Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 10:50:15 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Những bí mật về chiến tranh Việt Nam  (Đọc 115713 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Excocet
Thành viên
*
Bài viết: 617


Thép đã tôi thế đấy


« Trả lời #90 vào lúc: 17 Tháng Mười Một, 2007, 01:11:21 pm »

     Ngày tiếp theo, 20-3-68, một bài báo nữa được đăng, dựa trên cùng những thông tin mà tôi đã trao cho Sheehan với hàng đề tác giả là Charles Mohr và hàng đề nơi viết là Sài Gòn.

     Bài báo này có tác dụng khắc sâu thêm ấn tượng về tình trạng rò rỉ thông tin ở khắp mọi nơi. Bài báo này đề cập đến những con số mới và đánh giá mới.

     Sau đó, vào ngày thứ năm, 21-3, Shechan tiếp tục công bố một bài báo khác, còn số ở Washington thì đề ngày là 20-3. Bài báo bắt đầu như sau:

     Trong một báo cáo cuối năm trình 29 ngày trước cuộc Tổng tiến công của phe Cộng sản vào các thành phố và thị xã lớn ở miền Nam, tướng William C. Westmoreland dự đoán rằng những thắng lợi của quân đội đồng minh của năm trước sẽ nhân lên nhiều lần vào năm 1968. Tư lệnh quân đội tại miền Nam Việt Nam đã gửi báo cáo này về Washington vào ngày 1 tháng giêng.

     Tờ Thời báo New York đã có được những đoạn trích của báo cáo này từ một tài liệu mật. Những đoạn trích này cho thấy quân đội Mỹ không chỉ không dự báo được cuộc tổng tiến công mà còn không hình dung được khả năng thất bại với quy mô đến như vậy do các cuộc tấn công của kẻ thù gây nên vào ngày Tết, ngày lễ năm mới âm lịch.

     Nội dung chính của báo cáo Westmoreland mà Sheehan đã trích trực tiếp (từ bản viết tay mà tôi đã đưa cho anh ta) gồm việc "huỷ diệt và trung lập hoá" các căn cứ địch tại Nam Việt Nam nhất định sẽ "buộc chúng phải trông cậy nhiều hơn vào các thánh địa tại Campuchia, Lào và Bắc phần khu vực phi quân sự DMZ". Nhưng bài báo tiếp tục như sau: "Tuy nhiên kể từ thời điểm đó, các chuyên gia tình báo Mỹ đã kết luận rằng các cuộc tấn công xuất phát từ các căn cứ ngay tại Nam Việt Nam vào các thành phố và thị xã lớn đang ngày càng tăng lên". Shechan viết tiếp dự báo của Westmoreland "rõ ràng đã phản ánh niềm tin mà ông ta đã bày tỏ trong chuyện trở về Mỹ vào tháng mười một rằng sức ép quân đội đồng minh đã khiến kẻ thù phải bỏ chạy khỏi các khu vực tập trung dân cư lớn và hoá giải khả năng của kẻ thù trong việc tổ chức các cuộc tấn công lớn xuất phát từ căn cứ ngay tại Nam Việt Nam. Ông ta khẳng định rằng kẻ thù chỉ có thể tổ chức các cuộc tấn công ở khu vực biên giới từ những căn cứ dọc theo biên giới Campuchia, Lào và Bắc Việt Nam".

     Lời khẳng định trên của Westmoreland đối với Tổng thống (và trước đó với Câu lạc bộ báo chí) mang hàm ý vượt lên cả thành công của ông ta tại Nam Việt Nam. Ông ta đang làm nổi bật hơn tầm quan trọng của việc bổ sung quân nhằm tạo điều kiện cho các lực lượng vượt qua những.biên giới đó để tiến vào đất Campuchia, Lào và Bắc Việt Nam. Bức thông điệp chính mà ông ta muốn đưa ra là chúng ta đã đuổi đánh quân địch ra tận biên giới và chúng ta cần truy đuổi chúng ngay cả bên ngoài biên giới. Đó chính xác là những gì mà Westmoreland đã bí mật khuyến nghị vào thời điểm đó. Tất nhiên vào lúc này, ngày càng có nhiều dấu hiệu cho thấy đối thủ đã tổ chức các chiến dịch như vậy nhằm lôi kéo các lực lượng của Westmoreland ra khỏi các khu vực đông dân cư sinh sống để họ có thể tiếp cận mục tiêu dễ dàng hơn.

     Những đoạn trích từ bản báo cáo cuối năm có tính chất bảo đảm của Westmoreland đối với Tổng thống đã được đăng trên tờ Thời báo số buổi sáng ngày 21-3. Tối hôm đó tướng Wheeler được Nhà Trắng thông báo bất ngờ rằng Westmoreland sẽ rời khỏi Việt Nam để đảm nhiệm vị trí Tham mưu trưởng lục quân. Johnson đưa ra tuyên bố về việc này vào ngày hôm sau, ngày 22-3. Ngày 23-3, Wheeler bay đến gặp Westmoreland và nói với ông ta rằng sẽ không có lệnh động viên và không có thay đổi trong chiến lược mở rộng chiến tranh.

     Ngày 25-3, Tổng thống Johnson phát biểu tại một cuộc gặp mặt tại Nhà Trắng của các cựu quan chức, những "nhà thông thái": Tình hình tài chính của chúng ta đang trở nên tồi tệ (88)… Ba tuần qua đã chứng kiến một tâm lý hoảng loạn mà nguyên nhân là bản báo cáo của Ted Kennedy về nạn tham nhũng và tình trạng chẳng tốt đẹp gì của Quân đội Việt Nam cộng hoà cũng như chính phủ của nó và giờ đây là yêu cầu 206.000 quân và một lệnh tổng động viên lên tới 400.000 của Westmoreland. Chi phí cho lệnh tổng động viên này là 15 tỷ đô la, làm thiệt hại tới giá trị của đồng đô la và vàng. Vụ rò rỉ thông tin với tờ Thời báo New York đã làm thương tổn chúng ta. Đất nước đang nao núng. Tôi sẽ phải chịu tỷ lệ ý kiến không tán thành áp đảo trong các cuộc thăm dò dư luận và bỏ phiếu. Tôi sẽ trôi theo dòng nước rút. Tôi sẽ bị cuốn phăng đi mà không có đồng minh hay quân đội hỗ trợ… Tôi sẽ không ngạc nhiên nếu họ phế bỏ Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ. Thượng nghị sỹ Russell muốn chúng ta tham chiến và giành lấy Hải Phòng. Thượng nghị sỹ Eugene McCarthy và Kennedy và cánh tả đều có đặc tình trong các bộ. Tờ Thời báo và tờ Bưu điện đang chống lại chúng ta. Hầu hết báo chí đều chống lại chúng ta. Chúng ta sẽ hoàn thành công việc này như thế nào? Trong năm bầu cử chúng ta cần nhiều tiền hơn, nhiều thuế hơn, nhiều quân số hơn, đồng thời phải giảm chi tiêu. Bởi vậy, tôi vẫn không thể nói với cử tri điều họ mong đợi. Chúng ta không giành được sự ủng hộ cho cuộc chiến. Tất cả những điều này là đều do lời đề nghị 206.000 quân, vụ rò rỉ thông tin, Teddy Kennedy và Bobby Kennedy gây ra. Lẽ ra tôi đã phải trao cho Westmoreland 206.000 quân nếu ông ta nói ông ta cần họ và nếu chúng ta có thể có được số quân đó.

     Thứ ba, ngày 2-4-1968, tôi ăn trưa ở Princeton cùng với các đại biểu tham dự Hội thảo "Nước Mỹ trong một thế giới cách mạng". Điều kỳ lạ là cuộc hội thảo này do trường Woodrow Wilson, Đại học Princeton và Uỷ ban Hành lễ Những người bạn Mỹ (AFSC) tài trợ. Hầu hết những người ngồi cùng bàn với tôi đều nhận tài trợ từ AFSC, chỉ cần nhìn vào bề ngoài của họ và những câu chuyện họ kể thì biết. Họ là những nhà hoạt động đầu tiên mà tôi từng gặp kể từ phong trào chống vũ khí hạt nhân trong những năm 50 và phong trào quyền dân sự và phản đối chiến tranh trong những năm 60. Nhiều người trong số họ đã bị bỏ tù nhiều lần vì những hành động gây rối hay chống quân dịch đi Triều Tiên hay Chiến tranh thế giới II.

     Cuộc sống của họ và của tôi có một điểm song song và giao thoa chẳng giống ai. Giống như tôi, họ căm ghét vũ khí hạt nhân.

     Nhưng một vài người vào giữa những năm 50 đã đi tới tận vùng biển cấm Bikini trên con thuyền "Nguyên tắc vàng" để phản đối việc thử nghiệm vũ khí hạt nhân. Một vài năm sau tôi tham gia vào các kế hoạch chiến tranh hạt nhân, hy vọng sẽ cầm cự được một cuộc tấn công hạt nhân bất ngờ của Liên Xô trong giai đoạn mà người ta cho là có khoảng cách về tiềm lực tên lửa.

     Giờ đây tất cả chúng tôi đều chống chiến tranh Việt Nam.
Logged

Để gió cuốn đi...
Excocet
Thành viên
*
Bài viết: 617


Thép đã tôi thế đấy


« Trả lời #91 vào lúc: 17 Tháng Mười Một, 2007, 01:12:10 pm »

     Ai mà không chống chiến tranh cơ chứ, vào thời điểm tháng 4 năm 1968? Bod Eaton và những người khác cùng ngồi tại bàn này, noi gương tàu "Nguyên tắc vàng" đã đi trên một con tàu tương tự mang tên Phượng Hoàng tới cảng Hải Phòng ở miền Bắc Việt Nam chở đầy thuốc men. Từ đó họ đã đi xuống phía Nam Việt Nam, để rồi con tàu bị xua đuổi, đúng vào lúc tôi đang làm việc tại Đại sứ quán ở Sài Gòn. Thật tuyệt vời khi giờ đây tôi lại thấy mình ngồi cùng một bàn với họ.

     Về nội dung của cuộc hội thảo, có thể kết luận rằng họ đồng cảm với nhiều sự nghiệp cách mạng. Mối quan tâm của tôi đối với cuộc hội thảo bắt đầu từ công việc trước đây và hiện nay của tôi về việc chặn đứng hay đánh bại các cuộc cách mạng do phe Cộng sản lãnh đạo. Trên thực tế tôi là một người chống cách mạng chuyên nghiệp.

     Tôi đã học việc về kỹ năng này tại Lầu Năm Góc trong khoảng thời gian 1964-1965. Sau đó trong vòng hai năm ở Việt Nam tôi tập trung vào "bình định hoá", một công việc lẽ ra cần được định nghĩa bởi các quan chức Mỹ, mặc dù trên thực tế chẳng có định nghĩa nào, như là hành động chống cách mạng ở vùng nông thôn. Chỉ một tháng trước cuộc hội thảo ở Princeton, cuộc Tổng tiến công Mậu Thân cho thấy tất cả những gì mà đồng nghiệp của tôi và tôi làm đều thất bại. Điều này không làm tôi ngạc nhiên. Đề tài nghiên cứu của tôi tại Rand vào thời điểm này là "Bài học về các lực lượng nổi loạn và nổi dậy" và cũng chẳng giấu gì khi tôi tìm hiểu vấn đề này hoàn toàn dựa trên những bài học rút ra từ sự thất bại trên. Tôi cũng không hy vọng áp dụng những bài học này nhằm đem lại hiệu quả lớn hơn mà không phải ngăn chặn việc leo thang và đưa chúng ta ra khỏi cuộc xung đột đó. Kể từ lúc tôi quay lại Mỹ vào mùa hè năm 1967, cuộc kháng chiến giành độc lập của người Việt Nam là một cuộc cách mạng mà tôi không hề muốn đất nước tôi phải cố gắng đương đầu nữa. Cuộc Tổng tiến công đã khẳng định một chân lý đơn giản nhưng ngoạn mục về hầu hết những gì mà tôi đã báo cáo lên cho chính phủ kể từ khi tôi trở về. Cuộc chiến là một sự bế tắc không hồi kết, vô vọng và đẫm máu.

     Dường như cuối cùng Tổng thống cũng thấu hiểu bức thông điệp này. Chỉ hai đêm trước đó vào ngày chủ nhật, 31-3-1968, trong lúc đang chuẩn bị hành lý để đi dự Hội thảo tại Princeton, tôi theo dõi Johnson phát biểu trên truyền hình trước toàn thể dân chúng rằng ông ta đang cho ngừng lại việc ném bom miền Bắc và kêu gọi đàm phán. Ông ta cũng thông báo rằng ông ta sẽ không tranh cử Tổng thống nhiệm kỳ hai. Giờ đây tại Princeton, Tom Hayden, nhà sáng lập tổ chức Sinh viên vì một xã hội dân chủ và một trong những phát ngôn viên chính của tổ chức này, thông báo: "Chúng ta vừa lật đổ một Tổng thống hay ít ra cũng đã tiến rất gần tới ngưỡng đó vì hệ thống chúng ta cho phép điều này. Chúng ta đã kết thúc một cuộc chiến".

     "Chúng ta", Hayden hẳn đã không có tên tôi trong đầu. Tuy vậy cũng giống như bất kỳ ai khác tôi muốn tin rằng cuộc chiến đã qua đi (nó vẫn chưa và sẽ chưa; Hayden đã sai về nhận định đó. Về khía cạnh này thì Lyndon Johnson cũng chưa thấu hiểu bức thông điệp). Với việc tiết lộ thông tin tài liệu tối mật một vài tuần trước cuộc gặp gỡ với những nhà hoạt động hoà bình phong phú về nguồn gốc này, tôi ý thức mình có nguy cơ bị bắt hay bỏ tù hoặc khả năng lớn nhất mà tôi nghĩ là bị tước quyền tiếp cận thông tin và kết thúc sự nghiệp của mình với một cách hoàn toàn khác với hành động gây mất trật tự của những người bạn đang ở trước mặt tôi. Chắc chắn tôi không tư duy việc mình làm trên những khía cạnh đó. Tôi không chắc rằng thậm chí tôi đã nghe thấy những điều đó hay chưa. Nhưng vì những điều mà tôi sắp sửa được nghe, nhìn lại, tôi nhận thấy mình đã có một thái độ sẵn sàng khác thường.

     Một người phụ nữ trẻ đang ngồi gần như đối diện bên kia bàn. Đến từ Ấn Độ, cô ấy khoác một bộ san (áo quấn của phụ nữ Ấn Độ), nước da màu sẫm, gần như đen. Trên trán của cô ấy có một chấm đỏ. Cô ấy đang nói chuyện bằng một giọng du dương với một vài người bạn ngồi bên cạnh tôi. Tôi không muốn nhìn chằm chằm vào cô ấy và cũng không cố gắng nghe câu chuyện của cô ấy. Sau đó, trong một khoảng im lặng giữa chúng tôi, khi cô ấy đáp lại bình luận của ai đó về khái niệm "kẻ thù", tôi nghe cô ấy nói: "Tôi đến từ một nền văn hoá không dung nạp ý niệm "kẻ thù".

     Một tuyên bố lạ tai. Khó hiểu. Không có khái niệm "kẻ thù"? Thế còn các khái niệm mặt trời, mặt trăng, bạn bè, nước?

     Tôi đến từ một nền văn hoá mà khái niệm kẻ thù chiếm vị trí trung tâm, dường như không thể thiếu được, văn hoá của Rand, thuỷ quân lục chiến Mỹ, Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng, chính trị đối ngoại, chính trị đối nội, lý thuyết trò chơi, lý thuyết mặc cả Nhận diện kẻ thù, hiểu và dự đoán hành vi của họ để chiến đấu và kiểm soát họ tốt hơn, phân tích mối quan hệ của kẻ thù vô hình: Tất cả những điều này trong nhiều năm là bánh mỳ với bơ hàng ngày của tôi, một phần của không khí mà tôi thở. Để cố gắng hoạt động trong một thế giới con người và những quốc gia mà không có khái niệm kẻ thù dường như quá khó khăn, gần như không thể hiểu được, nó giống như thực hiện phép tính của người La Mã mà không cần đến con số không.
Logged

Để gió cuốn đi...
Excocet
Thành viên
*
Bài viết: 617


Thép đã tôi thế đấy


« Trả lời #92 vào lúc: 17 Tháng Mười Một, 2007, 01:13:34 pm »

     Nếu câu nhận xét bị nghe lỏm của cô ấy xuất phát từ một người ít đáng chú hơn, có thể tôi sẽ phải bối rối một lúc và sau đó để vấn đề trôi đi. Nhưng cô ấy… đẹp và lối kể chuyện của cô ấy gần như hát, bởi vậy thay vì đó tôi say sưa nhìn cô ấy và hỏi: "Ý cô là gì?"

     Cô ấy đã trả lời tôi một cách ngắn gọn. Điều cô nói đã cuốn hút tôi. Tôi muốn cô ấy nói nhiều hơn. Chúng tôi hẹn nhau vào sáng hôm sau. Sau bữa sáng chúng tôi nói chuyện với nhau, bỏ qua phiên họp, rồi ăn trưa, sau đó tiếp tục hết cả phiên buổi chiều và tới tận đêm.

     Tên cô ấy là Janaki, một người phụ nữ xuất thân từ vùng Madras, miền Nam Ấn Độ. Chấm đỏ trên trán cô ấy là "dấu chân của Chúa"; cô ấy là tín đồ Shivaite Brahmin. Bố mẹ cô ấy là những đệ tử trung thành của Mahatma Gandhi và trong nhiều năm cô ấy đã tham gia phong trào sarvodaya, một phong trào hoạt động mang tính xây dựng với mục đích đem đến những chuyển đổi ở nông thôn và do một đệ tử của Gandhi là Vinoba Bhave lãnh đạo, song song với phong trào Bhoodan lấy đất của nhà giàu chia cho nông dân không có đất. Năm 1963, cô ấy đã tham gia cuộc tuần hành xuyên Ấn tới biên giới với Trung Quốc để phản đối vai trò của Ấn Độ trong cuộc chiến tranh Trung-Ấn.

     Hành động của những người này, theo Janaki, đã gây sốc cho chính bản thân Vinoba khi mà tinh thần dân tộc chủ nghĩa trong thời chiến đã vượt cao hơn tinh thần hoà bình của ông. Cô ấy không ăn thịt hay khoác lên người bất cứ thứ gì lấy từ những con vật bị giết (Một cách tình cờ, tôi có một chiếc vali bằng da mà tôi rất thích. Cô ấy khen "Nó thật đẹp" đồng thời hỏi "Đó là cái gì vậy?")

     Ý mà cô ấy muốn nói trong cuộc tranh luận kéo dài với tôi là: Trước hết, để trả lời câu hỏi của tôi theo lời dạy của đức Gandhi không nên xem ai hay đối xử ai như "kẻ thù", kể cả những người mà anh cho là có quyền quyết định mạng sống của họ, hay căm ghét, hay xem như người xa lạ, những người mà anh cho là không thể học được điều gì hay không hề biết, không hề cảm thông. Một cách đơn giản đây không phải là những thái độ đúng mực của con người đối với con người. Không nên đối xử với ai dù ở giai đoạn "chi sơ" hay mãi mãi về sau như những người tội lỗi, như thể họ không bao giờ có tính thiện trong mình, như thể họ xa lạ và kém phẩm chất con người hơn những con người khác, như thể ta không thể học hỏi được gì từ họ hay như thể ta không thể làm gì để chuyển hoá họ, ngay cả nếu họ có làm gì đó gây hại cho người khác, làm một điều gì đó thật khủng khiếp tội lỗi hay đáng bị lên án. Bởi vì vậy ý niệm kẻ thù là không cần thiết và sẽ dẫn đến những kết quả tai hại.

     Janaki nói thêm điều này vẫn đúng cho dù con người vẫn thường làm điều sai trái, ở cả mức độ cực đoan nhất của hành động sai trái khi ta không chỉ cần bị lên án mà còn phải chống lại bằng phương cách phi bạo động hay biện pháp quân sự, với cái giá mà người trong cuộc phải trả, thậm chí cả mạng sống của mình. Đây là suy nghĩ mà người ta dùng để mô tả một số hành động nhất định như "tội lỗi", mặc dù họ không phải là người gây nên hành động đó. Nhưng khi phản đối những hành động sai trái của con người, kể cả những hành động sai trái nhất, tồi tệ nhất, khi muốn cảm hoá trái tim của họ và trên tất cả, để bảo vệ những người khác từ hành vi gây hại của họ, chúng ta không cần, không nên tìm cách huỷ hoại họ hay đe doạ gây thương tổn đến thể xác của họ.

     Điều này đã mang đến những thay đổi nào? Đó là thái độ bất hợp tác: rút các nguồn quỹ, thuế, từ chối quân dịch, tẩy chay, tổng đình công. Đó là ngăn cản bằng phương pháp bất bạo động: từ sự ra đời của "Nguyên tắc vàng" trong khu vực thử hạt nhân đến biểu tình ngồi, bãi công tại chỗ ở các quầy ăn trưa. Đó là bày tỏ: nêu lên sự thật, thực hiện niềm tin đích thực của một cá thể về quyền con người, và về những điều sai trái, chấm dứt sự im lặng mà có thể được diễn giải hay dẫn đến sự chấp thuận hay ủng hộ.

     Tất cả những phương pháp này vượt xa "quyền khiếu nại" thông thường để trở thành một lực lượng đối đầu và làm mai một quyền lực bằng những hình thức quyền lực khác, dù đó là bất bạo động hay phản đối quyết liệt, điều mà Gandhi gọi là satyagraha (sức mạnh chân lý).

     Cô ấy cũng cho rằng hầu như tất cả mọi hành động sai trái, giống như tất cả mọi hình thức quyền lực cưỡng chế, hợp pháp hay không hợp pháp, đều tuỳ thuộc vào sự hợp tác, sự phục tùng, sự ủng hộ, vào sự đồng lòng hay ít nhất là sự bao dung của nhiều con người. Điều đó tuỳ thuộc vào nhiều cộng tác viên hơn là vai trò hiện có của họ; những cộng tác viên này bao gồm kể cả nhiều nạn nhân, cùng với những người đứng ngoài cuộc một cách thụ động mà trên thực tế chính là những tòng phạm. Hiệu ứng quyền lực có thể xoá bỏ một sự hợp tác như vậy. Hành động của những cá nhân có thể dẫn đến thái độ bất hợp tác có tổ chức, giống như câu chuyện của Rosa mà đã dẫn đến cuộc tẩy chay xe buýt ở Montogomery. Việc cô ấy từ chối tuân theo một mệnh lệnh hợp pháp theo hệ thống luật tại Alabama để không nhường ghế cho một hành khách nam người da trắng, việc cô ấy thay vì đó lựa chọn chấp nhận bị bắt, đã thách thức thói quen phục tùng của cộng đồng người da đen tại Montogomery. Nhắc lại lời phân giải của một đồng môn về bài luận của Thoreau liên quan đến chủ đề bạo động dân sự, noi gương hành động của Park, Martin Luther King đã nói, Janaki giúp tôi trích lại: "Một điều gì đó đã bắt đầu nói với tôi: "Người chấp nhận sự tội lỗi bằng sự nhịn nhục thì sẽ dính sâu vào tội lỗi cũng như giúp khắc sâu tội lỗi. Người chấp nhận tội lỗi mà không hề có biểu hiện phản đối thì thực sự đang đồng loã với nó … Kể từ giờ phút này tôi sẽ xem phong trào của chúng ta (tẩy chay xe buýt) như một hành động bất hợp tác ở quy mô lớn"(89).

     Khi tôi lắng nghe Janaki, tôi nhận thấy mình đang nghe một học thuyết nhất quán đến mức ngạc nhiên và một tập hợp kinh nghiệm phù hợp hỗ trợ cho học thuyết đó, tất cả đều mới mẻ đối với tôi Nó đã kích thích những câu hỏi về mặt học thuật, rất sáng sủa, một cách hiểu mới về các vấn đề và giải pháp. Lẽ đương nhiên là có nhiều phép tính bạn có thể thực hiện mà không cần đến con số không, ít ra là đối với cá nhân tôi không cần phải có một điểm bắt đầu quen thuộc. Tuy nhiên nếu chúng ta thực hiện điều đó mà không có một khái niệm "kẻ thù" và không có mối đe doạ sử dụng vũ lực thì nó sẽ cũng không tách rời khỏi ý niệm về xung đột hận thù, tranh đấu, chống đối, kháng cự và phát xét đạo lý. Ngược lại, như tôi vỡ lẽ ra sau này, tất cả những ý niệm này chiếm một vị trí then chết trong tư duy và hành động của Gandhi. Nhưng Janaki đưa ra một cách lập luận mới về những điều đó và những ví du liên hệ về chúng. Đó không phải là cách tư duy duy nhất, nó không thay thế cho tất cả những điều khác mà tôi đã được học, nhưng tôi thấy nó đem đến một nhận thức mới, thực sự mới cho tôi. Những điều như vậy không phải lúc nào cũng xảy ra. Dường như học thuyết này đã đem đến một điều gì đó mà tư duy thông thường chưa từng gợi ý, một cơ hội đem đến sự thay đổi thực sự, đi ngược lại học thuyết của bạo lực và thù hận.

     Cô ấy diễn thuyết rất nhiều về Martin Luther King và hối thúc tôi đọc cuốn "Bước đến nền tự do", cuốn sách mà cô ấy dùng để trích dẫn giúp tôi câu nói ở trên. Tôi chưa bao giờ nghĩ nhiều về King và chắc chắn là tôi chưa biết khái niệm hành động phi bạo động quân sự của ông. Trước đây tôi chưa hiểu hết sức mạnh chống đối chiến tranh Việt Nam của King kể từ năm 1965. Tôi rất ấn tượng với sự mô tả của cô ấy về lập trường King đưa ra tại Nhà thờ Riverside ở thành phố New York gần một năm trước, vào ngày 4-4-1967. Bất chấp lời nhắn nhủ nhiệt huyết của đồng minh bạn bè, da trắng và da đen, ông đã thực hiện bước đi mạo hiểm dẫn tới nguy cơ đánh mất sự ủng hộ dành cho phong trào quyền dân sự và mất khả năng tiếp cận Nhà Trắng bằng cách tố cáo cuộc chiến một cách không khoan nhượng bởi vì như ông đã nói "Đã đến lúc im lặng nghĩa là phản bội" (Khi tôi đọc toàn văn bài phát biểu sau này tôi nhận ra vào năm 1967 ông đã thâu tóm được ý nghĩa lịch sử của cuộc chiến mà tôi chưa hề biết trong hai năm. Hơn nữa, những đề xuất cụ thể của ông về việc tách bạch vấn đề - chấm dứt ném bom miền Bắc và miền Nam, xác định một mốc thời gian cho việc đơn phương rút quân của Mỹ, chấp nhận Mặt trận dân tộc giải phóng có vai trò trong đàm phán và trong bất kỳ một chính phủ Việt Nam nào trong tương lai - đã vượt quá tầm của bất kỳ đề xuất công khai nào của bất kỳ nhân vật tai to mặt lớn nào trong giai đoạn 1967-1968. Lẽ ra đề xuất của ông có thể và nên là cơ sở cho việc chấm dứt cuộc chiến vào bất kỳ tháng nào trong năm năm sau đó). Janaki khuyên tôi nên gặp ông - cô ấy nghĩ cô ấy có thể thu xếp được việc đó - và tôi quyết định tôi cần phải diện kiến con người này. Câu chuyện của Janaki đã đem đến một niềm hy vọng về những điều có thể diễn ra trên đất nước này (Mỹ) một niềm hy vọng mà tôi cũng đã nhận thấy, chỉ cách đó vài tháng thôi và ở trong một bối cảnh khác, ở Robert Kennedy.

     Chúng tôi không quay lại cuộc hội thảo. Chúng tôi ở lại cùng nhau và tiếp tục trao đổi với nhan cho tới tận ngày hôm sau Chiều muộn hôm đó, vào ngày 4-4-1968, chúng tôi theo dõi tin tức buổi tối và biết rằng Martin Luther King đã bị ám sát. Dường như cả Washington đang bốc cháy.
Logged

Để gió cuốn đi...
Excocet
Thành viên
*
Bài viết: 617


Thép đã tôi thế đấy


« Trả lời #93 vào lúc: 17 Tháng Mười Một, 2007, 01:14:36 pm »

Chú thích:

(85) Chiến tranh đang tới hồi kết thúc: Báo Bưu điện Washington, 22 tháng 11, 1967.

(86) (87) "con số thương vong của dân thường sẽ ở mức thấp nhất có thể"; "Nếu các quan chức Washington" - Westmoreland, trang 338.

Thực chất, cuộc tranh luận trong Quốc hội: Xem thêm một số tài liệu khác như "Chuyến đi thăm châu Á của chuyên gia khơi lên tin đồn về việc sử dụng vũ khí nguyên tử", Thời báo New York, 11 tháng 2, 1968; "Cú gọi nặc danh khơi lên tin đồn về việc sử dụng vũ khí nguyên tử ở Việt Nam", Thời báo New York, 13 tháng 2; "Wheeler phủ nhận khả năng sử dụng vũ khí nguyên tử tại Khe Sanh", Thời báo New York, 15 tháng 2; "Fulbright và Rusk xung đột về khả năng hạt nhân", Báo Bưu điện Washington, 6 tháng 2; "McCarthy yêu cầu "thẩm tra bản báo cáo về vũ khí"- Báo Bưu điện Washington, 17 tháng 2; "SANE ủng hộ Mỹ sử dụng bom nguyên tử", Thời báo New York, 3 tháng 3; "Sử dụng vũ khí nguyên tử sẽ dẫn đến thảm hoạ", Báo Bưu điện Washington, 9 tháng 3.

(88) "Tình hình tài chính của chúng ta" - trích trong Gardner, trang 454-56; Clifford, trang 515-16.

(89) "Một điều gì đó đã bắt đầu nói với tôi" - King, trang 51-52.
Logged

Để gió cuốn đi...
Excocet
Thành viên
*
Bài viết: 617


Thép đã tôi thế đấy


« Trả lời #94 vào lúc: 17 Tháng Mười Một, 2007, 01:16:16 pm »

Chương 14

Chiến dịch năm 1969


     Với bài phát biểu của Tổng thống vào ngày 31-3 năm 1968, công chúng và đa phần các nhà bình luận cho rằng ông ta đã quyết định nhanh chóng chấm dứt chiến tranh theo những điều kiện có lợi nhất cho ông ta, cho dù đó là điều kiện gì đi nữa. Rõ ràng là các nhà lãnh đạo Hà Nội lúc đầu cũng nghĩ như vậy khiến cho Johnson và Rusk rất ngạc nhiên và họ đồng ý bàn bạc trực tiếp mặc dù việc ném bom vẫn đang tiếp diễn. Tại sao ông ta không rút ra khỏi chiến dịch này và ngừng ném bom miền Bắc? Nhưng tôi không chắc chắn lắm. Một vài tuần trôi qua và hai bên vẫn chưa thoả thuận được sẽ gặp nhau ở đâu, chứ đứng nói gì tới nội dung chương trình làm việc.

     Một ngày tháng tư trong văn phòng của mình ở Lầu Năm Góc, Mort Halperin nhận xét với tôi rằng việc ném bom vẫn đang diễn ra ác liệt hơn trước đây phía Nam vĩ tuyến 19 và trên đất Lào. "Có ba người trong chính phủ này tin vào những gì chúng ta đang làm: Walt Rostow, Dean Rusk, và Tổng thống".

     Đó là một phỏng đoán chính xác đến không ngờ. Tuy nhiên phỏng đoán đó cũng có cơ sở của nó. Ở phía bên kia bàn làm việc chúng tôi ngồi một vài phút và cùng nhau rà soát lại những nhân vật khác trong chính phủ và xem xem có thể đưa thêm ai vào trong danh sach ba người kể trên hay không. Chúng tôi liệt kê lại tất cả các cơ quan khác nhau ở Washington phụ trách về Việt Nam và chúng tôi biết một loạt những nhân vật tham gia vào việc hoạch định chính sách. Nhưng chúng tôi không thể nghĩ ra ai thêm để đưa vào danh sách nêu trên. Không có một ai trong nhóm soạn thảo Hồ sơ Lầu Năm Góc, cũng không có một ai chúng tôi biết tại Cục Tình báo trung ương, Bộ Ngoại giao hay Nhà Trắng.

     Mãi đến tận gần đây, Mort vẫn còn nhắc lại với tôi rằng điều đó không có nghĩa là tất cả những ai hồi đó chúng tôi nghĩ đến đều là những người quyết tâm rút quân. Vẫn có những người, đặc biệt trong lực lượng không quân, tin rằng chúng ta cần tiếp tục ném bom ác liệt hơn nữa. Vấn đề ở đây là họ không còn tin rằng những gì chúng ta đang làm là phương án "tối ưu thứ hai" hoặc phương án có thể chấp nhận được, thậm chí có thể coi là tác nhân để chúng ta tiếp tục lấn tới. Tất cả những phương án hoặc ném bom ác liệt hơn tại miền Bắc hoặc rút quân hoặc đàm phán rút ra khỏi Việt Nam giờ đây không có nghĩa lý gì với họ. Trên thực tế, những quan chức này có cùng quan điểm mà lúc đó dân chúng đều chia sẻ: Hoặc chiến thắng hoặc rút quân về nước.

     Điều đáng chú ý là trong phỏng đoán của chúng tôi, số lượng dân chúng ủng hộ việc leo thang chiến tranh hơn là rút quân thì nhiều hơn là số lượng quan chức và binh lính, tính tới thời điểm này - thậm chí trước Tết Mậu Thân năm 1968 và điều đó càng đúng sau Tết Mậu Thân. Thậm chí ngay trong các sĩ quan quân đội bảo thủ, một số người làm việc trong Lực lượng tác chiến của Lầu Năm Góc, và đặc biệt trong những sĩ quan quân đội trước đây đã phục vụ trong chiến tranh Việt Nam, số lượng sĩ quan cho rằng nên rút quân vào cuối năm 1967 nhiều hơn dân chúng. Tuy nhiên lệnh ném bom vẫn được phát ra và vẫn được thi hành. Trong thời gian 10 tháng sau khi McNamara rời Nhà Trắng, Clark Clifford, theo lệnh Tổng thống, đã ném xuống Đông Dương một số lượng bom (1,7 triệu tấn) nhiều hơn số lượng bom của ba năm trước đó (15 triệu tấn). Nếu Halperin đúng, và tôi tin rằng anh ta đúng thì lệnh ném số lượng bom khổng lồ như vậy trong vòng 10 tháng đã được cấp dưới của Tổng thống, từ Clifford trở xuống tới các phi công ngoan ngoãn thi hành và họ tin rằng việc làm đó không hề phục vụ lợi ích quốc gia chút nào. Là một người Mỹ, tôi đã dành nhiều thời gian trong vòng 30 năm qua để cố gắng hiểu và chấp nhận được việc làm đó.

     Khi bầu cử Tổng thống đang diễn ra, tôi cảm thấy lo lắng một khi có nhu cầu chia sẻ quan điểm và nhận thức của tôi với bất kỳ một nhân vật chính trị nào. Đối với những người trong cuộc tiếng tăm của tôi từ Việt Nam và Lầu Năm Góc khiến nhiều người muốn lắng nghe. Khi tôi nhận được phản hồi của các cố vấn hay đại diện của các ứng cử viên chức Tổng thống, từ Romney và Rockefeller tới Kennedy và Humphrey, tôi thấy rằng tất cả họ đều có chung quan điểm với tôi. Những nỗ lực thuyết phục của tôi hiện nay dường như không còn cấp bách như hồi đầu năm, nhưng tôi vẫn có thể trấn an những người ngoài cuộc nghi ngờ về ý muốn của họ muốn chính phủ Mỹ rút quân khỏi Việt Nam. Thật đáng tiếc, tôi không biết một ai có liên lạc với George Wallace, người đã chọn tướng Curtis Lemay làm phó soái để tranh cử cùng ông ta. Đối với phần lớn các nhà quan sát, kế hoạch kết thúc chiến tranh của Nixon nghe giống như kế hoạch rút quân được cải trang. Thực ra, hai nhà báo Walter Lippmann và Joseph Kraft đều đoán rằng một ông "Nixon mới" có nhiều khả năng kết thúc chiến tranh hơn là ông Humphrey, người mà ủng hộ chính sách của Johnson hơn. Đối với tôi, điều đó nghe rất hợp lý. Kỳ vọng của tôi là tất cả các ứng cử viên chức Tổng thống có thể sẽ đồng thuận với nhau - trừ ông Wallace - về sách lược Mỹ rút quân để tránh sa lầy tại Việt Nam.

    Khi bắt đầu chiến dịch tranh cử của mình, Robert Kennedy gọi điện cho tôi ở California đề nghị tôi làm "chuyên gia về Việt Nam" cho ông ta trong chiến dịch tranh cử. Điều đó sẽ có nghĩa tôi thôi việc ở Rand, tôi sẽ có văn phòng làm việc mới ở Washington hoặc New York, và quản lý tất cả các tài liệu giấy tờ các tuyên bố, bài phát biểu về chiến tranh Việt Nam. Tôi rất thích làm công việc mới này. Nhưng tôi muốn chưa bắt tay ngay vào công việc cho đến khi có đại hội của ứng viên tranh cử vì tôi muốn đóng góp ý kiến đồng thuận với mọi người, nếu có thể.

     Tôi không muốn tạo ra mâu thuẫn giữa hai ứng cử viên tranh cử chức Tổng thống khi làm việc cho một trong hai người. Và tôi cũng có lý do cá nhân để từ chối lời đề nghị làm công việc mới tại thời điểm đó: tôi vừa mới bắt đầu khoá phân tích tâm lý, học bốn buổi một tuần và tôi không muốn rời Los Angeles.

     Nhưng tôi rất thông cảm và ủng hộ Kennedy. Giống như một số người khác, tôi thấy mình gần gũi với Robert Kennedy hơn là những nhân vật chính trị khác mà tôi từng gặp. Từ khi tôi từ Việt Nam trở về, không một người Mỹ nào gây ấn tượng với tôi sâu sắc hơn những mối quan tâm và lo lắng của ông về chiến tranh Việt Nam. Tôi rất yêu quý ông.

     Từ những dịp được nói chuyện với ông từ tháng mười năm 1967, tôi đi đến kết luận rằng Robert Kennedy là ứng cử viên duy nhất (McCarthy rất ít có khả năng được đảng đề cử) mọi người có thể tin cậy trong việc giúp Mỹ sớm thoát khỏi tình thế sa lầy ở Việt Nam. Tôi biết rằng Humphrey trước đây đã hoài nghi về việc Mỹ dính líu vào Việt Nam, nhưng thật khó có thể kính trọng ông ta khi ông ta đã và đang tiếp tục ủng hộ chính sách của Johnson. Tôi cho rằng ông ta cũng muốn Mỹ rút quân nhưng làm thật chậm vì ông ta cố gắng không làm sếp trước đây của ông ta nổi trận lôi đình. ấn tượng trên là hoàn toàn đúng khi tôi gặp ông ta lần đầu tiên.

     Tôi được mời đi ăn trưa tại Waldorf-Astoria vào ngày Humphrey phát biểu trước một đám đông tại New York. Một số nhân vật khác, bao gồm Zbigniew Brzezinski của Đại học Columbia và Sam Huntington của Đại học Harvard cũng được mời đến để "cố vấn" cho ông ta. Trong bữa ăn, Humphrey nhận xét về một tư tưởng rất phổ biến trong số những người ủng hộ McCarthy và Kennedy. Nhìn xung quanh bàn, ông ta nói: "Tôi thực sự rất lo lắng về câu khẩu hiệu đơn giản "Không còn Việt Nam nữa!" - Một khẩu hiệu thật nguy hiểm". Mặc dù ông ta đang nói với cả nhóm chúng tôi, nhưng lúc đó vì tôi đang ngồi trực diện với ông ta nên tôi thấy mình cũng nên đưa ra một nhận xét.

     Sau khi im lặng một lúc và thấy không ai lên tiếng cả, tôi nói:

     "Khẩu hiệu đó còn tốt hơn khẩu hiệu "Hãy tiếp tục Việt Nam".

     Sau đó cả bàn ăn đều im lặng.

Logged

Để gió cuốn đi...
Excocet
Thành viên
*
Bài viết: 617


Thép đã tôi thế đấy


« Trả lời #95 vào lúc: 17 Tháng Mười Một, 2007, 01:18:28 pm »

     Một giờ sau đó, khi chúng tôi ăn xong, tôi nhấn mạnh lại quan điểm nói trên. "Nếu "Không còn Việt Nam nữa" có nghĩa là "Không còn tiếp tục sự can thiệp quân sự của Mỹ ở Việt Nam mà không được sự đồng ý của Quốc hội" thì đó là một chính sách rất hay", Humphrey miễn cưỡng gật đầu.

     Còn có một vấn đề khác với khẩu hiệu "Không còn Việt Nam nữa!", nó cho thấy bản thân cuộc chiến tranh Việt Nam đã kết thúc hoặc sắp kết thúc mà không cần sự quan tâm hay sức ép từ cử tri nữa. Trên thực tế, cả hai điều này đều không đúng vào năm 1968 và bảy năm sau đó. Tuy nhiên, cả hai niềm tin trên gạt bỏ sự cần thiết phải đấu tranh chống lại cuộc chiến chính là niềm tin của đa phần các cử tri trong giai đoạn đó.

     Cuối tháng Năm tôi làm việc với phụ tá của Kennedy là Adam Walinsky và Jeff Greenfield về chính sách Việt Nam trong bài phát biểu cuối cùng của Kennedy trước khi diễn ra cuộc bầu chọn ứng cử viên của đảng cho bầu cử Tổng thống sắp tới ở California. Theo dự kiến, bài phát biểu này sẽ được đọc tại Câu lạc bộ Khối thịnh vượng chung San Fransisco vào ngày 31 tháng Năm. Nội dung cốt lõi của bài phát biểu này không phải do tôi, mà do Walinsky viết. Nhưng họ muốn tôi tư vấn về những vấn đề thực chất cho một số bài phát biểu. Một đêm tôi thức khá khuya tại văn phòng của họ ở khách sạn Ambassador, xem lại bản thảo cuối cùng của Walinsky. Chiến dịch tranh cử thuê phần lớn các phòng trên tầng trên của khách sạn, làm phòng ngủ và văn phòng cho nhân viên. Kennedy ngủ lại luôn ở đó.

     Sáng ngày hôm sau, tôi thức dậy và chợt nghĩ ra một số điểm vào phút chót. Tôi viết những điểm đó ra giấy và bạn của tôi, Yvonne, đưa tôi tới khách sạn trước, rồi sau đó mới ra sân bay.

     Lúc đó còn rất sớm và hầu như không có ai dưới sảnh khách sạn cả. Thang máy đưa tôi lên hội trường lớn mà chiến dịch tranh cử đang sử dụng. Vắng tanh không có một ai. Chỉ mới đêm trước ở đây rất đông, mọi người có mặt và nói chuyện rôm rả nhưng bây giờ chúng tôi rất ngạc nhiên khi ở đó không có cả nhân viên an ninh. Có một người đang tiến lại phía chúng tôi, trong bộ áo choàng tắm. Đó là Bobby. Anh ta chưa cạo râu và tóc tai bù xù, tay cầm một tách cà phê.

     Chúng tôi nói chuyện vài phút. Tôi không làm anh ta bận tâm với những vấn đề mà tôi sắp nói với Adam. Nhưng tôi vẫy tờ giấy chúng tôi đang cầm để hy vọng anh ta hiểu là tại sao chúng tôi lại đến đó sớm như vậy. Tôi đi tìm Walinski, lúc đó đã miệt mài làm việc. Tôi nói với Adam rằng tôi rất ngạc nhiên khi không có ai kiểm tra chúng tôi khi chúng tôi bước vào đây, không có bóng dáng một nhân viên an ninh nào. Anh ta nói Kennedy đã từ chối không sử dụng lực lượng bảo vệ bí mật vì ông ta sợ rằng lực lượng này làm gián điệp cho Nhà Trắng, sẽ báo cáo tất cả động thái của mọi người, đi đâu làm gì. Ông ta cũng từ chối lời mời của Thị trưởng Los Angeles là ông Sam Yorty về việc sử dụng cảnh sát cũng vì lý do tương tự. Tuy nhiên chúng tôi vẫn có cảm giác rất lạ khi đi vào trong đại sảnh, vắng tanh vắng ngắt. Yvonne thấy rất phấn chấn khi tình cờ gặp lại anh ta và khiến anh ta nhớ rằng trước đây đã từng gặp cô ta, nhưng đồng thời điều đó cũng khiến Yvonne thấy hơi nản lòng.

     Như lời cô ấy nói khi chúng tôi đi thang máy xuống, "Chúng ta có thể là bất kỳ một ai".

     Sau đó cô ta đưa tôi ra sân bay. Trên đường đến đó, chúng tôi cười đùa vui vẻ khi nhớ lại cuộc nói chuyện giữa Bobby và Ethel khi chúng tôi ăn tối với họ ở Washington, tại nhà của phóng viên Sander Vanocur. Khi bữa tối sắp kết thúc, Vanocur hỏi xem chúng tôi có muốn xem một show truyền hình về nghiện ma tuý mà anh ta đã ghi hình trước đó. Chúng tôi sang một phòng nhỏ cạnh phòng ăn xem cuốn băng. Khi thấy Vanocur xuất hiện trên màn hình, đang nói về acid, Ethel nói chắc như đinh đóng cột: "Ma tuý thì cùng tồi tệ như heroin vậy".

     Bobby nói: "Ethel, điều đó không đúng!"

     Ethel nói: "Đúng như vậy còn gì nữa".

     "Ethel, tôi là uỷ viên công tố và tôi nói điều đó không đúng", Bobby cãi lại.

     Vào năm 1964, đó là một lời nói rất buồn cười bằng chất giọng mũi Boston của anh ta.

     Anh ta sắp xếp thời gian rất hợp lý. Điều đó khiến tôi ngạc nhiên khi tôi phỏng vấn anh ta trong lúc đang làm nghiên cứu về cuộc khủng hoảng tên lửa tại Cuba. Lúc đầu anh ta không gây ấn tượng gì nhiều đối với tôi. Nhưng việc sắp xếp thời gian và việc nhận xét về đại sứ Liên Xô Anatoly Dobrynin khiến tôi phải nhìn anh ta với con mắt khác. Anh ta nói rằng Dobrynin đã tuyên bố rằng không có tên lửa của Liên Xô tại Cuba và tên lửa sẽ không được đưa đến đó. Bobby cho rằng khi Dobrynin tuyên bố như vậy thì tên lửa vẫn còn nằm ở Cuba nhưng sau đó đã được chuyển đi, "Cả tôi và anh trai tôi đều nghĩ ông ta nên biến đi vì ông ta đã nói dối hoặc cấp trên của ông ta không tin vào những thông tin ông ta cung cấp".

     Tôi tới Chicago dự hội nghị về Việt Nam vào ngày thứ ba, ngày 4 tháng sáu, ngày diễn ra cuộc bầu chọn ứng cử viên của Đảng Tôi ở một tối với Susan Bellow, một người bạn của tôi.

     Chúng tôi cùng nhau xem cuộc bầu chọn ứng cử viên của đảng.

     Kennedy đã giành chiến thắng tại tiểu bang Nam Dakota và dường như sẽ thắng lợi tại California, nơi mà cử tri rất ủng hộ Ông ta trở thành ứng cử viên của đảng. Hôm đó là một ngày làm việc dài, và tôi thấy mệt. Tôi không thức được tới tận lúc ông ta có bài phát biểu chiến thắng tại khách sạn Ambassador, phát sau nửa đêm tại California. Tôi đi taxi về khách sạn.

     Sáng ngày hôm sau, có tiếng gõ cửa phòng khi tôi đang cạo râu. Đó là Susan, cô ấy đang khóc. Tôi hỏi có chuyện gì và cô ấy nói: "Anh không biết ư? Bật vô tuyến lên coi. Bobby bị bắn chết rồi! Tôi bủn rủn cả chân tay. Vô tuyến đang phát phần cuối cùng bài phát biểu của Bobby. Sau đó là cảnh ông đi qua đám đông. Rồi cảnh ông nằm trên sàn nhà bếp, mắt mở to. Người bình luận nói: "Ông ấy chết lâm sàng trong bệnh viện và không thể tỉnh lại được". Tôi thấy hoa hết cả mắt. Tôi đi đi lại lại giữa hai cái giường trong phòng khách sạn. Tôi bắt đầu khóc, rồi khóc nức nở. Tôi ngồi trên giường, ngực tôi rung lên. Susan nhìn tôi và không nói gì.

     Bây giờ khi tôi khóc tôi mới biết là tôi yêu quý Bobby (mặc dù trước đây tôi không hay biết điều đó). Ông là chính trị gia duy nhất mà tôi thấy yêu quý. Tại thời khắc này tôi chợt nhận ra rằng mình đã đặt hết hy vọng vào ông ấy: không chỉ cho Việt Nam mà cho cả quê hương tôi. Bất thần tôi nhận ra rằng cuộc chiến sẽ không chóng kết thúc. Tôi nghĩ có lẽ không có cách nào để thay đổi đất nước này.

     Sau khoảng nửa tiếng đồng hồ, tôi thôi khóc. Tôi lau nước mắt và lau sạch bọt cạo râu trên mặt rồi mặc quần áo. Susan lái xe đưa tôi tới hội nghị. Một số người ở đó cũng có tâm trạng giống tôi; dường như là rất ít người đã thức khuya đêm hôm qua để theo dõi tin tức. Chúng tôi tham dự cuộc hội nghị trong trạng thái bị sốc và không khí của hội nghị chìm hẳn xuống. Hôm đó tôi thấy mình nói rất hăng về việc nước Mỹ "nghiện" một loại vũ lực, đó là ném bom chiến lược. Vào ngày thứ năm sau khi hội nghị đã kết thúc một số đại biểu quay về New York tham dự lễ tang của Bobby tại nhà thờ Thánh Patrick. Tôi quay về Los Angeles.

     Thứ bảy ở Malibu là một ngày nắng đẹp. Khi tôi bật vô tuyến lên, xe tang chở thi hài Bobby đang đi dọc theo bờ biển phía Tây, qua đám đông những người đi tiễn đưa Bobby về nơi an nghỉ cuối cùng. Tôi đi dọc theo bãi biển và cuối cùng ngồi xuống, nhìn những con sóng tràn bờ. Khi tôi quay trở lại nhà thì trên vô tuyến vẫn chiếu cảnh chiếc xe tang màu đen đang di chuyển chậm rãi dọc bờ biển.

     Trong khi đó, việc ném bom vẫn diễn ra ác liệt tại miền Bắc cho đến tận vĩ tuyến 19. Ngày 1-8, báo chí đưa tin máy bay Mỹ đã ném 2.581.876 tấn bom và tên lửa xuống Đông Dương kể từ năm 1965. Đó là tính thêm cả 1 triệu tấn tính đến ngày 1-3 - khi số lượng bom ném xuống đã là 1,5 triệu tấn bằng số bom Mỹ ném xuống châu Âu trong Chiến tranh thế giới II - kể từ khi Clifford thay thế McNamara tại Lầu Năm Góc.

     Trong vòng 5 tháng thì có tới 4 tháng sau khi Johnson đã ngừng ném bom phần lớn Bắc Việt Nam và kêu gọi đàm phán, người Mỹ đã ném một nửa tổng số bom sử dụng trong Chiến tranh thế giới II, tức là 2 triệu tấn. Điều đó có nghĩa là có 3 cuộc Chiến tranh thế giới II?

     Khi việc ném bom vẫn còn tiếp diễn, các đại biểu của chính phủ Hà Nội tham dự đàm phán tại Paris nhất quyết không chịu bàn tới điều gì khác ngoài việc ngừng lâu dài và không điều kiện những cuộc tấn công vào Bắc Việt Nam, và Johnson sẽ không chấp nhận điều đó nếu như không có sự đảm bảo hay "sự đánh đổi nào từ phía chính phủ Hà Nội". Phía Việt Nam từ chối điều này, với lý do những cuộc tấn công như vậy là bất hợp pháp và người Mỹ không có quyền đòi hỏi cái gì từ phía Hà Nội để đổi lại việc ngừng ném bom. Chủ tịch Hồ Chí Minh thậm chí còn chỉ ra sự tương đồng mà tôi đã sử dụng khi lý giải hành vi của phe Việt Cộng trong những bài phát biểu mà tôi viết cho McNaughton và McNamara vào năm 1965. Ông Hồ nói rằng nước Mỹ hành động như những kẻ cướp Chicago, những kẻ đồng ý không bắn vào mục tiêu của mình nếu được trả một khoản tiền. Để đổi lại, Hà Nội thực sự đã hứa và bảo đảm rằng Hà Nội sẽ không ném bom và xâm lược Bắc Mỹ. Điều này nghe rất logic nhưng bị các nhà thương thuyết Mỹ cho là "tầm phào".

     McCarthy vẫn đang tham gia tranh cử Tổng thống, nhưng có lẽ rơi vào thế bị động hoặc chán nản - sau khi đối thủ mà ông ta căm ghét bị giết. Lập trường của Humphrey cũng không hoàn toàn vững như bàn thạch. Khi nghỉ giải lao, tôi hội ý với ông ta.

     Theo lời gợi ý của một phụ tá của ông ta, tôi tới gặp một người gây quỹ cho ông ta ở Los Angeles, đi xe limousine cùng họ tới nơi hẹn gặp và thảo luận những bước tiếp theo về Việt Nam.

     Humphrey muốn ngừng ném bom không điều kiện, nhưng ông ta lo ngại rằng sau khi ngừng ném bom sẽ là một đợt tấn công khác mà bản thân ông ta sẽ bị khiển trách. Tôi không thể nói với ông ấy rằng điều đó không thể xảy ra. Tôi chỉ có thể nói với ông ta là điều đó ít có khả năng xảy ra và, ít có khả năng xảy ra hơn cả việc tiếp tục ném bom. Tôi nghĩ ông ta phải chấp nhận những rủi ro chính trị xảy đến với mình. Ông ta lắng nghe tôi, nhưng khi chúng tôi bắt tay và tạm biệt, ông ta vẫn lo lắng về tiền đồ như khi lần đầu tiên đề cập đến nó.

     Mối đe doạ đối với Humphrey không phải từ Bắc Việt Nam, mà ông ta còn đối mặt với hiểm hoạ từ hai Đảng ở Mỹ. Có thể ông ta sẽ không được đề cử và càng ít có khả năng nhận được sự đồng tình ủng hộ của đảng đưa ông ta đến thắng lợi trong bầu cử, nếu ông ta không tách mình ra khỏi lập trường của Johnson về cuộc chiến tranh, về việc ném bom ít nhất (ông ta không định kêu gọi thành lập một chính phủ liên hiệp tại Sài Gòn). Đây là vấn đề quan trọng nhất. Nhưng nếu ông ta tuyên bố mình hoạt động độc lập thì ông ta sẽ bị Tổng thống nổi giận và trả thù bằng nhiều hình thức khác nhau.

     Trong khi đó, chính quyền Hà Nội không tỏ ra vội vã khi muốn chấm dứt việc ném bom hay kết thúc chiến tranh bằng cách nhượng bộ. Thực ra, đó không phải là sự lừa phỉnh cho cả hai bên. Không bên nào chịu nhượng bộ và ban lãnh đạo của mỗi bên cũng không bị ảnh hưởng gì khi cuộc chiến tiếp diễn, cho dù cuộc chiến có đẫm máu đến đâu đối với một số người dân thường và tang thương với gia đình họ. Do vậy cho dù một bên có thay đổi chiến thuật, đáp ứng những điều kiện của bên kia đi nữa và bắt đầu "đàm phán" thì cũng chẳng có kết quả gì, chẳng thay đổi được gì.

     Cuối cùng, vào tháng mười một, cả hai bên đều làm điều đó. Hai bên thực sự ngồi lại với nhau, đàm phán trực tiếp và chỉ có vậy, chẳng giải quyết được vấn đề gì. Chiến tranh vẫn tiếp tục. Hơn 10.000 lính Mỹ chết trong năm 1969, bằng số lượng năm 1967 khi mà quá trình đàm phán diễn ra công khai cũng như bí mật. Hơn 10.000 lính Mỹ nữa cũng chết trong ba năm đàm phán tiếp theo.

     Do vậy, việc "ngừng ném bom không điều kiện và lâu dài ở miền Bắc Việt Nam là ảo tưởng, gần như là một trò tiêu khiển, khi muốn kết thúc chiến tranh. Việc "ngừng ném bom là điều kiện tiên quyết để "tiến hành đàm phán". Một trong hai điều này chỉ có ý nghĩa khi nó là một phần của những chính sách nhằm giải quyết xung đột và chấm dứt sự can thiệp của Mỹ vào Việt Nam.

      Khi bỏ phiếu, dân chúng hầu như không mấy ủng hộ việc rút ngay, rút đơn phương toàn bộ quân đánh bộ của Mỹ. Chính sách đó được một ứng cử viên tranh cử chức Tổng thống năm 1968, ông Eldridge Cleaver đề xuất. Ông này trước đây đã bị truy tố về tội hiếp dâm nhưng nay ra tranh cử cho đảng Hoà bình và Tự do tại hai tiểu bang New Yòrk và California.
Logged

Để gió cuốn đi...
Excocet
Thành viên
*
Bài viết: 617


Thép đã tôi thế đấy


« Trả lời #96 vào lúc: 17 Tháng Mười Một, 2007, 01:19:28 pm »

     Các nhà chiến lược của Kennedy, McCarthy và Humphrey vạch ra một cương lĩnh hoà bình cho dại hội bầu ra ứng cử viên Tổng thống, kiến nghị ngừng ném bom toàn bộ và cả hai bên Mỹ và Bắc Việt Nam sẽ rút quân, rồi hối thúc chính phủ Nam Việt Nam đàm phán trực tiếp với Mặt trận dân tộc giải phóng để thành lập ra chính phủ liên hiệp. Hai điểm đầu tiên mà họ đề xuất sẽ chẳng đi đến đâu, nhưng kết hợp lại và nhìn tổng thể thì tất cả những kiến nghị đó tạo ra cơ sở có thể đàm phán để kết thúc chiến tranh. Humphrey chấp nhận kế hoạch này. Nhưng khi Tổng thống Johnson bác bỏ nó thì Humphrey cũng thôi luôn và sau này ông ta hối tiếc về việc làm đó.

     Do vậy vấn đề Việt Nam tiếp tục gây chia rẽ sâu sắc tại đại hội bầu ra ứng cử viên Tổng thống. Tôi theo dõi tranh luận 3 tiếng đồng hồ trên vô tuyến ở Malibu. Mọi người phản đối khi Pierre Salinger nói rằng Robert Kennedy sẽ ủng hộ cương lĩnh hoà bình nếu ông ta còn sống. Nhưng cương lĩnh của chính quyền Tổng thống mà Ted Sorensen mô tả là "một cương lĩnh mà Richard Nixon hay Barry Goldwater sẽ vui vẻ chấp nhận", được 1527 cử tri của Johnson ủng hộ so với 1.041 phiếu chống.

     Tôi không muốn xem Humphrey được đề cử. Sau khi bỏ phiếu về cương lĩnh Việt Nam, tôi tắt vô tuyến. Phải mãi đến sáng ngày hôm sau tôi mới xem những đoạn phim về vụ bạo động cảnh sát tại Chicago đêm hôm đó, với những nhà tổ chức của McCarthy như Dave Mixner xô đẩy nhau qua cửa sổ của khách sạn Hilton và bị cảnh sát đẩy vào trong, những đám hơi cay bay tận tới phòng của McCarthy và Humphrey và cảnh những trạm cấp cứu dành cho những người biểu tình, nhân viên, nhà báo bị đánh đập trên tầng của khách sạn Hilton; cảnh hỗn loạn nơi diễn ra đại hội bầu ứng cử viên chức Tổng thống trong khi bỏ phiếu. Tôi nhớ sáng ngày hôm sau có một phần tin trên chương trình Today chiếu cảnh người biểu tình bị quẳng lên không trung. Đoạn phim này quay chậm đến nỗi người ta tưởng đó là một vở balê và những nhà sản xuất còn ghép cả nhạc vào nữa chứ. Đó là ca sĩ Frank Sinatra đang hát "Chicago, Chicago".

     Tôi lại tắt vô tuyến đi.

     Tôi không xem một thời khắc nào của chiến dịch tranh cử trên vô tuyến cho đến khi Johnson thục sự chấm dứt ném bom Việt Nam vào ngày 31-10-68, năm ngày trước khi tiến hành bỏ phiếu. Lúc đó tôi cũng không còn quá chú tâm vào công trình tôi đang làm ở Rand nữa: "Bài học từ cuộc chiến tranh Việt Nam" quá ư buồn thảm. Tôi không dành nhiều thời gian làm việc ở cơ quan và tôi cũng không cần quan tâm nếu tôi có bị sa thải. Tôi không quan tâm đến điều gì nữa. Đó là một quãng thời gian sầu thảm với nhiều người Mỹ. Khi nhìn lại mùa hè và mùa thu năm đó, tôi nghĩ chúng tôi đang gặp phải suy thoái chính trị chứ không phải suy thoái kinh tế. Dường như chẳng có gì hữu ích đáng làm nếu như bạn muốn chấm dứt chiến tranh. Chúng ta có hai ứng cử viên đi khắp đất nước nhưng không nói gì tới việc chấm dứt ném bom. Đây không phải là động cơ giúp họ thắng cử hay khiến mọi người chú ý đến họ.

     Bây giờ nhìn lại chúng ta thấy có sự khác nhau lớn giữa hai ứng cử viên này. Không có sự khác nhau rõ rệt giữa Johnson và Nixon trong quan điểm của họ đối với Việt Nam, nhưng bí mật mà nói thì có sự khác biệt giữa Johnson và Phó Tổng thống của ông ta. Do vậy, cũng có sự khác nhau trong quan điểm của Nixon và Humphrey về vấn đề Việt Nam. Nhưng cả hai ông đều không muốn mọi người biết về điều bí mật này. Chắc chắn là tôi không biết và tôi cũng không biết là có ai biết điều bí mật này không.

     Bây giờ nhìn lại, việc hỗ trợ kịp thời của chúng tôi dành cho Humphrey có lẽ đã tạo ra sự khác biệt rất lớn khiến cho Việt Nam và Mỹ không phải tiếp tục cuộc chiến trong năm hay sáu năm.

     Tuy nhiên tôi không thể trách cứ bản thân hay nhiều người khác vì đã không nỗ lực hay ủng hộ để thay đổi tình hình. Điều đó bao gồm cả McCarthy, người đã từ chối chấp nhận Humphrey cho đến những ngày cuối cùng của chiến dịch tranh cử và sau đó chỉ chấp nhận ủng hộ Humphrey một cách nửa vời. Điều đó còn bao gồm cả các nhà hoạt động chống chiến tranh, bắt đầu với những người biểu tình phản đối ở Chicago, những người hành động theo giả thuyết cho rằng không có sự khác nhau giữa hai ứng cử viên, không lo lắng là hành động của họ sẽ phương hại Đảng Dân chủ, giúp đỡ Nixon và chối bỏ bất kỳ ai ủng hộ Humphrey. Những sự lựa chọn này hoá ra có tầm quan trọng sâu xa, thậm chí bi kịch, nhưng với thông tin có sẵn thì tôi không thấy nhiều lý do để đổ lỗi cho họ. Trong suốt câu chuyện này, tôi tự coi mình có trách nhiệm đối với những tội lỗi khi tôi không hành động theo những gì tôi biết và theo cảm tính. Đó là thời gian mà tôi, cũng như những người khác, không thể hành động theo những gì chứng tôi không biết. Đặc biệt, Nixon che đậy những ý đồ của ông ta rất khéo, trừ việc ông ta lựa chọn rất ít người mà ông ta biết sẽ ủng hộ họ. Nếu mùa thu năm đó tôi thậm chí đoán được những gì tôi dần dần biết - một mình, bên ngoài Nhà Trắng - về những ý đồ một năm sau đó thì tôi đã hành động không khoan nhượng để ngăn cản việc bầu cử của ông ta. Trên thực tế quãng thời gian mười tuần cũng là thời gian duy nhất trong mười một năm khi ý nghĩ của tôi không bị ám ảnh chỉ vì chính sách Việt Nam. Phần lớn sức lực của tôi tập trung vào cuộc sống riêng tư của một người đàn ông chưa vợ.

     Khi Johnson tuyên bố ngày 31-10 rằng ông ta sẽ ngừng ném bom toàn bộ miền Bắc, tôi chợt nhớ lại bộ phim trong đó Humphrey và Muskie có tham gia diễn xuất. Đó là những thước phim không chính thức, một cuốn phim tự làm không chuyên nghiệp miêu tả Humphrey và Muskie chơi bowling trong một căn phòng có hai đường bowling đủ cho hai người chơi, bóng bị mắc kẹt trong đó và họ phải cố gắng gỡ ra. Một giọng nói vang lên: "Đó là một chiến dịch tranh cử". Trong quảng cáo của Nixon, tôi thấy ông ta mặc quần bó. Sự tương phản đó khiến tôi thấy phấn khích khi bỏ phiếu. Rõ ràng là Humphrey tài ba hơn với những vấn đề trong nước. Tôi dừng lại ở văn phòng chiến dịch tranh cử và lấy một tờ poster Humphrey-Muskie, sau đó tôi dán lên xe hơi.

      Đó không phải là sự đóng góp nhiều nhặn gì cho chiến dịch tranh cử mặc dù keo dính có làm bong lớp sơn trên xe của tôi khi tôi bóc tờ poster ra một vài ngày sau đó - nhưng điều đó có ý nghĩa là tôi quan tâm tới người thắng cử.

      Tại thời điểm đó, kết quả cuộc chạy đua chức Tổng thống rất sít sao, với số phiếu bầu cho thấy Humphrey dẫn điểm nhỉnh hơn một chút. Ông ta đã xoay xở vượt lên trên Nixon từ vị trí kém Nixon 15 điểm sau khi Nixon giành được lợi thế vào tháng chín khi ông ta tuyên bố chấm dứt ném bom miền Bắc Việt Nam. Sự bứt phá về đích xảy ra trong những ngày cuối cùng khi Tổng thống cũng có số phiếu bằng Humphrey; điều đó bất ngờ chấm hết một ngày trước khi bỏ phiếu, khi Tổng thống Thiệu tuyên bố từ chối không đàm phán tại Paris.

      Humphrey giành được 31.270.000 phiếu (kể cả lá phiếu của tôi) vào ngày 5 tháng mười một, chiếm 42.7% số phiếu bầu.
 
      Wallace được khoảng 9.906.000 phiếu, chiếm 13,5%, giảm nhiều so với 20% số người bỏ phiếu ủng hộ trước khi ông ta giới thiệu phó tá cùng tham gia tranh cử là tướng LeMay tại một cuộc họp báo trong đó Tham mưu trưởng lực lượng không quân chiến lược bắt chước tướng Jack D. Ripper. Người chiến thắng trong cuộc tranh đua chức Tổng thống giành được 31.770.000 phiếu, hơn Humphrey 500.000 phiếu, một khoảng cách tương ứng với chỉ chưa đến 7/10 của 1%.

      Richard Nixon được bầu làm Tổng thống với 43.4% số phiếu bầu. Không phải là thắng lợi vẻ vang gì. Tuy nhiên, rõ ràng là phần lớn cử tri, không chỉ những người bỏ phiếu cho ông ta, vẫn hy vọng ông ta sẽ chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam. Ông ta đã hứa sẽ kết thúc chiến tranh "trong danh dự". Nhiều người Mỹ thích câu nói nghe kêu như chuông đó. Nhưng ông ta làm thế nào để đạt được điều đó? Và cụm từ "trong danh dự" có ý nghĩa thế nào với ông ta? Câu trả lời, như tôi biết một năm sau đó là nó có ý nghĩa với ông ta nhiều hơn những gì mọi người suy đoán. Điều đó có nghĩa là chiến tranh sẽ không kết thúc trong nhiệm kỳ đầu tiên của ông ta và cũng không kết thúc trong nhiệm kỳ thứ hai.
Logged

Để gió cuốn đi...
Excocet
Thành viên
*
Bài viết: 617


Thép đã tôi thế đấy


« Trả lời #97 vào lúc: 17 Tháng Mười Một, 2007, 01:27:31 pm »

Chương 15

Tới khách sạn Pierre



     Trong khoảng thời gian hai năm sau khi Lyndon Johnson quyết định không ra tranh cử lần thứ hai, từ tuyên bố của ông ta vào ngày 31-3-1968 tới khi Nixon xâm lược Campuchia ngày 30-4-1970, cuộc chiến tranh Việt Nam dường như không còn được giới chính trị ở Mỹ bàn cãi nhiều như một vấn đề nóng hổi. Trong toàn bộ quá trình đó, bao gồm cả những cuộc bầu cử của Đảng Dân chủ chọn ứng cử viên ra tranh cử Tổng thống, chiến dịch vận động tranh cử vào mùa thu và 16 tháng đầu tiên của chính quyền Nixon, cuộc chiến tranh Việt Nam nổi lên hai lần như một cuộc tranh luận rất ngắn gọn: trong đại hội Chicago và khoảng sáu tuần phản đối quyết liệt mùa thu năm 1969.

     Việc dư luận không mấy tranh cãi và bàn bạc (trừ trong những thời kỳ vừa nêu trên) phản ánh niềm tin kiên định trong đởi sống chính trị ở Mỹ: tuyên bố của Johnson ngày 31-3, bao gồm cả quyết định của ông ta ngừng ném bom phần phía bắc của Bắc Việt Nam và mong muốn đàm phán với chính phủ

     Hà Nội tạo ra một bước ngoặt rất quan trọng mang tính quyết định dẫn đến việc chấm dứt nhanh chóng sự can thiệp của Mỹ vào chiến tranh Đông Dương.

     Bản thân Hồ sơ Lầu Năm Góc - tối mật "Lịch sử quá trình hoạch định chính sách của Mỹ tại Việt Nam, 1945-1968" - phản ánh tình hình tương tự trong những trang cuối và ngay trong tiêu đề của tập tài liệu đó. Nghiên cứu này, khi được McNamara bắt đầu tiến hành từ giữa năm 1967, là một nghiên cứu chính thức xét về nội dung và thời gian, và công việc nghiên cứu tiếp tục đến đầu năm 1969; nhưng các tác giả và người giám sát nghiên cứu này quyết định ngừng nghiên cứu vào ngày 31-3-1968. Việc chọn ngày này để quyết định ngừng nghiên cứu đối với lịch sử hoạch định chính sách của Mỹ ở Việt Nam thực sự phản ánh sự thật rằng những ai phụ trách về nghiên cứu đó (Morton H. Halperin và Leslie Geth, dưới sự giám sát của Paul Warnke) có cùng niềm tin như dân chúng rằng việc đưa ra tuyên bố ngày hôm đó chính là sự chuyển hướng có tính quyết định đối với việc Mỹ rút quân khỏi Việt Nam. Chương kết 3 trang ở cuối tập tài liệu này bắt đầu với tuyên bố ngày 3-4 của Hà Nội rằng Hà Nội sẽ đàm phán với Mỹ và viết tiếp: "Bước đầu tiên trên con đường dài tiến tới hoà bình đã được khởi động. Trong một hành động đầy kịch tính, Tổng thống Johnson đã một lần đưa vấn đề Việt Nam ra khỏi tranh luận chính trị trong nước"(90).

     Cái gọi là "đã một lần" đó kéo dài trong gần hai năm.

     Những gì nổi bật trong quá trình kéo dài này về niềm tin bị lừa dối của công chúng rằng hoà bình đã cận kề đâu đây là ở chỗ mặc dù một số hình thức hội đàm và cuối cùng là đàm phán chính thức đã được tiến hành nhưng chiến tranh vẫn tiếp diễn không ngừng và quy mô không kích vẫn không hề giảm. Sau tháng 3-1968, máy bay Mỹ không còn dội bom trên vĩ tuyến 20 ở Bắc Việt Nam nữa. Sau tháng mười một thì không còn dội bom một lần nào xuống miền Bắc Việt Nam nữa. Nhưng đơn giản là Mỹ chỉ chuyển hướng ném bom sang Nam Việt Nam và Lào (và bí mật đầu năm 1969 chuyển hướng ném bom sang cả Campuchia), một số lượng bom lớn hơn bao giờ hết.

     Từ tháng 11-1968 đến tháng 8-1969, tôi đã ngờ nghệch hy vọng (như tất cả những người khác) về tiền đồ của một giải pháp thông qua đàm phán. Nhưng tôi có lẽ là người thuộc nhóm thiểu số vẫn còn nhớ thực tế cuộc chiến trên quy mô lớn, cùng với khả năng rằng cuộc chiến này có thể còn tiếp tục lâu dài và leo thang bằng quyết định của Washington hay Hà Nội.

     Tính tới ngày 6-11-1968, một ngày sau bầu cử, tôi tiếp tục bị ám ảnh bởi chiến tranh Việt Nam sau mười tuần quyết tâm không nghĩ gì về nó nữa. Sáng hôm đó, tin tức báo chí cho biết Hubert Humphrey đã thua cuộc không khiến tôi bận tâm. Tôi đã bỏ phiếu cho Humphrey vì mọi lý do nhưng Việt Nam mới là mối quan tâm duy nhất của tôi. Tôi không có lý do gì để nghĩ rằng Nixon có thể kéo dài cuộc chiến thất bại của Đảng Dân chủ lâu hơn Humphrey. Là người của Đảng Cộng hoà, ông ta có thể làm được ngược lại. Việc ném bom ở miền Bắc đã chấm dứt, mở ra khả năng đàm phán thực sự, và Nixon đã công khai ủng hộ điều đó. Thậm chí ông ta còn đề nghị muốn tới Sài Gòn, ngay trước kỳ bầu cử, để hối thúc Thiệu đồng ý đàm phán tại Paris.

     Trên thực tế, lời bình luận tồi tệ nhất mà tôi nghe được về Nixon là từ Henry Kissinger của Đại học Harvard. Ông ta là học trò cưng và là cố vấn của Nelson Rockefeller. Ông ta đến thăm Rand vào ngày thứ sáu, 8-11, ba ngày sau cuộc bầu cử theo lời mời của Fred Iklé, Trưởng khoa Khoa học xã hội.

     Trong buổi nói chuyện ngày hôm đó, Kissinger nhắc đi nhắc lại tuyên bố mà ông ta đã phát biểu tại đại hội của Đảng Cộng hoà:

     "Richard Nixon không xứng đáng được làm Tổng thống".

     Dường như đó là lời nhận xét lộ liễu đối với một người hoạt động tích cực trong đời sống chính trị của Đảng Cộng hoà, đặc biệt giờ đây khi Nixon đã được bầu làm Tổng thống. Tuy vậy, điều đó không ngăn được Kissinger nhận lời mời của Nixon vài tuần sau đó, làm Cố vấn An ninh quốc gia.

     Đây là một trong những lần đầu tiên Kissinger tới thăm Rand sau một thời gian quan hệ đóng băng từ cuối những năm 1950 vì Rand chỉ trích chủ trương của ông ta coi việc sử dụng chiến tranh hạt nhân hạn chế là công cụ trong chính sách của Mỹ viết trong cuốn sách năm 1957: "Vũ khí hạt nhân và Chính sách đối ngoại". Chủ đề này đã thu hút được sự quan tâm của Nixon, lúc đó đang làm phó Tổng thống. Một bức ảnh in trên trang nhất của tờ Thời báo New York cho thấy Nixon cầm quyển sách, tên quyển sách được in rõ ràng, khi ông ta bước vào cuộc họp của Hội đồng An ninh quốc gia. Tôi nghĩ đó là một cách quảng cáo sách kỳ lạ.

     Nhưng đã nhiều năm qua, cả Nixon và Kissinger đều không có những nhận xét công khai và tích cực về vũ khí hạt nhân.

     Trong những năm gần đây, Iklé đã kết bạn với Kissinger và nối lại quan hệ giữa ông ta với Rand. Về vấn đề Việt Nam, tôi có ấn tượng rất tốt với ông ta, kể từ những cuộc tranh luận ở Sài Gòn năm 1965, khi ông ta là một cố vấn tới thăm Đại sứ Lodge.

     Trong buổi nói chuyện tháng mười một năm 1968 tại Rand, ông ta nói với nhân viên làm việc cho Rand, trong đó có tôi rằng, "tôi biết về Dan Ellsberg nhiều hơn bất kỳ ai ở Việt Nam". Đó là một điều rất thú vị được nghe thấy trước các bạn đồng nghiệp. Kissinger có thói quen tâng bốc về một ai đó trước mặt những người khác. Tôi biết ông ta đang muốn nói gì.

     Đó không phải là những thông tin cụ thể mà tôi đã cung cấp cho ông ta khi chúng tôi nói chuyện với nhau ở Sài Gòn vào tháng mười năm 1965 - lúc đó tôi chưa phải là chuyên gia nghiên cứu sâu về Việt Nam, tôi mới đến Sài Gòn được vài tháng ông ta đã bắt đầu bằng việc đặt một câu hỏi rất hay: làm thế nào để thông báo cho ông ta thật nhanh.

     Tôi đã nói với ông ấy tránh mất thời gian tại các cuộc họp chính thức hay nói chuyện với ai đó khi có mặt sếp của ông ta.

     Thay vì làm điều đó, ông ta nên tìm kiếm những ai đã ở Việt Nam lâu, những ai hiểu biết rõ về tình hình - đặc biệt, những ai nói được tiếng Việt, có bạn bè người Việt và có khả năng đi lại giữa thành phố và vùng nông thôn. Ông ta nên nói chuyện riêng với họ, hỏi họ tên của những người mà họ kính trọng và sau đó tìm cách nói chuyện với những người đó. Đặc biệt ông ta nên hỏi tên của những người Việt Nam mà ông ta muốn nói chuyện. Tôi rất may mắn được người ta khuyên như vậy khi đặt chân tới Việt Nam. Tôi đưa cho ông một danh sách những người Mỹ và người Việt Nam để có thể bắt đầu công việc của mình.

     Tôi đã nói với ông ấy rằng trong chừng mực mà tôi biết, McNamara không bao giờ làm điều này trong những chuyện công du thường xuyên của ông ta tới Việt Nam. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng tham dự những cuộc họp chính thức và nói chuyện với các quan chức chóp bu; và khi ông ta gặp các cố vấn hay các sĩ quan tham mưu cấp dưới thì bao giờ cũng có mặt các tướng tá của họ. Dường như ông ta không bao giờ nhận thức được rằng làm việc kiểu ấy sẽ khiến ông ta tốn kém đến đâu, Đại sứ quán và Tham mưu hỗ trợ quân sự của Việt Nam sẽ lôi kéo và ông ta sẽ bị lừa dòí đến mức độ nào. Điều tương tự cũng đúng với hầu hết các chính khách cấp cao khác.

     Tôi có ấn tượng rõ nét rằng Kissinger thực sự đã làm theo những gì tôi khuyên nên làm, không giống như những người khác ông ta thực sự đã gặp những người tôi gợi ý nên gặp và chỉ trong vài cuộc gặp ngắn ngủi, đã biết được rất nhiều điều.

     Ông ta đặt những câu hỏi rất thông minh và chịu khó lắng nghe, ghi chép cẩn thận những gì nghe được. Chẳng bao lâu, Kissinger cũng bắt đầu nghi ngờ và bi quan về tiền đồ của chính quyền Sài Gòn.

Logged

Để gió cuốn đi...
Excocet
Thành viên
*
Bài viết: 617


Thép đã tôi thế đấy


« Trả lời #98 vào lúc: 17 Tháng Mười Một, 2007, 01:29:42 pm »

     Năm 1967 và 1968, tôi cùng Kissinger tham dự một số hội nghị về Việt Nam, nơi ông ta trình bày quan điểm "đi trước thời đại" hơn các chính trị gia khác tại thời điểm đó. Ông ta lập luận rằng mục tiêu duy nhất của chúng ta lại Việt Nam sẽ là bảo đảm một thời kỳ chuyển giao hợp lý sau khi chúng ta ra đi và trước khi Cộng sản tiếp quản, để chúng ta có thể rút quân mà không nếm mùi nhục nhã vì thất bại của những mục tiêu trước đây. Ông ta không giải thích rõ là quá trình chuyển giao như vậy sẽ kéo dài trong bao lâu; trong những cuộc bàn bạc, mọi người thường nói là sáu tháng đến hai năm. Rất ít người hình dung ra rằng lực lượng Cộng sản đợi lâu hơn thời gian đó và một chính phủ có cả Cộng sản trong đó có thể đứng vững lâu hơn một khi quân Mỹ đã rút hết đi.

     Làm thế nào để chúng ta có thể trì hoãn lâu đến như vậy?

     Giả thuyết của Kissinger là Bắc Việt Nam sẽ không rút quân theo phương án cả hai bên cùng rút. Điều đó sẽ khiến cho Chính phủ Sài gòn và quân đội VNCH đối chọi với Mặt trận dân tộc giải phóng. Với việc Mỹ tiếp tục viện trợ tài chính và trang thiết bị, họ có thể trì hoãn thắng lợi của Cộng sản thêm một hai năm nữa hoặc là thoả thuận với họ. Trong khi đó, họ sẽ có thời gian chuẩn bị dựng nên một chính quyền mới.

      Liệu Hà nội có đồng ý với phương án cả hai bên cùng rút quân không. Vào năm 1969 và sau đó, câu trả lời là không.

     Trong vòng sáu năm sau, Bắc Việt Nam không bao giờ chấp nhận điều đó. Nhưng câu trả lời không hiển nhiên đối với tôi cũng như đối với những người khác. Lời đề nghị đó chưa bao giờ được nêu ra trong đàm phán - thực ra cũng chưa có lần đàm phán nghiêm túc nào - và miền Bắc Việt Nam được đề nghị rằng có ít nhất một cơ hội để họ chấp nhận điều đó. Do vậy đề xuất này là điểm khởi đầu thích hợp để tiến hành đàm phán. Năm 1967, những lời kêu gọi Mỹ đơn phương rút quân toàn bộ, dần dần hay ngay lập tức chủ yếu vẫn là của các trí thức cấp tiến như Howard Zinn hay Noam Chomsky (tôi mới bắt đầu đọc các bài viết của ông này), các nhà hoạt động vì hoà bình và những người kích động công luận như Abbie Hoffman và Dave Dellinger và ứng cử viên chức Tổng thống của phe Hoà bình và Tự do Eldridge Cleaver. Nhân vật chính trị lớn duy nhất đề xuất việc này là Martin Luther King.

     Cương lĩnh của Đảng Cộng hoà cho chiến dịch tranh cử năm 1968 rất giống như cương lĩnh của Đảng Dân chủ được Johnson ủng hộ. Người của Nixon đã hợp lực với các đại diện của Nelson Rockerfeller, nổi bật là Henry Kissinger để chống lại quan điểm diều hâu của Thống đốc bang Ronald Reagan. Tuy nhiên, quan điểm của Kissinger gần gũi với cương lĩnh hoà bình của những người bất đồng Đảng Dân chủ hơn là cương lĩnh chính thức của một trong h.ai Đảng. Đặc biệt, mục tiêu thực tiễn của quá trình chuyển giao dường như ít tham vọng hơn và thực tiễn hơn những gì mọi người trong chính giới muốn tuyên bố công khai. Nó di quá cả việc khuyến khích thành lập ra một chính phủ liên hiệp - cương lĩnh thoả hiệp mà Humphrey chấp nhận nhưng Johnson và các lực lượng của ông ta đã bác bỏ - để quy định việc chấp nhận một chính phủ Cộng sản ở Sài Gòn, không ngay lập tức nhưng có thể trong một vài năm. Không một nhân vật chính trị nào công khai tuyên bố điều đó.

      Tất nhiên, Kissinger chưa công khai tuyên bố đề xuất của mình, nhưng ông ta đã hối thúc ứng cử viên của Đảng Cộng hoà Nelson Rockerfeller. Mặc dù những người chỉ trích kêu gọi ngừng ném bom và Mỹ rút quân nhưng ngụ ý nói tới việc chấp nhận một chính quyền gần như là Cộng sản ở Nam Việt Nam, họ không nói điều đó một cách rõ ràng, thậm chí khi bàn bạc riêng với nhau, Kissinger sẵn sàng nói đó là một kết cục có thể chấp nhận được trong ngắn hạn và điều này nghe thật kỳ quặc đối với phe chỉ trích.

      Nhìn chung, đối với những người trong cuộc không theo đuổi chính sách diều hâu và các học giả biết những gì Kissinger nói trong năm 1968, thì mọi người thấy an tâm khi Nixon bất ngờ chọn ông ta làm Cố vấn An ninh quốc gia sau khi được bầu làm Tổng thống. Ẩn ý ở đây là mong muốn của Nixon "thoát khỏi vũng lầy Việt Nam" cũng lớn như của Humphrey. Giả thuyết này được củng cố khi bài báo của Kissinger đăng trên Tuần báo Quốc tế có tiêu đề là "Đàm phán về Việt Nam" xuất hiện vào tháng giêng năm 1969. Cuối cùng bài báo này cũng lý giải công khai và chi tiết những lập luận riêng trước đây của ông ta cho quá trình tìm kiếm "thời gian quá độ hợp lý" trước khi Cộng sản tiếp quản Sài Gòn. Xét về nhiều phương diện, đó là đóng góp có giá trị vào những cuộc bàn thảo về Việt Nam.

     Nhưng căn cứ vào thời gian và hoàn rảnh thì dường như mọi việc còn hơn thế. Xuất hiện cùng lúc với việc chính quyền mới tuyên thệ nhậm chức, trong đó việc bổ nhiệm ông ta đã được thông báo trước đó hai tháng, bài báo này trông giống như việc trình bày luồng quan điểm chính thống. Người ta mặc nhiên cho rằng tân Tổng thống chắc hẳn đã đọc nội dung bài báo, hoặc ít nhất cũng nắm được sơ sơ nội dung đó, trước khi bổ nhiệm và chắc chắn Tổng thống đã đồng ý cho xuất bản bài báo.

     Ấn tượng này là giả tạo. Chừng nào ông ta còn đương nhiệm và thậm chí về sau này, Nixon không bao giờ chấp nhận rằng Sài Gòn sẽ trở thành thành phố Hồ Chí Minh dưới trướng Cộng sản sau thời gian "quá độ" hợp lý và ông ta sẵn sàng không chỉ kéo dài cuộc chiến tranh vô thời hạn mà còn mở rộng quy mô cuộc chiến. Kissinger chắc chắn đã được sếp mới của mình thông báo về điều này trước khi bài báo xuất hiện. Nhưng đó là điều bí mật mà ông ta giữ kín, không cho ai ở trong và ngoài Nhà Trắng biết.

      Sau khi được Nixon bổ nhiệm, Kissinger yêu cầu Harry Rowen, Giám đốc của Rand chuẩn bị nghiên cứu "Các phương án đối với Việt Nam" và triệu tập cuộc họp đầu tiên của Uỷ ban An ninh quốc gia vào tháng giêng. Ông ta yêu cầu việc này thông qua Fred Inkle. Harry đề xuất tôi sẽ chủ trì công trình nghiên cứu đó. Với kiến thức của tôi thì đó là sự lựa chọn tự nhiên. Kissinger đồng ý việc này, mặc dù có hơi do dự. Inkle nói với tôi rằng Kissinger rất vui khi có tôi chủ trì nghiên cứu nhưng ông ta hơi nghi ngại một chút về "tài phán xét" của tôi.

      Tôi rất ngạc nhiên. Không một ai nghi ngại về điều đó cả, trong một thập kỷ vừa qua. Toàn bộ công việc của tôi dựa trên sự tin tưởng vững chắc của mọi người đối với "tài phán xét" của tôi (Tôi không tin rằng Kissinger hay ai đó ngoài tờ Thời báo New York biết rằng tháng 3 năm ngoái tôi có bí mật cung cấp thông tin cho Neil Sheehan). Điều gì đã khiến ông ta nghi ngại về tôi như vậy?

      Fred trả lời: "Henry nói rằng rất có lợi cho ông ta vì anh tỏ ra thẳng thắn khi nói chuyện với ông ta ở Việt Nam. Nhưng bây giờ ở vào cương vị khác, ông ta nhìn nhận tình hình cũng khác đi ngụ ý ông ta vẫn còn nhớ tính trung thực của tôi ở Sài Gòn - đó là lý do tại sao ông ta tâng bốc tôi vài tuần trước - có thể làm ông ta lo lắng khi nhận tôi vào làm tư vấn. Tôi nói với Fred: "Nhưng khi tôi nói chuyện với ông ta lúc đó, ông ta là nhà tư vấn chính thức cho sếp của tôi là Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn cơ mà?".

      Không có vấn đề gì. Thông điệp là ở chỗ chuẩn mực về phán xét giờ đây còn cao hơn. Hoá ra Kissinger khá nhạy cảm với việc tuyên bố công khai rằng ông ta quay ra nhờ Rand giúp đỡ, mà Rand lại là một công ty ngoài, chủ trương hoà bình (theo chuẩn mực của Đảng Cộng hoà) trong cộng đồng quốc phòng. Đặc biệt ông ta không muốn mọi người biết rằng tôi có tham gia vào công trình nghiên cứu, bởi vì tính đến thời điểm đó, những người trong cuộc đều biết tôi phê bình việc Mỹ can thiệp vào Việt Nam. Chính vì kính trọng tôi mà Kissinger đã đồng ý cho tôi tham gia vào nghiên cứu. Tôi nói với Fred rằng Henry không cần phải lo lắng như vậy.

       Tuy nhiên, bản thân tôi cũng hoài nghi khi tham gia làm công việc kiểu như vậy trong giai đoạn này. Điều hiển nhiên là từ quan điểm của Kissinger, khi được giới thiệu với Tổng thống, cách trình bày của anh ta cần được coi là "cân bằng", "khách quan, thể hiện những "phương án khác nhau" mà không lập luận mạnh mẽ ủng hộ phương án này hơn phương án khác. Tại thời điểm này tôi không thấy an tâm về việc áp đặt các quan điểm của tôi đối với các vấn đề khác nhau mà tôi thấy tâm huyết, trong bài trình bày cho Tổng thống. Nếu Tổng thống mới, dù là Nixon hay Wallace muốn biết tôi hay ai đó khác ở Rand có kinh nghiệm về Việt Nam nghĩ gì - hoặc thậm chí nếu anh ta không đề nghị điều đó, nếu có cách nào đó để trình bày quan điểm của chúng tôi trước anh ta - thì điều đó rất tốt.

      Tuy nhiên, đã nhiều năm nay Rand muốn hoạt động ở cấp chính sách cao hơn là lực lượng không quân hay thậm chí cả Bộ Quốc phòng. Đây thực sự là cơ hội đầu tiên Rand có để làm việc trực tiếp với Nhà Trắng, giúp đỡ Kissinger có thể mở ra những cánh cửa cho Rand. Tôi cũng muốn giúp Harry, mặc dù tôi hơi nghi ngờ về việc trình bày những cách tiếp cận mà tôi tin rằng là những cái bẫy nguy hiểm. Bên cạnh đó, tôi chợt nảy ra ý nghĩ rằng ngay cả nếu tôi có đề cập đến trong bài trình bày của tôi những thuận lợi và bất lợi hơn là tôi muốn thì vẫn có những lợi thế khi tham gia vào công trình nghiên cứu này. Tôi có thể bảo đảm rằng tôi sẽ trình bày một cách đầy đủ và hợp lý hơn những bất lợi của việc leo thang và những thuận lợi của các phương án hoà bình, so với một nhóm làm việc bao gồm các sĩ quan quân đội. Xác định các phương án chiến lược phản ánh các mục tiêu và quan điểm khác nhau đã từ lâu là chuyên môn chính của tôi, tại Rand và trong chính phủ. Đó là một lý do khác, cùng với kinh nghiệm của tôi ở Việt Nam và Washington, khiến cho tôi trở thành điều phối viên của công trình nghiên cứu này.

      Nhưng về việc xác định tất cả các phương án, thì quan điểm của tôi rất kiên định. Có một người tại một trong những cuộc họp đầu tiên mà tôi chủ trì nói rằng để giải quyết vấn đề một cách hoàn thiện thì chúng ta có thể sử dụng vũ khí hạt nhân. Tôi nói, nếu tôi không liên quan gì đến công trình nghiên cứu này thì tôi sẽ không ký vào một tài liệu nào gợi ý sử dụng vũ khí hạt nhân, bất kỳ tình huống gì ở Việt Nam. Kể từ đó, không ai còn nêu lại vấn đề này nữa và từ "hạt nhân" không còn xuất hiện trong bất kỳ bản thảo nào của công trình nghiên cứu.

      Sẽ có một chính quyền mới, một đảng phái mới lên nắm quyền sau 8 năm. Cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân năm 1968 đã làm suy yếu chiến lược Westmoreland và Bộ trưởng Clifford đã hạn chế mức trần đối với số lượng quân. Đàm phán chính thức bắt đầu được tiến hành. Việt Nam đang sẵn sàng, đang yêu cầu và trông đợi những thay đổi. Trên hết, những gì cần làm là theo hướng rút quân. Nhưng vấn đề là làm thế nào và tốc độ được đến đâu?

      Tôi đi Washington trong hơn một tuần để kiểm tra những thông tin của tôi với Lầu Năm Góc và Bộ Ngoại giao. Tôi đọc các bức điện tín, những dự đoán và có những cuộc nói chuyện lâu với Mort Halperin, Les Gelb và một số người khác để lấy ý tưởng về những gì một vị tân Tổng thống cần đến nhất. Tôi đi đến kết luận rằng những gì ông ta cần nhất là nhận thức được sự rạn nứt trong suy nghĩ trong nội bộ các quan chức đã trở nên sâu sắc hơn và hệ thống hơn so với nhiều năm nay.

      Vào buổi chiều trước ngày lễ Giáng sinh năm 1968, tôi đưa tập bản thảo cuối cùng về các phương án cho các thư ký tại Rand đánh máy. Sau khi dàn xếp với vợ cũ của tôi, tôi vui đêm trước Giáng sinh với hai con. Đêm đó tại Malibu, tôi tặng quà cho chúng. Ngày hôm sau, Giáng sinh, tôi lái xe đưa chúng tới mẹ chúng, lấy những giấy tờ tại Rand và ra sân bay với Harry Rowen và Fred Inkle. Tối hôm đó, tại New York, chúng tôi nghỉ ở khách sạn Pierre, nơi mà Nixon và Kissinger đang sử dụng làm đại bản doanh của mình khi chuẩn bị nhậm chức Tổng thống. Tôi đưa tập tài liệu nghiên cứu cho Kissinger đọc trong đêm hôm đó vì sáng hôm sau tôi muốn trao đổi với ông ta.

      Sáng ngày hôm sau, trong phòng khách sạn Henry đang sử dụng làm văn phòng làm việc, tôi bàn thảo với ông ta từng trang một của 72 trang tập tài liệu nghiên cứu. Fred và Harry không có mặt ở đó, nhưng Kissinger đã mời Tom Schelling tới New York để cùng làm việc này. Schelling là một giáo sư kinh tế tại Đại học Harvard, có ảnh hưởng lớn đến tư duy của tôi về học thuyết mặc cả. Ông ta trước đây là cố vấn chính thức cho luận văn tiến sĩ của tôi. Giờ đây ông ta là một nhà tư vấn tại Rand và cũng là bạn thân của tôi. Trước đây tôi không biết Kissinger và Schelling thân nhau đến mức độ nào.

      Hoá ra, Schelling đặt nhiều câu hỏi hơn Kissinger. Một trong những nhận xét đầu tiên của ông ta là: "Dan, anh không có chiến lược chiến thắng ở đây, một chiến lược mà theo anh chúng ta phải sử dụng để chiến thắng". Thực ra ba chiến lược quân sự đầu tiên mà tôi đưa ra được coi như "Chiến thắng thông qua thương lượng với Cộng sản" và niềm tin của những người ủng hộ chiến lược đó vào chiến thắng, trong những quãng thời gian khác nhau, đều được giải thích rõ ràng. Nhưng tôi không hề tin vào những dự đoán này hoặc giả thuyết cho những dự đoán đó hoặc các chiến lược đi kèm.

      Tom nói: "Tôi có cảm giác rằng khi anh trình bày một loạt những phương án trước Tổng thống, anh phải trình bày một chiến lược mà ông nghĩ sẽ đem lại chiến thắng, cho dù anh có thể không kiến nghị áp dụng nó vì nó quá tốn kém hay nguy hiểm hay vì một lý do nào khác. Anh sẽ nói: "Đây là những gì chúng ta phải làm để chiến thắng", cho dù anh không nghĩ là Tổng thống nên làm điều đó".

      Tôi nói: "Nhưng tôi không tin rằng sẽ có cách nào đó giúp chúng ta chiến thắng. Một phương cách như vậy không tồn lại. Một số người nghĩ rằng họ có thể làm được điều đó và tôi đã vạch ra những cách tiếp cận của họ nhưng tôi nghĩ họ chỉ nói đùa. Tôi không tin rằng hy vọng của họ chỉ hơn những ảo tưởng".
Logged

Để gió cuốn đi...
Excocet
Thành viên
*
Bài viết: 617


Thép đã tôi thế đấy


« Trả lời #99 vào lúc: 17 Tháng Mười Một, 2007, 01:31:43 pm »

     Mọi người im lặng một lúc. Theo như tôi biết thì trước đó, Kissinger cũng có những kết luận tương tự. Tôi nói tiếp: "Anh có thể đưa một triệu quân vào Nam Việt Nam, có thể là hai triệu và bình ổn tình hình ở đó cho đến khi họ rút quân.

     "Anh có thể xâm lược Bắc Việt Nam, giống như người Pháp và sẽ diễn ra một cuộc chiến tranh tồi tệ gấp năm lần những gì chúng ta đã có. Anh có thể đuổi lực lượng Cộng sản qua biên giới, chạy sang Lào và Trung Quốc và tiếp tục đánh đuổi họ. Nhưng anh có thể làm điều đó bao xa và trong bao lâu?

     "Anh có thể giết hết mọi người với vũ khí hạt nhân. Tôi không coi đó là chiến thắng". Tôi nói thêm, thực ra nếu có cái gì đó còn sống sót thì có lẽ đó là bộ máy kiểm soát của Đảng Lao động (của lực lượng Cộng sản), bộ máy có thể hoạt động ở Lào hay Trung Quốc nếu cần thiết".

     Schelling không nhấn mạnh điểm này, nhưng anh ta đưa ra sự chỉ trích khác: "Ở đây, anh chưa nói gì tới các mối đe doạ. Anh không có chiến thuật đe doạ".

     Tôi rất ngạc nhiên. Cả Schelling và tôi đều là các nhà phân tích về lý thuyết mặc cả và đe doạ và ông ta còn là thầy của tôi.

     Tôi thấy rất ngượng khi chính ông ta chỉ ra sai sót này của tôi.

     Tôi nói: "Giáo sư nói đúng". Sau đó tôi nói thêm: "Tôi thấy rất khó tin rằng những lời đe doạ leo thang chiến tranh sẽ có tác động đối với họ. Chúng ta thực sự đã ném bom Việt Nam trong 3 năm nay và điều đó không mang lại cho chúng ta sức mạnh trên bàn đàm phán". Tuy nhiên tôi có đưa vào nghiên cứu những phương án khác được Lầu Năm Góc ưa thích nhưng tôi nghĩ sẽ không có tác dụng gì.

     Cuối cùng Kissinger nói: "Làm thế nào mà anh có thể tiến hành hoạt động ngoại giao mà không đe doạ leo thang? Thiếu điều đó chúng ta sẽ không có cơ sở để đàm phán".

     Tôi nói: "Henry, rất nhiều tiến trình thương lượng, rất nhiều cuộc đàm phán diễn ra trên thế giới mà đâu cần đến lời đe doạ ném bom".

     Nhưng tôi chấp nhận luận điểm của Tony. Tôi nói tôi sẽ đưa phương án đe doạ vào trong bản thảo tiếp theo. Ngày hôm đó, tôi làm việc tiếp với phương án đó, chuyển sang phương án tiếp theo và nộp tập tài liệu nghiên cứu vào buổi chiều.

     Trong cuộc gặp thứ hai với Kissinger tại khách sạn Pierre vào ngày 27 tháng mười hai, tôi thảo luận về mục đích đằng sau những câu hỏi mà tôi đã đưa vào phụ lục của tập tài liệu.

     Tôi thông báo cho ông ta biết về những vấn đề mà McNamara đã trình bày trước các bộ phận khác nhau của Bộ Quốc phòng Mỹ khi ông ta bắt đầu làm việc tại Lầu Năm Góc và những vấn đề mà sau đó tôi đã phác thảo trong kế hoạch của Tổng Tham mưu trưởng có liên quan tới chiến tranh hạt nhân, mà Thứ trưởng Quốc phòng đã gửi cho các tham mưu trưởng vào mùa xuân năm 1961. Trong cả hai trường hợp, giá trị của những vấn đề này không phải chỉ là lấy thông tin; bản thân các vấn đề này có những tác động riêng của nó. Chúng giúp sớm định hình quyền lực của McNamara trong Lầu Năm Góc. Một mặt, những vấn đề này cho thấy ông ta và các phó tướng có những cố vấn rất quen thuộc với những cuộc tranh cãi bên trong Lầu Năm Góc. Do vậy sẽ nguy hiểm nếu lừa dối ông ta về một mặt trận thống nhất. Ông ta có những trợ thủ đắc lực, những cánh tay phải, biết được "những xác chết được chôn cất ở đâu". Ông ta có những nguồn thạo tin hoặc các cố vấn có kiến thức và tin tức rất cập nhật. Dù thế nào đi nữa, ông ta sẽ phát hiện ra ngay khi mình bị lừa phỉnh và sẽ phản ứng.

     Hơn thế nữa, trong trường hợp của Việt Nam, điều quan trọng đối với Tổng thống là biết được quy mô của các vấn đề tranh luận. Ông ta sẽ không biết được điều đó nếu ông ta chỉ theo cách thông thường là hỏi vấn đề đó với các cơ quan phụ trách nó. Thông thường các cơ quan khác bị cấm bày tỏ quan điểm của mình trực tiếp với Tổng thống, có thể có những nguồn thông tin không những khác mà còn có sức thuyết phục hơn, khách quan hơn và đáng tin cậy hơn.

     Một ví dụ là xung đột giữa các tướng lĩnh ở Việt Nam và CIA chỉ về việc thực lực của Việt Cộng đến đâu trong năm trước đó Thông thường, không một cơ quan tình báo dân sự nào được mời tới hoặc được phép ước tính về sức mạnh quân sự của đối phương mà lại không có sự tham gia của Tổng tham mưu trưởng hoặc các tham mưu mặt trận mặc dù những ước tính của CIA phù hợp và chính xác hơn. Nhưng hiện giờ còn có hơn mười vấn đề gây nên xung đột kiểu như vậy, ví dụ như hoạt động của Quân đội Việt Nam cộng hoà hoặc là khả năng chống đột kích bằng cách đặt mìn ở Hải Phòng hay ném bom miền Bắc. Thông thường người ta không mời các cơ quan dân sự như CIA hay bộ phận tình báo của Bộ Ngoại giao (INR) hay các cán bộ dân sự trong Bộ Quốc phòng (các vấn đề An ninh quốc tế và phân tích hệ thống) tới để góp ý trực tiếp với Tổng thống về các vấn đề quân sự. Giả sử rằng họ có làm việc đó thì bên quân đội, Tổng Tham mưu trưởng liên quân và Tư lệnh hỗ trợ quân sự của Việt Nam sẽ nổi đoá lên và rêu rao rằng "những cán bộ dân sự này" đang vượt quá quyền hạn và chuyên môn của họ.

      Đối với vấn đề chuyên môn, bao gồm cả tính khách quan trong đó, lời cáo buộc nêu trên là hoàn toàn sai, xét về thông tin, kinh nghiệm khu vực và khả năng phân tích. Vì lẽ đó, nhiều chuyên gia trong các cơ quan dân sự này cũng là những sĩ quan quân đội cừ khôi. Đánh giá của họ về những vấn đề này trong thời điểm hiện tại không chỉ khác và bi quan hơn thế hệ cha anh họ, mà còn đáng tin cậy hơn. Nhưng bên quân đội, lấy cớ bảo vệ đất nước, có thể ngăn cản Tổng thống không nghe những ý kiến vớ vẩn này.

      Tôi cho rằng những gì Nixon có thể làm một lần khi còn đang đương nhiệm là giải quyết một số vấn đề được lựa chọn kỹ lưỡng trước các cơ quan chuyện trách và kêu gọi tách biệt các cơ quan riêng ra mà không có sự điều phối. Nhưng bạn không thể cấm việc điều phối được. Đó là một thông lệ bình thường và là bản chất của quá trình quan liêu. Nhưng nhiều khi bạn có thể hợp thức hoá việc trình lên Tổng thống những ý kiến đa chiều và "nổi loạn" mà nhiều khi rất khó chuyện được đến cấp cao nhất.

      Quá trình này bảo vệ tân Tổng thống khỏi hai vấn đề cùng một lúc. Thứ nhất, những câu trả lời dành cho Tổng thống từ các cơ quan chức năng thường là sai hoặc không đáng tin cậy hơn là những câu trả lời ông ta có được từ các nơi khác. Thứ hai, dù đúng hay sai, những ý kiến này sẽ được trình bày với mức độ chắc chắn nhất định. Việc tập hợp một lần tất cả những đánh giá mâu thuẫn nhau về cùng một vấn đề có thể không phải là mối quan tâm của Nhà Trắng, nhưng đó có thể là lời cảnh báo có giá trị về tình trạng thiếu chắc chắn của các nhận định.

      Hơn thế nữa, chính việc tiết lộ những tranh cãi và quan điểm không hề có sức thuyết phục của một số cơ quan (trong tình hình có những thách thức và trả đũa cùng với những câu trả lời) sẽ gây ra những tình huống khó xử. Nó sẽ khiến những kẻ quan liêu phải lui về thế phòng thủ trước các nguồn câu hỏi - có nghĩa là Kissinger.

     Kissinger thích điều đó. Điều đó thật hấp dẫn ông ta mà lúc đó tôi không hay biết gì. Với sự giúp đỡ của Kissinger, Nixon dự tính tập trung vào kiểm soát chính sách đối ngoại bao gồm cả Việt Nam trong Nhà Trắng và điểm cuối cùng của tôi sẽ giúp Kissinger có những động thái để làm được điều đó. Hơn thế nữa, ông ta đã có Morton Halperin soạn thảo cho ông ta những thủ tục mới đối với việc điều phối kế hoạch giữa các cơ quan dưới sự lãnh đạo của ông ta với tư cách là Chủ tịch Hội đồng An ninh quốc gia. Trong tháng tới, những vấn đề mà tôi đã soạn thảo cho ông ta và cả những vấn đề ông ta nêu ra khiến cho các cơ quan phải bận tâm và bận rộn suy nghĩ trong khi ông ta sắp xếp mọi việc vào vị trí; có thể ông ta đã dự đoán được tác động tiềm năng này ngay khi tôi nói chuyện với ông ta.

      Dù thế nào, khi kết thúc buổi bàn thảo của chúng tôi, Kissinger bảo tôi tách danh sách câu hỏi của tôi ra khỏi tập tài liệu, nêu các phương án và làm cho danh sách này dài hơn nữa (danh sách lúc ban đầu của tôi chỉ bao gồm các ví dụ), và ông ta sẽ công bố danh sách đó như một chỉ thị nghiên cứu riêng, một tài liệu nghiên cứu an ninh quốc gia (NSSM). (NSSM này được gọi là NSSM-1, tài liệu đầu tiên trong hàng trăm tài liệu sau này ông ta yêu cầu tiến hành). Ông ta yêu cầu tôi làm việc cật lực với tài liệu đó ngay lập tức. Fred Inkle sẽ đảm nhận việc soạn thảo bản cuối cùng của tập tài liệu bao gồm các phương án.

      Kissinger không vội vã gì kết thúc câu chuyện của chúng tôi vào sáng hôm đó và tôi có thêm một thông diệp mới chuyển tới ông ta. "Henry, có một vài điều tôi muốn nói với anh. Những điều đáng nhẽ tôi phải được biết nhiều năm trước đây. Anh đã là người cố vấn trong thời gian dài và anh đã xử lý rất nhiều tài liệu tối mật. Nhưng sắp tới anh sẽ nhận được một loạt các tài liệu mới, còn hơn cả tối mật nữa kia.

      "Bản thân tôi đã có một ít tài liệu này rồi và tôi cũng biết những ai vừa mới có được tài liệu và tôi cảm nhận được tác động của tập tài liệu đó với một người mà người này không hề biết rằng có tồn tại một tập tài liệu như vậy. Và tác động tới bản thân ông khi ông đọc những thông tin trong tập tài liệu đó.

      "Thứ nhất, ông sẽ rất hào hứng với những thông tin mới này và với việc ông sẽ được tiếp cận với toàn bộ thông tin này một cách bất ngờ. Điều này thật không thể tin nổi. Thứ hai, một cách nhanh chóng, ông sẽ cảm thấy mình như một chàng ngốc sau khi đã nghiên cứu, đã viết, đã đọc về những chủ đề này, phê bình và phân tích các quyết định của Tổng thống trong hàng năm trời mà không biết là có tồn tại những thông tin như vậy, những thông tin mà Tổng thống và những người khác có nhưng anh lại không và thông tin này chắc chắn đã gây ảnh hưởng lên quyết định của họ. Đặc biệt, anh sẽ cảm thấy ngốc nghếch hơn vì đã tiếp xúc hơn 10 năm với một số quan chức và giữa cố vấn, những người được tiếp cận với tất cả các thông tin mà anh không biết và không biết rằng họ có thông tin đó, và anh sẽ té ngửa khi biết rằng họ giấu không cho anh biết những thông tin đó một cách khéo léo.

      "Ông sẽ cảm thấy như một chàng ngốc, và điều đó sẽ kéo dài khoảng 2 tuần. Sau đó, sau khi anh đã bắt đầu đọc tất cả những thông tin tình báo hàng ngày này và quen với việc sử dụng bao nhiêu thông tin bí mật trong thư viện, anh sẽ quên rằng đã có thời anh không có thông tin đó và anh sẽ nhận ra rằng bây giờ anh có thông tin và phần lớn những người khác thì không và tất cả những người khác là những kẻ ngờ nghệch.

      "Trong tương lai - không quá lần đầu, chỉ khoảng hai hay ba năm thôi - cuối cùng anh sẽ thấy mặt hạn chế của những thông tin này. Có rất nhiều điều những thông tin này không giúp ích gì cho anh, bởi chúng không chính xác và có thể lừa dối anh giống như tờ Thời báo New York vậy. Nhưng phải mất một thời gian anh mới nhận ra điều đó.

     "Trong khi đó, sẽ rất khó khăn cho anh lấy được thông tin từ những ai không có mấy thẩm quyền. Bởi vì anh sẽ nghĩ, "Người này sẽ nói gì với ta khi mà ông ta biết những gì ta đã biết cơ chứ? ông ta sẽ khuyên ta như những người khác hay là điều đó sẽ làm thay đổi toàn bộ những dự đoán và kiến nghị của ông ta?

      Và những câu hỏi mệt mỏi như vậy sẽ tra tấn anh. Tới một lúc nào đó anh sẽ từ bỏ và không còn muốn nghe người khác nói nữa. Tôi đã có kinh nghiệm về chuyện này với sếp của tôi, đồng nghiệp của tôi và cả bản thân tôi nữa.

      "Anh sẽ tiếp xúc với một người không có thẩm quyền và anh sẽ phải nói dối rất khéo với ông ta về những gì anh biết.
Logged

Để gió cuốn đi...
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM