Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 05:20:04 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Những khám phá về hoàng đế Quang Trung  (Đọc 113238 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #40 vào lúc: 02 Tháng Tư, 2009, 10:30:11 pm »

Bồi thần và các người đi theo đều được thưởng bạc lạng và nhiều thứ khác.

Hôm ấy được đãi yên và xem trò vui tiếp kiên các thân vương
(1) buổi chiều làm ngay tờ biểu và hoạ thơ để dâng lên (2).

Ngày 12 đến chầu, nhà vua duyệt các ban văn võ, từ chức tuyển quan viên trở lên, ta đem bồi thần vào chầu xong vâng chỉ cho vào Đại Nội, đi thăm dinh phủ nhà vua kể cả những nơi thâm cung, kín đáo.

Được trông thấy thơ văn do vua làm treo ở trên các bức tường chỗ nào cũng có.

Ngày 13, Thanh đế đưa xe đi thăm quan khắp mọi nơi như vườn sạ - như - côn.

Ngày 14, vâng chỉ, tham dự đãi yến, thưởng cho đoạn, lăng trừu đủ màu. Bồi thần cùng các người đi theo đều vâng chỉ thưởng cấp rất hậu, chiều hôm ấy theo xe vua đền vườn Vạn Thọ xem hoả thụ.. 

Ngày 16, vâng chỉ được đãi yên, xem trò vui. Bồi thần là Phan Huy Ích, Võ Huy Tấn vâng hoạ thơ ca nhà vua đều được ân thưởng, tặng cờ lưu niệm. 

Ngày 17, được vua đãi yến, xem trò vui, các bồi thần đều được ân thưởng.

Ngày 18 và 19, vâng chỉ được đãi yến, xem trò vui nhà vua cho xem các tập thơ Ngự chế, cùng các thứ đồ chơi mỹ nghệ không thể kể hết được. Trong khoảng một tuần
(3) hôm nào cũng được chiêu đãi đầy đủ các thứ của ngon vật lạ, ân thanh cao dầy khôn xiết.
 
Vâng ban tờ sắc chấn phong chức Thế tử cho Quang Toản. Ta lĩnh mang về công quán, cung phụng ở trên án, đợi lúc về sẽ trao cho con.  Ngày 20 vâng chỉ cho về trước vườn Viên Minh, cách kinh đô 30 dặm đường để đợi xe nhà vua. 

Ngày 23, ta đến vườn ấy, ở chỗ hành cung, người giúp việc ở hành cung cung cấp rất nhiều ưu hậu.
 

Được tin vào ngày 1 tháng 8 sẽ được dự tiệc yến Khánh Hạ.

Ta chỉ sợ con nóng lòng, vì thế tuân chỉ nhà vua báo tin cho con biệt và phụng sao một bản tờ sắc nhà vua đã phong cho con làm Thế tử, gửi về trước để con mừng.

Con nên báo cáo với tướng thần và dân chúng để mọi người đều biệt ân nhà vua rộng lớn, đức ý đu,ợc thấm nhuần để giữ lấy lòng người làm căn bản cho nước.
Đến như việc trong nước, con nên bảo với đình thần là phải kính cẩn thật lòng và chăm chỉ, đồng tâm, đồng lực, để sửa sang, khiến cho xa gần đều tin tưởng, trong ngoài đều ninh thiếp cho yên lòng ta.
 

Ta mong Đại Hoàng đế, ân huệ như trời rất muốn ở lại chốn đế kinh, sớm chiều mong thánh tượng dạy bảo, nhưng buổi đầu dựng nước, không thể ở lâu mãi được, tính đường về nhanh chóng, cũng phải hơn ba tháng mới về đến quốc đô, tình thế không ở lâu được ở bên phủ toạ (4). . .

Ta tính đợi sau ngày Chúc Hỗ (5) khẩn thiết trần tình, ta xin ân kêu mong sớm được quay về nước, thì cuối năm có thể về tới được thành Thăng Long.
 
Nay tờ lệnh bảo.

Ngày 29 tháng 7 năm thứ 55 niên hiệu Càn Long.



____________________________
(1) Tước vương dành cho tôn thất của nhà vua.  
(2) Chính là bài thơ hoạ của Quang Trung ở trên. 
(3) Tuần được tính bảng 10 ngày.
(4) Thiên tử đội mũ miện có dải phủ, hai chữ phủ toạ chỉ chỗ vua ngôi.
(5) Tức chúc thọ, chữ Chúc Hỗ chỉ dành cho nhà vua. 
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #41 vào lúc: 02 Tháng Tư, 2009, 10:34:08 pm »

Với tư cách là Quốc vương, một thượng khách của Hoàng đế Trung Quốc trong những ngày ở Bắc Kinh, phái đoàn ta được vua Càn Long tiếp đãi hết sức trọng thể, nhà vua được tặng áo, mũ, cân đai.

Trước khi lên đường về nước, Càn Long còn sai hoạ sĩ vẽ bức truyền thần cho Quốc vương để làm lưu niệm.  Ngày 29 tháng 11, khi Quốc vương về gần đến biên giới, lại ban thêm một đồi hà bao bằng kim tuyến lớn, 4 đôi hà bao nhỏ trong đó có hai đồng tiền vàng, một con ngỗng bằng ngọc trắng, một con voi bằng ngọc La Hán, một cái ấm vàng tráng men pháp lam, một đôi hộp hải đường, một hộp bơ, một hộp bánh sữa để tỏ lòng lưu luyến. Vua Càn Long tự tay viết chữ Thọ để chúc mừng nhân dịp năm hết Tết đến để tặng Quốc vương.

Đạo dụ Càn Long vừa ban ra, nhà vua ra lệnh cho thuộc quan phải phi hành với tốc độ 400 dặm một ngày để kịp trước khi phái đoàn ta trở về nước. 

Tháng 7 năm sau (1791), Càn Long trở lại biệt thự nghỉ mát ở Nhiệt Hà, nhớ lại cuộc hội ngộ với phái đoàn ta ở đó cũng đã tròn một năm. Kỷ niệm khó quên về cuộc gặp gỡ đó đã bùng dậy trong lòng Hoàng đế ở tuổi ngoài 80. Càn Long đã vịnh một bài thơ tặng vua Quang Trung, tự tay viết vào quạt rồi tặng Quốc vương để quạt cho mát trong mùa viêm nhiệt. Càn Long muốn tặng thực phẩm tươi cho Quang Trung nhưng đường xa, vận chuyển lâu ngày sợ thiu thối. Càn Long tặng một hộp trái cây để tỏ lòng quyến cố.

Bản thơ tạm dịch là:

Mùa hè Trẫm Lại đến sơn trang
Đón gió Nam về, dạ mang mang
Lòng Trẫm nhớ thương người vễn xứ
Kinh đô năm trước, đón người sang
Tĩnh dưỡng lấy sức lo việc lớn
Cùng nhau giữ vẹn, nghĩa lân bang
Nay Trẫm đề thơ vào quạt tặng
Cầu mong thịnh vượng một nước Nam
(1).

Thế là, đúng một năm sau, Càn Long vẫn không biết rõ tung tích của người cầm đầu phái đoàn của ta là ai.

Mỉa mai thay, thế mà ở Trung Quốc đã có người biết trước lúc phái đoàn của ta chuẩn bị lên đường!  Người đó là Phúc Khang An, tổng đốc hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây.

Việc là, sau khi nhận được lịch trình của phái đoàn ta, Phúc An Khang đã mừng rỡ báo lên cho Càn Long, Thanh đế vui mừng cho chuẩn bị chu đáo để đón tiếp thượng khách nước Nam ngàn năm có một, nhưng chờ mãi vẫn không thấy có động tĩnh gì.

Phúc Khang An nóng ruột, giục phái đoàn ta lên đường, nhưng vua Quang Trung lấy cớ là mẹ mới mất, nên chỉ xin cho con là Quang Thùy đi thay. Như một vận động viên chạy sắp tới đích thì bị trượt ngã, Phúc Khang An hốt hoảng lo sợ, liền bí mật sai người đến biên giới nước ta trình bày sự nghiêm trọng của vấn đề: Nếu như vua Quang Trung không đích thân tiến kinh thì đề nghị nhà vua chọn một người nào đó có tướng mạo giống mình để làm giả vương đi thay!

Người được chọn để nhận sứ mạng quan trọng và hiểm nghèo đó là Phạm Công Trị, lấy tên là Nguyễn Quang Bình trang phục như một hoàng đế đóng kịch như một Quang Trung thật trên sân khấu chính trị Bắc Kinh (2).


__________________________
(1) Nguyên văn từ trong Đại Thanh thực lục, Q. 1389, t. 13a - b. 
(2) Theo Đại Nam chính biên liệt truyện (Q. 30, 39a) vì Trị là thân vương đã một lần được tín nhiệm vì đóng thành công vai giả vương (1789). Theo Hoàng Lê nhất thông chí giả vương tên là Nguyễn Quang Thực, người làng Mặc Điền, huyện Nam Đường, Nghệ An có diện mạo đoan trang, người được Ngô Thì Nhậm chọn làm giả vương Quang Trung, theo Tây Sơn thuật lược, giả vương còn có tên là Nguyễn Hữu Chấn
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #42 vào lúc: 02 Tháng Tư, 2009, 10:37:04 pm »

Trước đó, Phạm Công Trị đã một lần được vua Quang Trung tín nhiệm. Đó là vào năm trước (1789), khi nhận được biểu tạ ơn của vua Quang Trung, trong biểu vua Quang Trung có nói: Năm sau sẽ xin vào chầu. Càn Long tưởng là thật, liền phong cho Quang Trung làm An Nam Quốc Vương, sai quan hậu bổ Quảng Tây tên là Thành Lâm sang nước ta để trao sắc phong.

Vua Quang Trung lấy cớ là vượng khí ở Thăng Long đã tiêu tán, yêu cầu sứ giả đến Phú Xuân, Thành Lâm không chịu vì cho là trái lệ thường, Lâm không vào Phú Xuân, càng chờ. . . vua Quang Trung lấy lý do bị bệnh không đi được. Lâm lại càng thêm nóng ruột. Cuối cùng lễ thụ phong cho vua Quang Trung vẫn thực hiện được, nhưng người đứng đối diện với cái “vinh quang” mà thiên triều ban cho lại là Phạm Công Trị, cháu của vua Quang Trung, đã thay nhà vua lên diễn ở nhà hát chính trị tại Thăng Long một cách xuất sắc (1).

Phái đoàn ta gồm Ngô Văn Sở, Đặng Văn Chân, Phan Huy Ích, Võ Huy Tấn, Võ Danh Tiêu, Nguyễn Tiến Lộc, Đỗ Văn Công, dẫn đầu là giả vương Phạm Công Trị khi đến đất nước Trung Quốc, Phúc Khang An, tổng đốc Lưỡng Quảng, Tôn Vĩnh Thanh, Tuần phủ Quảng Tây đã đón tiếp hết sức long trọng và hộ tống “quốc vương” đến tận kinh đô Trung Quốc.

Có điều thú vị là, để đảm bảo tính mạng cho Phạm Công Trị nếu khi bị Càn Long phát giác, tua Quang Trung đã giao danh sách của phái đoàn trong đó có cả tên Phạm Công Trị, người chỉ huy đội nhạc công đã đi trước, qua diễn ở kinh đô nhà Thanh.  Như vậy phái đoàn đi Trung Quốc lần này có hai nhân vật giả. Đó là một Quang Trung giả và một Phạm Công Trị giả?

Còn nữa đó là trường hợp Hoàng tử Nguyễn Quang Thùy, sợ bị Càn Long phát hiện có thể chết cả đoàn, hại đến con, Quang Thùy vừa đến Lạng Sơn thì phái đoàn của ta báo cho Phúc Khang An là hoàng tử bị ốm nặng xin về nước để điều trị. 

Càn Long nhận được tin báo của Phúc Khang An, không nhưng chuẩn y ngay mà còn thưởng cho Nguyễn Quang Thùy một cái như ý bằng ngọc (2).  Khôn khéo hơn nữa là trong những ngày ở trên đất Trung Quốc, khi đi qua các địa phương “vua Quang Trung” lại có các tờ khải, tờ thiếp có thơ giã từ, có thơ cám ơn các quan địa phương, có tặng thơ và họa thơ để tặng. “Quốc vương” cũng thường xuyên có quốc thơ gửi về cho Thế tử Quang Toàn ở Phú Xuân và các quan ở trong nước để thông báo tình hình và căn dặn việc nước, làm cho mọi người tưởng là thật nhưng đó chỉ là các báo cáo của đoàn “Quang Trung giả” gửi về kinh đô Phú Xuân cho vua “Quang Trung thật”. .
 
Thế mới thấy Quang Trung thiên tài, thiên tài không chỉ ở chỗ đã đánh bại 29 vạn quân Thanh ở Thăng Long bằng cuộc đấu tranh quân sự oanh liệt nhưng cũng rất hiểm nguy mà còn đánh lừa được Hoàng đế nhà Thanh, cuộc đấu trí ngoại giao này cũng thật vinh quang và hiểm nghèo cũng không kém.

Càn Long đã từng tuyên bố, chỉ cần ba thước gươm của ta đã chinh phục hàng vạn dặm, thế mà, giờ đây phải cúi xuống trân trọng mời Người đã từng đạp đổ cái uy danh lẫm liệt của thiên triều, đến tận kinh đô, đối xử rất trọng hậu, chuyện chưa từng có ở trên đời.

Nhưng cay đắng nhất, kinh sợ nhất vẫn là quan Tổng đốc Lưỡng Quảng Phúc Khang An. Khang An chết mang luôn cái bí mật “ngoại giao đau khổ” đó về bên kia thế giới. Còn Càn Long chết rồi mà vẫn tưởng mình là kẻ toại nguyện nhất trong các Hoàng đế Trung Quốc. Vì đã được tiếp Quang Trung, một anh hùng dân tộc, chưa từng có ở thời đại của ông. 

Bức màn bí mật đó được bảo vệ quá kín, quá dày đến cả thời đại ngày nay, có nhà sử học vẫn lầm; một trong những trường hợp đáng tiếc đó là Tiêu Nhất Sơn, người soạn bộ Đại Thanh thông sử, 5 tập xuất bản ở Đài Bắc năm 1961 (3).


________________________
(1) La Mothe, giáo sĩ phương Tây, lúc bấy giờ đã nhận ra được trò chơi “giả vương” đó, ông viết, “Tiếm vương không thèm rời Phú Xuân để nhận sắc phong ở Kinh đô Bắc Kỳ và chỉ chịu phái một đàn quan nhân danh ông. Ông này mặc áo của Quang Trung làm vị sứ thần của Trung Quốc kính nể.
(2) Đại Thanh thực lục, Q. 1354, t. 3a.
(3) Quyển II, tr. 140.  
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #43 vào lúc: 02 Tháng Tư, 2009, 10:41:57 pm »

Nhưng không thể có một vật gì có thể giấu bóng mãi dưới ánh sáng mặt trời. Một sự việc xảy ra trên hai người, tất là khó giữ được bí mật.  Việc Càn Long tiếp cả một phái đoàn giả là chúng ta đều biết, sử Việt Nam có ghi lại rành rành. 

Ở Trung Quốc vào thời điểm đó, ít ra cũng có 3 người biết, đó là hai viên quan lại cao cấp Phúc Khang An, Tôn Vĩnh Thanh và một viên đặc sứ của Phúc Khang An nhận lệnh của An sang nước ta đề nghị: “Bí lắm cũng cần có một ông vua giả”.

Dư luận ở Trung Quốc lúc đó đã xôn xao về một giả vương Quang Trung đến kinh đô Trung Quốc.  Nguỵ Nguyên- một tác giả đầu thế kỷ XIX khi viết cuốn Càn Long chinh vũ An Nam ký (1842) đã có nghe ngóng dư âm về cuộc tiến kinh Trung Quốc của vua Quang Trung nên đã có nhận xét “hình như người Thanh biết đó là Quang Bình giả” (1).  Vua càn Long càng thoả chí bao nhiêu, thì con ông, tức là vua Gia Khánh sau này càng cảm thấy đau khổ và nhục nhã bấy nhiêu.

Tây Sơn sử truyện đã tiết lộ cho chúng ta biết điều đó: “Người Thanh có kẻ hoài nghi là có sự giả mạo, nhưng Thanh đế trước sau vẫn không biết gì hết, chỉ có ông hoàng thứ mười một trong lòng lấy làm khinh bỉ” (2). 

Nhân dân Trung Quốc thuở đó có người biết về chuyện Càn Long bị mắc lừa mà ngay cả từ bên kia bán cầu, ba năm sau cũng đã có người biết, đó là một người Anh tên John Barrow với đoàn thương mại của ông ta, họ đến Đà Nẵng vào năm 1973, trong bản ký sự chuyến du hành trên đất Đàng Trong, ông đã viết: “Khi vua Thanh trịnh trọng mời vua Quang Trung sang Bắc Kinh, Quang Trung đắn đo, sợ rằng đó có thể là mưu mô của quan Tổng đốc Phúc Khang An, làm bẫy trập  để lừa bắt mình, vì ông không lấy gì làm tin tưởng lắm vào những kẻ vừa bị thất bại một cách nhục nhã. Bởi thế, lúc đầu ông do dự không biết có nên đi hay không, nhưng sau khỉ bàn bạc với các cận thần, cuối cùng ông quyết định nên có một giả vương. Người được tiếp đón ở Bắc Kinh với tất cả vinh dự dành cho một hoàng đế, đó chỉ là một ông vua giả” .

Tư duy chính trị của nhà tơ sản người Anh như vậy là có lý và tương đối chính xác, nhưng khi Barrow viết tiếp những dòng chữ sau, thì lượng thông tin đã bị nhiễu, đó cũng chỉ là cái tất yếu của “Trăm nghe không bằng một thấy”.

Ông viết:

“Khi vị vua giả trở về Huế, Quang Trung lúng túng không biết xử trí thế nào, sau cùng thấy không sao giữ được lâu một bí mật mà đã được nhiều người biết rõ, ông nghĩ cách tốt nhất để vua Thanh khỏi khám phá ra được cái đòn ngoại giao mà ông vừa chơi một cách thành công, là thủ tiêu người bạn của ông và tất cả các quan đã đi theo hầu” (3). 
 
Đó là điều không thể có được, vì những nhân vật quan trọng trong phái đoàn cùng đi với Phạm Công Trị vào năm 1790 như Ngô Văn Sở, Võ Huy Tấn. . . lúc về đều được Quang Trung đề bạt, cất nhắc vì giành được thắng lợi trong cuộc đấu tranh ngoại giao với nhà Thanh, và còn tiếp tục giữ trọng trách dưới triều vua Cảnh Thịnh (4).
 
Quang Trung có thể giết những tên phản bội như Nguyễn Hữu Chỉnh, Vũ Văn Nhậm như chọc tiết một con lợn nhưng lại trân trọng, thủy chung với người có tài, một lòng vì nước vì dân, vì sự nghiệp Tây Sơn như Trần Văn Kỷ, Nguyễn Thiếp. . .  Trường hợp Phan Huy Ích mới là một dẫn chứng thuyết phục. Phan Huy Ích là một văn thần cao cấp thời Lê - Trịnh, ra phục vụ Tây Sơn được Tây Sơn trọng dụng là “miệng lưỡi’ trong cuộc đấu tranh ngoại giao với nhà Thanh.


_______________________
(1) Bản dịch của Hoàng Xuân Hãn, TS Sử địa số 9, Sài Gòn, 1968, tr. 255.
(2) Tờ 33
(3) John Barrow, Voyage Cochinchine 1793, Traduction de Malte - Rum, tập II, tr. 199 - 221.
(1). Võ Huy Tấn về được Quang Trung phong Công Bộ thị lang Hao trạch hắu, con cháu được liệt vào hạng con cháu công thần cho vào Phú Xuân học chung với Thái Tử.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #44 vào lúc: 02 Tháng Tư, 2009, 10:45:12 pm »

Năm 1790, do lập được công đó, nên năm 1791, con cháu của Phan được Quang Trung liệt vào hạng con cháu công thần, cho vào Phú Xuân học chung với Thái tử Quang Toản. Năm 1792, Phan Huy ích có người em thứ năm là Hữu Chấn dấy binh chống lại Tây Sơn, bị thất bại phải chạy trốn vào rừng. Phan Huy Ích nơm nớp lo sợ, từ quê nhà ông đã tự giác dâng biểu trần tình xin tạ tội.

Trong lúc đang hoang mang thì Phan Huy Ích nhận được chiếu truyền của vua Quang Trung, có đoạn như sau: “Tính người ta có thiện ác khác nhau, cha chả vừa lòng được với con, huống chi anh đối với em, việc đã không dính líu đến, thì còn có hiềm nghi gì”

Sau đó, vua Quang Trung cho gọi Phan Huy Ích vào Phú Xuân triều kiến. Được vua tiếp đãi, căn dặn khuyên bảo ân cần. Trước thái độ bao dung đó, Phan HuyíIch mới cởi mở tâu bày.

Sau khi ở triều về, ông làm bài thơ, vào chầu xong ghi việc như sau:

Dịch là:

Gia đình sao sinh biến
Tình cảnh sống không yên
Lý lịch đà có vết
Đức vua vẫn chiếu truyền
Khi đi, lòng sợ hãi
Khi đến, rộng lòng khuyên
Cảm kích đời vẫn mở
Mơ màng phúc nhạc tiên


Còn Phạm Công Trị là cháu, một Lê Lai cứu chúa thời Tây Sơn thì không lẽ nào Quang Trung lại hãm hại được. Vả lại, Phúc Khang An - đã biết, và nếu Càn Long có biết sự thật về người mình diện kiến là một ông vua giả thì cũng không sao, lại càng làm cho đối phương thêm tức tối, xấu hổ nhưng phải nghiến răng chịu đựng. Còn Quang Trung vẫn tự hào là có thêm một vị tướng lĩnh thay mình tiếp tục mang lại vinh quang cho đất nước trong cuộc đấu tranh ngoại giao với nhà Thanh. 

Có điều sau đó, tôi chưa tìm thấy sử sách nhắc đến tên Phạm Công Trị nữa, nhưng có tên (Nguyễn Quang Trị, Phạm Văn Trị. . . Phải chăng Phạm Công trị đã từng đóng vai đế vương Quang Trung ở Thăng Long và Bắc Kinh, người diễn viên xuất sắc trên sân khấu chính trị đói ngoại với Trung Quốc thuở đó vẫn tiếp tục đóng thêm những vai khác trong lịch sử chính trị thời Tây Sơn?

Mà cả một người phương Tây, John Barrow vẫn bị nhầm thêm một lần nữa, như chính ông ta đã viết mà ông ta cũng không biết rằng mình đã bị nhầm?  Sau khi phái đoàn của ta về (1790), vua Càn Long vẫn một mực “tốt bụng” với vua Quang Trung và tin Quang Trung như tin mặt trời không thể nằm ngoài vũ trụ, thế mà lúc Quang Trung chết, Hoàng đế nhà Thanh vẫn tiếp tục bị đánh lừa.

Chuyện là, vào tháng giêng năm Càn Long thứ 58 (1793), vua Thanh nhận được tin báo là Quang Trung đã mất ở Nghệ An vào tháng 9 năm Nhâm Tý năm 1973, Càn Long nói với các đại thần rằng:

“Nghe tin, Trẫm vô cùng thương tiếc. Quốc vương mất từ tháng 9 năm ngoái mà giờ mới được tin báo là quá chậm. Chắc giờ đây đã tống táng rồi, không kịp làm lễ vĩnh tôn nữa, Trẫm đã làm một bài thơ riêng giao cho án sát Quảng Tây đem qua Nghệ An để đốt trước mộ, lại ban cho quốc vương các cấp đạt (1) chuẩn trích ở kho Quảng Tây ra ba ngàn lạng bạc để lo tang lễ, tất cả giao cho Thành Lâm  mang sang phúng điếu... (2)


_____________________________
(1) Vật bằng lụa quý, người Tây Tạng dùng để thờ Phật.
(2) Đông Hoa toàn lục, Q. 1 17, tr. 24.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #45 vào lúc: 02 Tháng Tư, 2009, 10:51:59 pm »

Bài thơ Càn Long tặng như sau:

Dịch là:

Lệ cũ bang giao cử bồi thần
Giáo hiếu càng ngày thêm thiết thân
Nhớ mãi năm xưa cùng hội ngộ
Đáng cười Minh đế lệ kim nhân (1)
Nhớ người thu trước trông rạng rỡ
Nghĩa nặng tình sâu với cố nhân
Bảy chữ xót xa lòng quyến luyến (2)
Giờ còn đâu nữa - Hỡi tri âm! (3)


Ở bên này, vua quan Tây Sơn theo lời căn dặn của Quang Trung đã chuẩn bị xong một ngôi mộ giả ở Linh Đường (4) (ở gần Hồ Tây) để đón khách từ Trung Quốc sang điếu tang.

Lúc Thành Lâm đến Thăng Long, cũng như nội dung trong bài biểu báo tang của Ngô Thì Nhậm trước đó, Quang Toàn nói với Thành Lâm rằng: “Hoàng thượng có trối trăn lại là sau khi chết nhớ đưa ta ra Hồ Tây để an táng, chứ đừng đưa về Nghệ An. Vì Hồ Tây qua biên giới chỉ có mấy ngày đường để linh hồn của ta hôm sớm được gần gũi thiên triều”.

Tưởng thật, viên sứ thần của nhà Thanh quá cảm động, Thành Lâm thành khẩn đến trước ngôi mộ của Linh Đường, đọc bài điếu văn của vua Càn Long đã cho khắc trước vào một tấm bia, làm bằng đá ngọc quý giao cho Thành Lâm mang sang và đặt bên trái “ngôi mộ giả” của vua Quang Trung.

Bài điếu văn có câu:

Chúc ly Nam cực hiệu trung đặc tưởng kỳ xu triều.
Thoả thích Tây hồ một thế vô vong ư luyến khuyết.


Nghĩa là:

Cầu cho Nam quốc vương vì đã trung liệt nên trẫm đã hết sức ưu hậu khi đón tiếp quốc vương ở đất Bắc.
Giờ vương đã nghỉ ở Tây Hồ, đời đã lìa, nhưng trong lòng vương vấn quyến luyến nơi Bắc khuyết.
 

Mặc dù quá muộn màng, nhưng khi Thành Lâm trở về nước tâu báo sự tình cho Thanh đế nghe, vua Càn Long vẫn dào dạt một niềm cảm xúc luyến tiếc. Càn Long nói với triều thần rằng:

“Tình cảm của ta đối với Quốc vương rất là thắm thiết, Trẫm rất lấy làm xót thương” (5).

Cho đến những ngày cuối cùng của cuộc đời làm vua của mình, Càn Long vẫn tỏ ra một mực “tốt bụng” với vua Quang Trung và vẫn thực hiện chính sách đối xử tàn tệ với bọn vua quan lưu vong Lê Chiêu Thống, kể cả sau ngày vua Quang Trung đã chết.

Thái độ đối xử đó của Càn Long đã gây bất bình trong một số đại thần, kể cả các con của ông, trong đó có vương tử thứ 6, người được càn Long chuẩn bị truyền ngôi.

Một hôm tan triều, trên đường về, Lục Vương ghé qua nhà Hoà Thân đánh cờ tiêu khiển. Trong lúc vui đùa ở bàn trà, có người đưa chuyện An Nam ra bàn luận. . .


_____________________________
(1) Khinh bỉ việc thời Minh bắt nước ta cống người vàng. 
(2) 7 chữ được Càn Long cho thêu trên chiếc áo bào tặng vua Quang Trung lúc phong vương (1789) là: Xa tâm chiết trục đa điền thử, nghĩa đen là: Bụng xe gây trục nhiều chuột đồng?
(3) Nguyên văn trong Đại Nam chính biên liệt truyện, Q. 30, tr. 43a. 
(4) Thuộc huyện Thanh Trì, Hà Nội, Lê Quý Dật sử gọi Thương Đường. 
(5) Tương Dương Kỳ, Đông Hoa toàn lục, Q. 117. 
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #46 vào lúc: 02 Tháng Tư, 2009, 10:54:18 pm »

Lục Vương nói với Hoà Thân:

Nước Nam gặp nạn, vua quan sang Thiên triều để tìm chỗ dựa mong “được cứu giúp”. Nếu không giúp được thì cũng đoái thương họ, mắc gì bắt họ cạo đầu, quản thúc, rồi đưa đi an trí? Ví thử các nước chư hầu biết chuyện đó thì uy tín của thiên triều còn đâu, ta sẽ ăn nói ra sao với họ?  Do cậy được Thanh đế sủng ái nên Hoà Thân đáp với giọng thách thức.

- Việc ấy là của Hoàng thượng, Vương gia biết gì mà bàn.

Lục Vương nói:

- Hoàng thượng tuổi cao sức yếu, quyền chính trong nước đều giao cho lão xử trí, việc này là việc hệ trọng trong thiên hạ, sao lại không được bàn? 

Lục Vương không kìm được cơn giận, vội đưa hai bàn tay cầm lấy bàn cờ đập lên đầu Hoà Thân. Mọi người dự cuộc đều hoảng sợ, đứng ra hoà giải mới tránh được cuộc huyết chiến tại nhà Hoà Thân. 

Hoà Thân bị nhục, mang chuyện đó lên tâu với Càn Long. Càn Long tức giận đòi Lục Vương vào cung cầm trượng toan đánh.

Thấy vậy, có viên nội thần là Hà Quế liền phủ phục xuống trước mặt vua để xin ngăn.

Càn Long không nghe, lại bắt vạ Hà Quế phải cầm trượng thay mình đánh Lục Vương ngay giữa sân rồng Lục Vương phẫn uất trở về phủ, thọ bệnh, đến lúc hấp hối, Lục Vương gọi các em là Vương tử thứ 8, thứ 11 và 17 đến để di huấn rằng:

Hoà Thân cậy được vua cha yêu đã làm hỗn loạn triều chính, bao che cho những điều xằng bậy và gian ác. Vậy trong 3 anh em, chưa biết Hoàng thượng sẽ truyền ngôi lại cho ai, nhưng phải có một người, thì người ấy phải thẳng tay trừ tên gian tướng kia đi.

Nói xong, tắt thở.

Khi Vương thứ 11 lên ngôi tức Gia Khánh (1796), liền hạ lệnh tru lục Hoà Thân, tịch thu gia sản, mỗi ngày có 500 xe trâu chở trong 5 tháng mới hết tiền bạc, báu vật tại nhà Hoà Thân. Nhưng mọi người lấy làm lạ là không tìm ra được vàng?  Về sau có người mách rằng, y đã đốt da trâu thành cao, bọc lấy vàng khối, giả làm gạch viên đem xây tường. Quả thật, khi phá vỡ dinh thự của Hoà Thân, “gạch vàng” đổ xuống không biết bao nhiêu mà kể? (1)


________________________
(1) Tương Dương Kỳ, Đông Hoa toàn lục, Q. 117
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #47 vào lúc: 02 Tháng Tư, 2009, 11:36:08 pm »

11. CÁI CHẾT CỦA HOÀNG ĐẾ QUANG TRUNG
VÀ VẤN ĐỀ LĂNG MỘ CỦA ÔNG Ở HUẾ


Về cái chết của Hoàng đế Quang Trung?

Cuộc đời của Hoàng đế Quang Trung chứa nhiều ẩn số mà người đời sau chưa thể khám phá hết được, một trong những điều bí ẩn làm nhiều nhà nghiên cứu bận tâm và đau đầu nhất trong hơn hai chục thập kỷ qua là:

- Tại sao Quang Trung chết, chết lúc nào và mộ chôn ở đâu?

Không một tư liệu nào để lại có độ tin cần thiết nên đã gây ra nhiều nghi vấn, giả thiết, tranh luận âm vang trong suốt hai thế kỷ qua.

Dù là nguồn tài liệu chính sử viết tập trung trong một cuốn về triều đại Tây Sơn gọi là Ngụy Tây liệt truyện là quyển thứ 30 trong bộ sử Đại Nam chính biên liệt truyện của sử quán triều Nguyễn đã giải thích rằng:

Một hôm về chiều, Quang Trung đang ngồi, bỗng xây xẩm tối tăm, thấy một ông già đầu bạc từ trên trời xuồng, mặc áo trắng, cầm gậy sắt, mắng rằng: ông cha ngươi sống ở đất của chúa, đời đời làm dân của chúa. Ngươi sao phạm đền lăng tẩm. Rồi lấy gậy đánh vào trán khiến Quang Trung mê man ngã xuống, bất tỉnh nhân sự, lâu lắm. Lúc tỉnh dậy, nhà vua đem việc ấy nói với quan Trung thư Trần Văn Kỷ.

Từ đó bệnh chuyển nặng mới triệu quan trấn thủ Nghệ An là Trần Quang Diệu về bàn bạc để dời đô ra đó. Thương nghị chưa xong thì Thế tổ ta đã lấy lại Gia Định. Chiếm Bình Thuận, Bình Khang, Diên Khánh, thanh thế chấn động.Quang Trung nghe được lo buồn, bệnh ngày càng kịch liệt (1).
 
Không ai tin chuyện huyễn hoặc đó nhưng khi viết lên những dòng đó, rõ ràng các sử quan triều Nguyễn đã có động cơ chính trị không tốt, cho Quang Trung chết là vì:

1. Tàn ngược vô đạo.

2. Chiếm cứ đô thành Phú Xuân, xâm phạm lăng tẩm các chúa.

3. Bị tổ tiên các chúa trừng phạt, lâm bệnh. 

4. Bệnh kịch liệt rồi chết, cũng vì do con cháu chúa (Nguyễn Ánh) dùng vũ lực để áp đảo trên chiến trường.

Khi “duyệt lãm” để “châu phê” những lời đó, chắc Minh Mạng rất vừa lòng hả dạ với những quan viết sử của mình, đã biết thể hiện một lời răn đe đầy quyền lực lại vừa mang tính vương quyền vừa mang tính thần quyền, để thay vì nói:

- Hỡi chúng bây, đã là con dân của vua, sống ở đất vua mà chống lại vua, xâm phạm đến lăng tẩm của vua, thì chỉ có chết mà thôi, cứ xem con người ghê gớm của Quang Trung cuối cùng rồi cũng thế!  Hỡi những đám loạn thần? Những người nông dân đứng lên chống lại ta hãy coi chừng?

Vua Nguyễn và các quan viết sử của triều Nguyễn nói và viết cho hả lòng hả dạ thế thôi chứ thực sự là chiến trường của quân Nguyễn Ánh và Tây Sơn vào năm 1792 đâu phải thế.


______________________
(1) Quyển 30, tr. 42.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #48 vào lúc: 02 Tháng Tư, 2009, 11:41:50 pm »

Trong Đại Nam thực lục chính biên (đệ nhất kỷ) cũng là bộ sử “tin cậy” nhất của nhà Nguyễn, cho biết rằng: “Tháng 3 năm Nhâm Tý (1792), nhân khi gió nam thổi, Nguyễn Vương sai tướng là Nguyễn Văn Trương cùng Nguyễn Văn Thành . . .  đem chiến thuyền từ cửa Cần Giờ ra đốt phá thủy trại Tây Sơn ở cửa Thị Nại (Quy Nhơn) rồi rút lui về. Khi lui về Nam, Nguyễn Ánh có ý định chiếm Phan Rang, Phan Rí. . . nhưng cuối cùng Nguyễn Ánh cho rút quân về Gia Định”.

Như vậy là, Nguyễn ánh đã rút khỏi đất miền Trung này từ mùa hè năm 1792 trước khi vua Quang Trung đau và chết. Chứ làm gì có chuyện bị một “ông tiên” quở phạt, lấy gậy đánh vào trán, bất tỉnh, lâm bệnh, rồi cho người ra Nghệ An gọi Trần Quang Diệu về bàn bạc rời đô. Bàn bạc chưa xong thì Nguyễn ánh đã chiếm từ Gia Định đến Bình Thuận, từ đó vua Quang Trung đau buồn mà chết. 

Tóm lại, từ năm 1787, khi Quang Trung bận rộn với việc nội chính và đánh giặc ở phía Bắc thì ở phía Nam, Nguyễn Lữ bất lực để cho Nguyễn Ánh chiếm lại Gia Định. Nguyễn Ánh từ năm 1787 đến năm 1792 lo củng cố Gia Định, chỉ mở một trận đánh ra Bình Thuận do Lê Văn Câu chỉ huy vào tháng 5 năm 1790, thì tháng 6 quân Tây Sơn phản công, quân của Câu tan tác.

Câu xin cầu cứu nhưng chẳng có quân. Câu bỏ Bình Thuận về Phan Rí, rồi bỏ luôn Phan Rí về Gia Định. Thua trận xấu hổ, lại bị Nguyễn Ánh đưa ra nghị tội, lột hết chức tước, Câu uất ức uống thuốc độc tử tự (1). Đó là những trang sử thảm bại của quân Nguyễn trước năm 1792, khi đánh ra đất miền Trung. Đây không thể là nguyên nhân dẫn đến cái chết của vua Quang Trung được?

Việc lịch sử có năm tháng, nơi chốn mà không đúng huống hồ gì chuyện “trời đánh thánh vật” mê man, bất tỉnh rồi lâm trọng bệnh mà tin được.  Nhưng chúng ta không loại bỏ hết trang sử mà các quan triều Nguyễn viết về những ngày cuối cùng sống ở Phú Xuân của vua Quang Trung, đó là chi tiết của Quang Trung chết do bị bệnh, bệnh kéo dài trong một thời gian chứ không phải chết đột ngột. Sử nhà Nguyễn gọi đó là bệnh Huyễn Vựng. 

Các nhà danh y dân tộc đã giải thích cho tôi rằng, Huyễn Vựng là xây xẩm mặt mày, ngã té như thể bị trúng gió nặng có thể bất tỉnh, bán thân bất toại (Giáo sư Huỳnh Minh Đức, Tp. Hồ Chí Minh) (2)có người cho là bị xuất huyết não (3).

Lấy chi tiết, bị một ông già đầu bạc lấy gậy đánh vào trán xây xẩm tối tăm mặt mày, cũng có thể là một giả thuyết đáng lưu ý. Nếu là chết do xuất huyết não, nhưng tại sao xuất huyết não mà bệnh vẫn kéo dài được trong một thời gian, ở độ tuổi 40 có thể bị xuất huyết chết được không?

Sách Tây Sơn thực lục cũng ghi “Huệ mắc bệnh nặng chữa không khỏi" (4).

Tháng 1 năm Càn Long thứ 58 (1793), Quách Thế Huân báo với Càn Long là Quang Trung chết vì bệnh (5).

Giáo sư Longer có mặt ở Đàng Ngoài, trong một bức thư đề ngày 21 tháng 12 năm 1792 có viết:

Vua Quang Trung đã chết vì bệnh và một trong những người con của ông nối ngôi. Tuy nhiên những tin đó cần được xác minh lại (6).


_________________________
(1) Có sách ghi là Lê Văn Quân, là một công thần, trên cả Võ Tánh, Nguyễn Văn Thành, Lê Văn Duyệt đã từng giúp Nguyễn ánh từ buổi gian nan. 
(2) Đại đức Thích Tuệ Tâm (Huê) cho biết rằng chứng bệnh Can Huyễn Vựng, ngày nay Đông y có thể chữa lành bệnh.  
(3) Tập san Sử địa, số 9, Sài Gòn, 1968, tr. 154.
(4) Vô danh, bản chữ Hán, chép tay.
(5) Đại Thanh thực lục, Đông hoa toàn lục.
(6) Tài liệu của AMEF, Tonkin 692, tr. 408, 415.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #49 vào lúc: 02 Tháng Tư, 2009, 11:43:36 pm »

Ngày 10 tháng 2 năm 1793, ông Longer lại viết một lá thơ cho Blandin vẫn tiếp tục thắc mắc... “chúng tôi không biết ông ấy (Quang Trung) mất vì bệnh gì?”

Như vậy một tài liệu đương đại, đáng tin hơn cả thì chính người viết ra cũng hoài nghi về sự hiểu biết của mình mà đề nghị cần phải xác nhận lại thì cái chết về bệnh của vua Quang Trung chưa thể thuyết phục được mọi người, mặc dù Ngọc Hân đã bộc lộ nội tâm của mình, lo chạy chữa thuốc men trong những ngày vua Quang Trung bị lâm bệnh.

Từ nắng hạ mưa thu trái tiết
Xót mình rồng mỏi mệt chẳng yên
Xiết bao kinh sợ lo phiền
Miếu thần đã đảo, thuốc tiên lại cầu
Khắp mọi chốn đâu đâu tìm rước
Phương pháp nào đổi được cùng chẳng

                                                 (Ai tư vãn)

Cái chết của vua Quang Trung hoàn toàn nằm trong vòng bí mật, đến nỗi một đối thủ nguy hiểm ở phía Nam, luôn theo dõi từng động tác của Quang Trung cũng không hiểu vì sao ông chết.

Bảy năm sau, giáo sĩ Ginestar lúc đó đang ở Gia Định, trong một bức thơ viết ngày 20 tháng 10 năm 1799 có nghe tin vua Quang Trung chết với các luồng dư luận khác nhau, trong đó có “một kẻ quả quyết rằng ông đã bị thuốc độc” (1).
 
Đây là tài liệu đương đại nhưng chưa hẳn đã là chính xác vì cái chết của vua Quang Trung được bảo vệ quá bí mật. Năm 1799 thì quân Nguyễn chưa ra được Phú Xuân, nghe gián tiếp với một thời gian đã bảy năm rồi thì độ xác tín sẽ không cao.

Giữ bí mật về cái chết của Quang Trung như là bí mật của quốc gia, điều đó cần thiết trong hoàn cảnh đất nước còn nhiều thù trong giặc ngoài.  Ngay cả lúc nghe tin vua Quang Trung chết, anh cả Nguyễn Nhạc dẫn đầu một đoàn đi dự lễ tang hơn 300 người từ Quy Nhơn ra, nhưng đã bị chặn lại ở Quảng Ngãi, chỉ để một bà chị ra Phú Xuân mà thôi.

Thế mới biết tình hình nghiêm trọng và ý thức bảo vệ bí mật về cái chết của vua Quang Trung như thế nào! Nhiều giáo sĩ lúc đó ở Thuận Hoá cho biết, con đường từ Bắc Hà đến Đồng Hời cũng bị chặn lại bởi lệnh giới nghiêm của nhà nước Tây Sơn.

Như vậy cho đến nay việc vua Quang trung chết hoàn toàn nằm trong vòng bí mật, lý do chết thì nằm trong vòng tồn nghi với hai giả thiết: chết vì bệnh nhưng không rõ bệnh gì và chết do thang thuốc độc.  Bức màn bí mật về cái chết của vua Quang Trung kể từ sau ngày nhà vua mất cho đến nay vẫn chưa được vén lên.

Theo sử sách ghi lại, chỉ có hai nhân vật có thể biết được điều bí ẩn này là Trần Văn Kỷ và Trần Quang Diệu, nhưng rất tiếc, chúng ta chưa tìm được một sự tiết lộ gì của hai nhân vật trên đối với cái chết của vua Quang Trung.

Vì vậy cái chết của vua Quang Trung vẫn còn nằm trong vòng tồn nghi của khoa học lịch sử.  Theo tôi, vẫn tồn nghi với hai nguyên nhân nói trên về cái chết của vua Quang Trung, nhưng không loại trừ có âm mưu kẻ thù trong cái chết của vua Quang Trung ở tuổi đời và ở tuổi trị nước đang độ sung sức của ông.

_______________________
(1) Bulletin de la Sociéte des Études Indochinoise, Lorenzo Perzles Espagagnols dón L’Empire d’An nam (1940).
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM