra đêm tới lúc này vì thế mọi thứ đem theo đều đã hết, các túi trống không và không còn có tiếng kêu leng keng. Không có cành cây nào để bắc qua những con mương mà đất lại nhão nhoét làm cả một đại đội lính yên lặng đến ngạc nhiên.

     Trời thực sự không tối, trăng tròn sáng trong, không mây che khuất. Cũng không có lấy một cơn gió nhẹ vì thế nước ở các cánh đồng mà chúng tôi đang đi qua vẫn yên ả. Giờ này qua giờ khác trăng đi cùng chúng tôi, trăng chiếu sáng mặt nước khi chúng tôi bước qua. ánh trăng chiếu rõ và sáng ngay dưới chân chúng tôi trên những cánh đồng bên cạnh như khi chúng tôi nhìn lên và thấy nó trên trời. Nhưng ánh trăng xuống thấp là bị che khuất vì bóng của những lá cây tối đen in trên mặt nước. Một quang cảnh đẹp đến mức khó tưởng tượng.

     Chúng tôi cứ thế đi trong suốt nhiều giờ. Thỉnh thoảng dừng lại một chút cho các sĩ quan xem bản đồ bằng ánh trăng. Cuối cùng trăng đã lặn và chúng tôi phải đi trong đêm tối hoàn toàn.

     Không lâu sau chúng tôi đã phải dừng lại, nằm xuống và chờ lệnh tới trước khi trời sáng vì có tiếng nói vọng lại, tiếng đàn ông thì thụt với nhau. Trung đội trưởng đã tới mục tiêu.

     Tôi đi men theo hàng lên tới chỗ trung đội trưởng, anh ta bảo tôi lên và chỉ cho tôi nơi chúng tôi đã dự tính tấn công. Di chuyển nhẹ nhàng, anh ta dẫn tôi tới góc của một cánh đồng có nước nhưng không có lúa mà tôi có thể nhìn thấy. Nhìn bằng mắt trong đêm tối, kể cả bằng ánh sao cũng đủ để nhận ra sự trống trải, cánh đồng bị cắt chéo trước mặt chúng tôi bằng một rừng cây dầy đặc. Đó là mục tiêu của chúng tôi".

      Khi chúng tôi quay lại, trung đội trưởng nói với tôi rằng ngay trước khi trời sáng anh ta sẽ cho triển khai quân phía sau con mương dọc theo một bên của cánh đồng để thực hiện đợt tấn công. Trung đội 3, hiện tại đang ở phla sau chúng tôi sẽ chiếm lĩnh vị trí ngay bên góc phải, dọc theo bờ bên cạnh của cánh đồng để cung cấp hoả lực yểm trợ cho đợt tấn công của chúng tôi ngay khi trời sáng.

     Cho đến nay ở Rạch Kiến tôi chưa bao giờ có ý kiến gì về bất cứ mệnh lệnh nào mà tôi từng nghe được. Đó không phải là công việc của tôi và tôi cũng không muốn gây sự chú ý cho bản thân Nhưng khi tôi nghĩ về những điều vừa nhìn thấy và nghe được tôi thấy lo lắng với kế hoạch vượt qua cánh đồng trống trải đó vào ban ngày để vào một khu vực mà chúng tôi chắc chắn là có Việt Cộng. Lần đầu tiên tôi đã liều lĩnh đưa ra ý kiến. Tôi nói với trung đội trưởng rằng có lẽ là tốt nếu cho trung đội của anh ta di chuyển qua cánh đồng này vào ban đêm tới góc phía trước của rừng cây đó, cách không xa lắm, nơi họ có thể ẩn nấp, nhưng chỉ là bên trong đám lá. Trung đội trưởng không tán thành, và anh ta sợ sẽ mất sự kiểm soát nếu anh ta cứ cố gắng triển khai quân tới bất cứ đâu dọc theo con mương thẳng tắp đó. Điều đó là đúng nhưng tôi vẫn cảm thấy lo lắng.

     Trong nửa giờ, trời bắt đầu sáng. Trung đội của chúng tôi di chuyển về phía trước và nằm cách nhau phía sau con mương, cố để đầu thấp xuống dưới bờ mương, nằm sát xuống nước bùn sau khi khô ráo suốt đêm. Nhìn về phía bên trái những đôi mắt chạm mặt nước, chúng tôi có thể thấy hết phía chân trời, ngang qua các cánh đồng lúa bằng phẳng không bị cây cối che khuất.
Logged

Để gió cuốn đi...
Excocet
Thành viên
*
Bài viết: 617


Thép đã tôi thế đấy


« Trả lời #73 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2007, 10:40:06 pm »

     Một điều gì đó rất lạ đang diễn ra. Một mặt trời lớn nhất mà tôi từng nhìn thấy đang từ từ ló lên từ phía chân trời. Mặt trời màu da cam sẫm, sắc nét như mặt trăng nhưng lớn hơn gấp nhiều lần. Nó toả ra một tia nắng đỏ trải dài ngang qua những cánh đồng lúa ngập nước.

     Lúc đó những người đội mũ sắt mang súng đã hiện ra từ khu rừng phía sau chúng tôi và bắt đầu đi dọc theo con mương bên cạnh về phía bên trái. Đó là Trung đội 3 đang chiếm lĩnh vị trí bắn của họ. Sau cuộc đi bộ suốt đêm trên đỉnh của những con đê, trung đội trưởng của họ rõ ràng đã quên rằng trời không còn tối nữa. Họ đang đi dưới ánh nắng mặt trời.

     Tim tôi như ngừng đập vì trông thấy một đứa trẻ bước vào đám xen cộ đông đúc mà không hay biết gì. Tôi được huấn luyện vệ bộ binh từ năm lên 10 đến năm 12 tuổi, nhưng sau những ngày kéo dài trên các cánh đồng lúa này tôi thấy như thể nó đã ăn sâu vào cơ thể tôi và không gì có thể ăn sâu hơn là nguyên tắc một bản năng quan trọng: Tránh xa đường chân trời vào ban ngày; không được đứng trên đỉnh đồi; không bao giờ được để hình bóng hiện ra trên nền trời. Đây không phải là bầu trời mà những người đàn ông bị in hình lên. Đó là một mặt trời màu da cam. Từng người một sẽ di chuyển vào trung tâm của tia nắng lớn nhất sẽ bị phát hiện. Trước khi mặt trời lặn, nó lớn tới mức cùng một lúc có thể in bóng tới hai hoặc ba người đàn ông. Đó là một cảnh thật tuyệt vời nhưng không tốt cho đời lính.

     Toàn cơ thể tôi căng lên, chờ đợi một khẩu trung liên phát hoả từ phía rừng cây trước mặt chúng tôi để trừng trị họ. Nhưng vì lý do nào đó khẩu AK-47 - được đặt ở đó bị nước vào - đã không bắn được cho tới khi Trung đội 3 xuống phía sau con mương, tự tìm mục tiêu và ra hiệu cho Trung đội 1 di chuyển. Đúng lúc, khi chúng tôi vượt qua bờ mương xuống chỗ nước cao đến bắp đùi, thì có những tiếng kêu lách cách từ phía hàng cây bắn về phía chúng tôi như là họ đang đáp lại cùng mệnh lệnh của chúng tôi, vả họ đang gõ liên hồi vào chúng tôi.

     Tôi lẩm bẩm: "Chết tiệt, và ngần ngừ một lúc trước bờ mương, đợi để bắn. Mọi người còn lại cũng làm thế. Sau đó chúng tôi di chuyển về phía trước trong khi Trung đội 3 dội hoả lực vào rừng cây. Khi tôi đang bước qua ruộng nước, đạn bắn trên đầu, tôi nghĩ: tôi đã biết đợi đến ban ngày để vượt qua cánh đồng này không phải là ý kiến hay. Nhưng sau đó tôi phải thừa nhận rằng gợi ý của tôi về việc phải vào được đám rừng cây trước khi trời sáng có lẽ cũng không thực hiện được tốt lắm. Có phải đám người đó đã sẵn sàng ở ngoài bìa rừng trong đêm? Họ đã biết chúng tôi đang đến hay cứ ngồi chờ hàng đêm trong ruộng nước? Bắt gặp họ trong đêm tối, trong bụi cây, thậm chí còn khó khăn và tồi tệ hơn cả việc này?

     Thông thường, Việt Cộng, sau loạt đạn đầu tiên, đã ngừng bắn và lùi lại. Họ cho thấy rõ rằng họ chứ không phải chúng tôi sẽ tiếp tục tạo ra sự bất ngờ, rằng chúng tôi sẽ không bắt được họ, rằng họ biết vùng này rõ hơn chúng tôi nhiều và họ sẽ trở lại đây sau khi chúng tôi đã đi, vì thế lúc này họ không cần cứ phải quanh quẩn ở đây.

     Đã có lần chúng tôi được lệnh giữ liên lạc và tiếp tục đuổi theo. Bên trong tán lá rừng chúng tôi vào là một đống dây leo chằng chịt lửng lơ trong nước. Một số lính đã cắt dây mở đường bằng một con dao rựa nhưng tiến độ rất chậm. Và gần như mỗi bước chúng tôi đi nước ngập sâu hơn một chút tới khi lên tận thắt lưng và đôi lúc lên tới ngực. Chỗ này dẫn chúng tôi tới đâu? Nước sẽ sâu bao nhiêu? Đám người chúng tôi đang đuổi theo ở đâu? Rõ ràng con sông bên cạnh chúng tôi đã tràn bờ, có thể theo mùa, và chúng tôi đang trong một đoạn dài của khu rừng ngập nước bao quanh con sông, chúng tôi đã rơi vào một đầm lầy sâu, không có luồng chảy. Lúc đó chúng tôi dừng lại một lát và trong sự tĩnh mịch chúng tôi có thể nghe rõ những giọng nói nhỏ bằng tiếng Việt. Chúng tôi im lặng và nhận rõ họ cách chúng tôi chừng 20 mét về phía bên phải. Họ đang ở ngay bên cạnh chúng tôi nhưng về phía bên kia của con sông. Không có các đồng đội đang hoạt động ở vùng này. Chúng tôi có lẽ đang lắng nghe Việt Cộng nói chuyện với nhau bằng những giọng nhỏ nhẹ, gần chúng tôi hon là trung đội ở phía sau. Có thể họ không phải là những người chúng tôi đang đuổi theo; vì rõ ràng họ không biết chúng tôi ở rất gần họ.

     Trung đội trưởng quyết định tập kích pháo vào họ. Khoảng cách khá gần để thực hiện việc này nhưng trung đội trưởng tin tưởng vào khả năng đọc bản đồ và xem la bàn của anh ta. Anh ta thì thầm các biện pháp phối hợp vào chiếc máy dẫn. Con sông bên cạnh chúng tôi, được đánh dấu rõ trên bản đồ, có thể đã giúp cho lính pháo binh thực hiện các đợt bắn của họ vì đã có những tiếng nổ phát ra từ phía bên kia, xung quanh khu vực có giọng nói, làm họ không nghe được nữa. Mấy giây sau mỗi tiếng nổ lại có một trận mưa các đầu mẩu trên mặt nước xung quanh chúng tôi nghe như tiếng mưa rào. Tôi không thể phân biệt đó là những mảnh đạn hay như thể là những mẩu lá bị xé toang vì những tiếng nổ.

     Cuối cùng chúng tôi đã di chuyển về bên trái, ra khỏi con sông và thoát khỏi đầm nước. Trung đội 1 ở lại phía sau của đại đội. Trung đội 2 và 3 di chuyển thành hàng để tiến hành một đợt càn quét quay trở về căn cứ. Đó là buổi chiều cuối cùng của tôi với tiểu đoàn. Trung đội trưởng Trung đội 3, một trung uý mảnh mai nhưng nói năng lưu loát, người New Jersey, đã mời tôi đi cùng họ. Tôi không thích anh ta lắm. Vì anh ta là người dẫn trung đội của mình đi ngang qua ánh mặt trời vào buổi sáng hôm đó. Nhưng trong giây lát tôi đã quyết định đi cùng anh ta.

     Binh lính đã mệt mỏi. Họ phải thức suốt đêm mà sáng ra lại không đúng theo sự trông chờ của sĩ quan tác chiến và của cả mọi người. Nhưng việc này không phải do ý muốn bất chợt của họ - đó là mệnh lệnh trực tiếp từ viên trung uý - rằng điểm phát hoả vào túp lều đầu tiên chúng ta tới đã không cháy. Hoá ra khi chúng tôi tới, túp lều đã trống không, mặc dù rõ ràng nó đã bị chiếm vào sáng hôm đó. Vẫn còn tro ấm ở giữa, ít thức ăn trên bàn, mấy thứ đồ chơi thô sơ trên sàn nhà.

     Tôi hỏi viên trung uý tại sao anh ta lại nói điểm phát hoả lực. Anh ta trả lời đó là "trinh sát bằng hoả lực". Đó là một khái niệm quen thuộc, gây tranh cãi mà Vann và nhiều lính bộ binh khác ghét cay ghét đắng trong loại chiến tranh kiểu này. Nghĩa là nếu phát hiện ra một vị trí đặc biệt, kể cả là khu nhà hoặc rừng cây có đối phương trong đó thì phải bắn vào và xem có ai bắn lại không. Cách thức này đã giết hại rất nhiều dân thường. Đây là lần đầu tiên tôi được chứng kiến. Tôi có thể nhận thấy vấn đề làm người ta thích nó là vì làm thế sẽ an toàn hơn cho họ khi phải đi vào một nơi có thể là một ổ phục kích và có thể vì có lần họ bị coi là một mục tiêu để tấn công. Tuy nhiên rõ ràng trong nhiều trường hợp thế này họ sẽ bắn vào nhà của một ai đó và họ chỉ không thực hiện trừ phi được yêu cầu. Tôi có cảm giác rằng viên trung uý này đang ra lệnh thực hiện nhiều vì lý do dám lính của anh ta thích việc này hơn bất cứ lý do nào khác. Tôi hỏi anh ta điều gì xảy ra nếu có một gia đình trong đó. Anh ta nói: "Vớ vẩn. Họ biết chúng ta đang hoạt động ở vùng này, họ có thể nghe thấy chúng ta và họ phải ở trong boong-ke. Tôi sẽ không thử liều lĩnh với đám lính của mình".
Logged

Để gió cuốn đi...
Excocet
Thành viên
*
Bài viết: 617


Thép đã tôi thế đấy


« Trả lời #74 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2007, 10:42:52 pm »

     Thực tế là mỗi túp lều trong vùng này đều có một số kiểu boong-ke cho những người ở đó, đôi khi chỉ là một nơi trú ẩn bên ngoài túp lều, có lúc chỉ là một đống những bao cát ở một góc bên trong lều. Rõ ràng đây là một kiểu bảo vệ chống lại các cuộc không kích vì từ lâu trong vùng này đã không có các hoạt động tác chiến trên mặt đất. Thường có cả những đường hào bên ngoài để làm chỗ trú ẩn cho trâu bò, lợn gà nếu có. Cũng đúng khi binh lính coi khu vực mà chúng tôi đi qua như một làng Việt Cộng, đặc biệt thù địch vì sự kề cận của nó với vị trí phục kích mà chúng tôi đã tấn công sáng hôm đó. Nhưng thực tế ít nhiều nó cũng không đúng với những túp lều này hơn là với những túp lều khác trong làng.

     Sau khi một túp lều trống không khác bị bắn, tôi đã không đi với viên trung uý, người mà tôi càng ngày càng ghét hơn và chuyển tới Trung đội 2, đang tiến hành một đợt càn quét song song cách đó khoảng 100 mét. Trung đội này do một trung uý chỉ huy, người mà tôi rất tôn trọng. Tôi thấy đám lính của anh ta đang yểm trợ cho nhau, từng người một thận trọng tiến tới một túp lều và xem xét bên trong. Lệnh của họ rõ là không được đốt trừ phi có lệnh trực tiếp cho một vùng đông dân. Trung đội trưởng hỏi tôi có tiếng ồn gì từ Trung đội 3. Tôi trả lời anh ta và anh ta nói: "Thằng cha đó là một thằng ngu. Hắn thường làm thế. Tôi sẽ không làm việc với hắn trừ khi bắt buộc. Hắn không thèm để ý tới việc gì".

     Nửa giờ sau chúng tôi cũng tới một túp lều nhưng không phải là trống không. Có 3 đứa trẻ nhỏ và một đứa bé mới sinh đang ở trong đó, túm tụm lại trong một góc. Nếu có một cái boong-ke đâu đó, chúng sẽ không phải ở đây. Trung đội trưởng nói với tôi khi chúng tôi di: "Anh có biết tại sao những đứa trẻ này vẫn còn sống? Chỉ có một lý do duy nhất. Vì trung đội này đã đến…"

     Hoả lực từng đợt vẫn diễn ra cách đó độ 100 mét, nhưng bây giờ có gì đó đã được bổ sung vào. Trung đội 3 đang bắn về phía những túp lều. Tôi đã nghe sĩ quan tác chiến báo cáo vắn tắt cho đại đội trưởng trước đó 10 ngày rằng sẽ không đốt những túp lều.

      Vài ngày sau đó, tôi đã chụp được một tấm ảnh kỳ cục, một lính Mỹ đang đâm lưỡi lê vào một cái bi đông, với khuôn mặt rất tức giận. Trung đội trưởng vừa mới đề nghị đại đội trưởng cho phép binh lính đốt một túp lều vì đó là một "ngôi nhà của Việt Cộng".

     Bằng chứng duy nhất là trong đó có một cái bi đông - bi đông của một lính Mỹ, có thể họ có nó từ việc bắt được của lính Việt Nam cộng hoà - và một bức ảnh về một ai đó mặc một bộ quân phục không giống với đám lính của chúng tôi. Họ tin chắc vì điều này cho thấy chắc chắn phải có lính Việt Cộng trong túp lều và họ muốn đốt túp lều này. Lời đề nghị không được chấp nhận.

     Các chỉ thị không được đốt bất cứ ngôi nhà nào hoặc chúng ta sẽ chống đối dân chúng sẽ giúp ích cho Việt Cộng. Có nhiều lời nguyền rủa và những tiếng giậm chân phản đối, tên lính này đang đâm các lỗ vào chiếc bi đông với một trạng thái thất vọng.

     Nhưng giờ đây hai túp lều cách nhau khoảng 50 mét đang bốc cháy như những ngôi nhà lớn. Trong gần 2 năm ở Việt Nam, đây là lần đầu tiên nữa đối với tôi. Trước khi tôi tới Việt Nam, tôi đã xem những bức ảnh của Morley Safer về một lính thuỷ đánh bộ đang đốt một mái nhà rạ bằng chiếc bật lửa Zippo, ở phía bắc Quân đoàn 1 hai năm trước đó. Bức ảnh làm cho tôi có cảm giác bị xúc phạm đặc biệt vì đó là một lính thuỷ đánh bộ.

     Chúng tôi đi ngang qua một con đường dẫn về căn cứ. Tôi quyết định tham gia cùng một đại đội đang hành quân dọc theo con đường này vào lúc đó, quay trở lại từ một cuộc hành quân khác Trên đường đi, chúng tôi đi qua Trung đội 3, trung đội trưởng, người đã đốt cháy ngôi nhà, nhìn tôi và vẫy chào tạm biệt. Phía sau anh ta là một trong các tiểu đội đang bận rộn làm việc cố để đốt cháy chiếc lều thứ ba. Mất một lúc lửa mới bắt.

     Nếu đám rừng xung quanh chiếc lều đỡ ẩm ướt, anh ta đã làm nó trở thành một đám cháy rừng. Anh ta giúi mạnh vào tay lính những cây đuốc làm bằng lá cọ và quát to, "Đây là những túp lều của Việt Cộng. Tối nay họ sẽ phải dồn nó thành đống trong mưa, giống như chúng ta!"

     Đám lính đứng gần anh ta phá lên cười. Lại một lần nữa, anh ta ra lệnh và đám lính của anh ta rất thích thú. Sau một ngày cày xới, họ vui khi được phép ít ra là đánh dấu sự qua đi. Thật ngu ngốc khi nghĩ rằng đốt cháy các túp lều sẽ mang lại kết quả hữu hiệu trong cuộc chiến tranh ở Rạch Kiến hoặc Long An, nhưng đó là việc đầu tiên họ đã làm trong hai tuần mà không nhìn thấy kết quả gì. Đó là dấu hiệu duy nhất họ có thể để lại là họ đã từng ở đó. Ngay khi tôi trở về ngôi làng, tôi đi tìm sĩ quan tác chiến và hỏi anh ta: "Anh thay đổi các lệnh không đốt các túp lều khi nào đấy?". Anh ta nói anh ta không hề thay đổi mệnh lệnh. Tôi nói: "Ồ hãy nhìn xem", và chỉ lại khu vực nơi hoạt động vẫn đang diễn ra. Bảy cột khói thành một hàng đang bay lên bầu trời.

     Anh ta nói: "Khi tôi nhìn thấy các cột khói, tôi đã hỏi đại đội trên điện đài rồi. Họ nói họ đang đốt đám rạ ngoài các boong-ke của đối phương".

     Tôi nói với anh ta: "Họ đã không giữ liên lạc khi ở trong cuộc càn quét đó. Trung đội 3 sẽ đốt hết những túp lều mà nó tới".

     Anh ta nói: "Lạy Chúa!" và đi ra khỏi bốt chỉ huy.

     Tôi đã ở Rạch Kiến 12 ngày. Tôi đã sẵn sàng để đi. Tôi thu dọn hành lý, chào tạm biệt tiểu đoàn trưởng và các sĩ quan khác rồi vào một chiếc trực thăng để rời đi. Khi chiếc trực thăng bay vào không trung, nghiêng cánh và quay về Long An, tôi lại đếm lại, 7 cột khói đang bay trên những cánh đồng lụt lội. Một số cột khói bay lên, quấn vào nhau trước khi tan biến vào bầu trời trong xanh.

     Về sau tôi đã nghe thấy ở Sài Gòn rằng tiểu đoàn này đã kết thúc chiến dịch sau hơn một tuần và đã rời khỏi Rạch Kiến. Tôi chưa bao giờ nhìn thấy một bản báo cáo về thành công của họ hay là huyện Rạch Kiến hoặc làng được tính vào diện đã được bình định. Nhưng khoảng một năm sau, khi tôi trở về Mỹ, tôi đã thấy một bài báo dài trong tạp chí Thời báo New York có viết về những khó khăn trong việc bình định một làng Việt Cộng ở Rạch Kiến. Lúc đầu tôi cho rằng bài báo đang nói về chiến dịch mà tôi đã tham gia. Nhưng đó lại là một tiểu đoàn khác, thời điểm là 8 tháng sau này. Mọi vấn đề và những kinh nghiệm nghe rất giống nhau. Bài báo chỉ ra rằng cho tới lúc bấy giờ Rạch Kiến luôn là một làng Việt Cộng và đây là lần đầu liên quân Mỹ đã cố gắng để hoạt động ở đó.
Logged

Để gió cuốn đi...
Excocet
Thành viên
*
Bài viết: 617


Thép đã tôi thế đấy


« Trả lời #75 vào lúc: 17 Tháng Mười Một, 2007, 08:31:24 am »

Chương 11

Rời Việt Nam
 



     Vào một tối giữa tháng giêng năm 1967, đại tá Châu mời tôi đến ăn tối tại nhà ông để gặp cấp trên mới của ông ta ở Bộ Tổng Tham mưu - Đại tướng Ngô Dzu. Ngày hôm sau dưới sự hướng dẫn của tướng Landsdale, tôi báo cáo lại cuộc trò chuyện đó dưới dạng một bản ghi nhớ cho phó Đại sứ thường trực Porter.

     Dzu nói rằng tinh thần chiến đấu yếu kém của binh lính trong Quân đội Việt Nam cộng hoà là do sự thiếu tin cậy, và thiếu tôn trọng đối với ban lãnh đạo tối cao của GVN. Mỗi cấp bậc - từ tiểu đội trưởng đến những sư đoàn trưởng và cao hơn nữa - đều nhận thấy rằng thượng cấp của họ đều dính dáng đến những hành vi nhũng nhiễu hoặc lôi kéo về mặt chính trị và lấy đó làm cái cớ để cho mình có những hành động tương tự. Binh lính sẽ tiếp tục bị căm ghét vì những hành động trộm cắp và ngược đãi đến khi nào có sự cải cách triệt để từ cấp cao nhất. Ông ta cho rằng những việc làm phi pháp của sĩ quan và binh lính là sự phản ánh trực tiếp những cảm nhận của họ rằng cuộc chiến kéo dài khiến họ cảm thấy mệt mỏi, và không thể dành được chiến thắng với bộ máy nhà nước và những nhà lãnh đạo như hiện nay. Tôi gạch chân điều đó trong bản báo cáo, để nhấn mạnh sự bức xúc của ông ta khi nói tới điều đó một cách nghiêm túc, trong bóng tối bên chiếc bàn được thắp nến, phía sau nhà ông ta. Ông ta nói tiếp sự tham nhũng và hối lộ sự phản ánh nỗi tuyệt vọng. "Khi bạn nhận ra, từ bản chất của ban lãnh đạo của chúng ta, rằng không còn hy vọng gì cho sự tiến bộ, bạn chẳng thể đạt được điều gì ở địa phương, hay sư đoàn của mình, cả về mặt quân sự lẫn chính trị… bạn sẽ quay sang làm những gì có thể để phục vụ cho lợi ích của chính gia đình mình".

     Khoảng một tuần sau, Đại tá Châu tới nhà tôi nói chuyện.

     Lúc đó tôi vừa trở về sau một chuyến khảo sát cuộc hành quân, trong lần đó tôi đã phát hiện một đường hầm dài của Việt Cộng. Hiển nhiên, nó không hề bị bỏ hoang, bởi lúc đó tôi phát hiện ra những chân nến cháy dở dính vào những vỏ đạn, trong đó chất sáp vẫn còn lỏng và nóng. Tôi quyết định sẽ không tiến vào sâu hơn nữa. Tôi đem các chân nến về, cùng với những mẩu giấy viết tay cạnh đó, mà sau này khi chúng được dịch tôi mới biết đó là những lá thư tình. Tôi kể với Châu về cuộc hành quân, và nói rằng tôi có thứ này muốn cho anh ta xem. Tôi lên phòng ngủ và đem xuống một đôi dép Hồ Chí Minh tôi tìm thấy trong đường hầm, đó là một đôi dép xăng đan làm bằng cao su đã qua lưu hoá với đế dép được cắt từ những lốp xe tải phế thải, đó là đôi dép mà Việt Cộng và trước họ, những người Việt Minh trong thời kỳ chống Pháp đã đi.

     Đôi mắt anh ta sáng lên, và đón lấy chúng từ tay tôi. Anh ta nâng niu chúng trong tay và ngắm chúng rất lâu như thể anh ta đang bế trên tay một đứa trẻ. Gương mặt anh ta trở nên dịu dàng khi nói và với một thanh âm mà tôi chưa từng nghe trước đó. Đó là một cảm xúc rất riêng tư. Anh ta nói: "Tôi đã từng đi nó trong suốt 4 năm", nghĩa là anh ta đã tham gia vào tổ chức Việt Minh vào cuối những năm 40 trong cuộc chiến với Pháp. Anh ta ngừng lại một lúc thật lâu, tôi cũng giữ im lặng. Anh ta nói: "Đó là những năm tháng đẹp nhất trong cuộc đời tôi".

     Một lát sau, anh ta đặt đôi dép xuống và nói: "Anh biết không, có một điều mà tôi luôn tự hỏi bản thân mình rằng: tôi nói tôi rời bỏ Việt Minh và tham gia phục vụ đức vua Bảo Đại, sau là đến Tổng thống Diệm bởi vì Chủ nghĩa Cộng sản quá khắc nghiệt, họ không tôn trọng tôn giáo cũng như những truyền thơng dân tộc của chúng tôi, đường lối phát triển của họ quá cứng nhắc đối với chúng tôi, và chúng tôi cần sự giúp đỡ của Phương Tây. Nhưng đó có phải là sự thật không? Hay tôi đã theo phe khác chỉ vì tôi quá mệt mỏi khi phải sống dưới những đường hầm và ở trong rừng, tôi muốn đi giày da và mặc một bộ quân phục đẹp và ngủ trên một chiếc giường êm, trong một căn nhà? Tôi luôn tự hỏi mình điều đó".

     Tôi đợi anh ta nói tiếp, nhưng anh ta đã im lặng. Tôi hỏi: "Thế câu trả lời của anh là gì?"

     Anh ta đáp: "Tôi không biết".

     Tháng hai, tôi quyết định thực hiện các chuyện thanh tra ở vùng châu thổ nơi tôi đã phải hoãn lại từ tháng trước. Trước tiên, tôi tới thăm một số địa phương, nhưng điều mà tôi thực sự mong đợi mục đích chính của chuyến đi, là được tham gia cùng với một đơn vị thuộc một sư đoàn người Việt, theo các cố vấn Mỹ của sư đoàn thì đơn vị này đang thực hiện một chiến dịch tuần tra vào ban đêm. Vì tôi được biết rằng không một đơn vị nào khác thực hiện việc đó, dù lớn hay nhỏ, và đó là sự thiếu sót tai hại đối với bất cứ triển vọng nào của chương trình bình định.

     Trong bản báo cáo về nghiên cứu vai trò và nhiệm vụ chiến lược hồi tháng 6 vừa qua, tôi có viết: "Một đòi hỏi đặc biệt khẩn cấp đối với các đợt tuần tra và phục kích ban đêm - là phải xác định rõ nơi cuộc đụng độ có thể xảy ra theo báo cáo của tình báo. Trừ khi các cuộc hành quân đêm của các lực lượng Quân đội Việt Nam cộng hoà (RVANF) bắt đầu với mục đích làm cho Việt Cộng không được an toàn khi di chuyển, hoặc tiến vào làng trong đêm, chứ dứt khoát là không thể cắt bỏ được gốc rễ của họ đã ăn sâu trong lòng dân chúng để từ đó tiêu diệt những nhóm quân du kích hoặc giảm bớt sự kiểm soát của họ".

     "Họ đã giành lại màn đêm từ tay Việt Cộng!" Đó là những gì người ta nói về sư đoàn này. Tôi đã từng nghe điều này trước đó nhưng những người ở sở chỉ huy của MACV nói rằng đây là điều có thực, đoàn cố vấn đề có mối quan hệ đáng kinh ngạc đối với một sư đoàn trưởng nổi tiếng, và việc đó thực sự đang xảy ra.

     Tôi tin những người đang nói ra điều này và cách họ nói về nó.
Tôi muốn được tận mắt trông thấy chứ không phải vì tôi có chút nghi ngờ mà vì tôi muốn biết được điều kỳ diệu này đã xảy ra và được truyền bá như thế nào.

     Chắc chắn rằng, tại sở chỉ huy của sư đoàn, viên Đại tá, Trưởng đoàn cố vấn đề có một biểu đồ lớn cho thấy số lượng của những đợt tuần tra đêm được thực hiện bởi mỗi tuần một tiểu đoàn thuộc Sư đoàn trong suốt vài tháng qua. Số lượng thay đổi tuỳ thuộc vào các tiểu đoàn khác nhau, và dao động hàng tuần, nhưng cũng có thể dễ dàng nhận thấy xu hướng được tổng kết trên các đường cong của một biểu đồ khác. Số lượng các đợt tuần tra, bắt đầu ở số 0 hoặc gần tới đó, đã đều đặn đạt tới chỗ mà sư đoàn sắp kết thúc là hàng trăm đợt trong một tuần, hàng tá các đợt trong một đêm. Trong 2 năm ở Việt Nam, tôi chưa từng gặp một điều tương tự như thế. Viên Đại tá tự hào về điều này cũng là điều dễ hiểu. Tôi muốn nghe toàn bộ câu chuyện về việc ông đã làm thế nào để có kết quả ấy nhưng tôi phải chờ đến ngày hôm sau. Trời đang xế chiều, tôi muốn chắc chắn rằng mình có đủ thời gian để xuống một tiểu đoàn để tham gia vào cuộc tuần tra đêm đó. Tôi xem lướt.qua tấm bản đồ rộng, nơi các khu vực tuần tra được đánh dấu bằng bút chì cho các trung đoàn và tiểu đoàn tôi chỉ ra một trung đoàn và nói ý định của mình với viên đại tá Viên đại tá có vẻ rất ngạc nhiên với ý định của tôi, nhưng tôi đã giải thích bằng cơ sở và những kinh nghiệm của mình ở Rạch Kiến. Ông ta thấy tôi đã rất sẵn sàng với tất cả những trang bị cần thiết. Ông ta cũng biết cấp bậc của tôi, nên không tranh luận nữa. Nhưng ông ta nói, không chắc về việc có thể sắp xếp với một lời yêu cầu bất thình lình như thế. Tôi nói, sẽ tốt hơn nếu thực hiện việc đó một cách không chính thức. Đây không phải là một cuộc thanh tra chính thức mà thật ra chỉ muốn có một câu chuyện ấn tượng hơn nhiều để chọn ra một trong hàng tá các đợt tuần tra đêm, tham gia cùng với họ, sau đó miêu tả lại sự khác nhau mà nó đã tạo ra ở vùng nông thôn khi có một sư đoàn người Việt đang hoạt động vào ban đêm. Tôi chưa từng nghe tới một đơn vị người Việt nào khác nơi bạn có thể thực hiện việc này, vì thế chúng tôi có được câu chuyện này càng sớm càng tốt.

     Ông ta đã hiểu được vấn đề, nhưng ông nói rằng vào thời điểm này sẽ rất bất tiện cho tôi khi tới thăm trung đoàn mà tôi đã chọn trên bản đồ. Ông ta không nói rõ lý do. Có lẽ mọi thứ sẽ được tiến hành một cách tốt hơn nếu như hoãn lại tới chuyến đi sau của tôi. Nhưng tôi không dám chắc khi nào mình có thể quay lại lần nữa, tôi đã chờ đợi điều này từ rất lâu rồi, và cuối cùng cũng thành công. Tôi thúc ép ông ta cho tôi tới thăm một trung đoàn khác và sau vài cuộc nói chuyện trên điện đài, ông ta đưa tôi tới một trạm chỉ huy trung đoàn cách đây khoảng một dặm.

     Ở đó, cố vấn trung đoàn cũng có thái độ ngập ngừng khi đưa tôi xuống tiểu đoàn. Tôi hiểu sự dè dặt này của họ. Với tất cả những gì tôi đã nói chỉ là: đây không phải là chuyện thanh tra chính thức, tôi là người của đại sứ quán, và không một người chỉ huy hay cố vấn nào, sẽ cảm thấy hoàn toàn dễ chịu với một chuyến viếng thăm không trong kế hoạch những hoạt động quân sự của một trong số các đơn vị chiến đấu của họ mà không hề được báo trước. Ai có thể đoán trước được điều gì sẽ xảy ra, hoặc đơn vị sẽ như thế nào trong đúng cái đêm đó, hoặc ai biết được việc này thì sao? Thế nên tôi không hề ngạc nhiên khi lại được nghe nói rằng điều này quâ bất ngờ, và rằng không biết có thể sắp xếp được không, nhưng tôi cũng không dễ dàng bỏ cuộc. Tôi đe doạ ông ta nhưng không nhằm một ý đồ xấu nào; tôi biết rằng tôi không nên ở đó để họ phải lúng túng. Tôi không quan tâm tới chất lượng của các hoạt động. Điều mà tôi thật sự quan tâm là câu chuyện về họ, về những binh lính người Việt đang tiến về phía vành đai của tiểu đoàn trong đêm tối.

     Trên thực tế, có một vấn đề trong chuyện này, cuối cùng tôi đã biết được ở bốt chỉ huy tiểu đoàn mà tôi đã được đưa tới lần cuối và đến đúng lúc trời vừu sập tối. Một thiếu tá người Mỹ, cố vấn cho một tiểu đoàn, đã chỉ cho tôi xem tấm bản đồ có những tuyến đường tuần tra trong đêm. Khi biết tôi sẽ tham gia vào một trong số đó, ông ta nói rằng không thể. Tôi hỏi tại sao, và lần này tôi nhận được câu trả lời hết sức thẳng thắn. Các cuộc tuần tra trên bản đồ thật ra không hề có thực. Không hề có một cuộc tuần tra ban đêm nào. Không chỉ ở trung đoàn đoàn này mà còn ở tất cả các đơn vị khác thuộc sư đoàn, theo như viên thiếu tá biết được.

     Vậy còn những thống kê và các khu vực tuần tra, các danh sách có trên tất cả các biểu đồ ở sở chỉ huy trung và sư đoàn?
Bịa đặt. Dưới áp lực của cố vấn sư đoàn và đối tác người Việt Nam của mình, mỗi tiểu đoàn phải lập ra các kế hoạch tuần tra cho từng ngày và gửi các báo cáo và tính toán lên trên, nhưng trên thực tế không có một đại đội người Việt nào cho quân của mình đi tuần tra đêm trong khu vực hoạt động của Việt Cộng. Không rõ đã có ai từng cố gắng khiến họ thử làm việc đó chưa?

« Sửa lần cuối: 17 Tháng Mười Một, 2007, 08:36:58 am gửi bởi Excocet » Logged

Để gió cuốn đi...
Excocet
Thành viên
*
Bài viết: 617


Thép đã tôi thế đấy


« Trả lời #76 vào lúc: 17 Tháng Mười Một, 2007, 08:34:13 am »

     Vị đại tá của Sư đoàn đã có những con số để đưa lên biểu đồ. Hàng trăm cuộc tuần tra trong một tuần. Nhưng không một cuộc nào thực sự diễn ra. Không phải 10, 50, mà là 0. Không có cuộc nào để tôi có thể đi cùng. Tôi cám ơn vị thiếu tá vì sự ngay thẳng của ông, điều khá hiếm hoi ở những người có cùng địa vị của ông, dẫu điều đó có thể khiến ông gặp rắc rối. Nhưng tôi cũng cảm thấy mình như một kẻ ngốc. Họ lại lừa tôi. Tôi giống như Charlie Brown 11 lần đá vào khoảng không. Tôi không thể tin được rằng mình lại có thể bị lừa một cách dễ dàng như vậy.

     Điều gì đã khiến tôi xuống tới tận đây mà không một chút nghi ngờ cho đến khi tôi biết được những thông tin tồi tệ từ viên thiếu tá ấy? Đó là cái cách mà người ta thường nói: "Đây mới là sự thật, đây mới thật sự là điều đang xảy ra. Một khi nó không phải là chuyện nhảm nhí, như thể họ đã biết tỏng rồi". Có lẽ họ không biết, tôi không nghĩ rằng họ đã cố tình lừa tôi. Điều gì đã lừa dối họ. Đó hẳn là nội dung chi tiết của bản báo cáo, nỗ lực đã được thể hiện trong đó.

     Viên đại tá có biết không? Tôi nhận ra rằng mình không quan tâm đến điều đó. Nếu là một năm trước, tôi sẽ nghĩ đó là trách nhiệm của mình phải quay trở lại Sở chỉ huy Sư đoàn để thông báo với ông ta - nếu như ông ta thực sự không biết - hoặc để cảnh cáo ông ta, nhưng đó không phải là lý do làm tôi phải xuống đây lần này. Tôi ngồi nói chuyện với viên thiếu tá một lát, rồi ngủ lại trên cái giường mà ông ta chỉ cho tôi, và ngày hôm sau tôi lái xe quay về Sài Gòn.

     Tôi đã quá mệt mỏi với việc thu thập và báo cáo cùng một vấn đề hết lần này đến lần khác ở 43 tỉnh khác nhau. Tôi mệt mỏi vì phải vạch trần sự dối trá của Quân đội Việt Nam cộng hoà và chương trình bình định. Bây giờ tôi khá thoải mái trong việc quyết định mình sẽ làm gì. Điều xuất hiện trong đầu tôi lúc này là mong muốn được quay trở lại làm việc với đám lính Hoa Kỳ, quan sát, theo kiểu tôi đã làm ở Rạch Kiến. Tôi có lý do chính đáng để làm điều đó; để đánh giá chiến dịch bình định cho ngài phó đại sứ, tôi cần theo dõi khá nhiều các kiểu hành quân và các loại đơn vị khác nhau của quân đội Mỹ. Tôi có thể bắt đầu tại Khu vực phi quân sự (DMZ) ở phía bắc và sau đó sẽ đi suốt dọc dài miền Nam Việt Nam, quan sát hết đơn vị này đến đơn vị khác.

     Tôi bắt đầu chương trình trong vòng khoảng một hoặc hai tuần vào một ngày bình thường với một đơn vị của Quân đội Việt Nam cộng hoà ở phía Bắc gần khu phi quân sự. Một vài ngày sau, khi đang làm việc ở phía nam tôi đã tới dự một chương trình nghe có vẻ rất hay ở gần Đà Nẵng. Cố vấn là William Corson, một trung tá lính thuỷ đánh bộ, người đã Phát minh ra cái gọi là CAPs, các trung đội hành động phối hợp. Đó là các tiểu đội trong đó hai phần ba lính là người Việt Nam và một phần ba là lính thuỷ đánh bộ người Mỹ. Tiểu đội trưởng là một người Việt Nam, và một tiểu đội phó phụ trách nhóm lính thuỷ đánh bộ. Nhóm lính này được học đủ ngôn ngữ của nhau nên có khả năng giao tiếp với nhau một cách cơ bản.

     Nói một cách dễ hiểu thì đó là điều mà Lyndon Johnson đã từng đề nghị theo cách kết hợp các đơn vị người Việt và người Mỹ trở lại vào năm 1965. Giới lãnh đạo bên quân đội lúc đó đã không đồng tình với điều này. Họ muốn các đơn vị của Mỹ có thể hoạt động độc lập với các đơn vị của người Việt Nam, để tránh việc phải chi quá nhiều viện trợ. Họ thừa nhận một điều rằng các đơn vị của Việt Nam đã bị tình báo của Việt Cộng thâm nhập vào, và họ không muốn các đơn vị của Mỹ bị chia nhỏ ra để trở thành điều mà người ta luôn nghĩ là sẽ đóng vai trò huấn luyện chủ yếu.

     Nhưng ý tưởng của Corson, theo như những gì ông ta đã giải thích với tôi chiều hôm đó, là cả hai bên sẽ cùng tạo ra được sức mạnh cần thiết. Phía Việt Nam rõ ràng nắm rất rõ về con người và đặc điểm của các vùng lãnh thổ. Quân lính thuỷ đánh bộ sẽ học tập từ họ và sẽ huấn luyện cho các đối tác của mình về các kỹ năng chiến thuật qua những ví dụ. Sự có mặt của họ sẽ đảm bảo cho quân đội Việt Nam hoả lực yểm trợ tốt, không quân và pháo binh, mà thuỷ quân lục chiến có thể điều động từ các căn cứ của Mỹ. Quan trọng hơn cả, đó là nhờ có sự hiện diện của thuỷ quân lục chiến, các cuộc tuần tra có thể được thực hiện vào ban đêm.

     Thế nên đêm hôm đó là lần đầu tiên tôi hành quân trong đêm cùng với đội quân người Việt. Trong tiểu đội còn có 4 người Mỹ nữa, họ đi dọc theo những con mương dẫn nước, dưới ánh trăng. Trong buổi giới thiệu vắn tắt tình báo của Quân đội Việt Nam cộng hoà đã cho chúng tôi biết rằng có khoảng 500 Việt Cộng đang qua nơi chúng tôi đang hành quân. Đây không phải là một thông tin ngẫu nhiên hay một thông báo thông thường, do vậy chúng tôi phải hết sức cảnh giác.

     Đôi lúc, quá nửa đêm chúng tôi tạm dừng chân ở một cánh đồng để phục kích trong vài giờ. Chúng tôi rời khỏi chỗ con mương, ngồi dưới nước nấp giữa những cây lúa. (Các cánh đồng lúa ở Việt Nam được bón bằng phân bắc, nên khi tôi bị suy sụp vì bệnh viêm gan một vài tuần sau đó, tôi đã nghĩ đến điều này).

     Tôi quan sát một hướng, còn một người lính Việt Nam đứng ngay sau lưng tôi, quan sát một hướng khác. Chúng tôi cảm thấy tự tin vì nghĩ rằng người kia cũng sẽ thức để cảnh giác và bảo vệ lẫn nhau, bảo vệ những người còn lại. Đó là một cảm giác thật gần gũi. Một lát sau chúng tôi kiểm tra xung quanh cho nhau, khoảng cách giữa những người Mỹ và người Việt Nam trở nên gần gũi hơn rất nhiều so với bình thường. Ngay trước khi trời sáng chúng tôi đã trở về doanh trại.

     Chúng tôi không gặp phải cuộc đụng độ nào, bản báo cáo về hoạt động của Việt Cộng có vẻ như không chính xác. Nhưng một trung đội hành động phối hợp khác cũng hành quân trong đêm đó đã bị rơi vào ổ mai phục khi đi qua một ngôi làng nhỏ. Tôi tới nói chuyện với viên tiểu đội trưởng người Việt Nam, một trong số những người bị thương. Anh ta nằm trên một chiếc giường bạt, bị băng bó khá nặng, nhưng vẫn có thể nói chuyện.

     Tôi khá ấn tượng với mối quan hệ giữa lính Mỹ và lính Việt đêm hôm đó; lý luận của Corson, theo tôi, có vẻ khá hiệu quả.
Nhưng người đội trưởng này lại có một câu chuyện hoàn toàn khác Anh ta nói tiếng Việt thông qua một người phiên dịch, nhưng có thể dễ dàng nhận thấy sự cay đắng trong giọng. Anh ta nói, người Mỹ thực sự không hề quan tâm đến ý kiến của người Việt. Rõ ràng người Mỹ mới là người chỉ huy cuộc hành quân.

     Khi viên tiểu đội trưởng cố gắng thông báo một điều gì đó với một lính thuỷ đánh bộ, người lính này cũng chẳng hề quan tâm.
Tôi hỏi anh ta qua người phiên dịch: "Anh định nói gì với anh ta?". Tiểu đội trưởng chống khuỷu tay cố nhỏm dậy và nói mấy câu với tôi. Tôi không thể hiểu chúng, dù nghe không hề giống tiếng Việt. Tôi đề nghị anh ta nhắc lại, và anh ta đã nhắc lại chậm rãi và rõ ràng, nhưng tôi vẫn không thể hiểu được. Tôi hỏi người phiên dịch: "Anh ta đang nói tiếng gì vậy?

     Người phiên dịch trả lời: "Tiếng Anh".

     Tôi hỏi người phiên dịch có hiểu anh ta nói gì không, người phiên dịch trả lời là không. Tôi bảo phiên dịch hỏi lại xem anh ta vừa nói gì bằng tiếng Việt và sau đó nói lại với tôi.

     Họ trao đổi với nhau vài câu bằng tiếng Việt. Người phiên dịch, với vốn tiếng Anh khá tốt, dịch lại cho tôi: "Chúng ta đang đi vào ổ mai phục".

     Tôi nói, "Hừm," và hỏi viên tiểu đội trưởng tại sao anh ta lại biết điều đó. Anh ta trả lời, thông qua phiên dịch, rằng khi họ tới một ngôi làng, "không có tiếng chó sủa, và cũng chẳng có ánh đèn". Anh ta giải thích, vào thời điểm đó của đêm, thường họ phải nhìn thấy vài ánh đèn, hoặc ánh lửa trong các túp lều xuyên qua cửa chính hoặc cửa sổ, và vài con chó xồ ra đuổi và sủa ầm ĩ. Sự im lặng và bóng tối cho thấy các cửa chính và cửa sổ đều đóng, và có ai đó đã nhốt và bịt mõm lũ chó. Việt Cộng đang chờ họ. Nhưng khi anh ta cố gắng nói với viên trung sĩ người Mỹ rằng có mai phục ở phía trước thì viên trung sĩ lại lờ đi và tiếp tục tiến lên phía trước như thể người đội trưởng chưa từng nói gì. Thái độ của người Mỹ luôn như vậy, anh ta nói. Thế nên khi bị bắn, họ bị thương mất 3 người, và cũng thật may mắn là còn cơ hội chạy thoát.
« Sửa lần cuối: 17 Tháng Mười Một, 2007, 08:40:28 am gửi bởi Excocet » Logged

Để gió cuốn đi...
Excocet
Thành viên
*
Bài viết: 617


Thép đã tôi thế đấy


« Trả lời #77 vào lúc: 17 Tháng Mười Một, 2007, 08:44:20 am »

     Tôi nói với người phiên dịch, và sau đó là với Corson, rằng tôi đã biết được vấn đề thực ở đây là gì. Vấn đề dạy ngoại ngữ cần thực hiện và cần tập trung hơn nữa. Có một số cụm từ cụ thể họ nên nắm được một cách chắc chắn, và người phiên dịch sẽ giúp kiểm tra xem họ có hiểu không. "Chúng ta đang bị mai phục" là một trong số cụm từ đó. Điều đặc biệt quan trọng là binh lính người Việt có thể nói câu đó bằng một giọng Mỹ, vì người Mỹ đã quen với cách nói như vậy. Trên thực tế, sự việc này đã chứng minh cho điểm mạnh trong ý tưởng của Corson, của những người Mỹ đang làm việc cùng với người Việt, nếu họ có thể giải quyết tốt vấn đề giao tiếp. Đây là một trường hợp hiếm thấy khi tôi có thể ca ngợi một kế hoạch nào, khi trở về MACV, mặc dù họ có vẻ không tha thiết nghe lắm. Họ vẫn không muốn quan tâm đến việc lãng phí khi để binh lính Mỹ cộng tác với binh lính người Việt Nam.

    Trong vòng vài tuần kể từ khi đi tuần tra vào ban đêm, tôi bắt đầu suy sụp vì bệnh viêm gan. Bệnh phát trong thời gian tôi đi nghỉ ở Pattaya, một bãi biển ở Thái Lan tôi đã tới để thăm Patricia vào năm ngoái. Tôi nằm dưỡng bệnh trong một nhà điều dưỡng ở Bangkok trong vòng một tháng, cho tới khi tôi có thể tự bay về Sài Gòn, để tiếp tục nằm bẹp thêm một tháng nữa. Cùng lúc đó, kế hoạch bình định đang được tái lập, dưới sự điều khiển của MACV và Westmoreland, nhưng đứng đầu là Bob Korme, người của NSC, không thuộc giới quân sự. Nếu tôi tiếp tục làm việc ở đây, tôi sẽ làm phó hoặc làm trợ lý cho Kormer, một người bạn cũ của tôi từ những ngày còn ở Rand và Washington. Nhưng vì cần phải tĩnh dưỡng để hồi phục nên tôi đã không thể tham gia được ít nhất trong vòng 6 tháng. Trong hoàn cảnh đó, tôi quyết định trở về Mỹ. Harry Rowen đã trở thành chủ tịch của Công ty Rand, và ông ta rất muốn tôi quay trở lại.

     Nằm ngửa trên giường với chiếc máy tính trên bụng, tôi giành thời gian để viết một bản ghi nhớ dài tóm tắt lại những kết luận mà tôi đã rút ra cho câu hỏi tại sao chúng ta lại lâm vào tình trạng không lối thoát như hiện nay và làm thế nào chúng ta có thể hình dung ra cách để làm mọi thứ tốt hơn. Đây là những việc giành cho Hội đồng đặc nhiệm của các đồng nghiệp dân sự và quân sự của tôi ở Sài Gòn, thế nên tôi đã không nêu ra gợi ý cho rằng chúng tôi phải tìm cách thoát ra khỏi tình trạng này, điều mà cá nhân tôi luôn quan tâm tới trong suốt một năm qua. Tôi dành lời khuyên đó cho Washington khi tôi về nước. Những người ở đây không thể quyết định được việc đó, thậm chí cũng không để đưa ra gợi ý một cách có hiệu quả. Họ được cử đi để dốc hết sức mình, làm đến hết mức có thể, cho nên tôi chỉ tập trung vào các biện pháp làm thế nào thực hiện mọi công việc tốt hơn những gì chúng tôi đang làm, để giảm thiểu mọi sự cản trở, để có thể phát triển hơn, mà không cần tạo thêm những việc mới trên con đường thoát ra khỏi khó khăn.

     Một bản ghi nhớ dài đề đạt xem xét lại những quyền ưu tiên và những nỗ lực cho toàn bộ kế hoạch bình định năm 1967.

     Nhưng nỗ lực chủ yếu của tôi là bản tài liệu 38 trang kín chữ về sự giúp đỡ của Mỹ trong các kỳ bầu cử sắp tới ở Việt Nam và tại sao chính phủ của chúng ta nên thay đổi quan điểm từ việc ủng hộ các ứng cử viên quân sự như Kỳ hoặc Nguyễn Văn Thiệu tới khích lệ, hoặc đơn giản là cho thừa nhận việc thay thế họ bằng những nhà lãnh đạo dân sự đáng được tôn trọng. Theo như một nhà báo khá nổi tiếng của Việt Nam, Tôn Thất Thiên, đã nói với tôi rằng ban lãnh đạo của một đất nước cần phải được tôn trọng, và có một chính phủ được tôn trọng thì nó chắc chắn phải nghiêm túc". Tướng Kỳ thuộc lực lượng không quân, hiện đang làm việc trên cương vị là thủ tướng (được sự ủng hộ của các tướng lĩnh khác và người Mỹ), cũng khó có thể tiến xa hơn nếu phải đáp ứng các tiêu chí đó. Người Việt Nam đánh giá ông ta là một kẻ thiếu chín chắn, thiếu tinh thần dân tộc, một kẻ ăn chơi, trác táng, trình độ hạn hẹp, vụng về, hấp tấp, chỉ thỉnh thoảng mới tỏ ra nghiêm túc, và khoa trương (thường xuyên tới thăm những vùng nông thôn với bộ vét nylông bóng bảy, chiếc khăn quấn cổ tẩm nước hoa oải hương và một khẩu súng lục có báng súng nạm ngọc trai, trên đó khắc tên cô tình nhân của ông ta. Mà đây là một nền văn hoá chịu ảnh hưởng của Nho giáo cho nên tuổi tác, phẩm cách, sự trưởng thành, học vấn, đạo đức được đánh giá rất cao. Theo như Thiên nói, đối với nước Mỹ việc thiên vị hay ủng hộ cho Kỳ - tại thời điểm tôi viết về những việc này, là sự lựa chọn duy nhất cho vị trí Tổng thống - như là một kẻ lãnh đạo bù nhìn, bị đánh giá là một sự sỉ nhục, một sự khinh bỉ, bởi chính bản thân ông ta và một số đông người Việt Nam.

     Nhưng cá tính và vẻ bề ngoài của Kỳ ít ra còn vớt vát lại cho ông ta phần nào. Kỳ là người miền Bắc, một quân nhân, đã từng là một sĩ quan của Pháp ít chống đối, và luôn tin rằng mình nợ người Mỹ để có được vị trí này. Nhìn chung, tôi cho rằng: "Sẽ là một sự rèn luyện thử thách khi tưởng tượng làm thế nào một người có thể thay đổi hoặc bổ sung thêm một loạt những tiêu chuẩn này để tạo ra một kẻ ít được chấp nhận hơn và xa lạ hơn trong vai trò của người lãnh đạo dân tộc ở Việt Nam".

     Còn về phần tướng Thiệu, đối thủ chính về phía quân sự của Kỳ trong việc tranh cử, quyền hạn của ông ta chỉ kém Kỳ một chút. Ông ta không phải là người miền Bắc, mà là người miền Trung, không phải là người miền Nam, và ông ta thêm vào lý lịch của mình rằng ông là người theo đạo Thiên Chúa. Theo như tôi biết, ông ta có đạo đức, chín chắn, giàu kinh nghiệm và khôn ngoan hơn Kỳ, nhưng vì một số lý do, những phẩm chất này cũng không làm ông ta tự tin hơn khi đứng trước công chúng. "Kỳ không có được niềm tin và sự tôn trọng của người Việt Nam vì ông ta quá khác lạ so với những tập tục và văn hoá của người Việt, Thiệu không giành được lòng tin của họ vì ông ta đơn giản bị coi là người không đáng tin cậy: bí ẩn, quỷ quyệt, "quá thông minh", một sức mạnh khá ấn tượng được tạo ra bởi vai trò của ông ta trong các cuộc đảo chính nhằm hất cẳng những người tiền nhiệm. "Với những điều đã nói ở trên, như chính ông ta thừa nhận, Thiệu và Kỳ cùng có một trở ngại chính trị chung đó là cả hai đều trong lĩnh vực quân sự, vì ông ta được chỉ định phải có báo cáo cách đây vài tuần, người Việt Nam rất khó chịu với những kỷ luật quân đội". Tôi trích dẫn ở đây một câu nói của thành viên trẻ trong Hội đồng Lập hiến: "Hãy cho chúng tôi bất cứ ai. Già hay trẻ, tôi không quan tâm, miền Bắc, miền Trung hay miền Nam, miễn là anh ta không thuộc lĩnh vực quân sự".

     Ba mươi trang kín chữ tiếp theo tập trung vào vấn đề chi tiết tại sao không có bất cứ một triển vọng thực sự nào cho tiến trình hoạt động kéo dài ở miền Nam Việt Nam, kể cả là dân sự hay quân sự mà lại không có sự thay đổi mạnh mẽ trong bản chất của chính quyền từ cấp cao nhất. Kỳ tổng tuyển cử sắp tới sẽ là cơ hội tốt nhất kể từ nhiều năm nay để thực hiện việc này một cách yên ổn, nếu như các tướng lĩnh được Mỹ bật đèn xanh của sự cho phép một cuộc tổng tuyển cử diễn ra một cách trung thực không cần bảo đảm cho chiến thắng của một ai trong số họ bằng các hành động lôi kéo hay ép buộc.
Logged

Để gió cuốn đi...
Excocet
Thành viên
*
Bài viết: 617


Thép đã tôi thế đấy


« Trả lời #78 vào lúc: 17 Tháng Mười Một, 2007, 08:45:17 am »

     Trong số những người Việt Nam được tôi giấu tên, nêu ra trong bản báo cáo thì Trần Ngọc Châu có tác động lớn đến những suy nghĩ của tôi, một phần vì ông ta giới thiệu tôi với những người khác. Tôi đã đưa bản báo cáo của mình cho ông ta xem qua. Một tuần sau ông ta nói đã đưa nó cho Thiệu, một người bạn lâu năm của ông ta. Tôi đang nằm im trên giường, không định dậy làm gì. Nhưng điều đó đã dựng tôi bật dậy khỏi giường. Tôi nói: "Cái gì? Làm sao ông có thể làm thế?"

     Châu nói: "Ông ta rất thích bản báo cáo của anh. Tôi chắc chắn như thế. Ông ta đọc từng từ một. Ông ta nói ông ta chưa từng gặp một người Mỹ nào ở Việt Nam lại có thể hiểu rõ tính cách của người Việt Nam như anh".

     "Nhưng Chúa ơi, Châu, còn những điều tôi đã viết về ông ta thì sao?"

    Châu nói: "Ồ, không vấn đề gì. Ông ta rất vui với những gì anh đã viết về Kỳ và không buồn quan tâm tới những điều anh đã viết về ông ấy".

     Buổi sáng mà Kormer sẽ đến, tôi tới đại sứ quán để đón ông ta. Tôi vừa hồi phục được mấy ngày sau 2 tháng dưỡng bệnh trên giường. Khi máy bay hạ cánh xuống sân bay Tân Sơn Nhất, tôi đang ngồi trong phòng làm việc của ông ta, nói chuyện với các nhân viên, chúng tôi đã nghe trên đài phát thanh cuộc họp báo của ông ta ngay sau khi bước xuống máy bay.

     Ông ta tỏ ra rất quyết đoán về tình hình ở Việt Nam và về kế hoạch bình định đã theo dõi ở Washington và tỏ rõ mong muốn được tiếp tục công việc đó cho tới thắng lợi. Đó là cách mà McNamara, Lyndon Jhonson và Westmoreland vẫn thường nói, nhưng kiểu nói hoa mỹ này không phải là phong cách của Korner. Tôi đã biết được những điều này từ các bài trên báo rằng Korner là một người rất năng nổ và luôn đối chọi với đám phóng viên, biết cách đập tan mọi sự nghi ngờ, nhưng tôi chưa từng nghe nói về thái độ ứng xử của ông ta trước công chúng bao giờ. Điều đó làm tôi lo lắng. Korner hình như rất tin rằng ông ta đang nói lên sự thật. Rất dễ để biết được rằng lúc nào ông ta đã về đến đại sứ quán; bạn có thể nghe thấy tiếng chào sang sảng từ tầng dưới.

     Ông ta nổi tiếng vì tính hăng hái, hoàn thành tốt mọi công việc, và rất thích biệt danh Blowtorch của mình. Tôi có thể nhận ra tiếng chân của ông ta khi ông đi lên cầu thang, xông vào phòng làm việc phía bên ngoài của mình. Ông bắt tay và phát vào lưng mọi người trong phòng. Ông ta giống y như khi trên đài phát thanh, sôi động và lạc quan. Ông ta như một cơn lốc, làm căn phòng tràn ngập sinh khí và sự hăng hái. Tôi nói với ông rằng tôi tới chào và cũng để tạm biệt ông, ông ta gật đầu và nói: "Vào đi, Dan, rồi bước vào căn phòng bên cạnh và đóng cánh cửa phía sau chúng tôi lại. Ông ta ngồi xuống bàn và ngả người xuống ghế và cười rất thoải mái.

     Tôi nói: "Bob, ông có tin vào những điều ông vừa nói ở sân bay không?"

     Ông chống khuỷu tay xuống bàn và rướn người về phía trước, hai tay ôm đầu. Ông cúi mặt xuống bàn và nhắm mắt lại.
Trông ông có vẻ mệt mỏi. Ông nói nhẹ nhàng: "Dan, anh có nghĩ rằng tôi bị điên không?"

     Im lặng một lúc, tôi hỏi: "Bch, sao ông lại nhận công việc này?"

     Ông ta nhổm dậy và nói: "Đó cũng là điều mà vợ tôi hỏi tôi. Cô ấy cứ hỏi đi hỏi lại rằng: "Sao anh cứ phải tới đó? Sao anh không từ chối đi? Rời khỏi chính phủ nếu anh bắt buộc phải thế". Tôi phải nói đi nói lại với cô ấy rằng: "Khi Tổng thống Mỹ nói với anh rằng ông ấy muốn anh phải làm một điều gì đó, anh không thể nói không với ông ta. Khi ông ấy nói rằng anh là người mà ông ta muốn phải thực hiện việc đó, anh phải làm, dù điều đó vô vọng đến đâu đi chăng nữa".
Một vài ngày sau, tôi rời khỏi Việt Nam.
Logged

Để gió cuốn đi...
Excocet
Thành viên
*
Bài viết: 617


Thép đã tôi thế đấy


« Trả lời #79 vào lúc: 17 Tháng Mười Một, 2007, 08:48:11 am »

Chương 12

Cái nhìn lệch lạc
 



     Sau chuyến đi đến Việt Nam, tôi đã quyết định trở về Rand chứ không về Lầu Năm Góc. Một lý do chính là tôi muốn lại được tự do để nói về những gì tôi biết và những gì tôi tin về chính sách về Việt Nam của chúng ta với những quan chức của các cơ quan chính phủ đang công tác ở nước ngoài mà không phải lo lắng rằng mình đã làm trái với cương vị của một cấp trên hay một tổ chức nào đó. Tôi đã muốn làm điều đó ở Việt Nam, dưới sự giám sát lỏng lẻo của Lansdale và Porter, hơn là dưới sự giám sát của McNaughton ở Bộ Quốc phòng, nơi mà tôi phải thận trọng giấu những suy nghĩ của mình, cũng như John, khi chúng khác biệt với ý kiến của McNamara. Sau 3 năm quan sát và học hỏi nhiều điều, tôi tin rằng những điều tôi biết về tình hình ở Việt Nam chỉ có giá trị qua lời nói của tôi, vì tôi đã từng làm các công việc kiểm soát, chỉ huy và xây dựng kế hoạch hạt nhân ở Rand. Rand thực sự là một cơ quan hoàn hảo để làm điều đó Đó chưa phải là tất cả số người tôi muốn nói cho họ hiểu.

     Vẫn còn những người đang gánh trách nhiệm trong việc hoạch định hoặc cố vấn về chính sách an ninh quốc gia nữa. Với tư cách là một chuyên gia phân tích của Rand tôi có thể vào rất nhiều phòng ban như một cố vấn và nói những gì mà tôi nghĩ theo cái cách mà có thể tôi chưa từng làm với tư cách là một đại diện chính thức của chính phủ hoặc của một cơ quan đặc biệt với quan điểm chính thức; với cấp trên tôi có thể bị mất mặt vì cách ăn nói bừa bãi này.

     Trong một tuần tôi dành thời gian để chuyển công việc của mình khỏi Bộ Ngoại giao, ở Washington, tôi gặp gỡ rất nhiều người để nhấn mạnh quan điểm của mình về vai trò của chúng ta tại Việt Nam và những gì mà chúng ta nên làm. Tôi đã nói chuyện với McNamara một tiếng đồng hồ tại văn phòng của ông ta tại Lầu Năm Góc. Trước khi kết thúc tôi đưa ông ta một bản báo cáo ngắn gọn chỉ trích việc Mỹ đang ủng hộ Thiệu và Kỳ trong cuộc bầu cử tại Việt Nam và cần phải tạo cơ hội cho một ứng cử viên dân sự, người có mong muốn tìm kiếm hoà bình bằng cách thoả thuận với Mặt trận dân tộc giải phóng, ông ta đọc nó ngay trước mặt tôi.

     McNamara nói rằng về cơ bản ông ta đồng ý với tôi nhưng chính sách chính trị như thế này thuộc về thẩm quyền của Rusk và ông ta không đảm nhận việc này. Ông ta nói ông ta đang tập trung vào một vấn đề khác. Qua các báo tôi biết được rằng Thượng nghị sỹ John Stennis đang dự định có một bài phát biểu trước công chúng để tạo cho Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân một tiền đề có thể mở rộng quy mô chiến tranh và loại bỏ những cản trở các mục tiêu và quy mô của việc ném bom miền Bắc. Tôi hỏi: "Đánh bom ở mức tối đa ư?", ông ta gật đầu. Tôi nói không gì có thể quan trọng hơn điều đó và tôi chúc ông ta thành công trước khi ra về.

     Vào thời điểm đó, tôi không biết rằng 2 tháng trước đó Robert McNamara đã xúc tiến việc đàm phán về kế hoạch rút quân chiến lược. Bản thảo báo cáo trình Tổng thống của ông ta được đánh dấu "Tối mật", và mặc dù vậy, vẫn đến tai của Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân; nó tạo nên một cơn bão chống đối kịch liệt cho rằng điều đó đánh dấu thời điểm bắt đầu của sự mất uy tín của ông ta đối với Tổng thống cũng như chức vụ của ông ta. Tôi không quan tâm đến việc liệu quan điểm của chúng tôi đồng nhất đến mức nào trong suốt cuộc gặp gỡ của chúng tôi, nhưng tôi cũng không lấy gì làm ngạc nhiên về điều đó.

     Một ngày trước khi tôi có một cuộc nói chuyện với Chet Cooper, một sĩ quan tình báo của CIA lại trụ sở Hội đồng An ninh quốc gia (NSC), người đang là phụ tá cho đại sứ Averell Harriman về vấn đề nhân sự trong NSC. Cooper đã từng vài lần thử thương lượng với miền Bắc Việt Nam, và sau này Harriman đã được chọn là người đàm phán của Mỹ tại hội nghị Paris. Tôi đã thẳng thắn bày tỏ quan điểm của mình và Cooper thúc giục tôi nói chuyện với Harriman vào ngày hôm sau. Điều đó dường như càng khẳng định dự đoán của tôi rằng Harriman, cũng giống như Cooper, chỉ là bước trung gian để tôi bày tỏ quan điểm của mình. Cuối cùng tôi đề xuất một cuộc đàm phán và nó giống như dàn xếp tạm thời ở Lào vào năm 1962, và Harriman chính là người đã chỉ cho Kennedy thấy sự dàn xếp đó và cũng là người tán thành việc liên kết chống lại Bộ Quốc phòng và những kẻ hoài nghi trong CIA. Vì vậy, tôi đã thẳng thắn nói với Harriman giống như nói với Cooper.
Có thể là đã quá thẳng thắn. Kai Bird, người viết tiểu sử của anh em nhà Bundy, tình cờ bắt gặp phản ứng của Harriman đối với cuộc gặp gỡ của chúng tôi trong những tài liệu riêng của ông, trong một trích đoạn thuật lại cuộc đối thoại qua điện thoại giữa Harriman và Cooper vào ngày 27 tháng bảy: "Harriman: Tôi đã gặp người mà anh muốn tôi gặp. Tôi chẳng có ấn tượng gì với anh ta. Anh ta đã có một cái nhìn hằn học. Với anh ta mọi chuyện đều đen tối, chẳng có chuyện gì là sáng sủa cả. Tôi nghĩ là tôi đã đoán ra những suy nghĩ trong thâm tâm anh ta và nó đã đưa anh ta đi quá xa, loanh quanh sang một hướng khác. Tôi không nghĩ là anh ta cũng nói với nhiều người tất cả sự thật. Anh ta đã đi quá xa đến nỗi đã lạc hướng cũng giống như một vài người bạn của chúng ta đã chệch ra khỏi những định hướng khác. Anh phải biết cân bằng một số mặt. Anh ta bị viêm gan nên tôi nghĩ nó đã ảnh hưởng tới thái độ của anh ta".

      Harriman nhầm khi nghĩ là tôi không nói thật với những người muốn nghe tôi như tôi nói với ông ta. Nhưng ông ta không phải là người duy nhất coi những đánh giá của tôi là lệch lạc, liệu có phải chính họ đã khiến tôi khăng khăng với quan điểm của mình. Một hay hai ngày sau đó, tôi trao đổi mối quan tâm của tôi với Murray Gell-Mann, người mà sau này giành giải Nobel vật lý và một vài người bạn đồng nghiệp của ông ta đang là cố vấn cho Bộ Quốc phòng. Tôi đã bị George Carver theo dõi, người đứng đầu của Lực lượng Đặc nhiệm Việt Nam trong CIA, người mà năm ngoái đã tán đồng ý kiến của Walt Rostow. Ngồi cùng tôi trong phòng nhỏ của E-ring tại Lầu Năm Góc, sau khi nghe nhận xét của tôi, ông ta bắt đầu nói một cách thận trọng: "Tôi không biết người của chúng ta (CIA) trên chiến trường có hút thuốc hay không, nhưng họ đang gặp phải một vấn đề khác từ những lời kể của Dan?". Ông ta xem xét tỉ mỉ những dấu hiệu đáng khích lệ của MACV trong những bước phát triển mới nhất. "Việt Cộng đang rất khó khăn thiếu thốn, họ đang cạn kiệt nhân lực, chúng tuyển cả những người 14 tuổi…"

     Tôi thực sự khó chịu khi nghe thấy ông ta nói vậy. Gell-Mann quay lại và hỏi tôi có ý kiến gì không sau khi Carver nói xong. Tôi lướt qua bản báo cáo và chỉ ra rằng mỗi tin tức tốt lành đó trước đây cũng đã làm người Pháp lạc quan. Họ đã đánh lại người Mỹ và những đồng minh của chúng ta với những người 14 tuổi từ khi chúng ta đặt chân đến đó". Tôi đã phát điên lên. Có thể đó là cách sống của tôi. Tôi nói: "Tôi không biết người của các anh có hút thuốc trên chiến trường hay không, nhưng tôi biết những chuyện nhảm nhí như thế này đã làm Washington trì trệ trong suốt 20 năm qua".
Dường như xấu hổ, các nhà khoa học đứng dậy để đi dự một cuộc họp khác.
Logged

Để gió cuốn đi...
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM